Tag Archive | Hồ Chí Minh

Trả lời phỏng vấn của báo Chiến đấu (2-1947)

1. Hỏi: Từ ngày kháng chiến bùng nổ, Chủ tịch luôn luôn mạnh khoẻ không?

Trả lời: Cảm ơn! Như các bạn trông thấy, bây giờ tôi béo đỏ hơn trước, mặc dầu tôi luôn luôn đi thǎm mặt trận này đến mặt trận khác, nhiều khi đi mấy chục cây số, mưa ướt dầm dề, đường trơn như mỡ, mà cũng không thấy mệt.

2. Hỏi: Vì sao Pháp chưa điều đình với ta?

Trả lời : Vì thực dân Pháp đang mơ tưởng có thể dùng vũ lực mà chinh phục ta. Vì họ chưa hiểu rằng: Toàn thể dân ta đã kiên quyết kháng chiến, để tranh lại quyền thống nhất và độc lập.

3. Hỏi: Nếu Pháp điều đình với một nhóm người khác, thì thái độ của Chính phủ ta sẽ thế nào?

Trả lời: Bất kỳ Pháp điều đình với ai, nếu Tổ quốc ta được thống nhất độc lập thật thà, đồng bào ta được tự do dân chủ thật thà, thì Chính phủ ta và quốc dân ta sẽ thoả thuận. Bất kỳ ai mà phản bội quyền lợi của Tổ quốc và của đồng bào, thì Chính phủ và nhân dân ta sẽ coi họ là những người phản quốc. Và cứ kháng chiến.

4. Hỏi: Đối với cuộc kháng chiến của quân và dân miền bể, Chủ tịch có cảm tưởng như thế nào?

Trả lời: Tuy trình độ chiến đấu mỗi nơi có khác nhau ít nhiều. Nhưng lòng yêu nước và chí kiên quyết của toàn thể quân và dân miền bể thì đều rất cao. Trong lịch sử kháng chiến cứu quốc, đồng

bào miền bể đã viết một trang rất vẻ vang. Tuy vậy, càng gần đến thắng lợi, càng nhiều bước gian nan. Cho nên đồng bào miền bể, quân cũng như dân, phải gắng sức thêm, phải gắng sức mãi, cho đến cuộc thắng lợi hoàn toàn.

Tôi nhận được rất nhiều thơ các bộ đội, cơ quan, đoàn thể và cá nhân đồng bào miền bể gửi cho tôi. Tiếc vì bận việc quá, không thể trả lời khắp. Vậy nhờ báo Chiến đấu chuyển lời cảm ơn và lòng thân ái của tôi cho toàn thể đồng bào miền bể, và hôn các cháu nhi đồng.

Trả lời tháng 2-1947.

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Cục lưu trữ Trung ương Đảng, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

 

 

 

Gửi đồng bào thượng du (2-1947)

Trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, đồng bào thiểu số đã tỏ lòng nồng nàn yêu nước. Nhiều thanh niên đã tham gia bộ đội, oanh liệt giết giặc. Nơi nào đồng bào nam nữ cũng nhiệt liệt tổ chức tự vệ, dân quân và đội du kích. Toàn thể đồng bào đều hǎng hái ủng hộ kháng chiến. Nhiều lúc hy sinh cả công ǎn việc làm để giúp đỡ các việc. Lòng dũng cảm đó thật là quý báu.

Tôi nhận được nhiều thơ của đồng bào Thổ, Mường, Nùng, Mèo, Mán, vân vân, đều nói kiên quyết ủng hộ Chính phủ, kháng chiến đến cùng, chống giặc thực dân, để giữ gìn giang sơn đất nước.

Các đồng bào thiểu số đều hứa sẵn sàng giúp đỡ bộ đội đủ mọi mặt, và sẽ ra sức tǎng gia sản xuất, không kể khó nhọc, làm cho nhiều lúa, nhiều sắn, nhiều bắp, nhiều khoai.

Tôi thay mặt Chính phủ, cảm ơn đồng bào, và trân trọng hứa rằng: Đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, Tổ quốc và Chính phủ sẽ luôn luôn ghi nhớ những công lao của các đồng bào.

Tôi gửi cho tất cả đồng bào Thổ, Mường, Nùng, Mán, Mèo, vân vân, lời chào thân ái và quyết thắng.

HỒ CHÍ MINH
Viết khoảng tháng 2-1947.

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Hội thảo khoa học “Xác lập Khu rừng bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9”

Bia sach di tichKhu Di tích K9 là địa danh có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, nơi gắn liền với các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời (1957-1969); nơi giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng chiến tranh (1969-1975); hiện nay là nơi các tập thể, cá nhân đến tham quan, tổ chức sinh hoạt chính trị, giáo dục truyền thống…

Di tích lịch sử K9 còn là khu rừng có nhiều nét đặc biệt về cảnh quan thiên nhiên, trong rừng có những phiến đá mọc lên như mũi chông nên còn có tên gọi là khu Đá Chông. Với diện tích 234 ha, Khu Di tích K9 bao gồm một số hệ sinh thái đặc trưng của hồ nước ngọt, sông và rừng trồng trên cạn. Đây là kho tài nguyên vô giá chứa đựng nguồn gen của nhiều loài và hệ sinh thái, có vai trò và ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế – xã hội và môi trường. Rừng K9 được các nhà khoa học đánh giá là có đa dạng sinh học rất cao. Về thực vật: Đã ghi nhận được 711 loài thuộc 159 họ 5 ngành thực vật bậc cao có mạch; có tới 24 loài thực vật quý hiếm, trong đó có 17 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và 13 loài được ghi trong Sách đỏ Thế giới (IUCN, 2007). Về động vật: Có 131 loài động vật có xương sống trên cạn thuộc 20 bộ (21 loài thú, 73 loài chim, 37 loài bò sát và ếch nhái). Trong đó có 18 loài động vật quý hiếm (11 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007 và 13 loài nằm trong danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm).

Hoi thao K9.1Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng chủ trì Hội thảo

Trong những năm qua, Ban Quản lý Lăng đã cố gắng chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng, làm cho Khu Di tích có môi trường, cảnh quan xanh đẹp. Song, hiện nay, rừng thông già đã nhiều tuổi, thân rỗng, bị gãy đổ nhiều trong mùa mưa bão, rừng keo, bạch đàn trồng đã quá tuổinhưng chưa được thu hoạch và thay thế; một số loài cây trồng mới sinh trưởng kém do không phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng khu vực. Để thực hiện Đề án “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới” theo Kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 328-TB/TM ngày 19/4/2010 và Quyết định số 2341/QĐ-TTg ngày 22/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Việc xáclập khu rừng K9 là Khu rừng Di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh để có điều kiện duy trì, chăm sóc, tu bổ, bảo vệ và phát triển bền vững các giá trị của khu rừng K9, xứng tầm với Di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo điều kiện phục vụ tốt nhất nhiệm vụ mở rộng tham quan, học tập cho đồng bào trong nước và khách quốc tế (dự kiến thực hiện vào năm 2014) là rất cấp thiết.

 anh k9TS. Trần Ngọc Hải – Trưởng bộ môn Thực vật rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp báo cáo tham luận

Chính vì vậy, trong thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ban Quản lý Lăng đã có sự hợp tác, trao đổi thông tin, chuẩn bị cho dự thảo đề án ”Xác lập Khu rừng bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9” để trình Thủ tướng Chính phủ.

Ngày 11/7/2012, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội thảo khoa học “Xác lập Khu rừng bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9”. Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội thảo có lãnh đạo Ban Quản lý Lăng; Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng và các cơ quan thuộc Ban Quản lý Lăng. Đại biểu tham dự có đại diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp, Viện Điều tra Quy hoạch rừng.

Hội thảo tập trung vào các nội dung chính như sau: Đánh giá đặc điểm, hiện trạng của rừng K9; tính cấp thiết cần phải xác lập Khu rừng bảo vệ cảnh quan Di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9; hoàn chỉnh dự thảo Đề án “Xác lập Khu rừng bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9” trình Thủ tướng Chính phủ. Dự thảo Đề án đã đề xuất thiết lập 4 phân khu chức năng phù hợp với tiêu chí của khu rừng bảo vệ cảnh quan.Đồng thời, dự thảo cũng đưa ra 7 chương trình hoạt động nhằm bảo tồn, phát triển khu rừng K9 theo hướng bền vững: Chương trình bảo vệ; chương trình phát triển rừng và cây xanh; chương trình bảo tồn và phát triển động vật khu rừng K9; chương trình tuyên truyền giáo dục; chương trình nghiên cứu khoa học và đào tạo; chương trình tham quan học tập và du lịch sinh thái và chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị.

Về tiến độ thực hiện: Trong giai đoạn đầu, 2013 – 2015, sẽ ưu tiên thực hiện các nội dung: Xây dựng vườn ươm, thực hiện các chương trình phát triển rừng và cây xanh; bước đầu thực hiện các chương trình tuyên truyền giáo dục, nghiên cứu và đào tạo; phục hồi thử nghiệm một số loài động vật. Giai đoạn 2016 – 2020 sẽ tiếp tục thực hiện các chương trình còn lại.

Kết luận Hội thảo, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng chân thành cảm ơn các báo cáo, tham luận và những ý kiến phát biểu tâm huyết của các đại biểu, các nhà khoa học đối với dự thảo Đề án. Đồng chí đánh giá cao sự đồng thuận của các đại biểu, các nhà khoa học về tính cấp thiết phải xác lập khu rừng bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9. Trên cơ sở ý kiến đóng góp của các đại biểu đại diện cho các Bộ, ngành, các nhà khoa học trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với Viện Điều tra Quy hoạch rừng tiếp thu, hoàn chỉnh Đề án để sớm trình Thủ tướng Chính phủ quyết định, để Đề án có thể sơm được triển khai từ năm 2013./.

Thu Hiền
bqllang.gov.vn

Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ (1-3-1947)

Cùng các đồng chí Bắc Bộ,

Tôi không có thì giờ gặp các đồng chí để phê bình, kiểm thảo và bàn bạc công việc chung. Tiếc vì hoàn cảnh không tiện. Vậy tôi có mấy lời dặn các đồng chí như sau, mong các đồng chí chú ý:

1. Trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi đồng chí và toàn cả Đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm vào một mục đích đánh đuổi thực dân Pháp làm cho nước thống nhất và độc lập. Vì vậy mỗi một đồng chí và toàn cả Đoàn thể phải: Sáng suốt, khôn khéo, cẩn thận, kiên quyết, siêng nǎng, nhất trí.

2. Cuộc trường kỳ kháng chiến này tức là dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao. Trong lúc này tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm.

Vì vậy chúng ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm sau đây:

a) Địa phương chủ nghĩa.

Chỉ chǎm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ. Làm việc ở bộ phận nào chỉ biết bênh vực vun đắp cho bộ phận ấy. Do khuyết điểm đó mà sinh ra những việc, xem qua thì như không quan hệ gì mấy, kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung. Thí dụ: muốn lấy tất cả cán bộ và vật liệu cho địa phương mình, không bằng lòng để cấp trên điều động cán bộ và vật liệu đến những nơi cần thiết.

b) óc bè phái.

Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe.

Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho Đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm.

c) óc quân phiệt quan liêu.

Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông “vua con” ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh hoẹ. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, Đoàn thể xa nhân dân.

d) óc hẹp hòi.

Chúng ta phải nhớ rằng: người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong, đều tuỳ chỗ mà dùng được.

Tư tưởng hẹp hòi, thì hành động cũng hẹp hòi, thì nhiều thù ít bạn. Người mà hẹp hòi ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi không thể phát triển.

e) Ham chuộng hình thức.

Việc gì cũng không xét đến kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ nhằm về hình thức bề ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai. Thí dụ: ngày nay tập quân sự, cốt là biết bắn súng, dùng dao, ném lựu đạn, dùng địa thế, khéo mò đêm, khéo trinh thám, nói tóm lại, cốt tập cho mọi người biết đánh du kích. Thế mà có nhiều nơi chỉ để thì giờ tập “một hai, một hai”. Thế thì khác gì tập lễ nhạc để đi chữa cháy.

Nhiều nơi, những hình thức tuyên truyền cổ động chỉ biết kẻ khẩu hiệu, trưng cờ biển và trang hoàng nhà thông tin tuyên truyền cho đẹp, lập chòi diễn thuyết chỉ làm vì, còn hàng ngày

không chịu gần gũi quần chúng để giải thích cho họ hiểu chu đáo những chủ trương của Đoàn thể.

f) Làm việc lối bàn giấy.

Thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều. Ngồi một nơi chỉ tay nǎm ngón không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác và để chỉ vạch những kế hoạch thi hành chỉ thị, nghị quyết của Đoàn thể cho chu đáo. Những chỉ thị, nghị quyết cấp trên gửi xuống các địa phương có thực hiện được hay không, các đồng chí cũng không biết đến. Cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ được tình hình bên dưới, cho nên phần nhiều chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi đến chốn.

g) Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm.

Trong những vùng chiến tranh lan đến, một số đồng chí đã tự tiện bỏ địa phương mình chạy sang vùng khác làm việc mà không hề có sự quyết định của Đoàn thể, của cấp trên. Như vậy các đồng chí không những đã biểu lộ tinh thần kém cỏi, việc nào dễ hay ưa thích thì làm, việc nào khó khǎn không ưa thích thì bỏ, mà các đồng chí lại còn tỏ ra khinh thường kỷ luật của Đoàn thể, làm rối loạn hàng ngũ của Đoàn thể.

Nhiều nơi các đồng chí phạm lỗi, nhưng không bị trừng phạt xứng đáng, có đồng chí bị hạ tầng công tác nơi này, đi nơi khác lại ở nguyên cấp cũ hay chỉ bị hạ tầng công tác theo hình thức, nhưng vẫn ở cấp bộ cũ làm việc.

Có đồng chí đáng phải trừng phạt, nhưng vì cảm tình nể nang chỉ phê bình, cảnh cáo qua loa cho xong chuyện. Thậm chí còn có nơi che đậy cho nhau, tha thứ lẫn nhau, lừa dối cấp trên, giấu giếm Đoàn thể. Thi hành kỷ luật như vậy làm cho các đồng chí không những không biết sửa lỗi mình mà còn khinh thường kỷ luật. Tai hại hơn nữa nếu kỷ luật của Đoàn thể lỏng lẻo, những phần tử phản động sẽ có cơ hội chui vào hàng ngũ ta để phá hoại Đoàn thể ta.

h) ích kỷ, hủ hoá.

Có những đồng chí còn giữ óc địa vị, cố tranh cho được uỷ viên này chủ tịch kia. Có những đồng chí lo ǎn ngon mặc đẹp, lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công. Đạo đức cách mạng thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc.

Có những đồng chí hay có tính kiêu ngạo, tự mãn, cho mình là cựu chính trị phạm, là người của Mặt trận thì giỏi hơn ai hết, ai cũng không bằng mình. Vẫn biết nhà pha đế quốc là nơi huấn luyện, vẫn biết Việt Minh là một đoàn thể gồm những người yêu nước, chǎm lo việc cứu nước. Nhưng hẳn rằng ngoài Việt Minh còn biết bao nhiêu người hay, người giỏi mà Việt Minh chưa tổ chức được. Vả lại nếu chính trị phạm, nếu người của Mặt trận là giỏi hơn ai hết thì những người không có hân hạnh ở tù, những người chưa vào Mặt trận đó là vô tài vô dụng cả sao?

Mỗi một đồng chí ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cựu, càng giỏi, càng phải khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ, phải nhớ câu nói của ông thầy chúng ta: “Phải học, học thêm, học mãi” 1 . Tự mãn, tự túc là co mình lại, không cho mình tiến bộ thêm.

Có những đồng chí còn giữ thói “một người làm quan cả họ được nhờ”, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ. Hỏng việc, Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được.

Vẫn biết các đồng chí nói chung có nhiều ưu điểm như: nhẫn nại, chịu khó, tháo vát, nhiều sáng kiến. Đó là những tính rất quý báu. Nó làm cǎn bản cho những tính tốt khác phát triển. Nhưng trong thời kỳ khó khǎn nặng nề này, chỉ có những ưu điểm ấy mà thôi, cũng chưa đủ. Các đồng chí cần phải đem cǎn bản tốt đó mà kiên quyết khắc phục những khuyết điểm vừa kể trên thì chúng ta mới chắc đi đến hoàn toàn thắng lợi.

3. Các đồng chí phải cố làm sao cho được những điều này:

a) Đoàn thể phải quân sự hoá, tư tưởng và hành động phải tuyệt đối nhất trí. Đoàn thể là đạo quân tiên phong. Nếu lúc xung phong mà người nói thế này, kẻ nói thế kia, kèn thổi ngược, trống đánh xuôi thì còn mong gì thắng trận. Chẳng những Đoàn thể ta phải nhất trí mà quân, dân, chính cũng phải nhất trí.

b) Trong các cơ quan chỉ huy chọn người phải đích đáng, quyền hạn phải phân minh, phải liên lạc mật thiết, hợp tác chặt chẽ, phải tuyệt đối tránh cái tệ lạm quyền, bao biện, xung đột, phù diện 1 và suy tỵ, không phụ trách.

Lúc này, vấn đề cơ quan chỉ huy rất quan trọng. Cử người vào đó phải cẩn thận, nhưng khi đã cử rồi, thì phải tuyệt đối phục tùng, cấp dưới phải nghe cấp trên, có thế công việc mới chạy.

c) Phải giữ vững giao thông, liên lạc giữa các tỉnh, các khu và giữa Trung Bộ với Nam Bộ và Bắc Bộ.

Giao thông là mạch máu của mọi việc, giao thông tắc thì việc gì cũng khó. Giao thông tốt thì việc gì cũng dễ dàng.

Mong các đồng chí mang toàn bộ tinh thần cách mạng mà khắc phục các khuyết điểm, phát triển các ưu điểm, đồng tâm hiệp lực, đoàn kết nội bộ, mở rộng hàng ngũ, chấn chỉnh công tác để lãnh đạo toàn dân hǎng hái kháng chiến để đi đến thắng lợi vẻ vang.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 1 tháng 3 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958, t.1, tr. 149-153.
cpv.org.vn

Thư gửi các đồng chí Trung Bộ (1947)

Cùng các đồng chí Trung Bộ,

Hôm tôi vào Thanh, tôi có ý đi gặp các đồng chí để phê bình, kiểm thảo và bàn bạc công việc chung. Tiếc vì hoàn cảnh không tiện. Vậy tôi có mấy lời dặn các đồng chí như sau này, mong các đồng chí chú ý:

1. Trong lúc dân tộc đang ở trên ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi một đồng chí và toàn cả Đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm vào một đích: đánh đuổi thực dân Pháp, làm cho nước được thống nhất và độc lập.

Vì vậy, mỗi một đồng chí và toàn cả Đoàn thể phải:

Sáng suốt, khôn khéo,

Cẩn thận, kiên quyết,

Siêng nǎng, nhất trí.

2. Cuộc trường kỳ kháng chiến này tức là dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao. Trong lúc này, tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm.

Vì vậy, ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm sau này:

a) Địa phương chủ nghĩa: Chỉ chǎm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ. Do khuyết điểm đó mà sinh ra những việc, xem qua thì hình như không quan hệ gì mấy, kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung. Thí dụ: muốn giữ lấy

tất cả cán bộ và vật liệu cho địa phương mình, không bằng lòng để cấp trên điều động cán bộ và vật liệu đến những nơi cần kíp.

b) óc bè phái: Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù họ có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe.

Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho Đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm.

c) Cô độc hẹp hòi : Chúng ta phải nhớ rằng: người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người sửa chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được.

Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi. Tư tưởng hẹp hòi thì nhiều thù mà ít bạn (như vấn đề tôn giáo). Người mà hẹp hòi thì ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi thì không phát triển.

d) Ham chuộng hình thức: Việc gì không xét đến cái kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ chǎm về hình thức bên ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai. Thí dụ: ngày nay tập quân sự, cốt nhất là biết bắn súng, dùng dao, ném lựu đạn, dùng địa thế, khéo mò đêm, khéo do thám; nói tóm lại: cốt tập cho mọi người biết đánh du kích. Thế mà có nhiều nơi chỉ để thời giờ tập “một hai, một hai”. Thế thì khác gì tập lễ nhạc để đi chữa cháy. Lại như chào cờ thì bắt người ta dừng xe lại, bắt mặc áo dài, v.v.. Làm hình thức như thế, kết quả chỉ làm cho dân oán.

e) ích kỷ, kiêu ngạo, v.v.. Thậm chí có nơi, có những đồng chí còn giữ óc địa vị, cố tranh làm cho được uỷ viên này, chủ tịch kia.

Còn có những đồng chí chỉ lo ǎn ngon, mặc đẹp, lo phát tài, lo chiếm của công làm của tư, đạo đức cách mệnh thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc.

Có những đồng chí còn giữ thói “một người làm nên cả họ được nhờ”, đem bà con bằng hữu vào chức này việc kia, làm được, không được mặc kệ. Hỏng việc đã có Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được.

Có nơi, các đồng chí chẳng những không phê bình giúp nhau sửa đổi, mà lại che đậy cho nhau, tha thứ cho nhau, giấu cả Đoàn thể. Thành thử càng ngày càng hủ hoá, càng hỏng việc.

Còn những đồng chí hay có tính kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, cho mình là cựu đồng chí, cựu chính trị phạm thì giỏi hơn ai hết, ai cũng không bằng mình. Vẫn biết nhà pha đế quốc là một trường huấn luyện. Nhưng công tác thực tế là một trường thi; vả lại, nếu cựu chính trị phạm là giỏi hơn hết, thì những đồng chí không có “hân hạnh” ở tù, những đồng chí mới đều vô tài vô dụng cả sao.

Mỗi một đồng chí ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cao, càng giỏi, càng khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ. Phải nhớ câu nói của ông thầy chúng ta: “Phải học thêm, phải học mãi”. Tự mãn, tự túc là bó mình lại, không cho mình tiến bộ thêm.

Vẫn biết các đồng chí Trung Bộ nói chung thì có nhiều ưu điểm như: nhẫn nại, chịu khó, kiên quyết, tháo vát, nhiều sáng kiến. Đó là những tính rất quý báu. Nó làm cǎn bản cho những tính tốt khác phát triển. Nhưng trong thời kỳ khó khǎn nặng nề này, chỉ có những ưu điểm ấy thôi cũng chưa đủ. Các đồng chí cần phải đem cǎn bản tốt đó mà kiên quyết khắc phục cho những khuyết điểm vừa kể trên, thì chúng ta mới chắc đi đến hoàn toàn thắng lợi.

Các đồng chí lại phải làm cho được những điều này:

– Đoàn thể phải quân sự hoá, tư tưởng và hành động phải tuyệt đối nhất trí. Đoàn thể là đạo quân tiền phong. Nếu lúc xung phong mà người nói thế này, kẻ muốn thế khác, kèn thổi ngược, trống đánh xuôi thì còn mong gì thắng trận.

Chẳng những Đoàn thể ta phải nhất trí mà quân, dân, chính cũng phải nhất trí.

– Trong các cơ quan chỉ huy, chọn người phải đích đáng, quyền hạn phải phân minh, liên lạc phải mật thiết, hợp tác phải chặt chẽ, phải tuyệt đối tránh cái lối lạm quyền, bao biện, xung đột, phù diện và suy tỵ, không phụ trách.

– Phải giữ vững những giao thông liên lạc giữa các tỉnh, các khu và giữa Trung Bộ với Nam Bộ, Bắc Bộ.

Giao thông là mạch máu của mọi việc.

Giao thông tắc thì việc gì cũng khó.

Giao thông tốt thì việc gì cũng dễ dàng.

Mong các đồng chí đem toàn bộ tinh thần cách mệnh mà khắc phục khuyết điểm, phát triển các ưu điểm, đồng tâm hiệp lực, đoàn kết nội bộ, mở rộng hàng ngũ, chấn chỉnh công tác để lãnh đạo toàn dân hǎng hái vào trận kháng chiến đi đến thắng lợi vẻ vang.

Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH

Viết nǎm 1947.
Sách Hồ Chủ tịch với quê hương,
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Nghệ An, 1970, tr.20-23.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào toàn quốc (5-3-1947) (1)

Cùng quốc dân đồng bào,

Chúng ta đã đoán biết trước rằng một ngày kia địch sẽ cố chiếm các thành thị và các đường giao thông.

Quả nhiên mấy hôm nay, địch bắt đầu làm vậy. Địch làm như vậy để tuyên truyền với thế giới. Nhưng đồng thời nó gây những điều kiện có lợi cho ta sau này. Vì địch càng rải ra nhiều nơi thì lực lượng địch càng mỏng mảnh. Ta càng sẵn cơ hội mà đánh du kích để tiêu diệt nó dần dần, để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Địch đến đâu thì nó giết hại cùng phá đến đó. Dân ta không khỏi cực khổ gian nan. Nhưng có tạm thời khổ rồi mới có sướng về sau.

Trong một cuộc kháng chiến lâu dài, tạm thời thắng hay bại là việc thường. Cốt là cuộc thắng lợi cuối cùng.

Chúng ta không hoang mang. Chúng ta phải nhẫn nại, phải cương quyết. Thắng lợi cuối cùng nhất định về tay ta.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 5 tháng 3 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.53.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thư gửi đồng bào hậu phương (5-3-1947)

Cùng đồng bào hậu phương,

Lúc này, nhiều đồng bào phải tản cư, để tránh sự giết hại, dâm hiếp của địch.

Trong lúc tản cư, không khỏi mệt nhọc đói khát.

Vậy đồng bào tản cư đi đến đâu, thì đồng bào ở nơi đó – trước hết là các ban hành chính, các ban tản cư, anh em thanh niên, chị em phụ nữ, các cháu nhi đồng – cần phải an ủi họ, giúp đỡ họ. Có cơm giúp cơm, có cháo giúp cháo. ít nhất cũng có một bát nước chè, một lời thân ái gọi là tỏ nghĩa đồng tình.

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước phải thương nhau cùng”.

Tuyệt đối chớ lợi dụng dịp này, mà đối với đồng bào tản cư, mua rẻ bán đắt, hoặc làm khó dễ.

Mỗi một đồng bào phải sẵn lòng bác ái, phải cư xử cho xứng đáng là con Rồng cháu Tiên.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 5 tháng 3 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.54.
cpv.org.vn

Thư gửi Quốc hội và nhân dân Pháp (5-3-1947)

Quốc hội Pháp sắp thảo luận về vấn đề Việt Nam. Tôi thấy cần trình bày trước Quốc hội và nhân dân Pháp sự thật về vấn đề này. Vì tất nhiên các người đại diện Pháp ở Đông Dương sẽ tìm cách trình bày các việc xảy ra theo lối riêng của họ để làm sai lạc dư luận và tránh trách nhiệm.

Sự thật như thế này:

1. Mặc dầu 80 nǎm đau khổ lầm than dưới chế độ thực dân, dân tộc Việt Nam vẫn ham chuộng lý tưởng của nước Pháp và vẫn mến yêu dân tộc Pháp. Cho nên, sau khi giành lại được độc lập, dân Việt Nam đã ký với nước Pháp Thoả hiệp ngày 6-3-1946 5 , tiếp đón thân thiện quân đội Pháp trên đất nước mình, và rồi lại ký Tạm ước ngày 14-9-1946. Dân Việt Nam đã cam kết tôn trọng những quyền lợi kinh tế và vǎn hoá Pháp ở Việt Nam.

2. Nhưng người đại diện đầu tiên của nước Pháp ở Đông Dương là đô đốc Tiơry Đácgiǎngliơ đã nhất thiết coi rẻ những thoả hiệp đó. ông đã tiếp tục chiến tranh ở Nam Bộ và ở Nam Trung Bộ. Ông đã lập ra cái Chính phủ Nam Kỳ và cái nước Cộng hoà Nam Kỳ 6 giả hiệu, mục đích để chia sẻ nước chúng tôi. Ông đã triệu tập hội nghị Đà Lạt thứ hai 7 để phá cuộc hội nghị Phôngtennơblô 8 có nhiệm vụ giải quyết một cách vĩnh cửu vấn đề giao thiệp Việt – Pháp. Ông đã tổ chức việc phong toả cửa bể Hải Phòng để bóp nghẹt chúng tôi về mặt kinh tế. Ông đã ra lệnh chiếm đóng Hải Phòng, Lạng Sơn và nhiều nơi khác. Ông đã xui giục quân đội Pháp gây ra những vụ lưu huyết hàng ngày.

Nói tóm lại, ông đã áp dụng một chính sách vũ lực, một chính sách xâm lǎng, sau cùng đã có kết quả là đưa tới cuộc chiến tranh hiện tại.

3. Trong cuộc thế giới đại chiến vừa qua, trong khi thực dân Pháp hàng phục trước phátxít Nhật Bản, nhân dân Việt Nam đã chiến đấu chống Nhật, bên cạnh các nước Đồng minh. Nhờ sức tranh đấu, dân Việt Nam đã giành lại được độc lập và theo đúng Hiến chương Đại Tây Dương 9 và Cựu Kim Sơn đã thành lập nền Dân chủ Cộng hoà, dân Việt Nam muốn sống tự do và làm việc trong hoà bình. Dân Việt Nam mong được hợp tác thân ái với dân tộc Pháp.

4. Chính sách “bắt nạt” của các người đại diện Pháp ở Đông Dương đã bắt chúng tôi phải chịu đựng cuộc chiến tranh này. Chiến tranh chồng chất đổ nát và tang tóc lên trên đất nước chúng tôi, nhưng chúng tôi cương quyết chịu mọi sự hy sinh để bênh vực những nguyện vọng và quyền lợi của chúng tôi.

Chúng tôi muốn độc lập và thống nhất.

Chúng tôi muốn cộng tác với dân tộc Pháp trong khối Liên hiệp Pháp.

Chúng tôi muốn hoà bình để kiến thiết lại nước chúng tôi. Quốc hội và nhân dân Pháp cần phải làm cho cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này chấm dứt, cần phải giải quyết vấn đề Việt- Pháp một cách xứng đáng với nước Pháp mới.

5. Từ ngày 2-3-1947, để gây ảnh hưởng với Quốc hội và nhân dân Pháp, quân đội Pháp đã cố chiếm thành phố Hà Đông và vài làng khác. Họ đã đoạt được những gì? Họ đã đoạt được những đống gạch vụn và gio than. Nhưng trái lại, họ đã mở đầu cho thời kỳ chiến tranh du kích tốn kém và ác hại, có thể kéo dài tới 10 hay 20 nǎm.

6. Chúng tôi mong muốn những điều sau đây: Chúng tôi muốn nước chúng tôi độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Chúng tôi muốn hoà bình để kiến thiết lại nước nhà. Quốc hội và nhân dân Pháp, Chính phủ Pháp cần phải làm chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và tai hại này. Nước Mỹ đã thừa nhận độc lập của Phi Luật Tân, nước Anh đã thừa nhận nền độc lập của ấn Độ. Nước Pháp, xưa nay vẫn bênh vực cho tự do các dân tộc, phải có một cử chỉ tương tự đối với Việt Nam. Máu Pháp và Việt chảy đã nhiều. Chiến tranh không nên kéo dài nữa. Chiến tranh không đưa đến đâu cả. Chúng tôi sẵn sàng lập lại hoà bình. Chỉ cần Quốc hội và nhân dân Pháp có một cử chỉ thân thiện.

Ngày 5 tháng 3 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.55-56.
cpv.org.vn

Thư gửi các ông Phạm Vǎn Bạch và Nguyễn Vǎn Tây (7-3-1947)

Chú Bạch, chú Tây và các đồng chí,

Tôi gửi lời chúc anh em mạnh khoẻ và gắng sức. Các việc sẽ do N. thuật lại. Chúng ta cốt đoàn kết, sáng suốt, khôn khéo, kiên quyết, thì chúng ta nhất định thắng lợi. Dù gay go mấy, chúng ta cũng không sợ, không hoang mang, vì chúng ta đã biết trước những sự gay go khốn nạn đó. Vì chúng ta tự tin đủ sức khắc phục nó. Và vì chúng ta chắc thắng lợi cuối cùng sẽ về tay ta.

Dưới đây là một cách giải thích rất giản đơn, dễ hiểu về con đường trường kỳ kháng chiến, viết ra cho anh em dùng.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 7 tháng 3 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Ta: thắng lợi thắng lợi
Pháp: thất bại thất bại
Bản gốc lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Vũ Đình Huỳnh (10-3-1947)

Cùng đặc phái viên Huỳnh,

1- Chú nói với UBHC tỉnh: gọi làng Vạn Hải (!) cho họ đảm bảo 4 người còn bị giữ lại trong đám 7 người về án sát nhân. Bảo làng làm giấy cam đoan, bao giờ Chính phủ xét hỏi, thì làng phải đem 4 người đó ra để toà án xét hỏi.

Giải thích cho mọi người biết rằng: Đó là do lòng khoan hồng của Chính phủ và do sự tận tâm của cụ Từ. Về sau, phải tránh những cử động phi pháp như thế.

2- Chú bỏ bức thư sau này vào phong bì tử tế, rồi đưa đến cho cụ Từ 1 .

3- Xong các việc, chú điện về báo cáo. Và gửi thư cho tôi biết việc giúp đỡ đồng bào tản cư đã giúp đỡ đồng bào thế nào.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 10 tháng 3 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Tôi gửi lời thǎm cụ Ngô Tử Hạ và vị Bí thư của cụ Từ.

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

 

 

 

Thư gửi Giám mục Lê Hữu Từ (10-3-1947)

Cụ Giám mục Lê Hữu Từ,

Thưa cụ,

Tôi được tin cụ chịu khó đi nhiều nơi, kêu gọi đồng bào lương – giáo đoàn kết, ra sức ủng hộ Chính phủ, kháng chiến cứu quốc, được nhiều kết quả. Tôi thành thật cảm ơn cụ.

Sau khi ta gặp nhau ở Nho Quan, tôi đã ra lệnh thả 7 người mà cụ muốn lãnh về.

Còn 7 người bị bắt, vì án hiềm nghi giết người, thì thả ra 3 người, giữ lại 4 người.

Như tôi đã hứa với cụ, nay tôi ra lệnh cho làng đảm bảo cả 4 người kia về, bao giờ Chính phủ cần xét hỏi, thì làng phải đưa họ ra. Xin cụ giải thích cho đồng bào biết.

Địch có kế hoạch: lục quân thao vây 1 , không quân nhảy dù, hải quân đổ bộ, để tấn công ta bằng cách chớp nhoáng. Vì vậy, đường sá, cầu cống các nơi đã phá hoại, để ngǎn quân địch.

Như cụ đã hứa với tôi: bao giờ vì chiến thuật mà cần phá cầu Trì Chính, thì cụ sẽ bảo đồng bào địa phương Phát Diệm tự phá giùm. Vậy nhờ cụ báo cho đồng bào phá cầu ấy đi. Đồng thời, làm một cầu phao bằng tre, để dân đi lại cho tiện. Đến khi cấp bách, sẽ phá cầu phao. Tôi chắc đồng bào ở đó hiểu đại nghĩa và nghe lời cụ, sẽ hǎng hái làm việc đó, để giúp sức vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc.

Một lần nữa, cảm ơn cụ, chúc cụ luôn luôn mạnh khoẻ và xin cụ nhận lời chào thân ái của tôi.

Ngày 10 tháng 3 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

 

 

 

Gửi Bộ Nội vụ (10-3-1947)

Cùng Bộ Nội vụ,

Trong lúc địch tiến công, nhiều nơi các Uỷ ban hành chính hoặc bối rối không biết đối phó thế nào, hoặc vội vàng dời đi chỗ khác. Không chuẩn bị, không sẵn sàng. Làm cho dân hoang mang. Vì thế mà dân làng A tản cư đến làng B. Dân làng B lại tản cư đến làng A. Không có kế hoạch, tổ chức. Không ai chỉ đạo, giúp đỡ.

Bộ Nội vụ cần phải củng cố ngay các Uỷ ban hành chính lại. Phải có chỉ thị rõ ràng, những nơi địch đang chiếm đóng, những nơi địch đi qua, và những nơi địch có thể đến, thì các Uỷ ban hành chính phải làm thế nào. Vô luận thế nào, các Uỷ ban hành chính không được bỏ dân bơ vơ.

Bộ Nội vụ cần phái người đến những vùng địch đang chiếm, một là để giữ vững tinh thần của dân, làm cho dân biết Chính phủ không quên họ. Hai là giải thích nhiệm vụ và kế hoạch cho các Uỷ ban hành chính, và điều tra những người bất lực, thì phải cất chức đi, tìm người khá hơn thay vào.

Bộ Nội vụ cần phải cùng đặc phái viên tản cư thảo luận để định các hạng, như hạng A phải tản cư lâu dài, B tản cư tạm thời, C phải chuẩn bị tản cư. Bày kế hoạch, định phương hướng, và tìm cách giúp đỡ cho mỗi một hạng.

Việc này cần làm ngay.

Ngày 10 tháng 3 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn