Tag Archive | Hồ Chí Minh

Gửi dân chúng Việt Nam, dân chúng Pháp, dân chúng các nước Đồng minh

Chúng tôi, Chính phủ và dân chúng Việt Nam nhất định đấu tranh giành độc lập và thống nhất toàn quốc, nhưng sẵn sàng hợp tác thân thiện với dân chúng Pháp. Vì vậy mà chúng tôi đã ký bản Hiệp định 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946.

Song bọn phản động thực dân Pháp đã thiếu thành thực, coi những bản ký kết đó như những mớ giấy lộn.

ở Nam Bộ, họ tiếp tục bắt bớ, tàn sát và gây hấn với các nhà ái quốc Việt Nam. Họ ức hiếp những người Pháp lương thiện chủ trương sự thành thực, và tổ chức chính phủ bù nhìn để chia rẽ dân tộc chúng tôi.

ở Nam Trung Bộ, họ tiếp tục khủng bố đồng bào chúng tôi, tấn công quân đội Việt Nam và xâm lược lãnh thổ của chúng tôi.

ở Bắc Bộ, họ gây những cuộc xung đột để đánh chiếm Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn và nhiều nơi khác. Họ bao vây cửa bể Hải Phòng, làm cho người Trung Hoa, người Việt Nam, người ngoại quốc khác và cả người Pháp nữa, không thể buôn bán được.

Họ tìm cách bóp nghẹt cổ dân tộc Việt Nam và phá hoại chủ quyền quốc gia của chúng tôi. Hiện nay họ đem xe tǎng, tàu bay, trọng pháo và chiến hạm để tàn sát đồng bào chúng tôi, và chiếm lấy cửa bể Hải Phòng cùng các tỉnh khác ven sông.

Thế chưa hết, họ còn huy động thuỷ, lục, không quân và gửi cho chúng tôi nhiều tối hậu thư. Họ lạnh lùng tàn sát những đồng bào già cả, trẻ con và đàn bà ở cả Thủ đô Hà Nội.

Ngày 19-12-1946, hồi 20 giờ, họ tấn công Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam.

Những hành động của thực dân Pháp định chiếm lấy nước chúng tôi thực rõ rệt, không thể chối cãi được.

Dân tộc Việt Nam nay bị đặt trước hai đường: một là khoanh tay, cúi đầu trở lại nô lệ; hai là đấu tranh đến cùng để giành lấy tự do và độc lập.

Không! Dân tộc Việt Nam không để cho người ta trở lại thống trị nữa.

Không! Dân tộc Việt Nam không bao giờ muốn trở lại nô lệ nữa. Dân tộc Việt Nam thà chết chứ không chịu mất độc lập và tự do.

Dân chúng Pháp!

Chúng tôi yêu chuộng các bạn, và muốn hợp tác thành thực với các bạn trong khối Liên hiệp Pháp, vì chúng ta có một lý tưởng chung: tự do, bình đẳng và độc lập.

Chính bọn thực dân phản động Pháp đã làm ô danh nước Pháp, và tìm cách chia rẽ chúng ta bằng cách khiêu chiến. Chừng nào nước Pháp hiểu rõ nền độc lập và thống nhất của chúng tôi, và gọi trở lại những kẻ thực dân hiếu chiến Pháp về, thì tình giao hảo và sự hợp tác giữa hai dân tộc Pháp – Việt sẽ trở lại ngay.

Binh lính Pháp!

Giữa các bạn và chúng tôi, không có thù ghét gì cả, chỉ vì quyền lợi ích kỷ mà bọn thực dân phản động khơi ra những xung đột. Lợi lộc chỉ họ hưởng, chết chóc thì các bạn cam chịu, những huy chương thắng trận thì về phần bọn quân phiệt. Nhưng đối với các bạn và gia đình các bạn, chỉ là sự đau khổ khốn cùng. Các bạn nên nghĩ kỹ đi. Các bạn có thể bằng lòng hy sinh máu các bạn và đời các bạn cho phản động không? Trở lại với chúng tôi, các bạn sẽ được tiếp đãi như bạn của chúng tôi.

Dân chúng các nước Đồng minh!

Sau hồi đại chiến vừa qua, các nước dân chủ đang tổ chức hoà bình, thế mà bọn phản động Pháp lại giày xéo lên những bản Hiến chương Đại Tây Dương và Cựu Kim Sơn. Họ đang gây chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Họ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Dân chúng Việt Nam yêu cầu các bạn can thiệp.

Các đồng bào!

Cuộc kháng chiến rất lâu dài và đau khổ. Dù phải hy sinh bao nhiêu và thời gian kháng chiến đến bao giờ, chúng ta cũng nhất định chiến đấu đến cùng, đến bao giờ nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập và thống nhất. Chúng ta 20 triệu chống lại 10 vạn thực dân. Cuộc thắng lợi của chúng ta rất được bảo đảm.

Thay mặt cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tôi ra lệnh cho quân đội, anh em tự vệ, dân quân và tất cả đồng bào ba kỳ những lệnh sau này:

1. Nếu quân Pháp tấn công chúng ta, chúng ta phải hǎng hái phản công lại với tất cả khí giới mà chúng ta có. Tất cả quốc dân Việt Nam phải đứng dậy bảo vệ Tổ quốc.

2. Phải bảo vệ sinh mệnh và tài sản các ngoại kiều, và đối đãi tử tế với tù binh.

3. Kẻ nào giúp đỡ quân địch phải nghiêm trị.

Ai giúp đỡ, bảo vệ đất nước sẽ được ghi công.

Đồng bào Việt Nam!

Tổ quốc lâm nguy, chúng ta phải đứng cả dậy.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn nǎm!

Kháng chiến thành công muôn nǎm!

Ngày 21 tháng 12 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha thông tin Việt Nam,
1948, tr.6-8.
cpv.org.vn

Hỏi và trả lời

1. Có người hỏi: Kháng chiến sẽ bao giờ thắng lợi?

Tôi trả lời: Giồng khoai 3 tháng mới có củ, giồng lúa 4 tháng mới được ǎn. Giồng tự do độc lập, ít nhất cũng phải 1 nǎm, hoặc 5, 7 tháng. Thử xem Trung Quốc kháng chiến 8 nǎm mới thắng lợi. Nam Dương kháng chiến 2 nǎm chưa thành công.

Pháp cướp nước ta hơn 80 nǎm. Nếu ta cần phải kháng chiến 4 nǎm mà được hoàn toàn tự do độc lập, thì cũng sướng lắm rồi.

Chiến tranh mới bắt đầu, mà bên Pháp đã ó lên: “Phải mau mau giải quyết”.

Muốn trị lửa phải dùng nước. Địch muốn tốc chiến, tốc thắng. Ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng.

2. Có người hỏi: Toàn dân kháng chiến là thế nào?

Tôi trả lời: Toàn dân kháng chiến nghĩa là toàn cả dân, ai cũng đánh giặc. Bất kỳ đàn ông đàn bà, người già con trẻ, ai cũng tham gia kháng chiến.

Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập, thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước, thì ai cũng phải làm nô lệ. Các chú bác muốn làm nô lệ không ? Không ! Anh chị em muốn làm nô lệ không ? Không! Các em bé muốn làm nô lệ không ? Nhất định không. Vậy thì ai cũng phải kháng chiến.

Có người lo rằng: Mình không có tài, sức lại yếu, không có súng, không biết bắn, thì tham gia kháng chiến thế nào? Tưởng như vậy là sai. Tôi nói một cái thí dụ rõ rệt cho bà con nghe: các chị em cô đầu có súng đâu, biết bắn đâu. Thế mà khi bộ đội lo đánh giặc thì chị em người lo nấu cơm nấu nước, người giúp chuyên chở đạn dược, người thì bǎng bó sǎn sóc cho anh em bị thương. Thế là chị em cũng cùng tham gia kháng chiến, cũng làm tròn nghĩa vụ quốc dân.

Dân ta phải giữ nước ta,
Dân là con nước, nước là mẹ chung.

3. Có người hỏi: Chiến sĩ đánh trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương nên làm việc gì ?

Trả lời: Chiến sĩ hy sinh xương máu để giữ đất nước. Bụng có no, thân có ấm mới đánh được giặc.

Làm ra gạo thóc cho chiến sĩ ǎn, làm ra vải vóc cho chiến sĩ mặc. Đều nhờ nơi đồng bào ở hậu phương.

Muốn giúp cho chiến sĩ ǎn mặc đầy đủ, thì phải ra sức tǎng gia sản xuất, nuôi nhiều gà, vịt, lợn, bò, giồng nhiều lúa, khoai, ngô, đậu. Hậu phương thắng lợi, thì chắc tiền phương thắng lợi.

Thế là đồng bào hậu phương cũng ra sức tham gia kháng chiến.

Tiền phương chiến sĩ hy sinh,
Đem xương máu mình, giữ nước non ta.
Hậu phương sản xuất tǎng gia,
Cũng là kháng chiến, cũng là vẻ vang.

Chiều 23 tháng 12 nǎm 1946

Bút tích lưu tại bảo tàng
Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Điện vǎn gửi ông Lêông Blum

Chiều hôm qua, 22-12; tôi có nhận được điện vǎn của Ngài. Tôi rất hân hạnh được biết ông Bộ trưởng Mutê, uỷ viên của Chính phủ Pháp, khởi hành sang Việt Nam. Nhờ một sự may mắn vô cùng, tôi đã thoát khỏi những làn đạn của quân đội Pháp tấn công vào dinh tôi. Ông Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của chúng tôi bị thương trong cuộc tấn công này.

Chúng tôi rất lấy làm phàn nàn rằng cuộc xung đột đã lan rộng; cuộc xung đột khởi đầu ở Hà Nội ngày 17-12 bằng một cuộc tàn sát đàn bà, trẻ con và người già cả Việt Nam, bằng việc tàn phá cả một khu phố, rồi ngày hôm sau bằng việc chiếm đóng trụ sở hai bộ của Chính phủ chúng tôi; tiếp đến ngày hôm sau nữa 19-12, bằng việc gửi một tối hậu thư đòi giao Sở Công an cho nhà chức trách Pháp và đòi tước khí giới các đội tự vệ của chúng tôi.

Chúng tôi cũng như Ngài, rất mong muốn giữ vững hoà bình và thi hành thành thực những thoả hiệp đã ký kết, như tôi đã từng nói rõ trong nhiều lời kêu gọi gửi đến Ngài.

Chúng tôi mong sẽ nhận được lệnh các nhà chức trách Pháp ở Hà Nội phải rút quân đội về những vị trí trước ngày 17-12 và phải đình chỉ những cuộc hành binh mệnh danh là tảo thanh, để cho cuộc xung đột chấm dứt ngay.

Hà Nội, ngày 23 tháng 12 nǎm 1946
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Hồ Chí Minh

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948. tr 9.
cpv.org.vn

Gửi các tù binh Pháp

Các bạn,

Tôi rất lấy làm phiền lòng vì thấy các người đang ở trong tình thế này. Tôi coi các người như là bạn của tôi.

Tôi biết rằng đó không phải là bởi các bạn, nhưng các bạn cũng như chúng tôi, đều là nạn nhân của bọn thực dân Pháp. Bọn này vì quyền lợi ích kỷ riêng của họ, chỉ muốn đi chinh phục nước người khác.

Tôi mong một ngày rất gần đây, hai dân tộc Pháp – Việt có thể cùng cộng tác trong vòng hoà bình và thân ái để mưu hạnh phúc chung cho hai dân tộc.

Trong khi chờ đợi, các bạn hãy yên lòng và sống dưới sự che chở của chúng tôi, cho đến khi hết chiến tranh, khi đó các bạn sẽ được tự do.

Tôi chúc các bạn một ngày Nôen vui vẻ và một nǎm tốt đẹp.

Ngày 24 tháng 12 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, tr.14.
cpv.org.vn

Thư gửi các kiều dân Pháp

Các bạn,

Thấy các bạn lâm vào cảnh ngộ hiện nay, tôi rất lấy làm ái ngại, vì các bạn là những người Pháp lương thiện mà tôi vẫn coi như là bạn hữu.

Tôi biết không phải là lỗi tại các bạn, song cũng như chúng tôi, các bạn là nạn nhân của bọn thực dân phản động, chúng chỉ vì quyền lợi cá nhân ích kỷ mà gây ra chiến tranh xâm lược.

Chúng tôi mong một ngày gần đây, dân chúng Pháp và dân chúng Việt Nam sẽ có thể cùng hợp tác với nhau trong vòng hoà bình và thân ái để mưu hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc.

Trong khi chờ đợi, chúng tôi không hề coi các bạn là tù nhân. Các bạn hãy yên tâm ở dưới sự che chở của chúng tôi cho đến hết chiến tranh. Khi đó các bạn sẽ được tự do.

Tôi chúc các bạn trong dịp lễ Nôen và nǎm mới.

Ngày 24 tháng 12 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, tr.15.
cpv.org.vn

Tình cảm của Bác với các Thương binh – Liệt sỹ qua thư và những lời nói

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh - Ảnh gdtd.vn

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh

1. Trong thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” ngày 27-7-1947, Bác viết:

            “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang san, sự nghiệp, mồ mả đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp; cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa; của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập; ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh.

            Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu.

            Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người anh hùng ấy.

            Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn ăn một bữa, để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp các chiến sĩ bị thương.

            Ngày 27-7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh.

… Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm sẻ áo của đồng bào, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn.

            Tôi xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa mà chị em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127,00)”.

            2. Trong thư gửi anh em thương binh và bệnh binh tháng 7 năm 1948, Bác viết:

            “Các đồng chí đã hy sinh một phần xương máu vì Tổ quốc, chẳng may bị thương, bị bệnh trước khi quân thù hoàn toàn bị tiêu diệt, kháng chiến được hoàn toàn thành công.

            Chắc các đồng chí không khỏi phân vân. Nhưng các đồng chí nên một mặt nuôi lại sức khỏe, một mặt cố gắng học tập. Khi đã khôi phục sức khỏe, các đồng chí sẽ hăng hái tham gia công tác tăng gia sản xuất, để giúp ích cho Tổ quốc, cũng như các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên những người chiến sĩ kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận. Tôi cùng đồng bào luôn nhớ đến các đồng chí”.

            3. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh về việc đón thương binh về làng tháng 7 năm 1951, Người cũng nhắc lại:

            “Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân. Anh em đã làm tròn nhiệm vụ, anh em không đòi hỏi gì cả.

            … Song đối với những người con trung hiếu ấy. Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng?

            … Mỗi xã phải tùy theo sự cố gắng và khả năng chung mà đón một sốp anh em thương binh …

            … Như thế thì đồng bào mỗi xã được thỏa mãn lòng ao ước báo đáp anh em thương binh, mà anh em thương binh thì được yên ổn về vật chất và vui vẻ về tinh thần và có dịp tham gia hoạt động có ích cho xã hội”.

            4. Trong thư gửi phụ nữ nhân ngày 8-3-1952, Bác viết:

            “… Tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc …

… Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ, cùng vợ con của liệt sĩ.

            … Các bà mẹ chiến sĩ và các chị em đã giúp thương binh, đã hòa lẫn lòng yêu thương không bờ bến, mà giúp chiến sĩ và chăm sóc thương binh như con em ruột thịt của mình”.

            5. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh – Cựu binh ngày 27-7-1952, Người cũng nhắc anh em thương binh là:

            “Về phần anh em thương binh, bệnh binh:

            – Phải hòa mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân.

            – Phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật.

            – Chớ bi quan, chán nản, phải luôn luôn cố gắng. Ngày nay anh em sẽ tùy điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất …

            – Đồng bào sẵn sàng giúp đỡ, anh em có quyết tâm thì anh em nhất định dần dần tự túc được”.

            6. Diễn từ trong buổi lễ đặt vòng hoa ở Đài Liệt sĩ ngày 31-12-1954:

            “… Các liệt sĩ hy sinh, nhưng công trạng to lớn của các liệt sĩ đã ghi sâu vào lòng toàn dân và non sông đất nước.

            Các liệt sĩ đã hy sinh, nhưng chí khí dũng cảm của các liệt sĩ thấm nhuần vào tâm hồn của toàn quân và dân ta trong cuộc đấu tranh đặng giành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong nước.

            Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm đỏ thắm.

            Tiếng thơm của các liệt sĩ muôn đời lưu truyền sử xanh.

            Một nén hương thanh.

            Vài lời an ủi”.

            7. Trong buổi đón giao thừa ở Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội năm 1956, Bác nói:

            “Các chú tàn nhưng không phế”.

            8. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh ngày 27-7-1956, Bác Hồ viết:

“… Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”.

            9. Trong thư gửi anh em thương binh, bệnh binh Trại an dưỡng Hà Nam tháng 6-1957, Bác viết:

“… Các chú là những chiến sĩ đã được quân đội nhân dân rèn luyện về đạo đức và kỷ luật cách mạng, là những người con đã hy sinh một phần xương máu để bảo vệ nước nhà. Vậy các chú cần phải giữ vững truyền thống tốt đẹp và vẻ vang của quân đội cách mạng là: giữ gìn kỷ luật, đoàn kết chặt chẽ, thật sự đoàn kết, thương yêu giữa anh em thương bệnh binh với nhau, giữa thương, bệnh binh với cán bộ và nhân dân giúp việc ở Trại, giữa thương, bệnh binh trong Trại với đồng bào chung quanh”.

            10. Trong thư gửi anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ngày 27-7-1959, Bác Hồ cũng đã căn dặn:

            “… Trong năm qua, các gia đình liệt sĩ và anh em thương binh, bệnh binh đã đóng góp khá nhiều vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

            Nhiều gia đình liệt sĩ đã hăng hái tham gia Tổ đổi công và Hợp tác xã nông nghiệp và đã đạt được thành tích khá trong việc sản xuất và tiết kiệm. Tôi chúc các gia đình ấy trở thành những gia đình cách mạng gương mẫu …”.

            11. Trong diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng (ngày 5-1-1960), đoạn nói về thương binh liệt sĩ, Bác Hồ đã nói như sau:

“… Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta …

            … Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ chuyển lại cho chúng ta…”.

            12. Trong Di chúc thiêng liêng của Người, Bác Hồ của chúng ta đã căn dặn biết bao điều hệ trọng về công tác Lao động – Thương binh và Xã hội:

            “Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, than niên xung phong …), Đảng, Chính phủ và đồng bào ta phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

            Đối với các liệt sĩ, thì mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

            Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền cùng Hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

(Bản viết tháng 5-1968, Bộ Chính trị khóa VI công bố ngày 19-8-1989).

            Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Thư gửi đồng bào nhân ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh

Cùng đồng bào công giáo,

Cùng đồng bào toàn quốc,

Gần 20 thế kỷ trước, một vị thánh nhân đã ra đời. Cả đời Người chỉ lo cứu thế độ dân, hy sinh cho tự do, bình đẳng.

Trong lúc này, thực dân Pháp gây cuộc chiến tranh, chúng mong cướp nước ta lần nữa. Chúng làm trái hẳn với lòng bác ái của Đức Giêsu.

Toàn thể đồng bào ta, không chia lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo tự do.

Nhân dịp này, tôi thay mặt Chính phủ và quốc dân trân trọng chúc phúc toàn thể đồng bào công giáo. Đồng thời tôi kính cẩn cầu Đức Thượng đế phù hộ dân tộc Việt Nam và giúp cho Việt Nam đi đến cuộc thắng lợi cuối cùng.

Thượng đế và Tổ quốc muôn nǎm!
Hồ Chí Minh

Bút tích lưu tại Bảo tàng
Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Một vài ý kiến về các Uỷ ban kiến thiết, động viên dân chúng, tǎng gia sản xuất, Uỷ ban tản cư

1. Các Uỷ ban đó tuy phâncông để có cơ quan chuyên môn phụ trách, nhưng cần phải hợp tác chặt chẽ, vì có quan hệ rất mật thiết với nhau. Ban này không thể làm việc rời ban kia. Và những nhân viên lưu động cần phải làm kiêm 3 việc. Thí dụ: Khi đi ra ngoài, người phụ trách động viên dân chúng, phải xem xét việc tản cư và khuyến khích dân giúp đỡ đồng bào tản cư, đồng thời phải khuyên dân tǎng gia sản xuất và bày vẽ cách tǎng gia sản xuất. Nhân viên những Uỷ ban kia cũng thế.

2. Vì vậy, kế hoạch của các Uỷ ban cần phải ǎn khớp với nhau. Những nhân viên đi các nơi phải có đủ 3 kế hoạch để giải thích cho dân.

3. Uỷ ban kiến thiết, thì ngoài sự giúp ý kiến cho 3 ban kia, cần phải có kế hoạch ngoại giao và kinh tế. Nếu cần phải thoái, thì kiến thiết thế nào ? Kháng chiến thắng lợi, thì kiến thiết thế nào ?

ĐỘNG VIÊN DÂN CHÚNG

Cách làm:

a) Phải có người đi khắp các nơi khai hội, giải thích cho dân.

Nên dùng những thanh niên hǎng hái, giải thích cho họ hiểu, rồi phái họ đi làm.

b) Truyền đơn, rất phổ thông, rất giản đơn, giải thích từng việc.

c) Khẩu hiệu thiết thực, dán khắp các làng, viết khắp các tường.

d) Báo, hoạ báo, bích báo.

e) Ca kịch – Viết những bài ca vắn, dễ hiểu, dễ thuộc lòng, phát cho dân. Diễn những bản kịch giản đơn, cảm động.

f) Khai hội dân chúng – Sức 1 các làng, các đoàn thể, phải mấy ngày khai hội dân chúng một lần. Cán bộ giải thích và kiểm điểm các việc. Dân chúng phát biểu ý kiến. Hô khẩu hiệu. Toàn dân đọc lời thề (Uỷ ban phải in lời thề vắn tắt, thiết thực, cảm động, phát cho các làng).

g) Các uỷ viên phải thường đi tuần thị 2 .

h) Các tỉnh, huyện, làng đều có một Uỷ ban động viên dân chúng.

Từ huyện đến làng, Ban này có thể kiêm cả việc tản cư và tǎng gia sản xuất.

Nội dung:

– Về quân sự:

1. Vì sao phải kháng chiến. Vì sao kháng chiến phải trường kỳ, phải toàn diện, phải toàn dân. Thế nào là toàn diện, thế nào là toàn dân.

2. Mỗi một người (người già, phụ nữ, thanh niên, nhi đồng) phải giúp kháng chiến cách thế nào.

3. Giữ bí mật thế nào. Đề phòng Việt gian thế nào. Đề phòng tàu bay và nhảy dù thế nào.

4. Vì sao phải ra sức phá hoại những đường sá gần chiến khu.

5. Vì sao quân ta có khi tiến, có khi thoái. Khi bộ đội tiến, dân phải giúp thế nào. Khi thoái, dân phải giúp thế nào.

6. Vì sao thấy thắng trận không nên kiêu ngạo, thấy bại trận không nên hoảng.

7. Dân có thể tổ chức du kích thế nào.

8. Vì sao kháng chiến nhất định thắng lợi.

– Về xã hội:

a) Vì sao phải đoàn kết chặt chẽ.

b) Vì sao phải giúp đỡ đồng bào tản cư. Giàu thì giúp thế nào, nghèo thì giúp thế nào.

c) Vì sao không nên tǎng giá các vật liệu.

d) Vì sao phải giữ trật tự cho yên ổn, giữ cách thế nào. Canh gác nên thế nào.

– Về kinh tế:

1. Vì sao phải tǎng gia sản xuất.

2. Tǎng gia cách thế nào.

Nên có một đội tuyên truyền, trực tiếp dưới sự chỉ huy của Ban.

ỦY BAN TẢN CƯ

1. Kỳ, tỉnh, huyện, làng, đều phải có một Uỷ ban tản cư.

– Hệ thống liên lạc dọc phải rất mật thiết.

– Trong Uỷ ban phải có một vị danh vọng cao, làm chủ nhiệm, dễ kêu gọi dân.

– Trong Ban thường vụ cần có những người khéo tổ chức, nhiều sáng kiến, giỏi chạy vạy. Nên mời các thân hào, những người có danh vọng, đại biểu các giới làm uỷ viên hoặc cố vấn.

2. Công việc:

a) Điều tra – phải hỏi các nơi lập tức báo cáo rõ ràng số người có thể ở lại nơi họ đang ở bây giờ, và số người cần phải đem đi nơi khác, để cho Uỷ ban kỳ phân phát đi các tỉnh.

b) Phải có kế hoạch rõ ràng, chia đến tỉnh nào mấy người tản cư:

– Kế hoạch giúp đỡ họ lúc đi đường (trạm ǎn, trạm ngủ, giúp chở hành lý).

– Kế hoạch rõ cho các tỉnh phân phát huyện nào, làng nào, nhà ai nhận thu dung mấy người. Người tản cư đến tỉnh thì có chỗ đi ngay. Không thế thì người sẽ ứ lại, tỉnh và huyện không thể nuôi được.

c) Những nơi có đồn điền, Bộ Canh nông phải chuẩn bị cày cuốc và lương thực, sẵn sàng rồi thì thông tri cho Ban kỳ biết, nơi nào thu dung được mấy người để cho Ban kỳ phân phối.

d) Công nghệ – Phải khuyên và giúp những nhà tư sản tản cư, xuất vốn lập những thủ công nghệ. Họ đã có lợi, hơn là để tiền nằm không, lại giúp thu dung được một số đồng bào tản cư.

e) Khuyến khích những người tản cư, mỗi một người phải có một công việc tại nơi mình tản cư. Không để ai ngồi ǎn không. Khẩu hiệu là: Tản cư cũng tham gia kháng chiến!

Số người mỗi tỉnh có thể thu dung

Những tỉnh có thể dung 2 vạn người:

Hà Đông

Vĩnh Yên

Bắc Ninh

Bắc Giang

Hải Dương

Hưng Yên

Hà Nam

Có thể dung 1 vạn người Có thể dung 5 ngàn:

Nam Định Phúc Yên

Sơn Tây Tuyên Quang

Cao Bằng Cao Bằng

Thái Nguyên Hoà Bình

Thái Bình Ninh Bình

(Cộng cả hơn 210.000 người)

Về việc tản cư, Chính phủ cần phải giúp một số tiền.

TǍNG GIA SẢN XUẤT

1. Không để 1 tấc đất hoang.

– Tổ chức những đội khẩn hoang. Những đội giúp nhau cày gặt.

– Tổ chức nghĩa thương.

2. Tổ chức những hợp tác xã thủ công nghệ.

(Việc này, phải lợi dụng những kinh nghiệm nǎm ngoái).

Khẩu hiệu:

Tiền phương ra sức chiến đấu,

Hậu phương tǎng gia sản xuất,

Tiền hậu phương đều kháng chiến.

Thì kháng chiến quyết thắng lợi!

Viết ngày 27-12-1946.
Tài liệu lưu tại Trung tâm
lưu trữ Quốc gia I.
cpv.org.vn

Thư gửi anh em Hoa kiều

Cùng anh em Hoa kiều,

Hơn 80 nǎm Việt Nam mất nước, bà con Hoa kiều bị Pháp áp bức, chẳng thiếu cách gì. Nào giấy nhập khẩu, nào thuế kiều cư, kể sao cho xiết.

Nay, thực dân Pháp gây cuộc chiến tranh, Hoa kiều bị Pháp giết người, đốt phố, lại sai thổ phỉ cướp giết lung tung.

Thế mà chúng lại khoe miệng “Bảo hộ Hoa kiều”!

Dân tộc Trung Hoa 450 triệu, Hoa kiều ở đây 50 vạn người, mà lại phải chịu bọn Pháp “bảo hộ”, thật là một việc kỳ sỉ đại nhục.

Dân tộc Việt Nam, đồng vǎn đồng chủng. Tình nghĩa thân thiết, hơn mấy ngàn nǎm. Anh em Hoa kiều, làm ǎn ở đây với dân Việt Nam, cũng như ruột thịt.

Vì vậy, tuy dân tộc Việt Nam đang phải kháng chiến, tình cảnh kiều bào khiến tôi động lòng.

Chính phủ Việt Nam đã hạ nghiêm lệnh, đối với Hoa kiều, tính mệnh, tài sản đều được bảo vệ.

Hoa kiều ở Huế và ở các nơi tổ chức cứu hội, giúp quân Việt Nam. Tình thân thiện đó tôi rất cám ơn và rất cảm động.

Trong cơn hoạn nạn, Hoa Việt, anh em cảm tình càng nồng, đoàn kết càng chặt.

Mai sau kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, hai dân tộc ta cùng hưởng hạnh phúc.

Việt Hoa thân thiện muôn nǎm!

Ngày 28 tháng 12 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1948, tr.16.
cpv.org.vn

Đoàn đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm báo công dâng Bác

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm lần thứ XIII, sáng ngày 19 tháng 6 năm 2012, đoàn đại biểu gồm 180 đoàn viên thanh niên tiêu biểu đại diện cho hơn 1300 đoàn viên thanh niên của Tổng cục đã đến trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh báo công dâng Người kết quả đã đạt được trong những năm qua.

Tong cuc canh sat phong chong toi pham 2012

Đoàn đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của các cấp uỷ Đảng và tổ chức Đoàn cấp trên, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống luôn được các tổ chức Đoàn trong Tổng cục quan tâm với nhiều nội dung phong phú, thiết thực gắn với hoạt động thực tiễn của đơn vị nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, lòng trung thành tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần nhiệt huyết, dũng cảm trong thực hiện nhiệm vụ cho đoàn viên thanh niên.

Phát huy tốt vai trò xung kích của đoàn viên thanh niên, Tổng cục đã triển khai nhiều đợt thi đua cao điểm nhằm tấn công, trấn áp tội phạm bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tuyệt đối an toàn các sự kiện lớn của đất nước nhân dịp Tết Nguyên đán, Đại hội Đảng, các kỳ họp Quốc hội… Triển khai thực hiện có hiệu quả các phong trào “Thanh niên CAND học tập 6 điều Bác dạy –  Xung kích, sáng tạo, tình nguyện, lập công vì an ninh Tổ quốc”, “ Tuổi trẻ Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm văn hoá, kỷ cương, trách nhiệm”, tích cực hưởng ứng cuộc vận động “CAND chấp hành nghiêm điều lệnh: Xây dựng nếp sống văn hoá , vì nhân dân phục vụ”. Ban Chấp hành Đoàn đã trực tiếp dự thảo và tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo Bộ Công an và Trung ương Đoàn tiến hành ký kết Nghị quyết liên tịch về “Phối hợp hành động phòng chống ma tuý trong thanh, thiếu niên giai đoạn 2010-2015”, qua đó bước đầu đã góp phần vào việc giáo dục, tuyên truyền hơn nữa tác hại của tệ nạn ma tuý, có tác dụng ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn ma túy trong thanh thiếu niên.

Trong nhiệm kỳ qua, Đoàn Thanh niên Tổng cục đã tổ chức nhiều các hoạt động chung sức cùng cộng đồng đền ơn, đáp nghĩa tiêu biểu như: Chiến dịch tình nguyện hè năm 2008 tại Quảng Trị và hoạt động tình nghĩa tại nước CHDCND Lào; Chiến dịch tình nguyện hè năm 2009 do Đoàn Thanh niên Tổng cục chủ trì phối hợp với các đơn vị khác đã huy động được với tổng giá trị quà tặng hơn 2 tỷ đồng; chủ trì và phối hợp với Đoàn Thanh niên thuộc Bộ Tổng Tham mưu – Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia, Tập đoàn Bưu chính viễn thông, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tổ chức Hành trình chung sức bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương hè 2011 tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi … Thông qua các phong trào, các đồng chí đoàn viên thanh niên đã thực sự trưởng thành, chín chắn trong suy nghĩ và có trách nhiệm trong hành động để thêm yêu quê hương đất nước, son sắc niềm tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, yêu ngành, mến nghề, không ngại gian khổ để cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

Kết thúc buổi lễ, đồng chí Dương Thị Thanh Huyền – Uỷ viên Trung ương Đoàn, Bí thư Đoàn Thanh niên Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm thay mặt cho toàn thể đoàn viên thanh niên Tổng cục xin hứa với Bác sẽ tiếp tục đoàn kết, không ngừng tu dưỡng, học tập, rèn luyện về mọi mặt, hăng hái thi đua lập công xuất sắc vì sự nghiệp bảo vệ Đảng, bảo vệ lãnh tụ, bảo vệ an ninh Tổ quốc và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, của Bác và của nhân dân đã giành cho thanh niên nói chung và thanh niên Tổng cục nói riêng, xứng đáng với truyền thống anh hùng mà bao thế hệ cán bộ, chiến sỹ lực lượng cảnh sát đã dày công xây dựng./.

Duy Chính
bqllang.gov.vn

Phụ lục: Những Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký trong thời gian từ 2-9-1945 đến 31-12-1946

NǍM 1945

1- Sắc lệnh số 23, ký ngày 10-9-1945, cử ông Vĩnh Thuỵ làm Cố vấn Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

2- Sắc lệnh số 29B, ký ngày 10-9-1945, về việc lưu dụng và cho nghỉ việc một số quan chức cũ ngành toà án ở Hà Nội.

3- Sắc lệnh số 31, ký ngày 13-9-1945, quy định về thể thức tổ chức các cuộc biểu tình.

4- Sắc lệnh số 33A, ký ngày 13-9-1945, quy định về quyền hạn của Ty Liêm phóng.

5- Sắc lệnh số 33B, ký ngày 13-9-1945, về trình tự thủ tục khi bắt người của Sở Liêm phóng và Sở Cảnh sát.

6- Sắc lệnh số 33C, ký ngày 13-9-1945, về việc lập Toà án Quân sự ở Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và quy định quyền hạn xét xử của các Toà án đó.

7- Sắc lệnh số 33D, ký ngày 19-9-1945, về việc phóng thích tội nhân bị kết án trước ngày 19-8-1945.

8- Sắc lệnh số 34, ký ngày 20-9-1945, lập một Uỷ ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (gồm 7 người).

9- Sắc lệnh số 36, ký ngày 22-9-1945, về việc bãi bỏ các nghiệp đoàn Nông sản, Lâm sản, Kỹ nghệ, Khoáng sản, Thương mại (Nội thương, Ngoại thương), Vận tải, Ngân hàng.

10- Sắc lệnh số 37, ký ngày 26-9-1945, quy định các địa phương thuộc thẩm quyền xét xử của các Toà án Quân sự theo Sắc lệnh số 33C ngày 13-9-1945.

11- Sắc lệnh số 38, ký ngày 27-9-1945, về việc bỏ thuế môn bài và giảm phụ thu ngân sách.

12- Sắc lệnh số 39, ký ngày 26-9-1945, lập một Uỷ ban dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử (gồm 9 người).

13- Sắc lệnh số 40, ký ngày 29-9-1945, về việc lập thêm một Toà án Quân sự ở Nha Trang và quy định các địa phương thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án Quân sự này.

14- Sắc lệnh số 41, ký ngày 3-10-1945, về việc bãi bỏ các công sở và các cơ quan thuộc phủ Toàn quyền Đông Dương trước đây.

15- Sắc lệnh số 42, ký ngày 4-10-1945, quy định cách tính thuế suất tiền lãi thương mại, kỹ nghệ, canh nông, lương bổng…

16 – Sắc lệnh số 48, ký ngày 9-10-1945, quy định về việc tạm thời áp dụng đạo luật cũ đối với các công ty, các hãng kỹ nghệ, thương mại ngoại quốc ở Việt Nam.

17- Sắc lệnh số 50, ký ngày 9-10-1945, về việc cấm xuất cảng thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc.

18- Sắc lệnh số 43, ký ngày 10-10-1945, về việc thiết lập một Quỹ tự trị cho Trường Đại học Việt Nam.

19- Sắc lệnh số 44, ký ngày 10-10-1945, về việc thành lập Hội đồng cố vấn học chính.

20- Sắc lệnh số 45, ký ngày 10-10-1945, về việc thiết lập một Ban đại học Vǎn khoa tại Hà Nội.

21- Sắc lệnh số 46, ký ngày 10-10-1945, quy định thể thức tổ chức đoàn thể luật sư, những tiêu chuẩn của luật sư trong Toà thượng thẩm Hà Nội và Sài Gòn.

22- Sắc lệnh số 47, ký ngày 10-10-1945, về việc tạm thời sử dụng bộ luật cũ, trừ một số điểm thay đổi được ấn định trong sắc luật này.

23- Sắc lệnh số 49, ký ngày 12-10-1945 về việc ghi tiêu đề Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nǎm thứ nhấttrên các công vǎn, điện vǎn, công điện, trát, đơn từ, báo chí, chúc từ, v.v..

24- Sắc lệnh số 51B, ký ngày 12-10-1945 cho phép Giám đốc Ngân khố Trung ương Việt Nam trích một khoản ngân quỹ giao Bộ trưởng Bộ Cứu tế mua gạo dự trữ.

25- Sắc lệnh số 51, ký ngày 17-10-1945, quy định thể lệ Tổng tuyển cử, ấn định ngày 23-12-1945 sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử trong toàn quốc.

26- Sắc lệnh số 52, ký ngày 20-10-1945, về việc xá tội cho các tội phạm bị kết án trước ngày 19-8-1945.

27- Sắc lệnh số 53, ký ngày 20-10-1945, quy định tạm thời những người thuộc quốc tịch Việt Nam.

28- Sắc lệnh số 54, ký ngày 3-11-1945, quy định điều kiện về hưu cho công chức các ngạch.

29- Sắc lệnh số 55, ký ngày 3-11-1945, về việc tổ chức Hội đồng kỷ luật các viên chức ở các cơ quan và địa phương.

30- Sắc lệnh số 56, ký ngày 7-11-1945, uỷ nhiệm cho Bộ Quốc dân kinh tế (Nha kỹ nghệ) và Bộ Tuyên truyền kiểm soát việc sản xuất, nhập cảng và phân phối giấy, bìa trong cả nước.

31- Sắc lệnh số 57, ký ngày 10-11-1945, nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, tiêu thụ, mua bán rượu được chế từ ngũ cốc và mức phạt khi phạm các tội trên.

32- Sắc lệnh số 58, ký ngày 10-11-1945, về việc nghỉ gia hạn không lương cho công chức tất cả các ngạch.

33- Sắc lệnh số 59, ký ngày 15-11-1945, quy định về quyền thị thực và mức lệ phí đối với các loại khế ước.

34- Sắc lệnh số 60, ký ngày 16-11-1945, quy định về trình tự tiến hành trước Toà tại Hà Nội, Hải Phòng, Nam Bộ, Đà Nẵng.

35- Sắc lệnh số 61, ký ngày 21-11-1945, chuyển Sở Vô tuyến điện Việt Nam về Bộ Quốc phòng.

36 – Sắc lệnh số 62, ký ngày 20-11-1945, bãi bỏ Sở thương binh, chiến binh, nạn nhân chiến tranh và trẻ mồ côi thuộc địa.

37- Sắc lệnh số 63, ký ngày 22-11-1945, về tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp (xã, huyện, tỉnh, kỳ).

38- Sắc lệnh số 64, ký ngày 23-11-1945, về việc thành lập và quy định quyền hạn Ban thanh tra đặc biệt và Toà án đặc biệt.

39- Sắc lệnh số 65, ký ngày 23-11-1945, quy định nhiệm vụ và quyền lợi của Đông Phương Bác Cổ học viện.

40- Sắc lệnh số 66, ký ngày 24-11-1945, về việc trưng dụng các y sĩ, dược sĩ của Chính phủ, Bộ Y tế và Quân đội.

41- Sắc lệnh số 67, ký ngày 28-11-1945, về việc thành lập và quy định nhiệm vụ của Uỷ ban tối cao tiếp tế và cứu tế.

42- Sắc lệnh số 68, ký ngày 30-11-1945, về việc trưng dụng, bồi thường bất động sản và việc trưng tập người.

43- Sắc lệnh số 69, ký ngày 1-12-1945, quy định các cơ quan thuộc Bộ Canh nông.

44- Sắc lệnh số 70, ký ngày 1-12-1945, cử Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Vǎn Hiến làm đặc phái viên của Chính phủ ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

45- Sắc lệnh số 71 và 72, ký ngày 2-12-1945, về việc bổ sung thể lệ Tổng tuyển cử.

46- Sắc lệnh số 73, ký ngày 7-12-1945, quy định điều kiện và thể thức đối với người ngoại quốc muốn nhập quốc tịch Việt Nam.

47- Sắc lệnh số 74NV/CC, ký ngày 17-12-1945, quy định chế độ lương bổng cho các nhân viên công chức mắc bệnh lao hay phong phải nghỉ việc dài hạn.

48- Sắc lệnh số 75NV/CC, ký ngày 17-12-1945, về việc trưng tập viên chức tòng sự tại các công sở.

49- Sắc lệnh số 76, ký ngày 18-12-1945, hoãn ngày Tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946 và gia hạn nộp đơn ứng cử đến hết ngày 27-12-1945.

50- Sắc lệnh số 77, ký ngày 21-12-1945, về việc thành lập thành phố trực thuộc Chính phủ Trung ương, hoặc Kỳ; thị xã thuộc Kỳ hoặc tỉnh.

51- Sắc lệnh số 77B, ký ngày 24-12-1945, uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân Nam Bộ xét ân giảm cho tội nhân.

52- Sắc lệnh số 77C, ký ngày 28-12-1945, về việc thiết lập Toà án quân sự tại Phan Thiết.

53- Sắc lệnh số 78, ký ngày 31-12-1945, về việc lập một Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết của Chính phủ.

54- Sắc lệnh số 79, ký ngày 31-12-1945, về việc tổ chức lại Bình dân Ngân quỹ tổng cục.

55- Sắc lệnh số 80, ký ngày 31-12-1945, về việc cử người vào Ban thanh tra đặc biệt.

56- Sắc lệnh số 81, ký ngày 31-12-1945, cho phép các Bộ, các địa phương thực hiện các khoản dự chi nǎm 1946 trong khi chờ đợi ngân sách nǎm 1946 được duyệt y.

NǍM 1946

57- Sắc lệnh số 1-NV, ký ngày 8-1-1946, ân xá cho một phạm nhân người Hoa.

58- Sắc lệnh số 2-NV, ký ngày 8-1-1946, ân xá cho một phạm nhân người Hoa.

59- Sắc lệnh số 3, ký ngày 9-1-1946, về việc triệu tập Quốc hội.

60- Sắc lệnh số 4, ký ngày 14-1-1946, về việc cử người vào Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết.

61- Sắc lệnh số 5, ký ngày 15-1-1946, huỷ bỏ quyền quản lý và sử dụng đường sắt Hải Phòng – Vân Nam của Công ty hoả xa Vân Nam.

62- Sắc lệnh số 6, ký ngày 15-1-1946, định hình phạt đối với các tội trộm cắp, phá huỷ, cắt dây điện thoại và điện tín.

63- Sắc lệnh số 7, ký ngày 15-1-1946, bổ sung chức nǎng và nhiệm vụ của Toà án quân sự.

64- Sắc lệnh số 8, ký ngày 18-1-1946, về việc giải tán “Tổ chức Giuylơ Brêvin” (Fondation Jules Brévil).

65- Sắc lệnh số 9, ký ngày 18-1-1946, về việc giải tán “Hội bảo trợ phụ nữ và nhi đồng Annam” (Ligue pour la protection de la Femme et de L’ Enfant Annamites).

66- Sắc lệnh số 10, ký ngày 23-1-1946, sửa một số điều khoản của Sắc lệnh số 63 (22-11-1945) về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp.

67- Sắc lệnh số 11, ký ngày 24-1-1946, về việc chia khu đối với những thị xã lớn.

68- Sắc lệnh số 12, ký ngày 24-1-1946, quy định quyền hạn của ông Bộ trưởng Bộ Kinh tế.

69- Sắc lệnh số 13, ký ngày 24-1-1946, quy định về cách tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán.

70- Sắc lệnh số 14, ký ngày 30-1-1946, về việc thành lập Nha Thể dục trung ương.

71- Sắc lệnh số 15, ký ngày 30-1-1946, về việc bãi bỏ thuế thổ trạch ở thôn quê kể từ ngày 1-1-1946.

72- Sắc lệnh số 16, ký ngày 30-1-1946, về việc thành lập Phòng Canh nông Bắc Bộ Việt Nam.

73- Sắc lệnh số 17, ký ngày 31-1-1946, về việc bãi bỏ Bình dân Ngân quỹ tổng cục, quy định về việc tổ chức cơ quan và phân chia tài sản của Bình dân Ngân quỹ tổng cục.

74- Sắc lệnh số 18, ký ngày 31-1-1946, về thể lệ nộp lưu chiểu vǎn hoá phẩm.

75- Sắc lệnh số 18B, ký ngày 31-1-1946, về việc phát hành đồng bạc giấy Việt Nam từ vĩ tuyến 16trở vào Nam.

76- Sắc lệnh số 19, ký ngày 5-2-1946, về việc giải tán Uỷ ban trung ương Hội Tương trợ và Cứu tế xã hội Bắc Kỳ.

77- Sắc lệnh số 20, ký ngày 6-2-1946, về việc bãi bỏ Sở kiểm soát tài chính.

78- Sắc lệnh số 21, ký ngày 14-2-1946, quy định về tổ chức của Toà án quân sự thiết lập ở Bắc, Trung và Nam Bộ.

79- Sắc lệnh số 22A, ký ngày 18-2-1946, sửa đổi điều 65 của Sắc lệnh số 63 (22-11-1945).

80- Sắc lệnh số 22B, ký ngày 18-2-1946, trao quyền tư pháp cho Uỷ ban hành chính ở những nơi chưa có toà án riêng.

81- Sắc lệnh số 22C, ký ngày 18-2-1946, ấn định những ngày Tết, ngày kỷ niệm lịch sử và ngày lễ tôn giáo.

82- Sắc lệnh số 23, ký ngày 21-2-1946, về việc thành lập “Việt Nam Công an vụ”.

83- Sắc lệnh số 24NV/CC, ký ngày 21-2-1946, về việc cấp một tháng lương cho các công chức tình nguyện dự vào công việc tǎng gia sản xuất ở Cao Bằng.

84- Sắc lệnh số 25, ký ngày 25-2-1946, sửa đổi quy định quốc tịch Việt Nam.

85- Sắc lệnh số 26, ký ngày 25-2-1946, quy định những hành vi phá hoại tài sản công bị coi là trọng tội, sẽ bị truy tố và phạt tù hoặc xử tử.

86- Sắc lệnh số 27, ký ngày 28-2-1946, quy định những hành vi bắt cóc, tống tiền, ám sát sẽ bị truy tố và phạt tù hoặc xử tử.

87- Sắc lệnh số 28, ký ngày 15-3-1946, cử ông Tạ Quang Bửu làm Thứ trưởng Quốc phòng.

88- Sắc lệnh số 29, ký ngày 19-3-1946, trích một khoản ở ngân sách toàn quốc để Bộ Ngoại giao chi tiêu về những công việc đặc biệt.

89- Sắc lệnh số 30, ký ngày 22-3-1946, bổ nhiệm Giám đốc Việt Nam Công an vụ.

90- Sắc lệnh số 31NV/CC, ký ngày 22-3-1946, cử ông Phạm Khắc Hoè giữ chức Đổng lý Vǎn phòng Bộ Nội vụ.

91- Sắc lệnh số 32, ký ngày 22-3-1946, bổ sung về việc phân chia tài sản của Bình dân Ngân quỹ tổng cục.

92- Sắc lệnh số 33/QĐ, ký ngày 22-3-1946, quy định cấp bậc, quân phục, phù hiệu, cấp hiệu cho Lục quân toàn quốc.

93- Sắc lệnh số 34, ký ngày 25-3-1946, quy định tổ chức của Bộ Quốc phòng.

94- Sắc lệnh số 35, ký ngày 25-3-1946, cử người giữ các chức vụ trong Bộ Quốc phòng.

95- Sắc lệnh số 36, ký ngày 27-3-1946, quy định tổ chức bộ máy hành chính của Bộ Xã hội.

96- Sắc lệnh số 37, ký ngày 27-3-1946, cử người giữ các chức vụ Giám đốc Nha Y tế trung ương, Giám đốc Nha Cứu tế trung ương, Giám đốc Nha Lao động trung ương, Chánh Vǎn phòng Bộ Xã hội.

97- Sắc lệnh số 38, ký ngày 27-3-1946, về việc thiết lập Nha Thanh niên và Thể dục trung ương.

98- Sắc lệnh số 39, ký ngày 27-3-1946, bổ nhiệm Chánh Vǎn phòng Bộ Quốc phòng.

99- Sắc lệnh số 40, ký ngày 29-3-1946, về những quy định, luật lệ tạm thời cho phép bắt giam những công dân có hành vi phạm pháp.

100- Sắc lệnh số 41, ký ngày 29-3-1946, về những quy định tạm thời cho chế độ báo chí và xuất bản.

101- Sắc lệnh số 42, ký ngày 3-4-1946, quy định quyền bất khả xâm phạm đối với những người giữ chức Bộ trưởng hay Thứ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính, đại biểu Quốc hội.

102- Sắc lệnh số 43, ký ngày 3-4-1946, về việc lập “Hội đồng phân định thẩm quyền giữa Toà án quân sự, Toà án đặc biệt và Toà án thường”.

103- Sắc lệnh số 44, ký ngày 3-4-1946, cử người vào Ban Trung ương vận động đời sống mới.

104- Sắc lệnh số 45, ký ngày 5-4-1946, về việc tổ chức các cuộc lạc quyên.

105- Sắc lệnh số 46, ký ngày 5-4-1946, về việc lưu hành các loại giấy bạc.

106- Sắc lệnh số 47, ký ngày 7-4-1946, về việc Bộ Ngoại giao chia ra làm Nội bộ và Ngoại bộ.

107- Sắc lệnh số 48, ký ngày 10-4-1946, về việc thiết lập Đảm phụ quốc phòng trong cả nước.

108- Sắc lệnh số 50, ký ngày 13-4-1946, về tổ chức các cơ quan Bộ và thuộc Bộ của Bộ Giao thông Công chính.

109- Sắc lệnh số 51-SL, ký ngày 17-4-1946, về thẩm quyền của các toà án Việt Nam đối với mọi công dân.

110- Sắc lệnh số 52, ký ngày 22-4-1946, quy định thể thức xin lập hội (hoặc đoàn thể) của công dân Việt Nam.

111- Sắc lệnh số 53-QP, ký ngày 24-4-1946, bổ nhiệm người giữ chức vụ Chính trị Cục trưởng Bộ Quốc phòng.

112- Sắc lệnh số 54, ký ngày 24-4-1946, về việc in các tem bưu điện có chân dung Bảo Đại và Nam Phương.

113- Sắc lệnh số 56, ký ngày 29-4-1946, quy định quyền được nghỉ việc ngày Quốc tế Lao động 1-5 và được hưởng lương như ngày làm việc.

114- Sắc lệnh 56B, ký ngày 2-5-1946, tạm hoãn thời hạn những việc đǎng ký quyền cầm cố ở các phòng trước bạ và điền thổ trên toàn cõi Việt Nam.

115- Sắc lệnh số 57, ký ngày 3-5-1946, quy định mỗi Bộ của Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng và Thứ trưởng có một Vǎn phòng, có các Nha và có thể có một cơ quan thanh tra và một Ban cố vấn.

116- Sắc lệnh số 58, ký ngày 3-5-1946, quy định về tổ chức và chức nǎng các cơ quan thuộc Bộ Nội vụ.

117- Sắc lệnh số 59, ký ngày 3-5-1946 cử người vào Hội đồng phúc thẩm đặt tại Bộ Nội vụ.

118- Sắc lệnh số 60, ký ngày 6-5-1946, về việc đổi Uỷ ban kháng chiến toàn quốc thành Quân sự uỷ viên Hội.

119- Sắc lệnh số 61, ký ngày 6-5-1946, quy định về tổ chức của Bộ Quốc dân kinh tế.

120- Sắc lệnh số 62, ký ngày 8-5-1946, quy định các chức vụ của hệ thống tổ chức Bộ Canh nông.

121- Sắc lệnh số 63, ký ngày 8-5-1946, bổ nhiệm người phụ trách các tổ chức của Bộ Canh nông.

122- Sắc lệnh số 64, ký ngày 8-5-1946, quy định nhiệm vụ của Nha Lao động trung ương trong Bộ Xã hội.

123- Sắc lệnh số 65, ký ngày 10-5-1946, tạm hoãn thu thuế trực thu cho các tỉnh từ Khánh Hoà vào Nam.

124- Sắc lệnh số 66, ký ngày 10-5-1946, cử một số cán bộ cho Bộ Ngoại giao.

125- Sắc lệnh số 67, ký ngày 13-5-1946, cử một số cán bộ cho Bộ Quốc dân kinh tế.

126- Sắc lệnh số 68, ký ngày 14-5-1946, bổ sung điều khoản về việc đặt Uỷ ban hành chính khu phố và cách tiến hành bầu cử, ứng cử.

127- Sắc lệnh số 69, ký ngày 16-5-1946, ấn định mức thuế điền thổ và thuế đồn điền áp dụng cho Bắc Bộ.

128- Sắc lệnh số 70, ký ngày 22-5-1946, về việc lập Uỷ ban hộ đê trung ương.

129- Sắc lệnh số 71, ký ngày 22-5-1946, về việc Quân đội của nước Việt Nam là một Quân đội quốc gia.

130- Sắc lệnh số 72, ký ngày 24-5-1946, bãi bỏ Sắc lệnh số 57 (10-11-1945).

131- Sắc lệnh số 73, ký ngày 24-5-1946, cử cán bộ cho Bộ Canh nông.

132- Sắc lệnh số 74, ký ngày 24-5-1946, cử cán bộ cho Bộ Giao thông Công chính.

133- Sắc lệnh số 75, ký ngày 29-5-1946, quy định tổ chức của Bộ Tài chính.

134- Sắc lệnh số 76, ký ngày 29-5-1946, sửa đổi điều khoản của Sắc lệnh số 77 (21-12-1945) về cách tổ chức chính quyền nhân dân ở thị xã, thành phố.

135- Sắc lệnh số 77, ký ngày 29-5-1946, ấn định trường hợp Chủ tịch Chính phủ được phép ban hành lệnh thiết quân luật.

136- Sắc lệnh số 78, ký ngày 29-5-1946, ấn định mức thuế điền thổ áp dụng cho Trung Bộ.

137- Sắc lệnh số 79, ký ngày 29-5-1946, về việc giảm thuế điền thổ cho nhân dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.

138- Sắc lệnh số 80, ký ngày 29-5-1946, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Bộ Canh nông.

139- Sắc lệnh số 81, ký ngày 29-5-1946, ấn định danh sách đoàn Việt Nam đi Pari.

140- Sắc lệnh số 82, ký ngày 29-5-1946, cử người tạm thay các chức vụ trong Chính phủ trong thời gian những người đương chức đi vắng.

141- Sắc lệnh số 82B, ký ngày 29-5-1946, bổ nhiệm Cục trưởng Giao thông công chính.

142- Sắc lệnh số 83, ký ngày 29-5-1946 bổ nhiệm một số cán bộ Bộ Nội vụ.

143- Sắc lệnh số 84, ký ngày 29-5-1946, cấm sử dụng các loại xe tay trong toàn cõi Việt Nam.

144- Sắc lệnh số 84B, ký ngày 29-5-1946, về việc tuyên dương công trạng hoặc tặng thưởng “Huy chương Quân công” những người có công trong việc giành độc lập cho nước Việt Nam.

145- Sắc lệnh số 85, ký ngày 30-5-1946 cử người giữ chức Chánh vǎn phòng Bộ Nội vụ.

146- Sắc lệnh số 86, ký ngày 30-5-1946, cử ông Phạm Vǎn Đồng làm Đoàn trưởng phái đoàn Việt Nam sang Pari thay ông Nguyễn Tường Tam vì mắc bệnh không đi được.

147- Sắc lệnh số 87, ký ngày 30-5-1946, cử người giữ chức Tổng thanh tra các Nha của Bộ Canh nông.

148- Sắc lệnh số 88, ký ngày 30-5-1946, hạn chế việc giết thịt gia súc ở Bắc Bộ.

149- Sắc lệnh số 89, ký ngày 30-5-1946, về việc Chính phủ Việt Nam tạm thời giành quyền tìm kiếm mỏ.

150- Sắc lệnh số 90, ký ngày 30-5-1946, ấn định những khu mỏ thuộc quyền sở hữu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

151- Sắc lệnh số 203, ký ngày 7-11-1946, cử người vào Uỷ ban liên kiểm Việt – Pháp để thi hành bản Tạm ước Việt – Pháp ngày 14-9-1946.

152- Sắc lệnh số 204, ký ngày 8-11-1946, quy định những quyền lợi của các đại biểu Quốc hội khi đi dự họp.

153- Sắc lệnh số 205, ký ngày 9-11-1946, sáp nhập liên xã Hưng Đạo thuộc phủ Thanh Hà (Hải Dương) vào huyện Kim Thành cùng tỉnh.

154- Sắc lệnh số 206, ký ngày 15-11-1946, sửa đổi một số điểm về việc thu đảm phụ quốc phòng đối với ngành vận tải.

155- Sắc lệnh số 207, ký ngày 15-11-1946, tạm thay đổi mức thuế tối thiểu và thuế tổng nội đánh vào hàng hoá nhập vào Việt Nam.

156- Sắc lệnh số 208, ký ngày 16-11-1946, bổ nhiệm Giám đốc Nha Dân tộc thiểu số.

157- Sắc lệnh số 209, ký ngày 16-11-1946, bổ nhiệm cán bộ cho Bộ Quốc phòng.

158- Sắc lệnh số 210, ký ngày 16-11-1946, sửa đổi điều 2 của Sắc lệnh 134 về quyền lợi của các uỷ viên Hội đồng nhân dân và uỷ viên Uỷ ban hành chính huyện, châu.

159- Sắc lệnh số 211, ký ngày 16-11-1946, cho phép ông Phó Đổng lý sự vụ Bộ Quốc dân kinh tế được từ chức.

160- Sắc lệnh số 212, ký ngày 19-11-1946, bổ nhiệm người giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế.

161- Sắc lệnh số 213, ký ngày 20-11-1946, thay người giữ chức Cục trưởng Cục Giao thông Công chính.

162- Sắc lệnh số 214, ký ngày 20-11-1946, bổ nhiệm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Quân huấn; Phó Cục trưởng Cục Chính trị; Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng; Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam.

163- Sắc lệnh số 215, ký ngày 20-11-1946, giải tán Nha Y tế trung ương, Nha Cứu tế trung ương, Nha Lao động trung ương.

164- Sắc lệnh số 216, ký ngày 21-11-1946, cử ông Phạm Ngọc Thạch giữ chức Thứ trưởng Chủ tịch phủ.

165- Sắc lệnh số 217, ký ngày 22-11-1946, ban hành quy chế hành nghề luật sư.

166- Sắc lệnh số 218, ký ngày 22-11-1946, cho phép ông Đổng lý Vǎn phòng Bộ Canh nông được từ chức.

167- Sắc lệnh số 219, ký ngày 22-11-1946, cho phép ông Phó Đổng lý sự vụ Bộ Canh nông được từ chức.

168- Sắc lệnh số 220, ký ngày 26-11-1946, ấn định tổ chức và quyền hạn của Bộ Kinh tế.

169- Sắc lệnh số 221, ký ngày 27-11-1946, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Cứu tế xã hội.

170- Sắc lệnh số 223, ký ngày 27-11-1946, ấn định hình phạt đối với tội đưa và nhận hối lộ, biển thủ công quỹ, tài sản công cộng.

171- Sắc lệnh số 224, ký ngày 27-11-1946, đổi tên Nha, Sở, Ty Thông tin Tuyên truyền thành Nha, Sở, Ty Thông tin.

172- Sắc lệnh số 225, ký ngày 28-11-1946, bổ nhiệm giám đốc Đại học vụ, Đổng lý sự vụ và Chánh Vǎn phòng Bộ Quốc gia giáo dục, Tổng Thanh tra trung ương.

173- Sắc lệnh số 226, ký ngày 28-11-1946, quy định về tổ chức của Bộ Lao động và nhiệm vụ của các phòng ban trực thuộc.

174- Sắc lệnh số 227, ký ngày 28-11-1946, quy định thể lệ việc công bố các thông cáo pháp định và tư pháp.

175- Sắc lệnh số 229, ký ngày 30-11-1946, quy định các cơ quan quân sự trên toàn cõi Việt Nam đều đặt dưới quyền Bộ Quốc phòng.

176- Sắc lệnh số 230, ký ngày 30-11-1946, bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp giữ chức Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc.

177- Sắc lệnh số 1/SL, ký ngày 20-12-1946, về việc thành lập Uỷ ban bảo vệ tại các khu quân sự, các đơn vị hành chính từ cấp tỉnh trở xuống.

178- Sắc lệnh số 2/SL, ký ngày 26-12-1946, về quyền thiết quân luật của các Uỷ ban kháng chiến khu.

179- Sắc lệnh số 3/SL, ký ngày 28-12-1946, về việc tạm hoãn các cuộc tuyển cử vào Hội đồng nhân dân, Uỷ ban hành chính và việc bổ sung người thay các uỷ viên hành chính không thể tiếp tục chức vụ cũ.

180- Sắc lệnh số 4/SL, ký ngày 28-12-1946, về quyền ân xá, ân giảm, phóng thích tội phạm của Uỷ ban bảo vệ cấp khu.

181- Sắc lệnh số 5/SL, ký ngày 31-12-1946, về việc thành lập Uỷ ban tản cư và di cư trung ương, Uỷ ban tản cư và di cư các cấp.

cpv.org.vn

Thư gửi Thống chế Tưởng Giới Thạch

Hà Nội, ngày 22 tháng 10 nǎm 1945

Thưa Ngài Thống chế Tưởng Giới Thạch,

Nhờ Ngài Bộ trưởng 1 Trần (Chen) chuyển giúp

Thưa Ngài,

Chúng tôi trân trọng thưa với Ngài rằng, chúng tôi – Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Ngài Cố vấn tối cao Nguyễn Vĩnh Thuỵ (cựu Hoàng đế Bảo Đại) – có nguyện vọng được đến Trùng Khánh để bày tỏ lòng kính trọng của chúng tôi với Ngài và ngài Bộ trưởng Trần.

Nếu được các Ngài chấp nhận, thì đấy là một sự ủng hộ tốt đẹp với chúng tôi.

Kính

Hồ Chí Minh
Nguyễn Vĩnh Thụy

United States – Vietnam Relations,
1945-1967, U.S Government printing
office, Washington, 1971, p.83.
cpv.org.vn