Tag Archive | Hồ Chí Minh

Điện vǎn gửi Thống chế Xtalin nhân dịp kỷ niệm lần thứ 29 Cách mạng Tháng Mười

Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười(45) , nhân danh dân chúng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và riêng cá nhân tôi, kính gửi dân chúng Liên bang Xôviết và kính gửi Ngài lời khánh chúc nhiệt thành của chúng tôi.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 400,
ngày 9-11-1946.
cpv.org.vn

Lời phát biểu tại phiên họp bế mạc Kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (46)

Hơn 10 ngày nay, các đại biểu đã khó nhọc làm việc. Quốc hội đã thu được một kết quả làm vẻ vang cho đất nước là đã thảo luận xong bản Hiến pháp. Sau khi nước nhà mới tự do được 14 tháng, đã làm thành được bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà (47) . Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi á Đông này nữa. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp.

Chính phủ cố gắng làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc.

Chúng ta không mong gì hơn nhưng chúng ta không chịu gì kém. Quốc hội đã thông qua bản Luật lao động. Kiến thiết phải sản xuất. Sản xuất phải cần có sức lao động.

Chính phủ cám ơn các đại biểu về những công tác đã qua. Và nhờ các đại biểu giúp những công tác sắp tới.

Chính phủ nhờ các đại biểu làm cho sự liên hiệp quốc dân mỗi ngày một thêm vững, một lan rộng hơn nữa. Các đại biểu thực hiện đời sống mới khắp các nơi. Và khuyên nhân dân tǎng gia sản xuất, đi học các lớp bình dân học vụ.

Toàn cả nhân dân và Chính phủ nhất trí, chúng ta thế nào cũng đạt được độc lập, thống nhất, nước mạnh, dân giàu.

Phát biểu ngày 9-11-1946.
Báo Cứu quốc, số 401,
ngày 10-11-1946.
cpv.org.vn

—————————

46. Kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà họp từ ngày 28-10 đến ngày 9-11-1946, tại Nhà hát thành phố Hà Nội. Tham dự kỳ họp có 300 đại biểu các tỉnh, thành.

Quốc hội đã nghe báo cáo công tác của Chính phủ, thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta và thành lập Chính phủ mới.

Đồng chí Tôn Đức Thắng, đại biểu Nam Bộ, được bầu làm Trưởng đoàn Chủ tịch kỳ họp. Theo đề nghị của đoàn đại biểu Nam Bộ, toàn thể Quốc hội đã nhất trí bày tỏ lòng tin tưởng tuyệt đối của nhân dân cả nước đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và suy tôn Người là Người công dân thứ nhất đã sáng suốt đưa nước nhà ra khỏi vòng nô lệ.

Quốc hội đã nghe đại diện Chính phủ báo cáo công tác của Chính phủ; nghe đồng chí Phạm Vǎn Đồng báo cáo hoạt động của Đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị Phôngtennơblô và việc ký kết Tạm ước 14-9. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời các câu hỏi của các đại biểu về chính sách ngoại giao của Chính phủ.
Quốc hội đã uỷ nhiệm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức một Chính phủ mới, một Chính phủ không có bọn phản động tham gia. Quốc hội đã thảo luận một cách dân chủ bản dự thảo Hiến pháp do Uỷ ban dự thảo Hiến pháp trình bày. Ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong phiên họp bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu ý kiến nêu rõ ý nghĩa trọng đại của bản Hiến pháp lịch sử này. Tr.440.

47. Song song với việc chuẩn bị tổ chức cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, theo Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời, ngày 20-9-1945, một Uỷ ban dự thảo Hiến pháp đã được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì.

Sau một thời gian làm việc khẩn trương, tháng 10-1946, bản Dự thảo Hiến pháp đã được hoàn thành. Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nghe Uỷ ban dự thảo Hiến pháp trình bày bản Dự thảo. Sau khi thảo luận một cách dân chủ, ngày 9-11-1946, bản Dự thảo Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua. Nội dung bản Hiến pháp gồm Lời nói đầu và 70 điều được phân thành 7 chương, quy định chính thể, nghĩa vụ và quyền lợi của công dân, cơ cấu của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp, Cơ quan tư pháp và quy định việc sửa đổi Hiến pháp. Việc công bố Hiến pháp có một ý nghĩa to lớn. Đó chẳng những là bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, mà còn là bản Hiến pháp dân chủ tiến bộ nhất ở Đông – Nam châu á lúc bấy giờ. Tr.440

Trả lời thư phản kháng của Thượng sứ Pháp

Uỷ ban hành chính lâm thời Nam Bộ thành lập từ tháng 8 nǎm 1945, dưới quyền chỉ huy của Chính phủ trung ương và vẫn tiếp tục làm việc tới ngày nay. Uỷ ban đó lại đã từng giao thiệp chính thức với các nhà cầm quyền quân sự Đồng minh và Pháp hồi tháng 10 nǎm ngoái.

Việc ở Nam Bộ vừa có một quân đội chiếm đóng, vừa có các cơ quan hành chính và quân sự Việt Nam đã được bản Hiệp định sơ bộ 6-3 và bản Tạm ước 14-9 công nhận. Theo các bản thoả hiệp đó thì tình hình Nam Bộ phải để nguyên cho đến ngày trưng cầu dân ý.

Chính phủ Việt Nam có thể nói chắc với Ngài rằng những sự hoạt động của Uỷ ban hành chính lâm thời Nam Bộ cũng như các cơ quan quân sự Việt Nam, chỉ là để đi đến sự thi hành triệt để các điều khoản về chính trị và quân sự của khoản 9 trong bản Tạm ước nói về Nam Bộ và chỉ có thể giúp cho chính sách hợp tác thân thiện mà cả hai Chính phủ ta đều mong muốn có thể thực hiện dễ dàng.

Hồ Chí Minh

Viết ngày 9-11-1946.
Báo Cứu quốc, số 401,
ngày 10-11-1946.
cpv.org.vn

Phương pháp chiến đấu và hành quân trên các địa hình

1- Vùng có nhiều núi non hiểm trở.

Khi phải đi qua những vùng núi, không nên vượt qua núi, phải theo đường thung lũng hay suối nước chảy mà tiến vì ở đấy mới dễ tìm lương thực cho binh sĩ và nước cỏ cho lừa ngựa. Đến nơi nào, thấy đường lối giao thông tiện lợi một chút, nên chiếm địa điểm nào cao nhất để lập trận địa. Nếu đã thấy quân địch chiếm trước địa điểm ấy rồi, không nên đánh vỗ mặt. Tốt hơn hết là phải áp dụng vận động chiến đánh lối quanh co, hay dụ địch rồi sẽ giao chiến. Nhưng ngày nay nhờ có tàu bay, đại bác, xe tǎng nên tiến đánh quân địch ở vùng núi non không khó khǎn như trước.

2- Vùng có nhiều sông ngòi.

Khi phải qua sông ngòi phải tiến quân thật nhanh, càng thoát xa được những sông ngòi cách trở ấy, càng có lợi. Gặp quân địch đương qua sông, không nên giao chiến trên mặt nước. Đợi chúng lên bờ được một nửa, sẽ tấn công làm cho chúng bị đứt làm hai đoạn, không thể liên lạc được với nhau. Nếu phải tác chiến với quân địch ở vùng có sông ngòi, không nên đóng quân trên dọc bờ sông ngòi, phải tìm nơi nào cao hơn chỗ quân địch đóng và ở vào thượng lưu sông và khi cần qua sông, phải nên theo xuôi dòng nước mà sang ngang.

Lúc qua sông, không nên chậm trễ, làm trở ngại cho bộ đội đằng sau và đồng thời không thể không sửa soạn đề phòng quân địch đến đánh úp được.

3- Vùng bùn lầy hay đầm ao.

Khi qua những vùng này, nên cấp tốc tiến quân không nên dừng lại, vì khí hậu ẩm thấp sẽ làm cho binh sĩ và lừa ngựa dễ sinh bệnh. Nếu bất đắc dĩ phải cùng với quân địch giao chiến, nên chiếm cứ những nơi nào có cây cối rậm rạp để làm thế dựa lưng.

4- Vùng đồng bằng.

Tiến quân trong vùng này nên chiếm cứ những nơi giao thông tiện lợi nhất. Lúc đóng quân phải chọn nơi nào bên phải có gò đống cao để tiện phòng ngự. Như vậy, chỉ phải đối phó với quân địch về mặt trái thôi. Lại còn phải chú ý đến cả chiều gió và ánh sáng mặt giời. Nếu quay về phía mặt giời sẽ bị loá mắt nên bắn khó trúng. Và thuận theo chiều gió thì không bị bụi mù làm trở ngại mọi hành động.

Tóm lại trong lúc tiến quân, cần phải tránh những địa điểm nguy hiểm sau đây:

a- Đường độc đạo lên dốc núi cao.

b- Thung lũng trũng, chung quanh có núi cao bao bọc.

c- Khu rừng núi quanh co tiến vào dễ nhưng ra khó.

d- Những nơi cây cối um tùm, gai góc rậm rạp tiến thoái không được tự do.

e- Những đồng lầy.

f- Những đường độc đạo.

Nếu gặp những địa điểm trên này, không nên đến gần, phải phái quân đi dò xét cẩn thận để xem có quân mai phục hay quân do thám của địch ẩn núp mà tránh xa ra. Bất đắc dĩ phải chiến đấu thì nên dụ địch đến gần đó rồi mình sẽ đưa chúng vào bẫy làm cho chúng không thể hành động gì được.

Q.T. thuật

Báo Cứu quốc, số 406,
ngày 15-11-1946.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào toàn quốc

Cùng đồng bào toàn quốc,

Hàng ngày tôi lưu tâm đến công cuộc “Mùa đông binh sĩ”. Thấy các tôn giáo, các báo chí, các đoàn thể, các thân hào và toàn thể đồng bào đều sốt sắng tham gia, tôi rất vui lòng và cảm động.

Tôi xin thay mặt Chính phủ và Quân đội cảm tạ tấm lòng nhiệt thành của quốc dân. Chiếc áo trấn thủ mà đồng bào sẽ gửi cho anh em binh sĩ, trong mùa rét này, chẳng những sẽ giúp anh em giữ được sức mạnh để bảo vệ đất nước, mà lại còn khiến anh em luôn luôn nhớ đến tình thân ái nồng nàn của đồng bào ở hậu phương.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 406,
ngày 15-11-1946.
cpv.org.vn

Trả lời các nhà báo trong nước và nước ngoài

– Về kết quả của cuộc Tổng tuyển cử bên Pháp, nhất là ảnh hưởng của nó đối với nước Việt Nam?

– Người ta đã bàn tán nhiều rồi về sự thắng lợi của phái tả hay phái hữu trong cuộc Tổng tuyển cử này. Nhưng dù là phái hữu thắng hay phái tả thắng, nhân dân Pháp bao giờ cũng vẫn như trước: nghĩa là ủng hộ nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Điều đó tôi đã nhận thấy hồi tôi qua Pháp. Còn dân Việt Nam, thì dù phái hữu thắng hay phái tả thắng trong cuộc tuyển cử ở Pháp, dân Việt Nam cũng phải đòi cho được độc lập và thống nhất, tuy vẫn ở trong khối Liên hiệp Pháp. Người ta nói sự liên hợp làm nên sức mạnh. Vào trong khối Liên hiệp Pháp, cái đó vừa lợi cho nước chúng tôi và lợi cho cả nước Pháp nữa.

– Về sự thi hành bản Tạm ước 14-9?

– Như các ngài đã biết, chúng tôi nhất định thi hành thành thật những điều chúng tôi đã ký. Bản Tạm ước ấy sẽ dọn đường cho hai nước đi tới một sự hợp tác trên lập trường tự do có lợi cho cả hai nước. Tôi nhắc lại rằng những quyền lợi kinh tế, vǎn hoá, v.v. của người Pháp, chúng tôi đã hứa tôn trọng và chúng tôi sẽ tôn trọng. Cốt nhiên, chúng tôi mong rằng các bạn người Pháp hiểu cho như vậy và sự tôn trọng ấy phải có lợi cho cả hai bên. Một chứng cớ tỏ ra nhân dân Việt Nam muốn thân thiện với nhân dân Pháp đó là Hội Việt – Pháp vừa được thành lập. Mấy hôm nay, giọng các báo Pháp và của Đài phát thanh Sài Gòn có hơi thay đổi: tôi nghĩ rằng trong “tình yêu” (!) cũng có khi có những nhịp điệu lên xuống như vậy.

– Những kết quả của sự thi hành Tạm ước từ 30 tháng 10 tới giờ?

– Một vài kết quả nào đó, nhưng không phải những kết quả mà chúng ta chờ đợi. Thí dụ, chúng tôi đã đề nghị cử một vị đại diện Việt Nam ở bên cạnh viên Thượng sứ Pháp quốc Cộng hoà, nhưng chưa được trả lời. Chúng tôi đã sẵn sàng làm việc, vậy mà trừ tiểu ban quân sự, các tiểu ban khác đã định trong Tạm ước vẫn chưa thấy tới. Ngoài ra, trong vài bức thư của ông Thượng sứ Pháp mới đây có những câu mà thường thường từ trước tới giờ ông chưa dùng bao giờ. Ông nói những là “đình chỉ sự thi hành bản Tạm ước”, những là “các nhà cầm quyền Pháp ở Nam Bộ sẽ bắt buộc phải trừng trị, nếu …”. Tất cả những câu ấy không được. Người ta có thể là bạn với nhau được, nhưng không phải những câu như thế có thể giúp cho sự hiểu nhau. Có những thí dụ khác nữa mà tôi rất tiếc phải kể ra đây. Sự khủng bố ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ vẫn chưa dứt. Ngày 3 tháng 11, ở Gia Định trong miền Tân Sơn Nhất, quân đội Pháp đến vây dân chúng Việt Nam và giết mất hai người. Ngày 4 ở Gò Công, dân chúng Việt Nam đương biểu tình đòi thi hành đúng bản Tạm ước thì quân Pháp đến bắn sả vào, một người chết và nhiều người bị thương. ở Bà Rịa cũng chuyện như vậy, hai người chết. ở Nha Trang cũng thế, nhưng nghiêm trọng hơn: dân chúng mất bảy người chết. Còn nhiều việc đáng tiếc khác nữa. Sự giải phóng các chính trị phạm vẫn ngừng trệ và chỉ như có một tính cách tượng trưng, còn một số rất đông vẫn bị bắt bớ, giam cầm, vẫn bị đày đi ra Côn Đảo và các nơi khác. ở Bắc Bộ, việc hàng hoá ra vào bị ngǎn trở. Điều ấy không những có hại cho dân Việt Nam mà cho cả các bạn người Pháp và người Trung Hoa nữa. Tôi tin rằng những sự hiểu lầm ấy sẽ hết. Nếu sự buôn bán, làm lụng được dễ dàng hơn, cái đó không phải chỉ chúng tôi được hưởng không thôi, mà cả các bạn Pháp và Trung Hoa nữa.

Còn về Liên bang Đông Dương, chúng tôi cũng muốn gia nhập vào đó như vào khối Liên hiệp Pháp. Nhưng chúng tôi vào đấy là để cùng giữ lợi ích chung, chứ không phải để chết ngạt trong đó. Nếu người ta muốn dùng chữ Liên bang Đông Dương để làm thành một cái gì giam trói, ràng buộc quyền tự do, quyền sinh hoạt của chúng tôi, nhất định không thể xong được. Bởi vì ai cũng muốn sống tự do. Và không ai nên tìm cách lừa bịp lẫn nhau.

– Về sự giao thiệp giữa Việt Nam và Trung Hoa?

– Tôi lấy làm lạ rằng sao người ta lại còn phải hỏi một câu tôi đã trả lời bao nhiêu lần rồi. Về lịch sử, địa dư, vǎn hoá, kinh tế, Việt Nam và Trung Hoa bao giờ cũng vẫn có quan hệ với nhau, như môi với rǎng. Nhưng nếu các nhà cầm quyền Trung Hoa đã bàn về vấn đề có can dự đến Việt Nam mà dân Việt Nam không được biết thì chúng tôi không chịu trách nhiệm. Tôi tin rằng theo chủ nghĩa của bác sĩ Tôn Dật Tiên và ý tưởng của Thống chế Tưởng Giới Thạch, không người Trung Hoa nào sẽ làm gì phạm tới chủ quyền và quyền lợi nước Việt Nam.

– Sự giao thiệp của Việt Nam với ấn Độ?

– Rất thân thiện. Mới đây, tôi nhận được lời mời tham dự vào Hội nghị Liên á họp ở ấn Độ sang nǎm. Khi tôi qua ấn Độ, các bạn ấn đã tiếp đón tôi một cách rất thân mật.

*

*      *

Để kết luận, tôi mong rằng những hiểu lầm giữa hai bên Việt – Pháp sẽ được tiêu tán đi, để cho hai bên sau đây sẽ cùng bước mau đến một sự hợp tác mà ai cũng muốn. Tôi yêu cầu các bạn Pháp tin ở chúng tôi; chúng tôi nhất quyết giữ lời hứa. Có người hỏi: Tại sao những giao tiếp cá nhân giữa người Pháp và người Việt Nam bây giờ rất hiếm? Chúng tôi không bao giờ làm gì ngǎn trở, gây khó khǎn cho những cuộc gặp gỡ ấy. Trái lại, chúng tôi còn muốn khuyến khích những sự tiếp xúc đó nữa. Vì những cuộc đó dễ làm tan những mối hiểu lầm và làm nảy nở tình thân thiện. Tôi mong rằng sau đây những cuộc giao thiệp gặp gỡ nhau ấy sẽ có luôn. Cái đó chỉ do các bạn người Pháp thật tâm muốn là được.

Trả lời ngày 16-11-1946.

Báo Cứu quốc, số 408,
ngày 17-11-1946.
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện Công an nhân dân Việt Nam

CAND chup anh cung BH Cán bộ lớp Trung cấp Công an rất phấn khởi, vinh dự được
 Bác Hồ đến thăm và chụp ảnh kỷ niệm (1950). (Ảnh sưu tầm)

Suốt quá trình đấu tranh cách mạng, từ khi còn trứng nước đến lúc trưởng thành, các thế hệ “Công an cách mệnh” luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh rèn luyện, lãnh đạo sát sao. Sự quan tâm của vị lãnh tụ kính yêu đối với lực lượng Công an thể hiện từ những văn bản pháp lý do Người ký đánh dấu từng mốc son trưởng thành của lực lượng Công an đến các bài nói, bài viết nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sỹ về nhiều mặt.

Hồ Chí Minh khẳng định bản chất nhân dân của Công an cách mạng Việt Nam. Người xem việc “làm cho anh chị em Công an nhận rõ Công an của ta là Công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ” là nhiệm vụ thường xuyên. Từ đó, Người nêu lên phương thức tốt nhất để lực lượng Công an hoàn thành nhiệm vụ là phải “dựa vào nhân dân mà làm việc” vì “nhân dân ta có hàng chục triệu người, có mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong” . Nhân dân giúp đỡ nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ít thì thành công ít, giúp đỡ hoàn toàn thì thành công hoàn toàn. Trong bài nói tại lớp Chỉnh huấn Khóa 2 ( tháng 5 năm 1959) Bác huấn thị: “Làm Công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì Công an mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ của mình. Nếu trong công tác các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, thì nhất định các cô, các chú thành công…” . Tuy nhiên, dựa vào dân theo Hồ Chí Minh không phải là ỷ lại, trông chờ ở nhân dân mà cần phải chủ động khai thác sức mạnh của nhân dân. Người yêu cầu “mỗi Công an viên đóng chỗ nào phải dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian,…”  và “dạy cho dân nơi đó giữ bí mật” . Cán bộ, chiến sỹ Công an phải nhận phần khó về mình, tạo thuận lợi cho nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân – đó là yếu tố quan trọng để Công an ngày càng được dân tin yêu, giúp đỡ. Đây là những quan điểm sâu sắc về xây dựng nền an ninh nhân dân Việt Nam.

Muốn khai thác được sức mạnh của nhân dân, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi Công an viên phải giữ tư cách, đạo đức. Người rút ra “những đạo đức và tư cách mà người Công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng” thông qua sáu mối quan hệ của lực lượng công an nhân dân. Hiếm thấy Người nói về đạo đức, tư cách của cán bộ, chiến sỹ một tổ chức hết sức rành rọt, rõ ràng, chi tiết như vậy. Không những thế, Hồ Chí Minh còn nêu lên phương thức tuyên truyền, phổ biến việc thực hiện những yêu cầu trên: “Những điều đó, chẳng những luôn luôn nêu trên báo mà lại nên viết thành ca dao cho mọi người Công an học thuộc, nên viết thành khẩu hiệu dán tại những nơi anh em công an thường đến (bàn giấy, nhà ăn, phòng ngủ,…”. Điều này cho thấy đạo đức của người Công an cách mệnh không phải là cái gì cao siêu, xa vời mà là những điều dễ nghe, dễ hiểu, dễ thuộc và dễ thực hiện. Hồ Chí Minh cũng là người duy nhất khai thác, sử dụng, phát huy sức mạnh của các giá trị văn hóa dân gian, cụ thể là “ca dao” trong giáo dục, rèn luyện tư cách cho một lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.

Công an phải phát huy lối làm việc dân chủ. Người dặn: “Lề lối làm việc phải dân chủ. Cấp trên phải thường kiểm tra cấp dưới. Cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và kháng chiến, giúp nhau tiến bộ. Tự phê bình và phê bình nhau theo tinh thần thân ái và lập trường cách mạng”. Người nhắc nhở “phê bình để tiến bộ, không phải để xoi mói”. Song, trong bài nói chuyện tại Trường Công an Trung ương, Người nhắc nhở “dân chủ và chuyên chính phải đi đôi với nhau. Muốn dân chủ thực sự phải chuyên chính thực sự”. “Đối với người không sửa được thì phải tẩy trừ ra khỏi ngành kẻo để lại thì con sâu làm rầu nồi canh”.

“Đối với nhân dân, đối với Đảng, với cách mạng xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm của Công an rất lớn, rất nặng nề. Cho nên phải xây dựng một bộ máy Công an rất tốt, rất chắc chắn”. Theo Người, “cách tổ chức Công an phải giản đơn, thiết thực, tránh cái tệ hình thức, giấy má”; chú trọng “củng cố thật tốt Công an khu phố, huyện và xã”. Hồ Chí Minh cho rằng “mỗi cán bộ Công an đều có trách nhiệm vào đấy. Ai cũng tiến bộ, cũng khắc phục được khuyết điểm, phát huy được ưu điểm, thì toàn bộ bộ máy Công an sẽ tốt”. Do vậy, Người yêu cầu “Công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình” để “kiện toàn tổ chức thành một lực lượng thật vững chắc của nền chuyên chính vô sản”.

Bác luôn nhắc nhở việc xây dựng khối đoàn kết, xem “đoàn kết là rất cần thiết” vì “có thế thì công tác mới làm được”. Đoàn kết theo Hồ Chí Minh gồm có ba cấp bậc: “đoàn kết nội bộ ngành Công an, đoàn kết với các ngành khác, đoàn kết với nhân dân”. Trong nội bộ ngành, “từ cấp cao cho đến nhân viên phải đoàn kết nhất trí” trên tình thân ái giúp đỡ. “Cấp trên phải chú ý đến đời sống vật chất và tinh thần của chiến sỹ… đoàn kết và học tập lẫn nhau, luôn luôn giúp đỡ nhau tiến bộ”. Tuyệt đối đấu tranh chống tình trạng “chén chú chén anh,… anh A giấu lỗi cho anh B”. Đối với các ngành khác, Hồ Chí Minh chú trọng nhắc nhở đoàn kết chặt chẽ giữa Công an với Quân đội. Trong quan hệ với nhân dân, “Công an với dân phải đoàn kết – nghĩa là phải khuyến khích cho dân phê bình Công an”, phải khéo – “nghĩa là phải thực sự trung thành, tôn kính, thương yêu dân”.

Về công tác giáo dục – đào tạo lực lượng Công an nhân dân, Hồ Chí Minh có nhiều bài nói, bài viết, thư gửi cán bộ, giáo viên, học viên Trường Công an Trung ương, Ban Huấn luyện Công an, Trường Công an Trung cấp Khóa 2. Người khẳng định “Đảng, Chính phủ rất chú ý… đến việc giáo dục cán bộ Công an”. Nói chuyện tại Trường Công an Trung ương (28/1/1958), Người cho rằng: “Ở trường này một người giúp đỡ hướng dẫn 4 học viên. Một người phục vụ bốn người như thế là thiếu hay là thừa? Bác thấy là nhiều đấy”. Qua tổng kết số liệu đảng viên Trường Công an Trung ương, Bác nhắc nhở “không có cơ quan nào lại nhiều cán bộ như thế này” nên “các cô, các chú phải xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng và Chính phủ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm về công tác báo chí của lực lượng Công an nhân dân thông qua nhận xét tờ Báo của Công an Khu XII do đồng chí Hoàng Mai gửi biếu. Theo đó, báo chí của lực lượng công an cách mạng “cần làm ngắn lại và viết những vấn đề thiết thực, mọi người đọc đều có thể hiểu và làm được”. Có như vậy, công tác báo chí “mới có tác dụng giúp đẩy mạnh công tác, đẩy mạnh thi đua”, hướng tới “thường xuyên làm cho anh chị em Công an nhận rõ” bản chất nhân dân và “nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức”.

Tóm lại, Người căn dặn: “Công an đánh địch bên ngoài đã khó, đánh địch bên trong người còn khó khăn hơn. Vì vậy phải nâng cao kỷ luật, tính tổ chức, chống ba phải, nể nang. Công tác phải đi sâu và thiết thực. Làm việc phải có điều tra, nghiên cứu, không được tự kiêu, tự đại. Phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân thì khuyết điểm mới có thể khắc phục được và ưu điểm mới có thể phát huy được. Phải đi đường lối quần chúng thì nhân dân mới tin yêu, giúp công an và công an mới thành công được. Phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết với nhân dân và với các ngành khác thì công việc mới thắng lợi”.

Trên cơ sở lời dạy của Bác, Đảng và Nhà nước ta mà trực tiếp là Bộ Công an đã xây dựng tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo các tiêu chí: lập trường chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới; kiến thức và năng lực tham gia các hoạt động tập thể và khả năng tổ chức thực hiện; hiệu quả thực hiện nhiệm vụ trên mỗi vị trí công tác; ý thức tổ chức kỷ luật, gắn bó với quần chúng và được quần chúng tín nhiệm. Đó là sự trung thành, vận dụng, bổ sung những luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lực lượng Công an cách mạng Việt Nam.

Hiện nay, những biến thể đa dạng, phức tạp của các loại hình tội phạm thời hội nhập đặt lên vai lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trọng trách rất lớn. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là đảm bảo cuộc sống bình yên của nhân dân. Để làm được điều đó, lực lượng Công an nhân dân phải không ngừng tự đổi mới, rèn luyện, trưởng thành về mọi mặt. Người cán bộ, chiến sỹ Công an phải luôn luôn biết mình từ đâu mà ra, do ai mà chiến đấu, chiến đấu như thế nào, rèn luyện bản thân và tổ chức ra sao. Tất cả đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra và dạy bảo trong suốt quá trình Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện tổ chức Công an cách mạng Việt Nam. Những quan điểm của Người về Công an nhân dân cho đến ngày nay vẫn mang giá trị thời sự sâu sắc, là nền tảng tư tưởng cho đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển lực lượng Công an Việt Nam tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh. Mọi thế hệ Công an nhân dân Việt Nam luôn hướng về Người để noi theo, nghe lời Người mà hành động, nguyện phấn đấu thực hiện thắng lợi lý tưởng của Người vì một đất nước “độc lập, tự do, hạnh phúc”.

Nguyễn Phương An 
(Trường Chính trị Tôn Đức Thắng – An Giang)
Theo hvcsnd.edu.vn
Kim Yến
(st)

 

 

 

Bệnh binh 23 năm chăm Cây đa Bác Hồ

Bước từng bước khó nhọc bằng đôi chân tật nguyền, trong suốt 23 năm qua, ngày nào cũng vậy, dù là nắng cháy, mưa phùn hay gió rét,… người bệnh binh già ấy vẫn cố gắng làm tròn bổn phận của mình – chăm sóc Cây đa cuối cùng Bác trồng.

Một nạn nhân của chiến tranh

Ông tên là Trần Hữu Hào, 64 tuổi, ngụ tại xóm 1, thôn Yên Bồ, xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội. Năm 1968, ông tham gia kháng chiến chống Mỹ và được điều vào chiến trường Thừa Thiên Huế đảm nhiệm công tác hậu cần.

Vào mùa mưa, lương thực khan hiếm, trong những chuyến đi xuyên qua các khu rừng trụi lá sang nước bạn Lào xin trợ cấp lương thực cứu đói cho bộ đội, ông đã bị nhiễm chất độc đi-ô-xin lúc nào không hay.

Những tưởng mình là một trong những người may mắn sống sót sau cuộc chiến, nhưng ông không thể ngờ rằng, đó là sự khởi đầu cho những chuỗi ngày mà cơ thể mình và người thân bị thứ chất độc quái ác mang tên da cam hành hạ.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, năm 1975, ông Hào được xuất ngũ. Về quê, ông kết hôn với bà Phan Thị Lý – người cùng quê. Bốn đứa con của ông là Trần Thị Anh, Trần Trung Kiên, Trần Văn Giá, Trần Quang Hiển lần lượt trào đời.

Nhưng buồn thay, khi vừa sinh ra, người chị cả Trần Thị Anh đã mang trên mình cánh tay trái bị liệt. Vợ chồng ông hết lòng chạy chữa cho con, nhưng không thể thay đổi được điều gì.

Năm Trần Thị Anh lên 8, cơ thể ông Hào xuất hiện những cơn đau nhức ở các khớp xương. Trong đó, nặng nhất là khớp đầu gối. Những cơn đau mỗi ngày một nhiều và nặng hơn, ông phải đến Bệnh viện Bạch Mai khám bệnh. Các bác sỹ cho biết, ông đã bị nhiễm chất độc đi-ô-xin và điều này sẽ ảnh hưởng đến cơ quan thần kinh toàn thân.

Sau đó, Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội đã chứng nhận ông là bệnh binh mất sức 81%. Giờ đây, ông Hào phải bước đi khó nhọc.

Sự tích cây đa Bác Hồ

Ông Hào cho biết: ngày 16/2/1969 (tức ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu), UBND xã Vật Lại tiến hành trồng cây bạch đàn phủ xanh đồi Đồng Váng. Sáng hôm ấy, sau khi thăm bộ đội Quân chủng Phòng không – Không quân ở Bạch Mai, Bác phải lên Vĩnh Phú công tác. Biết được nhân dân xã Vật Lại đang triển khai tết trồng cây, Bác đã đến thăm, chúc tết đồng bào và không quên trồng một cây đa lưu niệm.

Sau này, nhân dân xã Vật Lại vẫn thường gọi cây đa ấy với cái tên vô cùng ý nghĩa: Cây đa Bác Hồ.

thuong binh - cay da BH 1Ông Trần Hữu Hào

Trồng cây xong, Bác căn dặn mọi người phải cố gắng trồng cây nhiều hơn nữa, tốt hơn nữa, vì trồng cây có nhiều điều lợi, lợi trước mắt và lợi lâu dài. Trồng cây rồi phải chăm sóc, bảo vệ cho tốt. Trồng cây nào phải sống cây đó.

Tại đây, nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước cũng đến thăm và trồng cây lưu niệm cạnh Cây đa Bác trồng như đồng chí Trường Trinh (năm 1980); đồng chí Phạm Văn Đồng, Nguyễn Hữu Thọ (năm 1983) và đồng chí Nguyễn Văn Linh (năm 1990)…

Năm 2004, đồi Đồng Váng vinh đự được Bộ Văn hóa và Thông tin cấp giấy chứng nhận làDi tích lịch sử quốc gia.

“Tôi làm vì tôi thấy hạnh phúc”

Ông Hào kể lại: năm 1988, ông được Ủy ban nhân dân xã Vật Lại giao việc trông giữ toàn bộ khu đồi này với diện tích khoảng 10 ha trong thời hạn 50 năm. Mặt khác, ông Hào được phép cắt tỉa những cành cây phát triển thừa và cây bụi làm củi. Ngày ấy, cây đa Bác trồng vẫn còn nhỏ, cao khoảng 3,5 – 4 mét, đường kính gốc là 25cm.

Dẫn tôi tham quan khu đồi, ông Hào chỉ tay vào hàng trăm gốc cây thông, tràm cao khoảng trên dưới chục mét (thấp hơn những cây xung quanh) và khoe: “Nó là của tôi đấy. Hai mươi năm trước, tôi đã mạnh dạn lên Hạt Kiểm lâm huyện xin những giống cây này về trồng. Bao nhiêu công sức của gia đình  đổ vào đây trong mấy chục năm mới được như thế này đấy chú ạ”.

Mỗi khi trái gió trở trời, những khớp xương của ông lại phải chịu đựng những cơn đau dữ dội. Đau như có ai đó đang cầm búa đập vậy. Thế nhưng, bằng tình yêu thiên nhiên, yêu rừng và yêu Cây đa Bác trồng, nằm trên giường nhưng ông cứ ngay ngáy một nỗi lo, không biết Cây đa của Bác sao rồi? Liệu có ai đó vào chặt trộm cây cối không? Vì thế, ông lại dồn hết sức bình sinh của mình để ngồi dậy và đi bộ ra đồi trông nom.

Ông Hào là người chứng kiến sự lớn lên từng ngày của Cây đa. Ông cũng chính là người chăm sóc cho Cây đa bằng tấm lòng chân thành nhất. Từ việc tưới nước, bón phân đến việc cắt tỉa cành lá, uốn nắn từng chiếc rễ đâm từ thân xuống đất…

Bây giờ, thân Cây đa đã to bằng sải tay của hơn 2 người trưởng thành cộng lại, tỏa bóng mát lan tỏa một vùng rộng xung quanh.

thuong binh - cay da BH 2Khó nhọc bằng đôi chân tật nguyền, trong suốt 23 năm qua, ngày nào cũng vậy, dù là nắng cháy, mưa phùn hay gió rét,… người bệnh binh già ấy vẫn cố gắng làm tròn bổn phận của mình – chăm sóc Cây đa cuối cùng Bác trồng.

Ông tâm sự: “Nếu vì mục đích vụ lợi từ công việc này thì tôi sẽ không bao giờ làm. Tôi làm vì tôi cảm thấy hạnh phúc. Ít ra, một nạn nhân nhiễm chất độc da cam như tôi vẫn có thể làm những việc có ích cho môi trường sống của con người”.

Trước đây, vì không có tường ngăn bảo vệ nên có nhiều trẻ em, thanh niên vào rừng chặt củi, hái quả dại ăn rồi nghịch ngợm leo trèo, phá phách cây cối. Thậm chí, bọn nghiện hút cũng lân la đến để tiêm chích rồi dùng mũi kim tiêm khắc hình bậy bạ lên thân. May mà ông Hào cùng các con phát hiện và kịp thời ngăn cản những hành vi xấu đó.

Năm 2009, nhà nước đầu tư 2,9 tỉ đồng xây dựng hệ thống tường rào xung quanh khu đồi với chiều dài 1650 mét và làm đường nhựa từ cổng đồi vào Cây đa Bác Hồ. Từ đó, công việc bảo vệ khu đồi được thuận tiện hơn, nhưng không lúc nào ông Hào và các con lơ là nhiệm vụ trông giữ đồi.

Nhìn toàn bộ khu rừng 10 ha rợp bóng cây xanh không một gốc cây bị chặt phá, Cây đa Bác trồng ngày càng vươn những cành lá sum suê lên bầu trời cao rộng… tôi mới hiểu ra rằng, khi con người ta cái tâm chân thành, hết lòng vì công việc thì tật nguyền cũng biến thành sức mạnh.

Theo Phùng Minh Phúc/ tin247.com
Kim Yến
(st)

Gửi nhi đồng Xã Ba, Lao Cai

Các cháu yêu quý,

Bác đã nhận được thư và hai cái gậy roi. Cảm ơn các cháu.

Tuy Bác ở xa, nhưng lòng Bác nhớ đến các cháu luôn luôn.

Bác khuyên các cháu giữ gìn kỷ luật, và ra sức học hành.

Cháu nào chưa biết chữ quốc ngữ, phải học cho biết.

Cháu nào biết rồi, thì gắng giúp anh em chị em học cho biết.

Làm sao cho đồng bào ở Xã Ba ai cũng biết chữ quốc ngữ, thì Bác sẽ vui lòng và khen các cháu ngoan.

Bác thay mặt cho anh chị em nhi đồng Hà Nội, gửi lời thân ái thǎm các cháu.

Hà Nội, ngày 19 tháng 11 nǎm 1946
Bác Hồ

Báo Cứu quốc, số 411,
ngày 20-11-1946.
cpv.org.vn

Tìm người tài đức

Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức.

E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận.

Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiền nǎng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết.

Báo cáo phải nói rõ: tên tuổi, nghề nghiệp, tài nǎng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó.

Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ.

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 411,
ngày 20-11-1946.
cpv.org.vn

Thư gửi tướng Moóclie

Hà Nội, ngày 21 tháng 11 nǎm 1946

Thưa Ngài,

Tôi đã tiếp nhận thư của Ngài đề ngày 20-11-1946, về những việc vừa xảy ra ở Hải Phòng.

Ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ tôi, trong một bức thư đề ngày hôm nay sẽ đặt lại các việc xảy ra trong thực trạng của nó.

Tôi chỉ xin Ngài chú ý rằng cǎn cứ vào những việc đã xảy ra thì trách nhiệm quy vào bộ đội Pháp ở Hải Phòng, đã bắn trước vào bộ đội Việt Nam và đã tiếp tục gây hấn, mặc dầu đã có lệnh thôi bắn của các nhà chức trách quân sự trung ương Pháp và Việt Nam ở Hà Nội.

Dù sao tôi cũng mong rằng bản ký kết giữa Đại tá Lami và ông Thứ trưởng Bộ Nội vụ của chúng tôi sẽ được thi hành, và tôi cũng lại mong phái đoàn Việt – Pháp đi từ Hà Nội sáng nay sẽ đạt được kết quả là ổn định tình thế ở Hải Phòng.

Kính chào Ngài
Chủ tịch Chính phủ
Dân chủ Cộng hoà Việt Nam
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 413,
ngày 22-11-1946.
cpv.org.vn

Bắc cực: một địa điểm quan trọng cho chiến lược quân sự sau này

Khoa học càng phát triển, xe cộ, tàu bò càng tinh xảo, đường giao thông càng tiện lợi. Hàng ngàn trùng dương rút gần như gang tấc. Núi cao rừng rậm không còn là hiểm trở. Không trung rộng lớn bao la cũng coi là bé nhỏ. Hàn đới, bǎng tuyết quanh nǎm cũng chẳng phải là nơi người không thể để chân đến được. Rồi đây, bốn bể một nhà, những vùng giá lạnh trên Bắc Cực sẽ thành những thị trấn phồn hoa đô hội chẳng kém gì ở vùng ôn đới.

Trước chiến tranh, Mỹ, Liên Xô và Gia Nã Đại (1) đã là những nước láng giềng gần. Sau chiến tranh, Liên Xô lại đã vươn tay sang đến Thái Bình Dương. Do đó sự quan hệ giữa ba nước sẽ thay đổi và sẽ trở thành nghiêm trọng.

Gần đây, nước Mỹ chẳng những đã làm bá chủ trên mặt Thái Bình Dương, lại còn muốn xây dựng thế lực quân sự cả ở Bắc Bǎng Dương. Một chứng cớ hiển nhiên là nước Mỹ đã cho thí nghiệm những cuộc chiến tranh hải quân và không quân ở những vùng đó trong mấy tháng vừa qua.

Xưa nay Liên Xô vẫn là có thế lực về mặt Bắc Bǎng Dương. Nếu sau này, tàu bay và tàu biển sẽ qua lại được trên Bắc Bǎng Dương, thế lực của Mỹ sẽ tràn lan tới đó sẽ là một mối lo cho Liên Xô.

Sau cuộc Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô đã gấp rút tiến hành những cuộc thám hiểm trên miền Bắc Cực. Những sự hoạt động đó chỉ có mục đích chinh phục những vùng bǎng giá và khai phá ở đó các nguồn lợi thiên nhiên. Còn công cuộc của hai nước Mỹ và Gia Nã Đại đương tiến hành ngày nay toàn là những công cuộc thí nghiệm về quân sự. Người ta thấy bộ đội và từng đoàn xe tǎng, xe phun lửa, và xe hơi trượt tuyết kéo lên tập trận giả ở Bắc Gia Nã Đại. Nghe đâu lần tập trận giả này là để xem binh sĩ có thể đánh trận ở miền cực rét được không và các chiến cụ đem dùng ở đó có gặp trở lực gì khó khǎn không, để dự định đi tới một cuộc tập trận giả lớn khác có đủ cả hải, lục, không quân tham dự.

Theo giới không quân Mỹ, rồi đây sẽ có những trường tàu bay thiết lập tại Bắc Cực, vì Mỹ cho rằng nếu sau này xảy ra chiến tranh, Bắc Cực sẽ trở thành một vị trí quân sự quan trọng nhất. Đặt những cǎn cứ quân sự ở Bắc Cực, hình như Mỹ có ý đồ đối phó với Liên Xô sau này.

Đứng về địa lý mà xét, Bắc Cực là nơi châu Mỹ và châu á liên tiếp với nhau gần nhất, nên giữa ba châu Âu, á, Mỹ, đường hàng không ngắn nhất cũng là đường qua Bắc Cực. Trong trận chiến tranh vừa qua, tàu bay Mỹ bay sang Liên Xô đều qua lại vùng đó. ở miền tây bắc Gia Nã Đại nhất là miền Alaxka, hiện nay đã thấy mở ra rất nhiều đường ô tô chuyên dùng về việc quân.

Nếu sau này những đường giao thông ấy chỉ dùng về việc mở mang miền Bắc Cực thì biết đâu một vùng hoang vu lạnh lẽo xưa nay chẳng biến thành nơi phồn hoa, đô hội của thế giới. Rồi có thể đặt đường sắt qua eo bể Bêrinh để nối liền châu á với châu Mỹ lại với nhau, tưởng cũng không phải là một việc khó gì.

Nhưng hai nước Mỹ và Gia Nã Đại có phải nhằm mục đích đó để tiến đâu. Trừ những cǎn cứ quân sự ra, người ta không thấy một hành động nào để đem ánh sáng vǎn minh lên miền Bắc Cực cả. Bắc Cực sẽ là nơi hoạt động của nhân loại hay là nơi phá hoại vǎn minh của nhân loại, chúng ta chưa thể đoán định được. Có một điều làm cho chúng ta bǎn khoǎn là nước Mỹ một mặt vẫn hô hào hoà bình, một mặt lại vẫn chuẩn bị lực lượng quân sự về không quân cũng như về hải quân. Độc quyền bí mật nguyên tử, hợp hải, lục, không quân làm thành Bộ Quốc phòng, thí nghiệm quân sự và đặt cǎn cứ quân sự trên miền Bắc Cực có phải để kiến thiết hoà bình thế giới hay để đi đến chiến tranh?

Dù sao mặc lòng, sau bao nǎm đau khổ vì chiến tranh, nếu lại chuẩn bị chiến tranh nhất định dân chúng thế giới sẽ phản đối.

Q.T. thuật

Báo Cứu quốc, số 413.
ngày 22-11-1946.
cpv.org.vn

———————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.