Tag Archive | Hồ sơ – Tư liệu

Hồ Chí Minh và Hiến pháp 1946

QĐND – Thế là đã 65 năm Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta, ngày 9-11-1946. Thời gian là vị quan tòa nghiêm khắc và công minh nhất thẩm định sự đúng sai của những tư tưởng, những quyết sách và nhất là hướng đi. Nhìn lại một chặng đường lịch sử gần hai phần ba thế kỷ, càng hiểu ra sự minh triết của Hồ Chí Minh, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cha đẻ của Hiến pháp 1946 đặt nền móng cho Nhà nước pháp quyền đích thực của quốc gia ấy.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”! Trong bộn bề những việc cấp bách hằng ngày với thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh vẫn trực tiếp chỉ đạo việc soạn thảo Hiến pháp và cho ra đời bản Hiến pháp 1946 mà cho đến nay, giới nghiên cứu về luật pháp đánh giá là bản Hiến pháp mẫu mực nhất: Một hiến pháp dân chủ.

Là người bôn ba khắp năm châu bốn biển, thông hiểu nền văn hóa Tây phương từ một sự hiểu biết sâu sắc triết lý phương Đông và truyền thống văn hóa nước mình, Hồ Chí Minh có điều kiện trải nghiệm để nhìn ra những điều mà người khác có thể không nhìn thấy. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ dân tộc mình, nhân dân mình cần cái gì nhất. Điều đó quy định nội dung của Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 và Hiến pháp 1946 – lời tuyên bố đĩnh đạc của nhân dân Việt Nam trước thế giới, khẳng định ý chí và khát vọng của dân tộc mình.

Dân chủ nằm ngay trong tên nước và mục tiêu hướng tới, tức cũng là hướng đi, được ghi rõ ngay dưới tên nước: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Nước có độc lập thì dân mới có tự do để làm ăn sinh sống, tự do suy nghĩ và hành động để mưu cầu hạnh phúc. Dân chủ là điều kiện tiên quyết để có tự do và có tự do mới thực sự có hạnh phúc!

Bác Hồ bỏ lá phiếu bầu cử tại Hà Nội năm 1960. Ảnh tư liệu.

Thế nhưng, “dân chủ không thể được áp đặt bởi sự màu nhiệm những cơ chế của chính nó, dân chủ cần những người mang nó, sống động trong con người họ, và làm cho nó tồn tại sống động đối với tất cả mọi người”(1), ý tưởng ấy có sức gợi mở cho những tìm tòi về phương thức thực hành dân chủ mà Hồ Chí Minh tìm cách thực hiện. Hiến pháp 1946 là một minh chứng cho điều đó.

Thực ra Hồ Chí Minh hiểu rằng: “trong nhiều xã hội ngoài châu Âu, thông điệp đấu tranh giai cấp nghe xuôi tai hơn thông điệp dân chủ; sự phê phán nhân quyền dễ trót lọt hơn ý tưởng về dân quyền. Và như vậy là vì những lý do lịch sử: Ý tưởng về nhân quyền do bọn thực dân mang tới cho họ, áp đặt bằng nòng súng. Nhân quyền thuộc về kẻ chiến thắng, đương nhiên, trước mắt kẻ thua trận, đó là thứ ngụy trang cho sự thống trị thực dân”(2). Tuy nhiên, trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã dẫn ra tư tưởng về nhân quyền, bởi vì “ý tưởng xây dựng xã hội trên nền tảng quyền con người… là một ý tưởng phổ quát, đáp ứng một hy vọng toàn cầu”(3).

Cần nhớ rằng, trong “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi đến Hội nghị Véc-xây năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã đòi “thay đổi chế độ sắc luật bằng chế độ luật…”. Trong “Việt Nam yêu cầu ca” cũng đã có câu: “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”(4) [phải chăng đây là từ nguyên ngữ “l’esprit des lois” của Montesquieu?].

Trước đó, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra: “nếu có một đảng độc lập tồn tại thì đảng này không phải đi ăn xin một vài quyền tự do mà thiếu nó thì con người là một tên nô lệ khốn khổ”… “Rất ôn hòa cả về nội dung lẫn hình thức, các nguyện vọng của chúng tôi nhằm vào những cải cách chủ yếu cho việc giải phóng chúng tôi, và nhằm vào những quyền tự do mà nếu không có chúng thì con người ngày nay chỉ là một kẻ nô lệ khốn nạn”(5).

Dẫn ra những điều trên để hiểu rằng, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã mở đầu Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước dân chủ cộng hòa của mình bằng những câu tiêu biểu nhất về quyền con người, về khát vọng cháy bỏng của con người trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp: “Hỡi đồng bào cả nước! Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Từ “quyền con người”, quyền đương nhiên không phải do ai ban phát cả, Hồ Chí Minh dẫn đến quyền của dân tộc với nội dung như đã dẫn ra ở trên.

Những ý tưởng tiêu biểu ấy được thể hiện một cách thật giản dị, dễ hiểu trong Hiến pháp 1946 với 70 điều. Nội dung tập trung về xác lập quyền của công dân và quyền của nhà nước, quyền giữa các cơ quan nhà nước với nhau, ở đó nổi bật lên hai vấn đề cơ bản nhất: Ngăn cấm sự lạm quyền của quyền lực nhà nước và đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân.

Để làm được điều đó, nội dung của Hiến pháp 1946 làm nổi bật lên nguyên tắc cơ bản: Đặt pháp quyền ở trên nhà nước và quyền phúc quyết Hiến pháp thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền ấy phải được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” để kiểm tra nhau. Cơ quan Nhà nước và công chức chỉ làm được những điều luật pháp cho phép còn dân thì được phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm. Những yếu tố pháp quyền nổi lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực là điều mà những Hiến pháp sau này không làm rõ được, thậm chí bỏ quên! Công việc của nhà nước và các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân, dân có quyền tham gia vào việc hoạch định pháp luật, giám sát và kiểm soát…

Trong nội dung của Hiến pháp 1946, nét nổi bật là việc kiểm soát quyền lực nhà nước chứa đựng tinh thần khoan dung của truyền thống Việt Nam. Ngay tại Điều 1 đã nổi rõ lên tinh thần ấy. “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Những điểm khác như Hội đồng nhân dân cũng được xác định như một cơ quan “tự quản” của nhân dân địa phương, quyết định các vấn đề của địa phương, do nhân dân địa phương bầu chọn và chịu trách nhiệm trước họ. Ở đây đã thấp thoáng bóng dáng những đường nét tư duy về cái mà ngày nay ta gọi là “xã hội dân sự”. Định chế luật sư cũng đã được đề ra. Thậm chí, trong bối cảnh của một nhà nước mới thành lập, đang phải đối phó với thù trong giặc ngoài mà đã chững chạc khẳng định: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam” trong Điều 16 của Hiến pháp 1946! Càng nghĩ càng thấm thía về tầm nhìn Hồ Chí Minh.

Và rồi, ở một đất nước mà nhà nước mang nặng “truyền thống” quan liêu, Hồ Chí Minh đã đòi hỏi xây dựng một “nhà nước đày tớ của dân”, điều mà nhiều nhà tư tưởng lớn của loài người đã từng ấp ủ, nhưng vấn đề là Hồ Chí Minh đã sớm đưa ngay ý tưởng đó vào việc tổ chức nhà nước và cố gắng thực hiện. Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc cảnh báo ngay từ ngày chính quyền còn trong trứng nước: “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân… Dân chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

Có thể nói, cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước được thể hiện trong Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng cho một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, trong đó các quyền tự do, bình đẳng về chính trị và xã hội của người công dân được công nhận và được bảo đảm bằng luật pháp. Hiến pháp năm 1946 thể hiện rất tập trung tư duy của Hồ Chí Minh về Nhà nước. Vì vậy, việc sửa đổi Hiến pháp sắp tới chỉ có ý nghĩa khi trung thực và nghiêm cẩn quán triệt điều ấy. Cũng có nghĩa là phải dám chỉ ra những bất cập của các bản Hiến pháp ra đời sau Hiến pháp 1946 và nguyên nhân cơ bản về những bất cập đó. Có như vậy thì việc sửa đổi Hiến pháp 1992 mới có ý nghĩa thiết thực, khỏi lãng phí sức người, sức của khi mà cuộc sống của dân đang còn quá nhiều khó khăn. Mọi sự khoa trương hình thức đều đi ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh và sẽ đánh mất niềm tin của dân.

(1) Đại bách khoa toàn thư Pháp

(2, 3) Francois Furet. “Số phận một ý tưởng”. Người đưa tin UNESCO. Hà Nội, 1989, số 6, tr.5

(4, 5) Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 1. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr.5 và tr.10

GS Tương Lai
qdnd.vn

Giá – lương – tiền câu chuyện không chỉ của một thời…

Tiến sĩ Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

QĐND – Cách đây hơn 1/4 thế kỷ, việc thực hiện cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền đã đẩy nền kinh tế Việt Nam đứng trước vòng xoáy của sự hỗn loạn. Tuy nhiên, “dĩ cùng tắc biến”, sự thất bại đó đã đưa Đảng ta đến một sự lựa chọn: “Đổi mới hay là chết” với những quyết định lịch sử tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI năm 1986. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trò chuyện với Tiến sĩ (TS) Trần Xuân Giá, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, người đã trực tiếp chứng kiến và tham gia các cuộc điều chỉnh này với vai trò là Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước thời kỳ đó…

Phóng viên (PV): Nhiều người vẫn nghĩ rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có quyết định chuyển sang nền kinh tế thị trường bắt đầu từ Đại hội VI. Thế nhưng, qua ý đồ của các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền, rõ ràng, tư duy quản lý kinh tế của Đảng đã có sự thay đổi từ trước năm 1986?

TS Trần Xuân Giá: Tôi có thể khẳng định thế này: Tư duy của Đảng ta về việc chuyển sang nền kinh tế thị trường có từ sớm, trước năm 1986 và nhất quán. Thực tiễn sôi động đã cho thấy mô hình cũ không còn phù hợp và đang cản trở quá trình đi lên của đất nước. Những năm 1979, 1980, đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn đã có nhiều cuộc làm việc, trao đổi, tranh luận thẳng thắn về vấn đề này với các nhà khoa học, nghiên cứu, tổ tư vấn… Ngay từ khi đó, ông đã nhìn thấy những bất ổn của mô hình và lường trước những khó khăn sẽ tới. Được dự một số buổi làm việc của Tổng bí thư, tôi thấy ông thường xoay quanh hai câu hỏi: “Làm gì để đối phó với cuộc khủng hoảng tới?” và “Bắt đầu từ đâu?”. Có thể nói, đó là một tầm nhìn rất mới và sớm khi đó. Năm 1980, ông ký ban hành Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, tháng 6-1985, Hội nghị Trung ương 8 (khóa V) tiếp tục ra nghị quyết về điều chỉnh giá – lương – tiền, với mục tiêu từng bước xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trong giá và lương, xây dựng và hoàn chỉnh cơ chế quản lý mới…

TS Trần Xuân Giá. Ảnh: Thanh Tuấn.

2 thị trường và kế hoạch 3 phần

PV: Thưa TS Trần Xuân Giá, hai cuộc điều chỉnh ở vào thời kỳ “tiền đổi mới” ấy có gì khác nhau không?

TS Trần Xuân Giá: Thực hiện các nghị quyết nói trên của Đảng, chúng ta đã tiến hành 2 cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền. Lần 1 vào năm 1980 – 1981 và lần 2 vào năm 1985. Hai cuộc điều chỉnh này gần như giống nhau về mục tiêu, nguyên tắc và cách làm. Chỉ khác là năm 1985 có phạm vi rộng hơn, quy mô lớn hơn, có đổi tiền, còn trước đó thì không.

PV: Có thể hình dung như thế nào về bối cảnh dẫn đến các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền khi đó, thưa ông?

TS Trần Xuân Giá: Trước năm 1980, thị trường miền Bắc chỉ có chủ thể duy nhất đó là nhà nước. Nhà nước mua, nhà nước bán; lãi nhà nước thu, lỗ nhà nước bù. Do đó, giá cả không có ý nghĩa gì. Còn tiền lương thì một phần được trả bằng hiện vật, thông qua các mặt hàng thiết yếu (ban đầu có 45, sau còn 9, rồi 3 mặt hàng). Ở miền Nam, bên cạnh giá nhà nước thì thị trường tự do vẫn tiếp tục hoạt động mặc dù đã bị co hẹp nhiều khi chúng ta tiến hành cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa sau ngày thống nhất đất nước.

Bước sang năm 1980 ở ngoài nước có một sự kiện tác động rất mạnh đến nền kinh tế nước ta. Đó là khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa) thay đổi nguyên tắc tính giá các mặt hàng mà chúng ta nhập khẩu. Nghĩa là từ việc chúng ta nhập khẩu với giá rất thấp nay phải chuyển sang giá mua bán thông thường trên thị trường với giá nhập khẩu cao hơn trước rất nhiều. Việc thay đổi này làm chúng ta mất khoảng 1 tỷ rúp chuyển nhượng mỗi năm (tương đương khoảng 1,6 đến 1,7 tỷ USD). Từ chỗ làm không đủ ăn, ngân sách thu không đủ chi, một phần phải vay cho tiêu dùng trong điều kiện giá nhập khẩu tăng lên tiếp tục là một sức ép cho một nền kinh tế vốn đang rất ốm yếu…

Lúc này trong nước đã xuất hiện hai loại thị trường với tên gọi: Thị trường có tổ chức và thị trường không có tổ chức. Trong hệ thống quản lý nhà nước cũng xuất hiện một yếu tố rất mới, đó là có thêm kế hoạch 2 (kế hoạch liên doanh liên kết) và kế hoạch 3 (kế hoạch làm ăn kiểu thị trường). Trước chỉ có kế hoạch 1 phần, nhà nước giao toàn bộ chỉ tiêu đầu vào cho sản xuất, đồng thời quyết định đầu ra của sản phẩm (bán cho ai, bán khi nào và bán theo giá nào). Trên thị trường hình thành 3 loại giá: Giá cứng của nhà nước, giá do nhà nước định một phần và giá do doanh nghiệp tự định theo nguyên tắc thỏa thuận (giá thỏa thuận). Ban đầu, 3 loại giá này chênh nhau không nhiều nhưng càng ngày chênh càng lớn, dẫn đến nhiều biểu hiện tiêu cực, khó kiểm soát như tuồn vật tư ra ngoài, vào trong rất phức tạp…

PV: Phương án của cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền đã được đưa ra như thế nào?

TS Trần Xuân Giá: Việc điều chỉnh được thực hiện theo nguyên tắc: Trừ một số mặt hàng rất quan trọng, còn lại tính đủ chi phí hợp lý vào sản xuất; thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống giá cả; đảm bảo tiền lương thực tế và xác lập quyền tự chủ về tài chính của các ngành và các cơ sở y tế. Phương án điều chỉnh được đưa ra là:

Về giá, để tiện cho tính toán, lấy giá thóc làm chuẩn, các mức giá của hàng hóa khác được quy ra theo giá thóc. Năm 1985, giá thóc được các chuyên gia tính toán trên thực tế bình quân là 25 đồng/kg (trước đổi tiền 14-9-1985). Các địa phương khác nhau thì mức giá thóc quy đổi này có thể cao hơn hoặc thấp hơn. Nhà nước ban hành mức giá mới của một số vật tư như xăng, dầu, xi măng, sắt…

Về lương, thực hiện nâng giá đến đâu thì tăng lương theo đó (bù giá vào lương theo cách nói lúc bấy giờ).

Về tiền, để đáp ứng giá mới, lương mới thì phải in thêm tiền, bảo đảm tổng tiền lưu thông trong cuộc điều chỉnh năm 1985 là 120 tỷ đồng. Nhưng vì không tự in được tiền và để in ít tiền mà vẫn có sức mua lớn, Chính phủ chủ trương đổi tiền. Một đồng mới sẽ đổi lấy 10 đồng hiện hành. Như thế, 12 tỷ đồng in mới và đem đổi sẽ tương đương 120 tỷ đồng hiện hành.

Như vậy, với việc điều chỉnh này trên thị trường đã hình thành mặt bằng giá mới, lương mới và tiền mới.

“Vỡ trận”, do đâu?

PV: Mong muốn của các nhà cải cách khi đó là khi nâng giá lên theo giá thị trường thì có thể cố định và quản lý theo cơ chế một giá đó nhưng cuối cùng đã thất bại. Giá cả tăng vọt, lạm phát phi mã. Tiền lương không còn ý nghĩa…

TS Trần Xuân Giá sinh năm 1939 tại Thừa Thiên – Huế. Năm 1980 khi đang là Chủ nhiệm Khoa Vật giá, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, ông được điều về làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước. Ông đã qua các cương vị: Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, Ủy viên Trung ương Đảng (khóa VIII), Đại biểu Quốc hội (khóa X), Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1996 – 2002), nguyên Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, TS Trần Xuân Giá là Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Á Châu (ACB).

TS Trần Xuân Giá: Ban đầu kế hoạch tăng lương là 20% nhưng các bộ và tỉnh cho rằng mức đó là quá ít. Chính phủ chấp nhận tăng lương 100%. Trong khi đó, mức giá mới được Chính phủ quyết định đã rút xuống còn khoảng 70% so với kế hoạch ban đầu. Kết quả là chi ngân sách cho tiền lương tăng vọt nhưng thu ngân sách lại không tăng bao nhiêu do giá vật tư không tăng bằng mức như dự kiến. Để cứu ngân sách, tiền được phát hành hơn rất nhiều so với kế hoạch làm cho vật giá tăng mạnh (riêng với nông sản, năm 1986 tăng 2000% so với năm 1976) và lạm phát bùng nổ (đỉnh điểm năm 1986 lên đến 774%), làm kiệt quệ kinh tế. Tiền phát hành nhiều mà vẫn không đủ. Lương công nhân không có. Vật tư, hàng hóa khan hiếm. Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985. Để điều chỉnh tình trạng suy thoái với những biện pháp giảm lượng hàng buôn qua ngả chợ đen đã dẫn đến việc “ngăn sông cấm chợ” và lùng bắt hàng “lậu”. Nhưng những biện pháp hành chính đó càng làm lệch lạc hệ thống giá cả…

PV: Nói như nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế Đặng Phong thì cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền đã bị “vỡ trận”. Theo ông, đâu là nguyên nhân chính của thất bại này?

TS Trần Xuân Giá: Chúng ta đề ra chủ trương thực hiện các cuộc điều chỉnh về giá – lương – tiền, đặc biệt là cuộc tổng điều chỉnh năm 1985 trong tình hình kinh tế đang biến động mạnh, song lại thiếu biện pháp đồng bộ và các giải pháp cụ thể, tiến hành thiếu chuẩn bị chu đáo, không phù hợp với tình hình thực tế nên khi triển khai nghị quyết vào cuộc sống đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Mà nguyên nhân mấu chốt ở đây chính là chắp vá giữa tư tưởng cải cách với mô hình, cơ chế quản lý cũ đã lạc hậu… Nhưng thất bại này đã giúp Đảng ta có thêm những căn cứ, cơ sở quan trọng để đưa ra quyết định lịch sử tại Đại hội VI.

PV: Sau hơn 1/4 thế kỷ, câu chuyện giá – lương – tiền vẫn là đề tài nóng bỏng hôm nay. Tất nhiên bối cảnh và tình hình đất nước cũng như quốc tế đã khác trước nhiều.

TS Trần Xuân Giá: Tôi nghĩ cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền không chỉ là câu chuyện của một thời mà nó vẫn thời sự trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là những kinh nghiệm, bài học, có thể nói là “xương máu” trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta nói chung, cũng như gần đây Đảng chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế, xây dựng mô hình tăng trưởng mới nói riêng, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI và Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI) vừa qua.

PV: Xin cảm ơn ông!

Trần Hoàng Tiến thực hiện
qdnd.vn

Vài hình ảnh kháng chiến chống Pháp do phía Pháp chụp

Bi-gia là đại úy quân đội Pháp, có mặt tại Việt Nam từ 1945, trải qua các trận chiến đấu ở Tây Bắc, ở Đồng Bằng rồi Điện Biên Phủ 1954; Bị bắt làm tù binh sau chiến thắng Điện Biên Phủ với quân hàm đại tá. Trở về Pháp làm việc trong quân đội Pháp, thăng cấp tướng, Bộ trưởng Quốc phòng. Hai vợ chồng Bi-gia, tháng 6-1994 đã trở lại thăm chiến trường Điện Biên Phủ.

Tháng 9-1945, quân Nhật giao nộp vũ khí cho quân đội Anh tại Sài Gòn.

Tháng 10-1945, quân Pháp tấn công Kim Long Tự (chùa Rồng Vàng, Mỹ Tho).

Tháng 3-1946, lính gác Pháp-Việt-Quốc dân Đảng tại Hải Phòng.

Ngày 8-3-1946, quân Pháp vào Hải Phòng.

Tháng 3-1946, lính gác Pháp-Việt-Tàu Tưởng tại Hải Phòng.

Lính Pháp chuẩn bị vượt qua một cây cầu vừa bị xe tăng của Bán Lữ đoàn số 2 phá hủy.

Lính Pháp chuẩn bị vượt qua một cây cầu vừa bị xe tăng của Bán Lữ đoàn số 2 phá hủy.

Một toán quân Tàu Tưởng trên Đường số 4 (ngày 18-12-1949).

Năm 1950, quân Pháp tấn công Thái Nguyên.

Dẫn giải tù binh Pháp, ngày 18-6-1954.

Từ sách ảnh “Cuộc chiến tranh Đông Dương của tôi” – Tác giả: Bi-gia, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Pháp.
qdnd.vn

Cuộc đời bình dân của con cháu Tôn Trung Sơn

QĐND – Báo điện tử Trung Quốc bbs.cri.cn, ngày 2-6-2009, đăng tải bài Con cháu Tôn Trung Sơn bước ra khỏi vòng hào quang vĩ nhân, lánh xa chính trị ồn ào, hòa mình vào cuộc sống bình dân đã đăng trên báo Trung Quốc Vĩ nhân tiền bối quốc tế (Quốc tế tiên khu đạo báo).

Tôn Trung Sơn (12-11-1866 / 12-3-1925).

Chúng tôi giới thiệu bài báo trên để bạn đọc tham khảo, hiểu biết thêm về gia tộc vĩ nhân Tôn Trung Sơn (1866-1925), một nhà cách mạng dân chủ vĩ đại, chẳng những được tôn vinh là “Người cha của đất nước” (quốc phụ) Trung Hoa, mà còn có ảnh hưởng lớn lao trên thế giới.

Tôn Huệ Phấn ra sức tuyên truyền tư tưởng Tôn Trung Sơn

Trong ánh hoàng hôn buông xuống phía tây, Tôn Huệ Phấn ngồi trên chiếc xe lăn cót két kêu nhè nhẹ, trong lòng ôm một tập văn của ông nội. 115 năm trước, ông nội của bà – Tôn Trung Sơn tiên sinh cũng ở tại đây sáng lập ra Hưng Trung Hội, với tôn chỉ “Đánh đuổi ngoại bang, khôi phục Trung Hoa”, sau đó ảnh hưởng lớn đến vận mệnh của Trung Quốc.

“Ngày nay, sự an nguy tồn vong của Trung Quốc, hoàn toàn là do quốc dân Trung Quốc chúng ta ngủ hay là thức”. Tôn Huệ Phấn gần tuổi thất tuần lắng nghe hết lần này đến lần khác băng ghi âm tiếng nói của ông nội năm xưa đang hùng hồn diễn giảng. Nước mắt đầm đìa trên đôi gò má của bà.

Tôn Huệ Phấn.

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm từ trần của Tôn Trung Sơn (1925-2005), con cháu của ông tại khắp nơi trên thế giới kỷ niệm Tôn Trung Sơn bằng mọi phương thức. Là một Đại tổng thống lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc, gia đình của Tôn Trung Sơn khi ấy thuộc về “Gia tộc số 1 Dân Quốc” (Dân Quốc đệ nhất gia). Thế mà, cuộc đời của con cháu ông thực ra không chói sáng như Tôn Trung Sơn tiên sinh, mà là bi hoan ly hợp, tràn đầy sắc thái huyền thoại.

Xa lánh chính trị ồn ào, hòa mình vào cuộc sống bình dân

Tôn Trung Sơn tiên sinh suốt đời trải qua ba lần hôn nhân, để lại người con trai độc nhất Tôn Khoa và hai người con gái Tôn Diên, Tôn Uyển, tất cả đều do bà Lư Mộ Trinh, người vợ thứ nhất sinh ra. Trưởng nữ Tôn Diên chết sớm, và không có con trai nối dõi. Con gái út Tôn Uyển lần lượt sinh ra 4 người con trai con gái. So sánh, cây đời của chi tộc trưởng nam Tôn Khoa là cành lá xum xuê nhất, tổng cộng sinh ra hai con trai, bốn con gái.

Con cháu của Tôn Trung Sơn thực ra không nổi trội trên vũ đài chính trị. Trong thế hệ thứ hai, chỉ có trưởng nam Tôn Khoa (1891-1973) dưới vòng hào quang của phụ thân đã từng đảm nhiệm những chức vụ trọng yếu trong Chính phủ Dân quốc: Phó chủ tịch Chính phủ Trung ương Quốc dân đảng; Người duy nhất trong lịch sử Trung Hoa Dân Quốc đã từng đảm nhiệm chức vụ Viện trưởng của 3 Viện (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp), công nhiên đối kháng với Tưởng Giới Thạch. Cuối đời tại Đài Loan, ông vẫn đảm nhiệm các chức vụ “Tư vấn chính trị Phủ Tổng thống”, “Viện trưởng Viện Khảo thí”.

Hai người con trai của Tôn Khoa: Tôn Trị Bình đã từng ra làm Ủy viên Hội đồng Thi đua của Quốc dân đảng và Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Truyền hình Đài Loan; Tôn Trị Cường thì chỉ đảm nhiệm Thư ký “Cục Tín thác Trung ương” và Cố vấn Viện Bảo tàng Cố Cung (Đài Bắc). Đến thế hệ thứ tư, con trai của Tôn Trị Bình là Tôn Quốc Hùng, năm 2005 đã từng được mời ra làm “Cố vấn Quốc sách” cho người đứng đầu Đài Loan Trần Thủy Biển.

Đại đa số con cháu của Tôn Trung Sơn đều sống cuộc đời bình dân tại nước ngoài. Lâm Luân, cháu dâu của Tôn Trung Sơn đã từng giới thiệu rằng: “Tuy là con cháu của vĩ nhân, song chúng tôi không nghĩ đến chuyện đòi đặc quyền đặc lợi, thường ngày đều sống rất bình lặng. Tất cả bà con hàng xóm láng giềng ở nước ngoài cũng đều biết chúng tôi là con cháu của Tôn Trung Sơn, song mọi người sống một cuộc sống bình thường, nên đi làm thì đi làm, nên sinh hoạt thì đi sinh hoạt”.

Đoàn đại biểu thân tộc của nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn về thăm thành phố Trung Sơn nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi (1911-2011).

Bà Tôn Huệ Phấn, cháu gái của Tôn Trung Sơn thì rất không thích được gọi danh hiệu là “Cháu gái Tôn Trung Sơn”. Mấy năm trước, khi bà theo người nhà về Nam Kinh bái yết Lăng Tôn Trung Sơn, trông thấy du khách đứng chờ đón chào ở dưới chân núi, Tôn Huệ Phấn bèn nói: “Tôi không cần những đặc quyền như vậy!”.

Bà còn nói rằng: “Tôi chính là tôi. Tôi là con cháu của ai, thực ra không quan trọng lắm, điều quan trọng chính là bản thân tôi có năng lực gì”.

Sau đấy, Tôn Huệ Phấn ra làm Lãnh sự Thương vụ của Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc. Bằng tài ngoại giao xuất sắc của mình, bà đã chứng minh: Mình không cần sống dưới vòng hào quang “con cháu danh gia vọng tộc”, cũng có thể sống một cuộc đời tươi đẹp.

“Tôn Trung Sơn không phải của một cá nhân tôi”

Tôn Trung Sơn suốt đời lưu ly ghềnh thác, con cháu của ông thì sống tản mát ở trong và ngoài nước, trong đó đại đa số định cư tại Mỹ. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, con cháu của Tôn Trung Sơn ngày nay cũng ngẫu nhiên trở về Tổ quốc bái yết ông, có người còn quyên góp ủng hộ sự nghiệp giáo dục của Tổ quốc.

“Tôi không được tai nghe trực tiếp lời dạy bảo của ông nội, song tôi vô cùng kính yêu ngưỡng mộ ông tôi”. Bà Tôn Huệ Phấn nói như vậy khi trả lời phỏng vấn qua điện thoại vượt đại dương của báo “Vĩ nhân tiền bối quốc tế”.

Bà Tôn Huệ Phấn hiện nay đảm nhiệm Chủ tịch Quỹ Giáo dục Hòa bình Tôn Trung Sơn, Hội trưởng Hội Từ thiện Phụ nữ Trung Quốc tại Ha-oai (Hawaii).

Bà Tôn Huệ Phấn bị bệnh phong thấp nặng, phải ngồi trên xe lăn, nhưng vẫn không từ gian khổ đi theo vết chân ngày xưa của Tôn Trung Sơn tới khắp nơi trên thế giới như: Đại lục Trung Quốc, Đài Loan, Đông Nam Á và Âu Mỹ, v.v.. diễn giảng trên một nghìn cuộc, tích cực tuyên truyền phát huy tư tưởng của ông nội Tôn Trung Sơn. Hiện tại, bà Tôn Huệ Phấn truyền giao nhiệm vụ nặng nề tuyên truyền tư tưởng Tôn Trung Sơn cho con trai của bà là Vương Tổ Diệu, hy vọng tư tưởng Tôn Trung Sơn có thể truyền thừa mãi mãi.

Bà Tôn Huệ Phấn nói: “Suốt cuộc đời này của tôi, điều tôi cảm thấy hạnh phúc sung sướng nhất là có một người ông nội như thế. Nhưng, ông không phải là của một cá nhân tôi, mà ông thuộc về nhân dân toàn Trung Quốc. Tôi hy vọng tinh thần của ông nội có thể khích lệ những người trẻ tuổi ngày nay, không được buông lơi bất cứ mục tiêu nào”.

Vũ Phong Tạo
qdnd.vn

Vì sao tướng Mỹ Brinh “tự sát”

QĐND – Năm 1952, khi phe diều hâu ở Oa-sinh-tơn đang đẩy mạnh cuộc can thiệp quân sự vào Việt Nam, các báo Mỹ đột ngột đưa tin Trưởng phái bộ quân sự Mỹ ở Sài Gòn, tướng Brinh “tự sát” trong một tình huống không rõ ràng. Tướng Brinh có phải là nạn nhân của một âm mưu “diệt khẩu”, hay thậm chí là quân nhân Mỹ “phản chiến” đầu tiên, như dư luận đồn đoán? Năm 2012, tròn 60 năm sau sự kiện trên, liệu Nhà Trắng có giải mật nguyên nhân cái chết này?

Khi “Việt cộng” tiến công cư xá Brink đúng đêm Nô-en 1964, truyền thông phương Tây mới chợt nhớ về cái chết kỳ quặc của một tướng Mỹ xảy ra vào trước đó một giáp – thời kỳ Oa-sinh-tơn nhúng tay vào Đông Dương, để cấp cứu “ông bạn” Pháp đang “chìm tàu” ở đây. Đó là tướng Phrăng-xít Brinh (Francis Brink) (1893–1952).

Tướng Phrăng-xít Brinh (1893 – 1952). Nguồn: http://www.generals.dk

Trái với một truyền thống rùm beng về quân sử, các trang tư liệu, lưu trữ của Hoa Kỳ về một người hùng trận mạc như tướng Brinh có vẻ sơ sài. Chỉ thấy nói ông ta tốt nghiệp trường quân sự có tiếng Coóc-neo (Cornell), từng nổi danh trong các cuộc chiến thuộc nửa đầu thế kỷ XX của Mỹ. Brinh đã từng giảng về chiến thuật quân sự ở Đại học quốc gia Lu-i-di-a-na (Louisiana) 1928-1934, nơi ông cũng làm huấn luyện viên quyền anh.

Cuối thế chiến II, Brinh được vinh thăng chuẩn tướng trên cương vị Trưởng phòng Tác chiến của Bộ chỉ huy chiến trường Đông Nam Á. Nơi đây đã xảy ra các chiến dịch của quân Mỹ tại Miến Điện (Burma, nay là Mi-an-ma) với các xung đột chống quân Nhật ở Thái Lan và Ma-lai-xi-a.

Chọn mặt gửi vàng

Nhân những cơn lốc chiến tranh lạnh, Oa-sinh-tơn ra mặt bênh vực quyền lợi thực dân của Pháp ở Đông Dương, những quan tâm nửa vời về độc lập cho các dân tộc thuộc địa ở đây của Tổng thống Ru-giơ-ven ở Cai-rô và Tê-hê-ran (1943) đã chìm vào sương mờ quá khứ. Viện trợ Mỹ cho Pháp bắt đầu bằng 10 triệu đô-la năm 1950 và vọt lên trên 1 tỷ đô-la năm 1954, chiếm tới 78% chiến phí của Pháp ở Đông Dương.

Hiện thực hóa một ý đồ của kế hoạch Rơ-ve (Revers) (1949) là ngụy tạo “chủ quyền” cho các chính quyền bù nhìn, tại Sài Gòn ngày 23-9-1950, đã rùm beng lễ ký các Hiệp định quân sự giữa Mỹ với Pháp và các “chính phủ thuộc khối Liên hiệp Pháp” ở Đông Dương. Theo quân sử Mỹ, từ đây đã thiết lập được nền móng cho viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ đổ vào Đông Dương. Cơ chế hành chính của nó là Phái bộ hiệp trợ và cố vấn quân sự Mỹ (viết tắt là MAAG). MAAG do tướng Brinh cầm đầu từ 10-10-1950, với chức trách là quản trị chương trình viện trợ Mỹ cho Đông Dương, và bảo đảm hậu cần cho “quân đội thuộc Khối liên hiệp Pháp”. Huấn luyện cho “quân đội Việt Nam” (ngụy) vẫn do Pháp thực hiện.[1]

Nửa chừng xuân…

Học giả hôm nay không được ưu ái về tư liệu lưu trữ về vụ tướng Brinh “tự tử” xảy ra vào sáng 24-6-1952 ngay tại Lầu Năm Góc. Tin này hầu như được đưa một lần với nội dung gần như nhau cùng ngày 25-6-1952, trên hầu hết các báo địa phương, không mấy tên tuổi.

Cụ thể, báo Ban Ngày (The Day) ra 25-6-1952 tiết lộ rằng, bạn bè của tướng Brinh nói nguyên nhân là do ông ta “đã vô cùng thất vọng với tình hình ở Đông Dương, nhưng lại không biết làm gì (để cải thiện)” (“…Brink had been badly depressed but that the Indochina situation had nothing to do with it”); rằng khẩu súng ngắn Brinh dùng tự sát “cỡ nhỏ”, nên nhà đương cục cho rằng ông ta vẫn đủ sức chịu đựng để tự thực hiện tới ba phát bắn, đến khi chết hẳn[2]. Báo Trạng sư vùng Victoria (Victoria Advocate), bang Tếch-xát (Texas), nói thêm Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ, tướng Lao-tơn Côn-lin (Lawton Colins) gần như là chứng nhân của vụ này vì phòng làm việc của Brinh nằm cùng tầng với phòng của Côn-lin. Ca ngợi Brinh là một quân nhân tận tụy, tướng Côn-lin dường như cho rằng viên thủ trưởng MAAG tuẫn tiết vì đã “kiệt sức khi cáng đáng đặc nhiệm này”[3].

Tướng Brinh vừa mới từ Sài Gòn về Oa-sinh-tơn dự một hội nghị quân sự liên quan đến tình hình quân sự phía Đông (gồm cả chiến trường Đông Dương). Các báo cho hay, nhân viên điều tra các vụ đột tử (coroner) của khu vực, ông Ma-grút-đơ Mác Đô-nan (A.Magruder McDonald) nói rằng, có thể tướng Brinh tự sát thật, nhưng ông chưa đưa ra kết luận chính thức cho đến khi kết thúc điều tra.

Những phát súng trong sương mù

Việc tìm kiếm các kết luận pháp lý chính thức về cái chết của tướng Brinh bằng truy cập qua lưu trữ truyền thông Mỹ không có kết quả. Một trang điện tử điều tra về các vụ việc tiêu cực trong quân đội Mỹ[4] cũng khẳng định, rằng gần 6 thập kỷ đã qua, nhưng “vụ tướng Brinh” vẫn thuộc khái niệm sương mù chiến tranh.

Sách “Nhận thức chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam: Truyền thuyết, bóng tối, người hùng”, Nxb Christopher Pub House (1998).

Militarycoruption.com đưa ra một loạt những câu hỏi nhưng tờ báo điện tử chuyên về các vụ bê bối trong quân đội Mỹ này chưa hề được câu trả lời. Thứ nhất, tới nay không có nguồn nào nói rõ có dấu ngón tay của tướng Brinh trên cò khẩu súng được xem là đã được ông ta dùng để tự sát hay không? Thứ hai, “chẳng ai dám to giọng hỏi xem tại sao một quân nhân làm đến cấp tướng lại cố bắn được tới ba phát đạn súng lục cỡ nhỏ vào ngực mình”, trong khi ai cũng biết chỉ cần một viên đạn súng Colt tự động 45 bắn vào hàm dưới đem lại hiệu quả cao hơn, Militarycoruption.com chia sẻ sự thắc mắc đó.

Cuối cùng, không có một hồ sơ nào về cái chết của tướng Brinh được lưu tại quê nhà ông. Văn phòng Các vụ đột tử cho hay, toàn bộ giấy tờ của vụ này đã được chuyển về Bộ Quốc phòng. Để rồi năm 1973 (năm Nhà Trắng buộc phải ký Hiệp định Pa-ri), toàn bộ các hồ sơ bệnh sử và cả biên bản điều tra vụ chết bất thường theo luật định (coroner) đã bị hủy hoại trong một hỏa hoạn tại Trung tâm Lưu trữ quân sự tại Xanh Lu-i (St. Louis), bang Mi-du-ri (Missouri), theo sách “Nhận thức chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam: Truyền thuyết, Góc khuất, và người hùng” (Vietnam Military Lore: Legends, Shadows & Heroes) của tác giả Rây Bao-dơ (Ray Bows).

Tướng Brinh đã không hề để lại thư tuyệt mệnh. Ngay trước khi xảy ra vụ tự sát, viên tướng này còn gọi điện cho Lây-la-ni (Leilani) con gái mình, báo ông sắp tới thăm gia đình cô. Phu nhân tướng Brinh lúc đó vẫn ở Sài Gòn. Lây-la-ni nói chưa bao giờ thấy cha mình đeo súng phòng thân hay vũ khí cá nhân. Bà cũng cho biết, ban đầu gia đình đã được quân đội Mỹ cho hay tướng Brinh “đã tự bắn xuyên qua miệng”, rằng quân đội Mỹ sau đó đã không thể đưa ra một tường thuật mạch lạc vụ việc này. Các thành viên khác của gia đình cũng cho biết đã cố tìm hiểu nguyên nhân cái chết đầy bí hiểm (mystery) của tướng Brinh, nhưng vô vọng. Cháu của viên tướng này nói với tác giả Rây Bao-dơ rằng trong lễ tang “Ở Oa-sinh-tơn, không ai muốn nói gì về chuyện này (vì sao tướng Brinh tự sát)”.

60 năm mồ yên mả lặng?

Nay nhìn lại, tờ báo điện tử Militarycoruption.com cho rằng tướng Brinh chẳng có cớ gì đến nước phải tự vẫn. Cho dù ai đó loan trên truyền thông thời 1952, rằng viên tướng này chán đời do bệnh tật, nên đã tự bắn 3 viên đạn vào người ngay trên bàn làm việc. “Vụ này kết luận rồi, hãy tiến về phía trước” người ta khuyên. Tờ Militarycoruption.com không hiểu vì sao viên tướng này lại giấu vợ con chuyện mình bị “trọng bệnh”, và nếu ai bị bệnh như tiểu đường, xơ cứng động mạch cũng tự sát thì thế giới này đã đầy xác chết…

Con một người bạn của tướng Brinh kể lại: “Trong lần cuối cùng từ Đông Dương về tới thăm cha tôi, Phrăng-xít Brinh bảo cha tôi rằng tình hình Việt Nam rất đáng lo ngại, và quan điểm của ông ta không được ưa chuộng… Ông ta cảm thấy cuộc sống của mình có thể bị đe dọa, do biết quá nhiều”.

Rây Bao-dơ viết: “Tướng Brinh là một quân nhân đúng nghĩa, ông ta hiểu rõ sự khác biệt giữa các quân lệnh hợp luật và không hợp luật… chắc là ông ta đã khăng khăng đưa các vụ việc, như buôn lậu thuốc phiện (dùng máy bay quân sự) và vũ khí Mỹ (mà người Pháp làm ở Đông Dương) ra Quốc hội Mỹ và Nhà Trắng”. “Bảo vệ” Pháp lúc đó đồng nghĩa với thực hiện học thuyết Truman – “chống sự xâm lược trực tiếp và gián tiếp của cộng sản”.

Brinh chết, tướng Tô-mát Tráp-neo (Thomas Trapnell) sang nhậm chức đứng đầu MAAG, cổ động cho quan điểm tăng cường sự có mặt của Mỹ ở Đông Dương. Tiếp sau là những gì, thì cả thế giới đều biết.

Militarycoruption.com nói rõ hơn, cho rằng nếu tướng Brinh kịp tiết lộ những điều ông biết ra công luận Mỹ, “hẳn là cuộc thảm sát dài hạn dành cho nước Mỹ ở Việt Nam đã được ngăn chặn”.

Ai đó sẽ bảo rằng vẫn chỉ là những giả thuyết mà thôi. Nhưng công luận Mỹ vẫn tự hỏi[5] vì sao lại có những nỗ lực bất thường đến thế để gia cố những bức tường yên lặng đáng sợ bao quanh nấm mồ của tướng Brinh trong suốt sáu thập kỷ?

Lê Đỗ Huy (tổng hợp)
qdnd.vn

[1] http://www.history.army.mil/books/Vietnam/Comm-Control/ch01.htm

[2]http://news.google.com/newspapers?nid=1915&dat=19520625&id=gewgAAAAIBAJ&sjid=PHIFAAAAIBAJ&pg=5135,3936073

[3]http://news.google.com/newspapers?nid=861&dat=19520625&id=NSocAAAAIBAJ&sjid=yVoEAAAAIBAJ&pg=6678,6459970

[4]http://www.militarycorruption.com/brink.htm

[5]http://www.militarycorruption.com/brink.htm

Bên mộ bà Hoàng Thị Loan, nghe chuyện về thân mẫu Bác Hồ

Phần mộ bà Hoàng Thị Loan có 269 bậc (con số 69 là năm Bác Hồ mất – 1969), lối xuống bên phải phần mộ có 242 bậc (con số 42 là năm ông Khiêm đưa hài cốt mẹ về đây – 1942). Trước phần mộ xuống sân bia có 33 bậc, ứng với con số 33 là tuổi đời của bà.

Như nhiều người từng biết, ngày 3/6/2011, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã cùng với nhân dân Nghệ An và du khách thập phương về Nam Đàn, Nghệ An cắt băng khánh thành tu bổ khu mộ bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhân kỷ niệm 86 năm ngày Bác Hồ khai sinh nền báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2011), đoàn nhà báo chúng tôi có cuộc hành hương về Nam Đàn, Nghệ An viếng bà Hoàng Thị Loan, người mẹ Việt Nam tiêu biểu đã sinh thành Chủ tịch Hồ Chí Minh và được nghe nhiều người dân ở đây kể những câu chuyện xúc động về người mẹ vĩ đại này.

1. Mộ bà Hoàng Thị Loan (1868 – 1901) nằm trên núi Động Tranh, thuộc xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Hôm chúng tôi về núi dâng hương tưởng nhớ thân mẫu Bác Hồ, trời nắng gắt, nhưng có hàng ngàn người dân từ khắp nơi hành hương về đây một cách thành kính.

Từ đỉnh núi nơi cất mộ bà Hoàng Thị Loan nhìn ra về hướng Tây Nam, xa xa là dãy núi Thiên Nhẫn, kế bên là làng Kim Liên quê nội, làng Chùa quê ngoại của Bác Hồ với núi Chung còn in dấu tuổi ấu thơ của Bác… Xa hơn nữa là dòng sông Lam chảy như sợi chỉ trắng vắt ngang trời in vào đáy nước một vùng đất “địa linh nhân kiệt” với những tên tuổi Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu và thế hệ sau này là Trần Phú, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai… và nhiều tên tuổi nhà cách mạng tiền bối khác…

Từ chân núi Động Tranh đi theo lối lên là phần mộ bà Hoàng Thị Loan nằm ở bên trái, cùng phía này còn có mộ bà Hà Thị Hy, bà nội của Bác Hồ cũng mới được tu bổ. Phần mộ bà Hoàng Thị Loan có 269 bậc (con số 69 là năm Bác Hồ mất – 1969), lối xuống bên phải phần mộ có 242 bậc (con số 42 là năm ông Khiêm đưa hài cốt mẹ về đây – 1942). Trước phần mộ xuống sân bia có 33 bậc, ứng với con số 33 là tuổi đời của bà. Phía trên mộ là giàn hoa cách điệu hình khung cửi. Hai cụm cây hoa giấy che mát phần mộ bà được lấy giống từ Huế – nơi bà mất và khu lăng mộ của ông Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp. Khe trước phần mộ trồng nhiều cây quí từ nhiều miền đất nước

Phần mộ bà Hoàng Thị Loan được giữ nguyên theo hình mẫu ban đầu, được ốp bên ngoài bằng đá hoa cương, đá cẩm thạch liền khối. Phần trên mộ được xây dựng theo hình khung cửi cách điệu, gợi nhớ cuộc đời canh cửi vất vả để nuôi chồng, nuôi con thuở sinh thời. Phía sau phần mộ là bức phù điêu bằng đá trắng khắc họa hình những cánh sen thanh cao, tinh khiết của quê nhà và cũng là biểu tượng về cuộc đời, nhân cách của bà.

Đông đảo người dân hành hương về viếng bà Hoàng Thị Loan.

Bà Hoàng Thị Loan sinh thời đã hết lòng vì chồng con. Sau khi chồng bà là ông Nguyễn Sinh Sắc vào Huế đi thi, bà đã cùng chồng gồng gánh đi bộ với hai con trai vào kinh đô giúp ông học tập, nén lòng gửi con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh ở lại Nghệ An để giúp chăm sóc ông bà ngoại Hoàng Xuân Đường. Ở Huế, bà đã lao động dệt vải vất vả, vắt kiệt sức nuôi sống cả nhà. Sau khi sinh người con thứ tư là Nguyễn Sinh Nhuận, do sự vất vả khó nhọc trước đó, bà Hoàng Thị Loan sinh bệnh rồi qua đời vào năm 1901 trong khi chồng và người con Nguyễn Sinh Khiêm đang ở Thanh Hóa. Ở Huế lúc ấy chỉ có Nguyễn Tất Thành 11 tuổi đứng ra làm chủ tang cùng bà con chôn cất mẹ khi ngày Tết đang đến gần.

Năm 1922, hài cốt của bà được người con gái cả Nguyễn Thị Thanh đưa về an táng tại vườn nhà ở Làng Sen, xã Kim Liên (Nam Đàn, Nghệ An). Cuối năm 1941, sau khi ra khỏi nhà tù của thực dân Pháp, ông Nguyễn Sinh Khiêm đã đi khắp quê hương Nam Đàn tìm nơi có phong cảnh đẹp để cải táng hài cốt của mẹ và lựa chọn được một vị trí ở núi Động Tranh trong dãy Đại Huệ, thuộc làng Hữu Biệt (nay là xã Nam Giang), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Vì nhiều lý do, ông Khiêm đã cho đào 9 huyệt mộ trên núi Động Tranh rồi đặt thi hài của mẹ mình ở đó một cách bí mật. Tháng 11-1946, sau khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội, ông Nguyễn Sinh Khiêm mới chỉ cho bà con trong họ biết chính xác vị trí ngôi mộ bà Hoàng Thị Loan.

2.Theo tư liệu của nhà văn Sơn Tùng, trong những lần được trực tiếp gặp bà Nguyễn Thị Thanh, Sơn Tùng được bà Thanh tâm sự về câu chuyện đích thân bà đã chuyển hài cốt mẹ mình từ Huế về Nam Đàn ra sao, bà kể:

O ra khỏi nhà tù năm Nhâm Tuất (1922), nhưng phải quản thúc tại Kim Long, kinh đô Huế. Mẹ o, em trai của o là Nguyễn Sinh Nhuận nằm xuống đất Huế, o không được nhìn mặt mẹ lần cuối cùng, chưa nhìn được mặt em trai một lần. Thật là nước mất nhà tan….

Trước cảnh ngộ cha xiêu bạt nơi lục tỉnh Nam Kỳ một cách vô định lai hồi, em Tất Đạt đang tại tù, em Tất Thành bôn ba hải ngoại, chẳng biết ở chân trời góc biển nào! Quyết đưa di hài mẹ về cố quận. Nhưng để làm được việc hiếu này, trong cảnh ngặt nghèo này, khó lắm cháu ơi. Cũng may những năm phụ thân o thụ giám, mở trường dạy học tại kinh đô rồi làm quan ở Bộ Lễ, Người để lại một phương danh nơi quan trường, sỹ thứ thì o và cậu Tất Đạt, Tất Thành được thơm lây, được thừa hưởng “lộc cha phúc mẹ”. O bị quản thúc vô thời hạn: “nhật nhật tại dã, bất khả viễn phương”. Nhưng khi công môn, o xin về Nghệ thăm nhà, họ không hạch sách gì, còn được lời ân ưu: “cô Chiêu Thanh, trưởng nữ của quan Phó bảng Sắc. Cô về thăm quê ở bao lâu cũng được. Cố chịu phiền một chút, báo cho hương lý sở tại lúc về và lúc trở lại kinh đô Huế…”. Nhờ vậy, o lo liệu công việc di chuyển di hài mẹ về quê thuận lợi. Việc đưa di hài mẹ về quê, o chỉ bàn bạc với dì An, em ruột mẹ và một hai người bên nội biết. Năm ấy năm Nhâm Tuất (1922), mẹ Lụa (cụ Trần Thị Trâm), chú Cử Thống (Hồ Phi Thống) không còn bị tù ngục nữa. Một số nhà khoa bảng ở ngục Côn Lôn lần lượt trở về. O về Vinh gặp chú Cử Thống, chú mở cửa hiệu ở thành Vinh, bây giờ là danh sư Hồ Phi Huyền, dạy học, viết sách, chữa bệnh…

Đúng vào canh ba, đêm tháng mười năm Nhâm Tuất, chú Hồ Phi Huyền lên biểu bạch để o thực hành việc di hài cát táng từ kinh đô về Nam Đàn. Dì Hoàng Thị An lo liệu nơi cất giữ di hài cho đến khi tìm được cát địa. Mẹ Lụa dặn: Khi mở nấm mộ phải đứng tránh ngọn gió. Nước gỗ vang phải nhiều, đun sôi kỹ từ hôm trước để rửa cốt thật sạch, lau khô bằng giấy bản. Nước gỗ trầm hương, tẩm cốt rồi xếp vào vải điều, gói vuông vức lại, bọc ngoài một tấm vải đen, cất dưới đáy bị cói, trên xếp các loại thuốc viên. Hài cốt được tẩm nước gỗ trầm hương đưa đi xa, qua đò, qua tàu, xe hay gặp các loại súc vật khứu giác nhạy như chó cũng không thể bắt mùi. Về Huế, o nhờ gia đình người học trò của phụ thân o giúp việc “quán tẩy di hài” (rửa lau hài cốt)… Mọi việc làm trong âm thầm kín như bưng và trơn bọt lọt lạch…

Xong mọi việc hiếu nghĩa với mẫu thân mà o không thể nào bắt liên lạc được với phụ thân o để Người yên lòng và cậu Tất Đạt o cũng chưa gặp lại được. Mãi tới năm Canh Thìn (1940), cậu Tất Đạt mới được về quê. Cậu ở lại quê được ít lâu, cậu mời chú Hồ Phi Huyền cùng đi xem cát địa để cát táng mẫu thân của chị em o. Chú Hồ Phi Huyền, cậu Tất Đạt đi khắp từ Đông Nam sang Tây Nam dãy núi Đại Huệ, đi qua cả truông Hến, truông Băng, truông Bồn… Cậu giáo Tôn Quang Duyệt (em học giả Tôn Quang Phiệt) hàng ngày đi theo mang bầu rượu và nước trà cam thảo lão mai phục vụ hai “thầy địa lý”. Cuối cùng tìm được hai điểm Động Tranh và Đại Hài, về sau quyết định lấy một. Năm Tân Tỵ (1941), cậu Tất Đạt chọn Động Tranh làm nơi thiên thu an lạc tĩnh thổ cho mẫu thân… Mùa thu Ất Dậu (8/1945), Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam mới ra đời, o ra Thủ đô thăm cậu Tất Thành lần thứ nhất, tại nhà cậu mợ Đặng Thai Mai, o có nói với cậu Tất Thành việc o chuyển di hài mẫu thân về quê, việc o vào Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc chịu tang phụ thân năm Kỷ Tỵ (1929)

3. Cũng theo tư liệu của nhà văn Sơn Tùng, trong một lần ông được bác Nguyễn Sinh Khiêm đưa về thăm lại mộ bà Hoàng Thị Loan, bác Nguyễn Sinh Khiêm đã kể với Sơn Tùng về địa điểm cất mộ mẹ như sau:

Ngày 22 tháng Chạp năm Mậu Tý (1949), bác Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho tôi một cái rựa, chai rượu, thẻ hương bài rồi dặn “Cháu đi ra đường cái trước, ghé vào mua giúp bác năm quả cau, bốn lá trầu. À, cháu nhớ xin nhà hàng một ít vôi quệt lên giữa lá trầu không…”.

Tôi theo bác cả Khiêm đi bộ leo lên một quả núi, bác Khiêm nói:

– Nơi bác cháu mình đang đứng là Động Tranh. Cháu hình dung nơi đây là chốt của bộ nan quạt xòe rộng mà góc phải là núi Dăng Màn ở phía Tây, thượng nguồn sông Lam, góc trái là núi Song Ngư ở phía biển Đông, hạ lưu sông Lam, gọi là Cửa Hội. Ngoài khơi là đảo Mắt, tên chữ là Mục Sơn, con mắt núi nhìn thẳng vào Lam Hồng, đất “địa linh nhân kiệt”. Thời xa xưa người Tàu đã gọi đảo Mắt là núi “Bất nghĩa sơn” không chịu chầu về Bắc quốc của họ: “Chu Sơn giai củng Bắc, duy hữu Mục triều Nam”. Bắc triều đã cho thầy địa lý đến “yểm” đảo Mắt, “yểm” đất Lam Hồng để triệt phá nhân tài hào kiệt….

Bác cả Khiêm đi lên cao mấy bước đến một ngôi mộ ẩn dưới mấy khóm mua, sim và cỏ chỉ đan lưa thưa. Bác nói khe khẽ: “Phần mộ mẹ của bác. Cháu giúp bác phát đám cây cho quang đãng…”.

Bác cả Khiêm trải trước mộ mẹ tấm khăn bông quàng cổ chín màu mồ hôi, đặt rượu, trầu cau lên, thắp cả mười cây hương trầm cắm giữa đỉnh mộ. Bác quỳ xuống lạy khấn… Một linh cảm lạ thường! Tiếng rì rầm như nước nguồn tuôn chảy trên tầng cao Đại Huệ. Gió quấn quýt khói hương trầm ôm tròn ngôi mộ, hòa quyện mái tóc trắng bác cả Khiêm rung rung dưới làn mưa bay!…Bây giờ tôi mới biết ngày này là ngày kỵ Người Mẹ đã sinh ra những con người yêu nước Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm đều bị thực dân Pháp kết án mỗi người 9 năm tù khổ sai, đày đi biệt xứ và sinh ra Bác Hồ!

4. Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ thì cụ Đào Nhật Vinh (23 phố Nguyễn An Ninh, TP Hồ Chí Minh), từng là thủy thủ tàu buôn của Pháp từ 1913, từng gặp và trở nên thân thiết với Bác Hồ từ thời Người là Văn Ba thủy thủ, năm 1946, cụ đã gặp lại Người là Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp. Sau này về nước, vào năm 1977, cụ Vinh tròn 80 tuổi ra thăm Lăng viếng Bác đã kể rằng:Ngày chủ nhật 30/1/1921, tôi từ Boocđô lên Pari tráng lệ, tới ngõ Công Poanh tù mù vàng vọt. Lên cầu thang, bước tới cửa phòng anh Nguyễn, mùi hương từ trong phòng thơm ngát. Nghe tiếng gõ cửa, anh Nguyễn hé từ từ cánh cửa phòng, thấy tôi: “Ồ! Chú Vinh! Vào đi em”.

Tôi bồi hồi nhìn vào cái bàn làm việc thường ngày đang là bàn thờ, hương nghi ngút, ngọn nến sáng lắt lay bên con gà ngậm bông hoa râm bụt ấp trên đĩa xôi… Anh Nguyễn giọng bùi ngùi: “Ngày giỗ mẹ anh. Hai mươi năm về trước cũng vào ngày chủ nhật 10-2-1901, là ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý mẹ anh qua đời”. Anh im lặng. Tôi bật khóc, níu cánh tay anh Nguyễn. Anh trầm lắng giọng: “Bấy giờ nhà ở trong ngõ Đông Ba, thành nội, kinh đô Huế, cha cùng anh cả đi công việc tận ngoài tỉnh Thanh chưa về…”. Anh siết chặt bàn tay tôi, nén xúc động không nói…Tôi đứng lên để ra phố sắm lễ vật vì không biết ngày này là ngày giỗ thân mẫu của anh. Anh giữ tay tôi lại: “Chú từ phương xa đến đúng lúc anh có giỗ mẹ, là tâm hương thành lễ, không nhất thiết phải có lễ vật!”. Tôi bái lễ thân mẫu Người

Trong Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, những ai khi biết về câu chuyện ba chị em Bác Hồ sống đạo nghĩa với người mẹ Hoàng Thị Loan thế nào, hẳn đều thấy xúc động và thẳm sâu bài học hiếu nghĩa đầy tâm linh về đạo làm con của ba chị em Bác. Giờ thì bà mẹ Việt Nam Hoàng Thị Loan mãi mãi an giấc ngàn thu trên dải núi thiêng Động Tranh của quê nhà. Thay ba người con hiếu tử, hàng ngày có hàng ngàn người con đất Việt và bạn bè năm châu hành hương về đây thắp nén tâm hương trước mộ bà, để mãi mãi ghi nhớ công ơn trời biển của một bà mẹ vĩ đại sinh cho đất nước những anh hùng hào kiệt

Hồng Thái

cand.com.vn

Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt đông cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 ở Kim Liêm huyện Nam Đàn, tình Nghệ An, mất ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội.

Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước lớn lên ở một địa phương có truyền thống yêu nước anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của Người đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân. Người sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào

Với tình cảm yêu nước thương dân vô hạn, năm 1911 Người đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.

Từ năm 1912 đến năm l917, Nguyễn Tất Thành đến nhiều nước ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động, Người thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Người sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới. Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vesailles bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa.

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và Người bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III, Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành người cộng sản, Người khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới là con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Năng 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4 năm 1922, Hội ra báo “Người cùng khổ “ (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925.

Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, Người làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ nhất Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân. Người là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Ngườil kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc .Nguyễn Ái Quốc là Ủy viên thường trực Bộ phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế Cộng sản

Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) chọn một số thanh niên Việt Nam yêu nước đang sống ở Quảng Châu, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ Việt Nam Các bài giảng của Người được tập hợp in thành cuốn sách “Đườg Kách mệnh” – một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho dường lối cách mạng Việt Nam. Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 5 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô) ,sau đó đi Berlin (Đức), đi Bruxell (Bỉ) tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về Châu Á.

Tử tháng 7 năm 1928 đến tháng 11 năm 1929, Người hoạt đông trong phong trào vận Đảng Việt kiều yêu nước ở Thái Lan, tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mùa xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long gần Hương Cảng, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (Hội nghị của Đảng tháng 10 năm 1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương), đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cao trào cách mang 1930-1931, đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Tháng 6 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hong Kong. Đây là một thời kỳ sóng gió trong cuộc đời hoạt Đảng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Mùa xuân năm 1933, Người được trả tự do.

Từ năm 1934 đến 1938, Người nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Matxcova. Kiên trì con đường đã xác định cho cách mang Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Tháng 10 năm 1938, Người rời Liên Xô về Trung Quốc bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Người về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc. Bao nhiêu năm thương nhớ đợi chờ khi qua biên giới, Người vô cùng xúc động.

Tháng 5 năm 1941, Người triệu tập Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng. quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8 năm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam, thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Qủang Tây. Trong thời gian 13 tháng bi tù, Người đã viết tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù) với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9 năm 1943, Người được trả tự do.

Tháng 9 năm 1944. Người trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12 năm 1944, Người chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô và các nước đồng minh. Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội Nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân Đã hop quyếtđịnh tổngkhởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tháng 8 năm 1945, Người lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Ngày 2 tháng 9 năm J 945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một lần nữa. Trước nạn ngoại xâm Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đã khởi xướng phong trào thi đua yêu nước cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành thắng lợi.

Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam chống thưc dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết húc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Từ năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III, họp vào tháng 9 năm 1960, Người khẳng định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình, thống nhất nước nhà”. Tại Đại hội, Người được bầu lại làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng.

Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt qua khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người nói: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Từ năm 1965 đến năm 1969, cùng với Trung ương Đảng, Người tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện sự nghiệp cách mạng trong điều kiện cả nước có chiến tranh, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước.

Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.

Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử. Người viết:“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thực hiện Di chúc của Người, toàn dân Việt Nam đă đoàn kết một lòng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27 tháng 1 năm 1973, chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện được mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tu vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã vân dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, sáng lập Đảng Mác- Lênin ở Việt Nam, sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Người luôn luôn kết hợp chặt chẽ cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là tấm gương đạo đức cao cả, cần, kiệm,liêm, chính, chí công. vô tư, vô cùng khiêm tốn, giản dị

Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, hội nhập với thế glới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Bảo Tàng Hồ Chí Minh – Tháng 5 năm 2004

tuoitre.vn

Hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ra đi tìm đường cứu nước

1. Phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng đều thất bại

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hoá. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cũng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế…

Các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.

Nguyễn Ái Quốc ở Pháp năm 1920.

Nguyễn Ái Quốc ở Pháp năm 1920.

Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh …nói lên một sự thật lịch sử là: không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

2. Những chuyển biến của tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản – mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới – mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

Con tàu La Towche Treville chở Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: TLCon tàu La Towche Treville chở Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: TL

3. Phẩm chất và trí tuệ của Nguyễn Tất Thành

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, một địa phương có truyền thống yêu nước. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Chứng kiến chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc

Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Khách sạn trung tâm Max-cơ-va, nơi Nguyễn Ái Quốc ở trong những ngày sang Liên Xô (1923 – 1924). Ánh: TLKhách sạn trung tâm Max-cơ-va, nơi Nguyễn Ái Quốc ở trong những ngày sang Liên Xô (1923 – 1924). Ánh: TL

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18/6/1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác – Lênin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong bối cảnh bấy giờ, có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12/1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Ý nghĩa lịch sử to lớn:

– Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

– Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

– Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

IV. Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng vô sản thế giới.

1. Hồ Chí Minh – nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế: Từ khi rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận thức muốn hoạt động cách mạng cần phải tham gia các tổ chức và hoà mình vào phong trào đấu tranh cách mạng. Người đã hoạt động trong phong trào của người Việt Nam yêu nước và phong trào công nhân Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ nhiệm kiêm chủ báo Người cùng khổ; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp; tham gia Quốc tế Cộng sản, hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức… Những hoạt động đầy nhiệt huyết của Người – với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản quốc tế đã in dấu đậm nét trong lịch sử cách mạng vô sản thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều lần phải sống trong thiếu thốn, khổ cực, nguy hiểm, tù đày, thậm chí bị hiểu lầm, nhưng trong hoàn cảnh nào, Người cũng có một niềm tin sắt son vào chủ nghĩa Mác – Lênin, nêu cao ý chí, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.

Cuốn sách “Đường Kachs mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Ảnh: TLCuốn sách “Đường Kachs mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Ảnh: TL

2. Hồ Chí Minh có công truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản, Người tích cực đưa lý luận Mác – Lênin vào phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; kiên trì bảo vệ, phát triển sáng tạo những quan điểm của V.I Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Với trách nhiệm là Ủỷ viên Ban phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng, phong trào cộng sản ở các nước châu Á và xúc tiến thành lập đảng cộng sản ở Việt Nam.

3. Sức lan toả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc rất mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Hàng loạt các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở các nước Á, Phi và Mỹ Latinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp quan trọng với lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở các nước chính quốc, nhân dân các dân tộc ở các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước. Đây là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin.

Xuất phát từ tình hình ở các nước tư bản, Lênin đã nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Xuất phát từ tình hình Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác -Lênin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé và phong trào còn non yếu, do đó phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh còn đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đây là những luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Các Mác, Ăngghen xác định, quần chúng làm cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân. Lênin, trong cách mạng vô sản Nga, xác định quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Đối với Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng là “cả quần chúng”, bao gồm: giai cấp công nhân – giai cấp lãnh đạo cách mạng, giai cấp nông dân – cùng với công nông là gốc của cách mạng, tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc, các cá nhân yêu nước, “Bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Quan điểm này của Người không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Hồ Chí Minh có những sáng tạo độc đáo trong các bước đi giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc; luận giải khoa học, sâu sắc về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước, giải quyết vấn đề dân chủ từng bước. Bảo vệ nền độc lập dân tộc đã giành được bằng biện pháp hòa bình, nhưng khi kẻ thù đã dùng chiến tranh xâm lược để áp đặt sự nô dịch mới, thì cần dựa vào và phát huy sức mạnh của cả dân tộc để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc chân chính, cần xây dựng một xã hội mới là xã hội xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

Trong di sản tư tưởng của Người, có cả một hệ thống những chỉ dẫn khoa học về cách thức, biện pháp, bước đi trong thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ tính khoa học, cách mạng mà còn có nhiều luận điểm bổ sung từ góc độ đạo đức, văn hoá, nhân văn.

Tiếp tục triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

1. Đảng ta kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định quyết tâm tiếp nối con đường đó trong các văn kiện đại hội của Đảng, nhất là trong các Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là: “xây dựng được về cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”.

2. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nỗ lực thực hiện con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, nhất là những điều căn dặn trong Di chúc của Người về điều kiện bảo đảm sự bền vững của con đường đó: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tổ chức một đời sống xã hội ưu việt, đầy tính nhân văn và thực sự đem cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước nồng nàn để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của ông cha, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế…

Những văn bản do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo trong thời gian hoạt động ở nước ngoài. Cuốn sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) và “Bản án yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc xây đòi các quyền tự do, độc lập cho các dân tộc thuộc địa” (1919), Báo Le Paria. Ảnh: TLNhững văn bản do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo trong thời gian hoạt động ở nước ngoài.

Cuốn sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) và “Bản án yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc xây đòi các quyền tự do, độc lập cho các dân tộc thuộc địa” (1919), Báo Le Paria. Ảnh: TL

3. Hơn bốn năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội và đã tạo được những chuyển biến quan trọng. Để phát huy những kết quả đó, trách nhiệm của mỗi cấp uỷ, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động này, gắn liền với những nhiệm vụ về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

4. Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ định con đường cách mạng Việt Nam… Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới. Đó chính là sự bảo vệ đúng đắn nhất chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta, vững bước đi theo con đường của Hồ Chí Minh đã chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kỷ niệm sự kiện 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người, chúng ta càng hiểu rõ hơn về cuộc đời cách mạng và tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng dịp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu sắc hơn về những cống hiến to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng hoạch định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được bổ sung, phát triển năm 2011. Đó là tấm lòng tri ân sâu sắc của toàn dân tộc đối với công lao vĩ đại của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

TS (Theo tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương)

Theo Lâm Đồng Online

Chúng tôi yêu quí Bác Hồ

Tôi được cụ Nguyễn Văn Trúc – cựu chiến binh hơn 50 tuổi đảng, nguyên là cán bộ (hàm vụ trưởng) thuộc Bộ Nông nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nghỉ hưu tại phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội, kể cho nghe một kỷ niệm trong đời quân ngũ của cụ. 81 tuổi, không còn nhanh nhẹn nhưng cụ Trúc rất minh mẫn. Câu chuyện như làm cho cụ trẻ lại, khỏe ra… tựa hồ anh Trúc 25 tuổi hồi ấy.

Sau ngày 7-5-1954, Nguyễn Văn Trúc được điều động sang công tác tại Tổng trạm tù binh Điện Biên Phủ. Ở đấy có gần 5000 lính Lê Dương từ các nước Pháp, Đức, Angiêri, Ma rốc, Tuynidi, Mađa, Xênêgan và cả người Đông Âu. Đồng chí Hùng – cán bộ chỉ huy cấp Trung đoàn là Tổng trạm trưởng.

Cuối thàng 7, anh Trúc cùng một tổ công tác dẫn tù binh Đức, Angiêri và Ma rốc đi bộ từ huyện Thọ Xuân theo bờ Nam sông Mã, về đóng tại các làng gần cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa. Hôm ấy, vào khoảng 14 giờ, các anh cho đoàn tù binh giải lao tại thị trấn Hậu Hiền. Ở đây có những cửa hàng ảnh bày bán một loại huy hiệu in hình Hồ Chủ Tịch (kích thước 2cmx3cm), được bọc trong miếng foocmica hình tròn, có ghim móc. Lúc đầu, lác đác tù binh người Đức vào mua đeo lên ngực. Sau, tất cả tù binh ùa vào, tìm mua hết số huy hiệu ấy. Từ tám mươi đồng một chiếc, tăng lên đến một trăm năm mươi đồng, rồi hai trăm đồng một chiếc. Thấy vậy, anh Trúc rất bối rối. Chưa xác định được việc để tù binh mua huy hiệu là đúng hay sai, chỉ nghĩ rằng các cửa hàng tăng giá lên gấp hai lần là không tốt, nên anh đề nghị cấp trên ra lệnh buộc tù binh trả lại huy hiệu cho các chủ hàng và yêu cầu chủ hàng trả lại tiền cho tù binh. Tất cả đều nghiêm túc thực hiện…

Tù binh về đến nơi ở mới thì đã 18 giờ. Anh Trúc lên báo cáo ban chỉ huy Tổng trạm toàn bộ tình hình. Nghe xong, đồng chí Hùng gật gù nói: “Chứng tỏ tù binh Lê Dương rất kính phục lãnh tụ của ta. Họ cũng yêu quí Bác Hồ”. Rồi đồng chí ra lệnh cho anh Trúc tức tốc trở lại phố Hậu Hiền, tìm mua 800 chiếc huy hiệu nói trên. Nếu thiếu thì vận động bà con làm thêm cho đủ.

Đúng 10 giờ ngày hôm sau, anh Trúc mang 800 chiếc huy hiệu về đơn vị. Đồng chí Tổng trạm trưởng mừng lắm. Anh cho mời các bà mẹ, các em thiếu nhi quàng khăn đỏ trong xã đến, tổ chức thành đoàn xuống từng trại tù để trao huy hiệu Bác Hồ cho những tù binh tiến bộ được trả về nước đợt đầu. Tù binh đứng nghiêm, các mẹ, các em gắn huy hiệu lên ngực họ. Xong, mọi người đồng thanh hô vang: “Chúng tôi yêu quí Bác Hồ! Chúng tôi yêu quí Bác Hồ!”. Tiếp theo, cùng múa hát ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả tù binh đều rất cảm động. Họ tỏ ý vui mừng vì sẽ được mang tấm huy hiệu in hình Hồ Chủ Tịch về quê hương.

PHẠM XƯỞNG

baolamdong.vn

Tư liệu Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo

Nghiên cứu cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều chúng ta dễ dàng bắt gặp là ở chỗ Người có nhiều mối quan hệ gắn bó với Phật giáo, không chỉ ở mặt tư tưởng, tình cảm mà cả chính bằng những việc làm cụ thể.

Trên bình diện tư tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều mặt gần gũi, gặp gỡ với giáo lý Phật giáo. Cốt tủy của Phật giáo là Từ bi hỷ xả, Vô ngã vị tha, Cứu khổ cứu nạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm”(1).

Mang khát vọng giải phóng nhân quần ra khỏi cảnh khổ đau, Thái tử Tất Đạt Đa đã rời bỏ cảnh sống vương giả, xuất gia tìm đạo: “Ta không muốn sống trong cung vàng điện ngọc, Ta không muốn sống trong cảnh vương giả trị vì thiên hạ, hưởng cuộc đời sung sướng cao sang trên mồ hôi nước mắt của lê dân. Ta không muốn sống trong xã hội bất công mà Ta đã chứng kiến. Ta quyết định ra đi, dù phải xông pha trên gió bụi lao lung, Ta cố tìm ra mối đạo giải thoát cho nhân loại muôn loài”(2).

hochiminh-2.gifCùng với hạnh nguyện trên đây của Thái tử Tất Đạt Đa, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lớn lên trong cảnh nước mất nhà  tan, đã sớm nhận ra cảnh:

Trên đời nghìn vạn điều cay đắng
Cay đắng chi bằng mất tự do.

Điều đó thôi thúc Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi gian khổ hiểm nguy, bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước, cứu dân. “Tôi muốn đi ra nước ngòai xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”(3). Với ý chí và quyết tâm đó, nên ngay giữa thủ đô Paris, trong sự bủa vây của mật thám Pháp, Nguyễn Ái Quốc vẫn không hề nao núng về lý tưởng cứu nước, cứu dân của mình: “Tôi thích làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết, cũng chẳng sợ tù đày. Trong đời này chúng ta chỉ chết có một lần, tại sao lại sợ?”(4).

Cách đây trên 2.500 năm, khát vọng công bằng xã hội đã được Đức Thế Tôn nêu lên như một quy luật xã hội, cô đọng lại trong lời dạy nổi tiếng, mang tính vượt thời gian: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Mỗi người khi mới sanh không phải có sẵn dấu tin-ca (tilca) trên trán, không đeo sẵn dây chuyền trong cổ”(5). Phật dạy các đệ tử: “Này các Tỳ kheo! Hãy tu hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho chư Thiên và loài người” (Tương Ưng Bộ kinh); “Này các Tỳ kheo! Xưa và nay Ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ” (Trung Bộ kinh).

Với Hồ Chí Minh thì “tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng… Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(6). Vì vậy đối với Người, “bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích là làm sao ích quốc lợi dân. Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn đau khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.

Phật giáo chủ trương: “Dĩ chúng tâm kỷ tâm”. Đối với Phật giáo, con người là cao hơn tất cả: “Nhân thị tối thắng”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân chúng công nông là gốc cách mệnh” (7) và “nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không có gì tốt đẹp vẻ vang bằng phục vụ lợi ích cho nhân dân”(8).

Trong Phật giáo, các vị Bồ tát xem nỗi đau khổ của chúng sinh là nỗi đau khổ của minh, bao giờ nỗi đau khổ của chúng sinh chưa dứt thì thề chưa thành Phật, ngài Địa Tạng Bồ tát thệ nguyện:

Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề,
Địa ngục vị không thệ bất thành Phật”.

(Chúng sinh độ hết mới chứng đạo Bồ đề,
Địa ngục nếu còn thề không thành Phật).

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “suốt đời, tôi chỉ có một ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(9). Nhân bản Hồ Chí Minh nói theo cách nói của Phật giáo là sự “kết tinh bằng Từ bi, Trí tuệ, Dũng mãnh, hướng dẫn chúng sinh đạt tới mục đích Giác ngộ và Giải thoát, chuyển cõi Sa bà này thành cõi Tịnh độ,  và cuộc đời cơ cực này thành nếp sống Cực lạc”(10).

hochiminhvoi-pg.gif

Ảnh tư liệu Bảo tàng HCM – Xuân Loan sưu tầm

Nhận rõ những giá trị cao đẹp của Phật giáo, có sự gần gũi, gặp nhau với tư tưởng Phật giáo trên những nét lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng nhìn Phật giáo với một thái độ trân trọng: “Nền tảng và truyền thống của triết học Ấn Độ là lý tưởng hòa bình bác ái. Liên tiếp trong nhiều thế kỷ, tư tưởng của Phật giáo, nghệ thuật khoa học Ấn Độ đã lan khắp thế giới”(11). Năm 1958, khi sang thăm Ấn Độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi rất sung sướng được thăm quê hương Đức Phật, quê hương của một trong những nền  văn minh lâu đời nhất thế giới”(12). Nhà thơ Huy Cận viết: “Khi bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn có một tấm long kính mộ sâu sắc và cảm động đối với Đức Phật Thích Ca – người sáng lập ra đạo Phật, cũng như đối với tất cả các vị sáng lập những tôn giáo lớn. Người đã cảm nhận ở các vị giáo chủ này trước hết là lòng thương cảm sâu sắc đối với số phận của những chúng sinh và ý muốn thiết tha làm sao giảm nhẹ hoặc xóa bỏ những nỗi đau khổ của con người trên trái đất”(13).

Trong hành động cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều gắn bó với Phật giáo. Theo nghị sĩ Thái Lan Si-pha-nôn Vi-shit Va-ra-ron, năm 1927, khi hoạt động ở Thái Lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng điện Phật to nhất của chùa Phô-thi-sôm tỉnh U-đon, Đông Bắc Thái Lan. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã vận động Việt kiều góp sức, góp của và đứng ra chủ trì việc xây dựng. Cũng thời gian này, chùa Lô-ka-nu-kho (Băng-cốc) là cơ sở hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở đây, Người đã được Hòa thượng Thích Bình Lương hết lòng giúp đỡ.

Khi nước nhà được độc lập, nhà sư về nước. Lúc nhà sư lâm bệnh điều trị ở Bệnh viện Việt – Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm. Khi nhà sư viên tịch, Người đã gửi vòng hoa đến viếng với nội dung: “Kính viếng Hòa thượng Thích Bình Lương”, dòng chữ nhỏ dưới đề: “Đồng chí Hồ Chí Minh”. Giáo sư Trần Văn Giàu cũng cho biết thêm khi hoạt động cách mạng ở Thái Lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh sống rất giản dị và kham khổ như một nhà tu hành, có khi Người đã mặc áo cà sa của nhà sư.

Năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong điều kiện hết sức khó khăn giữa núi rừng Pắc Bó, Nguyễn Ái Quốc đã vẽ ảnh Phật treo trên vách đá để quần chúng có nơi chiêm ngưỡng vào những dịp lễ Tết.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, mặc dầu bề bộn với nhiều công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian đến thăm chùa Quán Sứ, chùa Bà Đá. Nói chuyện với Tăng Ni, tín đồ Phật tử ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhà nước chúng tôi luôn luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một. Tôi mong các Hòa thượng, Tăng Ni và Phật tử hãy tích cực thực hiện tinh thần Tư bi, Vô ngã, Vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”(14).  Đối với Người, làm được như vậy tức là “đã làm theo lòng Đại từ, Đại bi của Đức Phật Thích Ca”(15).

Trong thời gian từ năm 1954 đến lúc qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm nhiều chùa, nhiều cơ sở Phật giáo ở miền Bắc, tiếp xúc với nhiều Tăng Ni, Phật tử. Ngày 19-5-1960, trong lúc Hoà thượng Thích Thanh Chân, trụ trì chùa Hương, đang chuẩn bị vào Phủ Chủ tịch để chúc thọ Hồ Chủ tịch tròn 70 tuổi, thì 5 giờ sáng hôm đó, Người lại vào thăm chùa Hương. Tại đây, Người đã chỉ thị cho chính quyền địa phương phải sửa lại những con thuyền, bắc thêm cầu phao và làm thêm một con đường mới, để các Tăng Ni, Phật tử đi lại chiêm bái được dễ dàng và an toàn.

Khi ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách kỳ thị tôn giáo, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Tăng Ni, Phật tử “hãy ra sức giúp đỡ cán bộ, hăng hái thực hiện mọi công tác của Chính phủ, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, ngăn chặn âm mưu của Mỹ – Diệm và bọn tay sai chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, hãy ra sức đấu tranh giành thống nhất đất nước”(16). Khi chính quyền Ngô Đình Diệm tiến đến chính sách tiêu diệt Phật giáo bằng việc ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Lễ Phật đản năm 1963, Tăng Ni, Phật tử miền Nam đã đứng dậy đấu tranh quyết liệt.

Để phản đối chính sách bất công, gian ác của chính quyền Ngô Đình Diệm, ngày 11-6-1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn với hạnh nguyện:

“Khói thơm cảnh tỉnh bao người ác,
Tro trắng phẳng san hố bất bình”(17).

Trước sự hy sinh phi thường và dũng cảm của Hòa thượng Thích Quảng Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức cảm động và Người đã có câu đối kính viếng Hòa thượng:

Vị pháp thiêu thân vạn cổ hùng huy thiên nhật nguyệt.
Lưu danh bất tử bách niên chính khí địa sơn hà”(18).

Đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành “Kế hoạch nước lũ”, cho quân tấn công hầu hết các ngôi chùa dùng làm cơ sở đấu tranh trên khắp miền Nam. Tiếp theo, chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp khốc liệt cuộc đấu tranh của sinh viên, học sinh Sài Gòn phản đối Diệm đàn áp tôn giáo. Ngày 25-8-1963, nữ sinh Quách Thị Trang bị bắn chết trước bùng binh chợ Bến Thành (Sài Gòn). Ngày 28-8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời tuyên bố, nghiêm khắc lên án chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man Tăng Ni, Phật tử và khủng bố, bắt bớ giáo sư, sinh viên, học sinh miền Nam: “Gần đây, ở miền Nam Việt Nam lại xảy ra thêm một tình trạng cực kỳ nghiêm trọng và đau thương. Bọn Ngô Đình Diệm đốt phá chùa chiền, khủng bố sư sãi và đồng bào theo đạo Phật. Chúng đóng cửa các nhà trường, bắt bớ hàng loạt giáo sư và sinh viên, học sinh. Tội ác của chúng, nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều lên tiếng phản đối, nhân dân tiến bộ Mỹ cũng tỏ lòng bất bình… Trước tình hình ấy, đồng bào miền Nam ta đã đoàn kết nhất trí, không phân biệt sĩ nông công thương, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, kiên quyết đấu tranh để giành lại tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam tất yếu sẽ thắng lợi: “Dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, cuộc đấu tranh chính nghĩa của đồng bào miền Nam được sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, nhất định giành được thắng lợi”; đồng thời bày tỏ sự cảm ơn đối với nhân dân thế giới đã ủng hộ cuộc đấu tranh của Tăng Ni, tín đồ Phật tử miền Nam chống chế độ bạo quyền Ngô Đình Diệm: “Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn nhân dân và chính phủ các nước Phật giáo, các nước xã hội chủ nghĩa anh em, cảm ơn nhân dân yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới, cảm ơn nhân dân và nhân sĩ tiến bộ nước Mỹ đã nghiêm khắc lên án Mỹ – Diệm và nhiệt tình ủng hộ nhân dân miền Nam”(19).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao những đóng góp, hy sinh của Tăng Ni, tín đồ Phật giáo trong hai cuộc kháng chiến. Năm 1964, trong thư gửi Đại hội kỳ 3 Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, Người viết: “Các vị Tăng Ni, tín đồ Phật giáo trước đây có công với kháng chiến, nay thì đang góp sức cùng toàn dân xây dựng miền Bắc giàu mạnh và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”. Hòa thượng Thích Đôn Hậu (chùa Linh Mụ, Huế), người thoát ly tham gia kháng chiến vào dịp quân và dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, rất có lý khi khẳng định rằng: “Sự hiểu biết của Người rất uyên bác, không những Người nắm chắc lịch sử yêu nước của Phật giáo Việt Nam trong quá khứ, mà Người còn theo dõi rất cụ thể những hoạt động yêu nước của Phật giáo nước ta hiện nay”(20). Ông Srivalisnha, Chủ tịch Hội Truyền bá đạo Phật Mahabodi ở Ấn Độ phát biểu trong lần tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người sang thăm Ấn Độ (1958): “Chúng tôi kính cẩn và nhiệt liệt hoan nghênh ngài Chủ tịch đã từ bỏ những hào nhoáng lộng lẫy… Cũng như Hoàng đế Asoka, một Phật tử đầy lòng hy sinh, Chủ tịch đã nêu cao trước thế giới một lý tưởng mà chỉ có thể thực hiện bởi một người đầy lòng tin tưởng… Chủ tịch thật là một người kiêm cả công, nông, trí thức cách mạng với một lòng từ bi là đạo đức quý nhất của tín đồ Phật giáo. Các Phật tử Ấn Độ chúng tôi rất lấy làm tự hào mà xem Ngài là một con người của một nước đã có quan hệ mật thiết về văn hóa và tín ngưỡng hơn hai ngàn năm với Ấn Độ chúng tôi”(21). Và, thực tế là đã có một con đường mang tên Hồ Chí Minh ở thủ đô New Delhi, Ấn Độ.

Những dòng tư liệu trên đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn và đầy đủ hơn về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo trong quá trình hoạt động cách mạng của Người, cả trong nhận thức và trong hành động; nó giải thích rõ vì sao Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến đã đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn và đã có những đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây và ngày nay đang chung lưng đấu cật cùng với toàn dân bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam thân yêu ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

Lê Cung PGS. TS.Khoa Lịch sử,Trường Đại học Sư phạm Huế.
Theo báo Giác Ngộ online

(1) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Tập IV, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1958, tr.39.
(2) Thích Diệu Niệm. Tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với tư tưởng Phật giáo. Nội san Nghiên cứu Phật giáo số 1, Hà Nội, 1991, tr.33.
(3) Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. NXB Văn Học, Hà Nội, 1970, tr.11.
(4) Nguyễn Phan Quang. Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp 1917-1923. NXB TP.HCM, 1995, tr.47.
(5) Võ Đình Cường. Ánh đạo vàng. Phật học Viện Quốc tế xuất bản, USA, 1987, tr.92-93.
(6) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.1.
(7) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập II. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.197.
(8) Hồ Chí Minh. Phát huy tinh thần cầu học cầu tiến. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1960, tr.62-63.
(9) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.100.
(10) Thích Đức Nghiệp. Hồ Chủ tịch, một biểu trưng nhân bản Việt Nam, trong Đạo Phật Việt Nam. NXB TP.HCM, 1995, tr.318.
(11) Hồ Chí Minh. Truyện và ký. NXB Văn Học, Hà Nội, 1985, tr.201.
(12) Hồ Chí Minh. Sđd, tr.208
(13) Cù Huy Cận. Hồ Chí Minh – nhà văn hóa lớn, một người hiền của thời đại chúng ta. Báo Nhân Dân ngày 1-9-1989.
(14) Thích Đức Nghiệp, Sđd, tr.321-322.
(15) Thư Hồ Chủ tịch gởi Hội Phật tử Việt Nam, ngày 30-8-1947.
(16) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1958, tr.39.
(17) Kệ thiêu thân cúng dường Chánh pháp của Hòa thượng Thích Quảng Đức viết trước lúc tự thiêu.
(18) Phạm Hoài Nam. Bồ tát Thích Quảng Đức, ngọn đuốc xả thân vì Đạo pháp và Tổ quốc. Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 30-5-2005.
(19) Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình miền Nam Việt Nam hiện nay. Báo Quân Đội Nhân Dân, ngày 29-8-1963, tr.1.
(20) Bác Hồ trong lòng dân Huế. Thành ủy Huế, 1990, tr.35.
(21) Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1990, tr.30.

biendong.vntime.vn

Người đánh xe ngựa đưa Nguyễn Tất Thành về trường Dục Thanh

Báo tin tức – Một sự kiện bất ngờ và xúc động không chỉ riêng cho gia đình ông Võ Huy Quang, mà cho những nhà nghiên cứu, cho tất cả chúng ta vốn yêu kính và rất quan tâm đến ai phát hiện thêm tư liệu mới về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

Chân dung ông Võ Văn Trang (1890 -21/9/1969).

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 -5/6/2011), được phép của gia đình ông Võ Huy Quang, chúng tôi xin công bố một đoạn ghi chép viết tay của cụ Võ Quang Miệng (Võ Văn Trang) là ông nội của Võ Huy Quang viết ngày 19 tháng 8 năm 1910 tại Bình Thuận, có liên quan đến việc người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, trước khi đến dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết), góp phần nối thêm cuộc hành trình Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Cụ Võ Văn Trang, sinh năm 1890 tại làng Thuận Điền, xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận (nay là Hàm Thuận Bắc) tỉnh Bình Thuận, là hội viên công ty nước mắm Liên Thành tại thị xã Phan Thiết được thành lập từ năm 1906, theo gợi ý của chí sĩ Phan Châu Trinh, do các ông Nguyễn Quý Anh, Nguyễn Trọng Lội (con trai nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông) cùng các sáng lập viên khác như Hồ Tá Bang, Nguyễn Huệ Chi, Trần Lệ Chất,v.v… ít năm sau đó Liên Thành chuyển cơ sở sản xuất vào Sài Gòn.

Nhà nghiên cứu Võ Huy Quang – tử tù Côn Đảo – trong quá trình sưu tầm tư liệu để dựng lại bộ gia phả họ Võ của mình, cơ duyên xui khiến (hay ông nội mách bảo) ông tò mò tìm xem hai bìa (bìa hai lớp) của quyển “Võ gia khảo ký”, 1906 do ông nội ghi chép để lại. Vô cùng bất ngờ và sung sướng, ông Quang phát hiện một mảnh giấy vàng úa và chính là chữ của ông nội mình viết, có ghi ngày tháng năm và ký tên. Nước mắt ông trào ra. Ngưng một lát lấy lại bình tĩnh, lòng nghĩ thầm chắc là có điều gì tâm huyết hệ trọng lắm ông nội mới cất giấu kỹ như vậy? Mảnh giấy nhỏ chỉ chứa 74 chữ và số nhưng quý giá vô cùng (có bản kèm theo), nguyên văn như sau :

“Sáng ngày 19 tháng 8 năm 1910, tôi được chú Nguyễn Trọng Lội, chú Nguyễn Huệ Chi và chú Hồ Tá Bang trong Hội đồng quản trị của Thương quán Liên Thành, những người sáng lập ra Hội giáo dục Thanh niên thể dục thể thao gọi là Dục Thanh, cơ sở kinh tế Hội quán Liên Thành… Đưa xe ngựa đến chùa Phước An ở xứ Duồng, Gành Son gặp cụ Nghè Mô và sư thầy Tạ thủ Bửu Hữu Hiền để đưa một thầy giáo về dạy học ở trường Dục Thanh Phan Thiết.
Bình Thuận, ngày 19 tháng 8 năm 1910
Võ Văn Trang (ký tên)”

Bản viết tay này đã được Viện Khoa học hình sự thuộc Tổng cục cảnh sát PCTP (Bộ Công an) giám định và kết luận “là do cùng một người viết ra” tại Công văn số: 04-CV/C54-P5 “v/v trả lời kết quả giám định”, ngày 22 tháng 3 năm 2011 do Thiếu tướng PGS.TS Ngô Tiến Quý, Viện trưởng ký tên và đóng dấu.

Ngày 19/5/2011, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Bình Thuận đã tổ chức trọng thể lễ trao nhận hiện vật “Bức thư” có nội dung liên quan đến sự kiện thầy giáo Nguyễn Tất Thành (Bác Hồ) dừng chân dạy học tại trường Dục Thanh – Phan Thiết – do ông Võ Huy Quang trao tặng.

Ông Võ Văn Trang còn là người cất giữ 9 (chín) đồng bạc Đông Dương do chính tay thầy giáo Nguyễn Tất Thành gửi trả bớt lại cho Liên Thành lúc chia tay .

Số là một ngày vào tháng 3 năm 1911 thầy giáo Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn. Trước khi thầy Thành ra đi, ông Nguyễn Quý Anh, phụ trách phân cuộc Liên Thành thương quán ở Sài Gòn, chỉ đạo ông Phạm Phú Hữu (cháu nội quan đại thần triều đình Huế Phạm Phú Thứ) chi 27 (hai mươi bảy) đồng bạc Đông Dương để trao cho Nguyễn Tất Thành làm lộ phí. Nhận tiền, Nguyễn Tất Thành do dự một hồi rồi chỉ nhận 18 (mười tám) đồng còn 9 đồng gửi lại. Thấy vậy ông Võ Văn Trang với lòng xúc động và kính trọng đã nhận giữ và gửi trả lại bằng 9 đồng bạc giấy cho ông Phạm Phú Hữu nộp vào quỹ Liên Thành thương quán.

Được biết, sau khi nghe hung tin Bác Hồ qua đời (3/9/1969), cụ Võ Văn Trang cùng tuổi và rất thương yêu quý trọng Bác Hồ đã vô cùng đau buồn, bỏ cả ăn uống, rồi nhịn ăn đến chết lúc 2 giờ sáng ngày 21//9/1969 trong căn hầm tránh pháo trong ấp chiến lược Tân Phú Xuân, huyện Hàm Thuận (Bình Thuận).

Nguyễn Thanh Bền (Ghi theo tư liệu của gia đình ông Võ Huy Quang)

baotintuc.vn

Những thành phố anh hùng của Liên Xô

Kỷ niệm 66 năm Ngày Chiến thắng phát xít Đức (9-5-1945/9-5-2011)

QĐND – Để ghi nhớ Chiến thắng phát xít Đức, Đoàn Chủ tịch Xô-viết Tối cao Liên Xô đã ra Sắc lệnh về phong tặng danh hiệu vinh dự “Thành phố anh hùng” cho 13 thành phố. Danh hiệu vinh dự này được phong tặng cho những thành phố mà những người bảo vệ nó đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng dũng cảm và kiên cường trước quân thù trong những năm Chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống phát xít Đức xâm lược…

Ngày 8-5-1965, 7 thành phố: Mát-xcơ-va, Lê-nin-grát, Xta-lin-grát, Ki-ép, Ô-đe-xa, Xê-va-xtô-pôn và Pháo đài Brét đã được Đoàn Chủ tịch Xô-viết Tối cao Liên Xô ra Sắc lệnh phong tặng danh hiệu Anh hùng. Ngày 14-9-1973, hai thành phố: Nô-vô-rô-sích và Kerch; ngày 26-6-1974: thành phố Min-xcơ, ngày 7-12-1976: Thành phố Tu-la, ngày 6-5-1985: Hai thành phố Múc-man-xcơ và Xmô-len-xcơ tiếp tục được xét tặng danh hiệu cao quý này.

Quần thể tượng đài kỷ niệm trên đồi Ma-mai-ép tại thành phố Vôn-ga-grát.

Sau đây là 4 trong số 13 thành phố Anh hùng tiêu biểu:

* Thành phố-Pháo đài Anh hùng Brét

Pháo đài Brét được xây dựng vào năm 1833-1842 thời nước Nga Sa hoàng, cách thị trấn Brét 2km về phía Tây, bên hữu ngạn sông Buga-Tây, sát biên giới với Ba Lan. Thời Liên Xô đây là nơi đồn trú của quân đội biên phòng Xô-viết.

Ngay từ ngày đầu quân Đức bội ước tấn công Liên Xô (22-6-1941), quân số của quân đội Xô-viết ở đây kể cả lực lượng thuộc Bộ Nội vụ không tới 3,5 nghìn chiến binh. Quân phát xít với lực lượng vượt xa cả về quân số và vũ khí-quân đoàn 12 thuộc “Cụm quân Trung tâm” cùng 3 trung đoàn pháo binh phối hợp, đã hùng hổ tấn công tưởng rằng nhanh chóng nuốt chửng pháo đài này. Trước sức tấn công của bộ binh, pháo binh, xe tăng và không quân Đức, Brét bị rơi vào vòng vây chặt của quân thù. Trong tình thế hiểm nghèo, các chiến sĩ bảo vệ Brét đã thành lập Bộ chỉ huy phòng thủ, đứng đầu là Đại úy I.N. Giu-ba-chốp và chính ủy E.M. Pô-min. Từ ngày 22 cho tới 30-6-1941, quân địch với lực lượng đông gấp rất nhiều lần và vũ khí đủ loại đã nhiều đợt tấn công đồng loạt từ các hướng vào Brét.

Các chiến sĩ Xô-viết với tinh thần quả cảm và mưu trí đã giữ vững được trận địa nhiều ngày, đồng thời mở những đợt phản công quyết liệt, gây cho địch nhiều thiệt hại lớn. Tuy nhiên ở vào thế bị cô lập và không được bổ sung quân số, đạn dược cũng như thiếu thức ăn, nước uống, thuốc men… do những khó khăn lớn và thiệt hại nặng nề của quân đội Xô-viết những ngày đầu chiến tranh, pháo đài Brét dần dần bị quân thù đánh lấn. Các chiến sĩ bảo vệ phải chia lẻ lui dần vào các hang hốc, hầm ngầm để chống cự cho đến hơi thở cuối cùng. Tới ngày 20-7-1941, nhiều chiến sĩ đã hy sinh, một số vì kiệt sức và bị thương đã rơi vào tay giặc, số ít còn lại thoát được vòng vây trở về tham gia phong trào du kích.

* Thành phố anh hùng Mát-xcơ-va – trái tim của đất nước Xô-viết

Từ ngày 30-9-1941, bắt đầu trận chiến ngoại ô thủ đô Mát-xcơ-va, một trong những chiến dịch lớn nhất của Chiến tranh thế giới thứ II. Với ý đồ chiến lược là chiếm cho được Mát-xcơ-va, theo kế hoạch “chiến tranh chớp nhoáng”, Bộ Tổng chỉ huy Đức đã tung vào đây một lực lượng vượt trội so với quân đội Xô-viết: Quân số gấp 1,4 lần (1,8 triệu so với 1,25 triệu); Vũ khí lớn gấp 1,8 lần (14.000 đơn vị so với 7.600); Xe tăng gấp 1,7 lần (1.700 chiếc so với 990); máy bay gấp 2 lần (1.390 chiếc so với 677).

Các đơn vị của Phương diện quân miền Tây, Quân khu Mát-xcơ-va, nhân dân lao động nội và ngoại thành đã kiên cường đánh trả quân thù. Từ các vùng, miền, các nước Cộng hòa trong Liên bang đã nhanh chóng đưa tới mặt trận này những đội quân, những đoàn tàu, xe chở vũ khí để góp sức cùng quân, dân Mát-xcơ-va đánh địch. Dựa vào hậu phương vững chắc, với tinh thần quả cảm, các chiến binh Xô-viết hết đợt này tới đợt khác giành giật với quân thù từng tấc đất, ngôi nhà, từng thôn xóm, làng mạc ở ngoại ô thành phố.

Báo “Sự thật” – Cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Liên Xô ra lời kêu gọi: “Không để quân thù tiến thêm một bước tới Mát-xcơ-va!”. Ngày 5 đến 6-12-1941 bắt đầu cuộc phản công của các lực lượng vũ trang Xô-viết. Khắp nơi trên ngoại thành Mát-xcơ-va mịt mù lửa đạn. Các phương diện quân Miền Tây, Ka-li-nin, Bri-an-xcơ, Tây-Nam, các tập đoàn không quân đã phối hợp chiến đấu, từng bước đẩy lùi quân phát xít ra khỏi ngoại ô Thủ đô và các vùng rộng lớn bao quanh hơn 11 nghìn điểm dân cư. 38 sư đoàn thiện chiến thuộc “Cụm quân Trung tâm” của địch bị đánh tan. Hơn nửa triệu lính và sĩ quan Đức bị tiêu diệt. 1.300 xe tăng, 2.500 đại bác, hơn 15 ngàn xe quân sự, 1.600 máy bay địch bị phá hủy và bắn rơi. Quân Đức bị đẩy lùi khỏi vùng Mát-xcơ-va từ 100 đến 350km.

* Thành phố mang tên Lê-nin – cái nôi của cách mạng Tháng Mười Nga

Là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, khoa học và văn hóa lớn nhất của Liên Xô, do vậy khi vạch kế hoạch tấn công Liên Xô, phát xít Đức đã đặt mục tiêu xâm chiếm Lê-nin-grát (Xanh Pê-téc-bua) trong thời gian gần và nhanh nhất. Với mục tiêu chính trị và chiến lược: xóa bỏ khỏi bản đồ thế giới “cái nôi” cách mạng này, Hít-le đã đưa vào chiến dịch “Cụm quân Bắc” gồm 23 Sư đoàn bộ binh, 6 Sư đoàn xe tăng-cơ giới và Tập đoàn không quân số 1 (760 máy bay chiến đấu các loại). Ngoài ra, một lực lượng hùng hậu của quân đội Phần Lan và Na Uy cũng phối hợp với quân Đức tập kích từ phía Bắc và Tây Bắc thành phố. Bộ Tổng tư lệnh Tối cao Xô-viết đã dùng một lực lượng lớn không-hải-lục quân phía Bắc đất nước cho chiến dịch phòng thủ đặc biệt. Toàn thể cư dân thành phố, từ trẻ em, phụ nữ, người già đến công nhân, viên chức nhà nước… đều dũng cảm chịu đựng mọi hy sinh gian khổ để bảo vệ thành phố.

Trong 900 ngày đêm bao vây Lê-nin-grát, quân phát xít đã trút xuống thành phố hơn 100.000 quả bom cháy, bom na-pan, hơn 4000 quả đạn phá, gần 150 nghìn đạn đại bác; hơn 16.000 người bị giết, hơn 33.000 người bị thương; hơn 10 nghìn ngôi nhà bị phá hủy và hỏng nặng, song quân và dân của thành phố mang tên Lê-nin đã dũng cảm, kiên cường đánh trả kẻ thù, từ phòng thủ dần chuyển sang thế chủ động phản công.

Người chiến sĩ giải phóng” – tượng của Vút-xê-tích. Ảnh tư liệu

Từ ngày 12-1-1943, các cánh quân của Phương diện quân Lê-nin-grát, Phương diện quân Vôn-khốp cùng Hạm đội Ban-tích và Giang đoàn hồ La-đôi bắt đầu phản công để giải vây thành phố. Vào cuối tháng 1-1944, thành phố đã hoàn toàn được giải phóng sau 900 ngày đêm bị quân thù bao vây phong tỏa.

* Thành phố Anh hùng Xta-lin-grát (Vôn-ga-grát) – nơi diễn ra trận thắng tạo bước ngoặt quyết định

Là trung tâm công nghiệp và văn hóa, đầu mối giao thông nối miền Nam với vùng Trung tâm của Liên Xô, Xta-lin-grát là một vị trí chiến lược rất quan trọng. Do vậy, trong lúc đang bao vây Lê-nin-grát và đang bị đánh trả quyết liệt ở ngoại ô Mát-xcơ-va, Bộ Tổng chỉ huy Đức vẫn dùng một lực lượng rất lớn là “Cụm tập đoàn quân B”, trong đó có Tập đoàn quân số 6 thiện chiến do Thống chế F. Paulus chỉ huy hòng mau chóng chiếm được thành phố này, để từ đó làm chủ được vùng rộng lớn phía Nam Liên Xô.

Sau 125 ngày phòng thủ, cầm cự, từ 19-11-1942, quân đội Xô-viết chuyển sang phản công, chia cắt và bao vây quân địch từng cụm để tiêu diệt chúng. 75 ngày đêm tiếp theo là cuộc phản công chiến lược của quân đội Liên Xô. Cho tới ngày 2-2-1943, quân dân Xta-lin-grát đã đánh tan Tập đoàn quân số 6, Tập đoàn xe tăng số 4 của Đức, Tập đoàn quân số 3 và 4 Ru-ma-ni, Tập đoàn quân số 8 I-ta-li-a. Kết quả là 1,5 triệu binh lính, sĩ quan và tướng tá Đức, Ru-ma-ni và I-ta-li-a bị tiêu diệt và bắt sống (trong đó có Thống chế Paulus); phá hủy 2 ngàn xe tăng, hơn 10 ngàn đại bác vào pháo; bắn rơi gần 3000 máy bay các loại.

Chiến thắng Xta-lin-grát đã tạo bước ngoặt lịch sử quyết định của cuộc chiến. Từ đây, quân đội Liên Xô chuyển sang tấn công toàn diện quân xâm lược Đức trên khắp các mặt trận. Ngày 28-11-1943, tại Tê-hê-ran (thủ đô I-ran) đã diễn ra hội nghị các nguyên thủ của 3 cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh. Tại đây, Thủ tướng Anh Sớc-sin (Churchill) đã chuyển món quà đặc biệt – là thanh kiếm danh dự của nhà vua Anh Gê-oóc-ghi (Gheorghi) VI tặng quân và dân Xta-lin-grát. Trên thanh kiếm khắc dòng chữ: “Quà của vua Gheorghi VI tặng những người có trái tim thép, các công dân Xta-lin-grát với lòng kính trọng của nhân dân Anh dành cho họ”. Xta-lin đã nhận và chuyển món quà đầy ý nghĩa đó cho các công dân thành phố Anh hùng này ngay sau khi từ hội nghị trở về.

Xuân Hữu
qdnd.vn