Tag Archive | Dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đền Hùng

Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, TP Việt Trì, Phú Thọ là nơi thờ các Vua Hùng – Tổ Tiên chung của dân tộc Việt Nam. Đây là một khu di tích đặc biệt quan trọng, qua các thời kỳ lịch sử luôn được Nhà nước và nhân dân quan tâm, gìn giữ. Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chủ Tịch đã 2 lần về thăm Khu di tích này.

Sau hiệp định Geneva, ngày 19.9.1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Đền Hùng làm nơi gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong – Sư đoàn 308, căn dặn về nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô. Cuộc gặp mặt của lãnh tụ Hồ Chí Minh với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong không phải là sự tình cờ, mà là chủ đích của Người. Lần đầu tiên, cả chặng đường dài mấy ngàn năm của lịch sử dân tộc, được Người tổng kết trong một câu nói lịch sử nổi tiếng:

Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước

Trong thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhiệm vụ lịch sử và nhiệm vụ cách mạng của dân tộc là dựng nước và giữ nước, lúc đó việc nghiên cứu khoa học về thời đại Hùng Vương chưa có điều kiện để tiến hành; Quy luật dựng nước và giữ nước trong lịch sử chưa được tổng kết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định thời đại Hùng Vương là thời kỳ lịch sử có thật của dân tộc; Các Vua Hùng là người đã khai sinh ra đất nước Việt Nam. Sự khẳng định quy luật dựng nước và giữ nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền Hùng không những có ý nghĩa giáo dục lớn, mà còn là sự quan tâm và ý thức tôn vinh Tổ Tiên – Các Vua Hùng – của người đứng đầu Nhà nước thời hiện tại. Sự nghiệp cách mạng rất đỗi vẻ vang nhưng còn nhiều gian khổ, đòi hỏi những hy sinh vô cùng to lớn, niềm tự hào vững chắc về Tổ Tiên dựng nước là nguồn cổ vũ hết sức lớn lao của nhân dân cả nước. Chọn Đền Hùng để khẳng định nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã tôn vinh Đền Hùng lên một tầm cao mới của lịch sử.

Trong lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “các Vua Hùng đã có công dựng nước”, Người đã viện dẫn đến những con người có thật trong buổi đầu của lịch sử dân tộc, đồng thời cũng là một biểu tượng cao quý mà các thế hệ con cháu người Việt Nam đời này qua đời khác tôn thờ. Nói về Các Vua Hùng ngay tại nơi thiêng liêng mà bao đời người Việt trở về trong tâm thức cũng như trong đời sống thường nhật – Đền Hùng – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi gợi cho chúng ta ý thức dân tộc, ý thức cội nguồn. Trên thế giới không có một dân tộc nào lại không có bề dày lịch sử của dân tộc mình, điều đó quyết định sức sống, sự thống nhất và phát triển của mỗi một dân tộc. Dân tộc Việt Nam đã trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hôm nay tất yếu của sự phát triển là nhiệm vụ tiếp tục dựng nước và giữ nước của các thế hệ con cháu người Việt Nam. “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Năm 1962, Đế quốc Mỹ chuẩn bị cuộc chiến tranh đánh phá cả miền Bắc. Cả nước thành chiến trường chống Mỹ. Một lần nữa, Đền Hùng lại đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào ngày 19.8.1962. Trong hồ sơ Di tích lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng có ghi lời dặn của Người khi lên tới đỉnh núi Hùng: Đã đi là phải tới đích, leo núi là phải lên đến đỉnh, cũng như người làm cách mạng không được bỏ dở chừng. Người còn dặn phải trồng thêm hoa, cây cối để Đền Hùng trở thành một công viên lịch sử cho con cháu sau này đến thăm viếng. Cả 2 lần Người về Đền Hùng, cả 2 lần Người đều lên đến đỉnh cao mà ngày xưa Tổ Tiên của người Việt Nam từng mơ ước cầu Trời cho mưa thuận gió hòa, an dân hạnh phúc.

Điểm lại sự kiện 2 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng không phải vì sợ hãi trước những khó khăn của lịch sử mà phải mượn tới vong linh của Tổ Tiên, để tìm một sức mạnh bởi niềm tin huyễn hoặc vào cõi thánh thần. Nhân dân ta vốn coi trọng nguồn gốc, tha thiết ở tình cảm “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả không quên ơn người trồng cây”, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đền Hùng, viện dẫn đến “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”, chính là để ca ngợi sự cố gắng quyết tâm dựng nước và giữ nước trong thời đại mới, từ đó khơi dậy những tình cảm thiêng liêng của dân tộc, để từ truyền thống lịch sử tạo ra những điều bất diệt, tạo lên sức mạnh và nguồn sinh lực mới cho cuộc sống, để dân tộc hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng, đi đến đích của mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong lịch sử hiện đại, bắt đầu bằng ý chí và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã hướng đạo cho chúng ta quan tâm xây dựng tôn tạo Khu di tích lịch sử Đền Hùng ở tầm cao của thời đại mới. Kỳ họp thứ 11 của Quốc hội Khóa XI đã thông qua sửa đổi Điều 73 của Bộ luật Lao động, cho phép người lao động cả nước được nghỉ ngày mùng 10.3 âm lịch. Đó là điều kiện tốt để đồng bào cả nước về thăm viếng Đền Hùng, dự lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương, tri ân công đức của Tổ Tiên, tạo động lực tinh thần yêu nước, gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân. Khu di tích lịch sử Đền Hùng trong thời hiện tại, không chỉ gắn với Các Vua Hùng – Tổ tiên của dân tộc Việt Nam, mà còn gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người con ưu tú nhất của dân tộc, người thầy vĩ đại nhất của Cách mạng Việt Nam, những tiền nhân có công dựng nước và giữ nước.

Ts  Nguyễn Thị Tuyết Hạnh
Phó giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng

daibieunhandan.vn

Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là nhà cách mạng, là danh nhân lịch sử, đó là điều hiển nhiên. Nhưng đồng thời, Hồ Chí Minh còn là danh nhân văn hóa, không phải chỉ ở khối lượng rộng lớn các kiến thức mà Người đã huy động để làm một nhà văn hóa phương Đông hoặc phương Tây, hoặc Đông – Tây kết hợp; mà là nhằm vào một sự nghiệp cao cả, với sự nghiệp đó, cả một dân tộc và cả một nền văn hóa được phục hưng.

Trong bối cảnh cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức và trước yêu cầu lịch sử của cách mạng dân tộc và dân chủ nhân dân buổi đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, bước khởi đầu của công cuộc tìm đường phải là sự trang bị một bản lĩnh văn hóa, để được soi sáng về nhận thức và lý luận. Ở những cuộc cách mạng của các dân tộc phương Đông – nơi phải chìm đắm trong đêm trường phong kiến và chịu quá nặng chính sách ngu dân của chủ nghĩa thực dân, công cuộc tìm đường được trao cho người trí thức, và Nguyễn Ái Quốc đã đón nhận trách nhiệm lịch sử đó, ở tư cách người trí thức, và do thế Nguyễn đã quyết tâm tự đào tạo mình thành trí thức. Khác trước đây, Lê Lợi tìm đến Nguyễn Trãi, Quang Trung tìm đến các sĩ phu, Nguyễn Ái Quốc, rồi Hồ Chí Minh của thế kỷ XX phải kết hợp cả hai trọng trách và thực hiện cùng lúc hai quá trình trí thức hóa cách mạng và cách mạng hóa trí thức. Khía cạnh văn hóa ở danh nhân Hồ Chí Minh, do nhu cầu lịch sử như trên, tất yếu và tự nhiên gắn với cách mạng; trở thành văn hóa cách mạng. Nói cách khác, Nguyễn Ái Quốc phải lo cách mạng hóa văn hóa, để văn hóa trở thành công cụ trực tiếp của cách mạng.

Trọn vẹn quá trình hoạt động cách mạng hơn nửa thế kỷ, tất cả những gì Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói và viết, bằng nhiều ngôn ngữ, trên nhiều loại văn, đều nhằm vào mục tiêu cách mạng. Câu hỏi hàng đầu Nguyễn Ái Quốc đặt ra cho hoạt động viết của mình là Viết cho ai? Và câu trả lời ở mọi thời điểm viết của tác giả, cũng là điều tác giả mong mọi người Việt Nam nhất trí là viết cho quần chúng số đông – để đưa quần chúng vào trường đấu tranh cách mạng, để nâng cao dân trí, để giúp quần chúng hiểu và thực hiện có hiệu quả mọi hoạt động nhằm tồn tại và tự giải phóng bản thân.

Khía cạnh văn hóa ở danh nhân Hồ Chí Minh là văn hóa cách mạng; và để đạt hiệu quả cách mạng, nó phải là văn hóa hành động, văn hóa nhằm thức tỉnh quần chúng, văn hóa gắn với nhu cầu thực tiễn theo hướng giúp cho con người năng lực tự giải phóng, và sự giải phóng con người.

Chính do bản thân đã là sự kết hợp nhuần nhuyễn văn hóa với cách mạng, nên Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên có nhu cầu và khả năng, bằng hoạt động lý luận và thực tiễn của mình, đi đầu và góp phần tiến hành công cuộc cách mạng văn hóa ở Việt Nam. Cuộc cách mạng văn hóa mà Hồ Chí Minh khởi xướng và lãnh đạo được bắt đầu bằng một loạt chủ trương và biện pháp – từ cuộc vận động thanh toán nạn mù chữ và phong trào Bình dân học vụ nhằm chống giặc dốt, đến các cuộc vận động Đời sống mới, cải cách lối sống và phong cách làm việc; từ yêu cầu phát triển nền giáo dục và y tế quốc dân đến từng bước gây dựng phong trào văn nghệ nhân dân… Mọi hoạt động trên lĩnh vực báo chí, ngôn luận, tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ đều phải nhằm vào nhân dân, lấy dân làm đối tượng phục vụ, từng bước nâng cao trình độ quần chúng, theo hướng kết hợp phổ cập và nâng cao…

Ở tư cách một nhà hoạt động cách mạng rồi trở thành lãnh tụ của dân tộc, Hồ Chí Minh đã có tầm nhìn chiến lược để nắm được các nhu cầu cơ bản và cấp thiết của quần chúng, tạo những khởi động quyết định nhằm giải phóng nhân dân lao động, giải phóng con người. Ở phạm vi hẹp của hoạt động văn hóa, chính Nguyễn Ái Quốc là tác giả Việt Nam đầu tiên, từ những năm 1920 đã góp công đầu vào việc giải quyết hai yêu cầu lịch sử đặt ra cho nền văn hóa mới Việt Nam nói chung và văn học nghệ thuật Việt Nam nói riêng là cách mạng hóa và hiện đại hóa – cơ sở để khắc phục những so le lịch sử giữa dân tộc và thời đại.

Thế kỷ XX đối với Việt Nam là thế kỷ cách mạng hóa một dân tộc, đưa dân tộc thoát khỏi số phận nô lệ; Đồng thời, là thế kỷ khoa học hóa, đưa trình độ nhân dân thoát khỏi một thời điểm quá thấp, trên 95% số dân mù chữ. Người đã viết và sử dụng sành sỏi tiếng Pháp, tiếng Hán cũng chính là người quan tâm hơn ai hết đến khả năng của tiếng Việt, sao cho tiếng Việt đến được với mọi tầng lớp đồng bào. Khi chưa có một cuộc cách mạng đem lại quyền sống, cơm áo và tự do cho đồng bào thì việc làm báo (Từ Le Paria, Việt Nam hồn đến Việt Nam độc lập) là nhằm đưa lại một ánh sáng văn hóa để soi cho họ con đường đến với cách mạng chính trị. Người biết viết cho một công chúng chọn lọc bằng cách huy động tất cả vốn kiến thức của nhiều chục năm tích lũy từ nhiều nền văn hóa, như trong Bản án chế độ thực dân Pháp và Nhật ký trong tù, cũng chính là người biết viết cho một công chúng đang thanh toán nạn mù chũ. Trong Sửa đổi lối làm việc, trong Cách viết, trong những bài nói chuyện, bài viết của Hồ Chí Minh với các giới văn hóa, khoa học, nghệ thuật, Người đã góp công lớn xây dựng nền tảng cơ bản cho quá trình khoa học hóa, văn hóa hóa nền dân trí Việt Nam.

Văn hóa và Cách mạng; Văn hóa cách mạng và cách mạng văn hóa; Văn hóa phục vụ nhân dân và đưa nhân dân lên một trình độ cao của văn hóa; Văn hóa kiến thức và văn hóa đạo đức – lối sống… tất cả những khía cạnh đó ta đều có thể tìm thấy trong tầm bao quát của danh nhân Hồ Chí Minh, và cũng được biểu hiện trong toàn bộ hoạt động của nhà cách mạng Hồ Chí Minh. Không chỉ trên các bài viết, bài nói chuyện – thường rất ngắn gọn, mà chủ yếu là sự gắn bó với hành động, sự hòa thấm vào hành động, hơn nữa, sự nêu gương trong hành động – đó cũng là khía cạnh nổi bật, trở thành nét độc đáo, nét riêng của Hồ Chí Minh, làm thành phong cách sống của Hồ Chí Minh.

Phong Lê

daibieunhandan.vn

Giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới công nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất bằng cả một sự nghiệp văn hóa đồ sộ mà Người đã cống hiến cho dân tộc và nhân loại.

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người đã khởi xướng phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc địa, giành lại độc lập, tự do . Ðó không chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường, mà còn là một sự nghiệp văn hóa cao cả.

“Ðổi người nô lệ thành người tự do”, phát động lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của một dân tộc phần đông còn mù chữ và thất học vùng dậy đấu tranh giành độc lập, đó là một sự nghiệp gian nan và phi thường, đồng thời cũng là một sự nghiệp văn hóa vĩ đại. Bởi vì, giải phóng con người khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, cái dốt, là một sự nghiệp văn hóa có ý nghĩa cao cả nhất, đầy đủ nhất, một ước mơ ngàn đời của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người đã sớm thấy vai trò và sức mạnh của văn hóa, đã sớm đưa văn hóa vào chiến lược phát triển của đất nước .

Giành được độc lập rồi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng dân tộc mình lên một tầm văn hóa mới. Người đề nghị mở ngay chiến dịch chống giặc dốt . Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những truyền thống lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”… “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta… phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”(1).

Người phát động phong trào Ðời sống mới , xây dựng và phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân; mỗi ngành, mỗi giới đều có phong trào riêng của mình. Công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người đã đưa văn hóa đi sâu vào quần chúng, tác động như một sức mạnh vật chất, biến đổi phong hóa, cải tạo con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. Người là kiến trúc sư vĩ đại của công cuộc cải cách và xây dựng nền văn hóa Việt Nam , tạo ra một cách nhìn mới, một thế giới quan mới, tạo lập một ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật, ý thức nghệ thuật mới… chưa từng có trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Trên cơ sở đó, Người đã đánh thức các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Namđịnh hướng cho sự ra đời một nền đạo đức mới, một xã hội nhân cách mới. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xã hội nhân cách – đạo đức ấy được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước  chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, theo nhân cách luận của người chiến sĩ cách mạng kiểu mới: trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư … Sau khi đã lãnh đạo toàn dân giành lại quyền độc lập, tự do cho Tổ quốc, Người đã đưa văn hóa Việt Nam lên vị trí xứng đáng trong nền văn hóa thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì bản thân Người là một nhà hoạt động và sáng tạo văn hóa lớn .

Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, Ðông và Tây . Từ nhỏ, Người đã được hấp thụ một nền văn hóa dân tộc và văn hóa phương Ðông sâu sắc. Trên đường học tập và nghiên cứu, Người đã từng bước hấp thụ văn hóa nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hóa cách mạng Pháp. Chính trí tuệ siêu việt, vốn sống thực tế phong phú và vốn văn hóa rộng lớn đã dẫn Người đến với Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, kết tinh thành tựu văn hóa của loài người. Người đã làm chủ được nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch…; khi xuất hiện như một nhà báo phương Tây sành sỏi, khi lại trầm tĩnh, hàm súc như một thi sĩ cổ điển phương Ðông.

Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại, để từ đó vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hóa thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Bản thân Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn, nhà báo cách mạng vĩ đại . Thơ Hồ Chí Minh có bài viết bằng tiếng Việt, có bài viết bằng  chữ Hán, song không bài thơ nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hòa bình… sự cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đó là những nội dung chủ yếu trong thơ Hồ Chí Minh.

Vì vậy, những bài thơ ngẫu hứng, sản phẩm của một thời, trong đó không ít bài đã ra đời trong cảnh tù đày, biệt xứ, đã trở thành “thơ của muôn đời”, đã làm “xáo trộn cả tâm hồn nhân loại” bởi những giá trị nhân văn cao quý, tỏa sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là nhà văn lớn , là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người đã tìm tòi và viết nhiều thể loại: tiểu thuyết du ký, truyện viễn tưởng, truyện ngắn, thư từ, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận.

Ở lĩnh vực nào Người cũng đạt được những thành tựu đặc sắc, đem lại những yếu tố rất mới, rất hiện đại và giữ nguyên giá trị trong sự đổi mới văn học hôm nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một bậc thầy của báo chí cách mạng Việt Nam . Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà thơ, nhà văn, chỉ nhận mình là “người có nhiều duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng đầu tiên ở nước ta.

Những bài báo ngắn gọn của Người đã góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa. Tất cả những gì Người viết ra đều là sự phản ánh trung thực, hồn nhiên vẻ đẹp cao quý trong đạo đức, trí tuệ và tâm hồn của một nhân cách lỗi lạc, vì vậy, tất cả đều hiện ra chân thực, giản dị, tự nhiên, vốn là những chuẩn mực tiêu biểu cho cái đẹp – cái hoàn thiện của con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất bởi Người còn là mẫu mực của tinh thần khoan dung văn hóa. Người nhắc nhở phải giữ gìn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng không tự bó mình trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận, mà kêu gọi phải ra sức nghiên cứu, học tập tinh hoa văn hóa của thế giới, xưa và nay. Người trân trọng mọi giá trị văn hóa nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Người từng thừa nhận mình là học trò của Các Mác, Giê-su, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, vì “các vị ấy đều có điểm chung giống nhau là mưu cầu hạnh phúc cho loài người… Nếu họ còn sống và ở gần nhau, tôi tin họ sẽ chung sống thoải mái với nhau như những người bạn tốt”.

Ðối với các tôn giáo, Người thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định ý tưởng cao đẹp và những giá trị nhân bản của các vị sáng lập ra các tôn giáo đó, không hề bài bác hay phủ định, mà biết khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất vì Người còn là hiện thân rực rỡ của văn hóa hòa bình, của đường lối ngoại giao hòa bình , luôn luôn chủ trương giải quyết mọi tranh chấp, xung đột bằng thương lượng, đối thoại với thái độ hiểu biết và nhân nhượng lẫn nhau.

Tóm lại, có thể khẳng định Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hóa của thế giới.

Nhiều chủ trương văn hóa được Người đề ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ 20, như: xóa mù chữ, trồng cây phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, yêu mến và kính trọng người già, v.v. đến đầu những năm 90 đã được Liên hợp quốc đề lên thành những cuộc vận động lớn trên toàn thế giới. Ðúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Ðồng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy của báu, là di sản chứa đựng bao giá trị, giá trị đó, nói cho cùng, là giá trị văn hóa mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu”(2).

Sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh vô cùng phong phú: có văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa giao tiếp – ứng xử, văn hóa khoan dung, văn hóa – văn nghệ,… Văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc với những yếu tố tích cực trong văn hóa phương Ðông, văn hóa các tôn giáo, văn hóa dân chủ – cách mạng phương Tây, văn hóa mác-xít,… để trở thành văn hóa tiên tiến, mang những giá trị nhân văn sâu sắc, vốn là nội dung cốt lõi của văn hóa nhân loại.

Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là văn hóa yêu nước, thương dân, hướng tất cả vào phục vụ sự nghiệp đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân; là văn hóa trọng dân “lấy dân làm gốc”.

Với tâm niệm “có dân là có tất cả”, nên Người thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên phải lo “sao cho được lòng dân”, phải phấn đấu trở thành người công bộc  trung thành và tận tụy của nhân dân. Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh vượt lên trên mọi sáo ngữ, giáo điều (nói nhiều làm ít, nói hay làm dở), đó là sự chung đúc những giá trị của các học thuyết trị nước tiến bộ mà các bậc anh hùng dân tộc, các minh quân, lương tướng đã theo đuổi trong lịch sử dân tộc và nhân loại. Chính vì thế nó chứa đựng những giá trị nhân văn cao quý.

Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh là văn hóa hành thiện, cổ vũ làm điều thiện, sống với nhau có tình, có nghĩa, muốn thế phải thực hiện cho tốt 8 chữ vàng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết kết hợp hài hòa lợi ích chung với lợi ích riêng, sống trung thực, giản dị, khiêm tốn, nói đi đôi với làm, ít lòng tham muốn về vật chất,… nhờ đó mà có thể “sống oanh liệt, chết vẻ vang”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là hiện thân sinh động của văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh. Như một người từng đối đầu với Hồ Chí Minh – tướng Valluy thừa nhận: “Hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi riêng tư, dưới con mắt những người chung quanh và những người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ”(3).

Thắng lợi của cách mạng, vinh quang của quyền lực, hay danh vọng của cá nhân không thể nào làm lu mờ tấm gương đạo đức của Người. Vì vậy, trong thế giới của những người cầm quyền, hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật hơn bao giờ hết.

Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh , nói rộng ra là phương châm xử thế, Hồ Chí Minh luôn luôn là người trung hậu, thủy chung với nhân dân, với đồng chí, đồng bào và với bạn bè quốc tế: Người thấy rừng và thấy cả từng cây, không bỏ sót một ai cả, không quên bất cứ một nghĩa cử nào, dù nhỏ, đã từng ủng hộ, giúp đỡ cách mạng Việt Nam; nhưng Hồ Chí Minh lại không bao giờ nhắc đến người cũ, chuyện cũ đã từng có lúc đối xử không đúng với Người; nếu có ai nhắc đến. Người cũng gạt đi. Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh cực kỳ tinh tế, uyển chuyển, có lý có tình, khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp.

Ứng xử văn hóa của Hồ Chí Minh đã tranh thủ được trái tim, khối óc của bạn bè năm châu, làm cho kẻ thù cũng phải khâm phục.

Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống nhân ái, độ lượng Việt Nam và cũng là nét đặc trưng của văn hóa hòa bình trong thời đại ngày nay. Người nói: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái”. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những giá trị khoan dung của dân tộc và nhân loại, nâng lên thành một chất lượng mới, ở một tầm cao mới.

Là người cộng sản, Hồ Chí Minh có thái độ tôn trọng, không bao giờ tỏ ra kỳ thị, bài bác mà luôn luôn có ý thức khai thác, vận dụng những yếu tố tích cực của các học thuyết chính trị và tôn giáo như Nho, Phật, Lão, Thiên chúa giáo,… vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chữ “nhân”, nhưng là một chữ nhân sáng suốt, có nguyên tắc, lấy công lý, chính nghĩa là nền tảng, chủ trương giải quyết những vấn đề dân tộc và quốc tế trên cơ sở “có lý, có tình”.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là thái độ trân trọng đối với mọi giá trị văn hóa nhân loại, là không ngừng rộng mở, thâu hóa những yếu tố tích cực, tiến bộ và nhân văn của loài người để làm giàu cho văn hóa ViệtNam. Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là chấp nhận giao lưu và đối thoại bình đẳng về giá trị để đạt tới cái chung, cái nhân loại, để cùng tồn tại và phát triển. Trong khi chống thực dân Pháp xâm lược, Người vẫn đề cao văn hóa Pháp. Trong khi chống đế quốc Mỹ, Người vẫn ca ngợi truyền thống văn hóa dân chủ và cách mạng Mỹ.

Nói về văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, nhà báo Mỹ D. Halberstam đã thừa nhận: “Cụ Hồ đã làm được một điều đáng chú ý: biết dùng tới văn hóa và tâm hồn kẻ thù để chiến thắng”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản văn hóa cao đẹp và phong phú, trong đó không thể không nhắc tới những tư tưởng chỉ đạo của Người về xây dựng một nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học và nhân văn , một nền văn hóa “lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”, “làm cho ai cũng có lý tưởng độc lập, tự chủ”, “văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ”, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”(5)… Những phương châm đó vẫn giữ nguyên giá trị chỉ đạo đối với việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, cho hôm nay và cả mai sau.

Khẳng định những giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa và con người Hồ Chí Minh, nhà báo Jean Lacouture- người được coi là một nhà viết tiểu  sử Hồ Chí Minh hay nhất ở phương Tây, đã viết: “Ðó là một tấm trí minh mẫn, ít ham thích bạo lực, một thái độ rất độc đáo về quan hệ giữa người với người, một trình độ văn hóa tự học khá rộng nhưng rất thông hiểu, một tinh thần hài hước, trong đó bám rễ vào các tập quán châu Á luôn luôn kết hợp với những ảnh hưởng phương Tây, một tinh thần thanh bạch, một sự khắc khổ tự nhiên được ý chí làm cho vững chắc thêm lên, một nghị lực có một không hai. Vâng, tất cả những nét đó trở thành bí quyết của Cụ Hồ trước những thử thách của đời sống xã hội”(6).

Ðúng như Jean Lacouture đã dự báo, tư tưởng và sự nghiệp văn hóa của Hồ Chí Minh đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử và vẫn đang tiếp tục tỏa sáng, đặc biệt là ở vào thời điểm hiện nay, trong một thế giới đang biến động và đầy lo âu; khi mà sự sa sút về đạo đức, sự phản trắc, lừa đảo, hãm hại lẫn nhau,… đang có nguy cơ tăng lên; khi mà hình ảnh của một số lãnh tụ cầm quyền ở nơi này, nơi khác đang bị phê phán và hạ bệ, thì hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật lên trước con mắt của nhân loại hơn bao giờ hết.

Một nhà báo Venezuelađã viết rất thuyết phục: “Bộ máy tuyên truyền của đế quốc và các thế lực phản động đã rất nổi tiếng trong nghệ thuật vu khống xấu xa, hòng làm mất uy tín những địch thủ của họ. Họ đã chi tiêu rất nhiều tiền hòng bôi nhọ trước dư luận quốc tế đối với những ai, bằng cách này hay cách khác chống lại sự thống trị của họ… Tất cả những lãnh tụ cộng sản nổi tiếng trên thế giới đều được các hãng thông tấn của họ dán cho những “nhãn hiệu” như là những kẻ cướp hoặc khủng bố đáng tội treo cổ! Duy chỉ có Bác Hồ, do tấm gương cuộc đời và đạo đức của Người, đã làm cho những kẻ chuyên nghề vu cáo phải kính nể”(7).

Theo Nhân dân

cpv.org.vn

Sự giản dị tinh khiết

Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa. Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức. Hồ Chí Minh đã và đang tạo nên một nền văn hóa truyền thống và hiện đại Việt Nam, văn hóa Hồ Chí Minh. 

Hồ Chí Minh tâm niệm và phấn đấu để: “…Dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Từ mục đích sống đó, Hồ Chí Minh xây dựng nên đạo đức văn hóa. Văn hóa vì nhân dân! Sự nghiệp cách mạng sôi nổi, Bác Hồ viết rất nhiều với hầu hết các thể loại: báo chí chính luận, truyện ngắn, kịch, thơ ca, mỹ thuật…

Đã có hàng triệu trang viết nghiên cứu, tổng kết, khẳng định về văn hóa Hồ Chí Minh. Là lãnh tụ, khi nói về Đảng, nói cách khác là khi đề cập đến nhiệm vụ chính trị, Bác thường sử dụng “mệnh lệnh thức” – phải, cần… Là nhà văn hóa, khi nói về văn hóa văn nghệ, Bác luôn có cách nói “ tu từ” của người trong cuộc, cảm thông, động viên, khuyến khích… cũng, nên, hãy…

Chúng ta nhớ lại một vài quan niệm của Người về văn hóa ai cũng nhớ.

– “Làm thơ ta vốn không ham”

– “Nay ở trong thơ nên có thép/Nhà thơ cũng phải biết xung phong”ù

– “Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận. Anh chị em văn nghệ là những chiến sĩ trên mặt trận ấy”

– “Tôi chỉ là học trò nhỏ của nhà văn L.Tolstoi…”

Tài sản và giá trị văn hóa Hồ Chí Minh được ghi nhận và khẳng định bằng số lượng sáng tác của Hồ Chí Minh, đồng thời qua Người, những giá trị văn hóa truyền thống, tinh hóa văn hóa thế giới, có điều kiện tỏa sáng trong cuộc sống hiện đại. Hồ Chí Minh là sự kết tinh, hội tụ văn hóa diệu kỳ, thú vị.

Để hiểu thêm giá trị văn hóa Hồ Chí Minh, chúng ta cần tìm hiểu đạo đức Hồ Chí Minh. Trước hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm đạo đức trong phạm trù mỹ học. Đạo đức là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”. “Đạo đức cộng sản chủ nghĩa là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng, rèn luyện theo tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp tiên phong mà có”. Như vậy có thể hiểu đạo đức Hồ Chí Minh là phẩm chất tốt đẹp của truyền thống dân tộc và tính hiện đại của giai cấp công nhân trong thời đại cách mạng mới.

Ngắn gọn, rõ ràng, chân thành, luôn có chủ đích trong sáng tác… là thể hiện tính tiết kiệm, trong sáng, hiệu quả trong đời sống xã hội… tạo dựng nên sự giản dị tinh khiết, là nét đẹp đạo đức văn hóa Hồ Chí Minh. Cho nên khi đọc sáng tác của Hồ Chí Minh, chúng ta thưởng thức “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”.

Ở đây, chúng ta cần phân định giá trị văn hóa Hồ Chí Minh. Gia tài văn hóa Hồ Chí Minh cực kỳ đa dạng phong phú. Và toàn bộ gia tài đó là văn hóa, có những cấp độ, tầng văn hóa khác nhau. Ví dụ như thơ, có loại là thơ bác học, chuyên nghiệp, có loại là thơ ca dân gian, thậm chí có những loại ở dạng nói vần cho dễ nhớ, dễ thuộc.

Nói đến sáng tác văn học nghệ thuật là nói đến cá tính, phong cách và tác động xã hội… Hồ Chí Minh biết hòa mình vào hình tượng nhân vật và hình tượng cảm xúc, nhưng vẫn lộng lẫy một cá nhân nhà văn hóa. Ngày nay, chúng ta yêu cầu văn nghệ sĩ trước khi là nhà văn hóa hãy là công dân. Nói cách khác, xã hội yêu cầu cá nhân nhà văn hóa phải văn hóa như sáng tác của họ. Hồ Chí Minh là biểu tượng hài hòa tuyệt vời giữa trách nhiệm công dân và giá trị sáng tác.

Sự giản dị tinh khiết của đạo đức văn hóa Hồ Chí Minh là sản phẩm của lịch sử, thời đại thể hiện trong một con người “đại trí, đại nhân, đại dũng Hồ Chí Minh” (lời Quách Mạt Nhược, Trung Quốc).

BTK-theo báo SGGP

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa của thế kỷ XX

* Giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh

a) Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới thừa nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất (éminent homme de culture) bằng cả một sự nghiệp văn hóa đồ sộ mà Người cống hiến cho dân tộc và nhân loại.

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh được thừa nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người khởi xướng phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc địa, giành lại độc lập, tự do. Đó không phải chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường mà còn là một sự nghiệp văn hóa cao cả.

“Đổi người nô lệ thành người tự do”, phát động lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của một dân tộc phần đông còn mù chữ và thất học vùng dậy đấu tranh đòi giải phóng, đó là một sự nghiệp gian nan và phi thường, đồng thời cũng là một sự nghiệp văn hóa vĩ đại. Bởi vì giải phóng con người khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, cái dốt là một sự nghiệp văn hóa có ý nghĩa cao cả nhất, đầy đủ nhất, một ước mơ ngàn đời của nhân loại.

b) Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người đã sớm thấy vai trò và sức mạnh của văn hóa, đã sớm đưa văn hóa vào chiến lược phát triển của đất nước.

Giành được độc lập rồi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng dân tộc mình lên một tầm văn hóa mới. Người đề nghị mở ngay chiến dịch chống giặc dốt. Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những truyền thống lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”… “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta… phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” .

Người phát động phong trào Đời sống mới, xây dựng và phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân; mỗi ngành, mỗi giới đều có phong trào riêng của mình. Công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người đã đưa văn hóa đi sâu vào quần chúng, tác động như một sức mạnh vật chất, biến đổi phong hóa, cải tạo con người.

c) Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. Người là kiến trúc sư vĩ đại của công cuộc cải cách và xây dựng nền văn hóa Việt Nam, tạo ra một cách nhìn mới, một thế giới quan mới, tạo lập một ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật, ý thức nghệ thuật mới,… chưa từng có trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Trên cơ sở đó, Người đã đánh thức các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Nam, định hướng cho sự ra đời một nền đạo đức mới, một xã hội nhân cách mới. Với Hồ Chí Minh, xã hội nhân cách – đạo đức ấy được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, theo nhân cách luận của người chiến sĩ cách mạng kiểu mới: trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,… Sau khi đã lãnh đạo toàn dân giành lại quyền độc lập, tự do cho Tổ quốc, Người đã đưa văn hóa Việt Nam lên vị trí xứng đáng trong nền văn hóa thế giới.

d) Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì bản thân Người là một nhà hoạt động và sáng tạo văn hóa lớn.

– Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại,Đông và Tây. Từ nhỏ, Người đã được hấp thụ một nền văn hóa dân tộc và văn hóa phương Đông sâu sắc. Trên đường học tập và nghiên cứu, Người đã từng bước hấp thụ văn hóa nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hóa cách mạng Pháp. Chính trí tuệ siêu việt, vốn sống thực tế phong phú và vốn văn hóa rộng lớn đã dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, kết tinh thành tựu văn hóa của loài người. Người đã làm chủ được nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch…, khi xuất hiện như một nhà báo phương Tây sành sỏi, khi lại trầm tĩnh, hàm súc như một thi sĩ cổ điển phương Đông. Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại, để từ đó mà vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hóa thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.

– Bản thân Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn, nhà báo cách mạng vĩ đại. Thơ Hồ Chí Minh có bài viết bằng tiếng Việt, có bài viết bằng chữ Hán, song không bài thơ nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hòa bình… sự cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đó là những nội dung chủ yếu trong thơ Hồ Chí Minh. Vì vậy, những bài thơ ngẫu hứng, sản phẩm của một thời, trong đó không ít bài đã ra đời trong cảnh tù đày, biệt xứ ,đã trở thành “thơ của muôn đời”, đã làm “xáo trộn cả tâm hồn nhân loại” bởi những giá trị nhân văn cao quý, toả sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người đã tìm tòi và viết nhiều thể loại: tiểu thuyết du ký, truyện viễn tưởng, truyện ngắn, thư từ, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận. ở lĩnh vực nào Người cũng đạt được những thành tựu đặc sắc, đem lại những yếu tố rất mới, rất hiện đại và giữ nguyên giá trị trong sự đổi mới văn học hôm nay.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một bậc thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà thơ, nhà văn, chỉ nhận mình là “người có nhiều duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng đầu tiên ở nước ta. Những bài báo ngắn gọn của Người đã góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa. Tất cả những gì Người viết ra đều là sự phản ánh trung thực, hồn nhiên vẻ đẹp cao quý trong đạo đức, trí tuệ và tâm hồn của một nhân cách lỗi lạc, vì vậy, tất cả đều hiện ra chân thực, giản dị, tự nhiên, vốn là những chuẩn mực tiêu biểu cho cái đẹp – cái hoàn thiện của con người.

e) Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất bởi Người còn là mẫu mực của tinh thần khoan dung văn hóa. Người nhắc nhở phải giữ gìn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng không tự bó mình trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận, mà kêu gọi phải ra sức nghiên cứu, học tập tinh hoa văn hóa của thế giới, xưa và nay. Người trân trọng mọi giá trị văn hóa nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Người từng thừa nhận mình là học trò của Các Mác, Jésus, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, vì “các vị ấy đều có điểm chung giống nhau là mưu cầu hạnh phúc cho loài người… Nếu họ còn sống và ở gần nhau, tôi tin họ sẽ chung sống thoải mái với nhau như những người bạn tốt”. Đối với các tôn giáo, Người thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lý tưởng cao đẹp và những giá trị nhân bản của các vị sáng lập ra các tôn giáo đó, không hề bài bác hay phủ định, mà biết khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

g) Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất vì Người còn là hiện thân rực rỡ của văn hóa hòa bình, của đường lối ngoại giao hòa bình, luôn luôn chủ trương giải quyết mọi tranh chấp, xung đột bằng thương lượng, đối thoại với thái độ hiểu biết và nhân nhượng lẫn nhau.

Tóm lại, có thể khẳng định Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hóa của thế giới. Nhiều chủ trương văn hóa được Người đề ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ XX, như: xoá mù chữ, trồng cây phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, yêu mến và kính trọng người già, v.v. đến đầu những năm 90 đã được Liên hợp quốc đề lên thành những Cuộc vận động lớn trên toàn thế giới. Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy của báu, là di sản chứa đựng bao giá trị, giá trị đó, nói cho cùng, là giá trị văn hóa mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu” .

*
* *

Sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh vô cùng phong phú: có văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa giao tiếp – ứng xử, văn hóa khoan dung, văn hóa – văn nghệ,… Văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc với những yếu tố tích cực trong văn hóa phương Đông, văn hoá các tôn giáo, văn hóa dân chủ – cách mạng phương Tây, văn hóa mácxít,… để trở thành văn hóa tiên tiến, mang những giá trị nhân văn sâu sắc, vốn là nội dung cốt lõi của văn hóa nhân loại.

Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là văn hóa yêu nước, thương dân, hướng tất cả vào phục vụ sự nghiệp đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân; là văn hóa trọng dân “lấy dân làm gốc”. Với tâm niệm “có dân là có tất cả”, nên Người thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên phải lo “sao cho được lòng dân”, phải phấn đấu trở thành người công bộc trung thành và tận tụy của nhân dân. Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh vượt lên trên mọi sáo ngữ, giáo điều (nói nhiều làm ít, nói hay làm dở), đó là sự chung đúc những giá trị của các học thuyết trị nước tiến bộ mà các bậc anh hùng dân tộc, các minh quân, lương tướng đã theo đuổi trong lịch sử dân tộc và nhân loại. Chính vì thế nó chứa đựng những giá trị nhân văn cao quý.

Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh là văn hóa hành thiện, cổ vũ làm điều thiện, sống với nhau có tình, có nghĩa, muốn thế phải thực hiện cho tốt 8 chữ vàng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết kết hợp hài hòa lợi ích chung với lợi ích riêng, sống trung thực, giản dị, khiêm tốn, nói đi đôi với làm, ít lòng tham muốn về vật chất,… nhờ đó mà có thể “sống oanh liệt, chết vẻ vang”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là hiện thân sinh động của văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh. Như một người từng đối đầu với Hồ Chí Minh – tướng Valluy thừa nhận: “Hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi riêng tư, dưới con mắt những người chung quanh và những người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ” . Thắng lợi của cách mạng, vinh quang của quyền lực, hay danh vọng của cá nhân không thể nào làm lu mờ tấm gương đạo đức của Người. Vì vậy, trong thế giới của những người cầm quyền, hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật hơn bao giờ hết.

Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh, nói rộng ra là phương châm xử thế, Hồ Chí Minh luôn luôn là người trung hậu, thủy chung với nhân dân, với đồng chí, đồng bào và với bạn bè quốc tế; Người thấy rừng và thấy cả từng cây, không bỏ sót một ai cả, không quên bất cứ một nghĩa cử nào, dù nhỏ, đã từng ủng hộ, giúp đỡ cách mạng Việt Nam; nhưng Hồ Chí Minh lại không bao giờ nhắc đến người cũ, chuyện cũ đã từng có lúc đối xử không đúng với Người; nếu có ai nhắc đến, Người cũng gạt đi. Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh cực kỳ tinh tế, uyển chuyển, có lý có tình, khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp. Phương châm xử thế mà Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ và nhân dân ta là:

“Bình tĩnh, sáng suốt khi nguy nan,
Nhẫn nại, ôn hòa khi tức giận.
Linh hoạt, khéo léo tùy trường hợp,
Nguyên tắc quá thường hay lỡ việc,
Cương quyết khi hành động,
Gác lợi riêng mưu nghiệp lớn”…

Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động của những phương châm này. Ứng xử văn hóa của Hồ Chí Minh đã tranh thủ được trái tim, khối óc của bạn bè năm châu, làm cho kẻ thù cũng phải khâm phục.

Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống nhân ái, độ lượng Việt Nam và cũng là nét đặc trưng của văn hóa hòa bình trong thời đại ngày nay. Người nói: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái”. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những giá trị khoan dung của dân tộc và nhân loại, nâng lên thành một chất lượng mới, ở một tầm cao mới.

Là người cộng sản, Hồ Chí Minh có thái độ tôn trọng, không bao giờ tỏ ra kỳ thị, bài bác mà luôn luôn có ý thức khai thác, vận dụng những yếu tố tích cực của các học thuyết chính trị và tôn giáo như Nho, Phật, Lão, Thiên chúa giáo,… vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chữ “nhân”, nhưng là một chữ nhân sáng suốt, có nguyên tắc, lấy công lý, chính nghĩa là nền tảng, chủ trương giải quyết những vấn đề dân tộc và quốc tế trên cơ sở “có lý, có tình”.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là thái độ trân trọng đối với mọi giá trị văn hóa nhân loại, là không ngừng rộng mở, thâu hóa những yếu tố tích cực, tiến bộ và nhân văn của loài người để làm giàu cho văn hóa Việt Nam. Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là chấp nhận giao lưu và đối thoại bình đẳng về giá trị để đạt tới cái chung, cái nhân loại, để cùng tồn tại và phát triển. Trong khi chống thực dân Pháp xâm lược, Người vẫn đề cao văn hóa Pháp. Trong khi chống đế quốc Mỹ, Người vẫn ca ngợi truyền thống văn hóa dân chủ và cách mạng Mỹ.

Nói về văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, nhà báo Mỹ David Halberstam đã thừa nhận: “Cụ Hồ đã làm được một điều đáng chú ý: biết dùng tới văn hóa và tâm hồn kẻ thù để chiến thắng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản văn hóa cao đẹp và phong phú, trong đó không thể không nhắc tới những tư tưởng chỉ đạo của Người về xây dựng một nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học và nhân văn, một nền văn hóa “lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”, “làm cho ai cũng có lý tưởng độc lập, tự chủ”, “văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ”, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” ,… Những phương châm đó vẫn giữ nguyên giá trị chỉ đạo đối với việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, cho hôm nay và cả mai sau.

Khẳng định những giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa và con người Hồ Chí Minh, nhà báo Jean Lacouture – người được coi là một nhà viết tiểu sử Hồ Chí Minh hay nhất ở phương Tây, đã viết: “Đó là một tấm trí minh mẫn, ít ham thích bạo lực, một thái độ rất độc đáo về quan hệ giữa người với người, một trình độ văn hóa tự học khá rộng nhưng rất thông hiểu, một tinh thần hài hước, trong đó bám rễ vào các tập quán châu á luôn luôn kết hợp với những ảnh hưởng phương Tây, một tinh thần thanh bạch, một sự khắc khổ tự nhiên được ý chí làm cho vững chắc thêm lên, một nghị lực có một không hai. Vâng, tất cả những nét đó trở thành bí quyết của Cụ Hồ trước những thử thách của đời sống xã hội” .

Đúng như J. Lacouture đã dự báo, tư tưởng và sự nghiệp văn hóa của Hồ Chí Minh đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử và vẫn đang tiếp tục tỏa sáng, đặc biệt là ở vào thời điểm hiện nay, trong một thế giới đang biến động và đầy lo âu; khi mà sự sa sút về đạo đức, sự phản trắc, lừa đảo, hãm hại lẫn nhau,… đang có nguy cơ tăng lên; khi mà hình ảnh của một số lãnh tụ cầm quyền ở nơi này, nơi khác đang bị phê phán và hạ bệ, thì hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật lên trước con mắt của nhân loại hơn bao giờ hết.

Một nhà báo Vênêxuêla đã viết rất thuyết phục: “Bộ máy tuyên truyền của đế quốc và các thế lực phản động đã rất nổi tiếng trong nghệ thuật vu khống xấu xa, hòng làm mất uy tín những địch thủ của họ. Họ đã chi tiêu rất nhiều tiền hòng bôi nhọ trước dư luận quốc tế đối với những ai, bằng cách này hay cách khác chống lại sự thống trị của họ… Tất cả những lãnh tụ cộng sản nổi tiếng trên thế giới đều được các hãng thông tấn của họ dán cho những “nhãn hiệu” như là những kẻ cướp hoặc khủng bố đáng tội treo cổ!. Duy chỉ có Bác Hồ, do tấm gương cuộc đời và đạo đức của Người, đã làm cho những kẻ chuyên nghề vu cáo phải kính nể”./.

Nguồn: TTXVN

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh – sự nghiệp báo chí nhân văn

Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh vừa kế thừa văn hóa truyền thống, vừa bao hàm tinh thần cách mạng mới để phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, đồng thời gắn với xu thế hội nhập tất yếu của văn hóa nhân loại. 

Sự nghiệp báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ năm 1919 ở Pari, lúc đó Nguyễn Ái Quốc đã tự rèn luyện để trở thành một cây bút sắc bén của các tờ báo: Nhân đạo, Đời sống công nhân, Dân chúng, Tạp chí cộng sản… Ông sáng lập, kiêm phóng viên, chủ bút và họa sỹ của tờ Le Paria (Người cùng khổ) nổi tiếng, cơ quan ngôn luận của Hội liên hiệp thuộc địa. Ngoài chuyên mục chính trị, tờ báo có Diễn đàn văn học giới thiệu các tác phẩm lớn có giá trị xã hội và lịch sử. Ông đã viết hơn 40 bài báo, chiếm trên 60% tổng số bài trên tờ diễn đàn của các dân tộc thuộc địa duy nhất trong lịch sử báo chí thế giới. Sang nước Nga, ông Nguyễn vẫn gửi bài cho các báo Pháp, viết thường kỳ cho các tờ Thông tin quốc tế, Tạp chí Quốc tế nông dân, Sự thật, Người công dân Bacu, Nữ công nhân, Tiếng còi… Ông cùng với một số sinh viên Trung Quốc viết cuốn Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc, được nhà xuất bản Matxcơva Mới ấn hành 1924. Tại Quảng Châu, ông Nguyễn làm phiên dịch cho đoàn cố vấn Liên Xô, đồng thời phụ trách mục tuyên truyền của tờ báo tiếng Anh Canton Gazette. Ông Nguyễn trực tiếp phụ trách và cùng Hội Việt Nam thanh niên cách mạng xuất bản 88 số báo Thanh Niên. Tờ báo có các chuyên mục xã hội, bình luận, tản văn, vấn đáp, thơ ca… sử dụng nhiều hình thức văn phong khác nhau như ca dao, tục ngữ quen thuộc và cải tiến chữ quốc ngữ gây ấn tượng đổi mới rộng rãi.

Ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước lãnh đạo cách mạng, Người sáng lập và phụ trách tờ báo Việt Nam độc lập (gọi tắt là Việt Lập). Năm 1943, khi bị giam trong các nhà tù Quốc dân Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã viết tập Ngục trung nhật ký bằng tiếng Hán, gửi gắm trong đó tâm ý của người chiến sĩ, một hồn thơ, sự cảm thông với những cuộc đời mất tự do, khốn khó và khẳng định chỉ chấp nhận thân thể ở trong lao còn tinh thần ở ngoài lao! Nhà phê bình Trung Quốc nổi tiếng Quách Mạt Nhược đánh giá, 133 bài thơ này ngang những bài thơ Tống – Đường hay nhất vì bút pháp trác tuyệt, ý thơ đương đại, biểu cảm và chân thực. Gần một năm bị quản thúc ở Liễu Châu, Người vẫn viết rất nhiều bài cho Nhật báo Liễu Châu về các vấn đề Trung Quốc, Việt Nam, Li Băng, trục phát xít… Giới văn sỹ đặc biệt chú ý đến những bài viết này và họ luôn tấm tắc: “Nếu nói văn của Hồ tiên sinh khác nào nhả ngọc phun châu, thật chẳng phải là nói quá. Sao lại có người Việt Nam viết văn Trung Hoa hay thế!”. Có thể thấy ở mọi thời điểm và hoàn cảnh, hoạt động văn hóa Hồ Chí Minh luôn luôn đáp ứng yêu cầu của thực tế và báo chí chính là diễn đàn biểu đạt tư tưởng văn hóa một cách rõ ràng nhất. Ngày 15-5-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đề nghị trung úy John, báo vụ của cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ OSS, điện về Tổng hành dinh ở Côn Minh nhờ tìm cho Người một cuốn Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ. Và bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam mới do Người đọc ngày 2-9-1945 đã mở đầu bằng câu trích từ Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ, sau đó là dẫn ý bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.

Sau khi nước ta giành được độc lập và rồi cả dân tộc lại phải trường kỳ kháng chiến chín năm, trên những chặng đường gian khổ vượt qua bao núi cao, rừng rậm, đèo sâu, hang lạnh của các tỉnh Cao Bằng – Bắc Kạn – Tuyên Quang – Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn là linh hồn của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ cho đến ngày thắng lợi cuối cùng. Không những là một vị lãnh tụ tối cao về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, Người còn là một cây bút chiến sĩ kiệt xuất. Trong suốt 3000 ngày kháng chiến, với điều kiện sống và làm việc kham khổ, thiếu thốn, không kể những sắc lệnh, công điện, mật điện, thư khen, thư tay, bài nói chuyện, trả lời phỏng vấn, lời kêu gọi và cả những bài thơ đầy cảm xúc, Bác đã viết 7 cuốn sách: Đời sống mới (3-1947), Sửa đổi lối làm việc (10-1947), Việt Bắc anh dũng (12-1947), Một đoạn lịch sử Việt Nam từ 1847 đến 1947 (1948), Giấc ngủ mười năm (4-1949), Cần kiệm liêm chính (6-1949), Thường thức chính trị (1953); dịch cuốn sách: Tóm tắt lịch sử nội chiến ở Liên Xô sang tiếng Việt và theo con số thống kê chưa đầy đủ, Người đã viết 593 bài đăng các báo dưới 32 bút danh khác nhau về tất cả những lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, ngoại giao trong và ngoài nước. Quan điểm lý luận và hoạt động báo chí thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phù hợp, gắn bó với cuộc sống và phục vụ lợi ích nhân dân, Người rất coi trọng đối tượng và hiệu quả tuyên truyền báo chí. Vì vậy, trong thời gian kháng chiến, Bác đã dạy những người làm báo của Đảng: “Báo của ta là báo của nhân dân, phải nói thật với dân. Thổi phồng khó khăn làm dân sợ, dân hoang mang là sai, là không tốt. Nhưng ngược lại nói quá dễ dàng, tưởng để động viên nhưng khi dân thấy sự thật không đúng như thế, dân không tin ta nữa, không xem báo nữa! Báo không còn tác dụng nữa thì gọi là báo lá cải, vì nó không có giá trị bằng lá rau cải. Muốn viết trung thực thì phải đến tận nơi, phải nghiên cứu, phải suy nghĩ nên viết cái gì và viết như thế nào”.

Trở lại Thủ đô, trong 15 năm sống và làm việc tại Khu di tích Phủ Chủ tịch, dưới khoảng 38 bút danh khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết khoảng 859 bài cho các báo trong và ngoài nước, đề cập đến mọi lĩnh vực trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở của chủ nghĩa xã hội, góp sức cho đồng bào miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước và ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập tự do trên toàn thế giới. Khi đến thăm và nói chuyện với Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Người đã xung phong phê bình các báo: “Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng các thành tích, mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta; Đưa tin tức hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng; Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn lại viết dài, nên để sau thì để trước, nên trước lại để sau…” và Người căn dặn: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”.

Suốt cuộc đời hoạt động chính trị – văn hóa của mình, ngoài những bài tham luận, phát biểu, thăm hỏi, trả lời phỏng vấn, viết sách, gửi thư – điện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết hơn 2000 bài báo và Người thường xuyên đọc khoảng 70 loại báo trong và ngoài nước. Jean Lacouture nhận định: “Văn phong kỳ lạ, rõ ràng là thế! Người ta không thấy có giọng văn này ở cả Xtalin, Churchill hay De Gault, còn văn Cụ Hồ thì vươn tới tiếng nói của lịch sử”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu những thành tựu văn hóa nhân loại từ đỉnh cao của nền văn hóa Việt Nam, sáng tạo và tỏa sáng. Người không chỉ gắn bó với dân tộc mình mà còn dành tình cảm thắm thiết cho các dân tộc khác trên thế giới, luôn luôn ủng hộ mọi cuộc đấu tranh yêu nước bất cứ đâu, quan tâm săn sóc ân cần tất cả bạn bè quốc tế. Cho dù thế giới trải qua bao đổi thay, Bác Hồ vẫn luôn được tôn kính và ngưỡng mộ như biểu tượng cao cả của nhân đạo, chính nghĩa, hòa bình và nhân văn. UNESCO khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại. Người đã đóng góp quan trọng về nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật và những tư tưởng của Người là khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau. Người là một lãnh tụ cách mạng, một danh nhân văn hóa, một cây bút chiến sĩ vì sự nghiệp cao cả của nhân loại mà: “Bất cứ người nào có lương tri trên thế giới này muốn có cuộc đời như cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ cảm thấy cuộc sống như ấm áp hơn, đáng tự hào và có hy vọng hơn. Cuộc đời ấy, tấm lòng ấy khác nào biển rộng, sông dài, còn tươi sáng mãi trong lịch sử thời đại ngày nay!”.

Theo HNM điện tử

cpv.org.vn

Một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại

Đã có nhiều cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” của Đào Phan (NXB Văn hóa Thông tin, 2005) có vị trí khá đặc biệt, trước hết vì “xuất xứ” của nó. Chính đồng Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ Chủ tịch, đã tin cậy chọn Đào Phan là người viết công trình “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” để kịp công bố vào dịp UNESCO tổ chức Hội thảo về “Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh” tại Hà Nội. (Theo hồi ký của Phan Bội Hoàn, người bạn đời của Đào Phan). 

Có lẽ cũng nên giới thiệu đôi dòng về tác giả cuốn sách. Đào Phan tên thật là Đào Duy Dếnh, sinh ngày 10/7/1920, quê quán Khúc Thuỷ, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Anh ruột của ông là học giả Đào Duy Anh, tham gia Đảng Tân Việt – tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam – đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh; chị Đào Thị Quyền, là cơ sở của cách mạng, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư, Trần Đình Tri nguyên Thường trực Quốc Hội… từng được gia đình chị che chở; anh Đào Duy Kỳ vào Đảng Cộng sản từ năm 1936, từng làm việc trực tiếp với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh…, có lúc là Quyền Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ, từng bị tù ở Hoả Lò, Sơn La, Côn Đảo, sau làm Trưởng ban Huấn học Trung ương…; cô em út Đào Thị Đính hoạt động bí mật cùng đồng chí Tố Hữu, từng ngồi tù 5 năm tại Huế, sau 1945 là Thành uỷ viên Huế, rồi Trưởng ban Tổ chức TW Hội Phụ nữ Việt Nam… Từ trước Cách mạng Tháng Tám, lúc 16 tuổi, ông đã tham gia chống Pháp trong phong trào thanh niên, học sinh ở Huế; năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; năm 1941 là Bí thư Hà Nội, từng bị thực dân Pháp bắt và lưu đày tại nhiều nhà tù ở Thừa Thiên, Phan Rang, Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thoát khỏi ngục tù đế quốc, ông được đồng chí Nguyễn Chí Thanh cử làm Đội trưởng Đội Tuyên truyền xung phong Việt Minh Trung Bộ, tập hợp những thanh niên trí thức đi đến tận những vùng rừng núi, những thôn xóm xa xôi hẻo lánh diễn thuyết, diễn văn nghệ tuyên truyền cho chính phủ Cụ Hồ…Từng viết báo “Suối Reo” – tờ báo của các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù Sơn La, năm 1947, ông được Trung ương điều ra phụ trách Nhà xuất bản và báo “Quân du kích” – tiền thân của NXB và báo “Quân đội nhân dân” hôm nay…

Năm 2005, cùng một lúc, cả 3 công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của ông được xuất bản nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người. (Ngoài tác phẩm kể trên, là 2 cuốn “Hồ Chí Minh – một nhân cách lớn” – NXB Văn hóa thông tin, 510 trang và “Đạo Khổng trong văn Bác Hồ”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).
Về tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” đồng Vũ Kỳ đã trân trọng viết Lời giới thiệu như sau:

“…Cuốn “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” đã được viết bằng công phu nghiên cứu của tác giả trong hai chục năm qua…Là một người phục vụ Bác Hồ lâu năm, tôi càng sung sướng khi thấy cuốn sách đã nêu được những đường nét sống động và chân thật của Người…” 

Nhận xét nêu trên đã nói lên phần nào giá trị của công trình. Cuốn sách gồm có 5 chương: Hồi tưởng về một dự báo; Nền văn hoá mới; Triết nhân và nghệ sĩ; Chiến lược con người – nhà giáo dục; Truyền thống và hiện đại. Qua 5 chương sách, với hàng trăm dẫn chứng cụ thể và sinh động – trong đó có ý kiến của nhiều trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng thế giới nhận xét, ca ngợi những phẩm cách đặc biệt về nhiều phương diện của Hồ Chí Minh, từ khi Người còn là chàng trai Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước đến lúc trở thành vị lãnh tụ tối cao của dân tộc – tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục Hồ Chí Minh thật sự là một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại. Đạt được điều đó, trước hết là nhờ công phu sưu tầm tài liệu của tác giả, nhưng quan trọng hơn là nhờ tác giả có cách nhìn mới mẻ và đúng đắn, xứng tầm với vĩ nhân, vượt qua được cách nghĩ hạn hẹp, công thức khi nêu gương một nhà cách mạng. Chỉ cần đọc mấy trang đầu, khi tác giả dẫn bài viết của nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-xtam sau khi gặp Người năm 1923 đủ rõ: “…Cả diện mạo của Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và sự tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không như văn hoá châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai…Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương…”. Tác giả Đào Phan đã nhấn mạnh: Quả rất đáng ngẫm nghĩ khi nhà thơ nước Nga vốn chủ định tới thăm một “Chiến sĩ quốc tế” nhưng“vừa gặp gỡ đã nhận diện được ngay một con người Việt Nam, ở sự giản dị và thanh lịch, chuộng nếp điều độ và ghét thói thái quá…những nét truyền thống văn hoá lâu đời của một diện mạo dân tộc…” 

Và gần 10 năm sau, trước sự kiện vị luật sư và bà vợ Tổng đốc nước Anh tư bản ở Hương cảng (Hồng Công) cùng góp sức cứu “Ông Nguyễn”, tác giả đã viết: “…Trong những trường hợp như thế không ai nhìn nhận con người qua những dáng dấp giai cấp. Lòng tin của nhà cách mạng quốc tế đối với một vị luật sư Hoàng gia, và ngược lại, lòng tin của vị luật sư Hoàng gia đối với nhà cách mạng quốc tế, phải chăng đều đã bắt nguồn từ “nhân tính” hoặc “nhân tình”?… Nếu không do những tín hiệu nào đó của nền văn hoá toả ra từ một con người mắc cạn, thì điều gì đã thuyết phục cả người phụ nữ sang trọng ấy có thể dùng ngay chiếc ca-nô của chồng mình để bí mật đưa nhà cách mạng Việt Nam đi thoát khỏi vòng vây của mật thám Đông Dương…” 

Một điểm đáng chú ý nữa của tác phẩm là tác giả đã phân tích những giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ Nguyễn Trãi, đến Phan Bội Châu…, cũng như những giá trị văn hoá của nhân loại đã thể hiện trong danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh như thế nào; nói cách khác, chính nhờ Người biết tiếp thu và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và biết thu nhận, kết hợp những tinh hoa văn hoá của nhân loại, chứ không độc tôn thờ một “Ông Thánh” nào, nên mới trở thành “danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh”.

Tác giả cũng đã nêu bật được nét đặc sắc của “văn hoá” Hồ Chí Minh là nói đi đôi với làm; bằng những hoạt động và cách cư xử hàng ngày, Người đã nêu một tấm gương cụ thể và sinh động. Chỉ xin dẫn một ví dụ: Nhân Quốc khánh 2/9/1955, một thương binh từ miền Nam ra, được mời dự chiêu đãi tại Phủ Chủ tịch. Tên thật của anh là Nguyễn Trản, bị cụt mất hai tay khi phụ trách một xưởng quân giới rất thô sơ tại Nam Bộ thời chống Pháp, nên còn có bí danh là Vương Nhị Chi. Trong lúc chờ đợi, anh hỏi thăm lối đi tới nhà vệ sinh. Với hai cánh tay cụt, anh đang loay hoay chưa biết tính sao thì bỗng nghe tiếng hỏi nhẹ nhàng sau lưng: “Chú làm sao cởi khuy?…” Anh còn lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì một ông già bước tới cởi khuy giúp anh rồi đứng tránh sang một bên, chờ anh tiểu tiện xong rồi lại lặng lẽ đến cài khuy giúp. Ông già ấy là vị Chủ tịch Nước. Thì ra đúng lúc anh hỏi thăm lối vào nhà vệ sinh đã tình cờ gặp Người. Sau khi dẫn anh trở lại phòng lễ tân, Hồ Chủ tịch liền nghiêm khắc quở trách mấy cán bộ hồi nãy “chỉ trỏ” bàn tán khi anh đi vào nhà vệ sinh: “Người ta mất cả hai cánh tay, mà không ai đi theo giúp đỡ…” 

Không chỉ nêu gương, Người đã tổ chức, phát động mọi người cùng làm theo, tạo nên diện mạo một nền “văn hoá mới” của đất nước. Vì thế, tuy Người “đi xa” đã mấy chục năm qua, những giá trị văn hoá Người để lại không chỉ hiện diện trên những trang sách của Đào Phan mà còn toả sáng trên mỗi bước đường cách mạng của dân tộc, của đất nước Việt Nam đang không ngừng đổi mới, “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Người đã từng mong đợi.

Nguyễn Khắc Phê

cpv.org.vn

Khoan dung – một giá trị đạo đức trong nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh

1- Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng lỗi lạc. Người là lãnh tụ của cách mạng và của dân tộc Việt Nam. Người được nhân loại tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Trong con người ấy, trong nhân cách ấy, cái sâu thẳm nhất và cũng tinh túy nhất là ở chỗ, Người là hiện thân của những giá trị văn hóa rực rỡ nhất, đẹp đẽ nhất, kết tinh từ những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại. Người không thuần túy là một nhà chính trị mà cao hơn là một nhà văn hóa chính trị. Ở Người, những giá trị văn hóa đã thấm sâu vào mọi suy nghĩ, hành vi, hình thành một lối ứng xử riêng giàu tính văn hóa.

Nhân cách văn hóa của nhà chính trị Hồ Chí Minh vô cùng đa dạng, đa diện, được biểu hiện một cách nhất quán trong tư tưởng và hành động, lý trí và tình cảm, trong suy nghĩ nội tâm và những hành vi ứng xử với cộng đồng… Trong nhân cách ấy, khoan dung là một giá trị. Giá trị này không chỉ tồn tại như một yếu tố của cấu trúc đạo đức cá nhân mà còn thẩm thấu trong mọi phương diện của nhân cách mà chính trị là một lĩnh vực biểu hiện.

2- Khoan dung là một khái niệm đa nghĩa có vai trò như quy phạm đạo đức, luân lý, góp phần hình thành một lối ứng xử giữa người với người trong cuộc sống. Theo nghĩa thông thường nhất, khoan dung được hiểu là sự tha thứ, sự thừa nhận, sự tôn trọng lẫn nhau mà ở cấp độ cao nhất là sự tiếp nhận. Vì vậy, đạt đến phẩm chất khoan dung, biểu hiện đầu tiên là sự tha thứ. Tha thứ cho lỗi lầm của kẻ khác, tha thứ cho những dị biệt của kẻ khác trong sự so sánh với chính bản thân mình. Rõ ràng, về phương diện đạo đức, đây không phải là sự khoan thứ của bề trên đối với kẻ dưới mà là sự khoan thứ của những cá thể đồng loại – giữa con người với nhau; là sự khoan thứ của cái thiện đối với cái ác, của chân lý với sai lầm, của cái đẹp với cái xấu…

Ngoài tha thứ, khoan dung còn là sự thừa nhận lẫn nhau giữa con người với con người. Thừa nhận sự cùng tồn tại, thừa nhận về những giá trị mà cá nhân, cộng đồng biểu hiện cho dù trong hệ thống giá trị ấy có những dị biệt, thậm chí là đối lập.
Trong khoan dung, tôn trọng là một biểu hiện quan trọng. Sự tôn trọng lẫn nhau là cơ sở điều chỉnh hành vi của con người khiến cho những giá trị của cá nhân, cộng đồng không bị kỳ thị. Nhờ đó những giá trị riêng được bảo tồn, các nền văn hóa không dẫn đến xung đột, các dân tộc nhược tiểu không bị đồng hóa văn hóa bởi toan tính của những thế lực cường quyền.

Trong khoan dung, tiếp nhận là biểu hiện cao nhất, bởi chỉ có tiếp nhận thì sự tha thứ mới làm cho nhân loại tốt đẹp hơn, mới làm cho những cái hay, cái đẹp được bảo tồn, phát huy và mặt khác, nhờ tiếp nhận mà chủ thể của sự khoan dung cũng hoàn thiện hơn. Theo ý nghĩa đó, nhân loại sẽ tốt đẹp hơn bởi những giá trị của cá nhân, nhóm, cộng đồng được tích hợp, phát triển.

Sự phát triển của lịch sử đã chứng minh điều ấy. Xã hội loài người ngày càng hoàn thiện hơn không chỉ bởi nhân loại biết tha thứ cho nhau, thừa nhận nhau, tôn trọng nhau mà căn bản là biết tiếp nhận nhau. Điều này thể hiện ở chỗ, khi mối giao lưu giữa con người với nhau còn hạn hẹp, sự tiếp nhận chủ yếu diễn ra trong nội bộ cộng đồng thì lịch sử phát triển chậm chạp. Khi mối quan hệ càng mở rộng, sự tiếp nhận lẫn nhau được đẩy mạnh thì lịch sử phát triển nhanh hơn. Vì vậy, từ chối sự tiếp nhận là chấm dứt sự phát triển. Ngày nay, tốc độ phát triển của lịch sử nhanh chưa từng thấy cũng bởi các cá nhân, các cộng đồng có cơ hội hơn trong giao tiếp, có cơ hội hơn để tiếp nhận lẫn nhau, có ý thức hơn về sự cần thiết phải tiếp nhận và biết cách tiếp nhận có hiệu quả hơn.

3- Nếu có một sự thống nhất nào đó về cách hiểu khái niệm khoan dung như trên thì Hồ Chí Minh là một biểu hiện của sự khoan dung và cao hơn là mẫu mực về sự khoan dung. Khoan dung ở Hồ Chí Minh cũng được biểu hiện rất đa dạng, đa diện. Đây là một giá trị đạo đức mà ý nghĩa và tầm ảnh hưởng của nó không giới hạn ở lĩnh vực luân lý thuần túy. Ngược lại, nó được lan tỏa, trải rộng trong mọi biểu hiện của nhân cách Hồ Chí Minh mà tập trung nhất là trong lĩnh vực chính trị, trong lối ứng xử với các dân tộc, các nền văn hóa khác hay nói cách khác, trong lĩnh vực văn hóa.

Với Hồ Chí Minh, khoan dung là một trong những giá trị đạo đức trụ cột trong một nhân cách hoàn thiện bởi nhờ nó, Người có thể chia sẻ với những khổ đau của người lao động bị áp bức, với những dân tộc bị nô dịch. Người trở nên thân thương, gần gũi với người dân. Ngay cả những người không cùng ý thức hệ, thậm chí, ở một chiều cạnh nào đó là “địch thủ” vẫn phải kính trọng, thừa nhận Người.

Ở Hồ Chí Minh, khoan dung cũng được biểu hiện là sự tha thứ, sự thừa nhận, sự tôn trọng và cao nhất là tiếp nhận. 

Trong con người Hồ Chí Minh, tha thứ cho lỗi lầm của người khác không chỉ là hành vi bị thôi thúc bởi yêu cầu của chính trị mà cao hơn, sâu hơn, từ trong cội rễ của vấn đề, đó là, từ lương tâm đạo đức, từ việc ý thức sâu sắc về tính đồng loại giữa con người với con người. Tha thứ, vì thế, trở thành một thuộc tính đạo đức có tính văn hóa. Trong Thư gửi đồng bào và chiến sỹ Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ nhân ngày kỷ niệm Nam Bộ kháng chiến (năm 1947) Người viết: “Nhân dịp này, tôi thiết tha kêu gọi những đồng bào vì một cớ gì mà lầm đường lạc lối hãy kịp trở về với Tổ quốc. Dù sao các người cùng là ruột thịt. Tôi tin rằng các người không thể nỡ lòng giúp địch làm cho đồng bào Việt Nam ta khổ nhục mãi; tôi rất đau lòng thấy cảnh nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn.

Tôi mong rằng các người hãy mau mau tỉnh ngộ. Và tôi cam đoan rằng Tổ quốc, đồng bào và Chính phủ bao giờ cũng khoan hồng. Một khi các người đã trở về với Tổ quốc thì các người sẽ được hoan nghênh rộng rãi như những người con đi lạc mới về”(1).
Ngoài tha thứ, đức khoan dung ở Hồ Chí Minh còn là sự thừa nhận người khác, thừa nhận những giá trị riêng của người khác.

Cả cuộc đời Người là sự phấn đấu quên mình để cho nhân loại, dân tộc được sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc. Người cùng Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng không ngoài mục đích buộc các thế lực xâm lược phải thừa nhận Việt Nam độc lập, thống nhất, được hưởng các quyền dân tộc cơ bản như các dân tộc khác trên thế giới. Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Người đã dẫn ra tư tưởng trên đây trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1789 để một lần nữa khẳng định quyền được thừa nhận, quyền được hưởng các quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam. Sau đó, Người khẳng định: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Trong điều kiện Việt Nam, một quốc gia có đông đồng bào có đạo, Người thừa nhận đồng bào có đạo là một bộ phận hữu cơ của dân tộc. Đồng bào có đạo cũng là lực lượng cách mạng, họ cũng bị thực dân, đế quốc áp bức, bóc lột, vì vậy họ cũng là đối tượng của sự giải phóng mà cách mạng hướng tới. Đó là lý do để Người theo đuổi và thực thi chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc – một chiến lược đem lại sức mạnh to lớn cho cách mạng để giành thắng lợi trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Cùng với tha thứ, thừa nhận, khoan dung ở Hồ Chí Minh còn là sự tôn trọng lẫn nhau giữa con người với con người. Hồ Chí Minh tôn trọng đồng bào của mình, tôn trọng cộng sự của mình, tôn trọng những nhu cầu, khát vọng, phẩm giá, lương tri của nhân loại tiến bộ. Vì lẽ ấy Người đánh giá cao những ai vì lẽ phải, vì chính nghĩa, vì sự tiến bộ của con người mà đấu tranh cho dù họ ở quốc gia nào, màu da nào, giai cấp, đảng phái nào. Người đấu tranh không khoan nhượng chống các thế lực thực dân, đế quốc song phân biệt rất rõ bạn và thù. Đó là lý do để khoan dung ở Người không trở thành một giá trị trừu tượng.

Người bày tỏ sự tôn trọng, lòng biết ơn đối với những ai ủng hộ dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập, kể cả nhân dân tiến bộ Pháp và Mỹ và căm ghét những kẻ chống lại mục tiêu ấy.

Ở Hồ Chí Minh, sự tôn trọng lẫn nhau giữa người với người suy cho cùng là sự tôn trọng những nhu cầu, lợi ích chân chính, tôn trọng những ai vì nhân phẩm mà hy sinh, mà phấn đấu. Vì lẽ ấy, Người đề cao những đóng góp của Đức Phật, Đức Ki-tô, của những người sáng lập các tôn giáo chân chính bởi suy cho cùng, những vị ấy cũng có khát vọng về hạnh phúc cho nhân loại. Đó cũng là lý do để Người thừa nhận Khổng Tử, Giê-su, Đức Phật, Tôn Dật Tiên, C. Mác đều có ưu điểm chung bởi họ đều muốn mưu hạnh phúc cho con người, mưu phúc lợi cho xã hội. Và, với đồng bào có đạo Người tôn trọng niềm tin của họ, kiên trì, nhất quán thực thi chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Như đã nói ở trên, tiếp nhận là biểu hiện cao nhất của khoan dung và cuộc đời, nhân cách Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động nhất của sự tiếp nhận. Nhờ biết tiếp nhận, Người đã làm giàu vốn tri thức, nâng tầm văn hóa của mình để trở thành biểu tượng của sự kết tinh những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, của truyền thống và thời đại. Với tư cách là một lãnh tụ cách mạng, một nhà văn hóa, cũng nhờ biết tiếp nhận mà Người đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ yếu đến mạnh để cuối cùng – như đã thấy – làm nên những chiến công càng ngày càng hiển hách, chói lọi.

Nhờ phương pháp tiếp nhận đúng đắn, Người đã phát hiện được những ưu điểm của các học thuyết, chủ nghĩa, của các nền văn hóa và ngay trong từng cá nhân con người. Với Người, đạo Khổng có ưu điểm là “có đạo tu thân”; đạo Phật có ưu điểm là có lòng từ bi; tôn giáo của Chúa Giê-su có ưu điểm là lòng Bác ái; chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm đó là chính sách thích hợp với cách mạng nước ta; chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp cách mạng đúng đắn. Với cá nhân con người cũng vậy, Người nhìn thấy trong họ những khả năng, những tiềm năng và vai trò của cách mạng là phát hiện, nuôi dưỡng, phát huy những phẩm chất ấy. Người nói:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên”. 

Tiếp nhận truyền thống khoan dung, chuộng hòa bình của dân tộc ta, trước họa ngoại xâm, Hồ Chí Minh đã tìm đủ mọi cách để cứu vãn hòa bình cho đất nước. Song các thế lực ngoại xâm đã không cho phép Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam lựa chọn giải pháp hòa bình và hai cuộc kháng chiến của dân tộc ta chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, vì vậy, về thực chất chỉ là giải pháp cuối cùng nhằm giành và giữ độc lập cho Tổ quốc.

Thiết nghĩ, đó là nét độc đáo trong tư tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh, được hình thành trên cơ sở truyền thống và được phát huy trong điều kiện mới của thời đại. Nhờ đó, những tư tưởng của truyền thống có thêm nội dung mới của thời đại. Cũng nhờ đó mà Hồ Chí Minh, với hành trang của một người yêu nước đã trở thành một người mác-xít chân chính, một nhà nhân đạo chủ nghĩa của xã hội hiện đại có khả năng đại diện cho một nền văn hóa tương lai.

4- Thời đại ngày nay đang chứng kiến những thay đổi nhiều mặt của xã hội về mọi chiều kích. Cuộc sống đã thúc ép con người mở rộng tầm quan hệ với thế giới vô tri (giới tự nhiên) và thế giới hữu tình (thế giới loài người). Chưa bao giờ con người cảm thấy không gian hẹp, nhỏ bé như vậy và thời gian trôi nhanh như vậy. Cũng chưa bao giờ con người cảm thấy sự khó khăn to lớn đến như vậy khi phải lựa chọn thái độ sống đối với tự nhiên và đồng loại bởi toàn cầu hóa đã không chỉ làm các chiều quan hệ tăng nhanh mà còn làm tăng tính phức tạp của các quan hệ lên gấp bội. Xét về một tầm mức nào đó, có thể thấy, việc mở rộng các quan hệ đã làm cho lịch sử phát triển nhanh hơn. Tuy nhiên, trong sự phát triển ấy vẫn tiềm ẩn những xung đột mà ở đây đó, những xung đột đó đã bộc phát gây nên những hậu quả tiêu cực cho con người. Dù muốn hay không, con người phải lựa chọn một trong hai lối ứng xử trước tự nhiên và đồng loại – Thù hận hay khoan dung. 

Thực ra, trong quá khứ, đã từng tồn tại cả hai cách ứng xử ấy của con người. Với thái độ thù hận, trước tự nhiên, con người tự cho mình là chúa tể để rồi tước đoạt nó, khiến tự nhiên có nguy cơ không tự tái tạo kịp. Tình trạng sa mạc hóa đất đai, ô nhiễm môi trường, lỗ thủng tầng ô-zôn ngày càng rộng… là hậu quả của cách làm đó. Với thái độ thù hận, trước đồng loại, giai cấp bóc lột thống trị xã hội đã tìm mọi cách để tước đoạt người lao động. Hành động đó đã biến con người thành công cụ biết nói, thành thần dân, thảo dân, thành người “trần như nhộng” để rồi sản vật quí báu cuối cùng nhờ sự tiến hóa lâu dài của tự nhiên và công sức của chính con người mới tạo ra được – sản vật tinh thần – cũng bị biến dạng, bị méo mó. Con người bị tha hóa toàn diện, bị làm nhục bởi chính nó.

Tuy nhiên, trong một xã hội mà những hành động của con người còn bị thôi thúc bởi thái độ thù hận, một lô-gíc khác của cuộc sống vẫn tồn tại như những mạch ngầm trong lòng đất. Lúc âm ỉ, lúc dữ dội, mạch ngầm ấy đã tạo nên những xung lực hướng con người về phía khoan dung, lựa chọn sự khoan dung. Cội nguồn của chủ nghĩa nhân văn vẫn được bồi đắp, tôn tạo để định hình như là giá trị cơ bản mà nhân loại hướng tới. Những áp đặt phi lý với tự nhiên và đồng loại dần dần được nhận diện, được vượt qua. Nhân loại ngày nay đã biết xa lánh quan hệ đơn trị giữa người với tự nhiên và đang làm mọi cách để bảo tồn sự sống trong một nỗ lực to lớn nhằm thiết lập mối giao hòa với tự nhiên. Trong quan hệ xã hội, họ cũng đã biết ghê tởm sự áp bức, bóc lột, biết xa lánh thái độ cực quyền của các thế lực tư bản tàn bạo muốn áp đặt cho nhân loại một thái độ sống duy nhất – chấp nhận thực tại tư sản. Cao hơn nữa, họ đã biết cùng nhau liên hợp nhằm loại bỏ dần những bất công và quyết tâm theo đuổi lý tưởng giải phóng con người một cách triệt để. Vì lẽ ấy dù chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, dù phong trào cách mạng thế giới đang có khó khăn, sự nghiệp giải phóng con người vẫn tiếp tục diễn ra với những hình thức ngày càng đa dạng, phong phú ở khắp các châu lục. Mặc dù để đạt đến sự tự do, hạnh phúc thật sự còn lắm gập ghềnh mà nhiều khi phải trả giá song xu thế thời đại đặt ra yêu cầu buộc con người dứt khoát phải lựa chọn khoan dung. Đó là thái độ sống, lối ứng xử duy nhất đúng để các dân tộc, các nền văn hóa có thể xích lại gần nhau hơn trong hành trình phát triển. Cuộc đấu tranh đó là gian khổ và trong cuộc đấu tranh đó, một lần nữa, khoan dung lại được biểu hiện. Biểu hiện này ở chỗ, một bộ phận nhân loại tiến bộ đã biết vượt qua những sai lầm của quá khứ để hướng về một tương lai tốt đẹp hơn; biết thừa nhận quyền con người, quyền dân tộc chân chính; biết tôn trọng các giá trị khác nhau của các nền văn hóa. Cao hơn nữa là biết tiếp nhận những thành quả vĩ đại của nhân loại để kiến tạo một tương lai không còn áp bức, bất công, con người thật sự tự do, hạnh phúc.

Theo ý nghĩa đó, khoan dung theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một giá trị của thời đại. 

5- Trong nhiều nghìn năm lịch sử, bằng những nỗ lực to lớn của nhiều thế hệ, người Việt Nam đã tạo cho mình một hệ giá trị văn hóa đa dạng và độc đáo. Trong hệ giá trị ấy có khoan dung.

Trong quan hệ với tự nhiên, theo minh triết Đông phương, người Việt không tự xem mình là kẻ thống trị. Ngược lại, họ gần gũi với tự nhiên, gắn bó với tự nhiên, biết ơn tự nhiên.

Trong quan hệ xã hội, người Việt coi trọng giá trị cộng đồng với những tầng bậc khác nhau mà cộng đồng hẹp nhất là Nhà, tiếp đến là Làng và cao nhất là Nước. Với văn hóa của nước ngoài, họ thừa nhận, tôn trọng, biết bỏ qua những dị biệt để tiếp thu những giá trị phù hợp cuộc sống của mình nhằm xây dựng, bảo tồn, phát triển nền văn hóa bản địa. Với các thế lực ngoại xâm, họ kiên cường đánh trả khi không còn lựa chọn nào khác và những cuộc đánh trả ấy không phải vì muốn mình trở thành kẻ chiến thắng. Suy cho cùng, người Việt Nam muốn bảo vệ giang sơn, xã tắc, bảo vệ mảnh đất thiêng được gọi là Tổ quốc. Vì lẽ ấy, thắng giặc vẫn khoan cho giặc, vẫn cấp thuyền, cấp ngựa cho giặc về quê. Thậm chí những vong hồn của kẻ xâm lược vẫn được thờ phụng bởi một triết lý nhân bản đến kiệt cùng – đó cũng là vong hồn của đồng loại.

Tiếp nhận mạch ngầm truyền thống và tinh hoa nhân loại, Hồ Chí Minh đã đưa giá trị khoan dung của truyền thống lên một tầm cao mới. Điều này được thể hiện trong 3/4 thế kỷ đấu tranh cách mạng của Đảng ta do Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện. Trong cuộc đấu tranh ấy, Đảng đã lãnh đạo toàn dân kiên quyết giành độc lập cho dân tộc, kiên quyết dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng cực kỳ tàn bạo của kẻ thù.

Sau ngày toàn thắng, khi Nam Bắc đã về trong một nhà, đất nước đã độc lập, thống nhất, nhiều kẻ dự báo sẽ có cuộc “tắm máu” song điều đó không diễn ra. Ngược lại, Đảng chủ trương hòa hợp dân tộc, thực thi chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xem đại đoàn kết là động lực quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với những thế lực đã từng gây chiến, Đảng chủ trương khép lại quá khứ, hướng về tương lai và tuyên bố Việt Nam muốn làm bạn với các dân tộc khác. Xem thế đủ biết tầng nấc và sự kiên trì theo đuổi giá trị khoan dung của Đảng ta đến mức độ nào, ý nghĩa của tư tưởng khoan dung của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam đến mức độ nào! Và, có lẽ, trong hành trình tiếp theo của cách mạng, khoan dung vẫn là một giá trị càng ngày càng lan toả ảnh hưởng, định hướng cho dân tộc Việt Nam, cho toàn nhân loại trong hành trình tiến về phía trước.

Theo Hồ Trọng Hoài, Tạp chí Cộng sản tháng 9/2005

cpv.org.vn

Đảng ta: Đạo đức – Trí tuệ – Văn hóa đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh

Đảng ta là đạo đức, là văn minh
Là thống nhất, độc lập, là hòa bình, ấm no.

Đó là hai câu thơ kết thúc Lời khai mạc lễ kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai câu thơ trên nói lên những nội dung thuộc về bản chất cách mạng và văn hóa, về sức mạnh của tinh thần, trí tuệ, văn hóa của Đảng, mục tiêu và thành tựu mà Đảng ta lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong 30 năm đầu tiên cùng chặng đường phía trước. 30 năm đầu tiên ấy, cách mạng Việt Nam đã đạt được hai thành tựu vĩ đại: Làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, đánh đổ đế quốc thực dân Pháp, Phát-xít quân phiệt Nhật và chế độ thực dân nửa phong kiến, khai sinh một nước Việt Nam mới, một Nhà nước của dân, do dân, vì dân; Tổ chức cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, xây dựng miền Bắc tiến lên Chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn vững chắc cho kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Thành tựu của những cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa đó đã làm biến đổi cực kỳ sâu sắc số phận dân tộc cũng như mọi giai cấp, tầng lớp xã hội Việt Nam, mọi gia đình, các thế hệ người Việt Nam, cùng mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa Việt Nam. Chính vì vậy, trên ý nghĩa bao quát, sâu rộng của văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam chính là đạo đức, là văn minh – là hiện thân tiêu biểu của các giá trị tinh thần – văn hóa Việt Nam trong thời đại mới.

Từ sau mốc kỷ niệm 30 năm thành lập, 45 năm qua thực hiện cương lĩnh, mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã tiếp tục đạt được hai thành tựu vĩ đại nữa là “đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc và thực hiện thành công công cuộc Đổi Mới, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tiến bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Bốn thành tựu vĩ đại trong 75 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam, của dân tộc Việt Nam đồng thời cũng là bốn hiện tượng, bốn đóng góp độc đáo và lớn lao vào cách mạng, sự tiến bộ, văn hóa và văn minh thế giới thời hiện đại để dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc anh hùng, “lương tâm của thời đại” trong lòng nhân loại hòa bình, tiến bộ. Điểm xuất phát của những thành tựu vĩ đại đó chính là bản chất cách mạng, văn hóa của Đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta vĩ đại vì ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Ra đời như một tất yếu lịch sử từ phong trào công nhân, phong trào yêu nước của nhân dân ta, phong trào cộng sản quốc tế, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trải qua rèn luyện, đấu tranh, Đảng ta luôn luôn gắn bó gốc rễ và máu thịt, một cách tự nhiên và tự giác với đời sống, với tâm tư nguyện vọng, quyền lợi mọi mặt của các giai cấp, tầng lớp nhân dân đưa lại hạnh phúc và những quyền lợi cơ bản cho nhân dân, kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, nên Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ là một tổ chức chính trị đã trở thành một giá trị, một sức mạnh văn hóa.

Nắm vững và tuân thủ các quy luật đấu tranh, phát triển, vượt qua bao hy sinh, gian khổ, sóng gió của thời cuộc, vượt qua bao cuộc tiến công “khủng bố đỏ” hủy diệt cùng những âm mưu hiểm độc của kẻ thù, vượt lên sự trì trệ, hạn chế của một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bản thân tổ chức Đảng đã luôn luôn được đổi mới, không ngừng tăng cường tính khoa học và cách mạng để trở thành một Đảng giàu sức chiến đấu, sáng tạo, một Đảng chính trị mang giá trị văn hóa cao – Văn hóa Đảng Cộng sản Việt Nam.

Là người sáng lập tổ chức và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo xây dựng Đảng theo những chuẩn mực cách mạng, khoa học, tiên tiến trong đó có nội dung giá trị tinh thần và tinh hoa văn hóa Việt Nam và thế giới, làm cho văn hóa trở thành nhân tố nội sinh của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người Việt Nam đẹp nhất – Danh nhân văn hóa thế giới luôn tự mình nêu tấm gương sáng và xây dựng, rèn luyện Đảng ta, các tổ chức Đảng và mọi đảng viên thường xuyên rèn luyện nêu gương cho quần chúng nhân dân về văn hóa.

Nếu như:

“Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người”

thì trong mỗi con người Việt Nam mà trước hết mỗi đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đều cần phải và đã lấp lánh ánh sáng văn hóa của Người. Văn hóa Đảng-Văn hóa Hồ Chí Minh gắn làm một và là một bộ phận của văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh không đồng nhất với văn hóa dân tộc. Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh là hạt nhân của Văn hóa Chính trị Việt Nam, là văn hóa cao, văn hóa chỉ đường, dẫn đường, là văn hóa nêu gương, có khả năng chi phối các phạm trù văn hóa khác của xã hội.

Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh không phải là một khái niệm, một vấn đề mới nhưng những cuộc thảo luận gần đây nhất đã nêu rõ những biểu hiện tập trung của giá trị Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh ở những nội dung lớn: Thứ nhất: Nền tảng tư tưởng là Chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; Thứ hai: Bản lĩnh chính trị thể hiện qua các đường lối, quyết sách lãnh đạo thành công cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc – Chủ nghĩa xã hội; Thứ ba: Tính tiên phong chiến đấu với tinh thần trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng cao đẹp của Chủ nghĩa xã hội, vươn tầm tri thức, gương mẫu trong tư tưởng, đạo đức và lối sống, gắn bó mật thiết với nhân dân; đấu tranh chống các tệ nạn quan liêu, cửa quyền, tham nhũng; Thứ tư: Truyền thống đoàn kết: Đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm hạt nhân lãnh đạo và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới đang có nhiều biến động mạnh mẽ, Đảng ta và đất nước ta đang phải đối phó với những thách thức mới, vấn đề xây dựng Đảng, xây dựng văn hóa Đảng, học tập và làm theo tư tưởng – Văn hóa Hồ Chí Minh càng được đặt ra như một đòi hỏi mạnh mẽ, tha thiết từ trong Đảng, trong dân. Khi phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào thoái trào, sự khủng hoảng niềm tin và đường lối của nhiều Đảng Cộng sản ở các nước cộng với cuộc tiến công nham hiểm, tinh vi nhiều mặt của các thế lực thù địch đã làm một số người hoài nghi, dao động. Tuy nhiên, những luận điệu, âm mưu chuyển hóa Đảng xa rời khỏi bản chất giai cấp, tách rời Đảng với nhân dân, dân tộc không thể làm suy yếu được vai trò, vị trí của Đảng trong lòng dân tộc bởi Đảng Cộng sản Việt Nam đã và vẫn luôn luôn là sức mạnh của giá trị tinh thần-văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Trong bước phát triển mới, Đảng ta đã và đang lãnh đạo, đi tiên phong trong công cuộc Đổi Mới, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ quốc tế, hội nhập kinh tế thế giới.

Quá trình cách mạng mới đã nảy sinh nhiều vấn đề mới, đặc biệt là sự phai nhạt lý tưởng, sự sa sút về tư tưởng, phẩm chất đạo đức và lối sống của một số đảng viên. Căn bệnh quan liêu, xa dân, cửa quyền, tham nhũng trong xã hội đã lây nhiễm vào một số đảng viên có chức, có quyền. Tất cả những căn bệnh này đã và đang là những tác động tiêu cực từ bên trong làm suy yếu, làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín, sức chiến đấu, sức thuyết phục của Đảng, văn hoá Đảng. Nhận thức rõ về sự tồn tại có tính nguy cơ này, Đảng ta đã có những chủ trương, biện pháp lớn để chỉnh đốn, củng cố Đảng, tiêu biểu là Nghị quyết BCH Trung ương lần thứ 6 (lần 2-khóa 8) và kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (khóa 9) đều khẳng định phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh, nhất là trong tổ chức Đảng và Nhà nước, trong cán bộ, đảng viên. Những Nghị quyết, giải pháp và những công việc đã và đang triển khai trong những năm qua, với nhiều biện pháp thực tế, kiên quyết, trong đó có việc thi hành kỷ luật nghiêm minh đối với nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đã và đang được toàn Đảng, toàn dân ta ủng hộ, tiếp sức. Những chủ trương, biện pháp đó là sự đấu tranh tiếp tục duy trì nguyên tắc xây dựng Đảng, để Đảng ta luôn luôn “là đạo đức, là văn minh”, để Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh luôn luôn tỏa sáng.

Thực hiện Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh trong bối cảnh, tình hình mới, Đảng ta đề cao việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, cơ chế Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ, thực hiện “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, thực hiện văn hóa phê bình, tự phê bình. Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn và chăm lo vun đắp đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, “mỗi người phải soi gương”, phải nêu “tấm gương sống”. Văn hóa phê bình của Đảng cần phải thực hiện trên tinh thần đồng chí trong sáng, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, thấu tình đạt lý, tự nguyện tự giác và trung thực, phải “có tình có nghĩa”.

Trong sự nghiệp Đổi mới hiện nay, Đảng ta đã xác định ba trụ cột phải gắn bó chặt chẽ là nhiệm vụ trung tâm xây dựng, phát triển kinh tế, nhiệm vụ then chốt xây dựng, chỉnh đốn Đảng và nhiệm vụ xây dựng nền tảng tinh thần – văn hóa. Xây dựng Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh là làm giàu thêm sức sống, sức mạnh chiến đấu, sức mạnh văn hóa, sức thuyết phục của Đảng ta, thực hiện trọng trách lớn lao có tính chất đột phá trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của đất nước ta, nhân dân ta trong thời kỳ mới.

BTS-(QĐND)

cpv.org.vn

Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

ĐBP – Từ tuổi 13, Nguyễn Tất Thành đã khát vọng muốn ”xem cho rõ” sự “làm ăn ra sao” của những cường quốc mà các nhà yêu nước Việt Nam đương thời kì vọng có thể giúp đất nước mình thoát khỏi ách thống trị thực dân; và để rồi “sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”.

Mang chung hành trang là chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam và cùng mục đích, nhưng Nguyễn Tất Thành và hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh có những nét khác nhau về cơ bản. Một bên là tìm, học cái mới mà dân tộc chưa có và xem đó như một chỗ dựa, một cứu cánh; một bên là muốn tìm hiểu giá trị thật của cái mới và cả cái ẩn giấu đằng sau nó; bên này chỉ mới tiến đến ở sự tiếp nhận, còn bên kia là đến tận nơi và xem cho rõ cách làm. Hay nói cách khác, cho dù có cùng hành trang, cùng mục đích, nhưng có sự khác nhau về tầm nhìn và phương pháp, nên giữa Nguyễn Tất Thành và hai cụ Phan đã tạo ra kết quả khác biệt. Cụ thể: bên này là tiếp nhận và đưa về cái mới mà dân tộc chưa có nhưng không biết nó đã bắt đầu trở nên lỗi thời so với sự phát triển của lịch sử nhân loại. Bên kia với sự khảo sát trực tiếp, phân tích, so sánh giữa lý thuyết với kết quả thực tế của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới (đã có đến thời điểm đó) để lựa chọn nhằm tiếp nhận những giá trị chung và mới của nhân loại, nhằm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân thích hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước nhà và tương thích với sự vận động, xu thế phát triển mới trong quá trình tiến hóa của loài người. Chính vì vậy, nên những cố gắng cao nhất của hai cụ Phan cũng chỉ là làm bùng phát một phong trào dân tộc, nuôi dưỡng ngọn lửa yêu nước trong nhân dân, bởi những cái được cho là chưa có và được xem là mới đối với dân tộc mà hai cụ đưa về đã bị lịch sử nhân loại và chính phong trào cách mạng dân tộc vượt qua. Còn với Nguyễn Tất Thành, bằng lao động và hòa vào dòng chảy của các sự kiện trên thế giới, nên cuộc hành trình của Nguyễn Tất Thành trong ba thập kỷ trải nghiệm, thực hành ở nước ngoài không chỉ để biết thế giới mà chính là quá trình học tập, khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm thấu hiểu để chọn lọc và tiếp thu những giá trị văn hóa – văn minh của nhân loại.

Cuộc hành trình vĩ đại qua ba đại dương, bốn châu lục và gần ba mươi quốc gia, đặc biệt là trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng ở một số nước có nền dân chủ, cách mạng đã nâng cao trí tuệ, làm giàu văn hóa và mở rộng thế giới quan cho Người – từ tầm mức dân tộc đến nhân loại. Đó là cơ sở giúp cho Nguyễn Tất Thành thấu hiểu được sự tương đồng và khác biệt giữa triết lý phương Đông và phương Tây. Đồng thời Người cũng đã nhận thấy nguồn gốc trực tiếp nỗi khổ đau chung của các dân tộc thuộc địa và những người lao động, không phân biệt chủng tộc, màu da, trên hành tinh này và đi tới khẳng định: “Vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới”.

Bằng sự trực tiếp khảo sát tại quê hương của các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp, Anh và Mỹ), với trí tuệ thiên tài của mình, Nguyễn Tất Thành đã phát hiện và tiếp nhận những lời bất hủ mang giá trị chung của nhân loại về quyền dân tộc và quyền con người được ghi trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp. Đồng thời, Người cũng thấy rõ hạn chế giữa lý thuyết và thực tế mà nổi bật là tính chất “không đến nơi” của các cuộc cách mạng này. Chỉ với tầm trí tuệ không ngừng được nâng cao, trên cơ sở được làm giàu về các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và với một tầm nhìn thế giới trong phân tích lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn, Nguyễn Tất Thành mới có thể đúc rút thành những kết luận khoa học đúng đắn có giá trị quan trọng như vậy. Do đó, Người không chỉ dừng lại ở phân tích lý luận và thực tiễn để chọn lọc và thâu thái các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, mà còn trên cơ sở các kết luận đó, tìm lời giải đáp những vấn đề đang được đặt ra trong lịch sử tiến hóa của loài người. Đây chính là sự chuẩn bị – cả trên phương diện lý luận và thực tiễn để Người, không chỉ đi từ dân tộc đến nhân loại trong nhận thức các giá trị văn hóa – văn minh mà còn tiến tới năng lực phát hiện và nắm bắt được quy luật tiến hóa của lịch sử nhân loại, xu thế của thời đại bằng thế giới quan khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Đi từ dân tộc đến nhân loại, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin là quá trình từ nhận thức cảm tính đến khoa học. Với thế giới quan khoa học và cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện và nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển trong tiến trình đi lên của loài người và đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Do đó, Nguyễn Tất Thành đã đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản và chỉ rõ “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”. Người đã chỉ rõ: cách mạng giải phóng dân tộc phải hướng đích tới sự giải phóng triệt để đối với con người theo quy luật tiến hóa tự nhiên của lịch sử nhân loại. Độc lập – Dân tộc phải đưa tới Tự do – Hạnh phúc cho con người.

Với con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chỉ ra, cách mạng Việt Nam hàm chứa sâu sắc các nội dung Dân tộc  Nhân loại và Thời đại, và do đó, với đường lối đúng đắn thuận theo quy luật tiến hóa của nhân loại, được sự ủng hộ của toàn dân và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, cách mạng Việt Nam đã hội đủ các yếu tố “Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa” đảm bảo cho sự thắng lợi.

Với tất cả các ý nghĩa đó, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà nội dung là giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng con người là triết lý phát triển Việt Nam. Đây là nội dung căn bản nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, chi phối mọi hoạt động lý luận và thực tiễn của cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người. Tìm ra con đường cứu nước đúng đắn là công lao vĩ đại đầu tiên, là cống hiến lý luận sáng tạo hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là di sản có giá trị vĩnh hằng đối với cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với các giá trị trên đây, sự kiện lịch sử Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước càng có ý nghĩa thực tiễn. Với đường lối đổi mới của Đảng, trên thực tế, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh để thâu nhận các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt xu thế phát triển của loài người, nhằm vận dụng và tiến hành thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, tạo ra các điều kiện để thực hiện ngày một hoàn chỉnh các nội dung của tiêu chí Độc lập – Tự do – Hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam. Bởi vậy, cần phải nắm vững thế giới quan, phương pháp Hồ Chí Minh để không chỉ thâu nhận được các giá trị văn hóa – văn minh, nắm bắt được xu thế phát triển của loài người, mà còn vận dụng phù hợp với thực tiễn của đất nước. Chỉ có như vậy mới giải quyết tốt các mối quan hệ dân tộc – giai cấp, quốc gia – quốc tế, dân tộc – thời đại, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với thời đại, liên tục tạo lập lực – thế – thời mới, đưa đất nước phát triển vững chắc thực hiện các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Một thế kỷ đã trôi qua, nhưng sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời đại. Ngày nay, trong hành trình hội nhập cùng nhân loại đi đến tương lai, chúng ta càng tin tưởng và kiên trì phấn đấu trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chỉ ra, quyết tâm đưa ngọn cờ của Người đến đích thắng lợi hoàn toàn.

Nguyễn Vân Chương

baodienbienphu.info.vn

Tư tưởng vì nhân dân, vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Bộ đội Cụ Hồ”

Sáu mươi năm đã trôi qua, kể từ ngày Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh tại khu rừng Sam Cao thuộc tổng Hoàng Hoa Thám, châu Nguyên Bình (nay thuộc xã Cẩm Lý, huyện Hòa An), tỉnh Cao Bằng.

”Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành một biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của nhân cách và tâm hồn Việt Nam, sống mãi trong trái tim khối óc mỗi con người Việt Nam, vĩnh hằng cùng lịch sử dân tộc. ”Bộ đội Cụ Hồ” trong phẩm chất nhân cách của mình, trong sâu thẳm tâm hồn mình, luôn luôn quán triệt và thấm nhuần sâu sắc tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong những ngày này, dân tộc ta, mỗi con người Việt Nam chúng ta rất tự hào và xúc động khi từ các diễn đàn trong cả nước đang vang lên những lời ngợi ca về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, những con người mang đậm cốt cách tư tưởng, tác phong, đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh.

Càng tự hào và xúc động, chúng ta càng thấm thía công ơn trời biển của Bác Hồ, bởi chính Người đã sáng lập, giáo dục và rèn luyện bộ đội ấy, để bộ đội ấy thực sự là bộ đội vì nhân dân, vì con người, bộ đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà hy sinh chiến đấu không ngừng, không mệt mỏi. Có thể nói, sự thấm nhuần tư tưởng vì nhân dân, vì con ngưới trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh của ”Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện sâu sắc và phong phú trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến một số phương diện độc đáo và nổi bật.

Tư tưởng chỉ đạo thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân của lãnh tụ Hồ Chí Minh là tư tưởng vì nhân dân, vì con người, thể hiện sâu sắc trong ”Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” do Người trực tiếp khởi thảo. Ngay trong mục ”Tên và phương châm hoạt động” của Đội, Người đã nêu rõ: Tên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Đây là tư tưởng rất cơ bản về vận động, giác ngộ quần chúng, vận động nhân dân trong quá trình tiến hành cách mạng. Ngay từ tháng 12 năm 1944, Người đã xác định: Cuộc kháng chiến của ta là kháng chiến toàn dân, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, nên khi tập trung xây dựng đội chủ lực vẫn cần duy trì lực lượng vũ trang các địa phương, cùng phối hợp hành động và giúp đỡ nhau về mọi mặt. Đội chủ lực có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang địa phương, giúp đỡ về huấn luyện, vũ khí làm cho lực lượng địa phương không ngừng trưởng thành.

Về quan hệ giữa đội chủ lực với các đội vũ trang địa phương, Người chỉ rõ: Đưa cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến. Về chiến thuật, Người nhấn mạnh: Vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, ẩn hiện bất thường, làm cho kẻ địch luôn bị bất ngờ, khó truy tìm và chịu thất bại. Khi xác định vai trò của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ”là đội quân đàn anh”, là đội chủ lực, Người cũng đã chỉ ra tiền đồ phát triển của Đội: ”Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”. Để thực hiện được vai trò và tiền đồ đó, Người đã căn dặn cán bộ và chiến sĩ của Đội: Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được, tổ chức của Đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo.

Quán triệt tư tưởng vì nhân dân, vì sự nghiệp giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến trong ”Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại buổi lễ thành lập Đội, trước đại diện của Liên tỉnh ủy Cao – Bắc Lạng, đại biểu nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, Dao… và 34 cán bộ, đội viên được chọn lọc từ các đội du kích địa phương, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đọc diễn từ nêu bật ý nghĩa thành lập Đội và khẳng định: ”Nhiệm vụ mà đoàn thể ủy thác cho chúng ta là một nhiệm vụ quan trọng nặng nề. Chính trị trọng hơn quân sự tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhiệm vụ ấy có tính chất là một nhiệm vụ giao thời…, để kêu gọi toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở cnính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này… Thế là từ giở phút này trở đi, chúng ta cùng nhau tiến lên trên con đường vũ trang tranh đấu. Chúng ta… quyết tiến tới để làm tròn nhiệm vụ. Bao nhiêu oán hờn của dân tộc, bao nhiêu sự tàn khốc thê thảm đang chờ một cuộc thanh toán. Chúng ta nguyện đem xương và máu để làm việc đó. Chúng ta sẽ vạch rõ cho toàn dân rằng con đường sống duy nhất là con đường đoàn kết để vũ trang đứng dậy, Quân giải phóng sẽ tỏ rằng mình là một đội quân của dân, của nước, đi tiên phong trên con đường giải phóng dân tộc… Từ giờ phút này, các đồng chí sẽ noi theo ngọn cờ mà tiến lên trên con đường máu. Chúng ta tiến tiến mãi cho đến ngày giải phóng của toàn dân”.

Hồi tưởng lại những ngày đầu quân đội ta mới ra đời cách đây tròn sáu mươi năm, chúng ta càng thấm thía sâu sắc rằng: Bác Hồ quan tâm chăm sóc quân đội với một trái tim thương yêu vô bờ bến ngay từ những ngày quân đội mới chập chững vào đời. Đấy chính là cội rễ kiến tạo nên một quân đội ngay từ khi ra đời đã là quân đội của nhân dân, một quân đội vì dân, vì con người trong cả tâm hồn, tình cảm, lý tưởng, đạo đức, văn hóa và cả mọi mặt hoạt động chiến đấu, công tác và lao động sản xuất.

Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử văn hóa nhân loại và trở thành một danh nhân văn hóa thế giới. Ngôi sao văn hóa Hồ Chí Minh trong bầu trời văn hóa nhân loại toả chiếu khắp các châu lục và rọi chiếu cả đến nền văn hoá tương lai. Bởi văn hóa Hồ Chí Minh là văn hóa vì dân, vì con người. Vì văn hóa xét đến cùng là do con người và vì con người. Mà Hồ Chí Minh là một con người cả tâm hồn và cuộc sống vốn lúc nào và bao giờ cũng vì nhân dân, vì con người. Đạo đức Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả, sáng ngời lòng nhân ái, sự quên mình, luôn luôn sống vì đồng loại, vì đồng bào và vì nhân dân. Được tắm mình trong ánh sáng văn hóa, đạo đức đó, được học tập, rèn luyện và noi theo tấm gương văn hóa, đạo đức đó, ”Bộ đội Cụ Hồ” trong sáu mươi năm qua đã mang đậm nét cốt cách, phong thái, tâm hồn Hồ Chí Minh. Đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh được kết tinh sâu đậm trong những đức tính, phẩm chất tốt đẹp của «Bộ đội Cụ Hồ”.

Ngày nay, trong khi nền văn hóa vật chất của thế giới đang đạt được những bước phát triển phi thường, thì loài người lại đang lo ngại cho nền văn hóa của mình, bởi nguy cơ suy thoái về tinh thần có chiều hướng phát triển gia tăng ở quy mô thế giới. Ở nước ta, trước tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, trước sự tấn công thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch trên mọi mặt đời sống xã hội, nhất là trên lĩnh vực văn hóa, đạo đức, lối sống, nền văn hóa, đạo đức của chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng. Người ta hồ nghi một nền văn hóa lành mạnh, mang bản sắc dân tộc sâu sắc sẽ không có khả năng chiếm lĩnh trận địa tư tưởng – văn hóa, không thể mang tính trội trong đời sống xã hội trước sự xâm thực của các loại ấn phẩm văn hóa xấu độc. Bao nhiêu lo toan, trăn trở trước lối sống thực dụng chỉ biết bản thân mình, chỉ sống cho mình mà không mảy may chăm lo đến lợi ích của cộng đồng, của xã hội đang thường trực trong suy nghĩ của những người đã từng hiến dâng cả quãng đời thanh xuân tươi đẹp của mình cho lý tưởng của Đảng và hạnh phúc của nhân dân.

Bao nhiêu hệ thống giá trị đang bị đảo lộn, lẫn lộn và mơ hồ. Bao nhiêu vấn đề trớ trêu về đạo đức, lối sống đang nảy nở tràn lan tha hóa về nhân phẩm, trống rỗng về tâm hồn, cạn kiệt về lý tưởng bởi sự tác động của xu hướng phi chính trị hóa, phi lý tưởng, sự quay trở về lợi ích cá nhân ích kỷ tầm thường nhỏ nhen.

Làm sống lại hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thấm nhuần tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sẽ có ý nghĩa to lớn và tác dụng thiết thực! Ngày nay, trong bối cảnh mới, trước yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, ”Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ phát huy và phát triển bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội lên một trình độ mới, làm cho tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh ngày càng nở rộ trong cán bộ, chiến sĩ quân đội, mà còn phải tuyên truyền, vận động mọi người quán triệt sâu sắc tư tưởng đó để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần đẩy lùi những tác nhân làm vẩn đục hay hoen ố nền văn hóa, đạo đức dân tộc. Đó là một nhiệm vụ to lớn và vẻ vang của quân đội ta trong tình hình hiện nay.

Tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh thấm nhuần trong ”Bộ đội Cụ Hồ” còn được thể hiện ở phương diện ”Bộ đội Cụ Hồ” luôn luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn luôn được nhân dân nuôi nấng, chở che, đùm bọc.

Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại nhưng không bao giờ Người tách mình ra khỏi nhân dân. Người khiêm tốn, giản dị, gắn bó, hoà mình cùng mọi người, bất cứ lúc nào cũng đến với đồng bào, đồng chí, đến với nhân dân như một người bạn, người thân, người ruột thịt. Trong sự bình dị ấy, Người nâng mọi người lên ngang tầm cái thiện, cái cao cả: ”Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta. Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”. Với Hồ Chí Minh:

”Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân.

Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân
Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân.
“Trong ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa thì nhân hoà là hơn tất cả”.
”Hết lòng hết sức phục sự nhân dân, bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy”.

Đó là tư tưởng vì nhân dân nhất quán trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh. Qua sáu mươi năm lịch sử, tư tưởng đó thấm vào máu thịt ”Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành nét đặc trưng tiêu biểu cho phẩm chất nhân cách ”Bộ đội Cụ Hồ”. Và cũng chính vì vậy mà ”Bộ đội Cụ Hồ” trở thành một bộ đội vì dân, thực sự của dân. Bởi “Bộ đội Cụ Hồ” là bộ đội được giáo dục, rèn luyện theo văn hóa, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Phẩm chất hàng đầu của bộ đội ấy là tính nhân dân sâu sắc. Đó là cội nguồn làm nên sức mạnh bách chiến bách thắng của quân đội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho quân đội ta một sự ưu ái đặc biệt, nhất là đối với người chiến sĩ. Người chiến sĩ chính là hình ảnh nhân dân trong ”Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, kỷ niệm sáu mươi năm Ngày thành lập quân đội, chúng ta không thể không coi trọng xây dựng ngày càng tốt hơn mối quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ, nhất là ở các phân đội. Chúng ta phải nghiên cứu tìm hiểu thật sự sâu sắc và đầy đủ hơn nữa về người chiến sĩ hiện đại, để đổi mới toàn diện công tác đối với chiến sĩ. Phải đến với chiến sĩ bằng văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh. Phải nâng tầm người chiến sĩ hiện đại lên ngang tầm văn hoá, đạo đức Hồ Chí Minh. Phải làm sao cho nhân dân nhìn vào chiến sĩ thấy mình, thấy dân tộc và thấy được cả tương lai của quân đội. Phát huy nhân tố con người – người chiến sĩ ”Bộ đội Cụ Hồ”, đang trở thành một vấn đề cấp bách, nóng hổi trong xây dựng quân đội hiện nay. Đó là nhiệm vụ nặng nề và hệ trọng của công tác đảng, công tác chính trị của quân đội trong những năm tới.

Theo Nguyễn Quang Hoài, Tạp chí Dân vận, tháng 12/2004

cpv.org.vn

Tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh về văn hoá giáo dục

Năm 1945, cùng với thắng lợi chính trị, nhân dân ta đã xóa đi một nên giáo dục đồi bại, xảo trá của thực dân Pháp: Chỉ dạy cho nhân dân sùng bái những kẻ mạnh hơn mình; dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình; dạy cho thanh niên khinh rẻ nguồn gốc, dòng giống mình…Đó là một nền giáo dục nguy hiểm hơn cả sự dốt nát. Chế độ mới ra đời, cùng với việc thiết lập nền cộng hòa dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc giải quyết nạn dốt là một tronh những nhiệm vụ cấp bách. Bởi vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “Yếu thì dại, dại thì hèn”. Nói như Lênin : mù se đứng ngoài chính trị. Quan điểm của Hồ Chí Minh là phải làm cho nhân dân biết đọc, biết viết, từng bước nâng cao dân trí. Bởi vì nước ta là một nước dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ. Công việc kháng chiến kiến quốc, đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chúng ta phải đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân. Muốn làm được điều đó, cần phải có giáo dục và giáo dục lại nhân dân.

Giáo dục theo quan điểm của Hồ Chí Minh sẽ tạo ra tính liên tục của cách mạng. Bởi vì với việc nâng cao dân trí, nhân dân sẽ biết quyền lợi, bổn phận, có kiến thức mới để tham gia vào công việc xây dựng. Sự thành công của cả nước, không có yếu tố nào quan trọng hơn giáo dục.

Giáo dục sẽ tạo ra những nguyên liệu không có sẵn trong tự nhiên như kĩ sư, chuyên gia, bác học… Giáo dục sẽ góp phần quyết định làm cho non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp, dân tộc bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu. Giáo dục tạo ra nhân cách và từng bước hoàn thiện con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện
Tỉnh dậy sinh ra kẻ dữ hiền;
Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giáo dục là yếu tố quyết định trực tiếp nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học kĩ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, trình độ chuyên môn quản lý. Giáo dục sẽ giúp cho người học có một vốn liếng về lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam và thế giới, mà nếu không có nó sẽ không giữ được độc lập, không thể tham gia vào công vjiệc kiến thiết xây dựng nước nhà dân giàu, nước mạnh. Giáo dục sẽ giúp cho mỗi người dân có kiến thức mới để “biến mỗi nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc”.

Với tầm nhìn thời đại, Hồ Chí Minh-người sáng lập nền giáo dục mới, nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã đưa ra những mục tiêu của giáo dục là “đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam”, làm “Phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em. Học để làm việc, làm người , làm cán bộ. Học để phục vụ đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Đồng thời “Học để sữa chữa tư tưởng” “Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng”… Theo quan điểm của Người, những mục tiêu đó của giáo dục có quan hệ biện chứng với nhau. Có phẩm chất chính trị và chuyên môn, mà thiếu phẩm chất đạo đức với ý nghĩa là gốc, là nguồn thì cũng vô dụng. Người dạy “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thi còn làm nổi việc gì ?”. (Hồ Chí Minh toàn tập-T5-Tr 253).

Muốn đạt được mục tiêu đó thì nội dung giáo dục phải toàn diện, bao gồm cả văn hóa, chuyên môn nghề ngiệp, các nghành nghề liên quan trực tiếp tới công nghiệp, nông nghiệp, nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Theo quan điểm của Người, các nội dung giáo dục có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu không có trình độ học vấn thì không học tập được kĩ thuật, không học được kĩ thuật thì không theo kịp thời đại mà cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, và như vậy ngày càng tụt hậu xa hơn so với các nước. Nhưng điều đặc biệt là phải học tập chính trị. Bởi nếu chỉ học tập văn hóa, kĩ thụât, chuyên môn mà không chính trị thì như người nhắm mắt mà đi. Giáo dục chính trị là nền tảng, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn. Chính trị nói ở đây là Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối quan điểm của Đảng. Học chính trị không phải là thuộc sách Mác-Lênin làu làu, không phải học một cách giáo điều, mà là “Học cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình”.

Giáo dục chỉ phát huy hết vai trò, sức mạnh của mình khi thực hiện đúng đắn phương châm, phương pháp giáo dục. Đây là nội dung được Bác Hồ đặc biệt quan tâm, vì nó sẽ tạo ra sự khác biệt về chất so với nền giáo dục phong kiến xa rời thực tế, và nền giáo dục thực dân đồi bại, xảo trá.
Theo Hồ Chí Minh, phải luôn luôn gắn nội dung giáo dục với thực tiễn Việt Nam, học đi đôi với hầnh, lí luận đi đôi với thực tế, học tập phải kết hợp với lao động sản xuất.

Theo Người, cần có một thái độ hiếu học, cầu tiến, ý thức chủ động, học tập không mệt mỏi, học suốt đời, học mọi lúc mọi nơi, học mọi người. Bác Hồ rất quan tâm tới việc học tập bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp, đặc biệt là nhân dân. Bởi vì “không học nhân dân thì không lãnh đạo được nhân dân” và có “Biết làm học trò dân thì mới làm được thầy của dân”.

Một phương pháp quan trọng là phải giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết với nhau, tự phê bình và phê bình trong học tập. Người nói “Càng học càng thấy dôt”, có nghĩa là không ai co thể tự cho mình là biết hết mọi điều. Kho tàng tri thức Việt Nam và nhân loại là vô tận. Chúng ta đang sống trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang tiến như vũ bão. Khoa học Xã hội-Nhân văn, khoa học tự nhiên đang có những bước tiến vượt bậc. Bởi thế, nếu tự mình-dù tài giỏi đến mấy-cũng không thể am hiểu mọi lĩnh vực. Khẩu hiệu điều kiện không chỉ có giá trị bền vững trong chính trị mà còn có ý nghĩa to lớn trong giáo dục.

Một vấn đề lớn thuộc phương châm giáo dục là giáo dục phải phù hợp với lứa tuổi và điều kiện thực tế. Đây thực sự là một khoa học phù hợp với lứa tuổi cả nội dung và phương pháp. Và điều kiện này liên quan đến nhiệm vụ của mỗi cấp giáo dục “Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành… Trong học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn thiết thực…Tiểu học thì cần giáo dục cho các cháu thiếu nhi: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công…”. (HCM toàn tập, NXB CTQG, HN, 1995. T8. Tr81.

Để có một nền giáo dục đạt chất lượng, hiệu quả cao, thể hiện bản chất tốt đẹp của nền giáo dục xã hội xã hội chủ nghĩa chủ nghĩa, thì phải thật sự dân chủ, bình đẳng trong giáo dục; phải gắn liền với thi đua và phương pháp nêu gương. Dân chủ thể hiện ở thảo luận, bàn bạc, phát biểu ý kiến, ở quan hệ đoàn kết chặt chẽ giữa những người làm công tác giáo dục, giữa thầy giáo với học sinh.

Vấn đề then chốt quy định chất lượng giao dục là xây dựng đội ngũ những người thầy giáo. Bởi vì “ Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, phải xây dựng những người thầy giáo tốt – yêu nghề, yêu trường, luôn tất cả vì học sinh thân yêu, không ngừng trao dồi đạo đức cách mạng. Phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn, phương pháp sư phạm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

Những nội dung nêu trên trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc mà còn hoàn toàn phù hợp với những nguyên lý giáo dục trong thế kỉ XX. Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế tri thức, nhân loại đã có sự lựa chọn “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người, tự khẳng định mình”. Loài người đang quan tâm tới vấn đề giáo dục thường xuyên, suốt đời. Giáo dục được xác định cho tất cả và tất cả giáo dục, tức là mọi người được học tập, một xã hội học tập.

Tác giả : Ngô Thị Vân – Gv khoa Xây dựng Đảng

truongchinhtrina.gov.vn