Tag Archive | Dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về người “công bộc của dân”

Trong thư gửi “Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” được đăng trên báo Cứu quốc số ra ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó có nhiệm vụ điều hành bộ máy nhà nước vừa bắt đầu vào nền cộng hoà non trẻ và nặng tàn dư phong kiến nên đã dùng khái niệm công bộc để hướng dẫn cán bộ công chức phục vụ nhân dân. Ta hiểu “công bộc” là gì? Theo từ điển Hán-Việt, công có nghĩa là của chung, bộc có nghĩa đầy tớ, cụm từ “công bộc của dân” có nghĩa là “người đầy tớ chung của dân” hay người đầy tớ công vụ.

Xưa có truyện Liễu Tôn Nguyên thời nhà Đường mời rượu tiễn bạn là Tiết Tồn Nghĩa sắp đi làm quan khuyên rằng: “Phàm ra làm quan ở hạt nào, phải biết chức phận của mình là người làm việc cho dân, chớ không phải khiến dân làm việc cho mình. Dân ở trong hạt đã chịu nộp thuế để lấy tiền thuê quan giữ sự công bình cho dân. Mà nay ngán thay, thiên hạ ra làm quan, tiền thuế của dân thì biết lấy cả, còn công việc của dân thì trễ biếng, thường khi lại dụng làm ăn trộm của dân nữa…Nên kẻ làm quan, nếu còn biết công lý thì ai mà không chịu giữ gìn cố làm thế nào cho đáng đồng tiền thuê của dân?”.

Nay, nhìn lại lịch sử những năm tháng gian khổ trong hai cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc, biết bao tâm gương cán bộ, đảng viên đã quên mình vì nước vì dân, để lại tiếng thơm mãi cho đời sau. Đó thật sự là những con người từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Và cũng chính vì vậy họ được nhân dân đùm bọc, tin yêu che chở và giúp đỡ vượt qua bao gian lao thử thách đến ngày đất nước thống nhất, độc lập tự do. So với những năm tháng khó khăn gian khổ của chiến tranh và những năm đầu sau khi đất nước thống nhất, thời mở cửa và hội nhập, đội ngũ cán bộ công quyền có cuộc sống đầy đủ hơn, có nhiều điều kiện, lợi thế để học tập mở mang kiến thức hơn thế hệ cha anh. Nhưng bên cạnh đó, cũng thường xuyên tiếp xúc với những cám dỗ vật chất mà bất cứ lúc nào, nơi nào cũng dễ bắt gặp.

Phải suy nghĩ, khi hiện nay, trên các trang báo hay ngoài xã hội, người dân lúc nói chuyện với nhau, mỗi khi nhắc đến cán bộ nhà nước, nhất là lãnh đạo ở cấp quận, huyện, xã, phường… thường dùng những từ xa lạ chỉ có trong thời phong kiến hay chế độ cũ như “quan huyện” rồi “lý trưởng”, hay nhẹ nhàng hơn mà khá phổ biến là “quan chức nhà nước”…

Đau lòng, khi có những cán bộ đã không giữ được lập trường, không thắng được sự cám dỗ của vật chất tầm thường, để rồi làm trái với luật pháp, làm mất lòng tin của nhân dân. Có việc cán bộ ăn chặn tiền của dân, kể cả những đồng tiền cứu trợ bão lụt, tiền hỗ trợ tết cho người nghèo hay những vụ chia đất công hưởng lợi ở tỉnh này tỉnh kia… làm đau lòng những cán bộ, đảng viên chân chính. Không thể vui khi có chuyện những “công bộc” lại đi hách dịch, vòi vĩnh, nhũng nhiễu, hành dân hơn là phục vụ nhân dân. Nơi tiếp đón công dân ở một vài cơ quan nhà nước vẫn được ghi là “Phòng tiếp dân” đã làm mất đi sự trịnh trọng và phần nào quyền của những người công dân khi đến liên hệ công việc. Thấm thía, lời dạy của Bác luôn nhắc nhở những người làm trong các cơ quan công quyền luôn phải tự nhìn nhận lại bản thân để xem đã làm những việc có lợi cho dân hay chưa, đã xứng đáng với vai trò, vị trí “công bộc” của dân hay chưa. Lời dạy của Bác đến nay và mãi về sau vẫn luôn mang tính thời sự.

Thật vậy, yếu tố con người đóng vai trò, bộ phận cực kỳ quan trọng trong cơ thể bộ máy nhà nước. Những hành vi sai phạm, biến chất, thoái hoá của cán bộ trong các cơ quan công quyền sẽ khó làm cho dân tin, dân phục, vô hình trung làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân với nhà nước, với chế độ. Một chính quyền “ của dân, do dân và vì dân” không thể chấp nhận việc tồn tại những “công bộc” vi phạm kỷ cương phép nước, bản thân biết sai mà vẫn làm, như vậy là có tội, là hại dân. Xử lý nghiêm, không nương nhẹ, không châm chước đối với những cán bộ này mới làm yên dân.

Hoàn thiện khung pháp lý để điều chỉnh đối tượng là cán bộ, công chức là hết sức quan trọng. Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998 quy định về cán bộ, công chức Điều 2 có nêu rõ: Cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và năng lực công tác để thực hiện tốt nhiệm vụ, công việc được giao.Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008, gồm 10 chương, 87 điều quy định về cán bộ, công chức; bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức và điều kiện đảm bảo thi hành công vụ. Trong đó mục 2 Điều 8 có ghi: Tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo phải nhanh chóng xây dựng cho được một chương trình cải cách hành chính có tính chiến lược, dài hạn của chính phủ qua việc ban hành quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010. Khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá. Một loạt chủ trương, giải pháp quan trọng được đưa ra như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; tách quản lý nhà nước với hoạt động sản xuất kinh doanh, tách cơ quan quản lý công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; cải cách thủ tục hành chính. Trong đó một giải pháp hết sức quan trọng đó là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực, thiết lập kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng…

Cải cách hành chính là vấn đề quan trọng trong việc củng cố, hoàn thiện bộ máy công quyền, có quan hệ trực tiếp đến lợi ích của nhân dân. Đến nay, sự chuyển biến tích cực đã có ở nhiều sở, ban, ngành và nhiều cán bộ, công chức. Tuy nhiên, trên thực tế, tỉnh thoảng vẫn còn xảy ra tình trạng “hành là chính” tại các cơ quan công quyền. Điều đó có nhiều nguyên nhân, trong đó thái độ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức chiếm một phần không nhỏ. Đặt ra yêu cầu với mỗi cán bộ, công chức cần được giao chức trách, nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể, thường xuyên phải kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý những sai phạm, thiếu sót của họ. Cải cách hành chính cần kết hợp với việc giáo dục đạo đức và văn hoá công sở.

Công bằng mà nói, hiện chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức chưa sát với thực tiễn cộng vụ mà mỗi cán bộ, công chức đảm nhiệm. Ở khía cạnh khác, sự bất cập trong chính sách tiền lương đối với cán bộ công chức tạo ra làn sóng cán bộ công chức bỏ việc, xin thôi việc và một bộ phận cán bộ công chức nhũng nhiễu, cửa quyền, hách dịch, tham nhũng… Để động viên cái tốt, động viên những cán bộ công chức luôn tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, thấy việc có lợi cho dân thì làm, luôn lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, Chính phủ đã đưa ra 4 nội dung cải cách trong đó có nội dung: đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Theo đó, cải cách tiền lương và chế độ, chính sách đãi ngộ cần có sự điều chỉnh hợp lý. Phấn đấu để đạt được lợi ích vật chất tương xứng với tài năng đóng góp có ích cho xã hội của cán bộ, công chức. Lợi ích kinh tế cá nhân được tôn trọng cùng với lợi ích cộng đồng.

Nhân dịp kỷ niệm 77 năm thành lập Đảng (3/2/2007), Bộ Chính trị đã quyết định tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân. Đây là một chủ trương lớn mang tính cấp bách trong bối cảnh hiện nay và có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Bởi vậy, lúc này hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, công chức cần xác định rõ vị trí của mình đã thực sự là “công bộc của dân” như lời dạy của Người?

HOÀNG BÁCH

ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng Điện Biên Phủ

Bác Hồ tặng thưởng huân chương cho chiến sĩ Điện Biên - ảnh minh họa

Tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị và quyết định tập trung tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với phương châm “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, đánh chắc thắng”.

Người đã theo dõi chặt chẽ việc chuẩn bị cho chiến dịch và gửi thư động viên bộ đội, dân công quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Cùng với quyết tâm bao vây tiêu diệt cứ điểm Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã tuyên bố sẵn sàng thương lượng với chính phủ Pháp để giải quyết hòa bình ở Việt Nam trên cơ sở thật sự tôn trọng nền độc lập của Việt Nam.

Thắng lợi về quân sự đã tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh ngoại giao đã buộc Chính phủ Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chiến thắng ở Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã quyết định thắng lợi tại Hội nghị Genève về Đông Dương ngày 20 tháng 7 năm 1954, trong đó chính phủ Pháp phải ký kết đình chiến và công nhận chủ quyền toàn vẹn của ba nước Việt Nam, Lào, Camphuchia.

Tại hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 7 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ đế quốc Mỹ đang là kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân ta và đề ra khẩu hiệu hành động: “ Hòa bình-thống nhất, độc lập, dân chủ”.

Ngày 22 tháng 7 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào cả nước, trong đó khẳng định Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào ta nhất định được giải phóng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ gian khổ ác liệt hy sinh của dân tộc Việt Nam. Người đã cùng tập thể Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo quân và dân ta lập nên những chiến công hiển hách mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, làm chấn động “Năm Châu bốn biển”. Điện Biên Phủ – Hồ Chí Minh đã trở thành khẩu hiệu chiến đấu của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Tên tuổi của Người đã được nhân dân thế giới nhắc đến với niềm tin yêu và cảm phục. Chiến thắng Điện Biên còn chứng minh một điều là một nước thuộc địa nhỏ yếu cũng có thể đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh nếu dân tộc đó có quyết tâm và đường lối đúng.

Ngọc Bích – ảnh PXL

ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

Càng thêm tự hào được sống trong thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh

Năm 1990, Nhà xuất bản Thông tấn xã Novosti, thuộc Liên Xô trước đây đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách: Người yêu nước, chiến sĩ, nhà nhân đạo Hồ Chí Minh do tác giả Ép-ghê-ni Cô-Bê-Lép biên soạn.

Tác giả đã viết: “Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng khi còn sống tên tuổi đã thật sự trở thành thần thoại. Một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong tính cách Hồ Chí Minh là vô cùng yêu quý thiếu nhi. Bản thân Người vốn không được hưởng hạnh phúc gia đình nên Người đã dành tất cả tấm lòng yêu thương cho đồng bào, nhất là trẻ em Việt Nam. Với nghị lực phi thường, ý chí sắt đá, lòng dũng cảm vô song, cuộc sống thanh đạm, giản dị và lòng nhân đạo của Người đã làm cho nhân dân Việt Nam cũng như những người tiến bộ trên thế giới kính trọng và yêu mến sâu sắc.

Hồ Chí Minh được nhiều người khâm phục nhắc tới và mỗi người đều nêu bật một khía cạnh nào đó đặc biệt nổi bật của người anh hùng dân tộc Việt Nam như Chủ tịch Cuba Fidel Castro nói: Hồ Chí Minh là nhà Mác xít Lê nin nít giản dị và triệt để nhất của thời đại chúng ta, còn Thủ tướng Ấn Độ In đi ra Gan đi lại gọi Người là “Hiệp sĩ” của cách mạng.

Lời hát “Việt Nam-Hồ Chí Minh” cũng luôn được mọi người nhắc tới ở khắp năm châu bốn biển. Hồ Chí Minh là một con người có tài sáng tạo phong phú, là một nhà báo, nhà chính luận, nhà viết văn và nhà thơ.

Hồ Chí Minh là biểu tượng của tình đoàn kết dân tộc, nhiều trí thức, tư sản dân tộc đã tham gia cách mạng vì Người là niềm tin tất thắng. Tên tuổi của Người đã được ghi vào sử sách thế giới không chỉ là người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam mà là nhà hoạt động của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, là một trong những “thủ lĩnh” lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Những người sáng lập Phong trào không liên kết năm 1961 như Gia-oa-hác-lan Nê-ru, A khơ mát Xu các nô cũng là bạn thân thiết của Người. Hồ Chí Minh có một uy tín lớn, thật là vô giới hạn chứ không phải tệ sùng bái cá nhân như một số nước khác. Tất cả những ai hạnh phúc được gặp Người đều sửng sốt bởi đức tính giản dị, lòng nhân đạo và lòng dũng cảm vô song.

Nhiều người gặp Hồ Chí Minh nhận xét rằng Người cực kỳ nhạy cảm với tất cả những gì liên quan đến đời sống, đến những đau khổ và hy sinh của nhân dân Việt Nam. Cho đến cuối đời, Người còn nói “không nên tổ chức mừng kỷ niệm ngày sinh của tôi một cách rộng rãi như vậy”. Có thể mạnh dạn khẳng định rằng chính tính cách đặc sắc, những phẩm chất tuyệt vời của Hồ Chí Minh đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh thắng lợi vì giải phóng dân tộc và xã hội, vì độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam”.

Đọc sách của người nước ngoài viết về Bác Hồ chúng ta càng thêm tự hào được sống trong thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bùi Hiển

ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

Bác Hồ rèn luyện sức khỏe

Sinh thời, Bác Hồ rất chú ý rèn luyện sức khỏe và động viên mọi người cùng tập thể dục, thể thao. Bác bảo: “Tự tôi, ngày nào cũng tập”. Ngày nay, chúng ta thực sự xúc động khi xem những thước phim và bức ảnh tư liệu quý ghi lại hình ảnh Bác tập quyền, tập thể dục, chơi bóng chuyền…

Theo đồng chí Hoàng Hữu Kháng – người trực tiếp bảo vệ Bác Hồ từ năm 1945 đến 1951 thì cuối năm 1945, theo đề nghị của Bác, trong một tuần, ông đã hướng dẫn Người bài “Bát bộ liên hoa quyền”, gồm 49 động tác. Biết Bác thích bóng chuyền và bơi, nên mọi người cố gắng bố trí gần cơ quan trung ương có sân bóng và sông, suối. Kể cả ở chiến khu, sân, suối đều cách chỗ ở cả cây số, Bác vẫn cố gắng tập luyện hằng ngày.

Khi đánh bóng chuyền Bác rất vui, còn cổ vũ mọi người cùng chơi vui vẻ. Anh em gọi Bác là “tủ” và khi có bóng lại hò nhau “Bỏ vào “tủ”!…”. Bác cười, đập tay vào người và hô to: “A, nó truy “tủ”! Kháng, Chiến, Trường, Kỳ đâu, mau bảo vệ “tủ”!”. Quả bóng nào Bác đánh không qua lưới, Người liền giải thích: “Không, quả này Bác đánh ngoại giao; quả này để tăng tình bằng hữu!”. Tất cả đều cảm thấy gần gũi, vui vẻ…

Về mùa hè, những lần Bác đi công tác phải qua sông, suối, anh em bảo vệ đều chuẩn bị thuyền hoặc mảng để Bác dùng. Nhưng chỉ khi nào nước sông suối lớn, chảy xiết, Người mới đi thuyền. Còn không, Bác nhất định không chịu ngồi thuyền mà tự bơi cùng anh em trong đoàn. Khi lên bờ, Bác còn nói vui: “Bơi thế này vừa sạch người, vừa khỏe!”

Sau này về Hà Nội, công việc quá bận, nhất là tiếp khách triền miên, Bác ít có điều kiện chơi bóng chuyền và bơi. Sáng sáng, Người vẫn dậy sớm tập quyền, đi bộ và cho cá ăn. Những công việc ấy, Bác coi là chương trình thể thao hằng ngày của mình.

Liên Hà

bqllang.gov.vn

Học tập lời dạy của Bác về thi đua ái Quốc

Trong “Lời kêu gọi về thi đua ái quốc” ngày 11 tháng 6 năm 1948, Bác Hồ đã dạy: “Mục đích thi đua ái quốc là gì ? Là“ Diệt giặc đói khổ, Diệt giặc dốt nát, Diệt giặc ngoại xâm”. Để đạt được 3 mục đích trên, phải “ Dựa vào lực lượng của dân, Tinh thần của dân. Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ, đều cần phải thi đua.

Sau một năm phát động thi đua ái quốc, Bác Hồ đã chỉ ra những khuyết điểm trong công tác thi đua đó là “ còn nhiều nơi nhân dân, mà trước hết là cán bộ, chưa thật hiểu rõ ràng ý nghĩa của phong trào thi đua ái quốc.

Tưởng lầm thi đua là một việc khác với những công việc hàng ngày. Tưởng lầm thi đua chỉ nhất thời. Nhiều nơi đặt những kế hoạch thi đua không sát với hoàn cảnh, không sát với địa phương. Nơi thì đặt kế hoạch to quá, rồi làm không nổi. Nơi thì ban đầu làm quá ồ ạt, đến nỗi ít lâu sau thì đuối sức đi, không tiếp tục thi đua được. Nơi thì mỗi một đoàn thể, mỗi một ngành đều có một kế hoạch riêng mà kế hoạch thì không ăn khớp với nhau, thành thử “ trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.

Nhân dân thì bù đầu, không đủ sức mà theo cả các kế hoạch và không biết nên theo kế hoạch nào. Nhiều nơi có kinh nghiệm, hoặc kinh nghiệm thành công hoặc kinh nghiệm thất bại, nhưng không biết trao đổi cho nơi khác, để tránh cái dở, học cái hay của nhau. Nơi thì các ban vận động thi đua chỉ biết làm theo chỉ thị cấp trên. Trung ương gửi chỉ thị thế nào, khu cứ nguyên văn gửi xuống tỉnh, tỉnh cứ nguyên văn gửi xuống huyện, huyện cứ nguyên văn gửi xuống xã, chứ không biết điều tra kỹ lưỡng, áp dụng thiết thực”.

Để “Cùng nhau sửa chữa khuyết điểm”, Bác Hồ đã dạy: “công việc hàng ngày chính là thi đua. Từ trước đến giờ ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch, cho hợp vệ sinh, cho khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng, nay ta thi đua làm cho đất ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn.

Thi đua là phải trường kỳ, là phải giải thích cho mọi người dân hiểu rõ rằng: thi đua ái quốc là lợi ích của mình, lợi ích của gia đình mình và ích lợi cho làng, cho nước, cho dân tộc. Mọi người dân đều hiểu rõ thì tất cả mọi khó khăn đều giải quyết được, tất cả mọi khuyết điểm đều sửa chữa được”
Hiện các cấp, các ngành và các đoàn thể Mặt trận đã và đang có nhiều phong trào thi đua yêu nước, do vậy cần “ Học tập và làm theo” lời dạy của Bác Hồ về thi đua ái Quốc.

Ngọc Bích

ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

Con đường Cách mạng Tháng Mười Nga theo tư tưởng Hồ Chí Minh

TCCSĐT – Mặc dù trên quê hương của Cách mạng Tháng Mười đã có nhiều thay đổi, thành quả của cuộc cách mạng này đã bị đánh cắp… Nhưng không thể coi Cách mạng Tháng Mười đã đi vào quá khứ mà phải thấy đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn là quy luật tiến hóa của nhân loại mà Cách mạng Tháng Mười là một mốc son chói lọi mở đầu thời đại mới…

Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp. Tại đây, Người tiếp nhận những thông tin đầu tiên về Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Từ chỗ chưa biết V.I.Lênin là ai, thậm chí còn không biết nước Nga ở đâu, dần dần Người nhận ra rằng: Trên thế giới đã xảy ra một sự kiện lớn lao chưa từng có: Một dân tộc đã lật đổ bọn áp bức bóc lột mình, tự tổ chức quản lý mọi công việc đất nước, không cần bọn chủ và bọn toàn quyền. Việc đó xảy ra ở nước Nga với những người dũng cảm phi thường và người đứng đầu những người dũng cảm ấy là người dũng cảm nhất: V.I. Lênin. Thế là, Hồ Chí Minh quyết định ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga. Hồ Chí Minh viết: “Lúc bấy giờ tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính. Tôi chưa biết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một nhà yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình, trước đó tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của Lênin”(1)

Từ đó cho đến cuối đời mình, đề tài Cách mạng Tháng Mười Nga được Hồ Chí Minh trở đi trở lại rất nhiều lần. Trên thực tế, ở Hồ Chí Minh đã hình thành một hệ thống quan điểm sâu sắc, mới mẻ về Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

Cách mạng Tháng Mười – Cuộc cách mạng mở đầu thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Theo Hồ Chí Minh, nước Nga trước Cách mạng Tháng Mười vừa là nhà tù của các dân tộc, vừa bị một nhóm tài phiệt thế giới nô dịch. Dưới sự thống trị của Nga hoàng, nhân dân là những cái máy bằng thịt, những viên đạn bằng thịt để bọn đế quốc sử dụng xâu xé nhau. Trong xã hội cũ, quần chúng lao động là những người làm ra của cải nhưng bị chìm trong đói khổ và ngu dốt. Đó là số phận khốc hại và lâu dài của đại đa số nhân dân.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, số phận của những người lao động đã có sự thay đổi căn bản. Hồ Chí Minh viết: “Như ánh mặt trời rạng đông xua tan bóng tối, cuộc Cách mạng Tháng Mười đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài người,…mở đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử”(2). Sự kiện giai cấp công nhân Nga dưới sự lãnh đạo của những người Bôn-sê-vích đứng đầu là V.I. Lênin, liên minh chặt chẽ với nông dân và những người lao động lật đổ chính quyền của bọn địa chủ, tư sản bắt tay xây dựng xã hội chủ nghĩa được Hồ Chí Minh coi là: Sự kiện lớn lao nhất trong lịch sử loài người. Hồ Chí Minh viết: Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản từ chỗ là một ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã trở thành hiện thực…

Nhất quán quan điểm về ý nghĩa mở đầu thời đại mới của Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh vạch rõ: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã tạo nên một thời đại mới – thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Người nhấn mạnh: “Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”(3).

Trong hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận. Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, Người đã đúc rút thành những bài học quý. Hồ Chí Minh viết: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới những bài học hết sức quý báu bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và cả loài người. Giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ngày càng thấm nhuần những bài học lớn của Cách mạng Tháng Mười. Những bài học đó là:

Có sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng chân chính, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Thực hiện cho được liên minh công nông. Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng, chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy và bảo vệ chính quyền. Để bảo đảm thắng lợi cho cuộc đấu tranh một mất một còn giữa cách mạng và phản cách mạng cần có tinh thần cách mạng triệt để, luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, hy sinh, kiên quyết đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cần kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước nồng nàn với tinh thần quốc tế chân chính.

Với tinh thần đó, Hồ Chí Minh kết luận: “Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa đến như thế”(4).

Tác động của Cách mạng Tháng Mười đối với phong trào giải phóng dân tộc

Là người viết Bản án chế độ thực dân Pháp và người đi tiên phong trong việc thực thi bản án ấy, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc vị trí, vai trò của Cách mạng Tháng Mười đối với các dân tộc thuộc địa và phong trào giải phóng dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, trước Cách mạng Tháng Mười, nhân dân các nước thuộc địa là những công cụ biết nói, là “phương tiện vận tải hai chân”, là “những cái bia sống”, tính mạng người thuộc địa không đáng một đồng trinh. Hồ Chí Minh cho rằng nhân dân các nước thuộc địa đang sống trong chế độ nô lệ đương đại. Người viết: “Cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng”(5). Nhưng giấc ngủ hàng thế kỷ của các dân tộc thuộc địa đã bị tiếng sấm Cách mạng Tháng Mười đánh thức. Cách mạng Tháng Mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại cách mạng giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với số phận của dân tộc phương Đông. Nó thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, chỉ cho họ con đường giải phóng, nêu gương tự do dân tộc thực sự.

Thực tế cho thấy sau Cách mạng Tháng Mười, phong trào giải phóng dân tộc có sự phát triển về chất. Hồ Chí Minh dẫn chứng: “Cuộc Cách mạng Tháng Mười đã thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc, làm cho nó trở thành một làn sóng mãnh liệt trong tất cả các nước phương Đông: Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Dương, Việt Nam. Một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản theo con đường Cách mạng Tháng Mười đã giành thắng lợi và thiết lập chế độ mới. Cả lý luận Mác – Lênin, kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười và thực tế cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một số nước đã xác lập và chứng minh một chân lý. Hồ Chí Minh viết: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(6).

Như vậy, Hồ Chí Minh cho rằng tác động của Cách mạng Tháng Mười đến phong trào giải phóng dân tộc được thể hiện trên các mặt chủ yếu:

Cách mạng Tháng Mười nêu cho họ tấm gương. Điều này là cực kỳ quan trọng. Bởi vì đối với các dân tộc phương Đông một tấm gương sống còn có giá trị hơn những bài diễn văn tuyên truyền. Cách mạng Tháng Mười để lại cho họ những bài học kinh nghiệm to lớn, quý báu. Nhà nước Xô-viết – sản phẩm của Cách mạng Tháng Mười ủng hộ giúp đỡ to lớn có hiệu quả về vật chất và tinh thần đối với phong trào giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đánh một đòn mạnh vào kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc, Cách mạng Tháng Mười đã đem đến cho các dân tộc phương Đông một sự giúp đỡ có tính quyết định”(7).

Cần nói thêm là Hồ Chí Minh có những bài viết sâu sắc, cảm động và sự biết ơn, sự kính trọng của các dân tộc thuộc địa đối với V.I. Lênin – linh hồn của Cách mạng Tháng Mười. Bởi vì tên tuổi, sự nghiệp của V.I. Lênin gắn bó chặt chẽ với thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười và Nhà nước Xô-viết. Hồ Chí Minh cho rằng, V.I. Lênin đã đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa, trong con mắt cũng như trong cuộc đời đau khổ của các dân tộc thuộc địa, V.I. Lênin là người đã sáng tạo ra cuộc đời mới. Hồ Chí Minh khẳng định: “Khi còn sống, Lênin là người thầy, người cha của các dân tộc bị áp bức. Sau khi mất, Người là ngôi sao chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân loại bị áp bức. Lênin sống mãi trong lòng mọi người dân nô lệ ở các nước thuộc địa”(8).

Con đường Cách mạng Tháng Mười với con đường cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh có nhiều bài viết luận giải rất khúc chiết, thấu lý đạt tình về tác động của Cách mạng Tháng Mười đến cách mạng Việt Nam và mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ, bền vững, lâu dài giữa hai cuộc cách mạng này. Theo Người, trước Cách mạng Tháng Mười nhân dân Việt Nam bị bọn đế quốc thực dân bưng tai, bịt mắt, chưa hiểu gì về chủ nghĩa Mác và cũng chưa nghe nói đến V.I. Lênin.

Từ năm 1917 đến năm 1924, thực dân Pháp giăng một tấm lưới dày đặc xung quanh Việt Nam để ngăn chặn những tin tức về Cách mạng Tháng Mười. Vì vậy, thông tin về cuộc cách mạng này lọt vào Việt Nam một cách ít ỏi, chậm chạp bằng con đường bí mật từ Pháp sang, từ Trung Quốc đến. Những năm ấy người dân nước ta có cách tiếp nhận thông tin về Cách mạng Tháng Mười rất sáng tạo. Khi sách báo và tuyên truyền của chính thực dân Pháp và bọn tay sai nói xấu Cách mạng Tháng Mười, nói xấu chủ nghĩa cộng sản thì nhân dân bí mật bảo nhau: Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa cộng sản có hại cho đế quốc tức là có lợi cho chúng ta, chủ nghĩa cộng sản, Cách mạng Tháng Mười là kẻ thù của chủ nghĩa thực dân tức là anh em của các dân tộc bị áp bức. Hồ Chí Minh viết: Bàn tay bẩn thỉu của thực dân không che được mặt trời chính nghĩa…

Đối với cách mạng Việt Nam, Cách mạng Tháng Mười là tiếng sấm báo hiệu mùa xuân, là mặt trời chói lọi, là cơm ăn, nước uống. Về sự cần thiết của Cách mạng Tháng Mười đối với nhân dân ta, Hồ Chí Minh viết: “Nhờ Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người cách mạng Việt Nam đã được tiếp thu ảnh hưởng đầy sự sống của Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Mác – Lênin. Điều đó tựa như người đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”(9).

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, những sự kiện có ý nghĩa và mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều chịu tác động của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười. Với Hồ Chí Minh, cách mạng trước hết cần có Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời sau Cách mạng Tháng Mười 13 năm nhưng hai sự kiện này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kinh nghiệm bản thân của Việt Nam chứng tỏ rằng chính là nhờ Đảng của những người Bôn-sê-vích và của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại mà ở Việt Nam có một đảng mác-xít – lê-nin-nít”(10).

Mười lăm năm sau ngày thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được chính quyền, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Hồ Chí Minh cho rằng: Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã kiên quyết đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Năm 1945 đã làm Cách mạng Tháng Tám đánh đổ thực dân giải phóng đất nước, xây dựng chính quyền nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám chứng tỏ sự đúng đắn của con đường Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã vạch ra.

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười vào thực tế Việt Nam. Những bài học đó không chỉ có ý nghĩa trước mắt mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn lâu dài. Người không chỉ căn dặn nhân dân ta mà còn tuyên bố với bạn bè quốc tế rằng: “Kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười là ngôi sao soi đường cho chúng tôi trong sự nghiệp xây dựng một cuộc đời hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam”(11).

Cho đến những năm cuối đời, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục suy nghĩ về con đường Cách mạng Tháng Mười với lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc. Từ câu tục ngữ Việt Nam: Uống nước nhớ nguồn”, năm 1967, Hồ Chí Minh liên tưởng: Càng nhớ lại những ngày tủi nhục mất nước, nhớ lại bước đường cách mạng đầy gian khổ, hy sinh mà cũng đầy thắng lợi vẻ vang, giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam càng thấm thía công ơn của V.I. Lênin và Cách mạng Tháng Mười.

Một quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận mang tính chỉ đạo lâu dài đối với Đảng và nhân dân ta được Hồ Chí Minh chỉ ra là: “Đi theo con đường do Lênin vĩ đại vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi rất to lớn. Chính vì vậy mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại …là vô cùng sâu sắc”(12).

Quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh giúp chúng ta nhận thức đúng đắn rằng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 25 năm đổi mới có mối liên hệ biện chứng với con đường Cách mạng Tháng Mười.

Sự nghiệp đổi mới diễn ra không chỉ trong thời cơ thuận lợi mà gặp phải nhiều khó khăn, thử thách, trong đó có cả những thử thách hiểm nghèo, trước hết là sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên trì quan điểm của mình về thời đại mới, được mở ra từ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) chỉ rõ: Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co. Song loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử. Qua hai mươi năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1991-2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định tinh thần đó và bổ sung thêm: “Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”(13), con đường do Cách mạng Tháng Mười khai phá.

Ngay từ khi đi vào đổi mới, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã khẳng định dứt khoát rằng đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là tìm ra những biện pháp, cách thức thực hiện mục tiêu đó nhanh hơn, có hiệu quả hơn. Đó chính là sự kiên định lý tưởng và mục tiêu của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười.

Đặc biệt, nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới được Đảng ta luôn quán triệt là: Đổi mới trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội. Chỉ với nguyên tắc ấy, Đảng và nhân dân ta mới từng bước hiện thức hóa con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn – con đường Cách mạng Tháng Mười. Điều cần khẳng định là con đường do Cách mạng Tháng Mười vạch ra nói chung, những bài học kinh nghiệm của nó nói riêng vẫn có trong hành trang của mỗi chúng ta hôm nay.

——————————————-

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 10, tr. 126
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 8, tr. 558-559
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 12, tr. 301
(4))Hồ Chí Minh: Sđd, t. 12, tr .300
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 2, tr. 219
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr. 314
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.565

(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t.2, tr. 209
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.570-571
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.585
(11) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 8, tr.l 577
(12) Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.309
(13)Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 69

Theo Tạp chí Cộng sản
Nguyễn Khánh Bật
PGS, TS, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác ở Pác Bó

Pác Bó là nơi phát nguyên của sông Giàng, một nhánh của con sông Bằng, hợp với sông Hiến rồi chảy sang Long Châu, Trung Quốc. Pác Bó cũng như phần đông các ngọn nguồn khác, nước từ các hang đá chảy ra, nhưng đặc biệt là hang này rất cao, khi mưa mới có nước chảy, còn mùa khô, nước chỉ ngấm qua các khe đá. Ngay ngoài cửa hang là một vực sâu, nước trong xanh nhìn thấu đáy, có từng đàn cá rầm xanh bơi lượn.

Trong hang không tối lắm, nhưng phải ngồi lâu mới nhìn rõ cảnh vật bên trong. Lòng hang không bằng phẳng mà lô nhô những đá. Những ngày mưa, nước rỉ theo khe đá chảy vào hang, lạnh thấu xương, Bác Hồ đã ở đây trong những năm gian khổ.

Sáng nào, Bác cũng dậy sớm tập thể dục. Bác tập rất đều, rất đúng giờ. Cứ trông thấy Bác dậy, không cần xem đồng hồ cũng biết lúc đó là năm giờ. Dụng cụ thể thao của Bác là hai hòn đá to bằng quả trứng vịt, Bác thường nắm nắm để luyện tập gân tay; và hai đôi chày, một đôi vừa, một đôi thật to và nặng để thay quả tạ sắt tập hàng ngày. Bác thường tắm sớm sau giờ tập thể dục để chống lạnh. Ngoài ra, Bác còn tập leo núi. Nói về tài đi bộ, leo núi của Bác thì ít người theo kịp.

Bác tập thể dục xong, tắm, rồi làm việc. Công việc buổi sáng của Bác thường là viết lách, dịch sách hoặc viết báo. Buổi trưa, Bác gặp cán bộ, nghe báo cáo tình hình hoặc bồi dưỡng cho cán bộ về lý luận cách mạng và kinh nghiệm công tác. Buổi chiều, Bác lại tiếp tục công việc buổi sáng. Nhưng dù bận mấy, Bác vẫn dành ra một số thời gian để làm vườn, đi lấy củi hoặc sửa sang chỗ ăn ở. Buổi tối, thường là Bác đọc sách, nói chuyện, giáo dục cho cán bộ, hoặc đi đến với đồng bào, đầu để trần, mặc bộ quần áo chàm giản dị như một ông già địa phương. Mười giờ tối, Bác đi ngủ.

Một ngày làm việc bình thường của Bác là như thế. Lúc nào có công tác gì khác, Bác sắp xếp lại thời gian và thực hiện kế hoạch mới của ngày đó. Có lần Bác đi công tác xa về đúng vào giờ đọc báo hàng ngày, Bác treo mũ, cất gậy và ngồi ngay vào bàn đọc báo. Đồng chí phục vụ mời Bác đi nghỉ, Bác bảo: “Cứ để Bác đọc. Bác đã quen như thế rồi”. Đối với Bác, thời gian rất quý, Bác tranh thủ tường phút để suy nghĩ và giải quyết thêm một số công việc.

Có thể nói, suốt một ngày, suốt cả cuộc đời hoạt động của Bác, trừ lúc ngủ, không một phút nào Bác không làm việc để đem lại lợi ích chung cho cách mạng.

(Trích trong tác phẩm BÁC HỒ KÍNH YÊU, Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 1980)

CÂU CHUYỆN CÁI ĐỒNG HỒ-BÀI HỌC VỀ SỰ ĐOÀN KẾT

“Năm 1954, các cán bộ tham gia cải cách ruộng đất đang dự Hội nghị tổng kết ở Hiệp Hòa (Hà Bắc) để rút kinh nghiệm làm tốt đợt mới ở vùng giải phóng, thì có lệnh Trung ương rút bớt một số người đi học lớp tiếp quản Thủ đô. Ai nấy đều háo hức muốn đi. Nhất là những người quê Hà Nội. Bao năm xa nhà, nhớ Thủ Đô, nay được dịp về công tác, anh em bàn tán rất sôi nổi. Nhiều người đề nghị cấp trên chiếu cố nỗi niềm riêng đó và cho được toại nguyện. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có chiều phân tán… Ban lãnh đạo ít nhiều thấy khó xử.

Giữa lúc đó thì Bác Hồ đến thăm Hội nghị. Hôm đó giữa mùa thu, nhưng trời vẫn còn nóng. Bác bước lên diễn đàn, mồ hôi ướt đầm hai bên vai áo nâu của Bác…Khi tiếng vỗ tay đã ngớt, Bác hiền từ nhìn khắp hội trường và nói chuyện về tình hình thời sự. Nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng trong lúc này, Bác bỗng rút trong túi áo giơ ra một chiếc đồng hồ quả quýt và hỏi:

– Các chú có trông thấy cái gì đây không ?

Mọi người đồng thanh:

– Cái đồng hồ ạ.

– Thế trên mặt đồng hồ có những chữ gì ?

– Có những chữ số ạ.

– Những cái kim ngắn, kim dài để làm gì ?

– Để chỉ giờ, chỉ phút ạ.

– Cái máy bên trong dùng để làm gì ?

– Để điều khiển cái kim chạy ạ.

Bác mỉm cười, hỏi tiếp:

– Thế trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng ?

Mọi người còn đang suy nghĩ thì Bác lại hỏi:

– Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không ?

– Thưa không được ạ.

Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên và kết luận:

– Các chú ạ, các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, đều cần phải làm. Các chú thử nghĩ xem: Trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ…cứ tranh nhau chỗ đứng như thế thì có còn là cái đồng hồ được không ?

Chỉ trong ít phút ngắn ngủi, câu chuyện chiếc đồng hồ của Bác đã khiến cho ai nấy đều thấm thía, tự đánh tan được những suy nghĩ riêng tư vô lý”.

(Trích trong tác phẩm BÁC HỒ KÍNH YÊU, Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 1980)

Qua mẩu chuyện trên, ta có thể rút ra được rất nhiều điều có ý nghĩa:

1. Trong mỗi cơ quan, đơn vị: mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ và có bổn phận làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao, có như vậy thì mới tạo nên hiệu quả chung của cả tập thể cơ quan, đơn vị. Cần phải hiểu rằng việc phân cấp các chức danh, chức vụ trong cơ quan, đơn vị nhằm phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn mà bản thân mỗi cá nhân phải thực hiện khi đảm nhận chức trách đó.

Việc suy bì, tính toán hơn thiệt về quyền lợi, trách nhiệm trong khi thực hiện nhiệm vụ, hoặc hành vi lánh nặng tìm nhẹ, suy nghĩ quan liêu, cục bộ… sẽ dễ dẫn đến sự mất đoàn kết trong nội bộ, từ đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của cả đơn vị. Ngược lại nếu các cá nhân trong một tập thể nhận thức được vai trò, chức trách của mình và cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công, bất kể là ở vị trí Thủ trưởng hay nhân viên, tất cả đều nhắm tới một mục tiêu chung của đơn vị thì hiệu quả công tác chắc chắn đạt tỷ lệ cao.

2. Trong xã hội: Bằng những đặc điểm riêng của mình mà các ngành, các cấp… khác nhau tạo nên một bức tranh xã hội phong phú. Hãy thử tưởng tượng nếu tất cả mọi người đều đi làm công nhân hết thì lấy đâu ra người nông dân để trồng trọt, chăn nuôi tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống xã hội, nếu ai cũng muốn làm kỹ sư thì lấy đâu ra thợ để thực hiện những việc thủ công… Những nét riêng đó kết lại với nhau tạo thành một xã hội hoàn chỉnh.

3. Trong công tác Mặt trận: các giai tầng, các ngành, các giới, các dân tộc – tôn giáo trong xã hội đều có đặc điểm riêng. Người làm công tác Mặt trận cũng giống như người thợ sửa đồng hồ, phải biết gắn kết những đặc điểm riêng lại để tạo nên một khối thống nhất thực hiện nhiệm vụ chính trị thông qua các phong trào hành động cách mạng tại đơn vị, địa phương. Có như vậy thì “cái đồng hồ” do Mặt trận làm ra sẽ chạy tốt, phục vụ cho xã hội một cách có hiệu quả nhất.

Theo nguồn: http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Vị Chủ tịch với người bạn cũ

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc (hàng ngồi - bìa trái) và một số đại biểu Đại hội đại biểu lần V Quốc tế cộng sản - Ảnh tư liệu

Lise London là một nữ chiến sĩ cộng sản, đã từng hoạt động chung với Bác Hồ. Trong hồi ký về cuộc đời thăng trầm của mình, bà kể lại những cuộc gặp gỡ đặc biệt với Bác Hồ, câu chuyện cảm động về tình bạn, tình đồng chí thủy chung dẫu cho vật đổi sao dời…

Dưới đây là trích dịch những đoạn bà viết về mối quan hệ của bà với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Nụ cười Nguyễn Ái Quốc

Trong đơn vị ở Pháp của chúng tôi có thêm một thành viên người Việt Nam. Tôi không còn nhớ tên anh lúc anh ở Mátxcơva. Tôi vẫn gọi tên anh khi biết lúc ở Pháp: Nguyễn Ái Quốc. Nhỏ nhắn và mảnh dẻ, đôi mắt sinh động và thông minh, biểu lộ nhã nhặn và tươi cười, bộ mặt anh nhẵn, tóc rậm và đen lánh. Anh tham gia những buổi dã ngoại, những buổi tối của chúng tôi. Những lúc đó, anh gần gũi với Gérard (sau này Gérard là chồng của tác giả). Tôi là con cưng của nhóm và anh tỏ ra thích thú với sự líu lo của tôi. Chúng tôi biết anh ở Pháp đã lâu, rất thông thạo tiếng Pháp. Anh biết Paris hơn chúng tôi rất nhiều và thường kể về những khám phá của anh trong các buổi dạo chơi, đi thăm các di tích lịch sử, những hẻm mà người ta đã thấy viết trong các tiểu thuyết của Balzac, Dumas và Victor Hugo. Mãi lâu sau này, tôi ngạc nhiên khi biết anh gia nhập Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1920.

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pháp họp ở Fontainebleau. Với tư cách Giám đốc tuần báo Femmes Fran5caises (Phụ nữ Pháp), tôi tham dự buổi chiêu đãi danh dự những người kháng chiến Pháp, do Hồ Chí Minh tổ chức tại khách sạn Crillon. Tôi ngồi đối diện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở đầu bên kia chiếc bàn rất lớn trang trí hoa hồng. Sau một lúc bỡ ngỡ, nhưng rồi tôi cũng nhận ra người bạn cũ bởi nụ cười dù đã hàng chục năm trôi qua. Tôi mỉm cười và kín đáo chào anh. Lát sau, một thành viên trong đoàn theo anh lại gần tôi và khẽ nói bên tai:

– Đồng chí Chủ tịch mong gặp bà, xin bà vui lòng đi theo tôi.

Một mình tôi ngồi trong phòng khách trải thảm tơ màu vàng. Một lát sau, Hồ Chí Minh bước vào. Anh ôm hôn tôi: “Tôi nhận ra chị ngay tức khắc. Tôi rất sung sướng gặp lại chị sau nhiều năm xa cách. Tôi biết cả chồng chị và chị đều bị tù đày. Tôi muốn nghe nhiều chuyện tỉ mỉ, nhưng tôi còn nhiều khách. Sáng mai chị có thể đến khách sạn ăn điểm tâm với tôi được không? Xin hãy đưa cả Gérard cùng đến”.

Tôi vui vẻ nhận lời, nhưng Gérard không thể đến được vì đang ở Thụy Sĩ chữa bệnh ho lao. Cuộc hẹn vào… lúc 6 giờ sáng.

Ngày hôm sau, đúng giờ đã hẹn, Hồ Chí Minh đón tôi ở phòng ăn và mời tôi ngồi đối diện trước chiếc bàn tròn nhỏ. Chúng tôi thân mật nói chuyện với nhau không ngại nghi thức lễ tân.

Vào tháng 5-1950, cùng với gia đình, chúng tôi sống ở Prague (Tiệp Khắc), từ trước đó hơn một năm, Hồ Chí Minh gửi cho tôi một bức ảnh và những lời thăm hỏi ân cần.

Vào tháng 1-1951, Gérard của tôi bị bắt, sau đó được tha và được khôi phục về hình thức vào tháng 2-1956.

Bất ngờ từ vị Chủ tịch

Vào buổi sáng của tháng 11-1957, Gérard bất ngờ nhận thiệp mời của cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thiệp mời ghi rõ kính mời Artur London và Lise Ricol dự một buổi chiêu đãi tại lâu đài Hoàng gia ở Prague. Chúng tôi đến dự và tìm cách hòa vào đám đông khách khứa.

Vài phút sau, một thành viên của phái đoàn Việt Nam lại gần và nói với tôi:

– Đồng chí Chủ tịch của chúng tôi đề nghị ông bà đứng ở chỗ nhất định, mong ông bà chỉ cho tôi được biết. Chủ tịch nhất thiết muốn gặp ông bà.

– Tốt lắm, chúng tôi đứng đây không xê dịch đi đâu nữa…

Sau những bài diễn văn chính thức, Hồ Chí Minh đứng lên cùng với Chủ tịch Tiệp Khắc Zapotocky và Thủ tướng Slôvác Siroky, bắt đầu đi chào từng cá nhân quan khách mời, có Trưởng ban lễ tân đi theo giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đang đi nửa chừng, trông thấy tôi phía bên kia gian phòng rộng lớn, quên cả nghi thức lễ tân, Người lao tới và rảo bước qua khoảng không. Tất cả vội bước theo, không hiểu Người đi đâu.

Khi tới gần tôi, Người giơ hai tay và ôm hôn tôi; rồi quay lại phía Zapotocky và Siroky đang sững sờ ngạc nhiên trong khoảnh khắc, chưa hiểu Hồ Chí Minh làm gì.

Người nói với họ:

– Đây là Lise thân yêu của tôi. Cô ấy không thay đổi gì…

Quay lại phía tôi, Người hỏi:

– Gérard của chúng ta đâu, anh ốm à, sao anh không có mặt ở đây?

– Có chứ, đang đứng sau chúng ta!

Người dang hai tay về phía Gérard. Người thì thầm:

– Anh đã phải chịu đựng đau khổ biết bao!

Tất cả gian phòng ngạc nhiên theo dõi cảnh tượng bất ngờ.

Chủ tịch Zapotocky bảo người Trưởng ban lễ tân:

– Cần phải biểu dương những cuộc tái ngộ hiếm có như thế này. Hãy mang rượu sâmbanh lại đây!

Cầm lấy tay tôi, Hồ Chí Minh nói nhỏ với tôi:

– Tôi rất muốn gặp riêng Gérard và Lise. Chiều nay thì không thể được rồi. Ngày mai tôi đã phải rời Prague đi Varsovie, vậy Gérard và Lise hãy đến dùng điểm tâm với tôi… vào lúc 5g sáng.

Nói xong mấy lời, Người bước theo đoàn tiếp tục công việc chào các quan khách.

Ngày hôm sau, từ sáng sớm chúng tôi đã có mặt tại nơi ở của Hồ Chí Minh. Người ở trong phòng ăn cùng với Phạm Văn Đồng và giới thiệu Phạm Văn Đồng với chúng tôi. Tất cả chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn tròn, dự một buổi điểm tâm thịnh soạn.

Với sự đối xử tế nhị thường lệ, Hồ Chí Minh bắt đầu hỏi thăm gia đình, sức khỏe của Gérard.

Phần tôi, tôi kể cho anh nghe gia đình chúng tôi sống như thế nào…

Hồ Chí Minh không đặt câu hỏi để làm ngưng câu chuyện, gương mặt biểu lộ sự đớn đau.

Những dòng nước mắt chảy trên gò má gầy của anh. Chúng tôi xúc động không nói nên lời.

Lise London gốc Tây Ban Nha, tham gia hoạt động ở Đảng Cộng sản Liên Xô, trong cơ quan của Quốc tế cộng sản, ở đó bà đã gặp Artur London, cán bộ của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc. Cả hai lần lượt được cử về Tây Ban Nha, chiến đấu trong đội xung kích quốc tế và trở thành vợ chồng.

Cả hai vợ chồng đã tham gia chiến đấu, đã bị bắt đưa đi đày. Bà đã viết hai cuốn hồi ký. Trong cuốn thứ hai có một số đoạn nói về việc bà quen và gặp Hồ Chủ tịch ở Mátxcơva (Nga) năm 1935, ở Paris (Pháp) năm 1946 và ở Tiệp Khắc năm 1957.

Cuốn hồi ký của bà do Nhà xuất bản Seuil, Paris xuất bản tháng 10-1996.

Theo Việt Báo
Trần Giang dịch
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Tấm danh thiếp đầu tiên Bác Hồ gửi cho báo chí

Danh thiếp Bác Hồ gửi cho báo Xung phong.

Có một người tham gia cách mạng từ khi tuổi còn nhỏ đến khi về hưu; người đó, suốt cả cuộc đời lại chỉ làm công tác thiếu nhi. Đó là ông Quản Tập – Nguyên Phó Tổng biên tập báo Thiếu niên Tiền phong.

Năm 1946, Quản Tập, người Đội trưởng đội Hướng Đạo Sinh xuất sắc được cấp trên cử đi dự cuộc gặp mặt Đội Hướng Đạo Sinh Việt Nam do cụ Hoàng Đạo Thúy triệu tập ở Hà Nội tại Đông Dương học xá tức là chỗ trường Đại học Bách khoa Hà Nội bây giờ.

Đội Hướng Đạo Sinh do Quản Tập làm Đoàn trưởng có tên là Hồng Châu (lấy tên vùng quê trong lịch sử gồm nhiều huyện như Ninh Giang, Tứ Kỳ thuộc tỉnh Đông – tức Hải Dương bây giờ). Các đoàn cắm trại làm lều riêng biệt có trang trí cờ hoa rất đẹp. Các đội viên mặc áo nâu, quần xanh, có khăn thắt nút, đội nón, chống gậy tre…

Bỗng từ xa có một đoàn người lớn đến thăm trại. Đi đầu là cụ Hoàng Đạo Thúy, ông Tạ Quang Bửu (Cụ Hoàng Đạo Thúy, ông Tạ Quang Bửu là Hội trưởng, Hội phó Hướng Đạo Sinh Việt Nam). Đi sau là một ông già dáng người tầm thước, trán cao, mắt sáng. Đó là Hồ Chủ tịch. Sau khi thăm trại, Cụ Hồ dừng lại trước mặt Quản Tập. Cụ hỏi:

– Cháu ở đoàn nào?

– Dạ thưa Cụ, cháu ở đoàn Hồng Châu.

Cụ lại hỏi:

– Tại sao lại là Hồng Châu?

– Thưa Cụ, đó là tên lịch sử cũ của vùng quê cháu thuộc tỉnh Đông.

– Thế à, rất hay.

Rồi Cụ nhận xét:

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

– Trại của các cháu rất đẹp, lều cọc đều rất tốt, các cháu lại còn biết đào hố để bỏ rác thế là rất vệ sinh…

Quản Tập cầm một xâu bánh gai đến gần Cụ Hồ.

– Thưa Cụ, đây là bánh gai, sản phẩm của quê cháu, ngon nhất nước, cháu biếu Cụ.

– Cảm ơn các cháu.

Nói rồi Cụ bước qua hàng rào làm bằng dây thừng. Quản Tập chạy lên phía trước, vừa đi thụt lùi vừa ngắm Cụ. Cụ nói:

– Cháu phải cẩn thận, đi như thế dễ vướng vào dây, ngã đau đó.

– Cháu đi thế để ngắm Cụ được nhiều hơn, khi về cháu vẽ Cụ trên tờ báo tường ạ.

Thấy cử chỉ tinh nghịch ấy, Cụ cũng đứng lại:

– Cám ơn nhà báo tường.

Sở dĩ như thế là vì phong trào làm báo tường trong thiếu niên thời đó rất phát triển.

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

Sau buổi ấy, Quản Tập về báo cáo cho Huyện bộ Việt Minh, được Huyện bộ Việt Minh khen ngợi và cho đó là một vinh dự cho huyện nhà. Năm 1947, Đội Thiếu niên Ninh Giang hoạt động rất mạnh. Lúc này Ninh Giang đã tiêu thổ kháng chiến, Đội Thiếu niên đi về hàng ngày truyền thông tin lên huyện, tỉnh và ngược lại. Đội Thiếu niên được tổ chức trò chơi tập thể, vui chơi giải trí, tập múa hát những bài ca cách mạng… Đội thành lập tờ báo, lấy tên là Xung phong. Tờ Xung phong được dán ở các chòi thông tin. Hình thức báo cũng giống như những tờ báo tường lúc đó.

Các đội viên có nhiệm vụ viết những thông tin mình biết lên một tờ giấy, viết thành nhiều bản rồi tập hợp dán ở những nơi đông người qua lại. Báo chủ yếu nói lên những điều cấp trên cần truyền đạt xuống người dân, và những tiếng nói của người dân muốn phản ánh cấp trên một cách đơn giản.

Nhà báo Thép Mới và họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm có lần được tiếp xúc với “Ban Biên tập” đã khen ngợi: “Tờ báo rất đẹp. Trên thế giới chưa có tờ báo nào như thế”.

Báo Xung phong của thiếu nhi Ninh Giang, số Tết Mậu Tý 1948

Đến tháng 6-1947, khi Quản Tập được điều về tỉnh công tác, ông tổ chức tờ báo lớn hơn, phạm vi hoạt động rộng lớn hơn. Mới đầu vẫn là tờ báo viết tay, chép thành nhiều bản, phát hành theo đường dây thiếu niên giao thông đi dán ở những nơi công cộng, tập trung đông người. Sau đó, tờ báo bắt đầu in li tô. Huyện đội Việt Minh ngoài việc cung cấp giấy, đá li tô, mực in còn lùng sục để mua đá, có khi phải lên tận Hà Nội để mua giấy Mỹ… Khi in li tô được nhiều bản (100 tờ dán ở các chòi thông tin), tờ dành riêng một số gửi cho Cụ Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Báo gửi cho Cụ Hồ ở Việt Bắc cũng đi theo đường thiếu niên giao thông theo địa chỉ: Kính gửi Cụ Hồ Chủ tịch – Chiến khu Việt Bắc.

Bỗng một hôm, Đội Thiếu niên giao thông đưa về một chiếc phong bì bé xíu, bằng giấy xi măng ở góc có số công văn 15 MCH2.

Kính gửi: Báo Xung phong – Cơ quan của trẻ em yêu nước tỉnh Hải Dương. Trong phong bì là một tấm danh thiếp của Cụ Hồ.

Tấm danh thiếp in hai mặt: Mặt sau có chữ Hồ Chí Minh bằng chữ Hán. Mặt trước ở giữa là chữ Hồ Chí Minh bằng chữ quốc ngữ, toàn bộ là 8 câu thơ lục bát được đánh máy bằng loại rubăng mực tím:

Bác nhận được báo Xung phong
Cảm ơn các cháu có lòng gửi cho
Các cháu nghe Bác dặn dò
Phải biết yêu nước, phải lo học hành
Siêng làm việc, siêng tập tành
Phải giữ kỷ luật là thành cháu ngoan
Bác yêu các cháu muôn vàn
Bác gửi các cháu một ngàn cái hôn.

Thời gian sau, gặp ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác Hồ, Quản Tập nói lại chuyện đó.

Ông Vũ Kỳ nói:

– Thế là các cậu quá vinh dự. Không phải ai Bác cũng gửi danh thiếp. Phải là người được Bác yêu quý lắm.

– Thế thật hả anh?

– Chứ sao, cậu có cái may là báo trẻ em. Báo trẻ em duy nhất của cả nước khi ấy.

Đây là danh thiếp đầu tiên Bác Hồ gửi cho báo chí.

Tỉnh ủy Hải Dương cũng coi đó là vinh dự cho cả tỉnh. Vì thế hồi ấy ông Vũ Kiên là Bí thư Tỉnh Đoàn, sau làm Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Phó Bí thư Tỉnh ủy Nam Định, nay đã bước sang tuổi 90 (ông là một trí thức, đã học trường Bưởi – trường THPT Chu Văn An bây giờ) cho phát triển tờ báo, chọn phóng viên và mở rộng đề tài của báo, cho đăng cả thơ ca, hướng dẫn thể dục thể thao và các phong trào cách mạng ở địa phương.

Cũng phải nói thêm rằng, tờ báo Xung phong ra đời và phát triển được là nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy Hải Dương. Đồng chí Vũ Huy Hiệu, Bí thư Tỉnh ủy về sau làm Thống đốc Ngân hàng Việt Nam, năm nay vừa tròn 100 tuổi và đồng chí Phan Điền, Phó Bí thư Tỉnh ủy phụ trách công tác dân vận và tài mậu (sau làm Bí thư Tỉnh ủy Nam Định) đã có công xây dựng, tạo mọi điều kiện cho báo phát triển.

Một trong những người có công với tờ báo Xung phong phải kể đến ông Quốc Tiến (lúc ấy 14 tuổi) người trình bày và viết bài lên đá để in li tô được nhiều bản. Ông Tiến hiện nay đã 78 tuổi, đang ở thành phố Hồ Chí Minh.

Báo Xung phong phát triển nên năm 1948 đã tổ chức Hội nghị Cộng tác viên. Danh thiếp của Bác Hồ được Tỉnh ủy cho giấy in hàng loạt phát cho mỗi thiếu nhi trong tỉnh một tờ.

Cũng năm 1948, Hội những người làm báo Việt Nam tổ chức Đại hội báo chí miền Duyên hải Bắc Bộ – các tỉnh ven biển miền Bắc như Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định, Móng Cái – do ông Hoàng Tùng, Phó Chủ nhiệm Việt Minh Khu 3, ông Nguyễn Tường Phượng, trưởng đoàn báo chí kháng chiến chủ trì. Báo Xung phong cũng được cử đại biểu đi dự Đại hội ngang với các tờ báo khác.

Ngày 15-5-1950, Quản Tập được điều về Ban Huynh trưởng Thiếu nhi Trung ương. Lúc ấy, ông Lưu Hữu Phước, nhạc sĩ giữ chức Trưởng ban Huynh trưởng. Quản Tập được dự lễ kỷ niệm lần thứ 60 sinh nhật Bác Hồ và tổ chức ngày Quốc tế Thiếu nhi đầu tiên của Việt Nam, được Trung ương Đoàn giao việc chuẩn bị xuất bản báo Yêu trẻ. Điều đáng nói là khi lên Trung ương Đoàn (1950), Quản Tập có mang nhiều tờ báo Xung phong đi theo.

Ông Lưu Hữu Phước khi đi dự Liên hoan Thanh niên sinh viên Thế giới ở Béc-lin (CHDC Đức) (VN là hội viên) có mang 10 tờ báo Xung phong trưng bày ở Liên hoan. Các đại biểu dự liên hoan rất thích tờ báo ấy vì họ thấy tờ báo trẻ em mà làm rất đẹp, nội dung rất phong phú được ra đời trong khi đất nước Việt Nam còn non trẻ, kháng chiến bộn bề./.

Theo Tienphong.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Phụ nữ miền Nam và “đồng bạc Cụ Hồ”

Những "đồng bạc Cụ Hồ" được đồng bào Nam Bộ gìn giữ trong suốt những năm đất nước bị chia cắt. Ảnh: Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ.

Sinh thời, với niềm thương nhớ khôn nguôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam ruột thịt. Người nói: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”… Bác Hồ cũng luôn mong muốn được vào thăm nhân dân miền Nam và đã nhiều lần đề nghị Bộ Chính trị ý nguyện thiêng liêng đó.

Nhưng rồi, vì điều kiện sức khỏe, ý nguyện ấy của Người không được thực hiện. Trước lúc đi xa, Người nắm chặt tay đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Trung ương Cục miền Nam ra công tác ở miền Bắc như muốn nói rằng “Miền Nam mãi mãi ở trong trái tim tôi”. Cũng với tấm lòng như vậy, tình cảm nhân dân miền Nam dành cho Bác thật hết sức thiêng liêng. Chỉ riêng “đồng bạc Cụ Hồ” mà thấm đẫm nghĩa nhân, được cất giữ, bao bọc giữa triệu triệu tấm lòng…

Chuyện đổi tiền “đặc biệt”

Trong quá trình đi tìm tư liệu thực hiện công trình “Phụ nữ Long An – Truyền thống và lịch sử”, tôi vô cùng ngạc nhiên, thú vị khi được gặp những nhân chứng vô cùng sống động. Một trong những nhân chứng kể lại nhiều câu chuyện gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi là bà Ðặng Thị Diềm, nguyên Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Long An, hiện đang sống ở thị xã Tân An.

Bà Diềm kể: Năm 1943, khi bị Nhật “chia sẻ” quyền kiểm soát Ðông Dương, để đáp ứng nhu cầu vật chất cho quân Nhật, Pháp cho in giấy bạc JDEO 100 đồng mà bà con quen gọi là “giấy xăng đỏ” để nuôi quân Nhật. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tiền này tập trung vào nội cứ Long An nhiều nhất, vì lúc đó ta chưa in giấy bạc Cụ Hồ, nên phải tạm xài tiền ấy. Quân khu Ðông Thành (Quân khu 7) cắt tiền “giấy xăng đỏ” ra làm hai, đóng dấu Quân khu Ðông Thành cho nhân dân lưu hành trong chiến khu, xem như tiền độc lập của Việt Minh, còn ở nội thành, Pháp in bạc khác, không thừa nhận “giấy xăng đỏ” ấy.

Ðến khi đồng bạc Cụ Hồ ra đời, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ không thừa nhận, không chịu đổi tiền ấy bằng tiền Cụ Hồ. Dân quân Ðông Thành chết đứng, chết ngồi. Lúc ấy tôi trong Ban Chấp hành Phụ nữ tỉnh Tân An. Chị em phụ nữ quân khu Ðông Thành xuống bàn với chúng tôi, nhờ can thiệp với ngân khố tỉnh và ngân khố Nam Bộ cho đổi bạc “giấy xăng đỏ” ra tiền Cụ Hồ, vì đó là mồ hôi nước mắt của bà con.

Chúng tôi chạy qua Tỉnh ủy bàn. Tỉnh ủy không dám cho đổi vì phải đợi sự thương lượng với Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ. Chúng tôi bèn đi tìm anh Hà Huy Giáp, lúc ấy là Chủ nhiệm Kỳ bộ Việt Minh, cũng không quên gặp anh Bảy Chiếm (Cao Ðăng Chiếm) ở Sở Công an Nam Bộ, lại nhờ anh Ung Văn Khiêm, Ủy viên Nội vụ Nam Bộ. Chúng tôi cắt nghĩa cho ba anh nghe là: Pháp đã giựt của dân. Trước sự bức xúc lưu thông tiền tệ, quân khu 7 đã đóng dấu lên bạc JDEO, thừa nhận đồng “giấy xăng đỏ” như đồng bạc Cụ Hồ, nay Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ không thừa nhận đồng tiền này thì ta thất tín với dân và dân sẽ nói: “Việt Minh cũng như Pháp thôi, cũng hại dân chớ không giúp dân” thì ta nghĩ sao về mặt uy thế chính trị. Chúng tôi khẩn khoản yêu cầu Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ giải quyết thỏa đáng cho dân và báo cáo rõ về Trung ương. Ba anh suy nghĩ lâu lắm, cùng chúng tôi kéo qua Sở Tài chính Nam Bộ. Trước vấn đề trọng đại này, ông Kha Vạn Cân lúc ấy đang nắm giữ Sở Tài chính Nam Bộ cũng không dám tự quyết định, mà phải điện hỏi ý kiến của Xứ ủy Nam Bộ

Chúng tôi cùng chờ ý kiến Xứ ủy. Tới chiều, Xứ ủy liên hệ với Quân khu 7 và Tân An quyết định cho Tân An xuất ngân khố, đổi liền số bạc mà Quân khu Ðông Thành đã đóng dấu lên tờ giấy JDEO cắt làm hai là 50 đồng, còn bạc nguyên, bạc mới không đổi vì sợ giặc lợi dụng sơ hở của ta, luồn tiền vào phá hoại ngân khố cách mạng. Các cơ quan của Tân An hợp tác với Sở Công an Nam Bộ kiểm tra, lập biên bản kiểm kê toàn bộ “giấy xăng đỏ” ở Quân khu Ðông Thành, ở Ðồng Tháp Mười. Trên cơ sở đó, Sở Tài chính Nam Bộ cùng kho bạc Tân An mới xuất tiền xuống tận xóm ấp để đổi cho dân. Qua việc đó, nhân dân rất vui mừng, phấn khởi, càng có thêm niềm tin vào Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ.

Giữ lấy giá trị “đồng bạc Cụ Hồ”

Ði đôi với biện pháp vơ vét của cải nhân dân, quân Pháp tăng cường phá hoại kinh tế kháng chiến bằng các thủ đoạn như độc quyền thương mại, hạ giá đồng bạc Ðông Dương, phá hoại và cướp lương thực của nhân dân. Vào năm 1952-1953, địch dùng thủ đoạn tung bạc giả – loại giấy 100 đồng có hình Chủ tịch Hồ Chí Minh, thường được gọi là “đồng bạc Cụ Hồ” vào vùng giải phóng, hoặc phát không cho số người hay ra vào giữa vùng giải phóng và vùng địch, chủ yếu là thương nhân Hoa kiều; thậm chí dùng máy bay rải trong vùng giải phóng của ta, làm đồng bạc của ta mất giá. Trong vai trò sĩ quan phiên dịch của phòng Nhì, cơ quan tình báo của Pháp, chi nhánh Long Xuyên, điệp viên Trần Hiến kể: “Một Hoa kiều bị bắt đưa vào Long Xuyên, đi trên chiếc xe lôi, chở ba bao tải đầy bạc Cụ Hồ giả. Qua hỏi cung, tôi được biết số bạc đó do một thiếu tá Pháp bán, hắn mua lại tại Chợ Lớn chở về nhà số 36 đường Phan Thanh Giản – Long Xuyên để chờ đưa vào vùng kháng chiến… Sau tra hỏi, thấy không khai thác được gì thêm, người Hoa kiều ấy được tha về”. Tên trưởng chi nhánh phòng Nhì ở Long Xuyên tha hắn về vì đó là “chiến hữu”, tay chân của quân Pháp phá hoại nền kinh tế kháng chiến nhưng Ban hành động Cần Thơ đã trừng trị hắn vì tội trạng “phá hoại nền kinh tế”, quyết giữ đúng giá trị “đồng bạc Cụ Hồ” mà nhân dân rất tín nhiệm, tự hào và trân trọng.

Bằng mọi cách cất giữ những đồng tiền in hình Bác

Biết bao nhiêu người mẹ, người chị miền Nam đã đương đầu với nguy hiểm để giữ lấy những gì liên quan đến Bác. Khi Bác Hồ mất, nhiều đền thờ tưởng niệm Bác đã được dựng lên ngay giữa vùng địch chiếm đóng. Trong nội thành, phụ nữ Sài Gòn tổ chức đám giỗ nghi trang để truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Huyện, Giám đốc Viện Dục Anh đã mặc hai chiếc áo dài đen và trắng liên tục trong ba năm để tang Bác Hồ. Trong nhà tù Chí Hòa, nữ tù chính trị đã để tang Bác Hồ trong một tuần lễ, sau đó bị đàn áp khốc liệt, bị đày đi Côn Ðảo…

Bà Phan Thị Mai (Việt Nữ), nguyên Bí thư Ðảng ủy Sở Y tế Nam Bộ đã kể câu chuyện cảm động về một bà mẹ khi bị giam chung với bà trong tù.

Chuyện kể rằng: “Có một bà lúc trước ở vùng giải phóng, bán quán nhỏ bên đường. Khi ta tập kết, bà còn lại một số tiền Cụ Hồ. Có ai mách với giặc, một buổi sáng bà đi chợ, lính ở bót kéo đến phá cửa vào chòi của bà lục lấy số bạc Cụ Hồ mà bà đã trân trọng cất giữ từ lâu. Khi bà về, mọi người đến cho bà hay sự việc và hối bà đi trốn. Bà bỏ đi. Ai cũng tưởng bà đi trốn nên yên tâm, nào ngờ bà đến bót lấy số tiền đó. Ðịch bắt bà bỏ tù. Trong tù, chị em hỏi: “Sao bà không trốn đi, đến bót làm chi cho nó bắt?”. Bà nói: “Bỏ tù thây kệ nó chớ. Thứ đồ ăn cướp, giữa ban ngày đến lấy tiền của người ta”. Ai cũng cười mà rưng rưng nước mắt, vì thấy người dân trong vùng địch trân trọng giữ gìn hình ảnh Bác Hồ, mặc dù biết phải nguy hiểm”.

Những “đồng bạc Cụ Hồ” tuy chỉ được lưu hành mấy năm trong vùng kháng chiến nhưng đó là đồng tiền được lưu giữ trong lòng nhân dân lâu bền nhất. Với tấm lòng kính yêu hướng về Bác, nhiều người mẹ, người chị đã hy sinh, chấp nhận tù đày, bằng mọi cách cất giữ những đồng tiền in hình Bác giữa vùng địch chiếm đóng. Cho đến nay, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ đã có bộ sưu tập hàng trăm “đồng bạc Cụ Hồ” được tìm thấy từ khắp các tỉnh thành./.

Theo Trầm Hương
Nhân dân cuối tuần
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Gặp ông cụ 7 năm bảo vệ Bác Hồ

Ông Nguyễn Hữu Trực năm nay đã 79 tuổi nhưng ông rất khỏe mạnh và quắc thước

(Dân trí) – Với ông, khoảng thời gian làm nhiệm vụ bảo vệ bên Bác, từng khóm cây, ngọn cỏ, con mương trong Phủ Chủ tịch ông vẫn nhớ, vẫn thuộc như lòng bàn tay. Giờ đây mỗi khi nhớ lại quãng thời gian đó ông vẫn còn bồi hồi xúc động…

Chúng tôi tìm đến thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang hỏi nhà Đại tá Nguyễn Hữu Trực thì ai cũng biết, đó là một căn nhà nhỏ với vườn cây xanh rợp bóng mát nằm cách cổng làng khoảng chừng 200m.

Khi chúng tôi đến, Đại tá Nguyễn Hữu Trực, từng công tác trong ngành Công an, năm nay đã 79 tuổi, đang phụ cháu vớt bèo ngoài ao cá sau nhà. Tuy đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, mái tóc đã bạc trắng nhưng Đại tá Trực vẫn còn minh mẫn, dáng đi nhanh nhẹn. Nhấp ngụm nước chè, ông bồi hồi nhớ lại khoảng thời gian 35 năm hoat động cách mạng của mình với niềm vinh dự, hạnh phúc và may mắn được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ trong suốt 7 năm.

Ông sinh năm 1932 trong một gia đình tại thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Tháng 10/1950, ông tham gia lực lượng thanh niên xung phong phục vụ các Chiến dịch Biên Giới, Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám.

Sau đó, ông vào công tác trong ngành Công an từ tháng 2/1955. Sau một thời gian huấn luyện nghiệp vụ, lần đầu tiên ông cùng Đội Cảnh vệ tháp tùng Bác đi thăm viếng nghĩa trang liệt sỹ vào dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 10. Ngay sau đó ông được điều về làm cảnh vệ vòng ngoài của Phủ Chủ tịch.

Sau bao nhiêu năm bôn ba, tháng 6/1957, lần đầu tiên Bác trở về thăm lại quê hương Nghệ An. Lần đó ông được tham gia bảo vệ Bác về quê. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Vũ Kỳ, ông được trực tiếp bảo vệ và bố trí lịch tiếp khách của Bác trong Phủ Chủ tịch. Cũng vào năm đó ông được kết nạp Đảng.

Dù đã bao nhiêu năm trôi qua, nhưng với ông, khoảng thời gian làm nhiệm vụ bảo vệ bên Bác, từng khóm cây, ngọn cỏ, con mương trong Phủ Chủ tịch ông vẫn nhớ vẫn thuộc như lòng bàn tay. Với ông Trực những lần bảo vệ Bác về quê, đi công tác, thăm nhân dân, bộ đội, các cháu học sinh và thiếu niên nhi đồng vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của ông.

“Sau Đại hội Đảng lần thứ ba, Bác muốn đi thăm bà con nông dân thu hoạch mùa màng. Vì lo có chuyện gì không may xảy ra nên chúng tôi đã bố trí một ruộng đang gặt để Bác xuống thăm. Nhưng Bác nhận ra Bác bảo: Các chú lại bố trí rồi! làm gì có bà con nào đi gặt đều ăn mặc quần áo đen giống nhau thế kia. Bác đã không xuống, Bác bảo cứ cho xe chạy tiếp. Đến khu cánh đồng ở huyện Đan Phượng (tỉnh Hà Tây cũ) Bác bảo dừng xe lại. Biết Bác đến mọi người khắp cánh đồng vui mừng, xúc động vội vàng đến bên Bác khi mà trên tay vẫn còn cầm dao gặt lúa và đòn gánh. Anh em chúng tôi được một phen phát hoảng. Rồi vào ngày 30 Tết năm 1960, Bác muốn đi thăm chợ Đồng Xuân, chúng tôi lên kế hoạch cải trang cho Bác nhưng Bác không đồng ý”.

“Lần đó, Bác mặc áo bông, đội mũ và quàng khăn để che bộ râu đi rồi ra thăm chợ xem cuộc sống của đồng bào chiều 30 Tết như thế nào. Bác đi đến khắp các dãy trong chợ, qua từng cửa hàng nhưng không ai nhận ra Bác. Nhưng khi đi gần hết chợ thì có hai cháu thiếu niên nhận ra Bác. Hai cháu thiếu niên tý nữa thì reo lên “A Bác Hồ”, cũng may là chúng tôi kịp ra hiệu để hai cháu nhỏ không hét lớn lên, ra đến cuối chợ có xe đến đón Bác, khi đó mọi người mới vỡ ra trong tiếc nuối là Bác đến”.

Trong suốt 7 năm phục vụ Bác Hồ, 5 năm ông làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài và 2 năm trực tiếp phục vụ Bác Hồ trong Phủ Chủ tịch. Những kỷ niệm đó không bao giờ phai nhạt trong ông.

Ông còn nhớ như in, những ngày tháng phục vụ Bác trong Phủ Chủ tịch. Vào ngày nghỉ nào, Bác cũng tổ chức và xem chiếu phim cùng anh em cảnh vệ và đội ngũ phục vụ. Những năm bảo vệ bên Bác, ông được ăn Tết cùng với Bác một lần và một lần cùng cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Ông Trực xúc động nhớ lại: “Bác sống rất giản dị và tiết kiệm. Đi công tác, Bác không vào luôn trụ sở hay nhà máy mà Bác đi thăm cuộc sống, sinh hoạt của mọi người trước và không bao giờ ăn cơm ở đó. Quà Tết các địa phương gửi biếu Bác, Bác không dùng mà gửi tặng các cụ già, thiếu nhi, thương binh và bộ đội…”.

Ông Trực bồi hồi nhớ lại quãng thời gian phục vụ bên Bác Hồ

Đến năm 1962, ông Trực được cử đi học nghiệp vụ tại Liên Xô. Sau hai năm học tập, ông về làm giảng viên Học viện An ninh. Năm 1976, ông được cử về trường Lào (Trường Đào tạo cán bộ cho nước bạn Lào). Đến năm 1990 thì ông nghỉ hưu với hàm Đại tá.

Trong suốt khoảng thời gian 35 năm phục vụ cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, và Huân chương Tự do hạng Nhì của nước bạn Lào.

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Hữu Trực có 5 người con, hiện con cái của ông bà đã thành đạt và ra ở riêng. Hàng ngày ông cùng vợ sống trong căn nhà nhỏ nơi thôn Giữa.

Hơn ai hết, những ngày này, ông Trực lại bồi hồi nhớ lại những cảm xúc về khoảng thời gian hạnh phúc, vinh dự được sống và phục vụ bên Bác, được phục vụ Bác và được Bác ân cần dạy bảo những điều hay lẽ phải trong công việc và cuộc sống. Những tình cảm của Bác suốt cuộc đời ông không bao giờ quên…

Theo Nguyễn Khoát – Duy Tuyên
dantri.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và tình bạn thủy chung Hồ Chí Minh – Loseby

Mùa xuân năm 1930, sau khi triệu tập và chủ trì thành công Hội nghị hợp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ tiếp tục ở lại Hồng Kông, hoạt động cách mạng. Người ở tại ngôi nhà 186 phố Tam Kung, Cửu Long – Hương Cảng, và nơi đó trở thành trụ sở liên lạc bí mật giữa Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí khác.

1. Nguyễn Ái Quốc những năm 1931-1933

Kể từ khi thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp ký tên vào bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi hội nghị Vecxay – Pháp, cho đến khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một nhân vật quan trọng trong kế hoạch lùng bắt của thực dân Pháp. Vì vậy, hoạt động giữa vòng vây của nhiều kẻ thù, kèm theo một án tử hình vắng mặt của toà Đại hình Vinh theo phán quyết số 115 (10-10-1929), cùng lệnh truy nã ráo riết của thực dân Pháp luôn là những khó khăn, là những hiểm nguy cận kề đối với Nguyễn Ái Quốc. Trong khi những bản tin hàng ngày của cảnh sát hình sự Bắc Kỳ luôn cập nhật những thông tin hoạt động và ảnh của Nguyễn Ái Quốc: “Tin tình báo: Đã ở lâu năm tại Mỹ, Anh, Pháp và Nga, hiện nay có lẽ đang ở Viễn Đông, có thể là Đông Dương”([1]), thì dù đã rất cẩn trọng nhưng thật không may, địa chỉ Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông đã vô tình rơi vào tay mật thám Anh (khi cảnh sát Xingapo bắt dược Sécgiơ Lơphơrăng – Serge Lefranc). Cuộc mặc cả giữa mật thám Pháp ở Đông Dương và mật thám Anh ở Hồng Kông, kèm theo những điều kiện có lợi cho cả hai bên đã dẫn đến cuộc vây ráp, bắt lén Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ ở số nhà 186 Tam Kung – Hương Cảng (6-6-1931).

Thực dân Pháp rất mừng trước việc Nguyễn Ái Quốc bị bắt. Toàn quyền Rôbanh (Robin) đã điện từ Hà Nội vào báo tin cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, Bộ Ngoại giao Pháp và Tổng Lãnh sự Pháp tại Hồng Kông về “niềm vui bất ngờ này” và đồng thời mở cuộc vận động chính quyền Hồng Kông giao Nguyễn Ái Quốc cho chính quyền Pháp bằng cách dẫn độ về Đông Dương hoặc giam giữ ở một nơi xa xôi nào đó của Anh trên nguyên tắc “có đi có lại”, chứ tuyệt nhiên không được “trả tự do” cho Người, vì “trả tự do cho con người vô cùng năng động và nguy hiểm này là khả năng cần phải tránh bằng mọi giá”([2]). Không chỉ có vậy, nhấn mạnh việc “trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc chỉ có thể làm trầm trọng thêm những hoạt động có hại của phong trào Đông Dương”, chính quyền Pháp còn vận động chính quyền Anh ở Luân Đôn giao Nguyễn Ái Quốc cho chúng, v.v..

Trong khi đó, biết tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, Hồ Tùng Mậu, qua Liên đoàn Quốc tế cứu tế đỏ đã đến gặp luật sư Lôdơbi (Francis Henry Loseby) – một luật sư tiến bộ người Anh ở Hồng Kông nhờ giúp đỡ. Việc bắt lén người trái pháp luật đã bị bại lộ khi báo chí đồng loạt đưa tin sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị bắt. Và để hợp pháp hóa việc bắt giữ, Thống đốc Hồng Kông đã phải ra lệnh bắt giam Người nhiều lần và Sở cảnh sát Hồng Kông buộc phải đồng ý để luật sư vào gặp Tống Văn Sơ (24-6-1931).

Luật sư đã tìm cách bào chữa và ngăn cản âm mưu của chính quyền Hồng Kông giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương. Gặp gỡ và hỏi chuyện Tống Văn Sơ ở nhà lao, sau khi tiếp xúc và trả lời những câu hỏi liên quan đến vụ án mà luật sư nêu ra, người tù Tống Văn Sơ cảm ơn sự quan tâm của luật sư đối với mình, và tỏ ý băn khoăn vì không có tiền để trả công cho ông. Trước một người thanh niên Việt Nam gầy, xanh, song vẻ cương nghị, sự thông minh trong từng câu nói bằng tiếng Anh và đôi mắt sáng đã làm luật sư xúc động. Luật sư chân tình nói: Tôi nhận giúp vì danh dự chứ không phải vì tiền. Luật sư nói sẽ ra sức cứu giúp, mong người tù hãy tin tưởng và hãy cung cấp cho luật sư những điều gì có thể giúp trong việc bênh vực…Và rằng, biết được mỗi người cách mạng đều có bí mật riêng của họ, nên ông đã không muốn hỏi thêm nhiều nữa…

Thời gian Tống Văn Sơ bị giam giữ cũng đồng thời là khoảng thời gian nước rút của cuộc đua giữa một bên là gia đình luật sư và những người bảo vệ Tống Văn Sơ, một bên khác là sự cấu kết, có điều kiện của mật thám Anh và mật thám Pháp muốn hãm hại Tống Văn Sơ. Dưới sức ép của dư luận và những phương tiện thông tin báo chí như: Báo Nhân Đạo của Đảng Cộng sản Pháp ngày 19-6-1931 đăng bài “Bọn đế quốc câu kết với nhau. Người Anh đã bắt nhà cách mạng An Nam ở Thượng Hải” – thực chất Người bị bắt ở Hồng Kông và khẳng định: “Vụ bắt Nguyễn Ái Quốc không dập tắt được làn sóng cách mạng của nhân dân Đông Dương”. Báo Điện tín Hồng Kông ngày 22-6-1931 thì đưa tin “Một vụ bắt giữ quan trọng ở Hồng Kông. Thành công của Chính phủ Pháp. Nhà lãnh đạo An Nam bị bắt”, còn báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng ngày 20-7-1931 khi đang bài “Vụ án Nguyễn- Người yêu nước” đã đưa ra câu hỏi đặt ra trong Phủ Toàn quyền Đông Dương là” hiện Nguyễn Ái Quốc có bị trục xuất hay không”, v.v.. luật sư Lodơbi đã đưa vụ án Tống Văn Sơ ra xử trước Tòa tối cao.

Lần đầu tiên trong lịch sử thuộc địa, Toà án tối cao phải xét xử một bản án chính trị. Tính chất đặc biệt của vụ án, sự giúp đỡ cùng tài trí của luật sư và người cộng sự, sự thông minh và nhất quán trong từng câu trả lời của Tống Văn Sơ đã buộc toà án phải xét xử một cách công khai. Tống Văn Sơ phải trải qua ba cuộc thẩm vấn của Thư ký Trung Hoa vụ Hồng Kông và 9 phiên toà xét xử tại Hồng Kông (ngày 31-7-1931 là phiên thứ nhất, diễn ra trong không khí căng thẳng, quyết liệt và phiên cuối cùng kết thúc vào ngày 12-9-1931).

Luật sư Gien Kin (F.C. JenKin), người cộng sự thay mặt luật sư Lôdơbi bào chữa trước toà cho Tống Văn Sơ suốt chín phiên đã vạch ra những điểm sai trái, vi phạm luật của chính quyền Hồng Kông. Ngay phiên thứ nhất (31-7-1931), luật sư đã cho rằng: “Những bị can đã bị cảnh sát bắt ngày 6 tháng 6 mà không có lệnh bắt giữ là một việc làm bất hợp pháp”([3]). Ở phiên thứ hai (14-8-1931) thì ông nhấn mạnh: “Chỉ có chính quyền mới là người có quyền trục xuất ngay tức khắc và ban hành bất cứ một lệnh nào. Yêu cầu Tòa đề nghị công tố bảo đảm không thực hiện lệnh trục xuất chừng nào tính pháp lý của lệnh đó chưa được khẳng định”([4]). Cũng tại phiên thứ hai, luật sư cho rằng: lời khai có tuyên thệ của Tống Văn Sơ tố cáo nội dung thẩm vấn của ban Thư ký Trung Hoa vụ do Công tố Alabaxtơ đọc không đúng luật, trong đó nêu rõ ý kiến của nguyên đơn là nếu bị “trục xuất đến Đông Dương, tôi (Tống Văn Sơ) sẽ bị giết, dù có xét xử hay không xét xử”. Phiên tòa thứ ba (15-8-1931) là một cuộc tranh cãi về trục xuất, và phản đối việc giao nộp Tống Văn Sơ cho người Pháp trong đó Tống Văn Sơ nói rằng” Tôi không muốn bị trục xuất. Tôi muốn được tự do tôi muốn được sang Anh quốc”([5]). Tiếp theo, trong phiên thứ tư (20-8-1931), Tòa tuyên bố lệnh trục xuất thứ nhất là sai do nội dung thẩm vấn sai, và Công tố tuyên bố lệnh trục xuất thứ hai vừa được ban hành vào chiều ngày thứ 7 (15-8). Luật sư cho rằng việc ban hành một lệnh mới giữa hai phiên tòa là sai trái… Tại phiên tòa thứ năm (24-8-1931), luật sư đề nghị Tòa áp dụng Luật Bảo thân (Habeas Corpus) cho Tống Văn Sơ. Điểm đặc biệt của phiên này là những lời chỉ trích mạnh mẽ Hội đồng hành pháp về “sự lừa dối và bịp bợm”. Theo luật sư cả hai lệnh trục xuất (lệnh trục xuất và lệnh buộc phải lên một tàu biển) cũng đều bất hợp pháp… Ông cho rằng “lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương thực chất là sự dẫn độ trá hình nhằm đưa Nguyễn Ái Quốc vào chỗ chết”. Và lệnh trục xuất có điều kiện này chính là nhằm pháp hóa nội dung bức thư ngày 31-7-1931 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp nói Bộ Thuộc địa Anh hứa sẽ làm mọi cách để ngăn chặn Nguyễn Ái Quốc trên tinh thần “sẽ yêu cầu Bộ Thuộc địa làm mọi cách để kẻ phiến loạn Đông Dương này không thể tiếp tục hoạt động được nữa”.

Trong phiên thứ sáu (25-8-1931), luật sư yêu cầu Công tố tuyên bố tài liệu đánh máy câu hỏi và câu trả lời của Tống Văn Sơ do Trung Hoa Thư ký vụ đưa ra, trong đó nêu Tống Văn Sơ cung khai bí danh thứ ba Nguyễn Ái Quốc “là tài liệu giả” để ép cung. Trước tòa, công tố viên đã đọc lời khai của Tống Văn Sơ trong các phiên thẩm vấn, nhưng Người đã không công nhận những điều xuyên tạc trong biên bản, đồng thời, sự thông minh, nhất quán và thận trọng trong từng câu trả lời, đã khiến Tòa không thể khép Người vào bất cứ tội danh nào để đưa về Đông Dương. Đến phiên thứ bảy (2-9-1931), những tình tiết cụ thể cho thấy: sự thừa nhận Tống Văn Sơ bị bắt, bị giam giữ bất hợp pháp cho thấy chính quyền Hoàng gia có hai đuối lý theo điều khoản trong sắc lệnh của Hồng Kông, vì vậy: trục xuất Tống Văn Sơ nghĩa là “không thể làm cho việc giam giữ bất hợp pháp trở thành hợp pháp bằng việc ban hành một lệnh hợp lệ”([6]). Vấn đề đòi trả tự do cho Tống Văn Sơ không được giải quyết dứt điểm tại Tòa Hồng Kông, bởi rằng: dù biết Nguyễn Ái Quốc vô tội, biết chính quyền thực dân Pháp muốn đưa Người về Đông Dương để in án tử hình, song để “không làm mất lòng nhau”, chính quyền Luân Đôn vẫn chỉ thị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương. Trong phiên thứ tám (11-9-1931), mặc dù đã thừa nhận những điều sai trái trong quá trình bắt Người, song Tòa vẫn quyết định thực hiện lệnh trục xuất Nguyễn Ái Quốc. Luật sư GienKin đã kịch liệt phản đối về tính hợp pháp lệnh trục xuất của Thống đốc, và thông báo sẽ kháng án lên Hội đồng Cơ mật. Và phiên cuối cùng – phiên thứ chín (12-9-1931), Tòa đã cho phép kháng án lên Hội đồng Cơ mật và chỉ thị rằng: hồ sơ phải được chuẩn bị và gửi đi trong vòng ba tháng.

Tiền án phí và những thủ tục bắt buộc đã được luật sư lo liệu đầy đủ và hai người bạn của luật sư là luật sư Đơnít Nôen Pơrít (Denis Noel Pritt) và Risớt Xtaphớt Cơríp (Stafford Cripps) đã nhận lời giúp đỡ Tống Văn Sơ. Theo luật sư Risớt Xtaphớt Cơríp, vụ án này là một biểu hiện rất xấu cho chính quyền Hồng Kông và Bộ Thuộc địa, và nếu xét xử, thì chắc chắn Nguyễn Ái Quốc thắng lợi, vì lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông đã vượt quá giới hạn. Trên cơ sở đó, để không làm mất uy tín của chính quyền Hồng Kông, luật sư đại diện Bộ Thuộc địa Anh đã tìm cách thoả thuận với luật sư của Tống Văn Sơ. Kết quả của cuộc thoả thuận (vẫn thực hiện lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông, nhưng hủy bỏ lệnh phải đi trên một con tàu của Pháp, đến một địa điểm thuộc lãnh thổ của Pháp, mà được tự do lựa chọn nơi mình đến) đã được trình lên nhà Vua, được nhà Vua đồng ý. Toà án Viện Cơ mật Hoàng Gia Anh đã đồng ý trả tự do cho Tống Văn Sơ, và ngày 28-12-1932, Tống Văn Sơ định đi đến nước Anh, song khi đi đến Xinhgapo, Tống Văn Sơ lại bị chính quyền sở tại buộc quay trở lại Hồng Kông và ngày 19-1-1933, Người lại bị bắt giam.

Ngay khi ấy, Người đã kịp thời viết thư báo tin cho luật sư Lôdơbi và nhờ ông giúp đỡ. Luật sư đã đề nghị Thống đốc Hồng Kông can thiệp, và Thống đốc đã buộc phải ra lệnh thả Tống Văn Sơ và hạn trong ba ngày Tống Văn Sơ phải rời khỏi Hồng Kông. Một lần nữa gia đình luật sư Lodơbi lại bênh vực và cứu Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù. Kế hoạch di chuyển và bí mật tổ chức cho Tống Văn Sơ trốn đã được vạch ra. Khi ở tạm thời trong Ký túc xá Hội Thanh niên Thiên chúa giáo Trung Hoa (YMCA), khi thì ở ngay trong nhà của luật sư Lodơbi, cuối cùng ngày 22-1-1933, Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ đã cải trang thành một thương gia Trung Quốc giàu có, và với một viên thư ký tháp tùng (thư ký của luật sư, tên Lung Ting Chang), Người đi xuồng ra khơi, rồi lên tàu Anhui đi Hạ Môn (Amoy). Bí mật rời Hồng Kông, tàu cập bến Hạ Môn vào ngày 25-1-1933, vừa đúng 30 Tết âm lịch.

Ở Hạ Môn một thời gian, Người lên Thượng Hải, và sau khi nhờ bà Tống Khánh Linh giúp đỡ, Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc được với Quốc tế Cộng sản và trở về Liên Xô an toàn sau đó.

2. Tình bạn thủy chung Hồ Chí Minh – Lôdơbi

Sau khi rời khỏi Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc đã hai lần viết thư cho luật sư Lôdơbi, nhưng vì sợ nhà cầm quyền tìm ra địa chỉ của Người nên luật sư đã không trả lời. Trong thời gian đó, Tống Văn Sơ tiếp tục hành trình tìm đường giải phóng dân tộc. Mùa xuân năm 1941, Người trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước. Và giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản do Hồ Chí Minh đứng đầu, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa thu năm 1945 đã thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, và người Thanh niên Việt Nam -Tống Văn Sơ được gia đình luật sư cứu giúp năm nào ở Hồng Kông, giờ đây trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Vẫn tiếp tục đấu tranh cho hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi sau 9 năm kháng chiến gian khổ. Tuy nhiên, để có một nền hoà bình trọn vẹn ở cả hai miền Nam, Bắc, nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam.

Là lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bộn bề công việc, song dù bận, Người vẫn không quên gửi thư, thiếp và quà đến gia đình luật sư Lodơbi mỗi dịp Nôen, khi Xuân về, Tết đến. Năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư và ảnh của Người đến gia đình luật sư và gia đình luật sư cũng đã gửi thư và ảnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mùa xuân năm 1960, nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai vợ chồng luật sư cùng người con gái đã sang ăn Tết cổ truyền với nhân dân Việt Nam (26-1 đến 3-2-1960), thăm đất nước mà họ đã từng được nghe qua lời kể của người tù từ năm 1931. Trong chuyến đi thăm Vịnh Hạ Long, mỏ than Cẩm phả, thăm Bảo tàng cách mạng Việt Nam, nhà máy Cơ khí Hà Nội, Trại nhi đồng miền Nam tại Hà Nội,.. câu chuyện kể về “cành đào Lôdơbi”, tấm thịnh tình của người dân Việt Nam tri ân gia đình luật sư Lôdơbi – những người đã có công cứu thoát người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh hiểm nghèo, đã không chỉ làm đẹp thêm những phẩm cách thủy chung, cao quý của người dân đất Việt, mà còn làm ấm lòng những vị khách quý của Bác Hồ.

Trở về Hồng Kông, luật sư đã viết thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-2-1960), bày tỏ lòng cảm ơn Người và sự hiếu khách của nhân dân Việt Nam đối với gia đình ông trong những ngày thăm Việt Nam. Không chỉ có vậy, ông viết: “Chúng tôi không thể quên đất nước Việt Nam tươi đẹp, những khuôn mặt rạng rỡ nụ cười của con người Việt Nam, và con đường mà tất cả các bạn đã trải qua để dẹp bỏ mọi dấu vết đau thương của quá khứ… và Ngài nói rằng tôi “đã cứu sống ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm, và đó mãi mãi là một việc làm sáng suốt; về phần tôi thì tôi thấy mình đã được đền đáp hơn nhiều với những ký ức về những ngày ở Việt Nam, và những món quà mà tôi được tặng sẽ luôn là vật kỷ niệm về những ngày tuyệt vời đó”[7].

7 năm sau đó, luật sư Lôdơbi qua đời. Báo Hoa Nam buổi sáng ở Hồng Kông (1967) đưa tin luật sư mất, cùng những dòng chữ thân yêu của gia đình với nội dung: Xin đừng mang hoa đến viếng, hãy dùng số tiền phúng viếng đó để giúp đỡ người nghèo. Nhận được tin vị ân nhân đã cứu sống mình qua đời, không với tư cách Chủ tịch nước, không ở cương vị Quốc gia, giữa nồng hậu thân tình gia đình, vòng hoa gửi Kính viếng Luật sư của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giản dị với dòng chữ: “Hồ Chí Minh kính viếng“. Hai năm sau đó, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta qua đời, Điện chia buồn của gia đình luật sư gửi Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu – Trung Quốc in đậm dòng chữ: “Được tin Chủ tịch qua đời, xin bày tỏ tình cảm sâu sắc nhất“, có kèm chữ ký của Bà luật sư cùng người con gái.

Cùng với thời gian, tình nghĩa trọn vẹn thuỷ chung của Hồ Chí Minh với luật sư Lôdơbi, tấm lòng trước sau như một của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam đối với gia đình luật sư Lôdơbi, cũng như gia đình luật sư Lôdơbi đối với Việt Nam sẽ vẫn còn lưu truyền mãi. Đâu đó trong bức tranh thêu Chùa Một Cột Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng luật sư, trong bộ quần áo, mũ, giày, kính gia đình luật sư tặng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng năm nào, trong những bức ảnh của gia đình Luật sư Lôdơbi, trong những kỷ vật, những sưu tập tài liệu liên quan đến vụ án Hồng Kông những năm 1931-1933.., đang lưu giữ tại bảo tàng Hồ Chí Minh, bảo tàng cách mạng Việt Nam, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và ở những nơi khác nữa trên mảng đất Việt Nam, tại gia đình luật sư, vẫn thấy hiển hiện một tình bạn cao cả, một ân tình sâu nặng Hồ Chí Minh – Lôdơbi mà muôn đời các thế hệ con cháu mai sau ngưỡng mộ và chiêm nghiệm.

TS. Văn Thị Thanh Mai
Ban Tuyên giáo Trung ương

[1] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.50
[2] Robin, Điện khẩn mật mã, Hà Nội ngày 8/6/1931 trong cuốn Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.72
[3] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.118
[4] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.130
[5] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.135-136
[6] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.151
[7] Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Nxb. CTQG, H, 2004, tr.250

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn