Tag Archive | Dân tộc

Đền thờ Bác Hồ (xã Lương Tâm – Long Mỹ) (1969)

Bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong di tich xã Lương Tâm - huyện Long Mỹ - tỉnh Hậu Giang

Từ trung tâm thị trấn Long Mỹ theo đường liên xã qua Thuận Hưng, Xà Phiên sẽ đến xã Lương Tâm là nơi di tích đền thờ Bác Hồ. Di tích được xây dựng trên vùng đất phía Bắc nơi ngã tư của hai con kinh Long Mỹ II và Năm Căn giao nhau; cách thị trấn Long Mỹ 21 km; cách TP Cần Thơ 78 km về phía Tây Nam.

Nhân dân miền Nam nói chung, nhân dân Hậu Giang, Long Mỹ nói riêng, hình ảnh của Bác Hồ kính yêu ở trong trái tim, khối óc của mỗi người dân, tuy xa thủ đô Hà Nội hàng nghìn cây số nhưng luôn hướng về Bác Hồ và thủ đô mến yêu với niềm tin vững chắc để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Khi nghe tin Bác qua đời ngày 03/9/1969 là nỗi đau chung, sự tổn thất lớn lao đối với cả dân tộc Việt Nam; nhất là nhân dân miền Nam chưa kịp rước Bác vào thăm.

Để đền đáp công ơn trời biển của Bác và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân xã Lương Tâm; Đảng bộ xã , do đồng chí Lữ Minh Chánh (Hai Chánh), Bí thư Đảng ủy xã đã quyết định lập bàn thờ Bác ngay tại Văn phòng Đảng ủy xã. Đồng chí Lê Văn Thống, ủy viên thư ký được giao nhiệm vụ phóng ảnh Bác lập bàn thờ và may băng tang để tổ chức lễ truy điệu. Ngày hôm sau lễ truy điệu được tổ chức trọng thể với sự có mặt đông đủ của các đồng chí lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể xã, ấp, các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương đóng quân gần cơ quan xã, cùng đông đảo bà con trong xã đến đự lễ với nỗi đau buồn vô hạn, tưởng niệm, ghi lòng tạc dạ về công ơn trời biển của Bác và hứa với Bác quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Cổng trước đền thờ Bác

Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng – biến đau thương thành hành động cách mạng, quân dân Hậu Giang đã liên tục tấn công địch trên khắp các địa bàn trong tỉnh. Trong tuần lễ để tang Bác, quân dân tỉnh Hậu Giang mở đợt tấn công vào 34 mục tiêu quân sự, tiêu diệt gần 400 tên địch. Chỉ tính riêng xã Lương Tâm, quân dân ta đã tiêu diệt đồn: Vàm Cấm, đồn Tô Ma, đồn Đường Đào (bị đánh thiệt hại nặng). Trên 40 tên địch đền tội và nhiều tên khác bị thương.

Ngay sau ngày Quốc tang, các đồng chí lãnh đạo và một số đồng chí lão thành cách mạng, các vị bô lão trong xã đã bàn bạc đi đến quyết định: xây dựng Đền thờ Bác tại ấp 3, ngã tư lộ xe. Đây là nơi thuận lợi nhất để mọi người dân trong xã và các khu vực dễ dàng đến viếng Bác bằng cả đường thủy và đường bộ. Trong quá trình chuẩn bị thì địch tổ chức phản kích ác liệt, mở nhiều cuộc càn quét qui mô vào vùng này và địa điểm xây dựng đền thờ Bác là nơi giao điểm pháo của địch ở các nơi bắn vào. Cuối cùng Đảng bộ quyết định giữ nguyên bàn thờ Bác tại cơ quan Đảng ủy xã Lương Tâm.

Nhà trưng bày di tích Đền thờ BácNhà trưng bày di tich Đền thờ Bác

Mùa hè năm 1972, Mỹ ngụy mở nhiều đợt càn quét qui mô, tập trung bom pháo đánh phá ác liệt địa bàn Long Mỹ. Cơ quan Đảng ủy xã bị bom pháo Mỹ đánh sập phải dời đi nơi khác, bàn thờ của Bác được lập lại và tổ chức các ngày lễ kỷ niệm Bác giữ đúng hằng năm (ngày sinh nhật, lễ giỗ và Tết Nguyên đán). Ngoài ra, nhân dân trong vùng thờ Bác và tổ chức lễ giỗ tại nhà, như gia đình ông Nguyễn Văn Tòng ở ấp 6, xã Vĩnh Viễn. Lễ giỗ Bác tổ chức ở đây bình dị nhưng rất trang trọng, có đây đủ con cháu trong nhà và bà con xóm giềng đến cúng. Tưởng niệm Bác. Ở thị xã Vị Thanh (tỉnh lỵ Chương Thiện) bà Trần Thị Láng người Hoa, tổ chức lễ giỗ Bác công khai trong vùng giặc kìm kẹp, xem là ”cúng cơm ông tổ”…

Sau ngày hòa bình, từ nguyện vọng tha thiết của Đảng bộ và nhân dân xã Lương Tâm, mong muốn xây dựng lại đền thờ Bác Hồ ở vị trí đã dự kiến trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tại ngã tư lộ xe, ấp 3, xã Lương Tâm, được Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Long Mỹ và Sở Văn hóa Thông tinh tỉnh Hậu Giang chấp thuận, các ngành, các cấp và nhân dân trong và ngoài địa phương tích cực đóng góp tiền, công sức, với tấm lòng kính yêu Bác và đây là công trình “uống nước nhớ nguồn” thiết thực chào mừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác.

Toàn cảnh Đền thờ Bác Hồ

Ngày 2-9-1990, nhân dân và các ban, ngành trong và ngoài tỉnh như Bạc Liêu, Kiên Giang đã tổ chức trọng thể lễ khánh thành đền thờ Bác và rước ảnh Bác từ cơ quan Đảng ủy xã LươngTâm về đền thờ (cách 3 km). Từ đó cứ đến các ngày kỷ niệm: 30-4, 19-5, 2-9, tết Dương lịch và tết Nguyên đán nhân đần Hậu Giang và các tỉnh vùng lân cận đều tổ chức hành hương về nguồn, trở thành ngày truyền thống hằng năm.

Đền thờ Bác được xây đựng năm 1990, với qui mô nhỏ không đủ sức chứa đông đảo nhân dân các nơi đến hành hương viếng Bác trong các dịp lễ hội. Do đó được Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Cần Thơ (củ) cho phép xây dựng mở rộng khu đền thờ Bác, kết hợp với sinh hoạt văn hóa, thể thao, hình thành một trung tâm giáo dục truyền thống và sinh hoạt văn hóa của nhân dân trong vùng. Qui hoạch tổng thể khu đền thờ mới gần 2 hecta, gồm có 7 hạng mục công trình.

Đền thờ Bác được xây mới cách đền cũ 50 mét về phía kiến trúc mang tính dân tộc, trang trọng, tôn kính.

Nhân kỷ niệm lần thứ 106 ngày sinh của Bác (19-5-1890 – 19-5-1996), các đồng chí lãnh đạo tỉnh, huyện và nhân dân xã Lương Tâm, địa phương các tỉnh lân cận đã long trọng tổ chức lễ khánh thành khu đền thờ Bác mở rộng và rước tượng Bác về đền thờ mới rất trọng thể.

Nhân kỷ niệm lần thứ 107 ngày sinh của Bác (19-5-1890 – 19-5-1997) Tỉnh ủy, ủy ban Nhân dân tỉnh Cần Thơ (củ) tiếp tục cho xây dựng nhà trưng bày thời niên thiếu và cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác. Đây là hạng mục thứ hai sau đền thờ, trong số 7 hạng mục của tổng thể khu di tích.

Từ năm 1990 đến năm 2010, bình quân mỗi năm có từ 35.000 đến 40.000 lượt người đến viếng tưởng niệm công đức của Người. Nhân các ngày lễ hội đều tổ chức nhiề u hình thức hoạt động văn hóa – thể thao vui chơi giải trí cho nhân dân địa phương và các xã lân cận tỉnh bạn. Đây trở thành một công trình tưởng niệm Bác; đồng thời là trung tâm văn hóa – thể thao của nhân dân trong vùng.

Với ý nghĩa đó, Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định số 02.QĐ/BT, ngày 07-01-2000 công nhận Đền thờ Bác Hồ ở xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

haugiang.gov.vn

Một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại

Đã có nhiều cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” của Đào Phan (NXB Văn hóa Thông tin, 2005) có vị trí khá đặc biệt, trước hết vì “xuất xứ” của nó. Chính đồng Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ Chủ tịch, đã tin cậy chọn Đào Phan là người viết công trình “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” để kịp công bố vào dịp UNESCO tổ chức Hội thảo về “Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh” tại Hà Nội. (Theo hồi ký của Phan Bội Hoàn, người bạn đời của Đào Phan).

Có lẽ cũng nên giới thiệu đôi dòng về tác giả cuốn sách. Đào Phan tên thật là Đào Duy Dếnh, sinh ngày 10/7/1920, quê quán Khúc Thuỷ, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Anh ruột của ông là học giả Đào Duy Anh, tham gia Đảng Tân Việt – tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam – đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh; chị Đào Thị Quyền, là cơ sở của cách mạng, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư, Trần Đình Tri nguyên Thường trực Quốc Hội… từng được gia đình chị che chở; anh Đào Duy Kỳ vào Đảng Cộng sản từ năm 1936, từng làm việc trực tiếp với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh…, có lúc là Quyền Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ, từng bị tù ở Hoả Lò, Sơn La, Côn Đảo, sau làm Trưởng ban Huấn học Trung ương…; cô em út Đào Thị Đính hoạt động bí mật cùng đồng chí Tố Hữu, từng ngồi tù 5 năm tại Huế, sau 1945 là Thành uỷ viên Huế, rồi Trưởng ban Tổ chức TW Hội Phụ nữ Việt Nam… Từ trước Cách mạng Tháng Tám, lúc 16 tuổi, ông đã tham gia chống Pháp trong phong trào thanh niên, học sinh ở Huế; năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; năm 1941 là Bí thư Hà Nội, từng bị thực dân Pháp bắt và lưu đày tại nhiều nhà tù ở Thừa Thiên, Phan Rang, Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thoát khỏi ngục tù đế quốc, ông được đồng chí Nguyễn Chí Thanh cử làm Đội trưởng Đội Tuyên truyền xung phong Việt Minh Trung Bộ, tập hợp những thanh niên trí thức đi đến tận những vùng rừng núi, những thôn xóm xa xôi hẻo lánh diễn thuyết, diễn văn nghệ tuyên truyền cho chính phủ Cụ Hồ…Từng viết báo “Suối Reo” – tờ báo của các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù Sơn La, năm 1947, ông được Trung ương điều ra phụ trách Nhà xuất bản và báo “Quân du kích” – tiền thân của NXB và báo “Quân đội nhân dân” hôm nay…
Năm 2005, cùng một lúc, cả 3 công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của ông được xuất bản nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người. (Ngoài tác phẩm kể trên, là 2 cuốn “Hồ Chí Minh – một nhân cách lớn” – NXB Văn hóa thông tin, 510 trang và “Đạo Khổng trong văn Bác Hồ”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).

Về tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” đồng Vũ Kỳ đã trân trọng viết Lời giới thiệu như sau:

“…Cuốn “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” đã được viết bằng công phu nghiên cứu của tác giả trong hai chục năm qua…Là một người phục vụ Bác Hồ lâu năm, tôi càng sung sướng khi thấy cuốn sách đã nêu được những đường nét sống động và chân thật của Người…” 

Nhận xét nêu trên đã nói lên phần nào giá trị của công trình. Cuốn sách gồm có 5 chương: Hồi tưởng về một dự báo; Nền văn hoá mới; Triết nhân và nghệ sĩ; Chiến lược con người – nhà giáo dục; Truyền thống và hiện đại. Qua 5 chương sách, với hàng trăm dẫn chứng cụ thể và sinh động – trong đó có ý kiến của nhiều trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng thế giới nhận xét, ca ngợi những phẩm cách đặc biệt về nhiều phương diện của Hồ Chí Minh, từ khi Người còn là chàng trai Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước đến lúc trở thành vị lãnh tụ tối cao của dân tộc – tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục Hồ Chí Minh thật sự là một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại. Đạt được điều đó, trước hết là nhờ công phu sưu tầm tài liệu của tác giả, nhưng quan trọng hơn là nhờ tác giả có cách nhìn mới mẻ và đúng đắn, xứng tầm với vĩ nhân, vượt qua được cách nghĩ hạn hẹp, công thức khi nêu gương một nhà cách mạng. Chỉ cần đọc mấy trang đầu, khi tác giả dẫn bài viết của nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-xtam sau khi gặp Người năm 1923 đủ rõ: “…Cả diện mạo của Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và sự tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không như văn hoá châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai…Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương…”. Tác giả Đào Phan đã nhấn mạnh: Quả rất đáng ngẫm nghĩ khi nhà thơ nước Nga vốn chủ định tới thăm một “Chiến sĩ quốc tế” nhưng“vừa gặp gỡ đã nhận diện được ngay một con người Việt Nam, ở sự giản dị và thanh lịch, chuộng nếp điều độ và ghét thói thái quá…những nét truyền thống văn hoá lâu đời của một diện mạo dân tộc…” 

Và gần 10 năm sau, trước sự kiện vị luật sư và bà vợ Tổng đốc nước Anh tư bản ở Hương cảng (Hồng Công) cùng góp sức cứu “Ông Nguyễn”, tác giả đã viết: “…Trong những trường hợp như thế không ai nhìn nhận con người qua những dáng dấp giai cấp. Lòng tin của nhà cách mạng quốc tế đối với một vị luật sư Hoàng gia, và ngược lại, lòng tin của vị luật sư Hoàng gia đối với nhà cách mạng quốc tế, phải chăng đều đã bắt nguồn từ “nhân tính” hoặc “nhân tình”?… Nếu không do những tín hiệu nào đó của nền văn hoá toả ra từ một con người mắc cạn, thì điều gì đã thuyết phục cả người phụ nữ sang trọng ấy có thể dùng ngay chiếc ca-nô của chồng mình để bí mật đưa nhà cách mạng Việt Nam đi thoát khỏi vòng vây của mật thám Đông Dương…” 
Một điểm đáng chú ý nữa của tác phẩm là tác giả đã phân tích những giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ Nguyễn Trãi, đến Phan Bội Châu…, cũng như những giá trị văn hoá của nhân loại đã thể hiện trong danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh như thế nào; nói cách khác, chính nhờ Người biết tiếp thu và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và biết thu nhận, kết hợp những tinh hoa văn hoá của nhân loại, chứ không độc tôn thờ một “Ông Thánh” nào, nên mới trở thành “danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh”.

Tác giả cũng đã nêu bật được nét đặc sắc của “văn hoá” Hồ Chí Minh là nói đi đôi với làm; bằng những hoạt động và cách cư xử hàng ngày, Người đã nêu một tấm gương cụ thể và sinh động. Chỉ xin dẫn một ví dụ: Nhân Quốc khánh 2/9/1955, một thương binh từ miền Nam ra, được mời dự chiêu đãi tại Phủ Chủ tịch. Tên thật của anh là Nguyễn Trản, bị cụt mất hai tay khi phụ trách một xưởng quân giới rất thô sơ tại Nam Bộ thời chống Pháp, nên còn có bí danh là Vương Nhị Chi. Trong lúc chờ đợi, anh hỏi thăm lối đi tới nhà vệ sinh. Với hai cánh tay cụt, anh đang loay hoay chưa biết tính sao thì bỗng nghe tiếng hỏi nhẹ nhàng sau lưng: “Chú làm sao cởi khuy?…” Anh còn lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì một ông già bước tới cởi khuy giúp anh rồi đứng tránh sang một bên, chờ anh tiểu tiện xong rồi lại lặng lẽ đến cài khuy giúp. Ông già ấy là vị Chủ tịch Nước. Thì ra đúng lúc anh hỏi thăm lối vào nhà vệ sinh đã tình cờ gặp Người. Sau khi dẫn anh trở lại phòng lễ tân, Hồ Chủ tịch liền nghiêm khắc quở trách mấy cán bộ hồi nãy “chỉ trỏ” bàn tán khi anh đi vào nhà vệ sinh: “Người ta mất cả hai cánh tay, mà không ai đi theo giúp đỡ…” 

Không chỉ nêu gương, Người đã tổ chức, phát động mọi người cùng làm theo, tạo nên diện mạo một nền “văn hoá mới” của đất nước. Vì thế, tuy Người “đi xa” đã mấy chục năm qua, những giá trị văn hoá Người để lại không chỉ hiện diện trên những trang sách của Đào Phan mà còn toả sáng trên mỗi bước đường cách mạng của dân tộc, của đất nước Việt Nam đang không ngừng đổi mới, “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Người đã từng mong đợi.

Nguyễn Khắc Phê

cpv.org.vn

Khu di tích Bác Hồ ở Đá Chông với việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ ở Ba Vì – Hà Tây

Đồng chí Hoàng Thanh Vân - Bí thư huyện uỷ Ba Vì - Hà Tây

Tuổi trẻ các dân tộc huyện Ba Vì rất vinh dự và tự hào được sinh ra và lớn lên trên một vùng đất “địa linh, nhân kiệt” giàu tiềm năng, nhiều sự tích anh hùng và những truyền thống cực kỳ quý báu. Từ giữa năm 1950, vinh dự và tự hào hơn địa danh Đá Chông trên đất Ba Vì còn gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn của nhân loại, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Bác Hồ kính yêu của chúng ta được toàn thể dân tộc Việt Nam và cả loài người kính phục.

Lịch sử còn ghi ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (19/12/1946) Bác Hồ rời làng Vạn Phúc trong không khí sục sôi:

“Cờ đỏ sao vàng bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”

Tối 3/3/1947 Bác Hồ rời Hoàng Xá (Quốc Oai) qua Trung Quốc

“Xa xa núi Tản mây vờn
Sông Đà gợn sóng con thuyền nhẹ trôi”

Bác Hồ ra đi giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã và đang giành được những thắng lợi to lớn, song vẫn còn phải trải qua nhiều gian khổ hi sinh để đến thắng lợi hoàn toàn. Niềm tin tất thắng đó của Người đã động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta không ngừng phấn đấu vượt mọi khó khăn giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong những năm tháng hào hùng đó có địa danh Đá Chông (Ba Vì) được Bộ Chính trị quyết định chọn làm nơi bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác.

Ba Vì là huyện vinh dự được Bác Hồ nhiều lần tới thăm. Từ trên sườn Núi Tản viên tới bờ bãi Sông Hồng, từ đồi cây đến hồ nước, từ cánh đồng lúa đến khúc đê sung yếu, nhiều nơi trên mảnh đất này đã từng in dấu chân Bác.

Mùa hè năm 1957 trên đường công tác, Bác dừng chân ở một gốc đa ven đường thuộc xã Ba Trại (dân tộc Mường), Bác mong muốn gốc đa này có một ghế đá để bà con nông dân đi làm đồng trưa nắng vào nghỉ ngơi dưới gốc cây hoặc khách bộ hành mệt mỏi vào trú nắng, tấm lòng nhân ái của Bác sau đó đã được thực hiện. Ngày 8/7/1958 Bác đến thăm xã Cổ Đô Người đã ra đồng lội ruộng thăm bà con nông dân bắt sâu phá hoại lúa. Bác căn dặn, động viên nhân dân địa phương khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh gây ra, quyết giành thắng lợi trong sản xuất để đảm bảo đời sống và đóng góp với đất nước. Trên bờ bãi Sông Hồng, Bác đã tới thăm kè Cổ Đô, Vu Chu, những đoạn kè trọng yếu trên đê Sông Hồng, Bác thăm hỏi động viên nhân dân xã Cam Thượng đang tập trung chống lụt … Ngày 26/01/1964 nhân chuyến công tác nghỉ ăn cơm trưa trên đồi Chu Mật, xã Thái Hoà, Bác nhắc nhở: Phong cảnh Ba Vì “Sơn thuỷ hữu tình” nếu trồng thêm được nhiều cây xanh, bóng mát thì vẻ đẹp còn tăng nhiều hơn nữa. Ngày 15/4/1964 Bác đến thăm đập Suối Hai, một công trình thuỷ lợi nhân tạo lớn mới được xây dựng. Nhờ công trình thuỷ lợi này, hàng nghìn ha từ ruộng 1 vụ thành ruộng 2 vụ, hàng trăm ha gieo trồng 3 vụ, Bác ân cần hỏi han việc đưa nước vào đồng. Ngày 16/2/1969 nhân ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu, Bác về thăm gặp gỡ chúc tết cán bộ và các tầng lớp nhân dân trong huyện. Sau đó Bác đã trồng cây Đa trên đồi cây Yên Bồ xã Vật Lại để khuyến khích phong trào Tết trồng cây của cả nước. Đây là lần cuối cùng Bác thăm nông dân và trồng cây trước lúc Người đi xa.

Có thể nói những địa bàn Bác đã tới thăm, những việc làm và những lời dạy bảo ân tình của Bác đối với nhân dân trong huyện không chỉ để lại những dấu ấn sâu sắc, những kỷ niệm không thể phai mờ mà còn dấy lên cả những cao trào quần chúng ở địa phương, hình thành những chủ trương lớn của cấp uỷ, chính quyền từ huyện đến cơ sở.

Trong những lần Bác tới thăm Ba Vì, Bác quan tâm nhiều mặt, căn dặn nhiều điều như xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, phòng chống thiên tai bảo vệ sản xuất, đắp đê phòng lụt, trồng cây gây rừng, chăm lo đời sống nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân, phát huy truyền thống yêu nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, chăm sóc bảo vệ thiếu nhi, tôn trọng phụ nữ, đào tạo cán bộ, rèn luyện đảng viên. Đặc biệt Bác rất quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ. Được giáo dục và trưởng thành qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng sôi nổi, thế hệ trẻ Ba Vì mà nòng cốt là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã động viên cổ vũ, tập hợp đông đảo các tầng lớp thanh niên trong huyện phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, tuổi trẻ các dân tộc trong huyện đã kề vai sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ vừa sản xuất, vừa chiến đấu lập nhiều chiến công xuất sắc. Hàng vạn thanh niên Ba Vì đã tham gia bộ đội chủ lực, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến trên khắp các mặt trận, chiến trường. Rất nhiều đoàn viên thanh niên đã nêu gương chiến đấu dũng cảm, không ngại gian khổ hy sinh, xứng đáng với truyền thống thanh niên Ba Vì anh hùng, lực lượng trẻ ở hậu phương thi đua sản xuất giỏi, đấu tranh kiên cường chống thiên tai, địch hoạ hoàn thành tốt các chỉ tiêu, kế hoạch Nhà nước giao phó.

Trong lao động xây dựng xã hội chủ nghĩa xã hội, tuổi trẻ ba dân tộc Kinh, Mường, Dao trong huyện luôn gắn bó đoàn kết, phấn đấu đi đầu trong các phong trào từ cải tiến công cụ, ngâm ủ giống theo phương thức khoa học, đẩy mạnh sản xuất phân bón, đẩy mạnh phong trào làm thuỷ lợi, tạo lên làn gió “đại phong” nổi tiếng một thời tuổi trẻ, tích cực lao động sản xuất trong phong trào thanh niên tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)… Tuy còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm sản xuất về tay nghề nghiệp vụ quản lý nhưng do nhận thức được vai trò trách nhiệm của tuổi trẻ, đoàn viên thanh niên lại hăng hái tiến quân vào khoa học, kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, xây dựng lên những “cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ”, phong trào “luyện tay nghề thi thợ giỏi” những công trình thanh niên phấn đấu trở thành các tổ, đội lao động dự bị tin cậy của Đảng.

Cùng với việc xây dựng và phát huy truyền thống xung kích cách mạng qua các thời kỳ, đoàn viên thanh niên huyện Ba Vì luôn đặt nhiệm vụ dìu dắt, chăm sóc giáo dục lớp thiếu niên nhi đồng thành công việc thường xuyên, cùng gia đình nhà trường và xã hội, đoàn thanh niên đã góp phần dìu dắt, bồi dưỡng giáo dục về mọi mặt, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ măng non đợc phát triển toàn diện, giữ vững phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu chon lọc văn hoá tinh hoa nhân loại, chuẩn bị nguồn lực thực hiện CNH, HĐH quê hương, đất nước.

Bác Hồ đã đi xa nhưng Đảng bộ, nhân dân và thế hệ trẻ Ba Vì luôn ghi nhớ và thực hiện lời Bác dạy, những vùng đất trống đồi trọc, cằn khô sỏi đá, nay là những cánh rừng xanh ngắt của trang trại, vườn rừng của vườn cây ăn quả, lợi ích của việc trồng cây, không chỉ mang lại nguồn lợi thiết thực cho đời sống trước mắt mà còn tạo ra lợi ích lâu dài và rộng lớn đem lại lợi ích nhiều mặt dân sinh, kinh tế, văn hoá – xã hội, sinh thái, môi trường.
Trồng cây cũng vì lợi ích của dân, trồng cây cúng góp phần vào nhiệm vụ “trồng người”. Địa danh nào trên đất Ba Vì Bác đã tới thăm đều để lại những bài học sâu sắc về sự quan tâm đến con người, quý trọng con người, coi con người là trung tâm của mọi chủ trương, phương pháp hành động, mục tiêu phục vụ con người, phục vụ nhân dân là mục tiêu phấn đấu chủ yếu của các ngành các cấp. Thấm nhuần tư tưởng của Bác nhiều năm qua nhiệm vụ trồng người đã trở thành mục tiêu chủ yếu, thanh nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng bộ và nhân dân toàn huyện.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho thế hệ trẻ Việt Nam tình yêu thương và sự quan tâm sâu sắc, Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đoàn viên thanh niên là đội hậu bị tin cậy của Đảng, là người chủ tương lai của đất nước. Ngày nay đất nước ta đã và đang trải qua những chuyển biến sâu sắc trong công cuộc đổi mới, với những thành tích và vận hội mới. Lời Bác Hồ dạy “Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó”. Phát huy truyền thống lớp lớp cha anh trong lịch sử, tuổi trẻ Ba Vì không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu vượt qua mọi khó khăn, tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo bằng các chương trình hành động cách mạng thiết thực với khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” động viên, tập hợp thanh niên trên con đường mưu sinh lập nghiệp, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Trên đất Ba Vì miền quê Núi Tản Sông Đà, quê hương của huyền thoại Sơn Tinh. Trong tiếng reo vi vút của rừng thông, tiếng sóng vỗ nhẹ êm của dòng Đà Giang cuộn chảy. Dòng người trên khắp đất nước ngày càng đông đến khu Di tích Đá Chông – nơi Bác Hồ kính yêu đã có thời gian làm việc, nơi từng được chọn để bảo vệ, giữ gìn giấc ngủ vĩnh hằng của Người. Cùng với nhân dân cả nước, tuổi trẻ Ba Vì luôn ghi lòng tạc dạ công ơn của Bác, thực hiện tốt những lời Bác dạy, góp phần bảo vệ thật tốt khu Di tích thiêng liêng này trở thành nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ Ba Vì và của cả nước.

bqllang.gov.vn

Giá trị lịch sử khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9 Đá Chông – Ba Vì – Hà Tây, đề xuất hướng bảo tồn di tích.

Tiến sĩ Chu Đức Tính - Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Đồi Đá Chông nằm trong khu rừng nguyên sinh thuộc quần thể núi Ba Vì, huyện Bất Bạt, có độ cao 150 m so với mực n¬ước biển, địa thế giáp gianh ba tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ và Sơn Tây. Vào những năm 50 của Thế kỷ XX, nơi phong cảnh “sơn thuỷ hữu tình” này có mật danh là K9. Và ngày nay được gọi là Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9- Đá Chông ( gọi tắt là Di tích K9).

Tháng 5 năm 1957, trong một lần Bác đến thăm Trung đoàn bộ binh 88 thuộc Sư đoàn 308 cùng Trung đoàn pháo binh 63 và một đơn vị bộ đội thiết giáp diễn tập bên sông Đà, Bác và các đồng chí cùng đi đã dừng chân, ăn cơm trên một quả đồi. Nhận thấy nơi đây có nhiều điểm thuận lợi về địa hình, thời tiết, giao thông: có rừng cây, có núi, có sông, thuận tiện giao thông, gần Thủ đô…, Bác đã trao đổi với các đồng chí cùng đi, ngỏ ý muốn chọn nơi này là căn cứ của Trung ương, đề phòng chiến tranh có thể mở rộng ra miền Bắc. Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng đến khảo sát lại khu vực này vào đầu năm 1958. Sau chuyến khảo sát này, đến giữa năm 1958, Khu làm việc của Trung ­ương ở Đá Chông đã đư­ợc khởi công xây dựng với tên gọi là Công trư­ờng 5 với ba hạng mục xây dựng là:

– Khu A dành cho Bộ Chính trị họp và làm việc.
– Khu B dành cho các đồng chí lãnh đạo.
– Khu C dành cho anh em bảo vệ và phục vụ.

Từ năm 1960, Công trư­ờng 5 đã hoàn thành và đ­ưa vào sử dụng, sau này đ­ược gọi theo mật danh K9.

Trong 9 năm (1960-1969), K9 đã nhiều lần được vinh dự đón Bác cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị lên làm việc và nghỉ ngơi.

Ngày 20/6/1959, Bác lên thăm và khảo sát tình hình thi công, xây dựng ở Công tr­ường 5 (K9).

Khoảng đầu tháng 3/1961, Bác đã cùng đồng chí Đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ lên thăm K9. Chuyến đi này, Bác cùng đại sứ Hà Vỹ chuẩn bị sẽ đón tiếp đoàn của bà Đặng Dĩnh Siêu-phu nhân Thủ tướng Chu Ân Lai lên thăm quan khu Đá Chông nhân dịp bà dẫn đầu đoàn đại biểu phụ nữ Trung Quốc sang thăm và dự Đại hội Phụ nữ Việt Nam lần thứ III.

Ngày 13/3/1961, Bác đư­a đoàn đại biểu phụ nữ Trung Quốc do bà Đặng Dĩnh Siêu dẫn đầu lên thăm, đồng chí Đại sứ Hà Vĩ cũng cùng đi. Bác đã đưa đoàn đi thăm rừng thông và toàn cảnh khu vực Đá Chông. Trong chuyến thăm, Bác và bà Đặng Dĩnh Siêu đã trồng cây, chụp ảnh lưu niệm… Buổi trưa, Bác mời đoàn dùng cơm thân mật tại Nhà khách.

Ngày 24/1/1962, trong dịp đoàn đại biểu quân đội Liên Xô do anh hùng Titốp, phi công vũ trụ nhà nước Xô Viết dẫn đầu sang thăm Việt Nam, Bác đã đư­a đoàn lên thăm Khu di tích, thăm phong cảnh núi rừng, rừng thông, đi săn và bơi thuyền. Bác cùng anh hùng Titốp đã trồng hai cây Vàng Anh lưu niệm tại đây. Trưa hôm đó, Bác đã mời đoàn dùng cơm tại nhà khách của Khu di tích.
Một lần Bác cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị lên họp. (có ảnh các đồng chí Bộ Chính trị gồm Lê Văn Lư­ơng, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn như­ng không ghi ngày tháng)

Một lần Bác lên làm việc và gặp gỡ cán bộ ở đây, Bác đã cùng anh em cán bộ ăn cơm rất thân mật, gần gũi.

Dù Bác lên ở và làm việc tại K9 không thường xuyên nhưng mỗi con đường, mỗi ngôi nhà, mỗi hàng cây ở đây vẫn in đậm hình bóng Bác.

Sau khi Người qua đời, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta mong bảo vệ và giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ để sau ngày đất n­ước thống nhất, đồng bào, chiến sỹ cả nước và bạn bè quốc tế mãi mãi được viếng thăm Bác. Thể theo nguyện vọng đó, trong khi đất nước còn có chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta còn đang hướng tới việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã quyết định chọn K9 làm nơi bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác từ ngày 24/12/1969 và phải tuyệt đối bí mật. Khu vực này có nhiều điểm thuận lợi như nhà cửa, hầm công sự đã có sẵn, địa thế nằm trong dải rừng dài, rộng, nên thuận tiện cho việc phòng thủ và giữ bí mật.

Sau một thời gian thi hài Bác đ­ược giữ gìn, bảo vệ ở Đá Chông, ngày 23/5/1970, Hội đồng khám nghiệm gồm chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã tổ chức khám nghiệm thi hài và kết luận: “Qua 8 tháng đầu bảo vệ, giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một nư­ớc khí hậu nhiệt đới, mặc dù phải di chuyển xa như­ng hình dáng bên ngoài và các bộ phận trên cơ thể Ngư­ời vẫn được bảo tồn đầy đủ, phù hợp với hình thể lúc Ngư­ời còn sống”1 Trên cơ sở đó, Trung ương quyết định lấy K9 làm nơi giữ gìn và bảo vệ thi hài Bác..

Đêm 20, rạng ngày 21/11/1970, trực thăng Mỹ đổ quân xuống khu vực thị xã Sơn Tây hòng cứu thoát số phi công Mỹ bị giam ở đây. Điều này khiến ta phải đặt ra những ph­ương án bảo vệ thi hài Bác ở khu vực K9. Ngày 24/11/1970, Trung ương Đảng quyết định di chuyển thi hài Bác về Hà Nội. Bác về Hà Nội mới được vài tháng thì mưa lũ lên cao, theo dự đoán thì mức nư­ớc sẽ tàn phá đê điều làng mạc nghiêm trọng, do vậy, 13h ngày 18/8/1971, thi hài Bác đư­ợc đ­ưa trở lại K9. Việc di chuyển này rất khó khăn phức tạp, chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể gây hậu quả không thể l­ường hết đư­ợc. Do tình hình chiến tranh phức tạp, bầu trời K9 lúc này luôn đầy tiếng máy bay giặc Mỹ, 21 h ngày 11/7/1972, đoàn xe chở Bác đ­ược lệnh rời K9 và 0h15’ ngày 12/7, Bác đã về yên nghỉ ở một vị trí trong hang núi bên kia sông đến khi Hiệp định Paris đ­ược ký kết, Mỹ ngừng ném bom hoàn toàn miền Bác thì Bác lại đ­ược đ­ưa trở lại K9. Đây cũng là lần thứ năm các chiến sỹ Đoàn 69 thực hiện việc di chuyển thi hài Bác.

Sau khi việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đ­ược hoàn thành ngày 22/8/1975, thi hài Bác đ­ược đ­ưa về gìn giữ, bảo quản để đồng bào, chiến sỹ cả n­ước và bạn bè quốc tế về thăm viếng Bác.

Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại K9-Đá Chông là di sản văn hóa vô giá. Nơi đây in dấu những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc trong những năm tháng lãnh đạo đất n­ước. Người đã tiếp đón bạn bè quốc tế thân thiết tại đây. Đây còn là nơi an toàn tuyệt đối trong việc giữ gìn, bảo vệ thi hài Bác Hồ từ năm 1969-1975.

Di tích hiện nay và đề xuất bảo tồn tôn tạo di tích:

Căn cứ theo lời kể của các nhân chứng đã được đi theo phục vụ Bác trong những lần Bác lên làm việc tại K9 như các đồng chí Cù Văn Chước-nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, Trần Văn Bắc-thợ điện, Lưu Quang Lập, Nguyễn Văn Mùi-lái xe cho Bác Hồ, Hoàng Thanh-lái xe cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đăng Thọ-Nguyên Trưởng phòng ảnh Bảo tàng Hồ Chí Minh, Thái Hữu Khang.

Di tích Bác Hồ ở K9 Đá Chông là di tích l­ưu niệm danh nhân ghi dấu sự kiện Bác Hồ đã nhiều lần đến ở và làm việc kể từ năm 1957 đến lúc Ng­ười đi xa và sau này còn là nơi lưu giữ thi hài của Người trong những năm tháng chiến tranh. Chính vì vậy, giá trị lịch sử, văn hóa của Khu di tích là hết sức to lớn. Tuy nhiên, hiện nay, Khu di tích đã bị thay đổi một số hạng mục như­ sân, vư­ờn, khu B theo như lời kể của các nhân chứng. Ví dụ như cần lưu giữ, bảo quản tốt cây vải ở trước di tích vì trước kia, khi Bác đưa các đoàn khách lên, Bác thường nhường buồng của Bác cho khách rồi nói anh em đưa ghế mây đặt dưới gốc cây vải để nghỉ trưa. Sân trước nhà trước lát bằng gạch lá dừa rất tốt và đẹp nhưng giờ thay bằng gạch Bát Tràng. Sân được nâng cao hơn trước là không hợp do nền sân thấp thì đặt ghế mây cho Bác nằm mới bằng phẳng. Các đồ đạc trong nhà đa phần vẫn được giữ nguyên vị trí như khi Bác còn như bàn ghế, tủ, đèn, cốc chén… Tuy nhiên, việc chú ý bảo quản, giữ gìn di tích như nguyên gốc là vô cùng quan trọng.

Di tích K9-Đá Chông là khu di tích có bề dày lịch sử gắn liền với tên tuổi và sự ngiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mãi mãi đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, đề nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu xây dựng hồ sơ công nhận di tích, đặc biệt cần chú ý việc khoanh vùng bảo vệ di tích đối với khu A là khu vực bất khả xâm phạm. Ngoài ra, cần thực hiện các biện pháp bảo tồn di tích theo luật văn hóa, xây dựng các phương án bảo tồn và phát huy tác dụng di tích một cách hiệu quả nhất trong điều kiện cho phép như tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống, sinh hoạt chính trị, báo công dâng Bác, trồng cây lưu niệm tại Khu di tích…

Những hoạt động này sẽ tạo ra một nét đẹp văn hóa, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc về truyền thống uống nước nhớ nguồn của Đảng và nhân dân ta đối với Bác Hồ, hưởng ứng mạnh mẽ phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đồng thời, tổ chức khôi phục lại những thay đổi của di tích theo như lời kể của các nhân chứng, giữ gìn cảnh quan môi trường để di tích luôn là một di sản văn hóa quý báu đối với dân tộc Việt Nam.

Ảnh: Nguyễn Ngọc Hà

bqllang.gov.vn

Xuất xứ của 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất yêu quý thiếu niên, nhi đồng. Không chỉ yêu quý, Bác còn rất quan tâm giáo dục các em. Bác nói thiếu nhi là người chủ tương lai của nước nhà, cho nên cần phải sớm rèn luyện đạo đức cách mạng cho thiếu nhi. Nhiều thế hệ thiếu niên, nhi đồng Việt Nam luôn ghi nhớ 5 điều Bác dạy. Vậy 5 điều Bác dạy thiếu nhi có xuất xứ như thế nào ?

Cách đây tròn 46 năm, vào năm 1961, nhân Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam (15/5/1941 – 15/5/1961), theo đề nghị của Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi một bức thư cho thiếu niên, nhi đồng. Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện còn lưu giữ bản thảo của bức thư đó. Trong thư Bác căn dặn: “Các cháu cũng tham gia đấu tranh bằng cách thực hiện mấy điều sau đây:

Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh,
Thật thà, dũng cảm”.

Nhưng trong cuốn sổ Giải thưởng Bác Hồ là loại sổ dành riêng để thưởng cho giáo viên và học sinh có thành tích xuất sắc trong học tập năm học 1964 – 1965 thì 5 điều Bác dạy trên đây lại được in hoàn chỉnh là:

“Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh thật tốt,
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

(Chữ “thật tốt” và chữ “khiêm tốn” được bổ sung vào 2 câu cuối, nên mỗi câu đều có 6 chữ).

Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết: Sở dĩ như vậy vì gần đến cuối năm 1965, để chuẩn bị phần thưởng cho giáo viên và học sinh vào cuối năm học, Bác thấy 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng từ năm 1965 trở về trước, 3 câu đầu mỗi câu có 6 chữ còn 2 câu cuối mỗi câu chỉ có 4 chữ, như vậy không cân đối. Bác đã suy nghĩ và bổ sung thêm cho mỗi câu đủ 6 chữ.

Đặc biệt, ở câu thứ 5, Bác thêm chữ “Khiêm tốn” vì từ năm 1965 trở đi, đế quốc Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh, ném bom bắn phá miền Bắc, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt” nên xuất hiện ngày càng nhiều gương “Người tốt việc tốt” ở mọi lứa tuổi. ở miền Bắc xuất hiện nhiều gương thiếu nhi dũng cảm cứu người, cứu hàng; ở miền Nam xuất hiện nhiều gương dũng sỹ diệt Mỹ. Nhưng Bác không muốn các em tự kiêu, mà muốn các em khiêm tốn, vì đức khiêm tốn sẽ giúp các em tiến bộ mãi. Bác còn đánh giá rất cao đức khiêm tốn ở các em. Bác nói: “ở nước Mỹ, người ta giết nhau chỉ vì đồng bạc giấy, thế mà ở Việt Nam ta các cháu bé đã biết sống như thế nào… Có cháu lên 6 tuổi cùng bạn đi chơi, bạn nó sảy chân ngã xuống ao, nếu chạy về gọi người lớn thì bạn chết mất, cháu liền bám vào bụi cỏ bờ ao, nhoai cái chân nhỏ xíu ra, miệng bảo bạn “bám vào đây, bám vào đây”. Cháu tuy nhỏ tuổi mà biết thương bạn như vậy. Thương bạn, thông minh và dũng cảm, cháu lại khiêm tốn nữa, cứu được mạng người mà không khoe khoang. Văn minh chiến thắng bạo tàn. Xã hội ta văn minh hơn xã hội Mỹ từ những việc làm của các cháu bé như vậy”.

Và 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng đã được phổ biến rộng khắp trong các trường học ở Việt Nam. Nghe theo lời dạy của Người, thiếu niên, nhi đồng Việt Nam hăng hái thi đua tham gia phong trào “Hai tốt”, phong trào “Thiếu nhi làm nghìn việc tốt”. Chính những đóng góp nhỏ bé của các em đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và sự nghiệp dựng xây đất nước.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, 5 điều Bác dạy thiếu niên nhi đồng vẫn là bài học thuộc lòng quý giá để mỗi em ghi nhớ, học tập, rèn luyện và noi theo.

Theo Hà Nội mới

bqllang.gov.vn

Còn mãi những kỷ niệm về Bác Hồ !

Đó là Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, nơi Bác đã sống và làm việc suốt 15 năm cuối đời (1954-1969). Trải dài từ Bắc vào Nam, có hơn 600 di tích và điểm di tích về Bác Hồ. Mỗi di tích chứa đựng những nội dung lịch sử, văn hóa khác nhau, cùng góp phần làm phong phú thêm các sự kiện và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng tìm hiểu tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh ở di tích của Người tại Phủ Chủ tịch có ưu thế hơn cả.

Đây là nơi Bác ở và làm việc liên tục lâu nhất trong cuộc đời và hơn thế lại là 15 năm ở cương vị người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, song những chuẩn mực đạo đức cách mạng vẫn được Người thực hiện một cách gương mẫu và là giai đoạn Người viết nhiều bài nhất về vấn đề đạo đức. Đây cũng là một trong số rất ít di tích về Bác còn giữ được gần như nguyên vẹn các bộ phận cấu thành di tích cũng như cảnh quan môi trường. Di tích lại ở ngay trung tâm chính trị, văn hóa, lịch sử Ba Đình, gắn với Lăng và Bảo tàng Hồ Chí Minh, rất thuận lợi trong việc phối hợp hoạt động cũng như các điều kiện phục vụ đông đảo nhân dân tới tham quan, học tập.

Những lý do nêu trên đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của Khu di tích. 37 năm qua, Khu di tích đã đón và phục vụ chu đáo gần 50 triệu lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu, học tập. Theo kết quả điều tra những năm gần đây, thì có tới 82% số người được hỏi bày tỏ nguyện vọng sẽ trở lại thăm di tích nhiều lần. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong sự giản dị. Mọi người – từ các nhà khoa học, các chính khách đến tầng lớp bình dân – đều có chung đánh giá: Người là lãnh tụ cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, soi sáng mà không gây choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu.

Những nội dung chính của đạo đức Hồ Chí Minh (trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tình yêu thương con người và tinh thần quốc tế trong sáng) đều hội tụ đủ và có thể khai thác hiệu quả thông qua việc tìm hiểu cuộc sống và những cống hiến của Người trong 15 năm sống và làm việc tại Khu di tích. Được nghe những câu chuyện chân thực, sinh động về hành vi đạo đức của Người trong sinh hoạt, cuộc sống, cách ứng xử, được tận mắt chứng kiến những đồ dùng tiện nghi của một nguyên thủ quốc gia, cũng như ý nghĩa của mỗi tài liệu, hiện vật trưng bày, đã thực sự gây xúc động đối với khách đến thăm Khu Di tích.

Hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, hơn 2 tháng qua, Khu di tích đã tổ chức phục vụ 25 đơn vị với hơn 3.500 lượt người đến học tập, sinh hoạt chính trị như báo công, phát động thi đua… Rất nhiều người đã ghi những cảm tưởng xúc động, chân thành. Đoàn cán bộ, học viên Học viện Hậu cần ghi: “Về viếng Bác và thăm nơi ở, làm việc của Người, chúng cháu càng thêm kính trọng và thương nhớ Bác…”. Đoàn sinh viên Học viện Ngân hàng ghi: “Chúng cháu xin hứa với Bác sẽ không ngừng phấn đấu nhiều hơn nữa, góp phần xây dựng đất nước. Bác ơi ! Chúng cháu yêu Bác rất nhiều”…

Thực tế ở Khu Di tích cho thấy, muốn hiệu quả, thiết thực trong tuyên truyền, vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trước hết cần phải nhận thức rõ: Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ không có nghĩa là bắt chước một cách máy móc, mà phải hiểu rõ tinh thần cốt lõi của từng bài học để mỗi người soi vào đó, giải quyết hài hòa ba mối quan hệ: với người, với mình và với công việc. Qua đó, ai cũng nhận thấy việc học tập và làm theo Người không phải là xa lạ hoặc quá sức, ngược lại mỗi người đều có thể sáng tạo, vận dụng ở mỗi công việc cụ thể hằng ngày…

Theo Hà Nội mới

bqllang.gov.vn

Tôi học Bác từ những chuyện nhỏ nhất!

“Tôi được học Bác từ những chuyện rất là nhỏ nhưng không thể nào quên được. Nhiều lắm, mênh mông lắm. Thực sự mà nói, tôi cảm nhận Bác như là một ông tiên”.

Ông Phạm Ngọc Toản ở xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, Quảng Nam là một trong số rất ít cán bộ miền Nam được cử đi học lớp đào tạo Công an nhân dân Việt Nam khóa 1 tại căn cứ Việt Bắc. Sau khi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được chọn lựa vào đội ngũ những người cận vệ trung thành bảo vệ Bác Hồ cho đến lúc Bác đi xa.

Năm nay đã hơn 82 tuổi, dù đã bị căn bệnh tai biến hành hạ hơn 10 năm trời, nhưng ông vẫn còn rất minh mẫn. Bên ly nước chè xanh trong căn phòng khách nhỏ gọn gàng, đơn sơ dưới cái nắng gay gắt giữa mùa hè của đất Quảng Nam, ông nhớ lại. “Đầu năm 1953, tôi có quyết định ra Việt Bắc học trường công an. Nghe tin thế, tôi rất vui sướng vì tin chắc rằng đến Việt Bắc nhất định sẽ được gặp Bác Hồ, lúc đó được gặp Bác Hồ là ước mơ đến cháy bỏng của biết bao người.

Trong 15 năm ở gần Bác Hồ, tôi chỉ được ở gần Bác thôi, như là người hàng xóm của Bác chứ không phải như người trong nhà. Bởi vì có một số anh em được trực tiếp, tiếp cận bảo vệ Bác, còn tôi chỉ bảo vệ vòng ngoài. Bác đi đâu, chúng tôi lo đường đi chỗ đến cho Bác. Tôi có may mắn là trong nhiều năm luôn là người trực tiếp đi chuẩn bị những nơi Bác đến thăm. Bác cũng đến những nơi mà không ai ngờ nhất. Bác luôn quan tâm đến mọi người dù những việc nhỏ nhất. Có lần Bác đến thăm một cơ quan, trong lúc lãnh đạo cơ quan đang chuẩn bị đón Bác ở trên hội trường được trang hoàng rất sạch đẹp. Nhưng khi chúng tôi đưa đến, Bác yêu cầu đưa Bác ra phía sau trước. Thế là Bác xuống bếp ăn, xuống nhà vệ sinh, xuống thăm khu tập thể… Khi thăm xong thấy mặt Bác không vui. Ngay sau đó, Bác cho gọi lãnh đạo cơ quan ấy, cho gọi Chủ tịch Công đoàn và Bí thư Đoàn thanh niên và đề nghị cho giải quyết ngay vấn đề vệ sinh và hẹn sau 5 ngày phải báo cáo cho Bác biết”.

“Trong suốt 15 năm phục vụ Bác Hồ, ông học được gì về đạo đức tư cách của Bác?” – chúng tôi hỏi. Ông Phạm Ngọc Toản trả lời: “Nhiều lắm, mênh mông lắm. Thực sự mà nói, tôi cảm nhận Bác như là một ông tiên. Tôi được học Bác từ những chuyện rất là nhỏ nhưng không thể nào quên được”. Ông kể tiếp:

“Lúc ấy chúng tôi ở tại Văn phòng T.Ư bên này, Bác ở bên Văn phòng Phủ Chủ tịch cách nhau một con đường Hoàng Diệu. Bác thường thức dậy rất sớm (khoảng 5 giờ hoặc 5 giờ 30 phút). Nhiều lần nhìn sang bên chúng tôi, thấy còn để đèn sáng là Bác gọi điện qua nhắc nhở. Bác nói: “Đã sáng tỏ mặt người rồi sao các chú còn để điện? Phải tiết kiệm chứ”.

Tôi đã học được từ Bác chữ kiệm rất nhiều. Ngày ấy, có khoảng thời gian cả nước gặp khó khăn, bì thư mà Bác sử dụng luôn được làm từ giấy báo. Bác nhờ chúng tôi lấy giấy báo đã đọc rồi cắt làm bì thư, chứ Bác không chịu sử dụng phong bì bằng giấy trắng. Những mảnh giấy trắng nếu còn dùng được dù chỉ bé bằng bàn tay, Bác cũng cất lại để dán lên phong bì giấy báo để ghi địa chỉ người nhận, người gửi”.

Ông Toản dừng lại một hồi… Bất chợt, ông lại kể tiếp: “Vào những lúc chúng tôi được ăn cơm cùng Bác, Bác thường bảo cái gì mà mình đã ăn thì phải ăn hết, còn cái gì mà mình không thích thì đừng đụng đũa để dành cho người khác ăn. Đừng có ăn lở dở mỗi đĩa một miếng không hay lắm. Ăn xong rồi Bác bảo phải thu dọn cho ngăn nắp, đĩa ra đĩa, chén ra chén, đũa ra đũa để khi người phục vụ đến người ta bưng cho đỡ bớt thì giờ của người ta. Đó là những chuyện rất nhỏ, còn những chuyện lớn thì ai cũng biết rồi, tôi không cần nói làm chi”.

Sau ngày Bác mất, ông Phạm Ngọc Toản được bổ nhiệm chức vụ Phó hiệu trưởng trường An ninh E1171, là cơ sở đào tạo cán bộ an ninh cho toàn bộ chiến trường miền Nam và sau đó là lãnh đạo trường Công an 5 ở huyện Núi Thành, Quảng Nam và ông về hưu cách đây gần 30 năm với quân hàm thượng tá. Học tập chữ Kiệm của Bác, ông hiện sống rất giản dị, thanh thản với căn nhà nhỏ quây quần bên gia đình và con cháu.

Theo Tấn Tú – Thanh Niên

bqllang.gov.vn

Những bức thư tháng bảy ân tình

(HNM) – Cách đây vừa tròn 60 năm, tại An toàn khu – huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Nhà nước và Chính phủ non trẻ của chúng ta đã chọn ngày 27 – 7 hằng năm là ngày của các thương binh và gia đình liệt sĩ.

Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không bao giờ quên ngày 27 – 7. Những dịp này, Người thường cố gắng bố trí thời gian để tới thăm hoặc viết thư động viên các thương binh và gia đình liệt sĩ.

Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện lưu giữ được khá nhiều những bức thư tháng bảy đầy ân tình của Người. Trong thư, Người ân cần thăm hỏi anh em thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Khi thì thông qua cụ Vũ Đình Tụng – Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh thời kỳ đó, còn hầu hết, Người gửi thư trực tiếp thăm hỏi anh em. Thư thường do tự tay Người đánh máy, theo kiểu chữ riêng của mình mà thoạt nhìn chúng ta đều nhận biết dễ dàng. Thư có bức dài, bức ngắn, luôn chứa đựng tình cảm lớn lao, sâu nặng của Người đối với những chiến sĩ đã hy sinh, những gia đình có công đóng góp vào sự nghiệp chung của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các cấp, các ngành và đồng bào, đồng chí “uống nước nhớ nguồn”, hết lòng chăm lo cho thương binh, gia đình liệt sĩ. Người viết: “Bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ. Nhiều nơi, đồng bào đã hiểu đúng và làm đúng như vậy, nhưng cũng còn có một số ít địa phương chưa hiểu đúng, làm đúng. Tôi tin rằng đồng bào, đoàn thể và các cán bộ ở những địa phương đó sửa chữa những thiếu sót ấy và quan tâm giúp đỡ những người đã hi sinh xương máu cho nước nhà” (Thư ngày 17-7-1956).

Trong hầu hết các bức thư, bên cạnh việc khẳng định công lao to lớn của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Người thường xuyên nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng, của Chính phủ và nhân dân đối với họ: “Tôi cũng nhắc nhở các cơ quan đoàn thể phải chấp hành một cách chu đáo các chính sách của Đảng và Chính phủ đối với anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ” (Thư ngày 17-7-1952).

Trách nhiệm ấy, theo quan điểm của Người là sự trân trọng, biết ơn chứ không phải là sự gia ơn. Người cho rằng, muốn làm tốt điều này, phải luôn chú ý đến hai mặt của vấn đề: Toàn Đảng, toàn dân trân trọng, biết ơn, tri ân, nghĩa tình với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Đồng thời, anh em thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ phát huy truyền thống, giữ vững phẩm chất, vượt lên khó khăn để luôn xứng đáng với sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và nhân dân. Người nhắc nhở: “Đã là quân nhân cách mạng thì bao giờ cũng phải là chiến sĩ anh dũng. Khi ở trại (trung tâm điều dưỡng thương binh nặng – LMĐ) thì nên thi đua học tập, công tác. Lúc ra trại thì nên hăng hái tham gia công tác, sản xuất ở địa phương, ở cơ quan” (Thư ngày 17-7-1956).

Lời lẽ trong nhiều bức thư gần gũi, chân tình như anh em trong một gia đình. Và hơn thế, Người luôn thể hiện thái độ tôn trọng và khích lệ họ: “Chớ bi quan chán nản, phải luôn cố gắng. Trước kia anh em đã xung phong diệt giặc thì nay anh em sẽ tùy điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất. ở nước ta, chú Tấn, chú Cầu cụt một tay mà vẫn công tác rất hăng” (Thư ngày 27-7-1952).

Trong nhiều bức thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chia những món quà nhỏ của mình, gửi các thương binh, gia đình liệt sĩ, thể hiện sự gắn bó nghĩa tình “đói cùng chịu, no cùng hưởng”: “Tôi xin gửi một tháng lương nhờ cụ (tức cụ Vũ Đình Tụng – LMĐ) chuyển làm quà cho anh em với lời thân ái hỏi thăm của tôi” hoặc: “Tôi xin gửi 50 chiếc khăn tay của đồng bào Thái biếu tôi. Nhờ cụ chuyển tới anh em giúp tôi” (Thư ngày 17-7-1952).

60 mươi năm đã trôi qua, mỗi một tháng bảy đến, được đọc lại những bức thư tháng bảy của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, chúng ta càng kính yêu Người vô hạn, càng biết ơn những anh hùng, liệt sĩ và thân nhân của họ đã hy sinh xương máu cho độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân, cho đất nước Việt Nam yêu quý đơm hoa, kết trái, vững bước trên đường đổi mới, hội nhập như ngày nay.

Lê Minh Độ
(Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)

bqllang.gov.vn

Tấm lòng của Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh - Ảnh gdtd.vnQĐND Online – Vào năm 1947, ngay buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng và chọn ngày 27-7 hằng năm là ngày “Thương binh toàn quốc”. Ý nghĩa của ngày này được Hồ Chủ Tịch nêu rõ trong Thư gửi Ban thường trực tổ chức ngày “Thương binh toàn quốc” đầu tiên: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc và đồng bào mà các đồng chí đó chịu ốm yếu… Vì vậy Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy. Ngày 27-7 là dịp để đồng bào tỏ rõ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”.

Bao năm qua, lời căn dặn của Bác Hồ đã được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ghi nhớ và thực hiện. Ý nghĩa của ngày 27-7 cũng đã được nâng cao thành ngày “Thương binh – liệt sĩ” – ngày thu hút sự quan tâm của hàng triệu tấm lòng, ngày thể hiện tình cảm tốt đẹp của hàng triệu con tim. Đặc biệt là tình cảm trân trọng, biết ơn các liệt sĩ, mà Bác Hồ là người khởi nguồn và bồi đắp bằng những lời dạy thật sâu sắc: “Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả những khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”.

Ngay buổi đầu chống Pháp, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 20/SL, đặt “Chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”, mở đầu cho sự phát triển của một hệ thống chính sách thương binh – liệt sĩ. Trong kháng chiến chống Mỹ, sau khi chế độ bảo hiểm xã hội ra đời, ngày 30 tháng 10 năm 1969, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 161/CP về “Điều lệ ưu đãi quân nhân, quân dân dự bị, dân quân tự vệ bị thương, bị chết”. Sau này đối tượng được xác nhận là thương binh, liệt sĩ được mở rộng thêm và bao gồm cả thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, lực lượng vận tải, cán bộ chủ chốt xã, y tế xã.

Kỷ niệm ngày thương binh 27-7-1948, Người lại gửi bức thư đầy tâm huyết tới đồng bào. Không chỉ những lời động viên, chia sẻ qua thư, mà Người đã gương mẫu thực hiện lời kêu gọi đó thông qua những việc làm thiết thực: gửi quà tặng thương binh, gia đình liệt sỹ vào dịp kỷ niệm 27-7 hằng năm, đến thăm các trại điều dưỡng thương binh. Câu nói bất hủ của Người: “Thương binh tàn nhưng không phế” có sức động viên mạnh mẽ hàng vạn thương binh cố gắng phấn đấu vươn lên trong cuộc sống với niềm tin mãnh liệt.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 3) giáp tết Bính Ngọ (1966), trong bài nói của Bác, Người yêu cầu các địa phương, đoàn thể phải coi trọng giúp đỡ gia đình thương binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có con là chiến sỹ đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam, Lào, Cam-pu-chia.

Trải qua các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, đất nước ta đã thật sự “nở hoa độc lập, kết trái tự do”. Song sự hy sinh, mất mát cũng thật lớn lao. Không gì có thể bù đắp được những hy sinh vô giá đó. Duy chỉ có lòng biết ơn thật sự mới có thể làm vơi đi những nỗi đau. Lòng biết ơn thương binh – liệt sĩ đã làm sáng lên truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, khẳng định bản chất xã hội ta là một xã hội dân chủ, công bằng.

Khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, cùng với việc đưa ra các giải pháp tình thế khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, tháo gỡ khó khăn, ổn định đời sống thương binh – gia đình liệt sĩ, xử lý những bất hợp lý do lịch sử để lại, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và Pháp lệnh Phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Việc ra đời 2 Pháp lệnh này đã đánh dấu một bước tiến trong quá trình “luật hoá” hệ thống chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, được nhân dân cả nước đồng tình và tích cực thực hiện.

Những năm qua, phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng không ngừng phát triển và đi vào chiều sâu. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã ủng hộ gần 5.000 tỷ đồng, xây mới 243.412 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa 104.125 căn nhà, với tổng số tiền là 2.389 tỷ đồng, giúp đỡ trên 300.000 gia đình chính sách có nhà ở ổn định, tặng trên 604.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa, 15.000 vườn cây tình nghĩa. Sau 10 năm phát động phong trào, cả nước đã có 9.636 xã, phường được công nhận làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ và người có công, 22 tỉnh, thành phố có 100% xã, phường hoàn thành tốt công tác này.

Hiện nay, cả nước có 85% gia đình chính sách có mức sống bằng và cao hơn mức sống trung bình của người dân địa phương nơi cư trú. Phong trào toàn dân “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành nét đẹp trong đời sống của toàn dân, có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Công tác đền ơn đáp nghĩa với hàng triệu đối tượng chính sách là công việc thường nhật của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong cả nước, đã và đang làm vơi đi nỗi đau, sự mất mát do kẻ thù gây nên, góp phần giúp các đối tượng ngày càng ổn định cuộc sống, giúp họ yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần, động viên họ đóng góp vào sự phát triển của dân tộc, phấn đấu trở thành “Người thương binh gương mẫu, gia đình liệt sỹ kiểu mẫu”, đại bộ phận thương binh “tàn nhưng không phế” đúng như lời dạy của Bác Hồ kính yêu.

Mặc dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng lịch sử chói sáng của dân tộc vẫn khắc đậm chiến công của các vị anh hùng, thương binh, liệt sĩ. Trong mỗi trái tim Việt Nam vẫn sẽ mãi khắc ghi sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn đối với các Anh hùng – Liệt sĩ – chiến sĩ đã sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Mong rằng sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn ấy mãi là ngọn lửa ấm tiếp thêm nguồn năng lượng mới để mỗi thương binh, thân nhân liệt sĩ có thêm nghị lực, niềm tin trong cuộc sống.

Thái Sơn (tổng hợp)

bqllang.gov.vn

Bà tôi và hũ gạo Cụ Hồ

Bà tôi dịu dàng an ủi: “Đáng lẽ ra bà nấu thêm một ít, nhưng đã hai hôm nay hũ gạo cụ Hồ chẳng có vốc nào, hôm nay bà phải bù lại”… Đã bao năm qua, hình ảnh bà ngoại tôi với hũ gạo kháng chiến vẫn in sâu trong tâm trí tôi…

Cách mạng tháng Tám vừa thành công, âm hưởng của nạn đói kinh hoàng chưa đi qua. Mồ côi mẹ, tôi ở với bà ngoại. Cuộc sống hai bà cháu dựa vào mấy sào vườn cây ăn quả, một đám đất khô mỗi năm hai mùa trồng sắn.

Giặc Pháp trở lại gây hấn ở Nam Bộ, thanh niên nô nức tòng quân. Lúc đó, cả nước còn thiếu ăn, lương thực hoàn toàn trông vào nền kinh tế nông nghiệp èo uột. Bác Hồ phát động phong trào “Hũ gạo kháng chiến” để nuôi quân.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, bà ngoại tôi lấy ra một cái hũ to bằng quả dừa để vào bếp. bà gọi đó là hũ gạo cụ Hồ. Đều đặn, trước khi mang gạo đi vo, bà tôi đưa tay vào rá vốc một vốc bỏ vào hũ. Đến cuối tuần, một cán bộ phụ nữ xã đến thu, bà tôi trân trọng bê hũ đóng góp ủng hộ kháng chiến.

Năm ấy quê tôi đói kém. Gạo không còn một hạt, đã hai ngày bà cháu tôi phải ăn sắn trừ cơm. Dì tôi xót ruột, từ chợ Thông gửi về cho bà cháu năm lon gạo. Tôi mừng rỡ chắc mẩm tối nay được bữa cơm no. Đến bữa, tôi xịu mặt vì thất vọng, nhìn vào nồi cơm vơi mà khóc ròng, giận bà ra mặt.

Bà tôi dịu dàng an ủi: “Đáng lẽ ra bà phải nấu thêm một ít, nhưng cháu biết không, đã hai hôm nay hũ gạo cụ Hồ chẳng có vốc nào. Hôm nay bà phải bù lại, cháu chịu khó ăn ít cơm một tí, gắng ăn sắn thêm vào, ngày mai chị V. đến thu lấy cái chi mà ủng hộ”.

Tôi nghe…. mà trong bụng còn ấm ức, nhưng thầm cảm phục bà. Hơn nữa, tôi là một đoàn viên thanh niên cứu quốc, chính tôi là người đã tích cực vận động bà hưởng ứng phong trào hũ gạo kia mà.

Giặc Pháp ngày càng hung hăng, trắng trợn phá hoại hiệp định đình chiến, thanh niên lớp lớp lên đường, theo nhịp bước các khúc quân hành “Xếp bút nghiên”, “Lên đàng” hừng hực khí thế giết giặc cứu nước.

Tôi không sao quên được buổi chiều hôm đó, chân bước liêu xiêu, bà ngoại tiễn chân tôi đến bến đò Làng Hạ. Năm ấy, ngoại tôi đã bảy mươi lăm tuổi. Tôi đi kháng chiến, bà ở lại còm cõi một mình. Bà nắm tay tôi nói trong nghẹn ngào: “Con đi đi, gắng theo cụ Hồ, đi cho đến nơi đến chốn”. Tôi không nói nên lời, bước đi không dám quay đầu lại.

Đã bao năm qua, hình ảnh bà ngoại tôi với hũ gạo kháng chiến cùng những lời dặn dò của bà vẫn in sâu trong tâm trí tôi. Nó là một hành trang giúp tôi vững bước vào đời. Trong suốt cả cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc, lời của bà luôn văng vẳng bên tai. Mỗi khi gặp khó khăn, suýt vấp ngã, lời bà như động viên, thúc giục tôi bền chí vững lòng, bước tiếp trên con đường cách mạng đầy chông gai và gian khổ.

Bà ơi! cho đến bây giờ lời của bà cháu vẫn luôn ghi nhớ…

Lê Đức Minh

bqllang.gov.vn

Như người cha hiền..

Tôi nhớ mãi mùa hè năm ấy, cách đây vừa tròn 50 năm, vào một ngày tháng 6 – 1957, Bác Hồ về thăm sư đoàn 325 chúng tôi, lúc ấy đang đóng quân ở Đồng Hới, Quảng Bình. Bốn giờ chiều, tin Bác đến, lòng chúng tôi rạo rực nôn nao một niềm vui khôn tả…

Chiếc xe con màu trắng đưa Bác đến. Hàng ngũ bộ đội nhốn nháo, ai cũng muốn nhoài người ra để được gần Bác hơn, được nhìn Bác rõ hơn. Đến gần bộ đội, Bác xuống xe, giơ mũ vẫy chào. Bác mặc bộ kaki màu sáng quen thuộc, chân đi đôi dép lốp. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” muốn vỡ tung lồng ngực. Bác đáp lại: “Các cháu về đi, tối nay Bác cháu ta họp mặt”.

Chúng tôi giải tán về doanh trại, bồn chồn đứng ngồi không yên, chỉ chờ tiếng còi tập hợp để ra sân gặp Bác. Từ trong nhà, Bác ung dung đi ra, với bộ đồ nâu giản dị, một tay xách chiếc chiếu đơn gấp lại ở giữa, một tay cầm chiếc quạt giấy, thong thả trải chiếc chiếu lên thềm rồi ngồi xuống.

Tất cả chúng tôi, ai ai cũng muốn ngâm một bài thơ, hát một bài để nói lên niềm kính yêu vô hạn đối với Bác.
Cứ sau một tiết mục, Bác lại lấy ra từ một bọc vải một hoặc hai cái kẹo; ai ngâm thơ hay hát thì Bác cho hai cái, ai đọc thơ thì Bác cho một cái… Cứ như thế, Bác cháu quây quần suốt hai tiếng đồng hồ, giữa lãnh tụ và chiến sĩ không còn khoảng cách mà như hòa làm một, khác nào cha với con trong niềm thương yêu dạt dào tình cảm.

Thời gian trôi đi nhanh quá. Bác đứng dậy nhìn đoàn quân, giọng ôn tồn như lời cha hiền dặn con: “Các cháu ngâm thơ và hát rất hay, Bác còn muốn nghe mãi…. Nhưng trời đã khuya, mai các cháu còn phải học tập và công tác, Bác cũng phải làm việc. Trước khi ra về Bác đề nghị một việc: để kỷ niệm ngày Bác cháu mình gặp mặt, mỗi người hứa trồng cho Bác hai cây phi lao. Các cháu có làm được không?”.

“Được ạ! Được ạ! Hồ Chủ tịch muôn năm !”.

Theo lời Bác, kể từ ngày ấy khắp sư đoàn rộ lên một phong trào trồng cây phi lao phủ xanh bờ biển. Mỗi chúng tôi không chỉ trồng hai cây mà thi đua trồng thật nhiều, có chiến sĩ trồng hàng ngàn cây dọc suốt bờ biển Quảng Bình.
Mười tám năm sau…

Năm 1975, ngày thống nhất đất nước, trên đường về Nam, ngang qua Quảng Bình, tôi chú ý quan sát vùng đất mà bộ đội, trong đó có tôi, trồng phi lao ngày trước. Ôi! Không ngờ ngay trên tuyến lửa này, mặc cho bom cày đạn xới, suốt mười mấy năm chống Mỹ, những cây phi lao bé bỏng ngày xưa đã thành rừng dày đặc, xanh um, chạy dài tít tắp.

Ôi! Bác của chúng ta vĩ đại mà gần gũi biết bao! Màu xanh Bác để lại vẫn muôn đời còn đó.

Lê Đức Minh (Cựu chiến binh, Tân Phú, TP.HCM)

bqllang.gov.vn

Thời gian là quý lắm

Chuyện kể rằng, năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khoá V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ là 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người vẫn chưa đến. Tôi khuyên anh em phải làm việc cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm”.

Cũng về giờ giấc, trong kháng chiến chống Pháp, một đồng chí sĩ quan cấp tướng đến làm việc với Bác chậm 15 phút, tất nhiên là có lý do: Mưa to, suối lũ, ngựa không qua được.

Bác bảo: “Chú làm tướng mà chậm đi mất 15 phút thì bộ đội của chú sẽ hiệp đồng sai bao nhiêu? Hôm nay chú đã chủ quan không chuẩn bị đủ phương án, nên chú không giành được chủ động”.

Một lần khác, Bác và đồng bào phải đợi một đồng chí cán bộ đến để bắt đầu cuộc họp. Bác hỏi: “Chú đến muộn mấy phút? Thưa Bác, chậm mất 10 phút ạ! Chú tính thế không đúng, 10 phút của chú phải nhân với 500 người đợi ở đây”.

Năm 1953, Bác quyết định đến thăm lớp chỉnh huấn của anh em trí thức, lúc đó đang bước vào cuộc đấu tranh tư tưởng gay go. Sắp đến giờ lên đường bỗng trời đổ mưa xối xả. Các đồng chí làm việc bên cạnh Bác đề nghị cho hoãn đến một buổi khác. Có đồng chí còn đề nghị tập trung lớp học ở một địa điểm gần nơi ở của Bác… Nhưng bác không đồng ý: “Đã hẹn thì phải đến, đến cho đúng giờ, đợi trời tạnh thì đến bao giờ? Thà chỉ mình bác và vài chú nữa chịu ướt còn hơn để cả lớp phải chờ uổng công!”. Thế là Bác lên đường đến thăm lớp chỉnh huấn đúng lịch trình trong tiếng reo hò sung sướng của các học viên…

Bác Hồ của chúng ta quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời Bác không để bất cứ ai đợi mình. Sự quý trọng thời gian của Bác thực sự là tấm gương sáng để chúng ta học tập. Thế nhưng, hiện nay ở không ít các cơ quan, đơn vị, tình trạng lãng phí thời gian vẫn liên tục xảy ra. Tại một số Bộ, ngành, địa phương lại xảy ra tình trạng: Trong giờ hành chính lãnh đạo đơn vị thả cho nhân viên muốn làm gì thì làm. Thế nhưng hết giờ hành chính lại triệu tập mọi người đến họp, hoặc làm thêm việc (làm ngoài giờ). Đương nhiên việc họp và làm ngoài giờ sẽ được “phù phép” đủ điều kiện để được hưởng tiền làm việc thêm giờ. Chính sự buông lỏng việc quản lý giờ giấc và lề lối làm việc thiếu nghiêm túc của một số lãnh đạo nên đã có không ít nhân viên trong giờ làm việc đã “tranh thủ” lên sàn xem giá cổ phiếu hôm nay lên, xuống ra sao; một số khác thì rạo phố mua sắm hay vào chợ mua đồ ăn cho gia đình… Thực tế tại một số cơ quan, đơn vị cho thấy tình trạng lãng phí thời gian của đội ngũ cán bộ, công chức diễn ra khá phổ biến và ngày càng tinh vi. Có những người vừa đến cơ quan là ngồi ngay ngắn vào bàn, nhưng không phải để làm việc mà vào mạng “chít chát” với bạn bè. Cũng có người hễ bước chân đến cơ quan là kêu nhiều việc, thiếu thời gian để hoàn thành, nhưng lại có thời gian để “buôn điện thoại” tán gẫu với bạn bè hàng giờ liền…

Vẫn biết thời gian là vàng, ngọc, có những cái mất đi chúng ta vẫn tìm thấy, song nếu để thời gian trôi đi một cách vô ích thì chúng ta sẽ không bao giờ tìm lại được. Chính vì vậy, học tập tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta cần xem lại mình, hãy biết quý trọng thời gian, biết tận dụng thời gian để làm việc có ích cho xã hội, cho gia đình và bản thân.

Nguyễn Minh (Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội)

bqllang.gov.vn