Tag Archive | Dân tộc

Ngày 26-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 26-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh và Chủ tịch Quân ủy hội Võ Nguyên Giáp dự lễ khai giảng Trường võ Trần Quốc Tuấn tại Sơn Tây.

Trong lời chào mừng, Chủ tịch nước căn dặn lớp sĩ quan của quân đội Việt Nam được đào tạo chính quy đầu tiên: “Anh em có nhiều giai cấp, tư tưởng khác nhau, trước hết phải đoàn kết, đoàn kết thật thà. Phải có kỷ luật cả về tinh thần lẫn vật chất. Phải noi gương anh dũng của anh em binh sĩ hồi khởi nghĩa để làm gương cho các lớp về sau. Mong rằng anh em ở đây, bao giờ cũng phải làm theo hai khẩu hiệu mà nó là cái mục đích của anh em: Trung với nước, hiếu với dân”.

Sau khi trao lá cờ thêu 2 khẩu hiệu trên cho Hiệu trưởng Hoàng Đạo Thúy, Bác căn dặn: “Trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, là mục đích của anh em, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Sau khi thăm hỏi các tầng lớp nhân dân Sơn Tây, Bác về dự khai mạc Đại hội Thanh niên Hà Nội.

Tháng 5-1948, đáp lại tấm lòng của các phụ lão xã Vĩnh Đồng, châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã tặng mật ong, Bác viết thư cảm ơn: “Lòng thân ái của các cụ đối với tôi, khiến tôi rất cảm động. Tôi mong rằng các cụ sẽ cố gắng đốc thúc con cháu hăng hái tham gia cuộc thi đua ái quốc, làm cho mọi người đủ ăn, đủ mặc và sẵn sàng giúp đỡ bộ đội và dân quân. Như thế là các cụ cũng trực tiếp tham gia kháng chiến”.

Tháng 5-1950, Bác đến thăm “Lớp đào tạo cán bộ mật mã Lê Lai” tại cánh rừng Bản Cọ (Định Hóa, Thái Nguyên” với lời căn dặn: “Mật mã là công tác cơ mật, quan trọng, vẻ vang… Mật mã phải bí mật, nhanh chóng, chính xác. Các chú làm mật mã phải bí mật và đoàn kết”.

Ngày 26-5-1953, trên Báo Nhân Dân, trong bài viết “18 lần rồi” (ký tên C.B), Bác phân tích sự kiện nội các của nước Pháp thay đổi 18 lần kể từ sau Thế chiến II cũng như sự kiện Chính phủ mới đổ ngày 22-5-1953. Bài báo cho thấy cuộc chiến tranh mà nước Pháp đang tiến hành ở Đông Dương ngày càng trở thành nguyên nhân gây bất ổn trên chính trường Pháp và ngày càng bị lệ thuộc vào Mỹ. Bài báo kết luận: “Chỉ điều đó cũng đủ rõ: thế địch yếu, thế ta mạnh”.

Ngày 26-5-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh (với bút danh T.L) đăng bài “Một cuộc hội nghị rất quan trọng” trên Báo Nhân Dân, bình luận kết quả của Hội nghị các vị đứng đầu các quốc gia độc lập ở châu Phi tổ chức tại Adi Abeba, thủ đô Ethiopi. Bài báo cho rằng, đó là “cuộc biến đổi long trời lở đất” và “Hội nghị này đã làm nổi bật thất bại nhục nhã và bước đường cuối cùng của chủ nghĩa thực dân. Nó làm nổi bật thắng lợi to lớn của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”. Nhân dân Việt Nam “coi thành công của nhân dân châu Phi anh em cũng như thành công của mình”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ cuối

Hành trình của người phụ nữ Mỹ

TT – Người phụ nữ Mỹ này tận tụy gõ từng cánh cửa các sứ quán, bảo tàng, trung tâm lưu trữ của nhiều quốc gia trên thế giới để tìm kiếm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lady Borton không nhớ rõ bao nhiêu cánh cửa đã mở rộng và bao nhiêu cánh cửa khép chặt khi bà tìm đến. Với Lady Borton, Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là duyên nợ, là tình yêu lớn của cuộc đời bà.

Bìa cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh của Lady Borton – Ảnh: Hà Hương

>> Kỳ 1: Cảm xúc từ ngõ Compoint
>> Kỳ 2: 1.000 ngày trên đất Thái

Tìm Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong

Lady Borton sinh năm 1942 tại Washington DC (Mỹ). Bà đến Việt Nam trước năm 1975 và tham gia các hoạt động nhân đạo của Tổ chức Quaker (trung tâm tái định cư) tại Quảng Ngãi. Lady Borton nói được tiếng Việt, bà sống và làm việc tại Việt Nam từ năm 1978 với tư cách nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà hoạt động từ thiện. Những cuốn sách Lady Borton đã viết: Phía sau nỗi buồn (kể về số phận những phụ nữ Việt Nam trong và sau hai cuộc kháng chiến), Hồ Chí Minh – một chân dung (viết chung với C.David Thomas), Hồ Chí Minh – một hành trình…

“Các bạn luôn tin tưởng một cách tuyệt đối vào thông tin về cuộc đời Hồ Chí Minh. Nhưng một số học giả phương Tây nghi ngờ điều đó, đặc biệt họ đặt nhiều câu hỏi về quãng thời gian Hồ Chí Minh ở nước ngoài. Tôi lần theo hành trình của Hồ Chí Minh và tôi muốn chứng minh những lời kể của Hồ Chí Minh bằng tư liệu và dẫn chứng lịch sử” – Lady Borton mở đầu chuyện kể về những hành trình “theo chân” Hồ Chí Minh của mình như vậy.

Cuộc tìm kiếm thầm lặng của Lady Borton kéo dài ròng rã hàng năm trời. Bà bắt đầu tìm kiếm tư liệu về vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong từ kho lưu trữ tòa án, bộ ngoại giao của Anh, Pháp và tất nhiên là ở Hong Kong. Bà nói: “điều tôi luôn băn khoăn là người Pháp, người Anh lúc đó họ nghĩ gì và đánh giá ra sao về Nguyễn Ái Quốc. Những tư liệu về phiên tòa này ở hai bên hẳn ẩn chứa nhiều bất ngờ”.

“Điều thú vị là ngay trang đầu của tập hồ sơ dài 250 trang, người Anh đánh dấu hỏi rất lớn: Nguyễn Ái Quốc là ai? Người Pháp nói với họ rằng Nguyễn Ái Quốc là cộng sản nhưng theo luật Anh, cộng sản cũng có quyền. Họ chỉ quan tâm một điều duy nhất là người thanh niên này chống lại thống đốc Hong Kong. Và chắc họ cũng muốn biết tại sao người Pháp lại sốt sắng bắt người này đến vậy” – Lady Borton kể.

Đàm Thư, một người bạn Việt Nam, đã giúp Lady tìm kiếm tư liệu ở Pháp. Lady hài hước kể: “Chúng tôi gặp một tình huống ngang trái, tôi biết cách tìm nhưng không biết tiếng Pháp, lại là người Mỹ nên không được lên kho lưu trữ. Còn Đàm Thư biết tiếng Pháp, được phép vào nhưng không biết cách tìm”. Cuối cùng khi tìm thấy thì Lady gặp rắc rối lớn là những tài liệu đó chưa đến hạn giải mã. Số tài liệu này sau đó được photocopy và chuyển về Việt Nam thông qua con đường ngoại giao.

“Những tư liệu cho thấy Anh – Pháp tranh cãi với nhau khá gay gắt về Nguyễn Ái Quốc” – Lady Borton khẳng định.

Bà Lady Borton – Ảnh: Hà Hương

Tình yêu của Lady

“Năm 1954 tôi 12 tuổi, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc. Trên tờ báo của trẻ con ở Mỹ có đăng một hình minh họa và kèm theo những lời hù dọa: cộng sản sẽ ăn cắp thế giới. Lúc đó tôi sợ Việt Nam, sợ cả Hồ Chí Minh” – Lady Borton bật cười nhớ lại lần đầu nghe những cái tên đầy duyên nợ với bà.

Nỗi sợ hãi vì những lời hù dọa trẻ con đó nhanh chóng biến mất, thay vào đó là một tình yêu lớn đối với Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lady Borton kể chuyện với ánh mắt lấp lánh: năm 1965 người Mỹ nói nhiều đến Việt Nam và Hồ Chí Minh, trên phố mọi người biểu tình phản đối chiến tranh. Vào thập niên 1960, Lady nhớ tên Việt Nam – Hồ Chí Minh còn nhiều hơn cả tên của những ngôi sao ca nhạc cùng thời.

“Tôi gặp Đàm Thư – một phụ nữ Hà Nội đã sống qua những năm tháng chiến tranh và gian khó. Đàm Thư kể cho tôi về ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Đó là Việt Nam qua con mắt của một cô bé 10 tuổi. Đàm Thư kể rằng mọi người đều muốn đổ ra đường, nhưng gia đình nào cũng có một người ở nhà để thắp hương cho những người đi xa báo rằng nước mình đã độc lập. Đàm Thư cũng kể về Tết Trung thu 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với trẻ em. Người nói rằng: các cháu là dân của một nước độc lập. Có lẽ chính những câu chuyện nhỏ của Đàm Thư đã tiếp thêm tình yêu của tôi với Việt Nam và Hồ Chí Minh. Và tôi bắt đầu nghiên cứu sâu về Hồ Chí Minh từ đó” – Lady kể về mối duyên của mình như vậy.

Mùa hè này Lady Borton sẽ về Mỹ để tiếp tục cuộc tìm kiếm mới của mình, đó là những tư liệu về thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Mỹ năm 1913. Bà chia sẻ: “Tôi nghĩ bản thân Hồ Chí Minh biết cách mạng Mỹ hoàn toàn không phù hợp với Việt Nam. Tại sao nước Mỹ lại giữ chân Hồ Chí Minh lâu đến vậy? Có thể ở Boston, Người đã tiếp xúc với phong trào đấu tranh của người da đen và đọc bản yêu sách do William Monroe Trotter (một người Mỹ da đen đã tốt nghiệp Đại học Harvard) viết, kèm chữ ký của 200.000 người gửi tổng thống Thomas Woodrow Wilson.

Hơn nữa, tôi nhớ một nhà báo nước ngoài từng nói những tháng năm ở Mỹ sẽ ảnh hưởng rất lớn cách nhìn và các quyết sách của Hồ Chí Minh khi Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Cho nên việc Hồ Chí Minh đã đi đâu, tiếp xúc với ai trong năm 1913 sẽ là những thông tin quan trọng để giải mã thêm giai đoạn đầu ra đi tìm đường cứu nước của Người”.

Cuộc “theo chân” chàng trai Nguyễn Ái Quốc có đôi mắt sáng ở Mỹ của Lady Borton đã bắt đầu từ vài năm nay. Với bà, khi cánh cửa này đóng lại cũng có nghĩa là cánh cửa khác mở ra, và hành trình tìm kiếm những “miếng ghép” của cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ dừng lại.

HÀ HƯƠNG

tuoitre.vn

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ 2

1.000 ngày trên đất Thái

TT – Một ngày tháng 9-1969, người thanh niên Ngô Vĩnh Bao lặng lẽ cất vào ngăn tủ một chiếc băng tang. Chiếc băng tang được ông giữ lại sau lễ viếng Bác Hồ. Rồi ngăn tủ có thêm một viên gạch xây lăng ông tìm thấy ở quảng trường Ba Đình năm 1976.

Gần 40 chuyến đi trong suốt 1.000 ngày ở Thái Lan, ông Ngô Vĩnh Bao kiên trì lần theo từng chút thông tin, đầu mối cho biết về những địa điểm Bác Hồ từng đi qua từ năm 1929-1931. Cứ hết giờ làm việc ở Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Khonkaen (Thái Lan), ông Bao lại vùi đầu nghiên cứu hàng chục cuốn hồi ký của những Việt kiều từng hoạt động với Bác Hồ tại Thái Lan, các bài viết hay câu chuyện kể của Người.

Năm 1911

Tháng 6, sau ngày 5: Sau khi nhận việc ở tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, Nguyễn Tất Thành viết thư về cho thầy giáo Hải, dạy tiếng Pháp ở Trường Dục Thanh báo tin mình đã đi ra nước ngoài.

– Hồi ức của các ông: Nguyễn Quý Phầu, Nguyễn Ðăng Lầu, Từ Trường Phùng, học sinh Trường Dục Thanh năm học 1910-1911. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Tư liệu của cuộc Hội thảo khoa học Bác Hồ với Thuận Hải, Thuận Hải với Bác Hồ, tháng 5-1986. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh. (…)

Tháng 10, trước ngày 31: Nguyễn Tất Thành vẫn làm việc trên tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, theo hành trình con tàu trở về Sài Gòn.

– Hồi ký của Từ Trường Phùng.

– Sổ lĩnh lương tàu Amiran Latusơ Tơrêvin (bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh, ghi rõ nhận lương tại Sài Gòn, ngày 16-10-1911, chữ ký Văn Ba).

Tháng 10, ngày 31: Từ Sài Gòn Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ chuyển số tiền 15 đồng cho cha là Nguyễn Sinh Huy. Số tiền trên đã được ông Nguyễn Sinh Huy ký nhận ngày 9-11-1911.

– Hồ sơ của Chánh mật thám Trung kỳ lập tại Huế, ngày 12-1-1923. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– D.Hémery: Jeunesse d’un colonisé, genese d’un exil…, Approche – Asie No11 – 1992, p.132.

(Sách Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử tập 1
(1890-1929) NXB Chính Trị Quốc Gia năm 2006,
trích trang 41, 42 và 45).

Lật cuốn tư liệu mô tả hành trình của ông Thầu Chín (tên của Bác Hồ thời ở Thái Lan) trong ba năm tại Thái Lan, ông Ngô Vĩnh Bao xúc động nói: “Tôi trở đi trở lại trên những con đường Bác đã đi qua. Mỗi chặng hành trình của Bác, tôi cố gắng trở lại, đôi khi không phải chỉ để tìm kiếm kỷ vật mà để cố gắng hiểu tâm trạng của Người”.

Có lần ông Bao đi tìm nơi Bác Hồ đã viết một bài thơ. Một người Thái tốt bụng đã đưa ông đi tìm khúc sông hằng ngày Bác vẫn ngồi ngắm cảnh. “Có những lúc ròng rã tìm kiếm mấy ngày trời rồi lại thất vọng về không”, ông Bao kể về những ngày đầu dò đường đi tìm kỷ vật Bác Hồ ở Thái.

Cứ mải miết đi về từng chuyến như vậy, nhưng có những kỷ vật của Bác ông tìm ròng rã suốt ba năm trời trên đất Thái. Chỉ chiếc phản gỗ đặt trang trọng giữa nhà, ông Bao bồi hồi nhớ lại: “Tôi tìm chiếc phản này suốt thời gian ở Thái Lan, may mắn đến lúc sắp về nước mới tìm thấy. 80 năm, chiếc phản đã kịp qua tay 10 người chủ. Tôi là người chủ thứ 11 của chiếc phản này đấy”.

Đó là chiếc phản gỗ mà Bác Hồ đã ngủ trong những ngày ở lại hiệu thuốc của ông Đặng Văn Cáp (năm 1929). Sau đó không lâu ông Cáp bị bắt, những Việt kiều ở Thái Lan chia nhau cất giữ tài sản trong hiệu thuốc.

Ông Bao kể: “Tôi đến Thái chỉ biết một đầu mối duy nhất là chiếc phản được ghép từ ba miếng gỗ, miếng giữa lớn và nguyên, còn hai miếng bên cạnh có vết nứt. Rồi tình cờ tôi tìm thêm được hồi ký của ông Cáp, dò hỏi từng gia đình Việt kiều về chiếc phản gỗ. Ký ức gần 80 năm người nhớ người quên, người nhớ cũng không rõ ràng gì. Tôi cứ tìm hết người chủ này đến người chủ kia, đến người thứ 10 thì tôi tìm thấy chiếc phản.

Có một điều mà suốt ba năm đi tìm chiếc phản ông Bao không thể ngờ tới là những Việt kiều ở Thái đã giữ gìn nó như giữ gìn sinh mạng của chính mình và luôn mong ngày chuyển chiếc phản về Tổ quốc. Ngày ông tìm đến nhà ông Bùi Bá Ba ở tỉnh Sakon Nakhon, người chủ thứ 10 của chiếc phản đang bị nhồi máu cơ tim phải cấp cứu trong bệnh viện.

“Tôi nhớ lúc tôi theo cô con gái vào thăm ông Ba, ông ấy còn yếu và chưa nói được. Cô con gái cầm tay cha hỏi: người này có thể xin lại chiếc phản gỗ mang về Việt Nam không? Ông Ba gật đầu mà khóe mắt rơm rớm” – ông Bao xúc động kể.

Những kỷ vật của cuộc đời

1.000 ngày “theo chân Bác” mang lại những kỷ vật vô giá như chiếc phản gỗ, chiếc ghế Bác từng ngồi làm việc, viên gạch lát nền nhà ở bản Mạy (tỉnh Nakhon Phanom), hai chiếc chân đèn bằng gỗ Bác Hồ dùng năm 1929… Những kỷ vật này được ông cất cẩn thận như một phần máu thịt của mình suốt nhiều năm qua.

Ông Ngô Vĩnh Bao còn giữ được 20 cuốn hồi ký của các Việt kiều từng hoạt động cùng Bác trong thời gian Người ở Thái. “Đọc hồi ký tôi biết họ đã cùng Bác đi đến những điểm nào, trong thời gian bao lâu. Ráp nối các chi tiết đó, tôi đã vẽ được toàn bộ hành trình của Bác đi qua chín tỉnh Thái Lan từ năm 1929-1931”, ông Bao nhớ lại.

Riêng bản đồ hành trình, các tư liệu ghi chép Bác Hồ đã đi những đâu, gặp gỡ ai, ảnh tư liệu hay nhân chứng hành trình của Bác, ông Bao tập hợp trong ba tập dày.

Nhìn kho tư liệu chật kín các ngăn tủ, ông Bao nói: “Ban đầu tôi thu thập tư liệu về Bác Hồ chủ yếu để làm một bộ sưu tập chi tiết về ba năm Người sống và hoạt động ở Thái Lan. Nhưng sau khi hoàn thành xong ba tập, tư liệu vẫn còn ngập cả một gian phòng lớn. Tôi sắp xếp lại theo thứ tự thời gian từ lúc Bác còn nhỏ đến ngày Bác ra đi, xếp đi xếp lại đến 19 tập dày”.

Đối với ông, những kỷ vật về Bác Hồ từ lâu đã trở thành một phần đời không thể thiếu của mình…

HÀ HƯƠNG

Ông Ngô Vĩnh Bao và cuốn tư liệu về hành trình của Bác Hồ từ năm 1911 Ảnh: Tiến Thành

Ông Ngô Vĩnh Bao sinh ở Vientiane (Lào) năm 1944. Năm 2 tuổi, ông theo gia đình di cư sang Thái Lan. Mãi đến năm 1960 gia đình ông mới hồi hương về Việt Nam. Ông Ngô Vĩnh Bao học phổ thông, đi làm công nhân, học đại học rồi về công tác tại văn phòng Cục Phục vụ (Bộ ngoại giao). Từ năm 1999-2002, ông giữ chức lãnh sự tại Tổng lãnh sự quán Việt Nam ở tỉnh Khonkaen (Thái Lan). Nhiều Việt kiều ông gặp trong hành trình 1.000 ngày “theo chân Bác” là người quen cũ thời còn sống trên đất Thái.

_________________

Người phụ nữ Mỹ tận tụy đến gõ từng cánh cửa của các sứ quán, bảo tàng, trung tâm lưu trữ… của nhiều quốc gia trên thế giới để tìm kiếm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà không nhớ rõ bao nhiêu cánh cửa đã mở rộng với mình…

Kỳ tới: Hành trình của người phụ nữ Mỹ

tuoitre.vn

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ 1

Cảm xúc từ ngõ Compoint

TT – Câu chuyện xúc động về những người đã lần theo hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh để sưu tầm những kỷ vật liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Người.

Một lần tình cờ được dẫn xuống tầng hầm của Bảo tàng Hồ Chí Minh, anh chuyên viên trẻ chỉ vào một người đang cặm cụi soi kính lúp trên những trang giấy ố vàng và giới thiệu: “Chuyện đi tìm kỷ vật cứ hỏi bác Thái. Chiếc tủ gỗ ở nhà số 9 ngõ Compoint, Paris đang trưng bày ở bảo tàng là một trong những kỷ vật của Bác Hồ ở nước ngoài được mang về VN rất sớm. Bác Thái là người biết rõ chuyến trở về Tổ quốc của chiếc tủ gỗ ngõ Compoint đấy!”. Người cặm cụi soi kính lúp trên những chồng tư liệu về Bác Hồ chính là ông Trịnh Ngọc Thái (nguyên đại sứ VN tại Pháp 1992-1997).

Mô hình ngôi nhà số 9 ngõ Compoint, Paris, Pháp được trưng bày tại triển lãm“Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường giải phóng dân tộc” ở Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội – Ảnh: Tiến Thành

Chiếc tủ gỗ ở ngõ Compoint

Một cuộc đời ăm ắp sự kiện, nhưng với ông Trịnh Ngọc Thái, chuyến trở về VN của chiếc tủ gỗ để lại một ấn tượng đặc biệt. “Đó là năm 1968, một ngày đầu mùa xuân, tuyết rơi dày và rất lạnh, đoàn đại biểu do Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu đến thăm ngôi nhà số 9 ngõ Compoint – nơi Bác Hồ từng sinh sống”, ông Thái hồi tưởng.

Ngõ Compoint – con ngõ được coi là nghèo nhất của khu lao động nghèo – có bốn ngôi nhà lụp xụp. Ông Thái còn nguyên cảm giác xúc động khi lần đầu tiên bước vào căn nhà cũ kỹ trong ngày mùa xuân Paris rét buốt đó: “Người ta cứ nghĩ căn phòng trọ Bác từng ở dù không tiện nghi nhưng cũng phải tử tế. Nhưng khi đi bộ trong lúc tuyết rơi, nhiệt độ xuống mức âm, bước trên cầu thang gỗ ọp ẹp và vào căn phòng bé con con, chúng tôi thật sự ngỡ ngàng”.

Một căn phòng không quá 9m2 chỉ đủ kê một giường cá nhân, một tủ gỗ đựng quần áo, một tủ nhỏ kê đầu giường dùng để viết lách và ngồi ăn cơm… “Mùa đông ở nước Pháp lạnh đến tê người, Bác đã sống thế nào trong một căn phòng không có lò sưởi, chỉ với một viên gạch ủ trong chăn? Một viên gạch bỏ vào chăn chỉ ấm được một lúc thôi, làm sao giữ ấm được suốt đêm?”, ông Thái xúc động nói.

Nhưng ngôi nhà sẽ bị phá bỏ vì quá cũ kỹ, một nơi lưu giữ nhiều ký ức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm 1921-1923 có nguy cơ biến mất. “Lúc trở về, ông Xuân Thủy đã nghĩ ngay đến việc làm thế nào để giữ được kỷ vật vô giá của Bác Hồ. Phải nhớ rằng đó là năm 1968, hai năm sau – tháng 11-1970 – ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh mới được thành lập”, ông Thái kể.

Tuy nhiên, mãi đến năm 1974 những kỷ vật của Bác Hồ ở Paris mới được đưa về VN. Đó là chiếc tủ quần áo và chiếc tủ gỗ để đầu giường. Còn những hiện vật khác như tấm bảng sắt ghi số 9 ngõ Compoint, cánh cửa ra vào bằng gỗ, lavabo rửa mặt, tấm sàn gỗ… sau này được đưa đến căn phòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Lịch sử sống thành phố Montreuil (Pháp).

Hai người cận vệ tên là Cận và Lành đã áp tải các kỷ vật quý giá đó trên chuyến xe lửa suốt nửa tháng trời từ Paris (Pháp) qua Berlin (Đức), Ba Lan, qua Siberia (Nga), Trung Quốc rồi mới về tới Hà Nội. Hai kỷ vật của Bác được giao lại cho ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tìm Bác khắp năm châu

Theo bà Nguyễn Thị Tình (nguyên giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh), đến năm 2006 bảo tàng có chuyến đi tìm kiếm kỷ vật Bác Hồ. “Chuyến đó ba nhân viên bảo tàng đi Nga suốt một tháng trời. Tuy nhiên, gần một thế kỷ đã trôi qua, những hiện vật gắn bó với cuộc đời của Người hầu như không giữ lại được. Chúng tôi chỉ tìm kiếm được bản gốc các tác phẩm của Người, scan lại rồi mang về nước”, bà Tình cho biết.

Ba lần đến Nga, hai lần đến Pháp, rồi đến Đài Loan, Hong Kong…, hàng ngàn tư liệu có bút tích của Bác Hồ đã được mang về. Một cán bộ phòng sưu tầm bảo quản Bảo tàng Hồ Chí Minh kể: “Chúng tôi phải lần theo những manh mối rất nhỏ để tìm kiếm các kỷ vật của Người. Có những tư liệu chúng tôi chỉ tình cờ tìm thấy trước giờ lên máy bay hai tiếng. Tuy nhiên, trong số đó có rất nhiều tư liệu quý mà phải thuyết phục rất lâu mới có thể sao chụp được, vì theo quy định thời hạn giải mã mãi đến năm… 2014”.

“Nhiều tài liệu dưới dạng scan được mang về VN trong năm năm qua. Sau gần một thế kỷ mọi việc sưu tầm đã trở nên khó khăn hơn nhiều. Hơn nữa Người luôn sống ở những khu lao động nghèo với nhiều bí danh khác nhau nên khi chúng tôi tìm đến, những nơi đó đã bị đập đi để xây khách sạn và cao ốc”, bà Tình nói.

Hàng chục năm qua, đã có rất nhiều người lần theo hành trình của Bác để tìm kiếm kỷ vật và tư liệu về Người. Họ đặt chân trên những con đường Người đã đi qua, đến ngôi nhà Người từng ở, trăn trở tìm kiếm những vật nhỏ nhất từng gắn bó với Người. Nhiều kỷ vật của Bác Hồ đã trở về Tổ quốc bằng những con đường rất riêng như thế.

“Ông cố vấn” của bảo tàng

Ngày nắng cũng như ngày mưa, ông tất bật đi về giữa Bảo tàng Hồ Chí Minh và ngôi nhà ở Hồ Xuân Hương nhìn ra hồ Thiền Quang nhiều gió. Ở bảo tàng mọi người gọi ông là “ông cố vấn” Trịnh Ngọc Thái. Bởi nhiều năm nay ông giữ vai trò cố vấn, nghiên cứu, dịch các bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. “Ông cố vấn” chẳng có phòng riêng, chiếc bàn nhỏ và cũ kỹ đặt ở phòng bảo quản dưới tầng hầm bảo tàng là nơi ông ngồi làm việc.

Hơn 80 tuổi nhưng ông có số lượng công việc còn rất nhiều. Đi tìm kiếm, dịch tư liệu, ghi chép và viết sách… mỗi ngày của ông cứ xoay vòng cho từng đó việc. Nhiều cuốn sách về Bác Hồ của Bảo tàng Hồ Chí Minh đều có bàn tay đóng góp của ông.

Với ông Trịnh Ngọc Thái, việc dịch những tư liệu có bút tích của Bác Hồ còn là một duyên nợ. 51 năm về trước, ông Thái chính là phiên dịch trong các buổi làm việc chung của luật sư Loseby khi ông sang VN theo lời mời của Bác. “Điều thú vị khi dịch cho ông Loseby chính là cung cách nói chuyện của Bác với ông luật sư tự nhiên như người một nhà. Bác thường đến không báo trước và ở lại chơi rất lâu. Đi đâu Bác cũng giới thiệu ông luật sư là ân nhân của Bác, dù trong cuộc gặp với công nhân hay học sinh”, ông Thái nhớ lại.

HÀ HƯƠNG

___________

Câu chuyện về 1.000 ngày nghiên cứu, tìm kiếm của một cán bộ ngoại giao Việt Nam ở Thái Lan để dựng lại chặng hành trình của Bác trên đất Thái.

Kỳ tới: 1.000 ngày trên đất Thái

tuoitre.vn

Ngày 1-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi

Ngày 1-6-1922, trên Báo “L’ Humanité” (Nhân Đạo), Nguyễn Ái Quốc viết bài “Bình đẳng”, mở đầu bằng câu: “Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột, giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, bình đẳng”.

Ngày 1-6-1946, máy bay từ Pegou (Miến Điện) chở Chủ tịch Hồ Chí Minh bay tiếp 1.093km rồi hạ cánh xuống thành phố Calcuta của Ấn Độ. Nhà cầm quyền Anh và Lãnh sự Pháp đã tiếp đón đoàn lưu lại đây trong 2 ngày.

Ngày 1-6-1947, Báo “Sự Thật” đăng bài “Cán bộ tốt và cán bộ xoàng” của Bác (ký bút danh A.G), viết về công tác cán bộ: “Kháng chiến là một lò đúc cán bộ. Nơi nào mà cán bộ cấp trên biết lựa chọn dìu dắt thì có nhiều cán bộ mới nảy nở và công việc phát triển… Kháng chiến lại là một viên đá thử vàng đối với cán bộ”. Bài báo kết luận: “Cán bộ mà lên mặt quan cách mạng thì mọi việc đều lủng củng. Cán bộ mà biết làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, thì việc gì cũng mĩ mãn. Những đồng chí cán bộ, phải gắng tiến lên mãi. Những ông cán bộ xoàng, xin mau sửa đổi”.

Ngày 1-6-1949, Báo Cứu Quốc đăng tiếp bài “Thế nào là Liêm?” của Bác (ký bút danh Lê Quyết Thắng). Bài báo phân tích: “Liêm là trong sạch, không tham lam. Ngày xưa dưới chế độ phong kiến, người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm… Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn là mọi người đều phải Liêm… Có Kiệm mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam… Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”… Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót thì “quan” dù không liêm cũng phải hóa ra Liêm… Pháp luật phải ra tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ bất liêm ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Mọi người phải nhận rằng tham lam là một điều xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước với dân… Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ…”.

Ngày 1-6-1947, lần đầu tiên Bác viết “Thư gửi thiếu nhi toàn quốc”, trong đó người lãnh đạo cuộc kháng chiến đã hứa với các cháu: “Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cũng cố gắng làm cho các cháu đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”, nên cứ đến ngày Quốc tế Thiếu nhi 1- 6 hàng năm, Bác Hồ đều có thư gửi các cháu thiếu nhi Việt Nam và thế giới. Ngày 1-6 cuối cùng trong cuộc đời (1969), Bác viết bài báo “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”, khẳng định: “Thiếu niên và nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh và chặng đường trên nước Mỹ trong cuộc hành trình 30 năm ra đi tìm đường cứu nước

Bến cảng Sài Gòn- nơi người thanh niên yêu nước Nguyền Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước ngày 05/6/1911. Ảnh: Tư liệu

Yên ả và thanh bình là ước mơ ngàn đời của dân tộc chúng ta. Để giữ vững bờ cõi, bảo vệ non sông gấm vóc và tồn tại giữa một thế giới bạo tàn, từ bao đời nay, người Việt Nam đã phải liên tục gồng mình để chống lại nạn ngoại xâm. Đã có biết bao dân tộc bị diệt vong trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại. Kiếp nô lệ cam chịu chưa bao giờ được dân ta chấp nhận. Đời nào cũng vậy, sự quật cường đã giúp chúng ta ngẩng cao đầu.

Cuối thế kỷ XIX, cả phương Đông chìm trong cơn đại hồng thủy của Chủ nghĩa thực dân đế quốc. Sự bất công, điêu tàn, uất hận bao phủ lên bầu trời của quê hương, từ mọi ngóc ngách của xóm làng đến chốn kinh thành hoa lệ. Cũng như bao đời trước, đất nước mòn mỏi trông chờ những đứa con ưu tú, những vị anh hùng. Đó là những Thánh Gióng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…. Họ là niềm tự hào, là vẻ đẹp, là khúc tráng ca trong bản hợp xướng bi hùng về sự trường tồn và bất tử của dân tộc. Lần này, người anh hùng không phất cờ từ trong dân giã hay từ chốn cung đình mà là bắt đầu từ một chuyến ra đi, không phải là để cầu cứu ngoại bang mà là để tìm chân lý, mong trả lại sức mạnh, sự tự do vốn có của dân tộc. Cuộc hành trình của Người là thiên anh hùng ca huy hoàng và vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Trong suốt chiều dài của cuộc hành trình, nước Mỹ là chặng đường dừng chân tuy ngắn ngủi của Người nhưng nơi đây thực sự đã giúp Người nhận thức một cách sâu sắc hơn về bản chất của chủ nghĩa tư bản, nỗi thống khổ của nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới trên hành trình tìm ra con đường giải phóng dân tộc.

Cậu bé Nguyễn Sinh Cung sinh ra ở làng Nam Đàn năm 1890. Xuất thân từ một gia đình nhà giáo nghèo nhưng cả quê nội Kim Liên và quê ngoại Hoàng Trù đều là những vùng đất hiếu học, khoa cử nên cậu bé Nguyễn Sinh Cung được thừa hưởng một nền giáo dục truyền thống, tốt đẹp từ cả bố và mẹ. Thân sinh của Bác, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc có ảnh hưởng trực tiếp đến Người bằng vốn học vấn uyên thâm, một trái tim yêu nước thương dân, một đức tính khiêm tốn, giản dị, sống gần gũi, gắn bó với nhân dân lao động. Mẹ của Bác, bà Hoàng Thị Loan chính là người đã khai tâm cho con trai bằng những bài học chữ Nho về triết lý ở đời trước tuổi cắp sách tới trường. Như vậy, từ thuở thiếu thời cho đến tuổi trưởng thành, Người đã nhận được sự giáo dục và nuôi dưỡng truyền thống nhân ái của dân tộc: Thương người, thương dân, là khát vọng có một cuộc sống tự do, no ấm, hạnh phúc. Chính chủ nghĩa yêu nước dạt dào tình nhân ái đó đã nhem nhóm trong trái tim Người một ý chí quyết ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Chuyến hành trình dài 30 năm của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trở thành chuyến ra đi lạ lùng, vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. Theo dòng thời gian, nó hòa vào ký ức dưới hình ảnh con tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin rời Bến cảng Sài Gòn ngày mồng 5/6/1911 mang theo chàng trai 21 tuổi quả cảm, dưới tên gọi Văn Ba, vượt trùng dương bao la, quyết đi tới những chân trời xa lạ “xem xét họ làm như thế nào, để trở về giúp dân tộc”.

Những trang hồ sơ còn lại đã trở thành tư liệu quý báu, ghi dấu ấn một phần những gì diễn ra cách đây gần một thế kỷ trong cái đêm dài nô lệ ấy của đất nước. Một chuyến ra đi khát khao tìm hiểu thế giới, nung nấu ý chí đổi đời cho đất nước bằng một trái tim nồng nàn, một tâm hồn cao cả, một ước nguyện mãnh liệt bắt đầu từ hai bàn tay trắng và những công việc nhọc nhằn gian lao của người phụ bếp. Đó là chuyến ra đi đầy chất phiêu lưu của một nhà cách mạng trẻ tuổi. Trước mặt không chỉ là một biển cả mênh mông sóng nước, mà còn là cả một biển đời sâu thẳm đầy sóng gió. Sau lưng là hình ảnh quê hương đang quằn quại trong đau thương, mong ngóng ngày trở về.

Tượng Nữ thần Tự do - biểu tượng của nước Mỹ. Ảnh: Internet.

Khoảng cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành đã tới miền Đông nước Mỹ trên chiếc tàu Latusơ Tơrevin từ Pháp, vòng qua Châu Phi, vòng sang châu Mỹ rồi tới NewYork. Đi qua hàng loạt quốc gia của cả 3 Châu lục Âu, Phi, Mỹ. Khi tới thăm tượng Nữ thần Tự do ở Mỹ, chàng trai trẻ đã ghi lại những dòng cảm tưởng như sau: “Ánh sáng trên đầu Thần Tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Thần thì người da đen bị chà đạp. Bao giờ thì người da đen mới hết bị chà đạp? Bao giờ thì người da đen và người phụ nữ mới có bình đẳng? Bao giờ mới có sự bình đẳng giữa các dân tộc?”. Thật ra cho tới lúc này, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã nắm được bản chất khái quát của thế giới hiện tại, đó là thiểu số người giàu cai trị và áp bức người nghèo. Các nước giàu mạnh xâm lược, thống trị và đàn áp các nước nhược tiểu. Bạo lực, bất công, bóc lột thay cho từ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” bởi đó chỉ là những ước mơ xa vời. Bằng con mắt tinh đời và trái tim nhạy cảm, chàng trai đã thấu hiểu được lòng dạ sói lang của nước Mỹ tư bản. Dưới gầm trời này, giai cấp cần lao chỉ có thể sống đời nô lệ dưới sự đày đọa của đồng loại giàu có, tham lam, độc ác và bạo tàn, các dân tộc bị áp bức chỉ có thể quằn quại, rên xiết dưới gót giày của kẻ xâm lược. Giá trị nhân văn của Cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ đã bị phản bội ngay từ khi mới ra đời. Xã hội Mỹ lúc bấy giờ không thể giải phóng được dân chúng và các dân tộc bị áp bức khỏi những bất công mà chỉ thay đổi xiềng xích này bằng xiềng xích khác.

Khu Harlem thuộc bang Georgia – nơi Nguyễn Tất Thành hay lui tới được coi là “cái đáy” của nước Mỹ – nơi bộc lộ rõ nhất bản chất của xã hội tư bản. Sự bần cùng ở khu vực người da đen vẫn hiện lên rất rõ như một minh chứng về sự tương phản giàu nghèo mạnh mẽ chẳng khác gì ở Việt Nam. Giáo sư Meri Ratner, Chủ tịch Viện nghiên cứu Mác ở NewYork đã có nhiều năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh, đã từng nói: “Hồ Chí Minh đã học hỏi được nhiều từ trong những ngày ở nước Mỹ. Qua những tác phẩm viết về những cuộc hành trình của người da đen, có thể thấy Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự tàn bạo của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Hồ Chí Minh là một người nhạy cảm, đến từ một nước thuộc địa, trải nghiệm thực tiễn trong một xã hội chủ nghĩa thực dân; là một trong những người đầu tiên không phải là người Mỹ viết về nạn phân biệt chủng tộc, về chủ nghĩa thực dân, xã hội tư bản. Ở Boston, Người thấu hiểu những nỗi thống khổ của người nghèo không có việc làm, không thể có được một cuộc sống theo đúng nghĩa của nó. Do đó Người cũng đã nhận ra được những vấn đề liên quan đến giai cấp, Người bộc lộ sự cảm thông đối với những số phận thống khổ trong xã hội, những người bị bóc lột”.

Khu Harlem - nơi được mệnh danh là “Black NewYork” do tập trung nhiều người dân da đen sinh sống nhất nước Mỹ. Ảnh: Internet.

Nguyễn Tất Thành tìm hiểu rất nhiều về hoàn cảnh của người da đen ở Mỹ, nhất là phong trào đòi nhân quyền kéo dài đã gần 300 năm mòn mỏi ngay từ khi họ mới được đưa từ Châu Phi sang dưới thân phận nô lệ. Có thể tạm chia xã hội Mỹ lúc bấy giờ thành các nhóm sau đây: Trên cùng là bọn thống trị và nhà giàu, tiếp đến là lớp trung lưu da trắng, dưới là dân lao động da trắng hoặc gốc Âu, dưới cùng của đáy xã hội là dân lao động gốc Phi (không kể những dân da đỏ bản địa bị cướp hết đất và dồn vào rừng núi). Dưới con mắt của Nguyễn Tất Thành, trật tự xã hội ấy sẽ bất di bất dịch theo đúng bản chất của nó. Đó chính là một trong những kết luận sáng suốt nhất của Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Số phận bi thảm sau này của nhà lãnh tụ tinh thần da đen Martin Luther King là một ví dụ minh chứng cho những điều đó. Một cửa xã hội rõ ràng không có lối ra mặc dù phong trào đấu tranh liên tục diễn ra và mạnh mẽ? Một đất nước như thế làm sao có thế giúp được một nước nhược tiểu như nước ta thoát khỏi vòng nô lệ không kể sau này nó còn trút hàng triệu tấn bom và chất độc xuống hủy hoại quê hương, tàn sát đồng bào ta, nhân dân ta một cách dã man, ghê rợn hơn cả giặc Pháp.

Hình ảnh Tòa thị chính của Thành phố Philadelphia.Ảnh: Internet.

Thủ đô Philađenphia – Thủ đô đầu tiên của nước Mỹ, nằm giữa Washington và Bantimo chính là điểm đến tiếp theo của Người trong cuộc hành trình trên nước Mỹ. Là nơi khởi nguồn của cuộc cách mạng đã đưa đến nền độc lập, Philadelphia đóng vai trò then chốt trong lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ. Tại Hội trường Độc Lập vào ngày 04/7/1776, đã diễn ra cuộc họp đầu tiên của Quốc hội để thông qua bản Tuyên ngôn độc lập và dự thảo Hiến pháp Hoa Kỳ. Tác giả chính của những văn kiện này chính là Thomas Jefferson.Giáo sư Sophie Quinn Judge – một nhà nghiên cứu về Châu Á, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Hồ Chí Minh – những năm tháng đã qua” đã viết : “Hồ Chí Minh đã viết rất nhiều bài báo cho Quốc tế cộng sản, qua đó có thể thấy Người đã nhìn thấy rõ sự bất công trong xã hội Mỹ. Người cũng nhận thấy rõ nhiều vấn đề đã được nêu trong Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp của nước Mỹ. Trong hoạt động chính trị, Người cũng đã nghiên cứu kỹ về hình thái của xã hội Mỹ cùng với hình thái xã hội của Liên Xô và nhiều nước khác được chia thành 2 nhóm: Các nước bóc lột và các nước bị bóc lột. Đó có thể là lý do vì sao Hồ Chí Minh đã đưa một số nội dung của Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ và Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam vào ngày 02/9/1945. Nhưng có thể khẳng định một điều, Hồ Chí Minh là một người có sự nhạy cảm và sự nhận biết tinh tế về chính trị để phân biệt những mặt tích cực và tiêu cực của hình thái xã hội Mỹ. Và Người đã nhận thức được một vấn đề quan trọng: Nước Mỹ không thể giúp Việt Nam bảo vệ quyền lợi dân tộc.”

Khi đó, Người hiểu rằng, chế độ xã hội dựa trên lợi nhuận không thể giúp các dân tộc thuộc địa giải quyết vấn đề của mình. Nhân dân lao động ở Mỹ lúc đó đã có chút nhận thức về vấn đề giai cấp; phong trào cộng sản, phong trào dân tộc cũng đã diễn ra một cách mạnh mẽ. Người đã tham gia thảo luận với nhiều chủ đề như : “Điều gì đang xảy ra ở phương Tây?”; “Sự cần thiết phải có một chế độ xã hội khác”; “Sự cần thiết của độc lập dân tộc”… Qua việc tìm hiểu sự đối xử dã man đối với người da đen, Hồ Chí Minh nhận thấy rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản. Cũng trong thời gian kiếm sống cùng khổ với người dân lao động, Người nhận ra khoảng cách ngày càng giãn ra giữa tầng lớp người giàu và người nghèo và chính điều đó đã thôi thúc Người đến với cuộc đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của người lao động. Họ cần thức ăn, nhà ở, được lao động và hưởng thụ văn hóa. Đối với nhiều người Mỹ, Hồ Chí Minh thực sự đã trở thành biểu tượng cho sự đấu tranh công bằng, bình đẳng và sự tiến bộ xã hội.

Khách sạn Omni The Packer House ở Thành phố cảng Boston (nằm phía Tây bang Massachusetts) cũng là nơi Bác đã từng sống và làm việc. Tại khách sạn này, Bác đã từng là một người thợ làm bánh. Hiện nay, gian chế biến bánh ngọt dưới tầng hầm vẫn giữ nguyên chiếc bàn đá bị sứt mẻ một góc từ khi Bác còn làm việc không thay mới cũng không sửa chữa như để kỷ niệm những tháng ngày của một vĩ nhân cách nay cả thế kỷ.

Khách sạn Omni The Packer House ở Thành phố cảng Boston - nơi Bác đã từng là một người thợ làm bánh làm việc tại đây năm 1913. Ảnh: Internet.

Bản chất cường quyền và bành trướng của chính quyền nước Mỹ đã được Nguyễn Tất Thành phát hiện và khẳng định ngay từ khi Người đặt chân lên đất nước này trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước của mình, không phải đợi cho tới khi nước này viện trợ cho Pháp xâm lược Việt Nam, hay khi điều khiển chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm “lê máy chém” đi khắp miền Nam Việt Nam tàn sát, giết hại đồng bào, hay “rải thảm bom” B52 xuống Hà Nội năm 1972. Chính thiên tài Hồ Chí Minh đã cảnh báo được mầm mống tai họa đối với thế giới từ rất sớm, ngay tại mảnh đất mà nó mới manh nha. Đó là sự nguy hiểm của sức mạnh khi nó đồng hành với khao khát quyền lực, của cải và lãnh thổ. Bài học muôn đời này rất dễ thấm nhưng cực khó để làm theo. Thông điệp đó thực sự là một di sản bởi lý tưởng về tự do cho nhân loại không bao giờ được thực hiện bởi bàn tay của những kẻ chà đạp lên tự do của người khác.

Hành trình trên nước Mỹ đã góp phần quan trọng cho sự trưởng thành về tư tưởng nhận thức và tâm hồn của nhà cách mạng trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc. Sự thống trị hà khắc, nỗi thống khổ khôn cùng với cảnh nhân phẩm và cuộc sống bị chà đạp thô bạo đã làm quặn đau trái tim nhân hậu của Người; đồng thời bộc lộ bản chất rõ ràng của xã hội tư bản cùng Chủ nghĩa thực dân tàn bạo mà nó sinh ra. Cũng từ chuyến hành trình trên nước Mỹ này, tình thương yêu đồng loại cùng cảnh ngộ không phân biệt quốc gia, dân tộc càng nồng nàn trong trái tim của Người, góp phần tạo nên phẩm chất sáng ngời về tinh thần Quốc tế cộng sản của Nguyễn Ái Quốc được cả thế giới khâm phục và kính trọng. Nó cũng góp phần tạo nên tính kiên định cách mạng, ý chí đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng con người và giải phóng dân tộc mà Bác Hồ đã theo đuổi trong suốt cuộc đời gian lao, vĩ đại của mình./.

Hồng Vượng

bqllang.gov.vn

Ngày 3-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành chính thức được nhận việc tại tàu Đô đốc Latouche Tréville của Hãng vận tải hợp nhất, với cái tên mới là Văn Ba.

Ngày 3-6-1926, từ Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo cho Quốc tế Cộng sản về những công việc đã làm kể từ khi tới đây như tổ chức một tổ bí mật, một Hội Liên hiệp nông dân của những đồng bào Việt Nam sống tại Xiêm (Thái Lan), một Tổ thiếu nhi, một Tổ phụ nữ cách mạng, một Trường huấn luyện chính trị và xuất bản tờ báo Thanh Niên.

Báo cáo cũng nhắc đến Hội Liên hiệp các thuộc địa ở Paris, về hai tờ báo “Le Paria” (Người Cùng khổ), “Việt Nam Hồn” và yêu cầu được cung cấp báo chí, tài liệu tuyên truyền.

Ngày 3-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Chandernagore, một thuộc địa của Pháp trên đất Ấn Độ, thiết tiệc Lãnh sự Pháp và gặp gỡ kiều bào. Trả lời một tờ báo lớn ở Calcuta về vấn đề “Liên bang Đông Dương” và “Liên hiệp Pháp”, Chủ tịch nước Việt Nam nói rõ quan điểm: “Thực là một sự mỉa mai nếu lại đặt cho Đông Dương một viên toàn quyền, song tôi hy vọng rằng cuộc đàm phán chính thức ở Paris sẽ có kết quả tốt…Việt Nam không có tham vọng gì về đất đai của hai nước láng giềng. Hiện giờ, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và hai nước đó chưa có”.Về cuộc xung đột Pháp – Xiêm, nhà lãnh đạo Việt Nam cho rằng“Việc đó thuộc thẩm quyền của Pháp” và bày tỏ cảm tình đối với đất nước Ấn Độ.

Cùng ngày, ở trong nước, Báo Quyết Thắng của Việt Minh Trung bộ in tại Thuận Hóa (Huế) đăng bức thư của Bác gửi Trại nhà nghèo tỉnh Quảng Ngãi để cảm ơn những bức tranh thêu và thư của các trại viên tặng. Thư viết: “Trước hết, tôi cám ơn tấm lòng thân ái của anh em đối với tôi. Hai là tôi phải khen rằng anh em thêu rất khéo. Bức thêu đó đã chứng tỏ rằng: Thủ công mỹ nghệ của nước ta mai sau chẳng những có thể tranh đua mà lại có thể tranh giải nhất của thủ công mỹ nghệ trong thế giới… Tôi ao ước rằng nhờ sự cần kiệm của anh em “Trại nhà nghèo” sẽ mau tiến bộ thành “Trại nhà khá”, rồi dần dần thành “Trại nhà giàu” làm kiểu mẫu cho anh em khác”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 6-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc đang sống ở Liên Xô, với bí danh là Lin đã gửi thư cho một đồng chí trong Quốc tế Cộng sản.

Ngày 6-6-1941, Nguyễn Ái Quốc viết thư “Kính cáo đồng bào” gửi tới các tầng lớp nhân dân cả nước nhằm triển khai nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 8: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng…”.

Bức thư thực sự là một bài hịch cứu nước: “Việc cứu nước là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài góp tài năng… Hỡi các chiến sĩ cách mạng! Giờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung. Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đương vang dội bên tai các đồng chí. Máu nóng của bậc anh hùng đương sục sôi trong lòng các đồng chí! Chí phấn đấu của quốc dân đương chờ đợi sự lãnh đạo của các đồng chí!”.

Ngày 6-6-1946, tiếp tục hành trình sang thăm nước Pháp, máy bay đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Karachi bay 2.610km để tới thành phố Habangna thuộc lãnh thổ Iraq khi đó vẫn là thuộc địa của Anh.

Ngày 6-6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh đặt ra 3 loại huân chương cao quý nhất: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Độc lập.

Ngày 6-6-1953, Báo Nhân Dân đăng bài “Phải chống bệnh quan liêu” của Bác, phân tích kết quả cuộc vận động phê bình, trong đó có vai trò của báo chí. Tác giả nhấn mạnh: “Quan liêu, tham ô, lãng phí cũng như mọi khuyết điểm khác, nguồn gốc là vì tư tưởng không đúng. Tư tưởng trong sạch, lập trường vững, hết lòng hết sức phụng sự nhân dân thì tránh được nhiều khuyết điểm… Mở rộng dân chủ phê bình trong cơ quan và ngoài quần chúng, từ trên xuống, từ dưới lên. “Trên đe dưới búa” của phê bình, thì nhất định tẩy được bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí…”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 7-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 7-6-1931, sau khi bị bắt, Nguyễn Ái Quốc bị tạm giam tại Sở Cảnh sát Hồng Công và vị luật sư người Anh H.Loseby đã đến gặp thân chủ của mình.

Ngày 7-6-1946, “Nhật ký hành trình” chép về chuyến đi thăm Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết: “Từ Habagna đến Le Caire (Thủ đô Ai Cập) 1.386 cây số. Khi tham quan Jérusalem, máy bay có bay một vòng trên kinh thành để mọi người được xem Lăng Chúa Jesus… Lúc đến Le Caire có đại biểu sứ thần Pháp ra đón… Nghỉ tại đây 3 hôm”.

Cùng ngày, ở trong nước, Báo Cứu Quốc đăng bài “Đặt kế hoạch tác chiến” (ký tên Q.Th) của Bác, giới thiệu binh pháp Tôn Tử nhưng trên một tinh thần thực tiễn: “Biết người, biết mình rồi lại phải so sánh mình với địch xem ai hơn, ai kém để định kế hoạch tác chiến…Chiến tranh ngày nay, đánh ở mặt sau, đánh về kinh tế, về chính trị, về tinh thần cũng không kém phần quan trọng như đánh ngoài mặt trận. Phải biết phối hợp mọi phương pháp ấy mới có thể đi đến thắng lợi hoàn toàn…”.

Ngày 7-6-1948, phản ứng trước việc thực dân Pháp dựng lên “chính phủ bù nhìn toàn quốc” tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nay thực dân Pháp đã đưa ra một chính phủ bù nhìn toàn quốc để mưu bán Tổ quốc Việt Nam cho chúng. Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ theo pháp luật nước nhà trừng trị bọn phản quốc ấy”.

Ngày 7-6-1968, Bác mời một số cán bộ đến bàn về loại sách “Người tốt việc tốt”. Bác nói: “Những chiến công và thành tích nổi bật thì ai cũng có thể thấy được. Còn những việc nhỏ, bình thường thôi nhưng ích nước lợi dân thì hay bị xem thường. Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không? Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao giọt nước nhỏ hợp lại thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc… Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…Coi chừng có nhiều người Việt Nam không hiểu rõ lịch sử, đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 9-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 9-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lưu tại Le Caire đi thăm nhiều di tích lịch sử của Ai Cập, trong đó có Kim tự tháp nổi tiếng ở Sekherat.

Tháng 6-1947, Bác viết “Thư gửi đồng bào trung du và hạ du chống lụt”, động viên: “Mùa lụt đã đến gần. Nếu lụt thì đói. Lụt cũng là một thứ giặc ghê gớm. Người ta thường nói “thủy, hỏa, đạo, tặc”. Chúng ta phải ra sức ngăn giặc lụt như chống giặc ngoại xâm…Tôi tha thiết kêu gọi đồng bào, bất kỳ già trẻ, trai gái, mọi người đều phải coi việc canh đê, phòng lụt là việc thiết thân của mình: “Lụt thì lút cả làng/ Muốn cho khỏi lụt, thiếp chàng cùng lo”. Chúng ta phải thực hành câu ca dao đó. Ai cũng phải tham gia công việc sửa đê, canh đê…Chúng ta phải kiên quyết giành cho được thắng lợi trong việc chống giặc lụt. Thắng lợi sẽ giúp cho ta thắng lợi trong cuộc đánh giặc ngoại xâm. Mong toàn thể đồng bào gắng sức”.

Ngày 9-6-1953, trong bài nói chuyện tại buổi bế mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính các cơ quan trung ương, Bác phân tích: “Muốn tiến bộ mãi thì phải học tập. Học trong sách báo, học trong công tác, học với anh em, học hỏi quần chúng. Học tập để phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn đạt mục đích ấy thì phải thực hành dân chủ tự phê bình…Cán bộ bất kỳ cấp nào, cao hay thấp có quyền và có nghĩa vụ đòi hỏi thực hiện dân chủ. Học cốt để hành”.

Ngày 9-6-1954, trên Báo Cứu Quốc, Bác viết bài “Hà Nội, một thành phố bị bao vây” (ký bút danh Đ.X), phân tích thông tin từ một tờ báo Pháp cho biết: Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, giặc Pháp tại Hà Nội đang bị chiếm đóng, bị bao vây, không phải vì lực lượng của đối phương mà bởi chính lòng dân Hà Nội đang có “cảm tình với chính phủ Việt Minh”. Bài báo kết luận: “Điều đấy chứng tỏ tinh thần của địch rất hoang mang”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 14-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ thăm HTX Hùng Sơn, H. Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 1954. Ảnh: T.L

Ngày 14-6-1911, Nguyễn Tất Thành tiếp tục hải trình đầu tiên trên con tàu “Đô đốc La Touche Tréville” sang Pháp, ghé qua cảng Colombo của Sri Lanka.

Ngày 14-6-1922, Nguyễn Ái Quốc được chấp nhận vào Hội Tam Điểm (Franc-Maconnerie), một tổ chức có tư tưởng chống quân chủ, ra đời tại Pháp từ thời kỳ cách mạng tư sản. Lễ chấp nhận được tổ chức tại Trụ sở Liên hội Quốc tế ở Paris. Tuy nhiên đến tháng 12 năm đó, Nguyễn Ái Quốc rút khỏi tổ chức này vì nó không phù hợp với lý tưởng đang theo đuổi.

Ngày 14-6-1946, tại thành phố Biarritz, trong khi chờ đợi Chính phủ Pháp thành lập, Bác tiếp đại diện nhiều đoàn thể của Pháp, trong đó có Hội Pháp-Việt Hữu nghị, mới được thành lập với sự tham gia của nhiều nhân vật nổi tiếng như ông Justin Godart, bà Marie Curie, nữ nhà báo André Viollis, bà Braun – Phó Chủ tịch Quốc hội Pháp…Cùng ngày, Bác từ chối trả lời chính thức phỏng vấn của Hãng Thông tấn Pháp AFP vì lý do Chính phủ Pháp chưa thành lập, nhưng đưa ra quan điểm: “Dùng văn minh chinh phục người ta thì bền vững hơn dùng súng đại bác”.

Ngày 14-6-1946, ở trong nước, Báo Cứu Quốc đăng bài “Noi gương anh em Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu” của Bác (ký bút danh Q.T), biểu dương những đóng góp to lớn của lực lượng tự vệ thủ đô xứng đáng với lời khen ngợi: “Anh em Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu thật đáng làm khuôn mẫu cho tất cả anh em tự vệ các nơi về mọi phương diện”.

Tiếp tục loạt bài giới thiệu “Binh pháp Tôn Tử”, Báo Cứu Quốc cùng ngày còn đăng bài “Phương pháp tác chiến”, trong đó Bác đưa ra nhận định: “Cho nên người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy”.

Ngày 14-6-1958, với bài viết “Những người Mỹ biết điều”, Bác (ký tên T.L.) trích dẫn ý kiến của Thượng nghị sĩ Mỹ Menxphin phát biểu tại Thượng nghị viện và đánh giá rằng: “Thế là những chính khách biết điều cũng tán thành chủ trương đúng đắn của Chính phủ ta. Nếu Ngô Đình Diệm còn có lương tâm, không muốn mang tiếng xấu muôn đời là kẻ phản nhân dân, phản Tổ quốc thì phải làm theo mong muốn thiết tha của đồng bào và thực hiện những điều Chính phủ ta đã đề nghị”.

Ngày 14-6-1961, Bác đi thăm một hợp tác xã ở ngoại thành Hà Nội. Hòa cùng bà con trên đồng ruộng, Bác căn dặn: “Muốn phát triển sản xuất tốt, trước hết xã viên phải đoàn kết như anh em một nhà. Đoàn kết là sức mạnh. Đoàn kết thì khó khăn mấy cũng làm được, cũng vượt qua được. Cán bộ phải chí công vô tư, sổ sách tài chính phải minh bạch…”.

Ngày 14-6-1966, Bác gửi thư khen quân dân tỉnh Quảng Bình với lời biểu dương: “Trước đây Quảng Bình là tỉnh đầu tiên bắn rơi 100 máy bay Mỹ. Nay Quảng Bình lại là tỉnh đầu tiên bắn rơi 200 máy bay Mỹ”.

Ngày 14-6-1969, tại Hội trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia Đoàn Chủ tịch cuộc mít tinh chào mừng sự ra đời của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đây cũng là lần cuối cùng Bác xuất hiện trong một cuộc mít tinh tại Hội trường Ba Đình lịch sử./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – công trình kiến trúc “Hiện đại, dân tộc, trang nghiêm và giản dị”

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nho học yêu nước, quê hương có truyền thống chống giặc ngoại xâm. Ngay từ nhỏ, Người đã được hấp thụ tinh thần yêu nước bất khuất của phong trào đấu tranh chống Pháp, Người thấu hiểu được nỗi thống khổ của người dân mất nước, không cam chịu để dân tộc mình sống cuộc đời nô lệ, lầm than dưới ách đô hộ của chế độ thực dân, phong kiến. Tình cảm yêu quê hương đất nước, căm thù giặc sâu sắc đã hun đúc lên hoài bão lớn lao của Người. Vượt khỏi tầm nhìn của những nhà yêu nước đương thời, năm 1911, Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Bằng thiên tài trí tuệ, lòng yêu nước thương dân mãnh liệt, ý chí gang thép, đạo đức vô song Hồ Chí Minh đã đáp ứng yêu cầu lịch sử. Sau 10 năm bôn ba, Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn, đó là “con đường Cách mạng vô sản”. Hơn hai phần ba thế kỷ qua, cùng với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành ngọn đèn pha soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đưa Việt Nam từ một dân tộc bị đô hộ, lên hàng các dân tộc cách mạng tiên phong trên thế giới, đã chứng minh tính khoa học, tính sáng tạo vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng là một tổn thất vô cùng lớn lao, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bầu bạn quốc tế, nhất là đồng bào, chiến sỹ miền Nam đang ngày, đêm tranh đấu giành độc lập, tự do để mong sớm đón Bác vào thăm.

Sinh thời, Ng­ười không muốn một sự tôn thờ, sùng bái cá nhân nào. Tr­ước lúc đi xa, trong Di chúc, Ng­ười còn căn dặn: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”[1]. Như­ng trong tâm khảm mỗi ng­ười dân Việt Nam, Bác Hồ là người Anh hùng giải phóng dân tộc, một “Thánh nhân” của đất n­ước. Sau khi Bác qua đời, trong khói lửa của cuộc chiến tranh ác liệt, nhân dân Cà Mau, Trà Vinh và rất nhiều nơi khác đã lập đền thờ Ng­ười và quyết tâm chống trả mọi sự phá hoại của Mỹ, Ngụy. Đồng bào ta từ Bắc chí Nam, đã tự nguyện lập bàn thờ Bác ngay trong gia đình. Tất cả những việc làm đó, đều xuất phát từ tình cảm biết ơn, ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam.

Thấu hiểu sâu sắc và thể theo nguyện vọng rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, Bộ Chính trị Trung ­ương Đảng đã quyết định: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người”.[2]

Việc thiết kế và chuẩn bị thi công xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tiến hành khẩn trương ngay từ đầu năm 1970. Yêu cầu cao nhất đối với việc xây dựng Lăng là phải giữ gìn nguyên vẹn, lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tránh được mọi ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu, đồng thời đảm bảo sức khoẻ và đi lại thuận tiện của nhân dân khi đến viếng Bác. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phải hiện đại, có cấu trúc hài hoà, mỹ thuật, có phong cách dân tộc, trang nghiêm mà giản dị.

Đông đảo kiến trúc sư, kỹ sư và cán bộ ở nhiều cơ quan thiết kế các ngành và quân đội… đã đem hết khả năng và trí tuệ của mình để nghiên cứu phương án thiết kế Lăng. Trong một thời gian ngắn, Ban Tổ chức cuộc thi đã nhận được hơn 200 phương án thiết kế của 16 đơn vị, ngành và cá nhân gửi dự thi; 24 phương án có nhiều ưu điểm nhất đã được sơ tuyển và trưng bày. Ban Tổ chức đã trưng bày, lấy ý kiến cùng một lúc tại 5 địa phương: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La và Nghệ An. Cuộc trưng bày ở 5 địa điểm trên đã thu hút 745.487 lượt người đến tham quan và có hơn 34 ngàn ý kiến tham gia. Nhiều ý kiến của các kiến trúc sư, nhà văn hoá, các bậc lão thành cách mạng, đồng bào và tầng lớp nhân dân ở hai miền Nam – Bắc, kiều bào Việt Nam sinh sống ở nước ngoài đã gửi về đóng góp và bổ sung cho các phương án thiết kế.

Tháng 4 năm 1971, trên cơ sở thiết kế của các chuyên gia Liên Xô và phương án thiết kế của ta, kết hợp với sự tham gia góp ý của đông đảo các tầng lớp nhân dân, Bộ Chính trị – Trung ương Đảng đã quyết định chọn phương án thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là phương án của sự kết hợp nhiều phương án tổng hợp lại: Khối chính của Lăng đặt trên bệ tam cấp gần gũi, thân thuộc phong cách kiến trúc Việt Nam; thân Lăng gợi hình dáng ngôi nhà 5 gian giản dị; mái Lăng có hình vát, gợi lên đường nét kiến trúc cổ kính đình làng, nơi hội tụ của mỗi tâm hồn quê hương Việt Nam.

Sau những lần phải trì hoãn do chiến tranh, ngày 2 tháng 9 năm 1973, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khởi công xây dựng tại Quảng trường Ba Đình – nơi Người đã đọc bản Tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông nam Á, đồng chí Đỗ Mười, Phó Thủ tướng Chính phủ được cử là Trưởng ban xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bộ Quốc phòng và Bộ Kiến trúc được giao là lực lượng chủ công, nòng cốt trong quá trình tổ chức thi công. Cùng với đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã cử những chuyên gia giỏi sang Việt Nam giúp đỡ ta xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi việc giúp đỡ Việt Nam là nghĩa vụ, tình cảm quốc tế cao cả của những người cộng sản.

Ngày 29/8/1975, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành giữa Ba Đình lịch sử. Từ Quảng trường Ba Đình nhìn lên, Lăng Bác uy nghi mà giản dị, toàn bộ khối Lăng mang hình dáng cách điệu của một đài sen, được chia thành 3 phần: Mái, cột và nền. Mái và các cột bằng đá hoa cương màu xám bạc, chịu được nắng, mưa và khí hậu khắc nghiệt của miền nhiệt đới. Nền Lăng cấu trúc tam cấp được ốp bằng đá hoa cương màu xám đen. Sự khác nhau giữa hai màu đá tôn dáng của Lăng thêm vững chắc. Phía trong hàng cột là thân Lăng, đó là phòng đặt thi hài Bác, toàn bộ mặt ngoài được ốp đá hoa cương màu đỏ sẫm. Mái Lăng được xếp tam cấp, bốn góc chếch đầu đao, có dáng dấp như mái chùa cổ kính tôn nghiêm mà quen thuộc.

Công trình Lăng với dòng chữ: “CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH” trên mái Lăng được ghép bằng đá ngọc ở vùng Cao Bằng, cửa chính của Lăng được ốp bằng đá ngọc bích, các bậc cầu thang được lát bằng đá hoa cương, tất cả tường và cột phía trong được ốp bằng đá cẩm thạch. Riêng tường chính tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng tương, làm nền cho dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và chữ ký của Bác, dòng chữ và chữ ký được mạ vàng sáng nổi lên rực rỡ – đây cũng chính là ước nguyện, là khát vọng và là tư tưởng xuyên suốt của Bác từ khi rời Bến cảng Sài Gòn đi tìm đường cứu nước đến khi là vị Chủ tịch Nước, cả một đời đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc.

Phòng Bác yên nghỉ được ốp bằng đá cẩm thạch Hà Tây, Bác nằm đầu hướng về bức tường có lá cờ Tổ quốc và cờ Đảng. Cờ Đảng bên trái, cờ Tổ quốc bên phải, dài 5,9m, rộng 2,5m, ghép bằng 4.000 miếng đá hồng ngọc Thanh Hóa màu đỏ thắm, ngôi sao vàng năm cánh và búa liềm ghép bằng đá cẩm vân màu vàng sáng.

Góp phần vào hoàn thiện công trình Lăng Bác là những khối gỗ quý của đồng bào Nam Bộ, được các nghệ nhân tài hoa từ các tỉnh Nghệ An, Nam Hà, Hà Bắc xẻ bằng tay, với những kỹ thuật tinh xảo đóng thành 200 bộ cánh cửa. Cửa ra lễ đài được ốp đá, những cửa tiếp giáp với nắng được quét nhựa chống nứt. Ngoài đồ gỗ, trong Lăng còn dùng các kim loại để trang trí như nhôm làm trần, đồng làm tay vịn, lưới gió…Mỗi vật liệu đưa vào trang trí đều được Hội đồng thẩm định chất lượng kiểm tra thử nghiệm chặt chẽ.

Lễ đài chính dùng cho những cuộc diễu binh, duyệt binh lớn của cả nước được xây dựng gắn với Lăng, phía trên cửa chính của Lăng, so với phòng Bác nằm thấp hơn. Hai bên là hai lễ đài, đặt thẳng hàng với lễ đài chính tạo sự cân đối cho cả khối công trình.

Trước cửa Lăng có hai cây Đại, tượng trưng cho sự thanh khiết, thiêng liêng, trường tồn, do các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trồng khi khánh thành Lăng Bác, mỗi bên lễ đài trái, phải trồng 9 cây vạn tuế như hàng tiêu binh đứng trang nghiêm ngày đêm giữ yên giấc ngủ của Người.

Phía sau Lăng, ở hai bên là bức tường lưu niệm ốp bằng đá hoa cương đỏ, sau tường trồng 19 cây ngọc lan, hoàng lan tỏa hương thơm ngát, trước tường có 8 ô vuông trồng hoa hồng bốn mùa xanh tốt.

Phía trước Lăng là đường Hùng Vương và Quảng trường Ba Đình. Đường Hùng Vương dài hơn 1.000m. Phía trước, cách Lăng 49m là cột cờ với chiều cao 25m. Kể từ ngày 19/5/2001, nhân kỷ niệm 111 năm ngày sinh của Người, được phép của Thủ tướng Chính phủ, hàng năm 365 ngày đều đặn, không kể mưa hay nắng, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trọng thể, trang nghiêm trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thảm cỏ thiên nhiên trên Quảng trường Ba Đình dài 320m, rộng 100m, chia thành 240 ô cỏ xanh tươi là hình tượng những chiếc chiếu trải trên sân đình ở các làng quê Việt Nam xưa, giữa các ô có đường đi lại, rộng 1,4m được lát bằng những tấm bê tông sỏi nổi. Những viên sỏi mà các em học sinh của tỉnh miền núi phía Bắc nhặt từ lòng suối, rửa sạch sẽ để lát quanh Lăng và Quảng trường Ba Đình. Dưới các thảm cỏ của Quảng trường có các tầng lọc nước, mạng ống và mương ngầm, đi đôi với hệ thống thoát nước, có hệ thống cấp nước. Hệ thống cấp nước phục vụ cho các nhu cầu cần thiết của hệ thống kỹ thuật. Phía Bắc giáp đường Phan Đình Phùng, phía Nam giáp đường Trần Phú, phía Tây của Quảng trường là khu lưu niệm Hồ Chủ tịch – Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngôi nhà sàn là nơi ở của Người, ao cá, vườn cây, rặng dừa, những hàng rào dâm bụt… Tất cả đã đi vào thơ ca Việt Nam.

Trên mảnh đất Ba Đình lịch sử này – nơi Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà – nơi Bác đã ở và làm việc 15 năm cuối cùng của cuộc đời vì nước, vì dân. Bên cạnh công trình Lăng còn có Bảo tàng Hồ Chí Minh và Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, tạo nên một quần thể thống nhất Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình. Mặc dù chức năng, nhiệm vụ tổ chức khác nhau, nhưng có một điểm chung tổ chức đón tiếp, tuyên truyền. Ngày 16/6/1999 Thường vụ Bộ Chính trị đã ra thông báo số 224/TB-TW về tổ chức việc quản lý và các hoạt động của Cụm di tích lịch sử – văn hoá khu Ba Đình, ngày 25/2/2000 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 28/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo phối hợp hoạt động Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình.

Hàng năm, cứ mỗi độ Tết đến Xuân về, hoa Mai vàng như thay cho lời chúc mừng năm mới của Đảng bộ, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân Nam bộ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đáp lại tình cảm đó, hàng năm Ban Quản lý Lăng đã gửi tặng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân Nam bộ sắc đỏ hoa đào thay lời cảm ơn và chúc mừng năm mới may mắn, tốt lành. Mùa xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội vẫn luôn có sắc thắm đỏ hoa đào, sắc vàng hoa mai như tượng trưng cho mối gắn kết keo sơn, tình nghĩa anh em ruột thịt của nhân dân hai miền Nam – Bắc. Và hơn thế nữa là tấm lòng thuỷ chung, đồng sức đồng lòng cùng hướng về Thủ đô, về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình lịch sử – nơi hội tụ tinh hoa của cả dân tộc, biểu tượng cho tinh thần đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc nhân dân và quyết tâm xây dựng đất nước ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Chủ tịch Hồ Chí Minh h»ng mong muốn.

Quyết định đúng đắn và sáng suốt của Bộ Chính trị đối với việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác, xây dựng công trình Lăng của Người không những là quyết định hợp lòng dân mà còn là thể hiện một tư tưởng chính trị: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi nhân dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác đến chiêm ngưỡng để tỏ lòng biết ơn Hồ Chủ tịch, quyết tâm đi theo con đường cách mạng do Người vạch ra và kế tục sự nghiệp cách mạng của Người. Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là biểu tượng tập trung nhất của ý chí chiến đấu quật cường vì độc lập dân tộc – “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, và là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là tư tưởng lớn nhất, sâu sắc nhất, xuyên suốt nhất, làm nổi bật ý nghĩa chính trị tư tưởng của một công trình đặc biệt, và là tư tưởng chỉ đạo mọi hoạt động của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày nối ngày, dòng người vẫn nối dài tưởng như bất tận để được vào Lăng viếng Bác, từ cụ già đến các cháu thiếu nhi, từ người dân bình thường đến cán bộ, công chức Nhà nước, tuy mỗi người có tâm trạng khác nhau nhưng khi về bên Bác đều thấy thanh thản, bình yên. Tính đến nay có hơn 40 triệu lượt người, trong đó có hơn 7 triệu lượt khách nước ngoài của hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng của Người, trở thành nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của các thế hệ người Việt Nam đối với Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của Việt Nam. Đây còn là một điểm đến hấp dẫn của mỗi người nước ngoài khi tới Việt Nam. Nhiều người nước ngoài khi đến Việt Nam, đứng trước Lăng của Người đã từng thốt lên:“ Hiếm có Lãnh tụ nào trên thế giới được nhân dân mến mộ như Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Lúc này chỉ cần nhìn vào dòng người đi viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể thấy được đất nước của các bạn ổn định, yên bình như thế nào”.

Những năm gần đây, nhờ thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế trong nước có sự tăng trưởng, hệ thống giao thông được mở mang, đời sống nhân dân được cải thiện, điều kiện đi lại của dân được thuận lợi hơn, nhưng không phải là điều quyết định, mà chính là do tình cảm, nguyện vọng tha thiết của nhân dân mong muốn được về bên Người. Đó chính là sự thành kính, lòng biết ơn vô hạn đối với Bác, nguyện trung thành, mãi mãi đi theo con đường mà Bác đã lựa chọn. Đồng chí Đỗ Mười nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nói: “Chúng ta thật hạnh phúc vì có Bác, được thấy Bác nằm yên nghỉ trong Lăng giữa Ba Đình, như tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta vượt qua những khó khăn, xây dựng đất nước to đẹp hơn, đàng hoàng hơn như điều Bác hằng mong muốn”.

Ở Lăng Bác, ngoài việc tổ chức lễ viếng hàng ngày, còn diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của Đảng, Nhà nước; nơi tổ chức các buổi mít tinh, diễu binh, diễu hành mừng các ngày lễ lớn của đất nước, dân tộc; nơi thường xuyên tổ chức các sinh hoạt chính trị, văn hoá, nghệ thuật, báo công, giao ước thi đua, kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn, kết nạp Đội… nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tình cảm kính yêu, biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và là nơi hun đúc chí khí cách mạng của các thế hệ người Việt Nam. Những năm gần đây, một số loại hình sinh hoạt chính trị mới như đặt hoa trư­ớc ngày cư­ới của nam nữ thanh niên, lễ tuyên thệ trư­ớc khi nhận nhiệm vụ mới, khai giảng năm học mới của các trư­ờng phổ thông, đặc biệt từ ngày 19/5/2001, được phép của Thủ tướng Chính phủ, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trọng thể, trang nghiêm trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy tốt tác dụng giáo dục truyền thống. Biểu tượng của Tổ quốc với hình ảnh của Lãnh tụ được hoà quyện vào nhau càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Là một công trình có ý nghĩa lịch sử, chính trị và văn hóa to lớn, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ trường tồn mãi cùng đất nước Việt Nam, là trái tim của trái tim Việt Nam, là nơi hội tụ những tinh hoa về kiến trúc và không gian văn hóa của Thủ đô Hà Nội – mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến. Là công trình trung tâm trong Cụm Di tích Lịch sử – Văn hoá Ba Đình, Lăng Bác đã trở thành địa chỉ hướng đến đầu tiên của du khách mỗi khi tới Thủ đô Hà Nội, là nơi hội tụ tình cảm và niềm tin của nhân dân cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài và khách quốc tế đến Việt Nam.

Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người luôn cổ vũ, động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người và dân tộc đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại.

_________________________

[1] Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội – 1989 trang 50.
[2] Nghị quyết BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ngày 29/11/1969.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương
Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng

bqllang.gov.vn