Tag Archive | Độc lập

Ngày 15-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 15-7-1911, từ cảng Marseille, theo tàu Amiral Latouche Tréville, Nguyễn Tất Thành kết thúc hải trình đầu tiên khi cập bến cảng Le Havrre ở miền Bắc nước Pháp.

Ngày 15-7-1948, Bác gửi thư đến Hội nghị Văn hóa Toàn quốc lần thứ hai họp tại Phú Thọ, nêu rõ: “Trong sự nghiệp vĩ đại kháng chiến kiến quốc của dân tộc ta, văn hóa gánh một phần rất quan trọng… Nhiệm vụ của văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của quốc dân, mà còn phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới. Các nhà văn hóa phải có những tác phẩm xứng đáng, chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền lịch sử oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho hậu thế”.

Ngày 15-7-1950, Báo Sự Thật đăng bài “Phải sửa chữa căn bệnh cấp bậc” của Bác (ký tên XYZ), trong đó nêu rõ căn bệnh này có nguyên nhân: “Vì cán bộ chưa gột sạch óc quan liêu ngôi thứ; vì còn mang nặng chứng “quan cách mạng”; vì không hiểu rằng trong công việc cách mạng, công việc kháng chiến kiến quốc không so việc sang, việc hèn, mọi việc đều quan trọng… Thang thuốc hay nhất để chữa căn bệnh ấy là: Dùng cách phê bình và tự phê bình để rửa sạch đầu óc ngôi thứ, địa vị và chủ nghĩa cá nhân. Đặt công việc chung, lợi ích chung lên trên hết, trước hết”.

Ngày 15-7-1960, Bác tham dự kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa II và được toàn thể Quốc hội tín nhiệm tái giữ chức Chủ tịch nước. Trong lời phát biểu kết thúc kỳ họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Để xứng đáng với vinh dự to lớn là người đầy tớ tuyệt đối trung thành của nhân dân, các đại biểu Quốc hội và cán bộ chính quyền cần phải thực hành: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; gương mẫu về mọi mặt: Đoàn kết, công tác, học tập, lao động; luôn giữ vững tác phong khiêm tốn, chất phác hòa mình với quần chúng thành một khối”.

Ngày 15-7-1969, tiếp và trả lời phỏng vấn của nhà báo Charles Fourniau, đại diện thường trú của Đảng Cộng sản Pháp tại Hà Nội, Bác bày tỏ: “Lúc đầu, chính là do chủ nghĩa yêu nước mà tôi tin theo Lê-nin. Rồi từng bước một, tôi đi đến kết luận rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới… Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lê-nin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi như đồng chí đã biết…”. Đây cũng là cuộc trả lời phỏng vấn trực tiếp cuối cùng của Bác./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình cảm của bè bạn quốc tế khi đến viếng Ng­ười

Tại diễn đàn Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (Hà Nội – 1990), Tiến sĩ A.Atmet, Giám đốc Unesco khu vực Châu Á – Thái Bình Dương – đại diện đặc biệt của Tổng Giám đốc Unesco đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không chỉ là người giải phóng cho tổ quốc và nhân dân bị áp bức mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một tương lai hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”.

Trọn cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hy sinh cho hạnh phúc của cả dân tộc. Người quan tâm đến cuộc sống của mỗi con người nhưng không đòi hỏi gì cho riêng mình, không muốn nói về mình, không muốn nghe mọi người ca ngợi mình. Tất cả những phẩm chất cao quý, những nét đặc sắc thanh cao ấy đã kết thành sự vĩ đại của Người – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn. Chính vì vậy, ngay cả khi Người còn sống và sau khi Người qua đời đã có hàng ngàn, hàng vạn bài viết, những lời phát biểu đánh giá cao về sự nghiệp cách mạng, tư tưởng và đạo đức của Người.

Quảng trường Ba Đình vẫn vẹn nguyên như khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập của cả dân tộc trước sự chứng kiến của nửa triệu người Hà Nội ngày 2-9-1945, chỉ khác biệt ở chỗ là sự hiển diện của Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trang ngiêm đứng ở phía Tây của Quảng trường. Lòng tin và sự kính trọng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể nhìn thấy trên gương mặt của từng người khách tham quan đến từ mọi miền đất nước Việt Nam và khắp nơi trên thế giới, những người đã xếp hàng dài vài trăm mét để chờ đợi đến lượt mình bày tỏ lòng kính trọng đối với Người. Những dòng người vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một thêm dài bất tận. Theo số liệu thống kê của Ban Quản lý Lăng, từ ngày mở cửa Lăng 29-8-1975 đến nay đã có hơn 40 triệu lượt người vào Lăng viếng Bác, trong đó có hơn 7 triệu lượt người nước ngoài đến từ 160 quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế. Không phân biệt quốc tịch, màu da, không phân biệt tôn giáo, đảng phái chính trị, mọi người đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh đều với một tình cảm kính trọng và yêu mến. Hầu hết các Đoàn nguyên thủ quốc gia, các đoàn đại biểu cấp cao các nước, khách du lịch khi đến thăm chính thức Việt Nam, đến làm việc hoặc tham quan Thủ đô Hà Nội đều dành thời gian đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh để viếng Người.

Có nhiều cách bạn bè quốc tế thể hiện tình cảm đối với Người: Có những dân tộc theo phong tục không được gặp mặt người đã mất, nhưng với lòng kính yêu Bác Hồ, họ vẫn đến trước Lăng để đặt vòng hoa tưởng niệm Người; có những đất nước như nước Cộng hoà U-krai-na, với mỗi đoàn đến viếng Bác, họ đều đặt vòng hoa viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đúng màu cờ của nước mình. Nhưng nhiều nhất vẫn là những dòng cảm tưởng khi đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh của khách tham quan, của bè bạn quốc tế ngày một thêm trang phần nào nói lên tình cảm của bè bạn quốc tế đối với Người.

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vĩnh biệt chúng ta. Nhân dân Việt Nam và cả thế giới tiếc thương Người:

Ngài Hu-a-ri Bu-mê-điêng – Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa An-giê-ri dân chủ, đã ghi vào trang đầu sổ tang ngày 4-9-1969: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà cách mạng đầu tiên đã chiến đấu chống những hình thức khác nhau của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc và là một trong những người mà bằng lời nói và hành động của mình, đã đập tan cơ cấu của sự tàn bạo và góp phần vào sự nghiệp chính nghĩa của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, đã giành lại nhân cách của mình trên lĩnh vực tinh thần, ngôn ngữ và kinh tế để làm cho các dân tộc đoàn kết lại với nhau, tiến tới một nền hòa bình mà đặc điểm của nó là tự do và đoàn kết, thống nhất.

Người mất đi là thế giới thứ ba mất một người dũng cảm vì cuộc chiến đấu của Người cũng là cuộc chiến đấu của tất cả các dân tộc bị áp bức của châu Phi, của Pa-le-xtin, của Việt Nam, của Châu Á và của thế giới thứ ba, để giành lại phẩm cách và danh dự cho mình. Cuộc đấu tranh đó sẽ còn tiếp tục cho đến thắng lợi hoàn toàn và Người sẽ vẫn là tượng trưng cao cả nhất cho cuộc đấu tranh này.

Mong rằng tấm gương của Người và cuộc chiến đấu của Người sẽ là kim chỉ nam hành động cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh, cho thanh niên và cho các nhà lãnh đạo trên thế giới”.

Ngài Ap-đen Rát-man Ê-li-ri-a-li – Chủ tịch nước Cộng hòa Y-ê-men đã gửi điện chia buồn ngày 5-9-1969: “Chủ tịch Chủ Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ và người chiến sỹ vĩ đại đã dâng hiến cả cuộc đời cho tự do và công lý. Chúng tôi cảm thấy Châu Á đã mất đi một vị tư lệnh kiên cường, nhưng chúng tôi tin tưởng rằng sự nghiệp vĩ đại của Người mà nhân dân Việt Nam anh hùng cùng nhân dân các nước đang tiếp tục phấn đấu để thực hiện nhất định sẽ giành được thắng lợi to lớn”.

Thủ tướng Ấn Độ, P.J.Nê-ru đã viết trên Báo “Người yêu nước” của Ấn Độ, ngày 14-9-1969: “Người không chỉ là một con người yêu hòa bình mà còn là một nhân vật đặc biệt đáng yêu và hữu nghị, một con người không nghĩ gì đến mình, giản dị và khiêm tốn. Là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Người không chỉ giam mình trong tháp ngà. Về cơ bản, Người là một con người quần chúng, một lãnh tụ có sự kết hợp hiếm có giữa lòng khoan dung tột độ và ý chí kiên quyết. Nhận xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào Người cũng là một nhân vật nổi bật nhất trong thời đại chúng ta”.

Chủ tịch Hội đồng Hoà bình thế giới Rô-met Chan-dra đã phát biểu nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“ Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do
Ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao.
Bất cứ nơi nào chiến đấu cho hoà bình và công lý
Ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao.
Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo
Ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao…”.

Sau khi Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành, số lượng khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm này luôn cao hơn năm trước. Dưới đây là những dòng cảm tưởng khi bè bạn quốc tế đến viếng Người:

Đoàn đại biểu Uỷ ban Văn hoá Đảng Cộng sản Mỹ, ngày 5-3-1983 đã ghi vào sổ cảm tưởng: “Chúng tôi có vinh dự lớn được thay mặt cho Uỷ ban Văn hoá Đảng Cộng sản Mỹ, cùng với nhân dân Việt Nam anh hùng đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh bất tử. Người luôn là nguồn cổ vũ lớn đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình, với tất cả những người đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc và với tất cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Hôm nay là một ngày xúc động nhất và tôi chia sẻ điều đó với Đảng và nhân dân nước tôi.

Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam anh dũng và để tưởng nhớ Người, chúng tôi luôn mong muốn cho sự đoàn kết bền chặt giữa hai dân tộc Mỹ – Việt”.

Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Ấn Độ, ngày 19-12-1989: “Được vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một niềm vinh dự to lớn của chúng tôi. Xin được bày tỏ lòng kính trọng của mình tới một nhân cách vĩ đại – Người đã cổ vũ và lãnh đạo nhân dân đất nước mình giành độc lập tự do cho dân tộc. Người đã đóng góp công lớn cho hoà bình và đoàn kết giữa các nước trên thế giới”.

Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Trương Đức Duy, ngày 30-12-1990 đã viết: “Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc đời cách mạng, cuộc đời vĩ đại, cuộc đời vẻ vang. Thật đáng khâm phục và đáng kính trọng biết bao nhiêu! Sau khi viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi thật vô cùng xúc động. Xin viết mấy dòng tỏ lòng tưởng nhớ:

Lãnh tụ vĩ đại
Công bộc nhân dân
Anh hùng dân tộc
Chiến sỹ quốc tế
Cả đời cách mạng
Cống hiến hết mình
Đức cao vọng trọng
Sáng như nhật nguyệt
Quý tình trọng nghĩa
Hữu nghị Trung – Việt
Bạn thân Hoa Hạ
Muôn đời truyền mãi”.

Đoàn đại biểu Cơ quan Giám sát hành chính Ai Cập, ngày 10-3-1998: “Thay mặt cho Cơ quan Giám sát hành chính Ai Cập, xin cảm ơn đất nước Việt Nam đã đón tiếp chúng tôi nồng nhiệt. Đây là nơi ghi lại cuộc đấu tranh chống đế quốc và đây là biểu tượng của các dân tộc thế giới thứ ba, biểu tượng đó chính là Hồ Chí Minh vĩ đại – là biểu tượng tình đoàn kết giữa hai nước để đạt được những tiến bộ không ngừng vì lợi ích của nhân dân hai dân tộc Ai Cập – Việt Nam”.

Ngài Mohamad Ismail Mahshoor – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Ap-ga-ni-xtan tại Việt Nam: “Ở nước tôi, nhân dân biết tới Bác Hồ như một người chiến sỹ đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và sự tàn bạo. Bác Hồ là tấm gương sáng cho thanh niên Ap-ga-ni-xtan vì lòng yêu nước và sự cống hiến vô hạn cho nhân dân. Trẻ em Ap-ga-ni-xtan biết về Người như biểu tượng của lòng tốt, một người ông yêu trẻ. Trong sách báo chúng tôi có in rất nhiều hình ảnh Bác Hồ gặp thanh, thiếu niên với tình cảm rất mực yêu thương. Sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm, cứu nước của Bác Hồ là chủ đề nghiên cứu của những người yêu nước chúng tôi. Bác Hồ sẽ sống mãi trong trái tim của nhân loại”.

Gặp gỡ những vị khách nước ngoài đến thăm Cụm Di tích Lịch sử – Văn hóa Ba Đình trong những ngày tháng Tư này, chúng tôi đều thấy sự ngưỡng mộ và lòng kính trọng sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt nam.

Anh Giôn Hatđinh, người Ô-xtrây-lia, đang làm việc tại tờ Thời báo kinh tế Việt Nam nói: “Ông là một người có ảnh hưởng rất lớn không những đối với nhân dân Việt Nam mà còn đối với nhân dân của rất nhiều nước trên thế giới, không chỉ khi ông còn sống mà ngày nay cũng vậy. Mặc dù mỗi nước có một ngôn ngữ riêng nhưng khi bạn hỏi người nước ngoài về Việt Nam thì chắc chắn rằng họ sẽ nhắc đến Hồ Chí Minh trong câu trả lời”.

Anh Hatđinh đã gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Charisma”, từ chỉ những vị lãnh tụ có uy tín, có sức hút đối với quần chúng nhân dân. Theo anh, nhiều dân tộc trên thế giới có các anh hùng dân tộc nhưng không phải nước nào cũng có “Charisma”.

Anh Lơgêrốt, người Pháp, đang làm việc cho một dự án tại Hà Nội, khoe rằng anh rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh nên mỗi lần đến Hà Nội anh đều dành thời gian đi thăm quần thể Lăng, Bảo tàng và Khu Di tích của Người. Anh nói: “Hồ Chí Minh là biểu tượng cách mạng không chỉ của nhân dân Việt Nam mà còn của cả nhân loại. Vai trò của ông đối với đất nước Việt Nam là hết sức to lớn. Thật ấn tượng khi ông đã hiến dâng cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì hòa bình, vì hạnh phúc cho người dân trong khi không mảy may nghĩ đến lợi ích riêng tư”.

Một vài dòng trên đây cũng không nói được nhiều, chỉ mong rằng qua đây mọi người thấy rõ thêm phần nào về tình cảm và sự kính trọng của bè bạn thế giới đối với Bác kính yêu.

Nguyễn Thị Lan Hương
Văn phòng Ban Quản lý Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Ngày 25-7: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 25-7-1922, “Bức thư ngỏ” của Nguyễn Ái Quốc gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Albert Sarraut được công bố trên báo “L’Humanité”(Nhân Đạo). Ngày 25-7-1945, từ Chiến khu Việt Bắc, thông qua viên chỉ huy đơn vị Tình báo Chiến lược Mỹ OSS A.Thomas, lãnh tụ Hồ Chí Minh đưa ra thông điệp đối với Chính phủ Pháp về nền độc lập của nhân dân Việt Nam sau khi đánh đổ phát xít Nhật ở Đông Dương, gồm 5 điểm: Xây dựng một nghị viện hỗn hợp Pháp – Việt trong quá trình hướng đến một nền độc lập hoàn toàn; quá trình đó xác định khoảng 5 năm và tối đa 10 năm; các nguồn lợi thiên nhiên phải được trả lại cho nhân dân; Việt Nam được hưởng mọi quyền tự do mà Liên hiệp quốc đã ban bố; cấm chỉ việc bán thuốc phiện.

Ngày 25-7-1949, kết thúc phiên họp của Chính phủ, khi đề cập đến nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, Bác nhận định: “Cũng như chim muốn bay cần phải có hai cánh, một cuộc chiến tranh muốn thắng lợi cần phải có hai lực lượng chính: Quân sự và chính trị. Ông Tôn Tử là một người thao lược giỏi nhất trong lịch sử và trong thế giới, có nói: Biết địch, biết ta, trăm trận, trăm thắng. Vậy ta cần phải biết Pháp, biết ta… Giặc Pháp mù quáng về chính trị, thoái bộ về quân sự. Cả hai cánh của họ đã yếu và chỉ có thể đưa họ đến thất bại. Bên ta, chính trị rõ ràng, quân sự tiến bộ mãi. Hai cánh của ta rất mạnh, ngày càng mạnh thêm, cho nên ta nhất định thắng lợi. Thêm vào đó, tình hình thế giới rất có lợi cho ta. Cánh ta đã vững, gió lại thuận chiều, quân và dân ta hãy cố gắng lên. Thắng lợi vẻ vang đã gần trước mắt”.

Ngày 25-7-1956, nói chuyện tại Liên hoan Thanh niên tích cực ngành Đường sắt, Bác khuyên: “Nếu không học văn hóa, không có trình độ văn hóa thì không học tập được kỹ thuật. Không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp được nhu cầu kinh tế nước nhà. Nhưng phải chú ý học tập chính trị vì nếu chỉ học văn hóa, kỹ thuật mà không có chính trị thì như người nhắm mắt mà đi”.

Ngày 25-7-1963, kỷ niệm 10 năm ngày Khởi nghĩa Moncada, Bác gửi điện mừng tới các nhà lãnh đạo Cuba, khẳng định: “Nhân dân Việt Nam rất tự hào có người bạn chiến đấu là nhân dân Cuba anh hùng và coi những thắng lợi của nhân dân Cuba cũng như những thắng lợi của bản thân mình”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 5-8: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 5-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nỗ lực để cứu vãn sự bế tắc của Hội nghị Fontainebleau bàn về quan hệ Việt – Pháp bằng các cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Quốc hội, lãnh tụ Đảng Xã hội Vincent Auriol, Chủ tịch Hội Nhân quyền Pháp, GS. Emile Kalm, cùng một số nghị sĩ…

Tài liệu “Nhật ký hành trình” thuật lại công việc vị Chủ tịch nước Việt Nam đã làm: “Mỗi ngày, Cụ xem chừng 25 tờ báo, báo sáng, báo chiều, báo hàng tuần, báo ngoại quốc. Báo có tin tức gì hay, Cụ lấy bút chì đỏ làm dấu, rồi bảo anh em xem. Hôm nào nhiều khách thì Cụ thường thức xem báo đến hai giờ sáng. Anh em tùy tùng và các bác sĩ, cho đến cả vợ chồng ông Aubrac (chủ nhà) thấy Cụ thức khuya dậy sớm quá, ra sức khuyên Cụ đi nghỉ sớm. Nhưng không có kết quả mấy!”.

Ngày 5-8-1947, nhân dịp Đại hội Báo giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng và khích lệ: “Từ ngày kháng chiến, tuy hoàn cảnh khó khăn, các bạn đã cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Thế là tốt lắm, nhưng các bạn cần phải cố gắng thêm”. Rồi Bác nhắc nhở: “Lời lẽ phải phổ thông, dễ hiểu, đường hoàng, vui vẻ, làm cho người xem báo có thú vị mà lại có bổ ích. Chiến sĩ ngoài mặt trận thì dùng súng chống địch, các bạn thì dùng bút chống địch. Kháng chiến nhất định thắng lợi và thành công”.

Cùng ngày, Bác ký sắc lệnh quy định chức Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia (lúc này là Võ Nguyên Giáp) có quyền hạn và chức vụ như một bộ trưởng và là một thành viên trong Hội đồng Chính phủ.

Tháng 8-1948, Bác viết thư gửi ông Trưởng ty Bình dân học vụ Hà Tĩnh khen việc “tỉnh Hà Tĩnh đã có mấy làng thanh toán nạn mù chữ”. Bác cũng có thư gửi đồng bào Quỳnh Côi (Thái Bình), huyện đầu tiên trong cả nước đã thanh toán nạn mù chữ, trong đó Bác khẳng định: “Đó là một thắng lợi vẻ vang. Thắng lợi đó là do sự săn sóc của các vị phụ lão, thân hào, thân sĩ; do sự giúp đỡ của các cơ quan đoàn thể; do sự tận tụy của nam nữ giáo viên; do lòng hăng hái của toàn thể đồng bào trong huyện. Chúng ta cũng phải nhắc đến sự đôn đốc của Nha và Ty Bình dân học vụ”.

Ngày 5-8-1965, nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Quân chủng Hải quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bác viết thư bày tỏ: “Bác rất vui lòng khen ngợi thành tích vẻ vang về xây dựng và chiến đấu của các chú. Tuy còn non trẻ, Hải quân ta đã anh dũng chiến đấu, tích cực tiêu diệt địch, bắn rơi máy bay và đánh đuổi tàu chiến Mỹ, đoàn kết lập công, bảo vệ nhân dân, bảo vệ vùng trời và vùng biển của Tổ quốc. Các chú đã nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc ta…”.

Ngày 5-8-1968, nhân ngành Hậu cần Quân đội tổ chức hội nghị lái xe giỏi và thợ sửa chữa xe giỏi toàn quân, Bác gửi tặng lá cờ thêu mấy dòng đề từ:

“Yêu xe như con
Quý xăng như máu
Vượt mọi khó khăn
Hoàn thành nhiệm vụ”.

Ngày 5-8-1969, Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm ông bà Trịnh Đình Thảo và Đoàn cán bộ của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam vừa ra thăm miền Bắc./.

Huyền Trang (st)
Theo tvad.com.vn

bqllang.gov.vn

Ngày 11-8: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 11-8-1942, trên Báo Việt Nam Độc lập, Nguyễn Ái Quốc đăng bài thơ “Tặng Toàn quyền Đờ-Cu”, đả kích viên toàn quyền thực dân Pháp theo quan điểm đầu hàng của Chính phủ Pétain:

“Non nước Rồng Tiên rõ mịt mù
Lợi quyền phó mặc bố thằng Cu
Đối dân Nam Việt thì lên mặt
Gặp bọn Phù Tang chỉ đội khu
Về Pháp, không còn e chết đói
Ở đây hút máu béo ni-nu
Cũng như Thống chế Pêtanh vậy
Chú cứ cu cù mãi được ru!?”.

Ngày 11 tháng 8-1945, để chuẩn bị triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng, Bác đề nghị: “Nên họp ngay và cũng không nên kéo dài hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng. Không để lỡ cơ hội”, và thúc giục các đại biểu trên toàn quốc sớm về dự.

Ngày 11-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng gia chủ là ông bà Aubrac thăm Cung điện Chantilly, sau đó tiếp J.Sainteny – một chính khách thông hiểu tình hình Việt Nam và có khuynh hướng hòa hoãn.

Ngày 11-8-1961, Bác đi kiểm tra các đoạn đê xung yếu thuộc các xã Đông Mỹ, Sở Thượng, huyện Thanh Trì, Hà Nội, căn dặn lực lượng bảo vệ đê: “Dù nước to đến đâu, cũng phải giữ đê cho chắc. Phải đề phòng mực nước cao nhất, chớ chủ quan khi nước chưa rút hẳn. Phải bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và của cải của nhà nước ở hai vệ sông”.

Ngày 11-8-1963, Báo Nhân Dân đăng bài “Kinh nghiệm “3 xây, 3 chống” của Bác dưới bút danh “Chiến Sĩ”. Bài báo viết: “…Muốn xây dựng một lâu đài mới thì phải phá cái lều cũ ọp ẹp đi. Muốn xây dựng những tiến bộ mới trong nền kinh tế ta thì phải chống những cái cũ kỹ và lạc hậu, ví như chống lãng phí sức người, thời giờ và máy móc…”.

Tháng 8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của nhà báo Australia nổi tiếng W.Burchett về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và đưa ra thông điệp: “…Chúng tôi không có xích mích gì với nhân dân Mỹ. Chúng tôi muốn sống hòa bình và hữu nghị với nhân dân Mỹ. Nhân dân chúng tôi được giáo dục theo tinh thần quốc tế chân chính. Trước đây chúng tôi đã chú ý phân biệt thực dân Pháp với nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình, thì ngày nay chúng tôi cũng chú ý phân biệt nhân dân Mỹ vĩ đại có truyền thống tự do, với bọn can thiệp và bọn quân phiệt ở Hoa Thịnh Đốn đang nâng đỡ chúng”.

Tháng 8-1963, đến thăm Hội nghị Tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” của ngành giáo dục phổ thông và sư phạm, Bác góp ý: Cần chú trọng hơn nữa về đức dục; phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất trong giảng dạy và học tập; tránh lối dạy nhồi sọ, lối học như vẹt; cần kiệm xây dựng nhà trường và căn dặn: “Nhiệm vụ của các cô giáo, thầy giáo rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Muốn làm tròn nhiệm vụ đó thì phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng, lập trường chính trị, phải ra sức đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”.

Ngày 11-8-1965, Bác ra sắc lệnh truy tặng Huân chương Chiến công cho liệt sỹ Nguyễn Bá Ngọc, 13 tuổi, ở xã Quang Trung, Quảng Xương, Thanh Hóa, đã dũng cảm cứu bạn khi máy bay Mỹ bắn phá và anh dũng hy sinh, một tấm gương tiêu biểu của thế hệ thiếu nhi thời “chống Mỹ cứu nước”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

66 năm Cách mạng tháng Tám năm 1945 (19/8/1945) và sự ra đời của một bài ca bất hủ

Cố nhạc sỹ Xuân Oanh

Cách đây 66 năm, tháng 8 năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 đi vào giai đoạn kết thúc. Sau khi tiêu diệt phát xít Đức, Liên Xô chuyển sang tấn công tiêu diệt phát xít phương Đông là Nhật Bản. Phong trào đấu tranh chống Nhật bùng lên mạnh mẽ khiến Nhật Bản lâm vào tình trạng vô cùng nguy khốn. Thời cơ cách mạng đang mở ra trước con đường giải phóng của các dân tộc, Đảng ta đứng trước một cơ hội lịch sử ngàn năm có một, giờ phút có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước.

Trong hoàn cảnh đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) trong 2 ngày 14 và 15 tháng 8 năm 1945 đã giải quyết một vấn đề trọng đại: Quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đại biểu các Đảng bộ từ Bắc, Trung, Nam, từ các chiến khu và khu giải phóng về dự đông đủ. Hội nghị họp vào lúc phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh liền thành lập “Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc” để lãnh đạo khởi nghĩa trong cả nước. Trong tình hình hết sức khẩn trương, Đảng quyết định phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn bù nhìn tay sai của chúng trước khi quân đồng minh Anh, Pháp vào nước ta.

Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào ngày 15/8 gồm hơn 60 đại biểu thuộc các thành phần dân tộc, tôn giáo và các đoàn thể, đảng phái tề tựu trước mái đình Hồng Thái để bàn việc cứu nước, ý chí quyết chiến dâng lên mãnh liệt tại Đại hội Tân Trào. Các đại biểu đều tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng. Đại hội quy định quốc kỳ, quốc ca, 10 chính sách lớn và cử ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, tức là Chính phủ lâm thời sau này. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc, sau bao năm đấu tranh kiên cường vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đã được Đại hội nhất trí bầu làm Chủ tịch.

Nắm được thời cơ thuận lợi, nhiều địa phương đã nổi dậy giành chính quyền từ ngày 14-8. Ngày 15, Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp chỉ thị cho Hà Nội khởi nghĩa. Hà Nội sống trong những ngày rạo rực chuẩn bị nổi dậy, các tầng lớp nhân dân nhất là thanh niên, hăng hái gia nhập các đoàn thể cứu quốc, tuyên truyền cho Việt Minh, thành lập các Đội Tự vệ chiến đấu.

Chiều 17, cuộc biểu tình của Tổng hội công chức biến thành cuộc mít tinh lớn của Việt Minh. Cờ đỏ sao vàng xuất hiện trên tầng hai Nhà hát Thành phố, đại biểu Việt Minh kêu gọi nhân dân đứng dậy giành chính quyền, lật đổ chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim. Ngọn lửa cách mạng bùng cháy, cả Hà Nội bừng bừng khí thế đấu tranh theo lời kêu gọi của Đảng.Cuộc biểu tình làm cho kẻ thù càng thêm hoảng hốt. Trái lại, quần chúng cách mạng phấn chấn, ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa.

Sáng ngày 19, hàng chục vạn nhân dân thành phố rầm rập tiến về Quảng trường Nhà hát Lớn. Đúng 11 giờ trưa, cuộc mít tinh bắt đầu. Lời kêu gọi khởi nghĩa của Đảng được quần chúng đón mừng bằng những tiếng reo hò và những khẩu hiệu hô vang khắp quảng trường:

Thành lập chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam
Việt Nam hoàn toàn độc lập
Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.

Cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành vĩ đại. Dòng người chia thành nhiều ngả, có các Đội Tự vệ chiến đấu dẫn đầu đi chiếm các công sở và chiếm lĩnh các vị trí xung yếu. Cổng phủ khâm sai đóng, nhiều người vượt qua hàng rào sắt nhảy vào bên trong chiếm lấy trụ sở cơ quan đầu não của địch. Cờ đỏ sao vàng được kéo lên cao tung bay trước gió. Ở trại Bảo an ninh, bọn Nhật cho xe tăng và quân lính chặn các ngã đường nhưng chúng không thể ngăn cản được làn sóng người đang cuồn cuộn tiến bước, sẵn sàng đạp bằng mọi trở ngại. Nhân dân Hà Nội đã hoàn toàn làm chủ thành phố của mình. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội đã cổ vũ tinh thần đấu tranh của toàn dân và tác dụng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng của cả nước.

Trong vòng 10 ngày từ 19 đến 28 tháng 8 hầu hết các tỉnh và thành phố đều nổi dậy khởi nghĩa. Phát xít Nhật thua trận, chế độ quân chủ bị lật đổ. Chính quyền trong cả nước hoàn toàn về tay nhân dân ta. Từ đó, ngày 19/8 đi vào lịch sử của dân tộc, là ngày khởi nghĩa của Hà Nội, ngày đánh dấu cao trào Tổng khởi nghĩa trong cả nước, ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Thắng lợi Cách mạng tháng Tám chính là kết quả của một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng lòng yêu nước là những nhân tố căn bản nhất làm nên thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa lịch sử.

Mùa thu này, ca khúc bất hủ “Mười chín tháng Tám” lại vang lên vào một dịp đặc biệt của cả dân tộc Việt Nam, đó là những ngày rạng ngời niềm vui kỷ niệm chiến thắng Cách mạng tháng Tám lịch sử.

“Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày
Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho tương lai
Mười chín tháng Tám khi quốc dân căm hờn kêu thét
Tiến lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung
Mười chín tháng Tám ánh sáng tự do đưa tới
Cờ bay nơi nơi muôn ánh sao vàng
Máu pha tươi đều trên lá cờ bay khắp chốn giang sơn”.

Nhạc sỹ Xuân Oanh – người đã viết nên những lời ca tiếng hát đi cùng lịch sử dân tộc ấy, nay đã không còn. Một chứng nhân lịch sử của dân tộc đã đi xa nhưng ca khúc để đời của ông còn mãi vang vọng theo chiều dài lịch sử dân tộc!

“Đã hơn 60 năm qua đi, nhưng tôi vẫn nhớ như in diễn biến những ngày ấy. Tôi khi đó đang là một chàng thanh niên 23 tuổi, sớm giác ngộ cách mạng, được nhà văn Nguyễn Đình Thi và một số đồng chí khác dìu dắt, hướng dẫn tham gia công tác tuyên truyền cách mạng, cụ thể là đi phát hành các Tờ báo Hồn nước, Cờ giải phóng. Tâm trạng của lớp trẻ chúng tôi lúc đó – nhất là những người ham hoạt động – luôn sôi lên bầu máu nóng muốn làm một điều gì đó đóng góp vào công cuộc cách mạng chung. Sáng sớm ngày 19/8, tôi nhập vào đoàn người đi từ Văn Điển lên Nhà hát Lớn Hà Nội. Mọi người hối hả, khẩn trương và vô cùng phấn khích. Là người yêu thích âm nhạc, trước đó đã từng sáng tác, tôi nảy ý định sáng tác một bài hát ngay trên đường đi. Thế là vừa đi, tôi vừa sáng tác. Được câu nào tôi dạy ngay cho những người quanh tôi hát và nhập vào đoàn người hôm ấy. Họ thuộc và hát trôi chảy, tôi lại nghĩ tiếp câu sau cho đến hết bài. Không hiểu sao, tôi cho ra đời bài hát khá dễ dàng, có thể nói là không mất công nghĩ ngợi nhiều. Sáng tác gần như một mạch. Chính cái không khí lịch sử, tình cảm của đồng bào đã giúp tôi sáng tác nhanh như vậy. Sau đó, tôi cũng không phải sửa chữa gì thêm, bởi mọi người rất hưởng ứng, tâm đắc, chẳng ai có “ý kiến” chỗ nào” – Cố nhạc sỹ Xuân Oanh nhớ lại.

Với giai điệu hào hùng nhịp nhịp bước, ca khúc vang lên người nghe không khỏi bồi hồi xúc động xen lẫn niềm tự hào dâng tràn:

“Người Việt Nam ta giữ vững trong tim lời thề
Mười chín tháng Tám chớ quên là ngày khởi nghĩa
Hạnh phúc sáng tô non sông Việt Nam
Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày
Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho tương lai
Mười chín tháng Tám khi quốc dân căm hờn kêu thét
Tiến lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung”

Khi hỏi về tên bài hát, nhạc sĩ rất “thật thà”: Thú thực, lúc sáng tác trên đường, chẳng nghĩ gì đến tên bài hát, chỉ cố làm sao cho số đông người dễ hát, dễ thuộc. Sau khi hướng dẫn xong cả bài, khi mọi người đã hát trôi chảy, bỗng có một người nói: “Này nhạc sĩ ơi, thế bài hát này tên là gì?”. Khi ấy, tôi mới sực nhớ là chưa có tên. Tôi nghĩ mãi chẳng ra được tên gì, cuối cùng bèn nói: “Hôm nay là ngày 19/8. Lịch sử sẽ ghi nhớ mãi ngày này. Thôi, chẳng cần tìm kiếm gì cho mất công, tên bài là 19 tháng 8”. Sau đó tôi hỏi: “Mọi người thấy thế nào, được không?”. Tất cả thống nhất: “Được đấy, đúng rồi. Hay đấy!”. Thế là tôi yên tâm đặt tên cho đứa con tinh thần của mình. Bài hát Mười chín tháng Tám ra đời “một cách kỳ lạ” như vậy.

Chiều 19-8-1945, bài hát in ở một hiệu sách và phát trên sóng phát thanh lúc nào, ông không biết. Anh em, bạn bè thông báo ông mới hay. Không ai biết, chính những giây phút xuất thần trong thời điểm lịch sử giúp nhạc sĩ Xuân Oanh sáng tác thành công ca khúc “Mười chín tháng Tám”, là bản hùng ca thời đại, cũng là bản hùng ca bất hủ, mãi mãi âm vang đi cùng năm tháng, cổ vũ, động viên toàn dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đi lên phía trước./.

Phương Thúy (tổng hợp)

bqllang.gov.vn

Bài học về lãnh đạo quần chúng làm cách mạng

Chỉ trong vòng nửa tháng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân dân đã nổi dậy đồng loạt tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, “lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(1). Nhận định về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, đồng chí Trường Chinh khẳng định: “Cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”(2).

Cách mạng tháng Tám để lại những bài học lịch sử quý báu. Một trong những bài học luôn có ý nghĩa thực tiễn là bài học về phát động, tổ chức, hướng dẫn quần chúng tạo thành những cao trào sôi nổi hoàn thành những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng.

1. Ý Đảng hợp lòng dân là một cơ sở quyết định để có cao trào cách mạng

Đảng ta là một đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu phấn đấu của Đảng cũng là nguyện vọng của đông đảo quần chúng. Đường lối, chủ trương của Đảng không phải dựa trên ý muốn chủ quan của một bộ phận mà căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước, khả năng, nguyện vọng của quần chúng.

Vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc lúc bấy giờ là thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của phát xít Nhật. Ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, Đảng phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Ý Đảng hợp với lòng dân, khẩu hiệu cứu quốc có sức cổ vũ lớn đối với mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mỗi người dân yêu nước. Khắp các địa phương, từ rừng núi đến đồng bằng, thành thị đều nô nức khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa cướp chính quyền. Được lệnh khởi nghĩa, toàn dân đồng loạt vùng lên với khí thế mãnh liệt của lực lượng chính trị quần chúng đông đảo và lực lượng vũ trang, bán vũ trang. Ở một số địa phương, do điều kiện thông tin liên lạc nên lệnh khởi nghĩa của Trung ương tới muộn, đảng bộ và Mặt trận Việt Minh căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, vào phương hướng hành động của Đảng đã chủ động lãnh đạo quần chúng nổi dậy khởi nghĩa.

Bài học ý Đảng hợp với lòng dân thể hiện rất điển hình trong Cách mạng tháng Tám và được phát triển trong những thời kỳ cách mạng sau đó, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) đến với sự mong chờ khát khao của đồng bào miền Nam đã làm bùng lên phong trào Đồng Khởi. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước đáp ứng nguyện vọng của nhân dân đã tạo nên những phong trào cách mạng trên nhiều lĩnh vực, đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới.

Những sai lầm, vấp váp của Đảng trong tiến hành cải cách ruộng đất, trong việc đề ra kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở Đại hội IV (1976) của Đảng đều có nguyên nhân do Đảng chủ quan, không nắm vững thực tiễn, không nắm bắt được nguyện vọng, khả năng của quần chúng nhân dân. Sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề với sự lãnh đạo của Đảng. Muốn phát huy được tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân, trước hết đường lối, chủ trương của Đảng phải coi lòng dân là một điểm xuất phát quan trọng hàng đầu.

2. Chăm lo đáp ứng nguyện vọng trước mắt và lâu dài của nhân dân

Vào đầu năm 1945, nạn đói diễn ra khủng khiếp ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Hai triệu người chết đói, hàng triệu người khác đang bị đói và có nguy cơ chết đói. Trước tình hình đó, Mặt trận Việt Minh kêu gọi: “Phá kho thóc Nhật cứu đói”. Hàng triệu nông dân nghèo dù chưa giác ngộ cao nhưng để cứu bố mẹ, vợ con và bản thân mình khỏi chết đói đã rầm rộ tham gia cuộc đấu tranh phá kho thóc Nhật. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng nhân dân từ hình thức đấu tranh cho quyền lợi kinh tế hằng ngày đến giác ngộ chính trị, đấu tranh cho độc lập dân tộc. Đi theo Việt Minh cứu nhà cũng chính là đi theo Việt Minh để cứu nước. Đó là nhận thức cụ thể, sâu sắc và biện chứng của nhân dân. Nhân dân được phát động vùng dậy với khí thế hừng hực khởi nghĩa chống Nhật giành chính quyền. Qua sự kiện lịch sử này, đồng chí Lê Duẩn đã rút ra kết luận: “Một khẩu hiệu sát đúng với tình thế cụ thể có sức dấy lên cả một phong trào”(3).

Trong cách mạng XHCN, chúng ta ngày càng nhận thức rõ lợi ích vật chất là động lực trực tiếp. Đảng và Nhà nước ta đã có đường lối, chính sách thường xuyên chăm lo đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, mỗi người cần nhận thức đúng đắn mối quan hệ hài hoà giữa quyền lợi vật chất với quyền lợi tinh thần, lợi ích kinh tế với những vấn đề chính trị xã hội, quyền lợi trước mắt của bản thân, gia đình với mục tiêu chung của đất nước, của cách mạng. Đặc biệt, cần chống những quan niệm sai trái coi lợi ích vật chất là duy nhất, chỉ lo “ích kỷ phi gia”, bàng quan với cuộc sống khó khăn của người xung quanh, với sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc.

3. Nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu xả thân vì nước của cán bộ, đảng viên.

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, người cán bộ, đảng viên vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dám xả thân mình để hoạt động cách mạng. Họ tuyên truyền, vận động, tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người cán bộ, đảng viên đều nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu. Những nơi đòi hỏi phải hy sinh, khó khăn gian khổ thì “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Trong đoàn biểu tình, cán bộ, đảng viên đi hàng đầu. Trong chiến đấu, đảng viên xung phong lên phía trước. Đảng viên luôn nêu gương sáng dẫn dắt, cổ vũ quần chúng đi theo cách mạng. Nhờ vậy, trong Cách mạng tháng Tám, chỉ với 5.000 đảng viên mà Đảng đã phát động, tổ chức, lãnh đạo được phong trào cách mạng rộng lớn của toàn dân.

Sau khi cách mạng thành công, nhất là trong cách mạng XHCN, đảng viên, cán bộ thường được giao các cương vị công tác “có chức có quyền”. Từ đó, xuất hiện không ít “quan cách mạng” như Bác Hồ đã cảnh báo từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, tham nhũng, không những mất uy tín trước nhân dân, làm suy giảm uy tín của Đảng, mà còn đang là lực cản phong trào cách mạng của quần chúng. Tệ nạn này đã trở thành quốc nạn. Đảng phải thực sự dựa vào dân, kiên quyết loại trừ những “quan cách mạng”, làm trong sạch đội ngũ, khôi phục niềm tin của dân với Đảng.

Thấm nhuần nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám thắng lợi, để lại những bài học quý giá luôn nóng bỏng tính thời sự mà chúng ta cần nghiêm túc vận dụng có hiệu quả, đưa cách mạng nước ta tiếp tục giành những thắng lợi mới./.

—————–

(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, NXBCTQG, H.1995, tập 6, tr.159.
(2) Trường Chinh, Cách mạng Tháng Tám, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tập 1, tr.374.
(3) Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội. 1975, tr.46-47.

Huyền Trang (st)
Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

bqllang.gov.vn

Cách mạng tháng Tám và bài học xây dựng nhà nước pháp quyền

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ rũ bùn đứng dậy làm chủ nhân đất nước. Dẫu buổi đầu đầy cam go thách thức nhưng người dân Việt Nam đã tự tay thực hiện quyền làm chủ, cầm lá phiếu bầu nên Quốc hội, chọn những người ưu tú nhất vào bộ máy nhà nước để lãnh đạo nhân dân chống thù trong giặc ngoài giữ vững nền độc lập.

Những kinh nghiệm trong buổi đầu lập nước ấy đang được kế thừa và phát huy trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo đường lối của Đảng.

Năm nay đã vào tuổi 93, Giáo sư Lưu Văn Đạt, Chủ tịch Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam dường như gắn trọn đời mình với sự nghiệp cách mạng mà ông đã nhiệt tình tham gia từ những năm đầu của cuộc kháng chiến kiến quốc. Mấy mươi năm công tác, dù ở cương vị nào, Giáo sư Lưu Văn Đạt cũng thể hiện sự uyên bác của một chuyên gia về pháp luật. Việc ra đời một nhà nước dân chủ ngay sau khi lật đổ ách thống trị thực dân phong kiến là một thành công vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị người cầm lái con thuyền cách mạng. Chính Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền khi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc. Bằng mục tiêu trong sáng, bằng uy tín, tài năng, đạo đức và tinh thần quyết tâm “dù có đốt cháy cả dải Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản quý giá về tinh thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc trong quá trình xây dựng nhà nước cách mạng.

Giáo sư Lưu Văn Đạt chia sẻ: “Điều mà tôi tâm đắc nhất là tinh thần đại đoàn kết dân tộc, trọng nhân tài của Hồ Chủ tịch. Bác nói là ai có tâm huyết thì Bác sẵn sàng tiếp nhận để làm việc cho đất nước. Lúc bấy giờ Đảng viên có bao nhiêu đâu, những người ngoài Đảng thì rất đông. Nhưng những người ngoài Đảng đều là những người ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Đảng và Hồ Chủ tịch. Hầu hết trí thức lúc bấy giờ đều đứng dưới lá cờ của Hồ Chủ tịch, sẵn sàng làm mọi việc giúp ích cho đất nước”.

Nhờ vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng được một Chính phủ đủ sức lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc thành công. Những trí thức phong kiến như Phạm Khắc Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn… rồi những trí thức mới như Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài cũng trở về góp sức xây dựng đất nước.

Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc – nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phân tích: Thắng lợi lớn nhất, triệt để nhất của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là đánh đổ chế độ nô lệ, xây dựng nhà nước kiểu mới, nhà nước do dân và vì dân. Cuộc bầu cử Quốc hội tháng 1/1946 và sau đó là thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu là một bước đi có tính chiến lược, thể hiện sự tài ba của Bác. Bài học lớn trong xây dựng nhà nước của cuộc Cách mạng tháng Tám là sự thay đổi bản chất nhà nước. Nói như Bác Hồ là: “Nhà nước ấy không phải để đè đầu cưỡi cổ dân như chế độ thực dân phong kiến, mà bộ máy Chính phủ từ trung ương đến địa phương phải là công bộc của dân, phục vụ nhân dân”.

Theo Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc, tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến khi Người gửi bản yêu sách 8 điều đến Hội nghị Versaill xây năm 1919. “Tám điểm yêu sách, đầu tiên Cụ chú ý vấn đề pháp luật, trong đó có một câu là “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Trong tác phẩm Đường kách mệnh thì Cụ lại nói là cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều. Đấy chính là quyền làm chủ, quyền lợi, quyền lực. Cuộc bầu cử tháng Giêng năm 46 để khẳng định cơ sở pháp lý của nhà nước. Nhà nước này là Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, do dân cử, xác định không những cơ sở thực tế mà còn là cơ sở pháp lý của Nhà nước trong đối nội và đối ngoại” – Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc nói.

Phó Giáo sư Sử học Lê Mậu Hãn cho rằng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tư thế của một dân tộc khát khao tự do, một quốc gia khát khao độc lập. Cả đời bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh đạo cách mạng thành công đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ là để thực hiện cho được hoài bão xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng ấy là bài học rất quý. Phó Giáo sư Lê Mậu Hãn cho rằng: “Thắng lợi đó là thắng lợi của tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh mà Đảng tổ chức lãnh đạo. Và trong cuộc bầu cử đó toàn dân có quyền ứng cử và bầu cử. Cho nên đó là thắng lợi của tư tưởng dân tộc bình đẳng, dân chủ và đại đoàn kết. Đó là một bài học kinh nghiệm có giá trị đặc biệt khi hiện nay đặt vấn đề phải tích cực phát huy quyền dân chủ tự do cho nhân dân để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đang tiến lên trong điều kiện khó khăn”.

Theo Giáo sư Lưu Văn Đạt, để xây dựng nhà nước pháp quyền vững mạnh, không phải ở luật pháp – tức pháp trị, mà cái chính là đạo đức của người cán bộ cách mạng – tức đức trị. Tính vì dân của nhà nước phải được thể hiện bằng những việc hết sức cụ thể: “Có một phương châm Hồ Chủ tịch đề ra là cái gì có lợi cho dân thì hết sức làm, cái gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Điều này Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong kỳ nhậm chức cũng đã nhắc lại. Tôi nghĩ rằng nếu như tất cả công chức, viên chức của nhà nước, các nhà lãnh đạo luôn suy nghĩ đến phương châm đó chắc chắn là nhà nước pháp quyền của chúng ta sẽ thực sự là của dân, do dân và vì dân. Bởi vì cuối cùng là vì dân, vì dân là vì lợi ích của nhân dân, cái gì có lợi cho nhân dân thì làm”.

Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ XI xác định: Không ngừng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Việc nhanh chóng tổ chức bầu cử Quốc hội khóa XIII và hoàn thiện bộ máy nhà nước vừa qua đã thể hiện quyết tâm ấy của toàn Đảng toàn dân ta.

Đất nước đang kỳ vọng ở đường lối đổi mới của Đảng, vào quyết tâm của Chính phủ nói không với nạn quan liêu tham nhũng, quyết tâm xây dựng bộ máy công quyền hết lòng phục vụ dân, để nhà nước ta thực sự là nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ./.

Huyền Trang (st)
Theo Vân Thiêng/vov.vn

bqllang.gov.vn

Học tập phương pháp giáo dục lý luận chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(ĐCSVN) – Lý luận giáo dục học cho chúng ta thấy rằng, nội dung giáo dục quyết định phương pháp giáo dục. Để chuyển tải tốt nội dung đòi hỏi nhà giáo dục phải biết kết hợp có hiệu quả nhiều phương pháp giáo dục phù hợp.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tư tưởng về giáo dục lý luận chính trị của Hồ Chí Minh không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức cho người học, mà còn có tính bao quát, sâu xa nhưng vô cùng sinh động, thiết thực nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ toàn diện, vừa hồng vừa chuyên, có chuyên môn, lý tưởng cách mạng, đạo đức cách mạng, sức khỏe, thẩm mỹ…

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân. Người yêu cầu: Tất cả các đảng viên phải cố gắng học tập, coi việc học tập lý luận và chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình.

Để giáo dục lý luận chính trị đạt kết quả tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một số phương pháp cơ bản, chủ yếu trong giáo dục lý luận chính trị.

Thứ nhất, Người xác định: Dạy và học lý luận chính trị“phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”, “phải biết tự động học tập”, phải“lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo mà giúp vào”. Hồ Chí Minh đề cao vấn đề tự học trong công tác giáo dục lý luận chính trị. Người nói: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già, cho nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời” [Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 12, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.92]. Phải dành nhiều thời gian cho khâu tự học của học viên, bao gồm tự nghiên cứu làm đề cương, thảo luận, tranh luận, sinh hoạt tập thể theo nhóm, tổ hay cả lớp với những chủ đề thích hợp theo sự hướng dẫn của giảng viên.

Hai là, trong giáo dục và học lý luận chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn lưu ý phải thực hành phương pháp “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ ”. Hồ Chí Minh dạy: “Phải khiêm tốn, thật thà. …, cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” [Sđd, T.8, tr.499]. Đối với phương pháp này, Người không chỉ yêu cầu đối với người học mà còn đòi hỏi đối với người dạy phải độc lập suy nghĩ, đào sâu hiểu kỹ, suy nghĩ chín chắn mới có thể hiểu sâu lý luận, nâng cao tư tưởng, giữ vững lập trường. Hồ Chí Minh yêu cầu trong giảng dạy cần xác định nội dung cốt lõi trong toàn hệ thống. Chỉ có trên cơ sở bao quát toàn bộ thì mới xác định được vấn đề cốt lõi, nội dung chính, trọng tâm cần nắm vững và vận dụng; có như vậy mới khắc phục được tình trạng phiến diện, nhìn cây mà không thấy rừng hoặctình trạng chung chung, đại khái, chỉ biết rừng mà không biết các loại cây cụ thể. Đồng thời, trong huấn luyện phải chú ý vào rèn luyện phương pháp, kỹ năng, tạo cho người học nắm được bản chất của các quan điểm lý luận, có thể độc lập, tự chủ xử trí đúng công việc trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Ba là, công tác đào tạo lý luận chính trị phải thiết thực, cụ thể, phù hợp với đối tượng, với thực tiễn. Hồ Chí Minh cho rằng, công tác giảng dạy phải xuất phát từ tình hình cụ thể, phù hợp với từng đối tượng cán bộ… Nhằm “cốt yếu là phải làm cho người học hiểu thấu vấn đề. Nhưng hiểu thấu cũng có nhiều cách: có cách hiểu thấu thật tỉ mỉ, nhưng dạy theo cách đó thì phải tốn nhiều thì giờ. Trái lại cũng có cách dạy bao quát mà vẫn làm cho người học hiểu thấu được” [Sđd, T.6, tr.47]. Giảng viên cần hiểu rõ và nắm chắc nhu cầu nhận thức của người học và mối liên hệ giữa nội dung học tập với chức trách, nhiệm vụ của người học và thực tiễn địa phương, đơn vị công tác của họ.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy. Điều kiện có ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị là đội ngũ và chất lượng giảng viên. Đội ngũ này phải đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, phải được lựa chọn cẩn thận, đòi hỏi phải được đào tạo cơ bản, có hệ thống, được bồi dưỡng thường xuyên, được tổ chức và quản lý chặt chẽ; phải đảm bảo về phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn. Người giảng viên lý luận chính trị phải là những người trung thành với đường lối chính trị của Đảng, tận tụy phục vụ lợi ích của nhân dân, có khả năng tổ chức và vận động thuyết phục quần chúng, có trình độ sư phạm.

Năm là, tổ chức quản lý học viên trong quá trình đào tạo. Muốn huấn luyện lý luận chính trị trước hết phải có tổ chức, có lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ và chu đáo. Tổ chức huấn luyện phải bám sát cả yêu cầu số lượng và chất lượng; đồng thời, Hồ Chí Minh quan tâm đến cách thức tổ chức lớp. “Đông quá thì dạy và học ít kết quả vì trình độ lý luận của người học chênh lệch, nên thu nhận không đều. Trình độ công tác thực tế của người học cũng khác nhau, nên chương trình không sát” [Sđd, tr.52].

Người phê phán việc mở lớp lung tung, chồng chéo lẫn nhau, tốn sức, tốn của của Đảng, Nhà nước và nhân dân, rời rạc không đâu vào đâu. Người cho rằng: “Vì mở nhiều lớp nên thiếu người giảng. Thiếu người giảng thì học viên đâm chán nản. Thiếu người giảng thì phải đi “bắt phu”, vì thế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như “chuồn chuồn đạp nước”, dạy không được chu đáo. Thiếu người giảng thì thường khi lại phải “bịt lỗ”, người “bịt lỗ” năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh, nghĩa là có hại cho Đoàn thể. Rốt cuộc chỉ tốn gạo mà học thì học táp nhoang” [Sđd, tr.52]. Các lớp huấn luyện phải được tổ chức thường xuyên; chương trình, giáo trình phải có tính hệ thống theo từng mức độ từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

Sáu là, phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập của đội ngũ giảng viên và học viên của trường. Ngoài nguồn lực con người như là nhân tố quyết định, hiệu quả giáo dục lý luận chính trị còn phụ thuộc vào phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc dạy và học; là các loại tài liệu, giáo khoa, giáo trình, lớp học, bàn ghế, đồ dùng dạy học v.v… Đặc biệt, về tài liệu, Hồ Chí Minh cho rằng: “Trước hết phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác-Lênin làm gốc. Nhưng tài liệu phải lựa chọn, xếp đặt lại, vì trình độ người học không đều nhau, cần có tài liệu thích hợp với từng hạng. Tài liệu không thích hợp thì học không có ích lợi gì” [Sđd, T.6, tr.49]; các nhà kinh điển mácxít đã để lại một kho tàng kinh điển đồ sộ thông qua những bài nói, bài viết và những tác phẩm phản ánh những vấn đề – những nguyên lý cơ bản trên mặt trận lý luận, tư tưởng nhưng không phải là một bộ sách giáo khoa hay một bài giảng có sẵn. Vì vậy, sử dụng như thế nào cho có hiệu quả, cần phải có sự nghiên cứu, chọn lọc; nhưng không thể có chung một loại tài liệu cho mọi đối tượng.

Bác Hồ là người đã vận dụng tốt vấn đề này, tiêu biểu là việc Người biên soạn tác phẩm Đường Cách mệnh trong những năm 1925-1927 để huấn luyện các lớp đào tạo cán bộ đầu tiên của Đảng; một quyển sách vừa ngắn gọn, vừa dễ hiểu, vừa có sức thuyết phục phù hợp cách mạng Việt Nam. Bên cạnh đó, ngoài những tài liệu về chủ nghĩa Mác-Lênin, Bác còn đề cập đến một loại tài liệu khác, đó là: “Những chỉ thị, nghị quyết, luật, lệnh của Đoàn thể và Chính phủ” [Sđd, tr.50].

Trong công tác giáo dục lý luận chính trị, cán bộ không nên viết dài, nói dài, trừu tượng, mà phải nói và viết cho ngắn gọn, cô đọng, dễ hiểu, súc tích và sinh động thì người học mới tiếp thu được. Người dặn: “Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài” [Sđd, T.5, tr.300].

Để nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn nhiều vấn đề cần phải bàn và cần phải làm rất nhiều công việc mới có thể biến phương pháp của Người thành hiện thực. Thiết nghĩ, cần phải nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục lý luận chính trị, tập trung đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng trong Đảng, trước hết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt các cấp; đổi mới nội dung, phương pháp học tập và giảng dạytrong hệ thống Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị, trong hệ thống giáo dục quốc dân; không ngừng nâng cao tính thiết thực và hiệu quả của chương trình học tập các môn lý luận chính trị. Có như vậy mới xây dựng được đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, có phẩm chất, đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; kiên định lập trường giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng; năng động, sáng tạo, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách;đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao, tận tụy, sáng tạo./.

Theo http://www.cpv.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Người thiết kế Kỳ đài Độc lập

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình Ảnh: TL

Nhớ đến ngày Lễ Độc lập (2/9/1945), mỗi chúng ta đều không quên được hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng trên Kỳ đài giữa Ba Đình lịch sử, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Người vinh dự được giao nhiệm vụ thiết kế Kỳ đài trong buổi lễ lịch sử đó là kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh quê làng Ngọc Lập, xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên.

Sáng 1/9/1945, kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh đang làm việc ở văn phòng thì được ông Phạm Văn Khoa, cán bộ của Ban Văn hóa Cứu quốc đến truyền đạt yêu cầu của Kỳ bộ Việt minh về việc thiết kế Kỳ đài để chiều 2/9 Hồ Chủ tịch lên đọc Tuyên ngôn Độc lập và Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào tại vườn hoa Ba Đình. Ông Phạm Văn Khoa nêu yêu cầu: Kỳ đài làm giản dị nhưng phải trang nghiêm; trên có thể đứng được hơn 30 người.

Nghe xong yêu cầu thiết kế Kỳ đài, ông Ngô Huy Quỳnh liếc nhìn đồng hồ và nhẩm tính: “Thời gian quá gấp”, tuy vậy ông vẫn hẹn ông Phạm Văn Khoa 12 giờ trưa hôm ấy đến xem bản vẽ phác thảo của ông. Nói xong, ông nhanh chóng chuẩn bị mấy thứ đồ nghề rồi vội đạp xe đến vườn hoa Ba Đình để khảo sát thực địa. Đứng ngắm toàn cảnh vườn hoa Ba Đình, khảo sát tất cả các địa điểm, mặt bằng, những hình khối xung quanh vườn hoa có liên quan rồi ngồi ngay tại hiện trường phác thảo nhanh 3 phương án thiết kế, xong lại hối hả đạp xe về văn phòng để kịp thời gian để ông Phạm Văn Khoa và anh em trong cơ quan tham gia ý kiến. Đúng 12 giờ trưa ngày 01/9, ông Phạm Văn Khoa và anh em trong văn phòng có mặt đông đủ để nghe kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trình bày bản vẽ phác thảo Kỳ đài.

Sau khi nghe ông Quỳnh báo cáo, mọi người đều nhất trí chọn phương án thi công đơn giản nhưng lại toát lên được ý tưởng của tác giả đó là sự hài hòa giữa không gian của vườn hoa Ba Đình với biển người đứng trong khu vực, mọi người đều có thể nhìn được Hồ Chủ tịch và các thành viên Chính phủ lâm thời. Mọi người thống nhất cao và đúng 12 giờ 30 ngày 1/9/1945, Kỳ đài bắt đầu được thi công. Là người thiết kế nhưng vì thời gian quá gấp nên Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trực tiếp cùng mọi người thi công Kỳ đài. Cũng buổi sáng hôm đó, ông Phạm Văn Khoa đến mời thêm ông Quyến là thợ mộc rất giỏi ở phố Hàng Hành để cùng với kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh thi công Kỳ đài.. Xem qua bản vẽ, ông Quyến tính số khung, số ván, số đinh và một số vật liệu khác để Ban Tổ chức chuẩn bị. Ông Phạm Văn Khoa nhờ luôn ông Quyến huy động thêm 10 người thợ mộc cùng 40 anh em ở Ban Cổ động, Ban Khánh tiết, Ban Khoa giáo đến giúp việc. Không khí làm việc khẩn trương, mọi người làm việc luôn tay, không thấy mệt, chỗ này cưa, chỗ kia dọc gỗ. Tiếng đục, tiếng đóng đinh chan chát vang cả không gian. Lúc bấy giờ vườn hoa Ba Đình chỉ là khoảng đất phẳng, nên mọi người chôn các trụ của Kỳ đài xuống đất, như thế vừa tiết kiệm gỗ lại không phải cưa và tạo cho Kỳ đài vững chắc.

Khi Kỳ đài vừa được dựng lên, anh em trong ban Khánh tiết bọc vải, ken hoa và chuẩn bị hệ thống âm thanh. Gần 6 giờ sáng hôm sau (ngày 2/9/1945) Kỳ đài được hoàn thành. Kỳ đài cao hơn 4m, rộng và sâu 4m, trên có 1 cột cờ cao hơn 10 m, hai bên có hai lư hương lớn bằng gỗ. Khi đứng trên Kỳ đài để kiểm tra lần cuối cùng, ông Ngô Huy Quỳnh thấy đồng bào khắp nơi đang đổ về với khí thế cách mạng hừng hực, cờ hoa, biểu ngữ giăng khắp. Mùi trầm từ hai lư hương lớn tỏa hương ngào ngạt, ông thấy lòng thanh thản vì vừa hoàn thành một trọng trách to lớn – Kỳ đài biểu tượng của ý chí độc lập dân tộc đã kịp hoàn thành phục vụ cho Lễ Độc lập đầu tiên của nước nhà, cứ thế nước mắt kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trào ra vì sung sướng, hạnh phúc…

Hà Nội, mùa thu năm 2011
Đặng Bình Minh

bqllang.gov.vn

Quảng trường Ba Đình lịch sử và ngày lễ Độc lập 2/9/1945

Vườn hoa Rond Point Puginier nhìn từ phía Đông Nam, sau là Vườn hoa Ba Đình rồi trở thành Quảng trường Ba Đình lịch sử. Ảnh Internet

Quảng trường Ba Đình được xem là quảng trường lớn nhất Việt Nam, nằm trên đường Hùng Vương và trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính nơi đây đã lưu giữ dấu ấn nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc ta. Đặc biệt, cách đây tròn 66 năm, vào ngày 2/9/1945, ngay tại Quảng trường này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Quảng trường Ba Đình xưa là cửa phía Tây của Thành cổ Hà Nội. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội đã phá thành vào năm 1894 và tại cổng phía Tây này, Pháp cho xây một vườn hoa nhỏ đặt tên là Rond Point Puginier, còn gọi là Quảng trường tròn (rond point: điểm tròn) hay Vườn hoa Puginier (Puginier là tên một vị cha cố). Xung quanh Vườn hoa Puginier này một số công trình công sở, biệt thự được xây dựng. Một trong những công trình được xây dựng sớm là Phủ Toàn quyền (1902), sau này là Phủ Chủ tịch. Về sau thêm các công trình quan trọng khác là trường Albert Sarraut (1919), nay là Cơ quan Trung ương Đảng và Sở Tài chính (1925), nay là Trụ sở Bộ Ngoại giao.

Cái tên Quảng trường Ba Đình do bác sỹ Trần Văn Lai, người giữ chức Thị trưởng thành phố từ ngày 20/7 đến 19/8/1945 đặt tên. Sở dĩ, Thị trưởng Trần Văn Lai đặt tên là Ba Đình vì ông cảm phục nghĩa quân Đinh Công Tráng đã chống Pháp rất anh dũng ở căn cứ Ba Đình huyện Nga Sơn, Thanh Hoá vào những năm cuối thế kỷ XIX.

Tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân của quân và dân ta giành được thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng tháng Tám thành công đã đập tan xiềng xích nô lệ kéo dài hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân ta từ địa vị nô lệ đã vươn lên trở thành những người chủ của đất nước, tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 22/8/1945, Bác Hồ rời Tân Trào về Thủ đô Hà Nội. Sáng ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa vào ngày 2/9; Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bản Tuyên ngôn độc lập.

Có nhiều địa điểm được đưa ra lựa chọn để làm nơi diễn ra sự kiện trọng đại: Lễ Độc lập. Lúc đầu khu Quần ngựa hoặc Đông Dương học xá (Đại học Bách Khoa bây giờ) được đưa vào danh sách lựa chọn nhưng song không phù hợp vì thấy quá xa trung tâm Hà Nội lúc đó. Nếu chọn Quảng trường Nhà hát Lớn thành phố thì lại sợ quá chật chội. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Quảng trường Ba Đình (Vườn hoa Ba Đình lúc đó) đã được chọn là nơi diễn ra lễ Độc lập, cho dù lúc bấy giờ xung quanh địa điểm này còn có những cơ quan như Phủ Toàn quyền, Thành Hà Nội… là những nơi vẫn còn khá nhiều lực lượng thù địch với cách mạng đang chiếm đóng.

Ngày 28/8/1945, Ban Tổ chức ngày lễ Độc lập được thành lập. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho ông Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) làm Trưởng ban, chịu trách nhiệm lo liệu công tác tổ chức ngày lễ Độc lập với một mệnh lệnh: “Đây là sự kiện lịch sử lớn kết thúc Cách mạng tháng Tám và khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” kèm theo một lời khích lệ đầy tin tưởng: “Việc khó mới giao cho chú!”. Công tác chuẩn bị tổ chức ngày lễ Độc lập được tiến hành gấp rút, tất cả những người tham gia thực hiện nhiệm vụ cao cả ấy đều nỗ lực hết mình, làm việc suốt ngày đêm không mệt mỏi với tinh thần trách nhiệm cao.

Công việc dựng lễ đài bắt đầu từ ngày 28/8 và phải hoàn tất trong ngày 1/9. Theo dự tính, lễ đài phải đủ cao, đủ rộng để 2/3 số dân nội và ngoại thành Hà Nội tham dự có thể nhìn thấy. Là người có kinh nghiệm tổ chức nên ngay lập tức, ông Nguyễn Hữu Đang cho mời các kiến trúc sư để thiết kế lễ đài, đồng thời cho gọi thợ mộc thi công. Lễ đài mừng ngày Độc lập, công trình kiến trúc vĩ đại được làm bằng gỗ, ván, đinh và vải. Thời gian thiết kế và thi công vẻn vẹn trong vòng 48 giờ, yêu cầu chặt chẽ không được chậm trễ, nếu chậm 1 giờ là lỡ thời cơ công bố văn kiện “Tuyên ngôn Độc lập”. Và cuối cùng thì công việc cũng đã hoàn thành theo đúng dự kiến.

Và ngày mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mong đợi đã đến. Ngày 2/9/1945, khắp mọi nẻo đường, con phố trên Thủ đô Hà Nội đều tung bay cờ, hoa và khẩu hiệu chào đón sự kiện trọng đại có một không hai của dân tộc. Những ai có dịp chứng kiến giờ phút thiêng liêng của lịch sử sẽ không thể quên không khí, bối cảnh Quảng trường Ba Đình ngày lễ Độc lập năm ấy. Một biển người đứng chật Quảng trường rạng rỡ, hân hoan, náo nức, hồi hộp chờ đợi giây phút vị lãnh tụ kính yêu đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Họ giương cao cờ, hoa và biểu ngữ, môi nở nụ cười, miệng hát vang bài ca cách mạng. Rừng cờ tung bay phấp phới trước gió mùa thu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ảnh Internet

Đúng 2 giờ chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bộ kaki giản dị bước lên lễ đài với tư cách là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời. Bằng giọng nói ấm áp, truyền cảm, Người đã đọc bản Tuyên ngôn lịch sử của dân tộc Việt Nam. Cả biển người im lặng phăng phắc lắng nghe từng câu, từng chữ của Người. Trước toàn thể quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới, Hồ Chủ tịch đã trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Sau khi Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, toàn thể thành viên trong Chính phủ làm lễ tuyên thệ nhậm chức. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã trình bày tình hình trong nước và chính sách của Chính phủ. Tiếp đến là Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo về việc Đoàn đại biểu Chính phủ đi tước ấn kiếm của Bảo Đại. Đại biểu Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng nói về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Minh và hô hào quần chúng nhân dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ, thi hành triệt để chương trình kiến quốc của Việt Minh. Cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh lên lễ đài một lần nữa, Người kêu gọi nhân dân kiên quyết hy sinh để giữ vững nền độc lập mới giành được. Lễ mít tinh đã chuyển thành một cuộc tuần hành rầm rộ trong thành phố.

Kể từ đây, một kỷ nguyên mới bắt đầu mở ra cho dân tộc ta: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân lao động sau những năm tháng nô lệ đã rũ bùn đứng lên trở thành con người tự do, người chủ của đất nước. Ba ngày sau đó, ngày 5/9/1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Sau lễ Tuyên bố độc lập, Quảng trường Ba Đình có tên mới là Quảng trường Độc lập. Những năm sau đó, cùng với bao thăng trầm, đổi thay của đất nước, Quảng trường Ba Đình cũng đã mấy lần đổi tên. Sau năm 1954, có ý kiến lấy tên là Quảng trường Độc lập nhưng Bác Hồ đề nghị giữ cái tên Ba Đình. Ngày Bác mất, Quảng trường Ba Đình lịch sử là nơi diễn ra lễ truy điệu Người. Sau này, Đảng và Nhà nước đã quyết định khởi công xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính tại lễ đài, nơi được dựng lên để Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945 ở Quảng trường Ba Đình.

Quảng trường Ba Đình ngày nay. Ảnh Internet

Đã 66 năm trôi qua kể từ lễ Độc lập 2/9/1945, Quảng trường Ba Đình vẫn còn giữ nguyên giá trị lịch sử, văn hóa cho đến tận ngày nay. Nơi đây đã chứng kiến bao sự kiện lớn, đánh dấu những bước trưởng thành của cách mạng nước nhà trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong suốt những năm qua, Quảng trường Ba Đình lịch sử thường xuyên được chọn là nơi để tổ chức các cuộc mít tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện trọng đại hoặc đón tiếp các đoàn khách quốc tế đến thăm Việt Nam. Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động chính trị – văn hóa lớn có ý nghĩa giáo dục truyền thống, đạo đức cho các thế hệ con cháu Lạc Hồng./.

Thu Hiền (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Tự lực tự cường, chủ động sáng tạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trung tướng Trương Quang Khánh, Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày Truyền thống đơn vị

Ngày 29/8/1975, Ngày khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là ngày truyền thống của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới. Nhân dịp kỷ niệm 36 năm ngày Truyền thống của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Biên tập trân trọng giới thiệu bài viết dưới đây của Thiếu tướng, Tiến sĩ Đặng Nam Điền, Chính ủy BTL Bảo vệ lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vinh dự được Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội giao cho nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; quản lý, vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật công trình Lăng của Người và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ; bảo đảm an ninh khu vực Lăng Bác, Quảng trường Ba Đình; phục vụ nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan khu vực và tổ chức nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hơn 40 năm làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và 36 năm quản lý, vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật công trình Lăng của Người, các thế hệ cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khắc sâu lời thề trước anh linh của Bác, nguyện mãi mãi đi theo con đường mà Người đã lựa chọn cho Đảng và dân tộc. Với tinh thần độc lập, tự chủ, chủ động sáng tạo; được sự chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương Đảng và Chính phủ, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự giúp đỡ vô tư trong sáng của các nhà khoa học y tế và kỹ thuật của Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay, sự phối hợp của các cơ quan trong và ngoài quân đội, đơn vị đã từng bước vươn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ chính trị, đặc biệt là giai đoạn đầy khó khăn thử thách, có tính bước ngoặt sau khi Liên Xô tan rã.

Thành tích lớn nhất và xuyên suốt hơn 40 năm qua là, dù bất kỳ trong hoàn cảnh khó khăn nào, đơn vị cũng giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, thi hài của Bác luôn trong trạng thái tốt nhất.

Trong những năm chiến tranh ác liệt, điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, cán bộ, chiến sỹ của Đoàn 69 (đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày nay), đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, cùng với các chuyên gia y tế Liên Xô hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tạo ra những tiền đề rất cơ bản cho quá trình giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này. Ngay sau khi hệ thống chính trị của Liên Xô có sự thay đổi, không để nhiệm vụ chính trị bị gián đoạn; Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đã kịp thời báo cáo trên, một mặt tích cực, chủ động khai thác mối quan hệ trực tiếp với các chuyên gia của Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva Liên bang Nga để tiếp tục trao đổi kinh nghiệm và học tập nâng cao trình độ chuyên môn; mặt khác, đơn vị đã tăng cường hợp tác nghiên cứu với các nhà khoa học trong và ngoài quân đội nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành trong nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ được triển khai; nhất là những đề tài hợp tác nghiên cứu khoa học phục vụ trực tiếp nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, tin cậy thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa các bác sỹ của ta và các nhà khoa học y tế Liên bang Nga đạt được kết quả, chất lượng tốt đã khẳng định được trình độ chuyên môn vững vàng của đội ngũ cán bộ y tế trong đơn vị. Do chuẩn bị tốt về đội ngũ cán bộ, trang thiết bị kỹ thuật nên từ tháng 3 năm 2004, đơn vị đã chính thức phối hợp cùng với các chuyên gia y tế Liên bang Nga tiến hành pha chế thành công dung dịch đặc biệt tại Việt Nam. Đây thực sự là một bước tiến vượt bậc trong quá trình vươn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Song song với nhiệm vụ y tế, đơn vị luôn quan tâm thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các công trình liên quan. Nhiều sáng kiến, cải tiến hợp lý hoá quy trình vận hành được đề xuất và ứng dụng đạt hiệu quả, góp phần tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí vận hành, bảo dưỡng thiết bị nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ y tế và phục vụ thăm viếng. Hằng năm thực hiện tốt nhiệm vụ duy tu, sửa chữa, tôn tạo kiến trúc công trình Lăng, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và các công trình liên quan. Bảo đảm các công trình luôn khang trang, sạch đẹp, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ tương xứng với ý nghĩa chính trị, văn hoá của mỗi công trình.

Trong công tác bảo đảm an ninh, đơn vị đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các đơn vị đứng chân trên địa bàn, đoàn kết với đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, bảo đảm tuyệt đối an toàn lễ viếng Bác, công trình Lăng, Quảng trường Ba Đình, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và các sinh hoạt chính trị, văn hoá diễn ra trong khu vực. Nhất là trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch trong nước và ngoài nước đang thực hiện âm mưu “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, bôi nhọ và xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong công tác nghi lễ, đơn vị thường xuyên duy trì tốt nghi lễ quốc gia và nghi lễ quân đội, xứng đáng là đơn vị tiêu biểu cho toàn quân thực hiện nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời đã chủ động nghiên cứu, tham mưu đề xuất với Chính phủ và Bộ Quốc phòng từ ngày 19/5/2001 triển khai thực hiện nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là một hoạt động góp phần giáo dục niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm của mỗi công dân với Tổ quốc, tạo ra một hình thức nghi lễ mới trên Quảng trường Ba Đình lịch sử.

Trong công tác đón tiếp, tuyên truyền, với phương châm “tận tình, chu đáo”, 36 năm qua, kể từ khi khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay, đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng đón tiếp an toàn tuyệt đối hơn 40 triệu lượt người về Lăng viếng Bác, trong đó có gần 8 triệu lượt khách quốc tế của hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Những việc làm như: Lắp đặt mái che nắng, che mưa; đặt hệ thống nước uống; giữ hành lý, máy ảnh miễn phí… đã để lại ấn tượng tốt đẹp cho nhân dân và bầu bạn quốc tế khi về viếng Bác. Đối với nhân dân ở vùng sâu, vùng xa; nhất là các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng, đơn vị đã chủ động phối hợp với ngành lao động và thương binh xã hội của các địa phương; tranh thủ sự ủng hộ của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, từ năm 2003 đến nay đã tích cực triển khai đón tiếp các Đoàn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình liệt sỹ, thương binh về Lăng viếng Bác, thăm Thủ đô Hà Nội. Những việc làm thiết thực của đơn vị góp phần cùng với các địa phương làm tốt công tác chính sách, đền ơn đáp nghĩa, tri ân những người có công với dân, với nước và đặc biệt là công tác giáo dục truyền thống, giáo dục tư tưởng, đạo đức tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mọi tầng lớp nhân dân.

Để luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, cấp uỷ và cán bộ chỉ huy các cấp trong đơn vị đã thường xuyên quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, công nhân viên và chiến sỹ. Tiêu biểu là việc triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong thời gian qua. Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh xác định đây là thời cơ để tạo sự chuyển biến tích cực về đạo đức, lối sống và phong cách công tác của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ; góp phần toả sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo nên hình ảnh đẹp của người cán bộ, chiến sỹ bên Lăng Bác. Thực hiện có hiệu quả chủ trương trên, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh đã tập trung lãnh đạo và chỉ đạo các cơ quan đơn vị chấp hành nghiêm túc các chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị về triển khai Cuộc vận động để cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ nhận thức sâu sắc, tự giác thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để. Tránh biểu hiện phô trương, hình thức trong quá trình triển khai Cuộc vận động, Thường vụ và Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo các đơn vị tiến hành toàn diện, song tập trung vào những nội dung trọng tâm, trọng điểm, trong đó quan trọng nhất là việc “Làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Từ yêu cầu chung đó, mỗi đơn vị lựa chọn những lời dạy hoặc những phẩm chất đạo đức cụ thể của Bác để tuyên truyền giáo dục và làm theo. Căn cứ vào yêu cầu chung về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, Đảng uỷ đã xác định tiêu chí cụ thể cho từng đối tượng. Đối với đội ngũ cán bộ, y bác sĩ trực tiếp làm nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tập trung xây dựng lòng trung thành, tận tuỵ gắn bó với công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật mang tính chuyên ngành, làm chủ vững chắc công nghệ và hệ thống thiết bị kỹ thuật phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Với những cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ, phải thường xuyên đề cao ý thức tổ chức kỷ luật, đặc biệt nghiêm cách trong thực hiện nhiệm vụ, tuyệt đối không để xảy ra sai sót. Với đội ngũ những người làm công tác đón tiếp, tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan Lăng phải luôn có thái độ ứng sử lịch thiệp, tận tình chu đáo….

Bước vào giai đoạn mới, phát huy truyền thống “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo” và danh hiệu cao quý Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới do Đảng và Nhà nước trao tặng; cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí minh tiếp tục đoàn kết, sáng tạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt trong mọi tình huống, xứng đáng với niềm tin tưởng, yêu mến của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.

Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn