Tag Archive | Độc lập

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ 1

Cảm xúc từ ngõ Compoint

TT – Câu chuyện xúc động về những người đã lần theo hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh để sưu tầm những kỷ vật liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Người.

Một lần tình cờ được dẫn xuống tầng hầm của Bảo tàng Hồ Chí Minh, anh chuyên viên trẻ chỉ vào một người đang cặm cụi soi kính lúp trên những trang giấy ố vàng và giới thiệu: “Chuyện đi tìm kỷ vật cứ hỏi bác Thái. Chiếc tủ gỗ ở nhà số 9 ngõ Compoint, Paris đang trưng bày ở bảo tàng là một trong những kỷ vật của Bác Hồ ở nước ngoài được mang về VN rất sớm. Bác Thái là người biết rõ chuyến trở về Tổ quốc của chiếc tủ gỗ ngõ Compoint đấy!”. Người cặm cụi soi kính lúp trên những chồng tư liệu về Bác Hồ chính là ông Trịnh Ngọc Thái (nguyên đại sứ VN tại Pháp 1992-1997).

Mô hình ngôi nhà số 9 ngõ Compoint, Paris, Pháp được trưng bày tại triển lãm“Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường giải phóng dân tộc” ở Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội – Ảnh: Tiến Thành

Chiếc tủ gỗ ở ngõ Compoint

Một cuộc đời ăm ắp sự kiện, nhưng với ông Trịnh Ngọc Thái, chuyến trở về VN của chiếc tủ gỗ để lại một ấn tượng đặc biệt. “Đó là năm 1968, một ngày đầu mùa xuân, tuyết rơi dày và rất lạnh, đoàn đại biểu do Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu đến thăm ngôi nhà số 9 ngõ Compoint – nơi Bác Hồ từng sinh sống”, ông Thái hồi tưởng.

Ngõ Compoint – con ngõ được coi là nghèo nhất của khu lao động nghèo – có bốn ngôi nhà lụp xụp. Ông Thái còn nguyên cảm giác xúc động khi lần đầu tiên bước vào căn nhà cũ kỹ trong ngày mùa xuân Paris rét buốt đó: “Người ta cứ nghĩ căn phòng trọ Bác từng ở dù không tiện nghi nhưng cũng phải tử tế. Nhưng khi đi bộ trong lúc tuyết rơi, nhiệt độ xuống mức âm, bước trên cầu thang gỗ ọp ẹp và vào căn phòng bé con con, chúng tôi thật sự ngỡ ngàng”.

Một căn phòng không quá 9m2 chỉ đủ kê một giường cá nhân, một tủ gỗ đựng quần áo, một tủ nhỏ kê đầu giường dùng để viết lách và ngồi ăn cơm… “Mùa đông ở nước Pháp lạnh đến tê người, Bác đã sống thế nào trong một căn phòng không có lò sưởi, chỉ với một viên gạch ủ trong chăn? Một viên gạch bỏ vào chăn chỉ ấm được một lúc thôi, làm sao giữ ấm được suốt đêm?”, ông Thái xúc động nói.

Nhưng ngôi nhà sẽ bị phá bỏ vì quá cũ kỹ, một nơi lưu giữ nhiều ký ức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm 1921-1923 có nguy cơ biến mất. “Lúc trở về, ông Xuân Thủy đã nghĩ ngay đến việc làm thế nào để giữ được kỷ vật vô giá của Bác Hồ. Phải nhớ rằng đó là năm 1968, hai năm sau – tháng 11-1970 – ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh mới được thành lập”, ông Thái kể.

Tuy nhiên, mãi đến năm 1974 những kỷ vật của Bác Hồ ở Paris mới được đưa về VN. Đó là chiếc tủ quần áo và chiếc tủ gỗ để đầu giường. Còn những hiện vật khác như tấm bảng sắt ghi số 9 ngõ Compoint, cánh cửa ra vào bằng gỗ, lavabo rửa mặt, tấm sàn gỗ… sau này được đưa đến căn phòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Lịch sử sống thành phố Montreuil (Pháp).

Hai người cận vệ tên là Cận và Lành đã áp tải các kỷ vật quý giá đó trên chuyến xe lửa suốt nửa tháng trời từ Paris (Pháp) qua Berlin (Đức), Ba Lan, qua Siberia (Nga), Trung Quốc rồi mới về tới Hà Nội. Hai kỷ vật của Bác được giao lại cho ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tìm Bác khắp năm châu

Theo bà Nguyễn Thị Tình (nguyên giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh), đến năm 2006 bảo tàng có chuyến đi tìm kiếm kỷ vật Bác Hồ. “Chuyến đó ba nhân viên bảo tàng đi Nga suốt một tháng trời. Tuy nhiên, gần một thế kỷ đã trôi qua, những hiện vật gắn bó với cuộc đời của Người hầu như không giữ lại được. Chúng tôi chỉ tìm kiếm được bản gốc các tác phẩm của Người, scan lại rồi mang về nước”, bà Tình cho biết.

Ba lần đến Nga, hai lần đến Pháp, rồi đến Đài Loan, Hong Kong…, hàng ngàn tư liệu có bút tích của Bác Hồ đã được mang về. Một cán bộ phòng sưu tầm bảo quản Bảo tàng Hồ Chí Minh kể: “Chúng tôi phải lần theo những manh mối rất nhỏ để tìm kiếm các kỷ vật của Người. Có những tư liệu chúng tôi chỉ tình cờ tìm thấy trước giờ lên máy bay hai tiếng. Tuy nhiên, trong số đó có rất nhiều tư liệu quý mà phải thuyết phục rất lâu mới có thể sao chụp được, vì theo quy định thời hạn giải mã mãi đến năm… 2014”.

“Nhiều tài liệu dưới dạng scan được mang về VN trong năm năm qua. Sau gần một thế kỷ mọi việc sưu tầm đã trở nên khó khăn hơn nhiều. Hơn nữa Người luôn sống ở những khu lao động nghèo với nhiều bí danh khác nhau nên khi chúng tôi tìm đến, những nơi đó đã bị đập đi để xây khách sạn và cao ốc”, bà Tình nói.

Hàng chục năm qua, đã có rất nhiều người lần theo hành trình của Bác để tìm kiếm kỷ vật và tư liệu về Người. Họ đặt chân trên những con đường Người đã đi qua, đến ngôi nhà Người từng ở, trăn trở tìm kiếm những vật nhỏ nhất từng gắn bó với Người. Nhiều kỷ vật của Bác Hồ đã trở về Tổ quốc bằng những con đường rất riêng như thế.

“Ông cố vấn” của bảo tàng

Ngày nắng cũng như ngày mưa, ông tất bật đi về giữa Bảo tàng Hồ Chí Minh và ngôi nhà ở Hồ Xuân Hương nhìn ra hồ Thiền Quang nhiều gió. Ở bảo tàng mọi người gọi ông là “ông cố vấn” Trịnh Ngọc Thái. Bởi nhiều năm nay ông giữ vai trò cố vấn, nghiên cứu, dịch các bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. “Ông cố vấn” chẳng có phòng riêng, chiếc bàn nhỏ và cũ kỹ đặt ở phòng bảo quản dưới tầng hầm bảo tàng là nơi ông ngồi làm việc.

Hơn 80 tuổi nhưng ông có số lượng công việc còn rất nhiều. Đi tìm kiếm, dịch tư liệu, ghi chép và viết sách… mỗi ngày của ông cứ xoay vòng cho từng đó việc. Nhiều cuốn sách về Bác Hồ của Bảo tàng Hồ Chí Minh đều có bàn tay đóng góp của ông.

Với ông Trịnh Ngọc Thái, việc dịch những tư liệu có bút tích của Bác Hồ còn là một duyên nợ. 51 năm về trước, ông Thái chính là phiên dịch trong các buổi làm việc chung của luật sư Loseby khi ông sang VN theo lời mời của Bác. “Điều thú vị khi dịch cho ông Loseby chính là cung cách nói chuyện của Bác với ông luật sư tự nhiên như người một nhà. Bác thường đến không báo trước và ở lại chơi rất lâu. Đi đâu Bác cũng giới thiệu ông luật sư là ân nhân của Bác, dù trong cuộc gặp với công nhân hay học sinh”, ông Thái nhớ lại.

HÀ HƯƠNG

___________

Câu chuyện về 1.000 ngày nghiên cứu, tìm kiếm của một cán bộ ngoại giao Việt Nam ở Thái Lan để dựng lại chặng hành trình của Bác trên đất Thái.

Kỳ tới: 1.000 ngày trên đất Thái

tuoitre.vn

Ngày 1-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi

Ngày 1-6-1922, trên Báo “L’ Humanité” (Nhân Đạo), Nguyễn Ái Quốc viết bài “Bình đẳng”, mở đầu bằng câu: “Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột, giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, bình đẳng”.

Ngày 1-6-1946, máy bay từ Pegou (Miến Điện) chở Chủ tịch Hồ Chí Minh bay tiếp 1.093km rồi hạ cánh xuống thành phố Calcuta của Ấn Độ. Nhà cầm quyền Anh và Lãnh sự Pháp đã tiếp đón đoàn lưu lại đây trong 2 ngày.

Ngày 1-6-1947, Báo “Sự Thật” đăng bài “Cán bộ tốt và cán bộ xoàng” của Bác (ký bút danh A.G), viết về công tác cán bộ: “Kháng chiến là một lò đúc cán bộ. Nơi nào mà cán bộ cấp trên biết lựa chọn dìu dắt thì có nhiều cán bộ mới nảy nở và công việc phát triển… Kháng chiến lại là một viên đá thử vàng đối với cán bộ”. Bài báo kết luận: “Cán bộ mà lên mặt quan cách mạng thì mọi việc đều lủng củng. Cán bộ mà biết làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, thì việc gì cũng mĩ mãn. Những đồng chí cán bộ, phải gắng tiến lên mãi. Những ông cán bộ xoàng, xin mau sửa đổi”.

Ngày 1-6-1949, Báo Cứu Quốc đăng tiếp bài “Thế nào là Liêm?” của Bác (ký bút danh Lê Quyết Thắng). Bài báo phân tích: “Liêm là trong sạch, không tham lam. Ngày xưa dưới chế độ phong kiến, người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm… Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn là mọi người đều phải Liêm… Có Kiệm mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam… Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”… Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót thì “quan” dù không liêm cũng phải hóa ra Liêm… Pháp luật phải ra tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ bất liêm ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Mọi người phải nhận rằng tham lam là một điều xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước với dân… Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ…”.

Ngày 1-6-1947, lần đầu tiên Bác viết “Thư gửi thiếu nhi toàn quốc”, trong đó người lãnh đạo cuộc kháng chiến đã hứa với các cháu: “Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cũng cố gắng làm cho các cháu đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”, nên cứ đến ngày Quốc tế Thiếu nhi 1- 6 hàng năm, Bác Hồ đều có thư gửi các cháu thiếu nhi Việt Nam và thế giới. Ngày 1-6 cuối cùng trong cuộc đời (1969), Bác viết bài báo “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”, khẳng định: “Thiếu niên và nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh và chặng đường trên nước Mỹ trong cuộc hành trình 30 năm ra đi tìm đường cứu nước

Bến cảng Sài Gòn- nơi người thanh niên yêu nước Nguyền Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước ngày 05/6/1911. Ảnh: Tư liệu

Yên ả và thanh bình là ước mơ ngàn đời của dân tộc chúng ta. Để giữ vững bờ cõi, bảo vệ non sông gấm vóc và tồn tại giữa một thế giới bạo tàn, từ bao đời nay, người Việt Nam đã phải liên tục gồng mình để chống lại nạn ngoại xâm. Đã có biết bao dân tộc bị diệt vong trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại. Kiếp nô lệ cam chịu chưa bao giờ được dân ta chấp nhận. Đời nào cũng vậy, sự quật cường đã giúp chúng ta ngẩng cao đầu.

Cuối thế kỷ XIX, cả phương Đông chìm trong cơn đại hồng thủy của Chủ nghĩa thực dân đế quốc. Sự bất công, điêu tàn, uất hận bao phủ lên bầu trời của quê hương, từ mọi ngóc ngách của xóm làng đến chốn kinh thành hoa lệ. Cũng như bao đời trước, đất nước mòn mỏi trông chờ những đứa con ưu tú, những vị anh hùng. Đó là những Thánh Gióng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…. Họ là niềm tự hào, là vẻ đẹp, là khúc tráng ca trong bản hợp xướng bi hùng về sự trường tồn và bất tử của dân tộc. Lần này, người anh hùng không phất cờ từ trong dân giã hay từ chốn cung đình mà là bắt đầu từ một chuyến ra đi, không phải là để cầu cứu ngoại bang mà là để tìm chân lý, mong trả lại sức mạnh, sự tự do vốn có của dân tộc. Cuộc hành trình của Người là thiên anh hùng ca huy hoàng và vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Trong suốt chiều dài của cuộc hành trình, nước Mỹ là chặng đường dừng chân tuy ngắn ngủi của Người nhưng nơi đây thực sự đã giúp Người nhận thức một cách sâu sắc hơn về bản chất của chủ nghĩa tư bản, nỗi thống khổ của nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới trên hành trình tìm ra con đường giải phóng dân tộc.

Cậu bé Nguyễn Sinh Cung sinh ra ở làng Nam Đàn năm 1890. Xuất thân từ một gia đình nhà giáo nghèo nhưng cả quê nội Kim Liên và quê ngoại Hoàng Trù đều là những vùng đất hiếu học, khoa cử nên cậu bé Nguyễn Sinh Cung được thừa hưởng một nền giáo dục truyền thống, tốt đẹp từ cả bố và mẹ. Thân sinh của Bác, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc có ảnh hưởng trực tiếp đến Người bằng vốn học vấn uyên thâm, một trái tim yêu nước thương dân, một đức tính khiêm tốn, giản dị, sống gần gũi, gắn bó với nhân dân lao động. Mẹ của Bác, bà Hoàng Thị Loan chính là người đã khai tâm cho con trai bằng những bài học chữ Nho về triết lý ở đời trước tuổi cắp sách tới trường. Như vậy, từ thuở thiếu thời cho đến tuổi trưởng thành, Người đã nhận được sự giáo dục và nuôi dưỡng truyền thống nhân ái của dân tộc: Thương người, thương dân, là khát vọng có một cuộc sống tự do, no ấm, hạnh phúc. Chính chủ nghĩa yêu nước dạt dào tình nhân ái đó đã nhem nhóm trong trái tim Người một ý chí quyết ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Chuyến hành trình dài 30 năm của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trở thành chuyến ra đi lạ lùng, vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. Theo dòng thời gian, nó hòa vào ký ức dưới hình ảnh con tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin rời Bến cảng Sài Gòn ngày mồng 5/6/1911 mang theo chàng trai 21 tuổi quả cảm, dưới tên gọi Văn Ba, vượt trùng dương bao la, quyết đi tới những chân trời xa lạ “xem xét họ làm như thế nào, để trở về giúp dân tộc”.

Những trang hồ sơ còn lại đã trở thành tư liệu quý báu, ghi dấu ấn một phần những gì diễn ra cách đây gần một thế kỷ trong cái đêm dài nô lệ ấy của đất nước. Một chuyến ra đi khát khao tìm hiểu thế giới, nung nấu ý chí đổi đời cho đất nước bằng một trái tim nồng nàn, một tâm hồn cao cả, một ước nguyện mãnh liệt bắt đầu từ hai bàn tay trắng và những công việc nhọc nhằn gian lao của người phụ bếp. Đó là chuyến ra đi đầy chất phiêu lưu của một nhà cách mạng trẻ tuổi. Trước mặt không chỉ là một biển cả mênh mông sóng nước, mà còn là cả một biển đời sâu thẳm đầy sóng gió. Sau lưng là hình ảnh quê hương đang quằn quại trong đau thương, mong ngóng ngày trở về.

Tượng Nữ thần Tự do - biểu tượng của nước Mỹ. Ảnh: Internet.

Khoảng cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành đã tới miền Đông nước Mỹ trên chiếc tàu Latusơ Tơrevin từ Pháp, vòng qua Châu Phi, vòng sang châu Mỹ rồi tới NewYork. Đi qua hàng loạt quốc gia của cả 3 Châu lục Âu, Phi, Mỹ. Khi tới thăm tượng Nữ thần Tự do ở Mỹ, chàng trai trẻ đã ghi lại những dòng cảm tưởng như sau: “Ánh sáng trên đầu Thần Tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Thần thì người da đen bị chà đạp. Bao giờ thì người da đen mới hết bị chà đạp? Bao giờ thì người da đen và người phụ nữ mới có bình đẳng? Bao giờ mới có sự bình đẳng giữa các dân tộc?”. Thật ra cho tới lúc này, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã nắm được bản chất khái quát của thế giới hiện tại, đó là thiểu số người giàu cai trị và áp bức người nghèo. Các nước giàu mạnh xâm lược, thống trị và đàn áp các nước nhược tiểu. Bạo lực, bất công, bóc lột thay cho từ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” bởi đó chỉ là những ước mơ xa vời. Bằng con mắt tinh đời và trái tim nhạy cảm, chàng trai đã thấu hiểu được lòng dạ sói lang của nước Mỹ tư bản. Dưới gầm trời này, giai cấp cần lao chỉ có thể sống đời nô lệ dưới sự đày đọa của đồng loại giàu có, tham lam, độc ác và bạo tàn, các dân tộc bị áp bức chỉ có thể quằn quại, rên xiết dưới gót giày của kẻ xâm lược. Giá trị nhân văn của Cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ đã bị phản bội ngay từ khi mới ra đời. Xã hội Mỹ lúc bấy giờ không thể giải phóng được dân chúng và các dân tộc bị áp bức khỏi những bất công mà chỉ thay đổi xiềng xích này bằng xiềng xích khác.

Khu Harlem thuộc bang Georgia – nơi Nguyễn Tất Thành hay lui tới được coi là “cái đáy” của nước Mỹ – nơi bộc lộ rõ nhất bản chất của xã hội tư bản. Sự bần cùng ở khu vực người da đen vẫn hiện lên rất rõ như một minh chứng về sự tương phản giàu nghèo mạnh mẽ chẳng khác gì ở Việt Nam. Giáo sư Meri Ratner, Chủ tịch Viện nghiên cứu Mác ở NewYork đã có nhiều năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh, đã từng nói: “Hồ Chí Minh đã học hỏi được nhiều từ trong những ngày ở nước Mỹ. Qua những tác phẩm viết về những cuộc hành trình của người da đen, có thể thấy Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự tàn bạo của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Hồ Chí Minh là một người nhạy cảm, đến từ một nước thuộc địa, trải nghiệm thực tiễn trong một xã hội chủ nghĩa thực dân; là một trong những người đầu tiên không phải là người Mỹ viết về nạn phân biệt chủng tộc, về chủ nghĩa thực dân, xã hội tư bản. Ở Boston, Người thấu hiểu những nỗi thống khổ của người nghèo không có việc làm, không thể có được một cuộc sống theo đúng nghĩa của nó. Do đó Người cũng đã nhận ra được những vấn đề liên quan đến giai cấp, Người bộc lộ sự cảm thông đối với những số phận thống khổ trong xã hội, những người bị bóc lột”.

Khu Harlem - nơi được mệnh danh là “Black NewYork” do tập trung nhiều người dân da đen sinh sống nhất nước Mỹ. Ảnh: Internet.

Nguyễn Tất Thành tìm hiểu rất nhiều về hoàn cảnh của người da đen ở Mỹ, nhất là phong trào đòi nhân quyền kéo dài đã gần 300 năm mòn mỏi ngay từ khi họ mới được đưa từ Châu Phi sang dưới thân phận nô lệ. Có thể tạm chia xã hội Mỹ lúc bấy giờ thành các nhóm sau đây: Trên cùng là bọn thống trị và nhà giàu, tiếp đến là lớp trung lưu da trắng, dưới là dân lao động da trắng hoặc gốc Âu, dưới cùng của đáy xã hội là dân lao động gốc Phi (không kể những dân da đỏ bản địa bị cướp hết đất và dồn vào rừng núi). Dưới con mắt của Nguyễn Tất Thành, trật tự xã hội ấy sẽ bất di bất dịch theo đúng bản chất của nó. Đó chính là một trong những kết luận sáng suốt nhất của Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Số phận bi thảm sau này của nhà lãnh tụ tinh thần da đen Martin Luther King là một ví dụ minh chứng cho những điều đó. Một cửa xã hội rõ ràng không có lối ra mặc dù phong trào đấu tranh liên tục diễn ra và mạnh mẽ? Một đất nước như thế làm sao có thế giúp được một nước nhược tiểu như nước ta thoát khỏi vòng nô lệ không kể sau này nó còn trút hàng triệu tấn bom và chất độc xuống hủy hoại quê hương, tàn sát đồng bào ta, nhân dân ta một cách dã man, ghê rợn hơn cả giặc Pháp.

Hình ảnh Tòa thị chính của Thành phố Philadelphia.Ảnh: Internet.

Thủ đô Philađenphia – Thủ đô đầu tiên của nước Mỹ, nằm giữa Washington và Bantimo chính là điểm đến tiếp theo của Người trong cuộc hành trình trên nước Mỹ. Là nơi khởi nguồn của cuộc cách mạng đã đưa đến nền độc lập, Philadelphia đóng vai trò then chốt trong lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ. Tại Hội trường Độc Lập vào ngày 04/7/1776, đã diễn ra cuộc họp đầu tiên của Quốc hội để thông qua bản Tuyên ngôn độc lập và dự thảo Hiến pháp Hoa Kỳ. Tác giả chính của những văn kiện này chính là Thomas Jefferson.Giáo sư Sophie Quinn Judge – một nhà nghiên cứu về Châu Á, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Hồ Chí Minh – những năm tháng đã qua” đã viết : “Hồ Chí Minh đã viết rất nhiều bài báo cho Quốc tế cộng sản, qua đó có thể thấy Người đã nhìn thấy rõ sự bất công trong xã hội Mỹ. Người cũng nhận thấy rõ nhiều vấn đề đã được nêu trong Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp của nước Mỹ. Trong hoạt động chính trị, Người cũng đã nghiên cứu kỹ về hình thái của xã hội Mỹ cùng với hình thái xã hội của Liên Xô và nhiều nước khác được chia thành 2 nhóm: Các nước bóc lột và các nước bị bóc lột. Đó có thể là lý do vì sao Hồ Chí Minh đã đưa một số nội dung của Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ và Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam vào ngày 02/9/1945. Nhưng có thể khẳng định một điều, Hồ Chí Minh là một người có sự nhạy cảm và sự nhận biết tinh tế về chính trị để phân biệt những mặt tích cực và tiêu cực của hình thái xã hội Mỹ. Và Người đã nhận thức được một vấn đề quan trọng: Nước Mỹ không thể giúp Việt Nam bảo vệ quyền lợi dân tộc.”

Khi đó, Người hiểu rằng, chế độ xã hội dựa trên lợi nhuận không thể giúp các dân tộc thuộc địa giải quyết vấn đề của mình. Nhân dân lao động ở Mỹ lúc đó đã có chút nhận thức về vấn đề giai cấp; phong trào cộng sản, phong trào dân tộc cũng đã diễn ra một cách mạnh mẽ. Người đã tham gia thảo luận với nhiều chủ đề như : “Điều gì đang xảy ra ở phương Tây?”; “Sự cần thiết phải có một chế độ xã hội khác”; “Sự cần thiết của độc lập dân tộc”… Qua việc tìm hiểu sự đối xử dã man đối với người da đen, Hồ Chí Minh nhận thấy rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản. Cũng trong thời gian kiếm sống cùng khổ với người dân lao động, Người nhận ra khoảng cách ngày càng giãn ra giữa tầng lớp người giàu và người nghèo và chính điều đó đã thôi thúc Người đến với cuộc đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của người lao động. Họ cần thức ăn, nhà ở, được lao động và hưởng thụ văn hóa. Đối với nhiều người Mỹ, Hồ Chí Minh thực sự đã trở thành biểu tượng cho sự đấu tranh công bằng, bình đẳng và sự tiến bộ xã hội.

Khách sạn Omni The Packer House ở Thành phố cảng Boston (nằm phía Tây bang Massachusetts) cũng là nơi Bác đã từng sống và làm việc. Tại khách sạn này, Bác đã từng là một người thợ làm bánh. Hiện nay, gian chế biến bánh ngọt dưới tầng hầm vẫn giữ nguyên chiếc bàn đá bị sứt mẻ một góc từ khi Bác còn làm việc không thay mới cũng không sửa chữa như để kỷ niệm những tháng ngày của một vĩ nhân cách nay cả thế kỷ.

Khách sạn Omni The Packer House ở Thành phố cảng Boston - nơi Bác đã từng là một người thợ làm bánh làm việc tại đây năm 1913. Ảnh: Internet.

Bản chất cường quyền và bành trướng của chính quyền nước Mỹ đã được Nguyễn Tất Thành phát hiện và khẳng định ngay từ khi Người đặt chân lên đất nước này trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước của mình, không phải đợi cho tới khi nước này viện trợ cho Pháp xâm lược Việt Nam, hay khi điều khiển chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm “lê máy chém” đi khắp miền Nam Việt Nam tàn sát, giết hại đồng bào, hay “rải thảm bom” B52 xuống Hà Nội năm 1972. Chính thiên tài Hồ Chí Minh đã cảnh báo được mầm mống tai họa đối với thế giới từ rất sớm, ngay tại mảnh đất mà nó mới manh nha. Đó là sự nguy hiểm của sức mạnh khi nó đồng hành với khao khát quyền lực, của cải và lãnh thổ. Bài học muôn đời này rất dễ thấm nhưng cực khó để làm theo. Thông điệp đó thực sự là một di sản bởi lý tưởng về tự do cho nhân loại không bao giờ được thực hiện bởi bàn tay của những kẻ chà đạp lên tự do của người khác.

Hành trình trên nước Mỹ đã góp phần quan trọng cho sự trưởng thành về tư tưởng nhận thức và tâm hồn của nhà cách mạng trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc. Sự thống trị hà khắc, nỗi thống khổ khôn cùng với cảnh nhân phẩm và cuộc sống bị chà đạp thô bạo đã làm quặn đau trái tim nhân hậu của Người; đồng thời bộc lộ bản chất rõ ràng của xã hội tư bản cùng Chủ nghĩa thực dân tàn bạo mà nó sinh ra. Cũng từ chuyến hành trình trên nước Mỹ này, tình thương yêu đồng loại cùng cảnh ngộ không phân biệt quốc gia, dân tộc càng nồng nàn trong trái tim của Người, góp phần tạo nên phẩm chất sáng ngời về tinh thần Quốc tế cộng sản của Nguyễn Ái Quốc được cả thế giới khâm phục và kính trọng. Nó cũng góp phần tạo nên tính kiên định cách mạng, ý chí đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng con người và giải phóng dân tộc mà Bác Hồ đã theo đuổi trong suốt cuộc đời gian lao, vĩ đại của mình./.

Hồng Vượng

bqllang.gov.vn

Ngày 3-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành chính thức được nhận việc tại tàu Đô đốc Latouche Tréville của Hãng vận tải hợp nhất, với cái tên mới là Văn Ba.

Ngày 3-6-1926, từ Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo cho Quốc tế Cộng sản về những công việc đã làm kể từ khi tới đây như tổ chức một tổ bí mật, một Hội Liên hiệp nông dân của những đồng bào Việt Nam sống tại Xiêm (Thái Lan), một Tổ thiếu nhi, một Tổ phụ nữ cách mạng, một Trường huấn luyện chính trị và xuất bản tờ báo Thanh Niên.

Báo cáo cũng nhắc đến Hội Liên hiệp các thuộc địa ở Paris, về hai tờ báo “Le Paria” (Người Cùng khổ), “Việt Nam Hồn” và yêu cầu được cung cấp báo chí, tài liệu tuyên truyền.

Ngày 3-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Chandernagore, một thuộc địa của Pháp trên đất Ấn Độ, thiết tiệc Lãnh sự Pháp và gặp gỡ kiều bào. Trả lời một tờ báo lớn ở Calcuta về vấn đề “Liên bang Đông Dương” và “Liên hiệp Pháp”, Chủ tịch nước Việt Nam nói rõ quan điểm: “Thực là một sự mỉa mai nếu lại đặt cho Đông Dương một viên toàn quyền, song tôi hy vọng rằng cuộc đàm phán chính thức ở Paris sẽ có kết quả tốt…Việt Nam không có tham vọng gì về đất đai của hai nước láng giềng. Hiện giờ, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và hai nước đó chưa có”.Về cuộc xung đột Pháp – Xiêm, nhà lãnh đạo Việt Nam cho rằng“Việc đó thuộc thẩm quyền của Pháp” và bày tỏ cảm tình đối với đất nước Ấn Độ.

Cùng ngày, ở trong nước, Báo Quyết Thắng của Việt Minh Trung bộ in tại Thuận Hóa (Huế) đăng bức thư của Bác gửi Trại nhà nghèo tỉnh Quảng Ngãi để cảm ơn những bức tranh thêu và thư của các trại viên tặng. Thư viết: “Trước hết, tôi cám ơn tấm lòng thân ái của anh em đối với tôi. Hai là tôi phải khen rằng anh em thêu rất khéo. Bức thêu đó đã chứng tỏ rằng: Thủ công mỹ nghệ của nước ta mai sau chẳng những có thể tranh đua mà lại có thể tranh giải nhất của thủ công mỹ nghệ trong thế giới… Tôi ao ước rằng nhờ sự cần kiệm của anh em “Trại nhà nghèo” sẽ mau tiến bộ thành “Trại nhà khá”, rồi dần dần thành “Trại nhà giàu” làm kiểu mẫu cho anh em khác”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 6-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc đang sống ở Liên Xô, với bí danh là Lin đã gửi thư cho một đồng chí trong Quốc tế Cộng sản.

Ngày 6-6-1941, Nguyễn Ái Quốc viết thư “Kính cáo đồng bào” gửi tới các tầng lớp nhân dân cả nước nhằm triển khai nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 8: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng…”.

Bức thư thực sự là một bài hịch cứu nước: “Việc cứu nước là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài góp tài năng… Hỡi các chiến sĩ cách mạng! Giờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung. Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đương vang dội bên tai các đồng chí. Máu nóng của bậc anh hùng đương sục sôi trong lòng các đồng chí! Chí phấn đấu của quốc dân đương chờ đợi sự lãnh đạo của các đồng chí!”.

Ngày 6-6-1946, tiếp tục hành trình sang thăm nước Pháp, máy bay đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Karachi bay 2.610km để tới thành phố Habangna thuộc lãnh thổ Iraq khi đó vẫn là thuộc địa của Anh.

Ngày 6-6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh đặt ra 3 loại huân chương cao quý nhất: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Độc lập.

Ngày 6-6-1953, Báo Nhân Dân đăng bài “Phải chống bệnh quan liêu” của Bác, phân tích kết quả cuộc vận động phê bình, trong đó có vai trò của báo chí. Tác giả nhấn mạnh: “Quan liêu, tham ô, lãng phí cũng như mọi khuyết điểm khác, nguồn gốc là vì tư tưởng không đúng. Tư tưởng trong sạch, lập trường vững, hết lòng hết sức phụng sự nhân dân thì tránh được nhiều khuyết điểm… Mở rộng dân chủ phê bình trong cơ quan và ngoài quần chúng, từ trên xuống, từ dưới lên. “Trên đe dưới búa” của phê bình, thì nhất định tẩy được bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí…”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 7-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 7-6-1931, sau khi bị bắt, Nguyễn Ái Quốc bị tạm giam tại Sở Cảnh sát Hồng Công và vị luật sư người Anh H.Loseby đã đến gặp thân chủ của mình.

Ngày 7-6-1946, “Nhật ký hành trình” chép về chuyến đi thăm Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết: “Từ Habagna đến Le Caire (Thủ đô Ai Cập) 1.386 cây số. Khi tham quan Jérusalem, máy bay có bay một vòng trên kinh thành để mọi người được xem Lăng Chúa Jesus… Lúc đến Le Caire có đại biểu sứ thần Pháp ra đón… Nghỉ tại đây 3 hôm”.

Cùng ngày, ở trong nước, Báo Cứu Quốc đăng bài “Đặt kế hoạch tác chiến” (ký tên Q.Th) của Bác, giới thiệu binh pháp Tôn Tử nhưng trên một tinh thần thực tiễn: “Biết người, biết mình rồi lại phải so sánh mình với địch xem ai hơn, ai kém để định kế hoạch tác chiến…Chiến tranh ngày nay, đánh ở mặt sau, đánh về kinh tế, về chính trị, về tinh thần cũng không kém phần quan trọng như đánh ngoài mặt trận. Phải biết phối hợp mọi phương pháp ấy mới có thể đi đến thắng lợi hoàn toàn…”.

Ngày 7-6-1948, phản ứng trước việc thực dân Pháp dựng lên “chính phủ bù nhìn toàn quốc” tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nay thực dân Pháp đã đưa ra một chính phủ bù nhìn toàn quốc để mưu bán Tổ quốc Việt Nam cho chúng. Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ theo pháp luật nước nhà trừng trị bọn phản quốc ấy”.

Ngày 7-6-1968, Bác mời một số cán bộ đến bàn về loại sách “Người tốt việc tốt”. Bác nói: “Những chiến công và thành tích nổi bật thì ai cũng có thể thấy được. Còn những việc nhỏ, bình thường thôi nhưng ích nước lợi dân thì hay bị xem thường. Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không? Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao giọt nước nhỏ hợp lại thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc… Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…Coi chừng có nhiều người Việt Nam không hiểu rõ lịch sử, đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 9-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 9-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lưu tại Le Caire đi thăm nhiều di tích lịch sử của Ai Cập, trong đó có Kim tự tháp nổi tiếng ở Sekherat.

Tháng 6-1947, Bác viết “Thư gửi đồng bào trung du và hạ du chống lụt”, động viên: “Mùa lụt đã đến gần. Nếu lụt thì đói. Lụt cũng là một thứ giặc ghê gớm. Người ta thường nói “thủy, hỏa, đạo, tặc”. Chúng ta phải ra sức ngăn giặc lụt như chống giặc ngoại xâm…Tôi tha thiết kêu gọi đồng bào, bất kỳ già trẻ, trai gái, mọi người đều phải coi việc canh đê, phòng lụt là việc thiết thân của mình: “Lụt thì lút cả làng/ Muốn cho khỏi lụt, thiếp chàng cùng lo”. Chúng ta phải thực hành câu ca dao đó. Ai cũng phải tham gia công việc sửa đê, canh đê…Chúng ta phải kiên quyết giành cho được thắng lợi trong việc chống giặc lụt. Thắng lợi sẽ giúp cho ta thắng lợi trong cuộc đánh giặc ngoại xâm. Mong toàn thể đồng bào gắng sức”.

Ngày 9-6-1953, trong bài nói chuyện tại buổi bế mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính các cơ quan trung ương, Bác phân tích: “Muốn tiến bộ mãi thì phải học tập. Học trong sách báo, học trong công tác, học với anh em, học hỏi quần chúng. Học tập để phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn đạt mục đích ấy thì phải thực hành dân chủ tự phê bình…Cán bộ bất kỳ cấp nào, cao hay thấp có quyền và có nghĩa vụ đòi hỏi thực hiện dân chủ. Học cốt để hành”.

Ngày 9-6-1954, trên Báo Cứu Quốc, Bác viết bài “Hà Nội, một thành phố bị bao vây” (ký bút danh Đ.X), phân tích thông tin từ một tờ báo Pháp cho biết: Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, giặc Pháp tại Hà Nội đang bị chiếm đóng, bị bao vây, không phải vì lực lượng của đối phương mà bởi chính lòng dân Hà Nội đang có “cảm tình với chính phủ Việt Minh”. Bài báo kết luận: “Điều đấy chứng tỏ tinh thần của địch rất hoang mang”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 14-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ thăm HTX Hùng Sơn, H. Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 1954. Ảnh: T.L

Ngày 14-6-1911, Nguyễn Tất Thành tiếp tục hải trình đầu tiên trên con tàu “Đô đốc La Touche Tréville” sang Pháp, ghé qua cảng Colombo của Sri Lanka.

Ngày 14-6-1922, Nguyễn Ái Quốc được chấp nhận vào Hội Tam Điểm (Franc-Maconnerie), một tổ chức có tư tưởng chống quân chủ, ra đời tại Pháp từ thời kỳ cách mạng tư sản. Lễ chấp nhận được tổ chức tại Trụ sở Liên hội Quốc tế ở Paris. Tuy nhiên đến tháng 12 năm đó, Nguyễn Ái Quốc rút khỏi tổ chức này vì nó không phù hợp với lý tưởng đang theo đuổi.

Ngày 14-6-1946, tại thành phố Biarritz, trong khi chờ đợi Chính phủ Pháp thành lập, Bác tiếp đại diện nhiều đoàn thể của Pháp, trong đó có Hội Pháp-Việt Hữu nghị, mới được thành lập với sự tham gia của nhiều nhân vật nổi tiếng như ông Justin Godart, bà Marie Curie, nữ nhà báo André Viollis, bà Braun – Phó Chủ tịch Quốc hội Pháp…Cùng ngày, Bác từ chối trả lời chính thức phỏng vấn của Hãng Thông tấn Pháp AFP vì lý do Chính phủ Pháp chưa thành lập, nhưng đưa ra quan điểm: “Dùng văn minh chinh phục người ta thì bền vững hơn dùng súng đại bác”.

Ngày 14-6-1946, ở trong nước, Báo Cứu Quốc đăng bài “Noi gương anh em Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu” của Bác (ký bút danh Q.T), biểu dương những đóng góp to lớn của lực lượng tự vệ thủ đô xứng đáng với lời khen ngợi: “Anh em Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu thật đáng làm khuôn mẫu cho tất cả anh em tự vệ các nơi về mọi phương diện”.

Tiếp tục loạt bài giới thiệu “Binh pháp Tôn Tử”, Báo Cứu Quốc cùng ngày còn đăng bài “Phương pháp tác chiến”, trong đó Bác đưa ra nhận định: “Cho nên người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy”.

Ngày 14-6-1958, với bài viết “Những người Mỹ biết điều”, Bác (ký tên T.L.) trích dẫn ý kiến của Thượng nghị sĩ Mỹ Menxphin phát biểu tại Thượng nghị viện và đánh giá rằng: “Thế là những chính khách biết điều cũng tán thành chủ trương đúng đắn của Chính phủ ta. Nếu Ngô Đình Diệm còn có lương tâm, không muốn mang tiếng xấu muôn đời là kẻ phản nhân dân, phản Tổ quốc thì phải làm theo mong muốn thiết tha của đồng bào và thực hiện những điều Chính phủ ta đã đề nghị”.

Ngày 14-6-1961, Bác đi thăm một hợp tác xã ở ngoại thành Hà Nội. Hòa cùng bà con trên đồng ruộng, Bác căn dặn: “Muốn phát triển sản xuất tốt, trước hết xã viên phải đoàn kết như anh em một nhà. Đoàn kết là sức mạnh. Đoàn kết thì khó khăn mấy cũng làm được, cũng vượt qua được. Cán bộ phải chí công vô tư, sổ sách tài chính phải minh bạch…”.

Ngày 14-6-1966, Bác gửi thư khen quân dân tỉnh Quảng Bình với lời biểu dương: “Trước đây Quảng Bình là tỉnh đầu tiên bắn rơi 100 máy bay Mỹ. Nay Quảng Bình lại là tỉnh đầu tiên bắn rơi 200 máy bay Mỹ”.

Ngày 14-6-1969, tại Hội trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia Đoàn Chủ tịch cuộc mít tinh chào mừng sự ra đời của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đây cũng là lần cuối cùng Bác xuất hiện trong một cuộc mít tinh tại Hội trường Ba Đình lịch sử./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – công trình kiến trúc “Hiện đại, dân tộc, trang nghiêm và giản dị”

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nho học yêu nước, quê hương có truyền thống chống giặc ngoại xâm. Ngay từ nhỏ, Người đã được hấp thụ tinh thần yêu nước bất khuất của phong trào đấu tranh chống Pháp, Người thấu hiểu được nỗi thống khổ của người dân mất nước, không cam chịu để dân tộc mình sống cuộc đời nô lệ, lầm than dưới ách đô hộ của chế độ thực dân, phong kiến. Tình cảm yêu quê hương đất nước, căm thù giặc sâu sắc đã hun đúc lên hoài bão lớn lao của Người. Vượt khỏi tầm nhìn của những nhà yêu nước đương thời, năm 1911, Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Bằng thiên tài trí tuệ, lòng yêu nước thương dân mãnh liệt, ý chí gang thép, đạo đức vô song Hồ Chí Minh đã đáp ứng yêu cầu lịch sử. Sau 10 năm bôn ba, Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn, đó là “con đường Cách mạng vô sản”. Hơn hai phần ba thế kỷ qua, cùng với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành ngọn đèn pha soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đưa Việt Nam từ một dân tộc bị đô hộ, lên hàng các dân tộc cách mạng tiên phong trên thế giới, đã chứng minh tính khoa học, tính sáng tạo vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng là một tổn thất vô cùng lớn lao, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bầu bạn quốc tế, nhất là đồng bào, chiến sỹ miền Nam đang ngày, đêm tranh đấu giành độc lập, tự do để mong sớm đón Bác vào thăm.

Sinh thời, Ng­ười không muốn một sự tôn thờ, sùng bái cá nhân nào. Tr­ước lúc đi xa, trong Di chúc, Ng­ười còn căn dặn: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”[1]. Như­ng trong tâm khảm mỗi ng­ười dân Việt Nam, Bác Hồ là người Anh hùng giải phóng dân tộc, một “Thánh nhân” của đất n­ước. Sau khi Bác qua đời, trong khói lửa của cuộc chiến tranh ác liệt, nhân dân Cà Mau, Trà Vinh và rất nhiều nơi khác đã lập đền thờ Ng­ười và quyết tâm chống trả mọi sự phá hoại của Mỹ, Ngụy. Đồng bào ta từ Bắc chí Nam, đã tự nguyện lập bàn thờ Bác ngay trong gia đình. Tất cả những việc làm đó, đều xuất phát từ tình cảm biết ơn, ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam.

Thấu hiểu sâu sắc và thể theo nguyện vọng rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, Bộ Chính trị Trung ­ương Đảng đã quyết định: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người”.[2]

Việc thiết kế và chuẩn bị thi công xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tiến hành khẩn trương ngay từ đầu năm 1970. Yêu cầu cao nhất đối với việc xây dựng Lăng là phải giữ gìn nguyên vẹn, lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tránh được mọi ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu, đồng thời đảm bảo sức khoẻ và đi lại thuận tiện của nhân dân khi đến viếng Bác. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phải hiện đại, có cấu trúc hài hoà, mỹ thuật, có phong cách dân tộc, trang nghiêm mà giản dị.

Đông đảo kiến trúc sư, kỹ sư và cán bộ ở nhiều cơ quan thiết kế các ngành và quân đội… đã đem hết khả năng và trí tuệ của mình để nghiên cứu phương án thiết kế Lăng. Trong một thời gian ngắn, Ban Tổ chức cuộc thi đã nhận được hơn 200 phương án thiết kế của 16 đơn vị, ngành và cá nhân gửi dự thi; 24 phương án có nhiều ưu điểm nhất đã được sơ tuyển và trưng bày. Ban Tổ chức đã trưng bày, lấy ý kiến cùng một lúc tại 5 địa phương: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La và Nghệ An. Cuộc trưng bày ở 5 địa điểm trên đã thu hút 745.487 lượt người đến tham quan và có hơn 34 ngàn ý kiến tham gia. Nhiều ý kiến của các kiến trúc sư, nhà văn hoá, các bậc lão thành cách mạng, đồng bào và tầng lớp nhân dân ở hai miền Nam – Bắc, kiều bào Việt Nam sinh sống ở nước ngoài đã gửi về đóng góp và bổ sung cho các phương án thiết kế.

Tháng 4 năm 1971, trên cơ sở thiết kế của các chuyên gia Liên Xô và phương án thiết kế của ta, kết hợp với sự tham gia góp ý của đông đảo các tầng lớp nhân dân, Bộ Chính trị – Trung ương Đảng đã quyết định chọn phương án thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là phương án của sự kết hợp nhiều phương án tổng hợp lại: Khối chính của Lăng đặt trên bệ tam cấp gần gũi, thân thuộc phong cách kiến trúc Việt Nam; thân Lăng gợi hình dáng ngôi nhà 5 gian giản dị; mái Lăng có hình vát, gợi lên đường nét kiến trúc cổ kính đình làng, nơi hội tụ của mỗi tâm hồn quê hương Việt Nam.

Sau những lần phải trì hoãn do chiến tranh, ngày 2 tháng 9 năm 1973, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khởi công xây dựng tại Quảng trường Ba Đình – nơi Người đã đọc bản Tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông nam Á, đồng chí Đỗ Mười, Phó Thủ tướng Chính phủ được cử là Trưởng ban xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bộ Quốc phòng và Bộ Kiến trúc được giao là lực lượng chủ công, nòng cốt trong quá trình tổ chức thi công. Cùng với đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã cử những chuyên gia giỏi sang Việt Nam giúp đỡ ta xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi việc giúp đỡ Việt Nam là nghĩa vụ, tình cảm quốc tế cao cả của những người cộng sản.

Ngày 29/8/1975, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành giữa Ba Đình lịch sử. Từ Quảng trường Ba Đình nhìn lên, Lăng Bác uy nghi mà giản dị, toàn bộ khối Lăng mang hình dáng cách điệu của một đài sen, được chia thành 3 phần: Mái, cột và nền. Mái và các cột bằng đá hoa cương màu xám bạc, chịu được nắng, mưa và khí hậu khắc nghiệt của miền nhiệt đới. Nền Lăng cấu trúc tam cấp được ốp bằng đá hoa cương màu xám đen. Sự khác nhau giữa hai màu đá tôn dáng của Lăng thêm vững chắc. Phía trong hàng cột là thân Lăng, đó là phòng đặt thi hài Bác, toàn bộ mặt ngoài được ốp đá hoa cương màu đỏ sẫm. Mái Lăng được xếp tam cấp, bốn góc chếch đầu đao, có dáng dấp như mái chùa cổ kính tôn nghiêm mà quen thuộc.

Công trình Lăng với dòng chữ: “CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH” trên mái Lăng được ghép bằng đá ngọc ở vùng Cao Bằng, cửa chính của Lăng được ốp bằng đá ngọc bích, các bậc cầu thang được lát bằng đá hoa cương, tất cả tường và cột phía trong được ốp bằng đá cẩm thạch. Riêng tường chính tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng tương, làm nền cho dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và chữ ký của Bác, dòng chữ và chữ ký được mạ vàng sáng nổi lên rực rỡ – đây cũng chính là ước nguyện, là khát vọng và là tư tưởng xuyên suốt của Bác từ khi rời Bến cảng Sài Gòn đi tìm đường cứu nước đến khi là vị Chủ tịch Nước, cả một đời đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc.

Phòng Bác yên nghỉ được ốp bằng đá cẩm thạch Hà Tây, Bác nằm đầu hướng về bức tường có lá cờ Tổ quốc và cờ Đảng. Cờ Đảng bên trái, cờ Tổ quốc bên phải, dài 5,9m, rộng 2,5m, ghép bằng 4.000 miếng đá hồng ngọc Thanh Hóa màu đỏ thắm, ngôi sao vàng năm cánh và búa liềm ghép bằng đá cẩm vân màu vàng sáng.

Góp phần vào hoàn thiện công trình Lăng Bác là những khối gỗ quý của đồng bào Nam Bộ, được các nghệ nhân tài hoa từ các tỉnh Nghệ An, Nam Hà, Hà Bắc xẻ bằng tay, với những kỹ thuật tinh xảo đóng thành 200 bộ cánh cửa. Cửa ra lễ đài được ốp đá, những cửa tiếp giáp với nắng được quét nhựa chống nứt. Ngoài đồ gỗ, trong Lăng còn dùng các kim loại để trang trí như nhôm làm trần, đồng làm tay vịn, lưới gió…Mỗi vật liệu đưa vào trang trí đều được Hội đồng thẩm định chất lượng kiểm tra thử nghiệm chặt chẽ.

Lễ đài chính dùng cho những cuộc diễu binh, duyệt binh lớn của cả nước được xây dựng gắn với Lăng, phía trên cửa chính của Lăng, so với phòng Bác nằm thấp hơn. Hai bên là hai lễ đài, đặt thẳng hàng với lễ đài chính tạo sự cân đối cho cả khối công trình.

Trước cửa Lăng có hai cây Đại, tượng trưng cho sự thanh khiết, thiêng liêng, trường tồn, do các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trồng khi khánh thành Lăng Bác, mỗi bên lễ đài trái, phải trồng 9 cây vạn tuế như hàng tiêu binh đứng trang nghiêm ngày đêm giữ yên giấc ngủ của Người.

Phía sau Lăng, ở hai bên là bức tường lưu niệm ốp bằng đá hoa cương đỏ, sau tường trồng 19 cây ngọc lan, hoàng lan tỏa hương thơm ngát, trước tường có 8 ô vuông trồng hoa hồng bốn mùa xanh tốt.

Phía trước Lăng là đường Hùng Vương và Quảng trường Ba Đình. Đường Hùng Vương dài hơn 1.000m. Phía trước, cách Lăng 49m là cột cờ với chiều cao 25m. Kể từ ngày 19/5/2001, nhân kỷ niệm 111 năm ngày sinh của Người, được phép của Thủ tướng Chính phủ, hàng năm 365 ngày đều đặn, không kể mưa hay nắng, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trọng thể, trang nghiêm trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thảm cỏ thiên nhiên trên Quảng trường Ba Đình dài 320m, rộng 100m, chia thành 240 ô cỏ xanh tươi là hình tượng những chiếc chiếu trải trên sân đình ở các làng quê Việt Nam xưa, giữa các ô có đường đi lại, rộng 1,4m được lát bằng những tấm bê tông sỏi nổi. Những viên sỏi mà các em học sinh của tỉnh miền núi phía Bắc nhặt từ lòng suối, rửa sạch sẽ để lát quanh Lăng và Quảng trường Ba Đình. Dưới các thảm cỏ của Quảng trường có các tầng lọc nước, mạng ống và mương ngầm, đi đôi với hệ thống thoát nước, có hệ thống cấp nước. Hệ thống cấp nước phục vụ cho các nhu cầu cần thiết của hệ thống kỹ thuật. Phía Bắc giáp đường Phan Đình Phùng, phía Nam giáp đường Trần Phú, phía Tây của Quảng trường là khu lưu niệm Hồ Chủ tịch – Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngôi nhà sàn là nơi ở của Người, ao cá, vườn cây, rặng dừa, những hàng rào dâm bụt… Tất cả đã đi vào thơ ca Việt Nam.

Trên mảnh đất Ba Đình lịch sử này – nơi Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà – nơi Bác đã ở và làm việc 15 năm cuối cùng của cuộc đời vì nước, vì dân. Bên cạnh công trình Lăng còn có Bảo tàng Hồ Chí Minh và Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, tạo nên một quần thể thống nhất Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình. Mặc dù chức năng, nhiệm vụ tổ chức khác nhau, nhưng có một điểm chung tổ chức đón tiếp, tuyên truyền. Ngày 16/6/1999 Thường vụ Bộ Chính trị đã ra thông báo số 224/TB-TW về tổ chức việc quản lý và các hoạt động của Cụm di tích lịch sử – văn hoá khu Ba Đình, ngày 25/2/2000 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 28/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo phối hợp hoạt động Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình.

Hàng năm, cứ mỗi độ Tết đến Xuân về, hoa Mai vàng như thay cho lời chúc mừng năm mới của Đảng bộ, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân Nam bộ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đáp lại tình cảm đó, hàng năm Ban Quản lý Lăng đã gửi tặng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân Nam bộ sắc đỏ hoa đào thay lời cảm ơn và chúc mừng năm mới may mắn, tốt lành. Mùa xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội vẫn luôn có sắc thắm đỏ hoa đào, sắc vàng hoa mai như tượng trưng cho mối gắn kết keo sơn, tình nghĩa anh em ruột thịt của nhân dân hai miền Nam – Bắc. Và hơn thế nữa là tấm lòng thuỷ chung, đồng sức đồng lòng cùng hướng về Thủ đô, về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình lịch sử – nơi hội tụ tinh hoa của cả dân tộc, biểu tượng cho tinh thần đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc nhân dân và quyết tâm xây dựng đất nước ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Chủ tịch Hồ Chí Minh h»ng mong muốn.

Quyết định đúng đắn và sáng suốt của Bộ Chính trị đối với việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác, xây dựng công trình Lăng của Người không những là quyết định hợp lòng dân mà còn là thể hiện một tư tưởng chính trị: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi nhân dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác đến chiêm ngưỡng để tỏ lòng biết ơn Hồ Chủ tịch, quyết tâm đi theo con đường cách mạng do Người vạch ra và kế tục sự nghiệp cách mạng của Người. Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là biểu tượng tập trung nhất của ý chí chiến đấu quật cường vì độc lập dân tộc – “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, và là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là tư tưởng lớn nhất, sâu sắc nhất, xuyên suốt nhất, làm nổi bật ý nghĩa chính trị tư tưởng của một công trình đặc biệt, và là tư tưởng chỉ đạo mọi hoạt động của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày nối ngày, dòng người vẫn nối dài tưởng như bất tận để được vào Lăng viếng Bác, từ cụ già đến các cháu thiếu nhi, từ người dân bình thường đến cán bộ, công chức Nhà nước, tuy mỗi người có tâm trạng khác nhau nhưng khi về bên Bác đều thấy thanh thản, bình yên. Tính đến nay có hơn 40 triệu lượt người, trong đó có hơn 7 triệu lượt khách nước ngoài của hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng của Người, trở thành nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của các thế hệ người Việt Nam đối với Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của Việt Nam. Đây còn là một điểm đến hấp dẫn của mỗi người nước ngoài khi tới Việt Nam. Nhiều người nước ngoài khi đến Việt Nam, đứng trước Lăng của Người đã từng thốt lên:“ Hiếm có Lãnh tụ nào trên thế giới được nhân dân mến mộ như Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Lúc này chỉ cần nhìn vào dòng người đi viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể thấy được đất nước của các bạn ổn định, yên bình như thế nào”.

Những năm gần đây, nhờ thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế trong nước có sự tăng trưởng, hệ thống giao thông được mở mang, đời sống nhân dân được cải thiện, điều kiện đi lại của dân được thuận lợi hơn, nhưng không phải là điều quyết định, mà chính là do tình cảm, nguyện vọng tha thiết của nhân dân mong muốn được về bên Người. Đó chính là sự thành kính, lòng biết ơn vô hạn đối với Bác, nguyện trung thành, mãi mãi đi theo con đường mà Bác đã lựa chọn. Đồng chí Đỗ Mười nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nói: “Chúng ta thật hạnh phúc vì có Bác, được thấy Bác nằm yên nghỉ trong Lăng giữa Ba Đình, như tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta vượt qua những khó khăn, xây dựng đất nước to đẹp hơn, đàng hoàng hơn như điều Bác hằng mong muốn”.

Ở Lăng Bác, ngoài việc tổ chức lễ viếng hàng ngày, còn diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của Đảng, Nhà nước; nơi tổ chức các buổi mít tinh, diễu binh, diễu hành mừng các ngày lễ lớn của đất nước, dân tộc; nơi thường xuyên tổ chức các sinh hoạt chính trị, văn hoá, nghệ thuật, báo công, giao ước thi đua, kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn, kết nạp Đội… nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tình cảm kính yêu, biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và là nơi hun đúc chí khí cách mạng của các thế hệ người Việt Nam. Những năm gần đây, một số loại hình sinh hoạt chính trị mới như đặt hoa trư­ớc ngày cư­ới của nam nữ thanh niên, lễ tuyên thệ trư­ớc khi nhận nhiệm vụ mới, khai giảng năm học mới của các trư­ờng phổ thông, đặc biệt từ ngày 19/5/2001, được phép của Thủ tướng Chính phủ, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trọng thể, trang nghiêm trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy tốt tác dụng giáo dục truyền thống. Biểu tượng của Tổ quốc với hình ảnh của Lãnh tụ được hoà quyện vào nhau càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Là một công trình có ý nghĩa lịch sử, chính trị và văn hóa to lớn, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ trường tồn mãi cùng đất nước Việt Nam, là trái tim của trái tim Việt Nam, là nơi hội tụ những tinh hoa về kiến trúc và không gian văn hóa của Thủ đô Hà Nội – mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến. Là công trình trung tâm trong Cụm Di tích Lịch sử – Văn hoá Ba Đình, Lăng Bác đã trở thành địa chỉ hướng đến đầu tiên của du khách mỗi khi tới Thủ đô Hà Nội, là nơi hội tụ tình cảm và niềm tin của nhân dân cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài và khách quốc tế đến Việt Nam.

Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người luôn cổ vũ, động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người và dân tộc đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại.

_________________________

[1] Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội – 1989 trang 50.
[2] Nghị quyết BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ngày 29/11/1969.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương
Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng

bqllang.gov.vn

Phát huy ý nghĩa lịch sử, chính trị, văn hoá công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục truyền thống cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời nhưng Người vẫn sống mãi với non sông, đất nước, tên tuổi và hình ảnh của Người ngày càng khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi người dân nước Việt. Ngay sau khi Người qua đời, thể theo nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người giữa Ba Đình lịch sử, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông nam Á.

Với sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả của Đảng, Nhà nước Liên Xô, trực tiếp là các nhà khoa học y tế, đã giúp đỡ Việt Nam giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện chiến tranh ác liệt, khí hậu nhiệt đới thất thường. Điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo tiền đề cơ bản cho quá trình giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này.

Ngày 2/9/1973, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khởi công xây dựng. Bộ Quốc phòng và Bộ Kiến trúc được giao là lực lượng chủ công, nòng cốt trong quá trình tổ chức thi công. Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã cử những chuyên gia giỏi sang Việt Nam giúp đỡ ta xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quê hương của V.I Lê-nin vĩ đại, coi việc giúp đỡ Việt Nam là nghĩa vụ, tình cảm quốc tế cao cả của những người cộng sản.

Với tấm lòng biết ơn và kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân và toàn quân đã đem hết trí tuệ và tinh thần, tập trung cao độ để xây dựng ngôi nhà vĩnh cửu của Người. Ngày đêm trên công trường xây dựng Lăng Bác nhộn nhịp tiếng búa, tiếng máy, tiếng cười, mọi người đều mong sao Lăng sớm được khánh thành để được gặp lại Bác sau thời gian Người đi xa.

Cả nước hướng về công trường xây dựng Lăng Bác, đóng góp sức người, sức của để xây dựng Lăng Bác như một tiếng gọi thiêng liêng của mỗi người dân, mỗi địa phương trong cả nước. Nhà máy xi măng Hải Phòng đã sản xuất hàng vạn tấn xi măng có chất lượng tốt nhất để gửi về xây dựng Lăng Bác. Cảng Hải Phòng bề bộn công việc bốc xếp hàng trong nước và quốc tế, nhưng kiện hàng nào phục vụ cho công trình Lăng Bác đều được ưu tiên vận chuyển trước. Ngành đường sắt đã dành những đầu tầu, toa tầu tốt nhất để vận chuyển vật tư xây dựng Lăng Bác. Cảm động nhất là đồng bào, chiến sỹ miền Nam đang ngày đêm đối mặt với cuộc chiến tranh ác liệt, đã vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, vận chuyển gỗ quý từ Tây Nguyên, từ cực Nam của Tổ quốc gửi ra Thủ đô Hà Nội để đóng góp công sức xây dựng Lăng của Người. Đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó Chủ tịch Quân giải phóng miền Nam đã thay mặt đồng bào, chiến sỹ miền Nam thưa với Bác: “Cây gỗ quý tượng trưng cho sức sống kiên cường, bất khuất của nhân dân miền Nam. Với tấm lòng trung trinh vô hạn, đồng bào chiến sỹ kính dâng lên Bác để đời đời ghi nhớ công ơn trời biển của Người”.

Sau 2 năm khẩn trương, liên tục, với khí thế thi đua chia lửa với miền Nam anh hùng, cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên các lực lượng xây dựng Lăng Bác đã không quản ngày đêm hoàn thành tốt các hạng mục công việc. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, công việc xây dựng Lăng đang bước vào giai đoạn cuối cùng. Ngày 29 tháng 8 năm 1975, chỉ sau hơn 3 tháng miền Nam hoàn toàn giải phóng, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành trọng thể; Bác đã về ngôi nhà vĩnh cửu của mình để cùng chung vui với con cháu trong Lễ mừng chiến thắng của toàn dân tộc diễn ra tại Quảng trường Ba Đình lịch sử vào ngày Quốc khánh 2/9/1975.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kỳ đài lịch sử của thế kỷ XX, là công trình của tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô và Liên bang Nga ngày nay; công trình của “Lòng dân – ý Đảng”; là biểu tượng của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc; một kỳ quan vĩ đại của thế hệ hôm nay tặng lại cho muôn đời con cháu mai sau… như lời Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh phát biểu tại Lễ khánh thành Lăng ngày 29/8/1975: “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công trình kiến trúc có ý nghĩa chính trị và tư tưởng to lớn, thể hiện tình cảm sâu sắc của đồng bào ta đối với Bác Hồ kính yêu. Đây là nơi nhân dân Việt Nam, từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ đến chiêm ngưỡng để tỏ lòng biết ơn Hồ Chủ tịch, quyết tâm đi theo con đường cách mạng của Người; xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh”.

Thấm thoát đã gần 42 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta và gần 36 năm khánh thành Công trình Lăng của Người. Ngày nối ngày, dòng người vào Lăng viếng Bác như dài vô tận. Lăng Bác đã đón tiếp 40 triệu lượt người, trong đó có hơn 7 triệu lượt khách quốc tế của hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Lăng của Người, trở thành nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của các thế hệ người Việt Nam đối với Người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh. Những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế trong nước tăng trưởng, hệ thống giao thông được mở mang, đời sống nhân dân được cải thiện… số lượng nhân dân các địa phương trong cả nước về Lăng viếng Bác ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước. Những ngày nghỉ, ngày lễ, kỷ niệm ngày sinh và ngày mất của Bác mỗi ngày có tới hàng vạn người vào Lăng viếng Bác. Ngoài tổ chức lễ viếng, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nơi diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của Nhà nước, nơi tổ chức các buổi mít tinh, diễu binh, diễu hành mừng các ngày lễ lớn của dân tộc; nơi thường xuyên tổ chức các sinh hoạt chính trị, văn hoá, nghệ thuật… nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”; nơi hun đúc chí khí cách mạng của thế hệ trẻ Việt Nam. Từ ngày 19/5/2001, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trang trọng trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh của Tổ quốc với lãnh tụ được hoà quyện vào nhau, càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt từ năm 2006 đến nay, Bộ Chính trị Trung ương Đảng phát động toàn Đảng, toàn dân và toàn quân triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các cấp, các ngành và các địa phương trong cả nước đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động sinh hoạt chính trị có ý nghĩa trước Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình lịch sử. Tiêu biểu là các hoạt động của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; tuổi trẻ Quân đội, tuổi trẻ Công an; Đảng bộ tỉnh Hải Dương; Đảng bộ Huyện Ba Vì; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Công ty cổ phần May 10…. Ngoài ra Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phối hợp chặt chẽ với ngành Lao động Thương binh xã hội trong cả nước và Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam tổ chức cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, các gia đình ở vùng sâu, vùng xa về Lăng viếng Bác. Việc làm đó đã để lại ấn tượng và tình cảm tốt đẹp cho mỗi người khi về viếng thăm Bác.

Về Lăng viếng Bác, đối với mỗi người dân Việt Nam như một nhu cầu tình cảm, một phong tục tập quán mới, một sinh hoạt truyền thống biết ơn cội nguồn, hướng về gốc rễ trước mỗi bước đi lên. Từ cụ già đến các cháu thiếu nhi, từ người dân bình thường đến cán bộ, công chức nhà nước, tuy mỗi người một tâm trạng khác nhau nhưng khi về bên Bác đều thấy thanh thản, bình yên. Gần 36 năm qua, kể từ ngày mở cửa Lăng đến nay, dòng cảm tưởng của nhân dân trong nước, kiều bào ở nước ngoài và khách quốc tế đã được lưu giữ như mỗi ngày một dài thêm….mỗi người một vẻ, nhưng tựu chung lại là sự kính yêu, biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện mãi mãi học tập và làm theo lời Bác dạy. Cô giáo Nguyễn Thị Huệ, 20 tuổi, người dân tộc Hơ-mông, trong đoàn giáo viên huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang về viếng Bác đã xúc động viết: “Cháu là người dân tộc Hơ-mông, lần đầu tiên vinh dự được về Hà Nội viếng Bác. Cháu chưa một lần được thấy Bác, hôm nay được gặp Bác, cháu rất cảm động. Người Hơ-mông chúng cháu được như ngày nay, được cơm no, áo ấm, được có chữ, cùng tiến bộ như các dân tộc đa số, riêng cháu lớn lên trở thành cô giáo là nhờ ơn Đảng, Bác Hồ. Cháu và dân tộc Hơ-mông chúng cháu rất ơn Đảng, ơn Bác. Cháu nguyện sẽ học tập và cố gắng giảng dạy cho các em học sinh người Hơ-mông đời đời theo Đảng, theo Bác…”. Đoàn nữ cựu tù chính trị Côn Đảo, gồm 18 chị em từ thành phố Hồ Chí Minh ra Thủ đô Hà Nội, vào Lăng viếng Bác đã nhòa nước mắt, ghi lại tình cảm của mình: “Hôm nay con về thăm Lăng Bác; nuốt lệ mừng nhớ lại tháng năm xưa…. Tháng năm trong nhà tù Mỹ – Ngụy, hay tin Bác mất, chị em quyết định mặc niệm, để tang đồng phục đen, quấn tang trắng chào cờ và hát mặc niệm ngay trước mũi địch, làm chúng tức tối đàn áp rất dã man. Cuối cùng chúng cháu vẫn là người chiến thắng, vì là con cháu của Bác Hồ luôn luôn mang tư tưởng bất khuất và tin tưởng ở chiến thắng cuối cùng sẽ về ta, nên luôn lạc quan cách mạng và đã được trao trả với tư thế của người chiến thắng”. Đoàn đại biểu Mặt trận Tổ quốc Quận 1, thành phố mang tên Bác đã viết: “Chúng tôi vô cùng xúc động được đến viếng Bác. Bác mãi mãi sống trong trái tim đồng bào Nam bộ. Về Lăng viếng Bác, thương nhớ Bác vô cùng, nguyện học tập và sống theo gương Bác”.

Đối với khách nước ngoài, Lăng Bác là một địa chỉ thiêng liêng, hấp dẫn của mỗi người khi tới Việt Nam. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, hầu hết khách du lịch khi đến Hà Nội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; số lượng khách quốc tế vào Lăng viếng Bác tăng gần 4 lần so với những năm trước đây. Nhiều người nước ngoài khi đến Việt Nam, vào Lăng viếng Người đã có cảm tưởng: Hiếm có vị lãnh tụ nào trên thế giới được nhân dân mến mộ như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong số khách đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh không ít người trước đây là kẻ thù của dân tộc Việt Nam, nhưng ngày nay, trước chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng và Nhà nước, họ đã đến Việt Nam và vào Lăng thăm viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự hận thù, đối lập dường như không còn nữa, quá khứ được khép lại và cùng nhau hướng về tương lai. Có lẽ đây cũng là điều đặc biệt, chỉ có ở Việt Nam và chính tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cội nguồn của sức mạnh đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Cố Chủ tịch CHDCND Lào Hoàng thân Xu-Pha-Na-Vông đã trân trọng ghi cảm tưởng: “Chúng tôi vô cùng biết ơn Bác Hồ, Người đầu tiên thấm nhuần đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin bách chiến, bách thắng vận dụng vào Đông Dương. Người thành lập, rèn luyện, tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương, Người đã dồn hết tâm trí và sự quan tâm vun đắp mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt anh em giữa hai Đảng, nhân dân hai nước Lào- Việt Nam và tình đoàn kết quốc tế vô sản trong sáng”. Đoàn đại biểu Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam khi đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi lại những dòng cảm tưởng: “Chúng tôi chứng kiến thực tế giản dị, lòng nhân đạo của một nhà thơ vĩ đại – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả tình yêu của Người với thiên nhiên và cuộc sống giản dị mà Người đã yêu, giờ đây con cháu của Người và nhân dân Việt Nam tiếp tục giữ gìn bảo vệ. Chúng tôi xin gửi tới Người với tất cả tấm lòng thành kính của người Cuba”. Và thật cảm động, khi một khách du lịch người Thái Lan đã viết: “Tôi đã đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nơi đây rất đẹp và trang nghiêm, nó không chỉ dành riêng cho người Việt Nam mà còn là của nhân loại”. Có thể nói, những dòng tình cảm của mỗi người khi đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho dù màu da, tiếng nói có khác nhau, nhưng đều đã dành những tình cảm đặc biệt đối với Người. Tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người mãi mãi là bó đuốc soi đường cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Đúng như Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất đọc tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, Người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh của những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc và thời đại, vì vậy, cách đây hơn 20 năm, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Người, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hoá lớn, Anh hùng giải phóng dân tộc. Nghị quyết của UNESCO khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng đạo đức tác phong của Người luôn cổ vũ động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi trường tồn cùng với dân tộc và là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ là một địa chỉ thiêng liêng, với những giá trị lịch sử, chính trị, văn hóa để giáo dục, hun đúc truyền thống cách mạng cho mọi thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau./.

Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vinh dự và trách nhiệm

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, Người thầy vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Người tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho những giá trị cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách Việt Nam; Người là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức cách mạng; là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân. Công lao và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ uyên bác và tầm nhìn sâu rộng của Người, một nhân cách lớn, một tấm lòng độ lượng bao dung đã đưa Người trở thành Người Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân là giữ gìn lâu dài thi hài Bác và sớm xây dựng Lăng của Người để ghi lại mãi mãi hình ảnh, sự nghiệp cách mạng vĩ đại và công ơn trời biển của Hồ Chủ tịch muôn vàn kính yêu – Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho tự do hạnh phúc của nhân dân ta, cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới và cho lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa. Thể theo nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong phiên họp ngày 29/11/1969 Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã Quyết nghị: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người”. Quyết nghị của Bộ Chính trị đã phản ánh lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch. Đồng thời cũng phù hợp với truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Một dân tộc vốn có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây”, thờ phụng ông bà tổ tiên, xây dựng Lăng mộ để tưởng nhớ những người có công với dân, với nước. Đáp ứng nguyện vọng của mọi người dân Việt Nam là được tận mắt trông thấy Người, được thường xuyên đến thăm Người, được thể hiện tấm lòng tôn kính và đời đời biết ơn đối với Người. Đặc biệt là tình cảm của đồng bào, chiến sỹ miền Nam đang ngày đêm trực tiếp đối mặt với quân thù, chưa một lần được gặp Bác; để các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau được đến chiêm ngưỡng, học tập và nguyện mãi mãi đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng được Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao cho nhiệm vụ bảo vệ giữ gìn thi hài Bác. Đoàn 69 (đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày nay) đã ra đời và vinh dự được nhận nhiệm vụ chính trị đặc biệt này.

Nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác là một khoa học tổng hợp bao gồm nhiều lĩnh vực và chưa có tiền lệ ở nước ta như: Y học, sinh học, hoá học, kỹ thuật kiến trúc…… với những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt; nhất là giữ gìn thi hài để đưa ra chiêm ngưỡng. Riêng ở nước ta nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác thêm khó khăn phức tạp bởi điều kiện chiến tranh, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm khắc nghiệt và thiên tai liên tiếp. Ngay sau ngày Bác Hồ qua đời, mặc dù trong lúc đất nước đang trong hoàn cảnh chiến tranh, nhưng việc xây dựng Lăng Bác đã trở thành nguyện vọng thiết tha của toàn dân, toàn quân ta. Đồng bào và chiến sỹ cả nước đều mong muốn có một nơi an nghỉ cuối cùng của Bác để tôn vinh công lao và sự nghiệp vĩ đại của Người, để thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau có điều kiện tới viếng Bác và nguyện đi tiếp con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.

Ngay từ những ngày đầu khi Bác mất, kìm nén những tình cảm đau thương, mất mát một bộ phận cán bộ, bác sỹ, kỹ sư đã cùng các đồng chí chuyên gia Liên Xô thực hiện những công việc đầu tiên để giữ gìn lâu dài thi hài Bác, phục vụ Lễ viếng Bác tại Hội trường Ba Đình và Lễ quốc tang tại Quảng trường Ba Đình. Đó là bước khởi đầu vô cùng quan trọng quyết định việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Những năm tiếp theo, để thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ Chính trị giao, Bộ Quốc phòng đã bổ sung thêm lực lượng và thành lập Đoàn 69 để đảm nhiệm nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác, một nhiệm vụ khó khăn, chưa có tiền lệ ở Việt Nam. Trong hoàn cảnh chiến tranh vẫn diễn ra ác liệt trên cả nước, trực tiếp đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại trên quy mô lớn, có tính chất hủy diệt của không lực Hoa Kỳ đối với miền Bắc, cộng với điều kiện khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt, lũ lụt lớn xảy ra vào năm 1971 và điều kiện kỹ thuật còn rất thiếu thốn, cán bộ, chiến sỹ Đoàn 69 đã vừa học vừa làm, vừa bí mật tổ chức nghiên cứu, vừa phải tổ chức hành quân di chuyển để bảo vệ an toàn tuyệt đối thi hài Bác.

Trong 6 năm từ 1969 đến 1975, đã tổ chức 6 lần di chuyển thi hài Bác tới 4 địa điểm khác nhau trong hoàn cảnh chiến tranh đang diễn ra gay go, ác liệt; thiên tai đe dọa, song đội ngũ cán bộ, bác sỹ Việt Nam sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, phối hợp chặt chẽ với các nhà khoa học y tế Liên Xô, bảo quản giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác, tạo ra những tiền đề rất quan trọng cho nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác sau này.

Cũng thời gian này, ngày 2/9/1973, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức được khởi công xây dựng tại Quảng trường Ba Đình lịch sử và sau 2 năm thi công khẩn trương liên tục, ngôi nhà vĩnh cửu của Người đã hoàn thành đúng vào dịp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tưng bừng chào đón thắng lợi giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Ngày 18 tháng 7 năm 1975 Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định đón Bác về Lăng – nơi yên nghỉ cuối cùng của Người. Lực lượng quân đội tham gia thi công xây dựng công trình Lăng, trực tiếp tham gia lắp đặt các thiết bị máy móc công trình và sau đó lực lượng này được tuyển chọn giữ lại thực hiện nhiệm vụ quản lý vận hành thiết bị công trình Lăng. Ngày 29 tháng 8 năm 1975, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành, ngày lịch sử đó đã trở thành ngày truyền thống của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trải qua gần 42 năm giữ gìn thi hài Bác và gần 36 năm mở cửa Lăng đón đồng bào trong nước và khách quốc tế đến viếng Bác; các thế hệ cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua biết bao khó khăn thử thách, tự lực tự cường vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội tin tưởng giao phó. Thi hài Bác được giữ gìn trong trạng thái tốt nhất. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi “lắng hồn núi sông” – một công trình của “lòng dân, ý Đảng” – một công trình kiến trúc văn hoá độc đáo, niềm tự hào của người Việt Nam được tôn tạo, duy tu, bảo vệ đã đón tiếp tận tình, chu đáo đồng bào và khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện tình cảm sâu nặng, đời đời biết ơn công lao trời, biển của Người đối với dân, với nước và nguyện đi theo con đường mà Người đã lựa chọn. “Cả cuộc đời Bác có ngủ ngon đâu, nay Bác ngủ, chúng con canh giấc ngủ”. Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và công trình Lăng của Người là niềm vinh dự, tự hào và trách nhiệm đặc biệt của mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Quá trình xây dựng và trưởng thành của đơn vị là quá trình phấn đấu kiên trì, bền bỉ, vượt qua nhiều khó khăn thách thức với những chiến công thầm lặng. Trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt, cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn ý thức sâu sắc được niềm vinh dự và tự hào, trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đơn vị cũng thực hiện tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác; nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ, sẵn sàng chiến đấu và nhiệm vụ đón tiếp tuyên truyền tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt vào thời điểm đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi Liên Xô sụp đổ, nguồn viện trợ không còn nữa, nhiệm vụ của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn mới với nhiều khó khăn, thử thách. Song thử thách của giai đoạn này cũng là thời cơ để đơn vị từng bước vươn lên làm chủ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị nêu cao ý chí độc lập tự chủ, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo, triển khai nhiều nội dung công tác lớn, vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài với những bước đi phù hợp. Với phương châm vừa phát huy kinh nghiệm đã được tích lũy và truyền thống đơn vị, vừa tranh thủ hợp tác với các nhà khoa học trong nước và các chuyên gia Nga của Trung tâm nghiên cứu Y sinh Matxcơva – Liên bang Nga chủ động vươn lên từng bước làm chủ vững chắc khoa học công nghệ giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Đồng thời đơn vị đã tập trung đầu tư xây dựng tiềm lực của Viện 69 từng bước đủ sức tự đảm nhiệm công tác y tế chăm sóc giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Từ chỗ ta phụ thuộc hoàn toàn vào Bạn, sau thời gian ngắn ta đã làm chủ được các quy trình làm thuốc thường xuyên và làm thuốc lớn thi hài Bác; phục vụ lễ viếng thường xuyên và đột xuất bảo đảm an toàn tuyệt đối. Đặc biệt từ năm 2004, đơn vị đã chủ động chuẩn bị về mọi mặt, phối hợp với các chuyên gia Nga, pha chế thành công dung dịch đặc biệt tại Việt Nam và đưa vào sử dụng trong dịp làm thuốc lớn cho thi hài Bác. Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của đơn vị, khảng định khả năng từng bước vươn lên làm chủ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Để góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ y tế giữ gìn lâu dài thi hài Bác và phục vụ lễ viếng, đơn vị đã tích cực, chủ động vươn lên làm chủ hoàn toàn hệ thống thiết bị kỹ thuật của công trình Lăng. Đơn vị đã chủ động khắc phục mọi khó khăn, từng bước cải tạo, thay thế những thiết bị chính theo hướng hiện đại, đồng bộ để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ. Song song với nhiệm vụ y tế, kỹ thuật; nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ, sẵn sàng chiến đấu được đặc biệt quan tâm và luôn hoàn thành xuất sắc, góp phần vào bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công trình Lăng, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, các buổi lễ viếng, các sinh hoạt chính trị văn hóa diễn ra ở khu vực Lăng và Quảng trường Ba Đình. Đơn vị đã chủ động tham mưu, đề xuất và được sự đồng ý của Chính phủ và Bộ Quốc phòng, từ ngày 19 tháng 5 năm 2001, nghi lễ chào cờ hàng ngày được tiến hành trang trọng trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy tốt tác dụng giáo dục truyền thống, giáo dục niềm tự hào, tự tôn dân tộc, trách nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc, với Bác Hồ kính yêu. Hình ảnh của Tổ quốc với lãnh tụ được hoà quyện vào nhau, càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhận thức rõ niềm vinh dự và trách nhiện lớn lao trước Đảng, trước dân. Từ ngày khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay, đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng, Cụm Di tích Lịch sử – Văn hóa Ba Đình từng bước nâng cao chất lượng phục vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác, tổ chức các sinh hoạt chính trị, văn hóa; tham quan khu vực Lăng và Khu Di tích K9. Từ ngày mở của Lăng đến nay, đã đón tiếp hơn 40 triệu lượt người vào Lăng viếng Bác, trong đó có hơn 7 triệu lượt khách nước ngoài của hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Trong những năm qua, số lượng người đến viếng Bác ngày càng đông, có ngày lên tới hơn 30 nghìn người, nhưng đều được đón tiếp an toàn, tận tình, chu đáo. Đón tiếp, phục vụ hơn 1500 buổi sinh hoạt chính trị, văn hóa tại Lăng Bác; chiếu phim giới thiệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tặng Huy hiệu Bác Hồ cho nhiều đoàn và các đại biểu. Đặc biệt là từ năm 2003 đến nay, đơn vị đã chủ động đề xuất với cấp trên, phối hợp với các Bộ, ban ngành Trung ương và địa phương tổ chức đón tiếp được nhiều đoàn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình có công với cách mạng, gia đình chính sách ở các địa phương về Lăng viếng Bác. Tại Khu Di tích K9, chỉ tính từ năm 1998 đến nay, đơn vị đã đón tiếp gần 20.000 đoàn tới tưởng niệm Bác và tham quan Khu Di tích. Trong thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là thời cơ để tạo sự chuyển biến toàn diện về đạo đức lối sống, phương pháp tác phong công tác. Mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, gương mẫu “làm theo” tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong công tác đón tiếp tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan Lăng, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và tham quan Khu Di tích K9 làm cho phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” bên Lăng Bác ngày càng được củng cố, toả sáng, lan toả trong các tầng lớp nhân dân và khách quốc tế về Lăng viếng Bác. Bên cạnh việc thực hiện tốt Cuộc vận động trong đơn vị, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động làm tham mưu, đề xuất với các cơ quan chức năng của Đảng, Chính phủ và Bộ Quốc phòng, và phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền địa phương, các cơ quan đơn vị trong cả nước nhằm phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh như: Tổ chức Lễ báo công dâng Bác, giao ước thi đua, kết nạp Đảng, Đoàn, Đội, lễ khai giảng, tuyên thệ, lễ rước đuốc lấy lửa truyền thống…Từ khi tổ chức thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã có nhiều buổi lễ báo công, phát động thi đua, lễ tuyên dương các tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến trong thực hiện Cuộc vận động, đã tạo được sức lan toả trong các ngành và các địa phương cả nước.

Với niềm vinh dự tự hào, với tình cảm và trách nhiệm được Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội tin tưởng giao cho thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt, đơn vị luôn coi trọng và làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng tổ chức đảng TSVM gắn với xây dựng đơn vị VMTD. Kết hợp chặt chẽ việc giáo dục, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng; nhiệm vụ của cách mạng, quân đội và đơn vị, làm cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, trung thành, gắn bó với nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; giữ vững phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống giản dị, trung thực, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước và kỷ luật quân đội. Hơn 35 năm qua, lớp lớp cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ của đơn vị đã xây đắp nên truyền thống “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo”. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vinh dự được Đảng, Nhà nước, quân đội phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Bước vào giai đoạn mới của cách mạng, nhiệm vụ chính trị của đơn vị có bước phát triển và có yêu cầu rất cao. Để hoàn thành được trọng trách nặng nề và vẻ vang mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội đã tin tưởng giao phó; mỗi cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nêu cao ý chí tự lực tự cường, phát huy nội lực, chủ động sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học, hoàn thiện những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về khoa học ướp, bảo quản thi thể trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam, vươn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng Viện 69 trở thành Viện chuyên ngành chính quy, khoa học và từng bước hiện đại. Quản lý, vận hành an toàn các hệ thống thiết bị kỹ thuật công trình Lăng và các công trình có liên quan. Thực hiện tốt công tác nghi lễ, tập trung huấn luyện, rèn luyện nâng cao trình độ khả năng chiến đấu của bộ đội, tổ chức luyện tập thuần thục các phương án tác chiến. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu cao, chủ động phòng chống có hiệu quả mọi âm mưu thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng, Cụm Di tích Lịch sử – Văn hóa Ba Đình, bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối cho công trình; thuận tiện, chu đáo cho đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, các sinh hoạt chính trị, văn hoá tại Lăng và tham quan Khu Di tích K9.

Chăm lo xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện thực sự chính quy, mẫu mực, tinh nhuệ tương xứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị. Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sỹ có bản lĩnh chính trị vững vàng; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân và nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Tăng cường quản lý rèn luyện kỷ luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước và kỷ luật Quân đội. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, giữ vững và phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng LLVTND trong thời kỳ đổi mới. Thực hiện tốt các phong trào thi đua, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội và làm tốt chính sách hậu phương Quân đội. Thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để Lăng Bác mãi mãi là nơi tôn nghiêm nhất, là không gian thiêng liêng của toàn dân tộc, nơi góp phần bồi đắp, hun đúc lòng yêu nước, chí anh hùng và phẩm chất tốt đẹp nhất của các thế hệ người Việt Nam./.

Đại tá Nguyễn Văn Lâm
Phó Chủ nhiệm Chính trị
Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Bác Hồ – cây bút xuất sắc của báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh Internet

Không chỉ là một chiến sỹ cách mạng xuất sắc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một cây bút xuất sắc, một nhà báo lớn, người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Bác đã nhận thấy báo chí là thứ vũ khí sắc bén, phương tiện hữu ích phục vụ sự nghiệp cứu nước. Năm 1922, trên hành trình tìm đường cứu nước, tại Pháp, Bác đã tham gia sáng lập tờ báo “Le Paria” (Người cùng khổ) và được coi là “linh hồn” của tờ báo, làm “chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo”. Các công đoạn làm báo đều được Người đảm nhiệm. Mối một số ra là sự lên án chủ nghĩa thực dân, sự kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa cùng nhau đoàn kết giải phóng dân tộc. Năm 1924, Người sáng lập báo

“Quốc tế nông dân”. Đặc biệt, đến năm 1925, tờ báo “Thanh niên” – cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, ra số đầu tiên ngày 21/6/1925 là điểm mốc đáng nhớ, đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam hay nói cách khác là sự mở đầu cho cả một dòng báo chí ở Việt Nam. Trên thực tế, báo Thanh niên ra đời nhằm mục đích tuyên truyền đường lối cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ thanh niên, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong thời điểm năm 1925, Bác đồng thời sáng lập 2 tờ báo ‘Công nông”, “Lính Kách mệnh” (ở Trung Quốc) và sau đó là các tờ “Thân ái” (tại Thái Lan năm 1928), “Đỏ” – cơ quan của chi bộ An Nam Cộng sản Đảng (tại Trung Quốc năm 1929). Sau nhiều năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác về nước và thành lập tờ “Việt Nam độc lập” (1941), “Cứu quốc” (1942) và sử dụng chúng làm diễn đàn để đấu tranh cách mạng.

Sau này, nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của báo chí cách mạng và nêu cao trách nhiệm của báo chí, của nhà báo trước xã hội, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định lấy ngày 21/6 là ngày Báo chí Việt Nam.

Ngay từ đầu, Bác đã coi báo chí là một bộ phận cấu thành văn hóa, là phương tiện cổ vũ, truyền bá và thực thi văn hóa. Đây là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng là diễn đàn của quần chúng nhân dân về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Nhận thức rõ tầm quan trọng của báo chí trong dư luận trong nước và thế giới, đối với riêng bản thân mình, Bác rất cẩn trọng trong từng câu chữ, ý tứ, nội dung các bài báo mình viết. Bác luôn quan niệm phải viết sao cho dân chúng hiểu và quan tâm đọc. Bác có một thói quen là thường đem những bài báo sau khi viết xong cho những người xung quanh nghe và góp ý, kể cả khi Người đã làm Chủ tịch nước. Khi người đọc không hiểu hoặc hiểu không đúng, Bác thường sửa ngay. Vì thế, văn phong của Bác thường ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ mà vẫn thể hiện những nội dung quan trọng cần truyền bá tới người dân.

Bác căn dặn nhà báo trước hết phải là một chiến sỹ cách mạng, các nhà báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, nội dung và cách viết. Trong một lần nói chuyện với cán bộ, phóng viên được cử đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, Bác có nói “Các chú phải nhớ là viết cho ai, viết cái gì, nhằm mục đích gì. Phải viết cho dân hiểu để dân làm, phải nghe lời phê bình hằng ngày của dân. Đừng cậy mình nhiều chữ rồi dài dòng văn tự, chẳng ai hiểu các chú nói và viết cái gì, rồi lại cho là đàn gảy tai trâu”.

Báo chí cách mạng là tiếng nói đúng và kiên định của Đảng và nhân dân. Để báo chí không đi chệch đường lối chính trị của Đảng, Bác có đề ra 6 điểm chính đối với các nhà báo cũng như các cơ quan báo chí:

“1. Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung.

2. Mục đích là kháng chiến và kiến quốc. Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thì:

3. Tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc. Vì vậy:

4. Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng. Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo. Muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là của mình, thì:

5. Nội dung tức là các bài báo phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát. Và:

6. Hình thức tức là cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ, sáng sủa”.

Những lời dạy đó của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc. Các cơ quan báo chí luôn quán triệt quan điểm có tính nguyên tắc, đó là báo chí đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, chính trị, xã hội, nghề nghiệp vừa là diễn đàn của nhân dân; tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới.

Theo dòng chảy của cách mạng, của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng, quan điểm của Bác Hồ, báo chí cách mạng Việt Nam không ngừng lớn mạnh. Thế giới phát triển không ngừng, các mối quan hệ giao lưu trong nước và quốc tế không ngừng mở rộng, công nghệ thông tin bùng nổ nhưng những nguyên tắc của báo chí cách mạng Việt Nam thì không thay đổi. Trong suốt chặng đường phát triển, báo chí Việt Nam và đội ngũ các nhà báo đã không ngừng cố gắng, cống hiến, làm tốt vai trò là người tuyên truyền cổ động, huấn luyện, giáo dục, và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung của sự nghiệp cách mạng nước nhà./.

Huyền Trân (Tổng hợp)

bqllang.gov.vn