Tag Archive | Độc lập

Ngày 21-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 21-5-1928, từ Thủ đô nước Đức, Nguyễn Ái Quốc gửi thư về Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, đóng góp ý kiến cho hoạt động của Ban Thuộc địa Đảng Cộng sản Pháp, nhờ chăm sóc các đồng chí Đông Dương đang học ở Nga và cho biết đã sẵn sàng lên đường tới nơi cần đến.

Cũng trong thời gian này (tháng 5-1928), tập san “Inprekorr” bản tiếng Pháp của Quốc tế Cộng sản đăng bài “Phong trào công nhân và nông dân mới đây ở Ấn Độ” khảo sát những biến đổi to lớn đang diễn ra tại quốc gia rộng lớn này và bài “Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt nòi giống bản xứ” để đi đến kết luận: “Lịch sử của nhiều chế độ thực dân đã cho thấy rằng nhiều dân tộc bản xứ bị tiêu diệt hoàn toàn khi tiếp xúc với nền văn minh của người da trắng… và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc”.

Ngày 21-5-1939, Nguyễn Ái Quốc đã có mặt tại Quế Lâm (Trung Quốc) và tìm cách liên hệ với phong trào trong nước bằng cách gửi loạt bài “Thư từ Trung Quốc” về đăng trên tờ “Notre Voix” (Tiếng nói của chúng ta) của những người cộng sản hoạt động công khai tại Hà Nội. Bài “Những khó khăn của quân đội Nhật” phản ánh những vấn đề thời sự đang diễn ra trong đạo quân Nhật tại Trung Quốc và phân tích nguy cơ của chủ nghĩa phát xít đang ở rất gần Đông Dương.

Ngày 21-5-1964, Tạp chí “Minority of One” của một nhóm nhân sĩ trí thức tiến bộ xuất bản tại Mỹ đăng bài phỏng vấn nhân ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bài trả lời, Bác bày tỏ: “Từ nước Việt Nam cách xa Hoa Kỳ hàng vạn cây số, tôi gửi đến các bạn Mỹ lời chào hữu nghị và lời kêu gọi tha thiết này. Tôi mong các bạn sẽ hiểu rõ hơn sự thật cay đắng ngày nay ở miền Nam Việt Nam, một nửa Tổ quốc chúng tôi. Ở đây đang diễn ra một cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc, một cuộc chiến tranh lớn nhất, dai dẳng nhất, đẫm máu nhất hiện nay trên trái đất này…

Nhân dân Việt Nam hiểu rõ rằng nhân dân Mỹ muốn sống hòa bình và hữu nghị với các dân tộc khác. Tôi đã đến nước Mỹ, tôi hiểu nhân dân Mỹ rất trọng chính nghĩa và có nhiều tài năng… Chính những kẻ đang phá hoại nền độc lập tự do của dân tộc chúng tôi cũng là những kẻ phản bội bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ trong đó đã nêu cao chân lý “tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng” và nêu cao những quyền bất khả xâm phạm của con người: “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”…

Chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào miền Nam chúng tôi phải gian khổ hy sinh, mà chúng tôi cũng thương xót cho những bà mẹ và các người vợ Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở miền Nam Việt Nam do bọn quân phiệt Mỹ tiến hành… Tôi mong lời kêu gọi khẩn thiết này sẽ đến tai nhân dân Mỹ”.

Tháng 5-1967, từ Quảng Châu, sau một tháng sang Trung Quốc chữa bệnh, Bác đã viết bài thơ gửi về Bộ Chính trị ở trong nước: “Thời giờ đã chóng tựa đưa thoi/Thấm thoát xa nhà một tháng rồi/Nghìn dặm vui nghe tin thắng lợi/Một mình nằm tính việc xa xôi”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 22-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 22-5-1893, ông ngoại Bác Hồ qua đời (ngày 7-4 năm Quý Tỵ). Tháng 5-1901, thân phụ của Bác là Nguyễn Sinh Sắc đỗ phó bảng. Sinh năm Nhâm Tuất (1863), Nguyễn Sinh Sắc (còn có tên là Nguyễn Sinh Huy) đỗ cử nhân năm Giáp Ngọ (1894).

Kỳ thi Hội năm Tân Sửu, Thành Thái thứ 13 (1901) có 13 người trúng “phó bảng” (trong đó có Phan Châu Trinh). Cuối tháng 5-1906, Bác cùng anh trai là Nguyễn Tất Đạt theo cha vào Huế để nhận chức thừa biện Bộ Lễ.

Ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là thành lập một “Ủy ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề sẽ đàm phán ở Paris” để chuẩn bị cho chuyến sang thăm chính thức nước Pháp của người đứng đầu nhà nước Việt Nam độc lập. Tham gia ủy ban này, ngoài Bác còn có các vị: Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh.

Cũng trong ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký nhiều sắc lệnh quan trọng, trong đó có các sắc lệnh thành lập tại Bắc bộ một “Ủy ban hộ đê Trung ương”, quy định chức năng, phương thức hoạt động và các chính sách để bảo vệ đê điều, chống lũ lụt; Sắc lệnh về quân đội của nước Việt Nam là một quân đội quốc gia được chỉnh đốn theo một quy tắc được ban hành gồm 2 tiết, 6 chương với 62 điều.

Ngày 22-5-1968, Bác tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về công tác đối ngoại. Về các động thái chính trị đang diễn ra ở Đông Âu, Bác phát biểu: “Tình hình xảy ra ở Tiệp Khắc cũng có thể bùng ra ở một số nước khác. Sinh hoạt xa xỉ, những sự bất mãn, trình độ giác ngộ không nâng cao thì sinh ra chuyện. Đó cũng là bài học, không nên xem nhẹ việc giáo dục đạo đức”.

Tháng 5-1969, mặc dù sức khỏe đã yếu nhưng Bác vẫn quan tâm gửi thư cho lớp học nghiên cứu về tình hình nhiệm vụ của cán bộ trung, cao cấp toàn quân được triệu tập tại Hà Nội. Bác căn dặn: “Vấn đề số một là phải không ngừng nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ…”

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những câu chuyện cảm động bên Lăng Bác Hồ

Ông Hồ Ngọc Khiết tại điểm xuất phát ở Dinh Độc lập ngày 27/2/2011

Cùng hành trình với các phóng viên của Đài Truyền hình Việt Nam để ghi lại những phóng sự về Lăng Bác nhân dịp kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người, chúng tôi thật bất ngờ khi đi bên cạnh mình là một ông lão ngoài 70 tuổi, râu dài, tóc bạc, da ngăm đen, gầy gò trong bộ quần áo bộ đội đã bạc màu nhưng bước chân còn rất nhanh nhẹn.

Đó là ông Hồ Ngọc Khiết, sinh năm 1939, thường trú tại thôn Cát Lợi, xã Phước Cát 1, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Ông đã hai lần xuyên Việt, một lần bằng xe đạp và lần này là đi bộ từ Dinh Thống Nhất ra viếng Lăng Bác. Sau 2 tháng 18 ngày đi bộ liên tục (trong đó có 5 này ông phải nghỉ vì trời mưa), vượt qua gần 2.000 km đường, ông Hồ Ngọc Khiết đã có mặt tại Hà Nội và vào Lăng viếng Bác đúng vào kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người, để hoàn thành chuyến đi bộ xuyên Việt của mình.

Để chuẩn bị cho chuyến đi, một tháng liền, ông Khiết đi bộ 12 km mỗi ngày để luyện tập sức bền. Ông dành dụm tiền từ việc bán cây cảnh để làm chi phí đi đường. Đầu tháng 4-2010, ông đã quyết định xuyên Việt bằng xe đạp ra Hà Nội viếng Bác và năm nay nhân kỷ niệm 36 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, 121 năm ngày sinh của Bác, ông muốn làm một điều gì đó thật ý nghĩa nên quyết định một lần nữa xuyên Việt bằng chính đôi chân của mình. Điểm xuất phát được ông chọn là Dinh Thống Nhất và điểm đến là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Và điểm đến là Lăng Bác Hồ vào sáng ngày 19/5/2011

Ông Khiết cho biết: Mục đích chuyến đi này của ông là tái hiện hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ năm xưa “Sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”, để ôn lại những chiến công hiển hách, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và cũng là để góp phần giáo dục thế hệ trẻ, tiếp lửa truyền thống cha ông.Đúng 4h ngày 27/2, tại Dinh Độc Lập, ông Khiết bắt đầu cuộc hành trình. Hành trang gọn nhẹ với một chiếc ba lô trên vai đã bạc mầu với chiếc mũ tai mèo đội trên đầu và một ít đồ dùng sinh hoạt cá nhân, trong đó chỉ có 2 bộ quần áo lót, 2 bộ quần áo bộ đội mặc thay đổi, một chiếc võng dù, một chiếc chăn, một chiếc màn đơn, một ít thuốc, một cái máy đo huyết áp để tự kiểm tra sức khỏe, một chiếc máy ảnh, một cuốn nhật ký và một chiếc điện thoại di động để liên lạc với bạn bè và gia đình.

Khi biết được câu chuyện cảm động ấy, các phóng viên và đồng bào về Lăng viếng Bác đã vây quanh ông để hỏi thăm sức khỏe và nghe những kỷ niệm trên đường hành trình từ Nam ra Bắc của ông. Tất cả ai cũng bày tỏ sự khâm phục về ý chí quyết tâm, nghị lực của người đàn ông này.

Với gần 2.000 km đường đi bộ là cả một thử thách mà không phải ai cũng vượt qua được nhưng với tinh thần và nghị lực phi thường, bằng ý chí và niềm tin mãnh liệt, người lính Cụ Hồ năm xưa đã kiên trì đi bộ dọc chiều dài của đất nước để về bên Bác đúng dịp kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người./.

Đức Hùng

bqllang.gov.vn

Bức tranh thêu và tình bạn thủy chung

Nguyễn Ái Quốc lúc ở Hồng Kông với tên gọi Tống Văn Sơ và luật sư Frank Loseby năm 1931 ở Hồng Kông

Hơn 40 năm đã qua nhưng bức tranh thêu “Chùa Một Cột” Bác Hồ tặng ông bà Frank Loseby tháng 12/1959 ở Hồng Kông nay được lưu giữ ở Bảo tàng Hồ Chí Minh vẫn được giữ nguyên vẻ đẹp ban đầu. Đó là một minh chứng cho tình bạn cao đẹp và thủy chung giữa Bác Hồ và luật sư F.Loseby, ân nhân đã giúp Bác tìm lại được tự do sau vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” kéo dài từ tháng 6/1931 đến đầu năm 1933.

Theo ông Paul Tagg (mẹ ông gọi luật sư F.Loseby bằng chú ruột) thì bức tranh đã được trang trí ở nhiều ngôi nhà, từ Hồng Kông đến London và được nhiều người chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính trước khi yên vị ở Bảo tàng Hồ Chí Minh từ năm 2005.

Tháng 6/2001, tôi có dịp gặp ông Paul Tagg lần đầu tiên trong chuyến đi cùng bà Lady Borton sang London và Paris thu thập thêm tư liệu lưu trữ ở Bộ Ngoại giao Anh và Pháp về vụ án của “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” mà bà Lady đã cất công sưu tầm từ mấy năm trước ở các cơ quan lưu trữ của Anh và Hồng Kông. Chúng tôi đã trò chuyện với ông Paul trong một hiệu ăn Ấn Độ ở trung tâm London.

Ông Paul tâm sự: “Tôi được biết bức tranh này khi tôi chuyển đến làm việc ở Hồng Kông năm 1987 và có dịp thân thiết với cô Patricia là luật sư ở đó. Cô là con gái duy nhất của ông bà Loseby sống độc thân, không có con. Họ Loseby có truyền thống làm luật sư đã 4 đời. Chính vợ tôi là người đầu tiên trong gia đình phát hiện ra vẻ đẹp duyên dáng và tinh tế từ đường kim mũi chỉ đến các gam màu từ vàng đến nâu rất trang nhã của bức tranh đặc biệt này. Nay tôi rất vinh hạnh được cô tôi ủy thác việc trao lại bức tranh cho Bảo tàng Hồ Chí Minh lưu giữ vì cô đã suy nghĩ là không đâu có thể làm tốt hơn nơi này sau khi cô mất. Nhưng đây cũng là một trách nhiệm rất lớn lao. Tôi đã phải tìm đến hãng bảo hiểm cho việc chuyên chở thật an toàn và nguyên vẹn đến đích. Tôi cũng đã sang Hà Nội làm việc sơ bộ với Bảo tàng Hồ Chí Minh để xem các thể thức bảo quản và sử dụng sao cho nhiều người được chiêm ngưỡng và biết rõ tình bạn cao quý giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và luật sư F.Loseby khi đến thăm bảo tàng mang tên Người”.

Trong buổi gặp gỡ này, ông Paul có nhã ý cho tôi xem tập kỷ vật về chuyến đi của luật sư Patricia cùng cha mẹ sang thăm Hà Nội Tết Nguyên đán 1960, bao gồm những bức ảnh cùng tập nhật ký của cô và các bài báo ở Hà Nội nói về chuyến thăm đó. Những kỷ vật này đã được cô Patricia gìn giữ cẩn thận và trao lại cho ông trước khi cô mất vào đầu năm 2001 ở London.

Trong khi ông Paul trao đổi với bà Lady, người bạn thân thiết của Bảo tàng Hồ Chí Minh để đưa bức tranh thêu “Chùa Một Cột” từ London về Hà Nội thật an toàn thì ngoài trời mưa rất to. Tôi mừng là “vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” khiến tôi có thể yên tâm ngồi đọc những câu chuyện cảm động về cuộc tái ngộ kỳ diệu sau 27 năm không tin tức của những người bạn thủy chung. Và nếu theo tâm linh, nay họ đều đã lại trùng phùng ở thế giới của những người hiền.

Năm 1960, báo chí Việt Nam tập trung nhiều vào nhân vật trung tâm là luật sư Loseby còn những kỷ vật lại cho tôi biết rõ cảm tưởng của cô Patricia và bà Rosa về chuyến đi này. Tập nhật ký ghi lại rất sinh động những ngày giá lạnh ở Hà Nội tại một biệt thự ngay trước mặt hồ Thiền Quang có những căn phòng cao rộng thênh thang mà chiếc lò sưởi điện không đủ ấm khiến mọi người khi ngủ vẫn phải mặc áo len và đi tất. Tuy nhiên không khí đón tiếp gia đình Loseby thật nồng ấm, chân tình.

Những ngày giáp tết, nhân dân Hà Nội hồ hởi đi sắm tết, đặc biệt hoa tươi nhiều vô kể và ai nấy đều vui mừng khi mang một cành đào thắm về nhà. Cô Patricia đặc biệt xúc động trước sự quan tâm chu đáo hết sức tế nhị của Bác Hồ. Lúc Bác đến nhà cô ở Hồng Kông, cô còn quá nhỏ không có ký ức gì. Giờ gặp ở sân bay cô hết sức ngạc nhiên về tiếng Anh rất chuẩn của Người. Hết ngạc nhiên này lại đến ngạc nhiên khác qua mỗi ngày.

Sáng mồng Một Tết, Bác Hồ đã gửi đến tặng gia đình cô một lẵng hoa đẹp rực rỡ và ấn tượng đầm ấm ngày tết của gia đình cô chính là cảnh sum vầy thân mật giữa Bác Hồ với các cháu thiếu nhi xinh tươi như các đóa hoa đến Phủ Chủ tịch múa hát và liên hoan bánh kẹo với Bác Hồ và gia đình cô. Bác Hồ đã cùng gia đình cô đi thăm Nhà máy Cơ khí trung quy mô ngày đầu năm, cô lại được thấy giữa người lãnh đạo đất nước và các công nhân có sự chan hòa đồng cảm như người thân trong gia đình. Và đến ngày chia tay ở sân bay thật bịn rịn.

Tình thân ái không chỉ được nối lại giữa Bác Hồ và gia đình cô, bên cạnh đó nhân dân Việt Nam và những người gần gũi đã phục vụ tận tụy cho chuyến đi của gia đình được tốt đẹp đã tạo ra sự quyến luyến không dứt. Hoa tặng quá nhiều, gia đình cô chỉ biết cảm ơn và xin chuyển đến quân y viện tặng các thương bệnh binh. Trong chuyến đi này cô cảm nhận thấy dường như Chủ tịch Hồ Chí Minh thật hạnh phúc khi Người ở bên nhân dân lao động, những chiến sỹ và nhất là các cháu thiếu nhi.

Chùa Một Cột được dùng làm hình ảnh trong bức tranh thêu Bác Hồ tặng luật sư Loseby

Về phía bà Rosa, phu nhân của luật sư Loseby, những kỷ niệm của bà đối với Bác Hồ được phóng viên Hãng Reuters ghi lại trong buổi phỏng vấn bà khi Bác Hồ mất năm 1969. Lúc đó luật sư Loseby đã mất từ năm 1967. Bà Rosa nhớ rất chi tiết các sự kiện xảy ra từ năm 1931 đến đầu năm 1933 khi Bác Hồ bị giam ở nhà tù Hồng Kông, tính mạng bị đe dọa như ngàn cân treo trên sợi tóc, còn chồng bà phải đấu tranh rất căng thẳng về pháp lý với quyết tâm đem lại công lý cho thân chủ của mình bất chấp mọi sức ép ghê gớm của các lực lượng thù địch bên ngoài.

Bà nhớ như in buổi tiếp xúc đầu tiên với người tù mà chồng bà kể lại là theo những cáo buộc của nhà cầm quyền Pháp và Lãnh sự Pháp ở Hồng Kông trình bày với nhà đương cục Hồng Kông, thì “tên phiến loạn” vô cùng nguy hiểm đến an ninh thuộc địa của Pháp và cả của Anh quốc này cần được dẫn độ về Việt Nam để thực hiện bản án tử hình đã chờ sẵn từ vài năm trước.

Cùng chung nhận định với chồng và bạn thân của bà là vợ ông Phó thống đốc Hồng Kông – một nữ văn sỹ Anh – người đã theo bà đến nhà tù gặp người tù đặc biệt yêu hoa này, bà chỉ thấy đó là một con người lịch lãm, yêu văn học và thơ ca, yêu thiên nhiên và nhất là yêu đất nước mình. Họ đã đồng lòng phải làm mọi cách để giúp đỡ người tù này vượt qua những khổ ải của thân phận tù mà những người thống trị Anh và Pháp câu kết với nhau chỉ muốn trừ khử bằng mọi cách. Và lần cuối cùng khi Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát ở Singapore (thuộc địa của Anh lúc đó) bắt phải quay lại Hồng Kông trong khi phán quyết của Tòa án tối cao ở Anh đã buộc Bác phải khẩn trương rời Hồng Kông. Một lần nữa vợ chồng bà lại giúp bạn tìm con đường về với tự do.

Trong hoàn cảnh gian nan trăm bề khi đó, vợ chồng luật sư Loseby, lúc này không phải với tư cách luật sư mà là những người bạn, đã giúp nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc cải trang thành một thương gia Trung Hoa giàu sang đi vé tàu hạng nhất cùng một tùy tùng (là thư ký văn phòng của Luật sư) đi Thượng Hải. Họ đã rời Hồng Kông ra neo đậu tàu bằng chính xuồng lớn của Thống đốc Hồng Kông do bà vợ Phó thống đốc giúp đỡ vào bữa giáp tết cổ truyền năm 1933.

Bà Rosa chỉ bức tranh thêu Chùa Một Cột ở Hà Nội được treo ở vị trí trang trọng trong ngôi nhà ông bà ở Hồng Kông cho ông phóng viên xem và kể tiếp: “Thật xiết bao vui mừng và cảm động, sau 27 năm xa cách không hề có tin tức của nhau, một ngày gần lễ Giáng sinh năm 1959 vợ chồng tôi nhận được món quà quý giá này của người tù năm xưa nay là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi tặng do ông lãnh sự Việt Nam ở Hồng Kông đem lại sau khi ông báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã tìm được địa chỉ của luật sư Loseby. Cùng với quà tặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư mời gia đình ông bà sang thăm Hà Nội nhân dịp Tết Nguyên đán 1960. Sau cuộc tái ngộ với bao ân tình giữa hai người bạn tóc đều bạc, chồng tôi đã viết thư cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh và nói rằng nếu như trong đời ông làm được việc có ích nhất, đó chính là giúp được người bạn mình tìm lại được tự do”.

Ông Paul kể thêm với chúng tôi là luật sư F. Loseby là một người chồng và người cha tốt bụng, sống giản dị khiêm nhường, sẵn sàng tư vấn về pháp luật cho bất kỳ ai dù giàu hay nghèo tìm đến ông, trung thành với nguyên tắc là mọi người phải được đối xử bình đẳng theo pháp luật, công lý phải được bảo vệ. Ông còn tâm sự với tôi là sau khi đi thăm Việt Nam lần thứ nhất, được thăm nhà sàn và khung cảnh sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông vô cùng xúc động và ngưỡng mộ nhân cách thanh cao của Người. Ông đã từng sống nhiều năm ở Nam Phi trước khi làm việc ở Hồng Kông rồi chuyển về London, từng đi nhiều nước, ông càng khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn dấn thân trong gian khổ, cả đời mình đấu tranh cho độc lập tự do và thống nhất đất nước, sống bình dị, hết lòng vì nước vì dân, không có tài sản cá nhân, không một tấm huân chương.

Ngày 22/5/2005, trong buổi lễ trang trọng tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Paul Tagg đại diện cho gia đình luật sư Loseby đã trao tặng lại cho Bảo tàng kỷ vật quý báu của gia đình với niềm tin tưởng tình bạn thủy chung giữa luật sư Loseby và Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho những giá trị nhân văn cao đẹp, mặc dù có khác biệt về chính trị và văn hóa, vẫn sống mãi với thời gian.

Đạm Thư
Theo antg.cand.com.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Kỳ 2: Nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc

Tìm ra con đường chân lý QĐND Online – Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tresville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…).

Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: Cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Véc-xây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác – Lê-nin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lê-nin đăng trên báo LHumanité tháng 7-1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Trong bối cảnh bấy giờ có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam soi sáng đường cách mạng.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12-1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người – từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sỹ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí dự Quốc tế Cộng sản V

Sau hơn 40 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Lịch sử đã khẳng định và chứng minh rằng: Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn. Đó là, đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hóa chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

Quá trình mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết ra đi tìm con đường chân lý đến khi Người trở thành Lãnh tụ Hồ Chí Minh là quá trình đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

Kỳ 3: Tầm nhìn và những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước bước ngoạt của cách mạng

Theo Quân đội nhân dân
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Kỳ 1: Hành trình mở trang sử mới

Bến Nhà Rồng hiện nay trong lung linh ánh điện-Ảnh Internet

QĐND Online – Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành bước chân xuống con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville) với mục đích tìm ra con đường cứu nước. Hành trình cách mạng của người thanh niên ấy (sau này là lãnh tụ Hồ Chí Minh) đã mở ra một trang mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, báo QĐND Online gửi đến bạn đọc tư liệu tổng hợp về một phần hành trình của Người…

Bối cảnh lịch sử Việt Nam

Những năm cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Trước sự áp bức, đè nén của thực dân Pháp, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: Phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung Kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế… Thực dân Pháp đã tìm mọi cách để dập tắt các phong trào yêu nước đó và sau khi dập tắt phong trào , thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác thực địa để làm giàu cho chính quốc.

Sở dĩ các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại có nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do.

Trong bối cảnh đó, xuất hiện một con người – người mà sau này trở thành lãnh tụ của cách mạng Việt Nam. Đó là Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Tất Thành.

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, ở một địa phương có truyền thống yêu nước nồng nàn. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc cũng như vốn kiến thức Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng tỏ rõ tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… nói lên một sự thật lịch sử là: Không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

Mô hình lớp học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết), nơi Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học trước lúc ra đi tìm đường cứu nước. (Ảnh Intrenet)

Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những mỹ từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản – mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới – mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

Ở Trung Quốc, lúc ấy đất nước rộng lớn này bị các nước tư bản phương Tây xâu xé và cũng đang tìm lối ra nhưng đến giữa năm 1911, nhìn chung vẫn chưa có lối thoát mà phải đợi đến tháng 10-1911, dưới sự lãnh đạo của Tôn Dật Tiên, Trung Quốc mới tìm thấy hướng đi thông qua cuộc cách mạng Tân Hợi.

Ở Ấn Độ, đất nước bị thực dân Anh đô hộ, những nhà ái quốc Ấn Độ cũng đang tìm hướng đi cho dân tộc mình và Đảng Quốc Đại đã bước lên vũ đài chính trị.

Ở In-đô-nê-xi-a (bị thực dân Hà Lan đô hộ), nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.Từ 1905, nhiều tổ chức công nhân được thành lập và bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác.

Đất nước Lào, đầu thế kỷ XX, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp…

Như vậy, bối cảnh trong khu vực, thế giới có những thay đổi, đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải có những bước chuẩn bị tiền đề cho sự đi lên của mình. Và ngày 5-6-1911, với tên gọi Văn Ba, từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn cũ), trên con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville), Nguyễn Tất Thành trong vai người phụ bếp đã bắt đầu con đường sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc Việt Nam.

Theo Quân đội nhân dân
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Picasso: “Có một họa sĩ Nguyễn Ái Quốc”

Picasso thời trẻ tại Paris và Nguyễn Ái Quốc thời trẻ trên con tàu sang Pháp

Thiên tài hội họa lớn nhất thế kỷ 20 đã nói về những bức tranh do Nguyễn Ái Quốc vẽ trên tờ báo “Người cùng khổ” với một niềm ngưỡng mộ chân thành trước tâm hồn và tư tưởng của Người.

Cuốn sách “Bác Hồ – một tình yêu bao la” do NXB Kim Đồng phát hành tháng 5/2010 chứa đựng vô số câu chuyện chân thực và xúc động từ những họa sỹ, nghệ nhân lớn trong và ngoài nước kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, trong đó có nhiều sự kiện mà không phải ai cũng biết. Đi kèm với đó là hình ảnh về những tác phẩm nghệ thuật mà họ đã sáng tạo nên, điển hình như tượng chân dung bằng đồng của Vũ Cao Đàm, tranh khắc gỗ Hồ Chủ tịch ở Việt Bắc của Nguyên Văn Ty – Phan Kế An, tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân, tranh bút sắt Bác Hồ của Vân Đa, tranh in đá của Lê Huy Tiếp, bột màu và bút kim “Ngục trung nhật kí” của Lê Huy Trấp, Kí họa Nguyễn Ái Quốc của Eric Johanson (Đức).

Tranh của Bác Hồ đăng trên báo Người cùng khổ (Ảnh chụp từ sách)

Đặc biệt, có một câu chuyện kể về cuộc gặp gỡ của Bác Hồ và danh họa Picasso tại Paris vào năm 1946 – một cuộc gặp đáng nhớ sau 35 năm của hai người bạn, hai người đồng chí từng hoạt động tại Đảng Cộng sản Pháp. Câu chuyện của ông Vũ Đình Huỳnh – Thư ký của Bác thời bấy giờ – được ghi lại bởi tác giả Cần Thư Công trong cuốn sách “Bác Hồ – một tình yêu bao la”, tư liệu này đồng thời đã được xuất bản trên báo Ấp Bắc ra ngày 5/3/1992.

Năm Bác Hồ 21 tuổi đặt chân lên đất Pháp thì gặp họa sỹ Picasso lúc đó 30 tuổi đã nổi danh ở Paris. Hai người kết bạn với nhau rồi lại xa nhau. Năm 1946, Bác qua Pháp để dự Hội nghị Fontainebleau, gặp lại Picasso sau nhiều chục năm xa cách. Ông Vũ Đình Huỳnh – Thư ký của Bác khi đó kể lại cuộc tái ngộ của hai người như sau:

Một hôm, Bác gọi tôi đến bảo:

– Chú thay bộ quân phục, mặc thường phục đi với tôi ngay bây giờ.

Lúc lên xe, đi một quãng Bác mới cho hay:

– Hôm nay, chúng ta đến thăm danh họa Picasso.

Tôi ngạc nhiên:

– Bác cũng quen họa sĩ Picasso à?

Bác nói:

– Giả sử không quen biết từ trước thì đến thủ đô Paris này, chúng ta vẫn phải đến chào một con người sáng tạo hội họa khó hiểu mà nghệ thuật của tranh ông lại làm nhiều người mê.

Bút ký của Bác Hồ "Việt - Nam - độc - lập" (1941) (Ảnh chụp từ sách)

Bác đến không báo trước. Lúc người giúp việc của Picasso đưa Bác đến gần cửa, họa sĩ đã nhận ra Bác. Ông vội chạy tới:

– Chào anh Nguyễn!

Hai người ôm chầm lấy nhau. Rồi Picasso lùi lại một bước ngắm Bác:

Anh chóng già quá, nhưng đôi mắt vẫn trẻ và như sáng hơn thời chúng ta gặp nhau ở Trụ sở nhóm Clarté (Ánh sáng)”.

Picasso đưa Bác đi xem phòng tranh của ông. Bác cầm từng bức tranh, im lặng tuyệt đối. Tôi thấy sự xúc động hiện rõ trên gương mặt trầm tư của Người. Lúc trở vào phòng trà, Picasso hỏi Bác.

– Anh cho tôi một lời khuyên.

Bác nói:

– Chúng tôi đến chiêm ngưỡng nghệ thuật của anh. Mọi lời bình về tranh Picasso chỉ là nét viền quanh cái khung của bức tranh. Anh miễn cho tôi – một người không am hiểu nghệ thuật hội họa cho lắm.

Picasso cười thoải mái, giọng vui hẳn lên:

– Tôi còn nhớ bức tranh anh vẽ trên báo Le Paria (Người cùng khổ), anh ký Nguyễn Ái Quốc bằng chữ Tàu. Ngày ấy tôi nói với Henri Basbusse: “Chỉ mấy nét vẽ này ta đã thấy một tư tưởng, một tâm hồn đẹp tàng ẩn bên trong”. Nếu như anh tiếp tục con đường hội họa thì biết đâu đấy, cũng có thể sẽ có một Nguyễn Ái Quốc họa sĩ. Nhưng hôm nay anh Nguyễn là Hồ Chủ tịch, người đi đầu trong cuộc đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc mình và của các dân tộc bị áp bức khác.

Ông mời Bác uống nước, rồi phác mấy nét chân dung Bác. Xong, ông cất vào cặp giấy vẽ. Đến lúc tiễn Bác ra cửa, ông mới trao cho Bác. Sau đó, Bác trao lại cho tôi cất giữ…

Bác Hồ – một tình yêu bao la – NXB Kim Đồng
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 27-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc

Ngày 27-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội đồng Chính phủ và quyết định giao quyền Chủ tịch nước trong thời gian Bác đi thăm nước Pháp cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, người cao niên nhất trong Chính phủ.

Ngày 27-5-1947, Bác viết thư “Gửi nam nữ chiến sĩ, dân quân, tự vệ và du kích toàn quốc”, khẳng định vai trò “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã. Các chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích ở Nam bộ, ở thủ đô, ở miền duyên hải và ở các nơi đã chứng tỏ sự thực đó một cách rất anh hùng. Từ đây về sau, lực lượng ta càng ngày càng vững, kinh nghiệm ta càng ngày càng nhiều thì ta càng tỏ cho quân địch biết, tỏ cho thế giới biết rằng dân quân, tự vệ và du kích Việt Nam là những người ái quốc sắt đá, là những chiến sĩ anh hùng…”.

Ngày 27-5-1959, Bác dự phiên thảo luận về Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình tại Quốc hội: “Dự Luật Hôn nhân và Gia đình gọi nôm na là dự luật lấy vợ, lấy chồng, nhằm xây dựng hạnh phúc chung, nhưng trước hết là nhằm giải phóng chị em phụ nữ. Việc nghiên cứu bổ sung cho dự luật được hoàn chỉnh là một nhiệm vụ mà Chính phủ phải làm… Nhưng vấn đề này quan hệ mật thiết đến phụ nữ, cho nên khi giải thích tuyên truyền, chị em phụ nữ phải ra sức hoạt động nhiều để tinh thần luật được thấm nhuần đến tất cả mọi tầng lớp trong xã hội, đến từng người, từng địa phương…”.

Ngày 27-5-1965, Bác gửi thư khen quân dân miền Bắc bắn rơi chiếc máy bay thứ 300, cùng lời nhắc nhở phải cảnh giác cao độ trước những bước leo thang chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ.

Ngày 27-5-1969, Bác làm việc với Phó Chủ tịch Ủy ban Thiếu niên, nhi đồng Trung ương về công tác giáo dục và bảo vệ sức khỏe cho trẻ em. Bác căn dặn: “Phải kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội để nuôi dạy và giáo dục các cháu. Tất cả mọi người, mọi đoàn thể, mọi ngành, mọi gia đình phải có trách nhiệm chăm sóc các cháu”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 25-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 25-5-1922, trên báo “L’ Humanité” (Nhân Đạo), với tinh thần cộng sản, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa”, đóng góp ý kiến cho Đảng Cộng sản Pháp về thái độ đối với vấn đề thuộc địa.

Ngày 25-5-1947, sau cuộc hội kiến với Paul Mus, phái viên của chính quyền thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước”, tố cáo thái độ của giới quân phiệt “quen thói hung tàn, bất nhân, vô lễ” và kêu gọi mọi người dân Việt Nam hãy kiên quyết hy sinh chiến đấu, đánh tan bọn quân phiệt thực dân, giành lấy thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Cùng ngày, Bác viết “Thư gửi nhân dân Pháp”, nêu rõ: “Bọn quân phiệt thực dân đã bắt buộc chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, chúng tôi lấy câu châm ngôn hiên ngang của các bạn làm châm ngôn của chúng tôi: “Thà chết không làm nô lệ”. Chúng tôi chiến đấu vì công lý. Chúng tôi sẽ tồn tại. Chúng tôi sẽ chiến thắng”.

Còn trong thư gửi “Anh em văn hóa và trí thức Nam bộ”, Bác nhắn nhủ: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến, tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Nhân dân ta sẵn lòng thân thiện với nhân dân Pháp, nhưng quyết không chịu làm nô lệ cho thực dân phản động. Anh em văn hóa với trí thức là lớp tiên tri tiên giác, càng phải quyết tâm không chịu làm nô lệ”.

Ngày 25-5-1948, Báo Cứu Quốc đăng bài Bác trả lời phỏng vấn của tờ báo Pháp “Frères d ’Armes”. “Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất? Trả lời: Điều ác / Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất? Trả lời: Điều thiện / Hỏi: Chủ tịch cầu mong gì nhất? Trả lời: Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên toàn cầu / Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ gì nhất? Trả lời: Chẳng sợ gì cả! Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì”.

Ngày 25-5-1954, Báo Nhân Dân đăng bài “Tuyên truyền”, trong đó Bác phê phán quan niệm chủ quan coi thường tuyên truyền của địch và nhấn mạnh: “Trách nhiệm của mỗi cán bộ, của mỗi người yêu nước là tìm mọi cơ hội, dùng mọi hình thức để đập tan tuyên truyền giả dối và thâm độc của địch. Chúng ta phải đánh thắng địch về mặt tuyên truyền, cũng như bộ đội ta đã đánh thắng địch về mặt quân sự!”.

Ngày 25-5-1962, dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về “Quy hoạch sông Hồng”, Bác nhắc nhở: “Việc làm phải tính toán cho tốt”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 26-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 26-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh và Chủ tịch Quân ủy hội Võ Nguyên Giáp dự lễ khai giảng Trường võ Trần Quốc Tuấn tại Sơn Tây.

Trong lời chào mừng, Chủ tịch nước căn dặn lớp sĩ quan của quân đội Việt Nam được đào tạo chính quy đầu tiên: “Anh em có nhiều giai cấp, tư tưởng khác nhau, trước hết phải đoàn kết, đoàn kết thật thà. Phải có kỷ luật cả về tinh thần lẫn vật chất. Phải noi gương anh dũng của anh em binh sĩ hồi khởi nghĩa để làm gương cho các lớp về sau. Mong rằng anh em ở đây, bao giờ cũng phải làm theo hai khẩu hiệu mà nó là cái mục đích của anh em: Trung với nước, hiếu với dân”.

Sau khi trao lá cờ thêu 2 khẩu hiệu trên cho Hiệu trưởng Hoàng Đạo Thúy, Bác căn dặn: “Trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, là mục đích của anh em, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Sau khi thăm hỏi các tầng lớp nhân dân Sơn Tây, Bác về dự khai mạc Đại hội Thanh niên Hà Nội.

Tháng 5-1948, đáp lại tấm lòng của các phụ lão xã Vĩnh Đồng, châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã tặng mật ong, Bác viết thư cảm ơn: “Lòng thân ái của các cụ đối với tôi, khiến tôi rất cảm động. Tôi mong rằng các cụ sẽ cố gắng đốc thúc con cháu hăng hái tham gia cuộc thi đua ái quốc, làm cho mọi người đủ ăn, đủ mặc và sẵn sàng giúp đỡ bộ đội và dân quân. Như thế là các cụ cũng trực tiếp tham gia kháng chiến”.

Tháng 5-1950, Bác đến thăm “Lớp đào tạo cán bộ mật mã Lê Lai” tại cánh rừng Bản Cọ (Định Hóa, Thái Nguyên” với lời căn dặn: “Mật mã là công tác cơ mật, quan trọng, vẻ vang… Mật mã phải bí mật, nhanh chóng, chính xác. Các chú làm mật mã phải bí mật và đoàn kết”.

Ngày 26-5-1953, trên Báo Nhân Dân, trong bài viết “18 lần rồi” (ký tên C.B), Bác phân tích sự kiện nội các của nước Pháp thay đổi 18 lần kể từ sau Thế chiến II cũng như sự kiện Chính phủ mới đổ ngày 22-5-1953. Bài báo cho thấy cuộc chiến tranh mà nước Pháp đang tiến hành ở Đông Dương ngày càng trở thành nguyên nhân gây bất ổn trên chính trường Pháp và ngày càng bị lệ thuộc vào Mỹ. Bài báo kết luận: “Chỉ điều đó cũng đủ rõ: thế địch yếu, thế ta mạnh”.

Ngày 26-5-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh (với bút danh T.L) đăng bài “Một cuộc hội nghị rất quan trọng” trên Báo Nhân Dân, bình luận kết quả của Hội nghị các vị đứng đầu các quốc gia độc lập ở châu Phi tổ chức tại Adi Abeba, thủ đô Ethiopi. Bài báo cho rằng, đó là “cuộc biến đổi long trời lở đất” và “Hội nghị này đã làm nổi bật thất bại nhục nhã và bước đường cuối cùng của chủ nghĩa thực dân. Nó làm nổi bật thắng lợi to lớn của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”. Nhân dân Việt Nam “coi thành công của nhân dân châu Phi anh em cũng như thành công của mình”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ cuối

Hành trình của người phụ nữ Mỹ

TT – Người phụ nữ Mỹ này tận tụy gõ từng cánh cửa các sứ quán, bảo tàng, trung tâm lưu trữ của nhiều quốc gia trên thế giới để tìm kiếm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lady Borton không nhớ rõ bao nhiêu cánh cửa đã mở rộng và bao nhiêu cánh cửa khép chặt khi bà tìm đến. Với Lady Borton, Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là duyên nợ, là tình yêu lớn của cuộc đời bà.

Bìa cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh của Lady Borton – Ảnh: Hà Hương

>> Kỳ 1: Cảm xúc từ ngõ Compoint
>> Kỳ 2: 1.000 ngày trên đất Thái

Tìm Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong

Lady Borton sinh năm 1942 tại Washington DC (Mỹ). Bà đến Việt Nam trước năm 1975 và tham gia các hoạt động nhân đạo của Tổ chức Quaker (trung tâm tái định cư) tại Quảng Ngãi. Lady Borton nói được tiếng Việt, bà sống và làm việc tại Việt Nam từ năm 1978 với tư cách nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà hoạt động từ thiện. Những cuốn sách Lady Borton đã viết: Phía sau nỗi buồn (kể về số phận những phụ nữ Việt Nam trong và sau hai cuộc kháng chiến), Hồ Chí Minh – một chân dung (viết chung với C.David Thomas), Hồ Chí Minh – một hành trình…

“Các bạn luôn tin tưởng một cách tuyệt đối vào thông tin về cuộc đời Hồ Chí Minh. Nhưng một số học giả phương Tây nghi ngờ điều đó, đặc biệt họ đặt nhiều câu hỏi về quãng thời gian Hồ Chí Minh ở nước ngoài. Tôi lần theo hành trình của Hồ Chí Minh và tôi muốn chứng minh những lời kể của Hồ Chí Minh bằng tư liệu và dẫn chứng lịch sử” – Lady Borton mở đầu chuyện kể về những hành trình “theo chân” Hồ Chí Minh của mình như vậy.

Cuộc tìm kiếm thầm lặng của Lady Borton kéo dài ròng rã hàng năm trời. Bà bắt đầu tìm kiếm tư liệu về vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong từ kho lưu trữ tòa án, bộ ngoại giao của Anh, Pháp và tất nhiên là ở Hong Kong. Bà nói: “điều tôi luôn băn khoăn là người Pháp, người Anh lúc đó họ nghĩ gì và đánh giá ra sao về Nguyễn Ái Quốc. Những tư liệu về phiên tòa này ở hai bên hẳn ẩn chứa nhiều bất ngờ”.

“Điều thú vị là ngay trang đầu của tập hồ sơ dài 250 trang, người Anh đánh dấu hỏi rất lớn: Nguyễn Ái Quốc là ai? Người Pháp nói với họ rằng Nguyễn Ái Quốc là cộng sản nhưng theo luật Anh, cộng sản cũng có quyền. Họ chỉ quan tâm một điều duy nhất là người thanh niên này chống lại thống đốc Hong Kong. Và chắc họ cũng muốn biết tại sao người Pháp lại sốt sắng bắt người này đến vậy” – Lady Borton kể.

Đàm Thư, một người bạn Việt Nam, đã giúp Lady tìm kiếm tư liệu ở Pháp. Lady hài hước kể: “Chúng tôi gặp một tình huống ngang trái, tôi biết cách tìm nhưng không biết tiếng Pháp, lại là người Mỹ nên không được lên kho lưu trữ. Còn Đàm Thư biết tiếng Pháp, được phép vào nhưng không biết cách tìm”. Cuối cùng khi tìm thấy thì Lady gặp rắc rối lớn là những tài liệu đó chưa đến hạn giải mã. Số tài liệu này sau đó được photocopy và chuyển về Việt Nam thông qua con đường ngoại giao.

“Những tư liệu cho thấy Anh – Pháp tranh cãi với nhau khá gay gắt về Nguyễn Ái Quốc” – Lady Borton khẳng định.

Bà Lady Borton – Ảnh: Hà Hương

Tình yêu của Lady

“Năm 1954 tôi 12 tuổi, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc. Trên tờ báo của trẻ con ở Mỹ có đăng một hình minh họa và kèm theo những lời hù dọa: cộng sản sẽ ăn cắp thế giới. Lúc đó tôi sợ Việt Nam, sợ cả Hồ Chí Minh” – Lady Borton bật cười nhớ lại lần đầu nghe những cái tên đầy duyên nợ với bà.

Nỗi sợ hãi vì những lời hù dọa trẻ con đó nhanh chóng biến mất, thay vào đó là một tình yêu lớn đối với Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lady Borton kể chuyện với ánh mắt lấp lánh: năm 1965 người Mỹ nói nhiều đến Việt Nam và Hồ Chí Minh, trên phố mọi người biểu tình phản đối chiến tranh. Vào thập niên 1960, Lady nhớ tên Việt Nam – Hồ Chí Minh còn nhiều hơn cả tên của những ngôi sao ca nhạc cùng thời.

“Tôi gặp Đàm Thư – một phụ nữ Hà Nội đã sống qua những năm tháng chiến tranh và gian khó. Đàm Thư kể cho tôi về ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Đó là Việt Nam qua con mắt của một cô bé 10 tuổi. Đàm Thư kể rằng mọi người đều muốn đổ ra đường, nhưng gia đình nào cũng có một người ở nhà để thắp hương cho những người đi xa báo rằng nước mình đã độc lập. Đàm Thư cũng kể về Tết Trung thu 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với trẻ em. Người nói rằng: các cháu là dân của một nước độc lập. Có lẽ chính những câu chuyện nhỏ của Đàm Thư đã tiếp thêm tình yêu của tôi với Việt Nam và Hồ Chí Minh. Và tôi bắt đầu nghiên cứu sâu về Hồ Chí Minh từ đó” – Lady kể về mối duyên của mình như vậy.

Mùa hè này Lady Borton sẽ về Mỹ để tiếp tục cuộc tìm kiếm mới của mình, đó là những tư liệu về thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Mỹ năm 1913. Bà chia sẻ: “Tôi nghĩ bản thân Hồ Chí Minh biết cách mạng Mỹ hoàn toàn không phù hợp với Việt Nam. Tại sao nước Mỹ lại giữ chân Hồ Chí Minh lâu đến vậy? Có thể ở Boston, Người đã tiếp xúc với phong trào đấu tranh của người da đen và đọc bản yêu sách do William Monroe Trotter (một người Mỹ da đen đã tốt nghiệp Đại học Harvard) viết, kèm chữ ký của 200.000 người gửi tổng thống Thomas Woodrow Wilson.

Hơn nữa, tôi nhớ một nhà báo nước ngoài từng nói những tháng năm ở Mỹ sẽ ảnh hưởng rất lớn cách nhìn và các quyết sách của Hồ Chí Minh khi Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Cho nên việc Hồ Chí Minh đã đi đâu, tiếp xúc với ai trong năm 1913 sẽ là những thông tin quan trọng để giải mã thêm giai đoạn đầu ra đi tìm đường cứu nước của Người”.

Cuộc “theo chân” chàng trai Nguyễn Ái Quốc có đôi mắt sáng ở Mỹ của Lady Borton đã bắt đầu từ vài năm nay. Với bà, khi cánh cửa này đóng lại cũng có nghĩa là cánh cửa khác mở ra, và hành trình tìm kiếm những “miếng ghép” của cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ dừng lại.

HÀ HƯƠNG

tuoitre.vn

Kỷ vật của Bác Hồ – Kỳ 2

1.000 ngày trên đất Thái

TT – Một ngày tháng 9-1969, người thanh niên Ngô Vĩnh Bao lặng lẽ cất vào ngăn tủ một chiếc băng tang. Chiếc băng tang được ông giữ lại sau lễ viếng Bác Hồ. Rồi ngăn tủ có thêm một viên gạch xây lăng ông tìm thấy ở quảng trường Ba Đình năm 1976.

Gần 40 chuyến đi trong suốt 1.000 ngày ở Thái Lan, ông Ngô Vĩnh Bao kiên trì lần theo từng chút thông tin, đầu mối cho biết về những địa điểm Bác Hồ từng đi qua từ năm 1929-1931. Cứ hết giờ làm việc ở Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Khonkaen (Thái Lan), ông Bao lại vùi đầu nghiên cứu hàng chục cuốn hồi ký của những Việt kiều từng hoạt động với Bác Hồ tại Thái Lan, các bài viết hay câu chuyện kể của Người.

Năm 1911

Tháng 6, sau ngày 5: Sau khi nhận việc ở tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, Nguyễn Tất Thành viết thư về cho thầy giáo Hải, dạy tiếng Pháp ở Trường Dục Thanh báo tin mình đã đi ra nước ngoài.

– Hồi ức của các ông: Nguyễn Quý Phầu, Nguyễn Ðăng Lầu, Từ Trường Phùng, học sinh Trường Dục Thanh năm học 1910-1911. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– Tư liệu của cuộc Hội thảo khoa học Bác Hồ với Thuận Hải, Thuận Hải với Bác Hồ, tháng 5-1986. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh. (…)

Tháng 10, trước ngày 31: Nguyễn Tất Thành vẫn làm việc trên tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, theo hành trình con tàu trở về Sài Gòn.

– Hồi ký của Từ Trường Phùng.

– Sổ lĩnh lương tàu Amiran Latusơ Tơrêvin (bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh, ghi rõ nhận lương tại Sài Gòn, ngày 16-10-1911, chữ ký Văn Ba).

Tháng 10, ngày 31: Từ Sài Gòn Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ chuyển số tiền 15 đồng cho cha là Nguyễn Sinh Huy. Số tiền trên đã được ông Nguyễn Sinh Huy ký nhận ngày 9-11-1911.

– Hồ sơ của Chánh mật thám Trung kỳ lập tại Huế, ngày 12-1-1923. Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

– D.Hémery: Jeunesse d’un colonisé, genese d’un exil…, Approche – Asie No11 – 1992, p.132.

(Sách Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử tập 1
(1890-1929) NXB Chính Trị Quốc Gia năm 2006,
trích trang 41, 42 và 45).

Lật cuốn tư liệu mô tả hành trình của ông Thầu Chín (tên của Bác Hồ thời ở Thái Lan) trong ba năm tại Thái Lan, ông Ngô Vĩnh Bao xúc động nói: “Tôi trở đi trở lại trên những con đường Bác đã đi qua. Mỗi chặng hành trình của Bác, tôi cố gắng trở lại, đôi khi không phải chỉ để tìm kiếm kỷ vật mà để cố gắng hiểu tâm trạng của Người”.

Có lần ông Bao đi tìm nơi Bác Hồ đã viết một bài thơ. Một người Thái tốt bụng đã đưa ông đi tìm khúc sông hằng ngày Bác vẫn ngồi ngắm cảnh. “Có những lúc ròng rã tìm kiếm mấy ngày trời rồi lại thất vọng về không”, ông Bao kể về những ngày đầu dò đường đi tìm kỷ vật Bác Hồ ở Thái.

Cứ mải miết đi về từng chuyến như vậy, nhưng có những kỷ vật của Bác ông tìm ròng rã suốt ba năm trời trên đất Thái. Chỉ chiếc phản gỗ đặt trang trọng giữa nhà, ông Bao bồi hồi nhớ lại: “Tôi tìm chiếc phản này suốt thời gian ở Thái Lan, may mắn đến lúc sắp về nước mới tìm thấy. 80 năm, chiếc phản đã kịp qua tay 10 người chủ. Tôi là người chủ thứ 11 của chiếc phản này đấy”.

Đó là chiếc phản gỗ mà Bác Hồ đã ngủ trong những ngày ở lại hiệu thuốc của ông Đặng Văn Cáp (năm 1929). Sau đó không lâu ông Cáp bị bắt, những Việt kiều ở Thái Lan chia nhau cất giữ tài sản trong hiệu thuốc.

Ông Bao kể: “Tôi đến Thái chỉ biết một đầu mối duy nhất là chiếc phản được ghép từ ba miếng gỗ, miếng giữa lớn và nguyên, còn hai miếng bên cạnh có vết nứt. Rồi tình cờ tôi tìm thêm được hồi ký của ông Cáp, dò hỏi từng gia đình Việt kiều về chiếc phản gỗ. Ký ức gần 80 năm người nhớ người quên, người nhớ cũng không rõ ràng gì. Tôi cứ tìm hết người chủ này đến người chủ kia, đến người thứ 10 thì tôi tìm thấy chiếc phản.

Có một điều mà suốt ba năm đi tìm chiếc phản ông Bao không thể ngờ tới là những Việt kiều ở Thái đã giữ gìn nó như giữ gìn sinh mạng của chính mình và luôn mong ngày chuyển chiếc phản về Tổ quốc. Ngày ông tìm đến nhà ông Bùi Bá Ba ở tỉnh Sakon Nakhon, người chủ thứ 10 của chiếc phản đang bị nhồi máu cơ tim phải cấp cứu trong bệnh viện.

“Tôi nhớ lúc tôi theo cô con gái vào thăm ông Ba, ông ấy còn yếu và chưa nói được. Cô con gái cầm tay cha hỏi: người này có thể xin lại chiếc phản gỗ mang về Việt Nam không? Ông Ba gật đầu mà khóe mắt rơm rớm” – ông Bao xúc động kể.

Những kỷ vật của cuộc đời

1.000 ngày “theo chân Bác” mang lại những kỷ vật vô giá như chiếc phản gỗ, chiếc ghế Bác từng ngồi làm việc, viên gạch lát nền nhà ở bản Mạy (tỉnh Nakhon Phanom), hai chiếc chân đèn bằng gỗ Bác Hồ dùng năm 1929… Những kỷ vật này được ông cất cẩn thận như một phần máu thịt của mình suốt nhiều năm qua.

Ông Ngô Vĩnh Bao còn giữ được 20 cuốn hồi ký của các Việt kiều từng hoạt động cùng Bác trong thời gian Người ở Thái. “Đọc hồi ký tôi biết họ đã cùng Bác đi đến những điểm nào, trong thời gian bao lâu. Ráp nối các chi tiết đó, tôi đã vẽ được toàn bộ hành trình của Bác đi qua chín tỉnh Thái Lan từ năm 1929-1931”, ông Bao nhớ lại.

Riêng bản đồ hành trình, các tư liệu ghi chép Bác Hồ đã đi những đâu, gặp gỡ ai, ảnh tư liệu hay nhân chứng hành trình của Bác, ông Bao tập hợp trong ba tập dày.

Nhìn kho tư liệu chật kín các ngăn tủ, ông Bao nói: “Ban đầu tôi thu thập tư liệu về Bác Hồ chủ yếu để làm một bộ sưu tập chi tiết về ba năm Người sống và hoạt động ở Thái Lan. Nhưng sau khi hoàn thành xong ba tập, tư liệu vẫn còn ngập cả một gian phòng lớn. Tôi sắp xếp lại theo thứ tự thời gian từ lúc Bác còn nhỏ đến ngày Bác ra đi, xếp đi xếp lại đến 19 tập dày”.

Đối với ông, những kỷ vật về Bác Hồ từ lâu đã trở thành một phần đời không thể thiếu của mình…

HÀ HƯƠNG

Ông Ngô Vĩnh Bao và cuốn tư liệu về hành trình của Bác Hồ từ năm 1911 Ảnh: Tiến Thành

Ông Ngô Vĩnh Bao sinh ở Vientiane (Lào) năm 1944. Năm 2 tuổi, ông theo gia đình di cư sang Thái Lan. Mãi đến năm 1960 gia đình ông mới hồi hương về Việt Nam. Ông Ngô Vĩnh Bao học phổ thông, đi làm công nhân, học đại học rồi về công tác tại văn phòng Cục Phục vụ (Bộ ngoại giao). Từ năm 1999-2002, ông giữ chức lãnh sự tại Tổng lãnh sự quán Việt Nam ở tỉnh Khonkaen (Thái Lan). Nhiều Việt kiều ông gặp trong hành trình 1.000 ngày “theo chân Bác” là người quen cũ thời còn sống trên đất Thái.

_________________

Người phụ nữ Mỹ tận tụy đến gõ từng cánh cửa của các sứ quán, bảo tàng, trung tâm lưu trữ… của nhiều quốc gia trên thế giới để tìm kiếm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà không nhớ rõ bao nhiêu cánh cửa đã mở rộng với mình…

Kỳ tới: Hành trình của người phụ nữ Mỹ

tuoitre.vn