Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

Điện cảm ơn các vị đứng đầu nǎm nước châu Phi dự Hội nghị Lơ Ke (6-4-1967)

Chúng tôi vui mừng được tin Hội nghị nguyên thủ nǎm nước bạn, trong đó có Ngài, vừa họp tại Lơ Ke đã lên án Mỹ xâm lược Việt Nam, đòi Mỹ phải chấm dứt tức khắc và không điều kiện việc ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, phải rút lực lượng Mỹ ra khỏi Việt Nam, phải thừa nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là đại diện duy nhất có giá trị và tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam.

Chúng tôi coi đó là một sự ủng hộ quý báu đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của chúng tôi và một biểu hiện đẹp đẽ của tình đoàn kết giữa nhân dân các nước á – Phi. Thay mặt nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tôi chân thành cảm ơn Ngài đã góp phần quan trọng vào sự ủng hộ quý báu đó.

—————————

Báo Nhân dân, số 4761, ngày 22-4-1967.

1) Hội nghị những vị đứng đầu nǎm nước: Cộng hoà A Rập thống nhất, Angiêri, Ghinê, Môritani và Tandania họp ở Lơ Ke từ ngày 4 đến ngày 6-4-1967. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện cảm ơn từng vị đứng đầu nǎm nước nói trên.

cpv.org.vn

Thư gửi bộ đội pháo binh (13-4-1967)

Thân ái gửi cán bộ, chiến sĩ pháo binh,

Pháo binh ta có truyền thống oanh liệt chân đồng vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng.

Các đồng chí đã phát huy tốt truyền thống ấy, lập được thành tích mới vẻ vang, bắn trúng nhiều tàu chiến Mỹ, bắn chìm nhiều tàu biệt kích Mỹ và tay sai, đánh trả pháo binh địch, diệt nhiều giặc Mỹ.

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ pháo binh ta.

Các đồng chí chớ vì thắng lợi mà chủ quan. Phải ra sức học tập và thi đua với pháo binh Quân giải phóng miền Nam tài giỏi, anh hùng. Phải nêu cao chí khí quyết chiến, quyết thắng, đoàn kết phối hợp tốt với các đơn vị bạn và nhân dân nắm vững chiến thuật, kỹ thuật, giữ gìn xe tốt, pháo tốt, tiết kiệm đạn dược, đánh giỏi, bắn trúng, lập nhiều chiến công to lớn hơn nữa.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 13 tháng 4 nǎm 1967
Bác Hồ

————————–

Báo Nhân dân, số 4753, ngày 14-4-1967.
cpv.org.vn

Điện mừng Đại hội lần thứ VII Đảng Xã hội thống nhất Đức (15-4-1967)

Kính gửi Đại hội lần thứ VII Đảng Xã hội thống nhất Đức,

Béclin

Thưa các đồng chí thân mến,

Thay mặt Đảng Lao động Việt Nam, giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, chúng tôi xin gửi đến Đại hội lần thứ VII Đảng Xã hội thống nhất Đức và nhờ Đại hội chuyển đến toàn thể đảng viên, giai cấp công nhân và nhân dân Đức lời chào nhiệt liệt nhất.

Đảng Xã hội thống nhất Đức đã có một lịch sử đấu tranh rất vẻ vang và đã thu được nhiều thắng lợi to lớn, làm rạng rỡ thêm sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Đức, làm cho chủ nghĩa xã hội được thực hiện trên quê hương của Mác và ǎngghen, những người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, những người thầy của cách mạng vô sản thế giới.

Sau khi chủ nghĩa phát xít Đức bị đập tan, Đảng Xã hội thống nhất Đức đã thực hiện được sự thống nhất giai cấp công nhân, liên minh rộng rãi với các lực lượng dân chủ, hoàn thành thắng lợi hai cuộc cách mạng dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa trên một phần ba nước Đức, dựng lên Nhà nước công nông đầu tiên của nhân dân lao động Đức. Nước Cộng hoà Dân chủ Đức ra đời là một biến đổi quan trọng trong lịch sử của dân tộc Đức và của các dân tộc châu Âu.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Xã hội thống nhất Đức, nhân dân Cộng hoà Dân chủ Đức dũng cảm đang xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nước Cộng hoà Dân chủ Đức đã trở thành một nước công nghiệp phát triển cao, có một nền nông nghiệp hiện đại; đời sống vật chất và vǎn hoá của nhân dân được cải thiện không ngừng. Nước Cộng hoà Dân chủ Đức là tiền đồn vững mạnh ở phía Tây của phe xã hội chủ nghĩa, là một bảo đảm chắc chắn cho hoà bình ở châu Âu và thế giới. Với những thành tựu to lớn của mình, nước Cộng hoà Dân chủ Đức đã góp phần quan trọng vào việc tǎng cường lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đấu tranh chung cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.

Thưa các đồng chí thân mến,

Chúng tôi phấn khởi nhận thấy tình đoàn kết hữu nghị giữa hai Đảng và nhân dân hai nước chúng ta ngày càng phát triển tốt đẹp.

Đảng Xã hội thống nhất Đức, Chính phủ và nhân dân nước Cộng hoà Dân chủ Đức tận tình ủng hộ về mọi mặt công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam và sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của toàn dân Việt Nam, kiên quyết lên án đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam và lên án bọn cầm quyền phản động Tây Đức câu kết với đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược nước chúng tôi. Đó là một sự cổ vũ to lớn đối với nhân dân Việt Nam chúng tôi quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Nhân dịp này, chúng tôi xin gửi đến Đảng Xã hội thống nhất Đức, Chính phủ và nhân dân nước Cộng hoà Dân chủ Đức anh em lòng biết ơn của chúng tôi.

Là những người anh em, những người bạn chiến đấu thân thiết của nhân dân Đức, chúng tôi kiên quyết ủng hộ nước Cộng hoà Dân chủ Đức trong cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, chống bọn quân phiệt phục thù Tây Đức, đòi chúng phải từ bỏ chính sách xâm lược, từ bỏ yêu sách vô lý về quyền đại diện cho cả nước Đức; đòi chúng phải công nhận sự tồn tại của hai nhà nước Đức, công nhận các đường biên giới hiện nay ở châu Âu và phải từ bỏ tham vọng đòi sử dụng vũ khí hạt nhân. Chúng tôi tin chắc rằng với chủ trương đúng đắn của Đảng Xã hội thống nhất Đức, với sự đoàn kết của nhân dân Đức, sự ủng hộ của phe xã hội chủ nghĩa và của nhân dân tiến bộ toàn thế giới, cuộc đấu tranh chính nghĩa của các đồng chí nhất định sẽ thắng lợi vẻ vang.

Kính chúc Đại hội lần thứ VII Đảng Xã hội thống nhất Đức thành công tốt đẹp.

Chúc Đảng Xã hội thống nhất Đức giành được nhiều thắng lợi to lớn trong việc động viên toàn Đảng, toàn dân thực hiện những nhiệm vụ to lớn do Đại hội đề ra.

Chúc tình đoàn kết chiến đấu giữa hai Đảng và nhân dân hai nước chúng ta trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản ngày càng củng cố và phát triển.

Hà Nội, ngày 15 tháng 4 nǎm 1967
Hồ Chí Minh

—————————-

Báo Nhân dân, số 4756, ngày 17-4-1967.
cpv.org.vn

Hình ảnh Bác Hồ dưới con mắt sinh viên Nhật

Hinh anh Bac Ho duoi con mat sinh vien Nhat

Bác Hồ ôm hôn cháu bé tại Việt Bắc năm 1950.

Có lần, tôi hỏi em Simizu, sinh viên sắp tốt nghiệp của Khoa tiếng Việt, trường ĐH Ngoại ngữ Tokyo, nơi tôi đang giảng dạy, là “vì sao em học tiếng Việt?”. Simizu trả lời rất nghiêm túc, bằng tiếng Việt rất chuẩn: “Vì em muốn tìm hiểu tại sao Bác Hồ được đông đảo nhân dân Việt Nam kính trọng, còn ở Nhật, thì chưa có vị lãnh tụ nào được như thế”.

Bác không dạy cái tục xấu đó

Tôi thực sự kinh ngạc trước câu trả lời của em Simizu, một sinh viên Nhật giỏi của Khoa tiếng Việt. Các sinh viên người Nhật học tiếng Việt ở trường Đại học ngoại ngữ Tokyo phần đông học tiếng Việt vì yêu thích Việt Nam, vì có thiện cảm với Việt Nam, và với nhiều em, vì hình ảnh đáng kính của Bác Hồ.

Đề tài luận văn tốt nghiệp của em Simizu là về Bác Hồ. Simizu nói với tôi rằng em đã tự hài lòng được phần nào về câu trả lời cho câu hỏi trên của em. “Theo em, sở dĩ phần lớn nhân dân Việt Nam kính trọng, yêu thích Bác Hồ, là vì Bác Hồ có đạo đức rất trong sáng, và có phong cách rất dản dị, dễ gần với nhân dân. Và điều dĩ nhiên nữa, là Bác Hồ đã lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến giành độc lập cho nhân dân Việt Nam, mà nhiều nhà kháng chiến khác không làm được”.

– Thế cá nhân em thì sao? Em có yêu thích Bác Hồ không? tôi hỏi.

– Vâng, tất nhiên. Em nghĩ người nước ngoài biết đến nhân dân Việt Nam, cũng một phần nhờ hình ảnh của Bác Hồ. Nhưng tiếc rằng, giờ đây ở Việt Nam, có nhiều điều Bác Hồ dạy, người ta không thực hiện đâu. Em rất buồn.

Sau khi tốt nghiệp, Simizu làm việc cho một văn phòng đại diện của một cơ quan Việt Nam ở Tokyo. Nhưng sau đó em nhanh chóng bỏ việc, vì thấy ở đấy làm việc thiếu trong sáng. Hiện nay, Simizu đã thi đỗ, trở thành phóng viên hãng truyền hình NHK, hãng truyền hình lớn nhất Nhật Bản.

Kimura, một sinh viên khác cũng đã tốt nhiệp Khoa tiếng Việt, và đang làm việc cho một công ty Nhật có đầu tư ở Việt Nam. Kimura học tiếng Việt vì có thiện cảm với Việt Nam. Nhưng em đã bị một ấn tượng xấu về lớp cán bộ Việt Nam hiện nay. Có một đại diện cơ quan Việt Nam sang Tokyo liên hệ việc mua hàng của công ty Nhật, nơi Kimura làm việc. Người này đã gợi ý là muốn bán được hàng cho phía Việt Nam, thì công ty Nhật phải biết “nhập gia tùy tục”.

Kimura nói với tôi: “Em biết văn hóa người Việt Nam, là “nhập gia phải tùy tục”, khách đến nhà thì phải theo phong tục, tập quán của chủ nhà. Nhưng cái văn hóa đó không phải theo cái “tục xấu” mà người kia gợi ý. Em đã mời người đó về. Mời anh đi mua hàng ở công ty khác. Bác Hồ không dạy cái “tục xấu” đó cho các anh”.

Những lỗi lầm chính của quan chức

Hinh anh Bac Ho duoi con mat sinh vien Nhat

Cô Suzuki Kotona đang nghiên cứu về văn hoá ở Việt Nam: “Em chỉ mong người dân Việt Nam được thực sự hạnh phúc như Bác Hồ mong muốn”.

Có một em tên là Suzuki, tuy không học tiếng Việt tại Khoa tiếng Việt, trường Đại học ngoại ngữ Tokyo, nhưng rất giỏi tiếng Việt. Gần đây, Suzuki đưa cho tôi một cuốn sách đầu đề “Văn kiện Đảng 1945-1975”, do Ban nghiên cứu lịch sử đảng trung ương xuất bản năm 1978. Ngoài bìa thấy đề “lưu hành nội bộ”. Giở cuốn sách Văn kiện ra, tôi thấy các tài liệu về hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam rất tốt, nhiều bài viết rất hay của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rất đáng lưu hành rộng rãi cho nhân dân được biết, chẳng có gì đáng phải ghi là “lưu hành nội bộ” cả. (Bây giờ – năm 2005, đã gần 30 năm trôi qua, kể từ khi xuất bản cuốn sách Văn kiện này, có lẽ tình hình đã thay đổi, không cần phải “lưu hành nội bộ” nữa).

Suzuki muốn tôi giải thích giúp em về một bài viết của Bác Hồ in trong tập sách này. Trang 16 có bài viết nhan đề “Gửi các ủy ban nhân dân, các Bộ, Tỉnh, Huyện và các Làng”, tháng 10/1945, ký tên Hồ Chí Minh. Nội dung đại khái như sau (xin trích):

“Hỡi các bạn. Nước ta bị Tây áp bức hơn 80 năm, bốn, năm năm bị Nhật áp bức. Dân ta đói rét khổ sở không thể nói hết… Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có nghĩa lí gì. Chính phủ ta đã hứa với dân sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc…

Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, thì dân mới yêu ta, kính ta.

Tôi vẫn biết rằng trong các bạn có nhiều người làm theo đúng chương trình của chính phủ và rất được lòng nhân dân. Song cũng có nhiều người phạm những lầm lỗi rất nặng nề.
Những lầm lỗi chính là:

1. Trái phép – Những tên Việt gian phản quốc chứng cớ rõ ràng thì phải trừng trị đã đành, không ai trách được. Nhưng cũng có lúc vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu gia sản, làm dân oán thán.

2. Cậy thế – Cậy mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng muốn sao làm vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân.

3. Hủ hóa – Ăn uống cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ở đâu mà ra? Thậm chí lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên, đến các cô, các cậu ủy viên cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai chịu?…”

Trong thư này Bác Hồ còn liệt kê thêm lỗi lầm tư túng, kéo bè kéo cánh để bổ nhiệm chức vụ cho nhau. Chia rẽ, bênh vực lớp này, chống lớp khác. Kiêu ngạo, tự coi mình là thần thánh, coi khinh nhân dân. Để kết luận, Bác Hồ viết: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa…Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà mà tôi phải nói. Chúng ta phải ghi sâu những chữ công bình, chính trực vào lòng”.

Sau khi tôi giải thích xong các khái niệm khó trong bức thư này của Bác Hồ – bức thư Bác viết sau khi Bác đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa đầy một tháng – Suzuki vô cùng thích thú. Em nói: “Giá như bây giờ người ta thực hiện tốt các lời Bác Hồ nói nhỉ”. Suzuki nói là bà chủ nhà ở Hà Nội, nơi em thuê nhà khi học ở Hà Nội, thường phàn nàn về tệ hách dịch, cửa quyền, xếch mé với dân ở chính quyền phường, khi dân có việc đến phường.

Đừng để tiếng ta thán nhiều thêm

Đọc lại lời Bác Hồ dạy từ 60 năm trước, ngay sau khi chính quyền cách mạng mới thành lập, người ta thấy vẫn còn nguyên giá trị. Ở Việt Nam giờ đây, nhiều người viện dẫn lời Bác Hồ rất nhuần nhuyễn, nhất là trên các diễn đàn hội nghị, nhưng trong thực tế không hề làm theo lời Bác Hồ dạy. Chính vì thế mà giờ đây, tiếng ta thán của người dân mới tăng lên, tệ tham nhũng tràn lan, người bất tài, đạo đức giả được trọng dụng, người tài bị khinh rẻ.

Tôi thường cố gắng nói đến những thành quả của công cuộc đổi mới ở Việt Nam cho sinh viên Nhật nghe. Nhưng nhiều sự thật không thể dấu được, nhất là với các sinh viên đã đi Việt Nam học, như chuyện thủ tục hành chính, chuyện tham nhũng, chuyện hành dân, chuyện oan sai. “Em chỉ mong người dân Việt Nam được thực sự hạnh phúc như Bác Hồ mong muốn” – Suzuki nói…

Minh Tuấn (từ Tokyo)
vietbao.vn

Gặp người Séc dịch “Nhật ký trong tù” của Bác Hồ

GS.TS Ngôn ngữ học và Quốc tế học Ivo Vasiljev là người Séc đầu tiên và đến nay là người duy nhất dịch trọn tập thơ “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông kể rằng từ năm 1953 ông bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam. Ivo Vasiljev và vợ cùng học một trường đại học ở Praha (Tiệp Khắc ngày đó). Sau khi tốt nghiệp đại học, ông chọn ngành nghiên cứu Việt Nam học, còn vợ ông nghiên cứu về Nhật Bản.

Ivo Vasiljev chỉ học tiếng Việt ở Praha song ông nói không khác là mấy so với người Hà Nội. Lúc đầu là học từ thầy người Tiệp Khắc, sau được học 2 thầy giáo người Việt Nam là Dương Khắc Từ hiện là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và ông Trần Xuân Đài, Đại học Sư phạm Hà Nội.

Ông Dương Khắc Từ đã dịch nhiều tác phẩm văn học Tiệp Khắc sang tiếng Việt Nam. Ông Từ đã dạy tiếng Việt cho Ivo Vasiljev một thời gian ngắn khi sang Tiệp Khắc học đại học.

Sau đó, Ivo Vasiljev tiếp tục học tiếng Việt từ ông Đài khi đó được Chính phủ Việt Nam cử sang Tiệp Khắc dạy tiếng Việt. Thời gian này, Ivo Vasiljev và thầy Đài làm việc theo kiểu một thầy, một trò mỗi tuần 18 giờ.

Ít lâu sau ông Ivo Vasiljev đủ trình độ cùng với thầy Đài đứng lớp dạy tiếng Việt cho học sinh Tiệp Khắc.

Năm 1966, lần đầu tiên Ivo Vasiljev được gặp Bác Hồ tại Hà Nội. Đó là lần ông làm phiên dịch cho đoàn đại biểu Chính phủ Tiệp Khắc sang thăm Việt Nam. Lần ấy ông có ấn tượng rất sâu sắc về Bác Hồ, đặc biệt là sự ân cần thăm hỏi của Người đối với người phiên dịch Ivo Vasiljev.

Từ ấn tượng sâu sắc được gặp Bác Hồ lần ấy, khoảng năm 1982 ông Ivo Vasiljev tìm hiểu và quyết định bắt đầu dịch Nhật ký trong tù.

Ivo Vasiljev cho biết ông không có năng khiếu thơ nên chỉ dịch ý từ nguyên bản, sau đó một nhà thơ Tiệp Khắc đã dịch sang thơ bằng tiếng Séc, một năm thì việc dịch xong xuôi. Trong cả tập thơ Nhật ký trong tù, ông Ivo Vasiljev thích nhất 2 bài thơ Nghe tiếng giã gạo và bài Học đánh cờ.

Giáo sư cho rằng cả tập thơ Nhật ký trong tù toát lên sự khao khát tự do cháy bỏng không chỉ của tác giả bị cầm tù mà còn của cả dân tộc của Người đang phải sống dưới ách đô hộ của ngoại bang. Ivo Vasiljev cho rằng Bác Hồ không chỉ là một nhà chính trị tài ba, một lãnh tụ vĩ đại mà còn là một người có sự hiểu biết rất sâu sắc về con người.

Theo Nguyễn Đại Phượng
Tiền phong
dantri.com.vn

Di chúc của Bác Hồ về quyền của trẻ em

(Dân trí) – Trong bản di chúc của mình, Bác Hồ 2 lần nhắc đến nhi đồng. Một lần ở đoạn mở đầu và một lần ở đoạn kết thúc. Bác viết: “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp 2 miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.

Ở đoạn kết thúc Bác lại viết: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng”.

Xưa nay, ở nước ta và ngay cả trên thế giới quả hiếm có vị lãnh tụ nào dành nhiều tình cảm, suy nghĩ và cả thời gian quý báu cho các cháu thiếu niên, nhi đồng như Bác Hồ, cho đến khi sắp từ biệt thế giới này Bác đã hai lần nhắc đến các cháu “Nhi đồng yêu quý của chúng ta”. Suốt một đời chăm lo những việc lớn của đất nước, Bác vẫn là người quan tâm hơn bất cứ ai đến việc chăm sóc con trẻ, đến việc trồng người. Tình yêu trẻ thơ của Bác không đơn giản chỉ là một tình cảm thông thường.

Đó là một tình cảm sâu sắc, rộng lớn xuất phát từ một chủ nghĩa nhân đạo cao cả với ý thức rõ rệt, là cháu sẽ là những người tiếp tục sự nghiệp của cha ông, những người trực tiếp xây dựng xã hội tương lai. Tình yêu đó, sự quan tâm đặc biệt đó còn bắt nguồn từ lý tưởng cao đẹp của Người: suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp vĩ đại: giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ở Người, quan điểm về bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đã sớm trở thành một bộ phận của tư tưởng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội văn minh, dân giàu, nước mạnh. Dân tộc không được giải phóng thì trẻ em không được bảo vệ, chăm sóc, không được hưởng các quyền lợi cơ bản của mình. Đất nước không được giàu mạnh thì trẻ em không được ấm no, hạnh phúc.

Thật hết sức xúc động khi đọc bài viết của Bác trước khi từ biệt thế giới này để gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, Bác viết: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ… Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.

Là một nhà giáo dục vĩ đại, Bác Hồ coi trọng việc giáo dục thế hệ trẻ không chỉ ở nội dung mà cả phương pháp dạy học và giáo dục. Nói chuyện với lớp cán bộ đào tạo mẫu giáo, Bác nhắc nhở: “…làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ như trồng cây non. Trông cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này cháu trở thành người tốt”. “Trong lúc học cẩn phải làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học…”

Về nội dung giáo dục ở các cấp học, Bác nhắc nhở nhiều lần: “Cần chú trọng hơn nữa về mặt đức dục; Dạy cho các cháu đạo đức cách mạng, biết yêu Tổ Quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, yêu lao động và người lao động, thật thà,dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động và bảo vệ Tổ Quốc”. Những điều Bác dạy về nhi đồng, về việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ toát lên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Thanh Hoàng
Tham khảo Các tư liệu về Hồ Chủ Tịch
cpv.org.vn

Bác Hồ tiết kiệm đến từng con chữ

(Dân trí) – Có rất nhiều câu chuyện cảm động về tấm gương giản dị và tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà cho đến tận bây giờ vẫn còn nguyên giá trị. Nhân kỷ niệm 48 năm ngày mất của Người, Dân trí xin trích đăng hai câu chuyện nhỏ nhưng đầy ý nghĩa.

Câu chuyện về 3 chữ “đinh” – ghi theo lời kể của bác Hồ Ngọc Quýnh – Cục lưu trữ quốc gia

Khoảng cuối năm 1954, đầu năm 1955, khi mới tiếp quản Thủ đô, Trung ương Đảng còn đóng trụ sở ở nhà thương Đồn Thủy, nay là bệnh viện Việt Xô – nơi Bác làm việc.

Bác dặn tôi buổi sáng tranh thủ đọc báo để ghi vào sổ gương người tốt, việc tốt. Rồi sáng sáng, từ 7h đến 7h15, Bác sẽ dành thời gian xem. Nếu có chỗ nào cần lưu ý, Bác lấy bút đỏ gạch dưới và dặn:

– Chú về nói với chú Lương (ông Nguyễn Văn Lương – nguyên bí thứ thành uỷ Hà Nội) thưởng hoặc nhắc địa phương, cơ quan xí nghiệp khen thưởng những người có nhiều thành tích mà Bác đã đánh dấu.

Sáng nào cũng vậy, đọc xong bản ghi chép, Bác cũng chữa câu văn cho tôi. Một lần, tôi đọc báo Nhân Dân và ghi vào sổ: “Tổ sản xuất Dân chủ sản xuất đinh, tháng 1 sản xuất được 50 vạn chiếc đinh, tháng 2 nhờ phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật sản xuất được 60 vạn chiếc đinh”. Đọc xong, Bác lấy bút đỏ gạch bỏ 2 chữ “đinh ở cuối câu rồi nói:

– Chú viết một câu ngắn mà có 3 chữ “đinh”. Phải tiết kiệm giấy mực, công sức và thời gian. Đọc 2 chữ “đinh” mất một giây, cả triệu người thì hết bao nhiêu thời gian.

Tôi còn giữ mãi quyển sổ trong đời họat động công tác. Bác chữa nhiều chỗ, nhưng tôi nhớ nhất câu chuyện về 3 chữ “đinh” trong một câu đó. Hai chữ “đinh” đằng sau Bác gạch bằng bút đỏ. Tôi càng ngày càng thấm thía sự dạy bảo của Bác. Nếu ai cũng có ý thức tiết kiệm như Bác, chắc chắn rằng nền kinh tế của đất nước ta đã khấm khá hơn rồi.”

Bữa ăn tập thể của Bác – ghi theo lời kể của bác Vũ Kỳ – thư ký của Bác

Khi đã về ở, làm việc trong Bắc Bộ phủ, anh em cấp dưỡng vẫn nấu một nồi to. Đến giờ thì Bác cùng xuống ăn với anh em những bữa cơm đạm bạc như những ngày trong kháng chiến.

Anh em giúp việc định nấu riêng cho Bác nhưng Bác nhất định không chịu. Khi đi công tác, kể cả những khi đi thăm ngày Tết… bao giờ Bác cũng bảo chuẩn bị sẵn bữa ăn mang theo.

Sau gần 50 năm mới có dịp về thăm quê lần đầu tiên, tháng 6/1957. Trong bữa cơm tỉnh Nghệ An mời Bác, có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng dự. Mâm cơm chỉ có mấy món đơn giản nhưng mỗi món đều được dọn làm 2 bát. Thấy vậy, Bác liền cất bớt chỉ để mỗi món một bát. Bác bảo: “Ăn hết thì lấy thêm, không ăn hết để người khác ăn, chớ để người ta ăn thừa của mình”.

Lần thứ hai, Bác về thăm quê năm 1961, bữa cơm chiều Bác dặn cả Chủ tịch và Bí thư của tỉnh là Võ Thúc Đồng và Nguyễn Sĩ Quế, nhưng nhớ là phải mang phần cơm của mình đến. Khi vào bàn ăn, Bác lấy ra gói cơm của Bác có độn ngô và ít thịt rim mặn. Hai cán bộ tỉnh, phần cơm do nhà ăn của tỉnh chuẩn bị được nấu bằng gạo trứng, không độn; thức ăn có cá, thịt…

Thấy vậy, Bác hỏi: “Các chú ăn như thế này à?”. Ông Võ Thúc Đồng trả lời: “Dạ, thưa Bác. Hôm nay Bác về thăm, cơ quan mới chuẩn bị các món ăn như thế này, còn thường ngày thì không có đâu ạ.

Bữa cơm hôm đó, mọi người cùng Bác ăn hết phần cơm độn ngô trước, khi dùng phần cơm của cơ quan tỉnh mang đến thì Bác xin thôi không ăn nữa…

Lời kết

Đây là hai trong số nhiều câu chuyện cảm động kể về Bác Hồ đã được các cán bộ văn phòng Sở Y tế Hà Nội lựa chọn để tham gia hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vừa qua. Các câu chuyện kể về Người tuy mộc mạc, đời thường nhưng khiến nhiều người phải cảm động và hơn cả là tấm gương cao quý.

Bài học tiết kiệm của Bác không chỉ là tiết kiệm thời gian, tiết kiệm của cải vật chất, mà còn tiết kiệm cho mình, cho người và cho xã hội. Những bài học mà bất cứ ngành nghề nào, con người nào cũng cần cho một xã hội muốn phát triển.

Lan Hương (ghi)
cpv.org.vn

Gặp gỡ tác giả cuốn sách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử”

Bảo tàng Hồ Chí Minh tặng quà lưu niệm cho ông Hellmut Kapfenberger – tác giả cuốn sách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử”

(HNMO)- Chiều 14/4, Cục Xuất bản (Bộ TT&TT) và Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức cuộc gặp gỡ ông Hellmut Kapfenberger – tác giả cuốn gách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử” và tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh phù điêu Bác Hồ. Đây là một sự kiện chào mừng ngày Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước và mừng 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Ông Hellmut Kapfenberger, 77 tuổi, một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của làng báo chí Đức. Ông là một trong những người xuống đường những năm 1965-1970 để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Ông có thời gian công tác ở Việt Nam với tư cách là phóng viên Hãng thông tấn CHDC Đức và một số báo khác. Ông cùng vợ và những người Đức đầu tiên bước qua sông Bến Hải vào năm 1973. Ông đã có dịp tiếp xúc với nhiều tướng lĩnh Việt Nam để viết về cuộc chiến.

Kỷ niệm và tình yêu đất nước con người Việt Nam là động lực thôi thúc ông tiếp tục nghiên cứu, viết về Việt Nam cho đến nay. Cuốn sách Hồ Chí Minh – Một biên niên sử là một trong những công trình đó. Với nguồn tư liệu tham khảo phong phú, gồm 25 chương và một biên niên sử tóm tắt về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả đã tái tạo lại tiểu sử của một nhân vật phi thường và rất đỗi giản dị, bằng những tư liệu, trích dẫn phong phú cụ thể và cách viết sinh động.

Với lối viết đậm chất trí tuệ, hiểu biết sâu sắc về lịch sử hiện đại của Việt Nam và thế giới, tình cảm yêu mến và kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình cảm hữu nghị dành cho đất nước và con người Việt Nam. Ngòi bút tác giả hấp dẫn bạn đọc bằng cách trình bày khéo léo, đan xen giữa lối viết nghiên cứu và kể chuyện lịch sử, vừa nhẹ nhàng thi vị đầy xúc cảm mà vẫn không mất đi tính khách quan, xác thực cần có của một cuốn tiểu thuyết về một nhân vật vĩ đại có thực. Tác giả cho thấy hoạt động của Hồ Chí Minh trải dài khắp các châu lục và cho đến cuối đời, Bác chưa khi nào quên vai trò của một chiến sỹ cộng sản thấm nhuần sâu sắc tinh thần Chủ nghĩa Quốc tế vô sản cao cả.

Tại buổi gặp gỡ, ông Hellmut Kapfenberger đã thể hiện lòng yêu mến và ngưỡng mộ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi khẳng định, sẽ không có một Hồ Chí Minh thứ 2 trong khối các nước XHCN. Ông là một nhân cách lớn. Việt Nam rất may mắn và hạnh phúc khi có một con người như vậy”. Ông Hellmut Kapfenberger cũng cho biết thêm, trước đây Việt Nam là câu chuyện hàng ngày ở Đức, nhưng ngày nay dường như không có tờ báo nào ở Đức nhắc tới điều này và ông lấy đó là điều đáng tiếc, nên với tư cách là một người đã gắn bó với Việt Nam nhiều năm, ông đã cố gắng góp phần vào việc nhắc lại cho người dân Đức nói riêng và người dân thế giới nói chung nhớ đến Việt Nam.

Tác giả Hellmut Kapfenberger ký tặng sách cho độc giả Việt Nam.

Cuốn sách không chỉ đơn thuần là một cuốn tiểu sử, mà là một cuốn Biên niên sử về cuộc đời một con người cao cả, một nhân cách lớn – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để thực hiện cuốn sách, ông Hellmut Kapfenberger đã rất kỳ công sưu tầm các tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nhiều nguồn, nguồn sách tài liệu ông sưu tầm được trong thời gian ông sống và làm việc tại Việt Nam, từ rất nhiều tài liệu về Việt Nam ở Berlin, từ chính những nhân vật lịch sử, các tướng lĩnh của Việt Nam ông đã từng gặp mặt như tướng Võ Bổng, tướng Đổng Sỹ Nguyên…

Ông Hellmut Kapfenberger cũng rất vui và tự hào khi cuốn sách đến tay những độc giả Việt Nam đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Tuyết Minh
hanoimoi.com.vn

Gặp người 2.555 ngày đêm bảo vệ Hồ Chủ tịch

(Dân trí) – Cho đến bây giờ, nhớ lại 7 năm vinh dự được cận kề bên Bác, cụ Nguyễn Tùng vẫn không khỏi bồi hồi xúc động: “Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước thời bấy giờ. Vinh dự ấy tôi không thể nào quên…”.

Cụ Nguyễn Tùng sinh năm 1926 ở Quỳnh Hậu, Quỳnh Lưu (Nghệ An). Năm nay đã bước qua tuổi 82, trí đã mỏi, thân đã mệt nhưng trong cụ vẫn sáng những kỷ niệm không thể phôi phai về khoảng thời gian 7 năm làm lính bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi đến thăm cụ khi cả gia đình cụ đang quây quần quanh bàn thờ Bác, kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Người.

“Cầu thang có mấy bậc?”

Cụ nhớ lại: “Đối với tôi, thời niên thiếu được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác là một vinh dự lớn nhất đời người. Tôi xem đó là một công việc hết sức phải cẩn trọng, lớn lao”. Năm 1958 ấy, Bộ Công an được giao nhiệm vụ tuyển lựa hàng trăm thanh niên trên cả nước về làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Trong số ấy, cụ Tùng đã xuất sắc lọp vào tốp 19 người được lựa chọn để bảo vệ Bác.

Cụ kể, bảo vệ Bác phải hết sức cẩn trọng, chú ý từng hành động, lời ăn tiếng nói, giờ giấc làm việc… của Bác. Khi Bác làm việc, tuyệt đối không gây một tiếng động, không thốt một câu nói.

“Lo lắm chứ, Bác là lãnh tụ mà”, cụ Tùng chia sẻ. Cụ vẫn nhớ những buổi sáng theo sát bước chân Bác khi Người đi tập thể dục. Thời tiết khô ráo thì đi ngay sau Bác, trời mưa thì đi song song bên Bác, kịp đỡ khi Bác trượt chân. Khi Bác làm việc, cụ ngồi ngay dưới chân cầu thang, để Bác cần là có mặt.

Người bảo vệ Bác năm xưa vẫn nhớ một mẩu đối thoại cùng Bác, giản dị thôi nhưng nhắc cụ phải luôn quan sát, chú ý đến sự vật xung quanh. Bác hỏi: “Chú Tùng, chú ngồi ở cầu thang đây đã lâu chưa?”. “Cũng lâu rồi ạ”. “Thế chú có biết chiếc cầu thang này có mấy bậc không?”. Cụ Tùng ấp úng: “Dạ thưa Bác… cháu… không biết ạ”. “.

Bác về thăm làng gốm Bát Tràng. (Ảnh do cụ Nguyễn Tùng cung cấp)

“Dân còn rét Bác không thể ấm một mình”

Một câu chuyện cảm động khác mà cụ Tùng vẫn nhớ. “Đó là hồi cuối năm 1959, rét cắt da cắt thịt. Trong giờ nghỉ giải lao cuộc họp Bộ Chính trị, anh Ba (đồng chí Lê Duẩn) vẫy tôi lại nói nhỏ “Tùng về mua một bếp sưởi điện đặt vào nơi làm việc để Bác Hồ đỡ rét”.

Lúc vào phòng làm việc, thấy cái bếp sưởi điện, bác gọi tôi hỏi. Khi biết đó là quyết định của Bộ Chính trị, bác im lặng không nói gì, nhưng khi tôi định mở lò thì Bác bảo: “Quyết định của tập thể Bác phải phục tùng, nhưng tập thể quyết đặt bếp chứ không quyết mở giờ nào nên mở hay không là quyền Bác”.

Hôm sau tôi báo cáo với anh Ba, anh phàn nàn: “Thế Tùng không có cách gì mở à?”. Tôi nghĩ được một mẹo. Tối đó, Bác đang làm việc thì tôi lên: “Thưa Bác, cháu rét lắm ạ”. Bác mỉm cười độ lượng: “Rét thì mở lò mà sưởi”. Tôi thích chí vì mẹo của mình đã đạt. 30 phút sau, Bác hỏi: “Chú Tùng thấy ấm đủ chưa?”. Tôi lúng túng: “Thưa Bác đủ rồi ạ”. “Đủ thì đi làm nhiệm vụ”. Tôi vội đi xuống, Bác cũng tắt luôn lò sưởi.

Sáng hôm sau, giờ tập thể dục, Bác bảo: “Cái bếp lò vướng lắm, Bác đi lại không thoải mái”. Tôi báo cáo anh Ba, anh đành trực tiếp gặp Bác đề đạt nguyện vọng đặt lò sưởi vì lo cho sức khoẻ cuả Bác. Bác ôn tồn: “Bác cảm ơn Bộ Chính trị, cảm ơn sự quan tâm của dân của Đảng, Bác biết mở ra thì ấm, nhưng hiện nay toàn dân đang rét, Bác không thể ấm một mình. Hơn nữa, điện đang rất cần cho nông nghiệp, công nghiệp, các cơ sở sản xuất đều thiếu điện nhiều lắm, mình phải biết tiết kiệm. Bao giờ Bắc Nam thống nhất, nhân dân cả nước đều ấm, lúc đó Bác sẽ sưởi”.

Cụ Tùng dừng câu chuyện, toàn bộ những người có mặt cùng rưng rưng nước mắt trước tình thương bao la, “hy sinh tất cả chỉ quên mình” của Bác.

Bác mừng sinh nhật bằng buổi kéo lưới cùng ngư dân

Gần đến ngày 19/5, biết trước chính quyền có ý định sẽ tổ chức sinh nhật cho mình, để tránh sự lãng phí khi đất nước còn chiến tranh, Bác bí mật dặn cụ Tùng chuẩn bị sẵn gạo cùng thức ăn để đi công tác. Nhưng Bác không nói cụ thể đi đâu, đi việc gì.

Sáng 18/5/1960, trước ngày sinh nhật Bác một ngày, mọi thứ đã chuẩn bị xong, Bác và chú Tùng cùng lên xe. Xe đưa 2 bác cháu đến Sầm Sơn (Thanh Hoá) nhưng lãnh đạo nơi đây không biết. Tại đây, Bác và người cận vệ vào nghỉ trong ngôi đền Độc Cước cạnh bãi biển; tự nấu cơm cùng ăn. Sau bữa cơm, Bác lại rủ chú Tùng vào một tiệm cơm gần bãi biển để xem bà con ở đây ăn uống thế nào.

Cụ Nguyễn Tùng sinh năm 1926, quê quán xóm 12, xã Quỳnh Hậu, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An).

Năm 1944, cụ tham gia kháng chiến, tham gia Việt Minh bí mật. Năm 1945, cụ tham gia cướp chính quyền… Ngày 20/8/1958, cụ Tùng được lựa chọn trong số 19 người về làm cận vệ cho Hồ Chủ tịch.

Hôm đó nhà hàng nấu cơm bị khê, mặc dù vậy, Bác vẫn bình thản ăn và còn dặn chú Tùng ăn cố để tránh lãng phí. Sáng 20/5, 2 bác cháu đi tắm biển, gặp nhóm ngư dân đang kéo lưới trên biển, 2 bác cháu cũng tích cực tham gia. Buổi hôm đó, không người ngư dân nào được biết mình vừa có vinh hạnh kéo lưới cùng vị Cha già của dân tộc.

Tối hôm đó, Bác nói cùng chú Tùng: Ở Sầm Sơn cơm nấu khê quá, ăn không được thì người dân lấy sức đâu mà chiến đấu. Sáng 21/5, Bác cho gọi đồng chí Ngô Thuyên – Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hoá lúc bấy giờ, xuống gặp.

Bác hỏi: “Cơm ở đây có ngon không?”. Đồng chí Ngô Thuyền trả lời: “Ngon lắm Bác ạ”. Bác hỏi tiếp: “Đồng chí đã ăn cơm ở đây lần nào chưa?”. “Chưa ăn lần nào Bác ạ”. “Tại sao chưa ăn mà đồng chí lại bảo là ngon?”. Lúc này đồng chí Ngô Thuyên im lặng.

Cụ Tùng trầm ngâm, 7 năm bên Bác, nhìn, xem, nghe, cảm nhận… những lời Bác nói, những việc Bác làm, mới thấu hiểu hết cái tâm của Người. “Mong rằng những người cầm bút như các anh, nghe những điều tôi tâm sự về gương Bác Hồ thì hãy viết lại, để mọi người cùng soi vào học tập…”, cụ nói, nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo.

Ước mơ cuối đời người cận vệ

Sau những năm tháng bên Bác, năm 1982, cụ Tùng về nghỉ hưu; những kỷ niệm của 2.555 ngày bảo vệ Bác được cụ xem như những báu vật vô giá. Nay đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, hàng ngày cụ vẫn luôn nhắc nhở con cháu học tập gương đạo đức Bác Hồ, coi đó là cái kim chỉ nam trong cuộc sống này.

Cụ Tùng mong được về thăm quê Bác lúc cuối đời. (Ảnh: Nguyễn Duy)

Hỏi về ước mơ cuối đời, cụ tâm sự: “Bao năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, 7 năm bảo vệ Bác là một niềm vinh hạnh lớn cho tôi. Nhưng chiến tranh đi qua để lại trong tôi biết bao đau thương. Đứa con gái út của tôi bị chất độc da cam nay đã hơn 40 tuổi vẫn phải sống một mình. Giờ chỉ mong chính quyền xã giải quyết để con tôi có chỗ nương tựa khi tôi đã qua đời”.

Chúng tôi nhìn xung quanh, thấy cận vệ năm xưa của Bác, giờ sống trong một căn nhà xập xệ, dột nát, trống hoác huơ. Bao năm nay, cụ vẫn nuôi dưỡng tinh thần bằng những vinh quang của quá khứ. Một ước mơ khác của cụ là trước khi nhắm mắt xuôi tay, được một lần về lại làng Sen quê Bác, thăm lại ngôi nhà, nơi đã sinh ra người con ưu tú của dân tộc.

Nguyễn Duy – Đình Lộc
dantri.com.vn

Cụ bà dân tộc Thái 3 lần được gặp Bác Hồ

(Dân trí) – Vi Thị Hoá, cô gái Thái vùng Tây Bắc thủơ nào, nay đã 80 tuổi, đã kém minh mẫn, nhưng khi kể lại quãng đời hơn 50 năm chiến đấu, công tác, đôi mắt cụ vẫn bừng sáng: “Ba lần được gặp Bác là niềm vinh dự của đời tôi”.

80 tuổi, cụ Vi Thị Hoá đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người đảng viên 60 năm tuổi Đảng. Những năm trước cụ Hoá còn sức khoẻ cụ luôn luôn là một cán bộ hưu trí gương mẫu, hoà giải viên tích cực của Phường Lào Cai, thành phố Lào Cai (Lào Cai). Tài sản vô giá đối với cụ vẫn giữ vẹn nguyên là 2 tấm ảnh đen trắng, tấm ảnh hồi cụ được làm trong ban Chủ tịch đoàn ngồi cùng Bác năm 1964 và tấm ảnh cụ chụp khi Bác đang năm trong linh cữu thuỷ tinh trong suốt khi Người mới từ trần năm 1969.

Cụ Hoá hồi tưởng lại 50 năm về trước: Ngày ấy tôi là một trong những đại biểu tiêu biểu trong đoàn đại diện cho Thanh Niên Việt Nam tham dự liên hoan thanh niên thế giới lần thứ 4 tổ chức tại thủ đô Bucarest (Romania). Đang háo hức chuẩn bị cho ngày lên đường thì tôi cùng 2 người bạn trong đoàn được gọi đi có việc. Khi đến nơi tại khu căn cứ du kích bí mật Tuyên Quang, tôi vô cùng mừng rỡ vì mới biết mình được gặp Bác Hồ.

Bác căn dặn: “Các cháu sang dự liên hoan phải đoàn kết với thanh niên thế giới và thanh niên Pháp, tranh thủ sự ủng hộ của thanh niên Pháp, thể hiện mong muốn hoà bình của Việt Nam”. Khắc ghi lời Bác, noi theo gương của Người, tôi và các bạn đã khẳng định bản lĩnh và phong thái của người Việt Nam. Tham gia rất nhiều các hoạt động chung với thanh niên các nước, trong số đó có 2 thanh niên Pháp là Hăng-đi-Mac-tanh và Rây-Mông-Điêng, sau này đóng góp sức lực không nhỏ trong công cuộc đấu tranh chính nghĩa, ủng hộ hoà bình tại Việt Nam.

Sau ngày giải phóng thủ đô năm 1955, Bác Hồ đã đến thăm, chúc Tết và động viên Trường dân tộc thiểu số Trung ương nơi mà cụ Hoá đang học. Những lời Bác dạy, dặn dò hàng trăm học sinh như nuốt lấy từng lời. Thế hệ học sinh của trường ngày ấy bây giờ người còn, người mất, song đều trưởng thành, toả về với đồng bào các dân tộc đem theo lời căn dặn với mong muốn của Bác năm xưa trở thành hiện thực trên quê hương đổi mới.

Tại Hội nghị cán bộ nữ miền núi ở thủ đô Hà Nội năm 1964, Bác Hồ không chỉ đến dự mà còn tham gia Đoàn chủ tịch. Cụ Vi Thị Hoá vô cùng vinh dự được ngồi trong Đoàn chủ tịch điều hành Hội nghị cùng với Bác, Bác xưng hô thân mật “Bác” và “các cô” đầm ấm tình cảm đại gia đình.

Bác biểu dương khen ngợi và giao nhiệm vụ cho chị em theo cách riêng của Bác thật rõ ràng, cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Bác nhấn mạnh đến vấn đề đoàn kết các dân tộc, phụ nữ cũng là người chủ của đất nước, phải phấn đấu lao động sản xuất, xây dựng gia đình, xây dựng đời sống mới, cố gắng học tập. Bác giao nhiệm vụ cho Đảng uỷ các cấp ở miền núi phải ra sức phát triển đảng viên, đoàn viên phụ nữ, đào tạo, giúp đỡ cán bộ phụ nữ các dân tộc. Bác hứa sẽ thưởng cho những chị em có thành tích xuất sắc.

Cô Hoá ngỡ ngàng, rưng rưng cảm động, không ngờ bận rộn là thế mà Bác vẫn quan tâm, theo dõi từng bước tiến bộ của mình và chị em. Bác nói “Hiện nay, chị em miền núi đã tiến bộ nhiều như cô Vi Thị Hoá ở Nghĩa Lộ, là tỉnh uỷ viên…”.

Năm 1969, trong đoạn đại biểu nhân dân các dân tộc tỉnh Nghĩa Lộ về Hà Nội viếng Bác có Vi Thị Hoá. Bác nằm đó, bình yên như đang trong giấc ngủ. Vi Thị Hoá cùng 3 người trong đoàn được đứng 15 phút bên linh cữu, cùng với các đồng chí cảnh vệ, canh gác giấc ngủ cho Người. Để mặc nước mắt rơi, cố dồn nén tiếng nấc nghẹn ngào vào sâu thẳm trong tim, bằng tất cả nghị lực, tình cảm sâu lắng và lòng thành kính, Vi Thị Hoá đứng nghiêm trang bên linh cữu Người, lòng thầm gọi mãi: Bác…Bác ơi…

Ba lần được gặp Bác, hai tấm ảnh kỷ niệm, không chỉ là niềm trân trọng, vinh dự của riêng cụ, mà còn là niềm tự hào của các thế hệ con cháu trong gia đình. Đây cũng là tình cảm chân thành, niềm vinh dự tự hào chung của phụ nữ và nhân dân các dân tộc Tây Bắc với vị cha già kính yêu của dân tộc: Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Bùi Thanh Hải
TTXVN

cpv.org.vn

Theo hành trình “Bác Hồ và nước Pháp”

(Dân trí) – Hơn 200 hình ảnh, tài liệu quý mô tả lại con đường đấu tranh giành độc lập cho dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có gắn liền với nước Pháp đã được chính một phụ nữ gốc Pháp kỳ công tìm hiểu, sưu tầm và khám phá trong hơn 2 thập kỷ nay.

Bô sưu tập có tên “Hồ Chí Minh và tình hữu nghị Việt – Pháp” vừa được bà Dominique de Miscault giới thiệu tại triển lãm cùng tên tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh TT-Huế chiều 17/5.

Bộ sưu tập gồm 3 phần: “Nguyễn Ái Quốc ở Paris” giới thiệu những hình ảnh và tài liệu quý về những hoạt động của Người tại Pháp được khai thác từ Trung tâm Lưu trữ quốc gia Pháp ở các thành phố Aixcen Provence, Fontainbleau và Paris; “Những dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh trên đất Pháp” giới thiệu những địa danh Bác từng hoạt động như thành phố Tour với sự kiện tham gia đại hội lần thứ 18 của đảng Xã hội Pháp; và “Ảnh chụp các địa điểm Nguyễn Ái Quốc từng đến, đã từng sống hoạt động” như cảng cũ Marseille, số 9 ngõ Compoint…

Những tài liệu quý hiếm này một phần được trích ra từ các phòng lưu trữ thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương trước đây, Cảnh sát Trung Kỳ, Nam Kỳ và Lào. Trong đó một số trang tài liệu mới tỷ lệ 1:1 có xuất xứ từ Sở Mật thám Trung kỳ về Nguyễn Ái Quốc và các thành viên trong gia đình của Người.
Bà Dominique de Miscault đã có hai thập kỷ tìm hiểu, khám phá con đường đấu tranh giành độc lập cho dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong quãng thời gian đó, bà đã dành 7 năm tiến hành sưu tập riêng về Bác.

“Nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về Việt Nam là niềm say mê, tâm huyết và là sự nghiệp của tôi. Đi khắp nước Pháp để thu thập những bức ảnh, tài liệu – nơi vị chủ tịch vĩ đại các bạn đã đến. Tôi xin trao tặng toàn bộ triển lãm này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên – Huế với ước vọng người dân sẽ hiểu nhiều hơn về Bác”, bà Dominique thổ lộ.

Hiện người phụ nữ này đang làm việc cho hội hữu nghị Việt – Pháp (AAFV) – một trong những tổ chức quốc tế đầu tiên triển khai các hoạt động ủng hộ vụ kiện các nạn nhân Việt Nam nhiễm chất độc da cam. Bà đã có hàng trăm cuộc triển lãm ở Pháp, Nga và Tây Âu. Riêng Việt Nam, Dominique đã thực hiện 12 cuộc triển lãm tại Thủ đô Hà Nội, TPHCM và Huế.

Yêu sách 8 điểm đòi quyền tự quyết cho dân tộc Việt Nam.

Phiếu nhận dạng Nguyễn Ái Quốc của chính quyền thực dân Pháp lập năm 1931 trong vụ bắt giam Người tại Hồng Kông.

Lễ đón chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh của Chính phủ Pháp tại Dinh Thủ tướng Pháp 2/7/1946

Một số trích đoạn hồ sơ C-3268 của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Hồ Chí Minh) do sở mật thám Trung kỳ lập để theo dõi.

Chân dung và thẻ tù của Bác tại Hồng Kông tháng 6/1931

Nhiều cái tên của Bác đã từng dùng trong thời gian tranh đấu.

Đại Dương

dantri.com.vn

Gặp người 10 năm bảo vệ Bác Hồ

(Dân trí) – Cho đến bây giờ, nhớ lại 10 năm vinh dự được cận kề bên Bác, ông Lê Minh Thưởng vẫn không khỏi bồi hồi xúc động: “Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước thời bấy giờ. Vinh dự ấy tôi không thể nào quên…”.

Hăng say kể về những giây phút quý giá bên Bác Hồ, ông Thưởng “sung” đến nỗi cởi phăng cả áo khoác.

Ông Lê Minh Thưởng, xóm 2, Nghi Thịnh, Nghi Lộc, Nghệ An, năm nay đã bước qua cái tuổi thất thập cổ lai hy nhưng trong ông vẫn sáng những kỷ niệm không thể phôi phai về khoảng thời gian 10 năm làm lính bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt hơn, ông còn sở hữu tấm ảnh cực kỳ quý giá lưu giữ hình ảnh ông được chụp với Bác Hồ và gần đủ các Ủy viên Bộ Chính trị trước khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trở thành người thiên cổ một ngày.

Những ngày cuối năm Canh Dần, chúng tôi tìm về thăm ông Thưởng, mong được nghe ông kể những câu chuyện xưa. Có lẽ nhờ mấy chục năm công tác trong ngành công an, được rèn luyện nhiều, nên dù đã ở tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông còn khỏe lắm; tác phong nhanh nhẹn, trí óc minh mẫn, giọng nói to khỏe, nước da đỏ rắn giữa cái giá rét hơn 10 độ C.

Chỉ vào một bức ảnh đen trắng được lồng trong khung kính treo trang trọng trên tường nhà, ông rành rọt đọc tên từng người trong ảnh: các ông Nguyễn Duy Trinh, Tố Hữu, Phạm Hùng, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng,… Nguyễn Chí Thanh, Lê Thanh Nghị, Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Vũ Kỳ. Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa; ông Thưởng bế trong lòng một cháu bé, ngồi bên phải Bác Hồ.

Ông Thưởng cho biết sở dĩ Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có trong ảnh vì khi đó đang bận đi công tác. Bức ảnh được chụp năm 1967, nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ. Với ông Thưởng, bức ảnh này là báu vật vô giá của cả đời ông.

Cũng có lúc ông trầm ngâm như tiếc nhớ một thời được sát cánh bên Người.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có bố là đảng viên, anh trai là liệt sĩ từ thời kháng chiến chống Pháp, năm 1958, ông Thưởng xin đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự nhưng không trúng. Ngay sau đó, ông được gia nhập lực lượng Công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Chẳng bao lâu sau ông được triệu tập về học ở Trường C500.

Tháng 4/1960 ra trường, ông nhận được quyết định về công tác ở Cục cảnh vệ (Cục cảnh vệ lúc đó có mật danh là K10) với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và công tác ở đó cho đến ngày Bác qua đời.

Những ngày đầu ông chỉ được bảo vệ vòng ngoài nơi Bác Hồ làm việc; chỉ được gặp Bác những khi Bác tập thể dục hay đi bách bộ. Không lâu sau ông Thưởng được giao trực tiếp bảo vệ Bác không chỉ ở Phủ Chủ tịch mà cả những lúc Bác đi công tác. Sau khi Bác mất, ông Thưởng được điều về công tác ở Cục Cảnh sát nhân dân, sau đó đi học chuyên tu. Năm 1980, ông được chuyển về Công an Nghệ Tĩnh với chức vụ Đội trưởng đội săn bắt cướp (SBC).
Trên cương vị này ông đã cùng đồng đội lập nhiều chiến công như bắt gọn nhóm tội phạm do Tọng (Trương Hiền), Sáu Côi… cầm đầu nổi tiếng liều lĩnh một thời ở đất thành Vinh. Sau này ông Lê Minh Thưởng nghỉ hưu với quân hàm Trung tá. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân huy chương khác. Phần thưởng nào cũng quý nhưng quý hơn cả là Huy hiệu Bác Hồ ông được Bác tặng năm 1968.

Hơn 10 năm được gần gũi, bảo vệ Bác, ông chỉ là người phục vụ, những chuyện “quốc gia đại sự” ông không được biết. Nhưng trong đời thường ông đã được Bác dạy nhiều điều hay lẽ phải. Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Việc gì biết thì nói, việc nào không biết thì phải hỏi, đừng giấu, im lặng làm thinh. Hiểu cái gì nói cho mọi người nghe. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”, ông Thưởng nhớ lại.

Được khuyến khích, ông Thưởng đã hỏi và được Bác giải thích nhiều chuyện như: sự tích con cá gỗ, chùa Bảo Minh ở đường Hùng Vương tại sao có tên khác là chùa Các Tút…. Bác vẫn gọi tấm mành treo quanh nhà sàn là tấm sáo như nhân dân Nghệ An vẫn gọi. Điều đó chứng tỏ dù xa quê nhiều chục năm, Bác không quên cả những việc nhỏ nhất.

Một lần Bác đi công tác Hải Phòng, xe đang chạy thì một đàn vịt của dân đang băng qua đường. Lái xe cố tránh nhưng không được, mấy con bị cán chết. Đến nơi Bác đã chỉ thị cho lái xe quay lại đền cho dân, hết bao nhiêu về bảo lại với Bác. Một tình huống khác cũng làm ông Thưởng nhớ mãi không bao giờ quên. Mồng 2 Tết năm 1966, Bác đi chúc tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh, khi về đoàn đi theo đường qua phà Phả Lại.

Mặc dù bến phà Phả Lại đã nhận được chỉ thị phải chuẩn bị 2 phà, 1 để chạy thường xuyên, 1 để phục vụ khách đặc biệt. Tuy nhiên không biết vì sao hôm đó bến phà chỉ có được một chiếc nên từ 6 – 7 giờ sáng phà không chạy, nhiều người cần qua sông bị dồn lại. Khi xe Bác đến và lên phà, mặc dù lực lượng bảo vệ đã cố ngăn nhưng nhiều người đi đường vẫn chen lên bằng được. Trên phà nhiều người đã trút sự bực dọc lên chiếc xe ôtô, có người đã văng tục.

Bức ảnh quý giá được ông Thưởng coi như báu vật. Trong ảnh, Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa, hàng đầu. Ông Thưởng bế trong lòng một cháu bé, ngồi bên phải Bác Hồ.

Thấy vậy Bác đã chỉ thị cho phà chạy chậm lại rồi xuống xe và nói: “Bác xin lỗi bà con” và sau đó chúc Tết mọi người. Khi thấy Bác xuất hiện, cả những người có mặt trên phà và những người ở hai bên bờ đã nhiệt liệt hoan hô. Nhiều người đã không quản nguy hiểm bơi ra phà để được tận mắt nhìn thấy Bác. Phà cập bến, trước khi lên xe Bác không quên nhắc lực lượng công an và nhân viên bến phà bằng mọi cách không được để một ai bị chết đuối.

Mười năm được gần Bác, ông Thưởng cũng nhận ra nhiều thói quen của Bác: Bác không bao giờ uống rượu, những lúc tiếp khách Bác cũng nâng cốc nhưng không uống. Đi thăm và làm việc ở đâu Bác không bao giờ cho phép tổ chức theo kiểu “tiền hô hậu ủng”…

Biết bao câu chuyện, bao kỷ niệm khó quên, bao bài học làm người trong quãng thời gian 10 năm bên Bác. Đó là món quà mừng tuổi quý nhất ông Thưởng vẫn dành cho con cháu mỗi dịp Tết đến Xuân về.

Nguyễn Duy – Sỹ Lập
dantri.com.vn