Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 9 (Năm 1966 – Tháng 6)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tháng 6, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng Đại hội lần thứ XV Đảng Nhân dân cách mạng Mông Cổ.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.12, tr. 99-100.

Tháng 6, ngày 11

Bài viết Kinh nghiệm Trung Quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bút danh Lê Nông, đăng báo Nhân dân, số 4448. Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 9 (Năm 1966 – Tháng 5)

Việt Nam - Hồ Chí MinhTháng 5, ngày 1

Tối, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem Đoàn văn công Quảng Bình biểu diễn.

Trên đường về nhà sàn, Người nói với đồng chí Vũ Kỳ: “Nhân dân ta thật anh hùng. Chiến đấu ác liệt như thế, gian khổ như thế mà vẫn lạc quan ca hát. Một dân tộc như thế không một thế lực hung bạo nào có thể khuất phục được”.

– Vũ Kỳ: Bác Hồ viết Di chúc, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1989, tr.51. Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 9 (Năm 1966 – Tháng 4)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tháng 4, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng bàn về tình hình đấu tranh chính trị ở miền Nam và một số công tác khác.

Mở đầu, Người phát biểu về công tác phòng chống lụt ở miền Bắc; nhắc Khu V và Trung ương Cục miền Nam phải thay đổi phương thức liên lạc với Trung ương vì dùng điện đài thường làm lộ bí mật. Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 9 (Năm 1966 – Tháng 3)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tháng 3, ngày 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh xem triển lãm “Hình ảnh nhân dân Liên Xô ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam”.

Sau khi xem tranh ảnh, tài liệu trưng bày, Người xem bộ phim Núi rừng rực sáng ghi lại chuyến đi thăm miền Nam Việt Nam của nhà báo Liên Xô Ivan Sêđôrốp và bộ phim Việt Nam chiến đấu, Việt Nam nhất định thắng của xưởng phim Tài liệu trung ương Mátxcơva sản xuất năm 1966. Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 9 (Năm 1966 – Tháng 2)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tháng 2, ngày 1

Bài viết Mỹ nhất định thua của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bút danh Chiến Sĩ, đăng báo Nhân dân, số 4319.

Tác giả dẫn lời một số quan chức cao cấp, kể cả cố Tổng thống Mỹ Kennơđi nói về những khó khăn và tính phi nghĩa của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là Mỹ đang chui vào đường hầm không có lối thoát. Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 9 (Năm 1966 – Tháng 1)

Việt Nam - Hồ Chí MinhTháng 1, ngày 1

Nhân dịp năm mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thơ chúc mừng năm mới tới toàn thể đồng bào và chiến sĩ cả nước: Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Lời giới thiệu)

HỒ CHÍ MINH – BIÊN NIÊN TIỂU SỬ

2

1930 – 1945

(Xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung)

HÀ NỘI – 2006

——————————

 TỔNG CHỦ BIÊN

GS. ĐẶNG XUÂN KỲ

——————————

PHÓ TỔNG CHỦ BIÊN

GS. SONG THÀNH

——————————

NHÓM BIÊN SOẠN TẬP 2

GS, TS. PHAN NGỌC LIÊN

PGS, TS. LÊ VĂN TÍCH


LỜI GIỚI THIỆU

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, tập 2, giới thiệu những sự kiện cơ bản về những hoạt động sôi động, phong phú trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, từ đầu năm 1930, khi thành lập Đảng đến tháng 9-1945, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời.

Với 400 sự kiện, tập sách phác hoạ theo trình tự thời gian những hoạt động của Người qua các thời kỳ:

– Thời kỳ thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam, thành lập chính đảng duy nhất của giai cấp vô sản và hoàn chỉnh dần đường lối cách mạng của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng;

– Thời kỳ bị bắt giam và xét xử tại Toà án tối cao Hồng Kông;

– Thời kỳ ở Liên Xô: học tập tại Trường Quốc tế Lênin, tham gia Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản và làm việc tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa;

– Thời kỳ trở lại hoạt động tại Trung Quốc, chắp nối liên lạc để về nước hoạt động;

– Thời kỳ về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Trong thời kỳ này có hai giai đoạn Người sống ở nước ngoài, khi bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch giam giữ tại Quảng Tây và thời gian ngắn hoạt động ngoại giao tại Côn Minh.

Tập sách kết thúc bằng sự kiện trọng đại: Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Mười lăm năm ấy cũng là thời gian mà Người phải trải qua nhiều gian khổ và cả những đau khổ về thể chất lẫn tinh thần trong cuộc đấu tranh đầy gian truân và hy sinh to lớn của mình. Hai lần bị giam cầm trong xà lim và ngục tù của bọn đế quốc phản động, cả hai lần đều bị ốm nặng và có tin đã chết (!). Trong việc đấu tranh để xác lập và bảo vệ đường lối cách mạng đúng đắn chống mọi khuynh hướng “tả” và hữu trong Đảng ta và trong Quốc tế Cộng sản, Người đã bình tĩnh, sáng suốt, kiên trì giữ vững quan điểm sáng tạo, đúng đắn của mình. Bằng dũng khí và trí tuệ, với sự tế nhị khéo léo, với ý thức tổ chức, kỷ luật, Người đã phấn đấu quyết liệt và bền bỉ để Đảng, do Người sáng lập, đi đúng đường lối mà Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định và ngày càng lớn mạnh. Vì vậy, mới mười lăm tuổi, Đảng đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập và đánh đổ chế độ quân chủ mười mấy thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà. Thật đúng là:

Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,

Mười lăm năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình!

Nhưng cũng chính hoàn cảnh hoạt động bí mật cùng những năm tháng tù đày nói trên đã khiến cho việc sưu tầm tài liệu gốc về tiểu sử Nguyễn Ái Quốc thời kỳ này trở nên khó khăn. Tài liệu gốc cực kỳ hiếm hoi. Hơn nữa, việc lưu trữ quản lý những tài liệu gốc ở nước ta hiện nay còn khá phân tán và điều kiện tra cứu cũng rất hạn chế. Nhóm biên soạn mới chỉ được tiếp xúc một phần tư liệu về Nguyễn Ái Quốc tại Cục Lưu trữ Trung ương thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin Liên Xô (trước đây). Một phần không nhỏ tài liệu quý khác về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đang nằm tại nhiều cơ quan lưu trữ ở Nga, Trung Quốc và nhiều nước khác… đến nay Nhóm biên soạn vẫn chưa có điều kiện tiếp xúc, khai thác.

Đã có một số hồi ký cách mạng của các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng, hoặc những bài viết dựa theo lời kể của những người đã từng được Bác dìu dắt khi hoạt động cách mạng, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Song, các hồi ký thường không đưa ra được ngày tháng cụ thể – điều hết sức quan trọng đối với biên niên tiểu sử – hơn nữa vì những lý do khác nhau, nhiều khi có những nhầm lẫn. Việc sử dụng các hồi ký vì thế cũng gặp không ít khó khăn.

Các sách chuyên khảo có giá trị khoa học của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã được khai thác ở mức độ cần thiết, lựa chọn hết sức thận trọng.

Việc sử dụng và khai thác nguồn tư liệu đã tuân thủ các nguyên tắc và quy định chung của bộ Biên niên tiểu sử được trình bày trong Lời giới thiệu chung. Khi vận dụng vào tập 2, Nhóm biên soạn đã bổ sung thêm một số chi tiết cụ thể:

1. Đối với các cuốn sách được tái bản nhiều lần có sửa chữa, thì sử dụng bản mới nhất. Đối với cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Trần Dân Tiên, chúng tôi sử dụng bản tiếng Việt in năm 1994 và kết hợp sử dụng bản Trung văn Hồ Chí Minh truyện do Trương Niệm Thức dịch, xuất bản ở Thượng Hải tháng 6-1949. Về cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện của T. Lan thì sử dụng bản in năm 1994.

2. Khi sử dụng tài liệu theo sách của các nhà nghiên cứu nước ngoài, chúng tôi vừa ghi chú nơi lưu trữ tài liệu mà họ đã khai thác, vừa ghi rõ tác giả, tên sách.

3. Với một số sách, báo khác, dù độ tin cậy chưa cao, song cũng có một vài sự kiện đưa ra được những tư liệu mới, phù hợp với lôgíc hoạt động và cuộc đời của Nguyễn Ái Quốc, thì Nhóm biên soạn đã xử lý, xác minh, chọn lọc để đưa vào tập 2 này.

Trong việc xác minh thời gian và địa điểm hoạt động của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau khi Người về nước, chúng tôi đã sử dụng phương pháp khảo sát thực địa, phỏng vấn các nhân chứng lịch sử có đối chiếu, so sánh để làm cho nguồn tư liệu được chính xác.

Lần xuất bản này đã bổ sung, sửa chữa nhiều sự kiện, đưa lên tổng số: 400 sự kiện, 21 chú thích  28 chỉ dẫn tên người. Chất lượng bản thảo cũng được nâng lên, khoảng trên 40% số sự kiện được sửa chữa, bổ sung về nội dung, làm cho nội dung sự kiện được phong phú, chính xác hơn. Tài liệu được bổ sung nhiều nhất là các thời kỳ Người hoạt động ở Trung Quốc, đặc biệt trong thời kỳ Người bị giam tại Sở Cảnh sát Hồng Kông, nhà tù Víchtôria và trong thời gian xét xử tại Tòa án tối cao Hồng Kông. Hầu hết các năm đều có sự kiện bổ sung, sửa chữa, trong đó năm 1931 được bổ sung nhiều nhất, đưa tổng số sự kiện trong năm lên gần 30 sự kiện so với 12 sự kiện của lần xuất bản đầu tiên. Các sự kiện mới được bổ sung đều có nguồn tin cậy.

Trong quá trình xây dựng bản thảo, Nhóm biên soạn đã nhận được sự cộng tác nhiều mặt của các PGS, TS. Nguyễn Đình Lễ; PGS, TS. Nguyễn Ngọc Cơ; sự giúp đỡ về tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh, Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, Cục Lưu trữ Nhà nước và sự phối hợp, cộng tác có hiệu quả của nhiều cán bộ nghiên cứu lịch sử Đảng thuộc Tỉnh uỷ các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Bắc Kạn…; của GS. Đinh Xuân Lâm, PGS. Hồ Song và các đồng chí Hoàng Tùng, Nguyễn Thành cùng nhiều học giả, nhà nghiên cứu khác đã đọc và góp nhiều ý kiến bổ ích cho lần xuất bản thứ nhất. Nhóm biên soạn trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành.

Tuy đã có nhiều cố gắng trong công tác biên soạn, song khó tránh khỏi những thiếu sót, chưa thể làm thoả mãn được yêu cầu cao của giới nghiên cứu, của đồng bào, đồng chí trong nước và bạn bè quốc tế.

Chúng tôi rất mong nhận được những góp ý chân thành của các cán bộ lão thành cách mạng, các nhà nghiên cứu, cùng đông đảo bạn đọc gần xa để những lần xuất bản sau được tốt hơn.

NHÓM BIÊN SOẠN

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1929)

Khoảng đầu năm

Từ Uđon, Nguyễn Ái Quốc đến Sacôn, nơi có đông Việt kiều hơn ở Uđon và các tổ chức cách mạng cũng ra đời từ lâu.

Ở Sacôn, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục củng cố và xây dựng cơ sở cách mạng để mở rộng phong trào. Ngoài việc dịch sách và huấn luyện thanh niên, hằng ngày Người tổ chức cho cán bộ học tập và nghiên cứu về tình hình thế giới, tình hình trong nước, về chủ nghĩa Mác – Lênin, chú ý nhiều hơn việc giáo dục cán bộ về công tác quần chúng và công tác bí mật.

Kiều bào ở đây, một số theo đạo Thiên Chúa, một số theo đạo Phật, một số thờ Đức thánh Trần, nói chung còn chậm tiến và mê tín. Thấy bà con đau ốm lại chữa bệnh bằng cúng bái, Nguyễn Ái Quốc vận động lập tủ thuốc chung và mời thầy thuốc đến khám bệnh. Người viết bài ca Trần Hưng Đạo theo thể song thất lục bát, kể rõ sự tích đánh giặc cứu nước của vị anh hùng dân tộc để giáo dục lòng yêu nước cho kiều bào. Bài ca có đoạn:

            Diên Hồng thề trước thánh minh

            Lòng dân đã quyết hy sinh rành rành

            Nếu ai muốn đến giành đất Việt,

            Đưa dân ta ra giết sạch trơn,

  Một người dân Việt hãy đương còn,

            Thì non sông Việt vẫn non sông nhà.

Người còn viết nhiều vở kịch thường lấy đề tài lịch sử, bày cho bà con cách diễn kịch và đôi khi cũng tham gia diễn.

Một thời gian dài Nguyễn Ái Quốc ở ngay tại hiệu thuốc của Đặng Văn Cáp và đã tranh thủ học nghề thuốc, nắm được những hiểu biết cơ bản về thuốc và chữa bệnh. Có lần đã bốc thuốc cho một cán bộ bị ốm và người này đã khỏi bệnh. Người còn tìm ra cây hy thiêm mọc trong vùng, chữa được chứng bệnh phong thấp.

Thỉnh thoảng, Người cùng với một số cán bộ, cũng khăn gói tay đẫy đi buôn để gây quỹ cho tổ chức.

            –  Hồi ký của Lê Mạnh Trinh. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –   Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 6

Vở kịch lịch sử do Nguyễn Ái Quốc viết về Hoàng Hoa Thám và hai vở kịch đả kích những tên bán nước Lê Hoan, Hoàng Cao Khải, được Việt kiều ở Sacôn trình diễn nhân dịp kỷ niệm ngày Phạm Hồng Thái hy sinh (19-6).

            –  Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Khoảng cuối tháng 7 đến cuối tháng 10

Rời tỉnh Sacôn Nakhôn, Nguyễn Ái Quốc đến tỉnh Nakhôn Phanom nằm kề sát bờ sông Mê Kông cách Thủ đô Băng Cốc 735km theo đường ôtô.

Tại tỉnh Nakhôn Phanom, Nguyễn Ái Quốc đã đi tuyên truyền vận động Việt kiều ở trung tâm huyện Thà U Then, trung tâm huyện Thạt Phanom và ở thị xã Nakhôn Phanom. Nơi hoạt động lâu nhất trong thời gian Người ở Nakhôn Phanom là làng Bản Mạy, còn có tên gọi là Nà Thoọc. Người đã xây dựng phong trào Việt kiều ở Bản Mạy trở thành một trong những địa điểm quan trọng của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Sau một thời gian ở Nakhôn Phanom, Nguyễn Ái Quốc đến huyện Amnạt Charơn, còn có tên gọi là Bùng, huyện Bùng, tỉnh Ubon Ratchathani (từ năm 1993, được nâng lên cấp tỉnh gọi là tỉnh Amnạt Charơn).

Tại tỉnh Amnạt Charơn, Người hoạt động chủ yếu ở huyện Bùng.

Rời Amnạt Charơn, Nguyễn Ái Quốc đến tỉnh Ubon Ratchathani, phía đông giáp sông Mê Kông, phía nam giáp Campuchia, cách Thủ đô Băng Cốc 575km theo đường xe lửa. Người hoạt động chủ yếu ở Bản Thà thuộc tỉnh Ubon Ratchathani. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác một bài thơ, giao cho đồng chí Nguyễn Tài ghi lại, sau đó đăng báo Thân ái:

            Hợp tác nề có anh thợ Vượng

            Tay nghề hay tính bướng cũng hay

            Những khi đi họp hàng ngày,

            Khi thì nói đổng, khi thì đòi ra.

            Chị khuyên bảo thiết tha khuyên bảo,

            Không nghe, coi táo bạo hung hăng.

            Rằng em chỉ muốn anh bằng người ta.

            Chị kiên nhẫn bẩy ba kiên nhẫn

            Làm cho anh đổi giận sang hiền

            Anh nghe lời vợ anh khuyên,

            Hội giao công việc anh chuyên cần làm

            Làm đúng đắn không ham lợi vặt,

            Nói như làm thẳng thắn phân minh.

            Một người trước bướng nay lành,

            Cả Hội hợp tác khen anh vô cùng.

            Tiếng chị Vượng khuyên chồng kết quả.

            Chị em đều hỉ hả mừng vui.

            Đăng lên mặt báo để rồi,

            Để rồi học tập, để rồi làm gương.

Nguyễn Ái Quốc còn đến tìm hiểu phong trào của Việt kiều ở thị xã Phi Mun, thuộc tỉnh Amnạt Charơn.

Tiếp đó Nguyễn Ái Quốc đến Mục Đa Hản, là một huyện của Nakhôn Phanom (từ năm 1982 được nâng lên thành tỉnh Mục Đa Hản) giao cho cán bộ tổ chức cơ sở xây dựng một địa điểm liên lạc và chuyển tài liệu báo chí về nước.

Từ Mục Đa Hản, Nguyễn Ái Quốc có ý định đi xuyên qua đất Lào để tiếp cận với phong trào trong nước nhưng không thực hiện được. Trong báo cáo ngày 18-2-1930, gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc có nhắc lại việc này: “Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam Quốc dân Đảng”.

Địa điểm cuối cùng trên đất Thái Lan mà Nguyễn Ái Quốc đã đặt chân đến là tỉnh Noọng Khai, nằm sát bờ sông Mê Kông đối diện với Thủ đô Viêng Chăn của nước Lào, cách Thủ đô Băng Cốc 616km. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc thường ở và làm việc tại chùa Xỉ Xum Xưn. Đây là nơi Nguyễn Ái Quốc hẹn các đồng chí đang sinh hoạt trong chi bộ Viêng Chăn, vượt sông Mê Kông sang làm việc.

            –  Theo đề tài nghiên cứu khoa học của Bảo tàng Hồ Chí Minh: Nghiên cứu các di tích Bác Hồ ở Thái Lan.

Tháng 10, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc bị Tòa án Vinh (Nghệ An) xử vắng mặt và đã bị khép vào tội tử hình.

            –  Biên bản danh sách kết án của Tòa án Vinh, ngày 10-10-1929. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 11

Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm đi Trung Quốc.

Trong thời gian hoạt động ở Xiêm, Nguyễn Ái Quốc đã làm rất nhiều cho công tác giáo dục, tuyên truyền và tổ chức, tạo nên một sự thay đổi lớn trong phong trào Việt kiều ở đây. Nếu trước kia, khi ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc từ phương bắc tuyên truyền về nước, thì giờ đây, ở Xiêm, Người đã tuyên truyền về nước từ phía tây.

Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, dù đã hết sức cẩn thận vẫn không thể hoàn toàn giữ kín được. Thực dân Pháp sinh nghi, tung mật thám dò tìm. Người bị theo dõi ráo riết. Gặp khi nguy hiểm quá, Người thậm chí đã phải lánh vào chùa, tạm cắt tóc đi tu để tiếp tục hoạt động.

Nói về việc Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm lần này, Trần Dân Tiên trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch đã viết:

“Ông 1) biết rõ tình hình trong nước. Hai việc quan trọng làm cho ông từ giã nhà chùa và nước Xiêm. Việc thứ nhất là cuộc bạo động của Quốc dân Đảng đang chuẩn bị. Nhận xét cuộc bạo động đấy quá sớm và khó thành công, ông muốn bàn lại kế hoạch với anh em Quốc dân Đảng… Việc thứ hai: vừa mới đây “Tân Việt” và “Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí” lại chia ra hai nhóm. Mỗi nhóm tổ chức thành một Đảng Cộng sản. Như thế, lúc bấy giờ ở Việt Nam có ba Đảng Cộng sản. Mặc dầu sự khủng bố của Pháp, “Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí” phát triển rất nhanh chóng. Nhưng sự chia rẽ đã làm cho những người yêu nước lo lắng. Vì chia rẽ thì suy yếu”.

            –  Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 76, 78, 79.

Tháng 12, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc đến Trung Quốc chuẩn bị cho Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam.

            –  Báo cáo ngày 18-2-1930 của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh. 

______________________________

1) Chỉ Nguyễn Ái Quốc (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1928)

Tháng 1, sau ngày 5

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư trả lời của Đômban, Phó Tổng thư ký Quốc tế Nông dân.

Trong thư, Đômban cho biết không thể cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc một kế hoạch cụ thể về công tác vận động nông dân vì không biết rõ lắm tình hình nông dân và vấn đề ruộng đất ở Đông Dương.

Đômban lưu ý Nguyễn Ái Quốc, trong thời gian đầu phải chú ý đặc biệt vào công tác vận động nông dân ở các tỉnh giáp với Quảng Đông, việc tổ chức những hội nông dân bằng nhiều hình thức như viết sách, in truyền đơn, thành lập những nhóm tuyên truyền.

Đômban đề nghị Nguyễn Ái Quốc gửi cho tất cả những tư liệu thu thập được về vấn đề ruộng đất ở Đông Dương từ các nguồn sách vở, từ những quan sát cá nhân hoặc từ những cuộc điều tra nông thôn. Các tài liệu gửi cho Đômban theo địa chỉ:

“Noi Đoócphơ, Béclin W.10, Lútsô Uphe N.1.

(Neues Dorf, Berlin W10, Lutzowufer N.1)

            –  Bút tích bức thư của Đômban gửi Nguyễn Ái Quốc. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 3

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi các đồng chí lãnh đạo Quốc tế Nông dân ở Mátxcơva thông báo Người không tìm được cơ sở liên lạc ở phố Lútsô Uphe và yêu cầu cho địa chỉ liên lạc mới. Thư cũng cho biết: Trong khi chờ đợi ngày có thể lên đường khoảng một tháng hoặc một tháng rưỡi nữa, Người sẽ tranh thủ thời gian viết cuốn Những ký ức của một nhà tuyên truyền, nói về phong trào nông dân Trung Quốc, chủ yếu là ở Hải Lục Phong – nơi có các xôviết nông dân. Cuốn sách dự tính dày 120 trang đánh máy và chia thành năm mươi chương.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc ghi địa chỉ mới của mình: Ô.Lu, Tạp chí Thư tín Quốc tế, Ban biên tập tiếng Pháp, số nhà 225, phố Phrêđrích Strát, Béclin.

            –  Bút tích bức thư ngày 3-2-1928. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.319 – 320.

Tháng 3, ngày 4

Nguyễn Ái Quốc gặp ba người Việt Nam từ Pháp sang Béclin (Đức) tại trụ sở Liên minh phản đế là Trần Đình Long, Nguyễn Thế Thạch và Bùi Ái trên đường từ Pháp đi Liên Xô, lúc qua Béclin đã được giao thông bí mật của Quốc tế Cộng sản bố trí cuộc gặp này.

            –  Trần Đình Long: Ba mươi năm ở nước Nga Xôviết. Hà Thành thời báo, số 21, ngày 4-9-1937.

            –  Dẫn theo Nguyễn Thành, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5, 1986, tr.16.

Tháng 3, ngày 17

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, bút danh Wang, nhan đề Thư từ Ấn Độ, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 28, bản tiếng Đức số 28.

Thư từ Ấn Độ, viết về phong trào đấu tranh rộng lớn của các tầng lớp nhân dân Ấn Độ chống lại âm mưu của đế quốc Anh thông qua hoạt động của Ủy ban Ximông (Simon)35 phá hoại sự thống nhất đất nước và chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Ấn Độ.

Nhận xét về tính chất, quy mô và kết quả của phong trào này, tác giả viết: “Chưa bao giờ – ngay cả trong thời kỳ mà phong trào bất hợp tác theo chủ trương của Găngđi lên tới tột đỉnh – tinh thần của đất nước lại sôi động đến mức đó”. “Phong trào sôi động đó đã buộc Ximông và những đồng sự của y trong Công Đảng phải lùi bước”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.321-323.

Tháng 4, ngày 12

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản trình bày về hoàn cảnh hiện tại của mình. Bức thư có đoạn viết:

“Không thể công tác ở Pháp, ở Đức vô ích, nhưng cần thiết ở Đông Dương, nên tôi đã xin lại lên đường về xứ sở này. Trong những thư gửi cho các đồng chí, tôi đã lập một ngân sách công tác và một ngân sách đi đường.

Khi đồng chí Đôriô qua Béclin, đồng chí đã hứa sẽ quan tâm đến vấn đề của tôi. Tôi đã nói với đồng chí ấy là nếu không được kinh phí công tác, miễn là đồng chí cho tôi tiền đi đường, thì dù thế nào tôi cũng sẽ đi, bởi vì đã một năm tôi lang thang từ nước này sang nước khác trong khi có nhiều việc phải làm ở Đông Dương.

Nhưng cho tới nay tôi chưa nhận được chỉ thị của các đồng chí, cả câu trả lời của đồng chí Đôriô.

Hiện nay, tôi ở trong hoàn cảnh khó khăn không chịu nổi:

1) Chờ đợi vô thời hạn (tôi chờ chỉ thị đã 4 tháng).

2) Không có gì để sống vì rằng MOPR36 không thể giúp tôi một cách vô hạn, ngay cả cho 18 đồng mác mỗi tuần (số tiền đối với tôi không đủ sống nhưng quá nặng cho tổ chức).

Vậy tôi xin các đồng chí cho tôi càng sớm càng tốt những chỉ thị chính xác về điều mà tôi phải làm và bao giờ thì tôi có thể lên đường.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc còn gửi thư cho một cán bộ của Quốc tế Cộng sản 1).

Toàn văn bức thư như sau:

“Đồng chí thân mến,

Tôi gửi cho đồng chí một bản sao bức thư gửi cho Ban Phương Đông để đồng chí được biết. Đồng thời tôi rất cám ơn về việc đồng chí quan tâm đến vấn đề của tôi và nhanh chóng trả lời tôi. Đồng chí có thể hình dung nổi tôi đang sống trong một tình trạng tinh thần và vật chất như thế nào không: biết là có nhiều công việc nhưng không thể làm gì được, ăn không ngồi rồi, không có tiền, sống ngày nào hay ngày ấy mà không được phép hoạt động, v.v..

Ngay cả khi những sự vận động của đồng chí không có kết quả, đồng chí cũng viết cho tôi một chữ Uỷ ban Trung ương KPD 2) để tôi liệu quyết định. Hôm nay là ngày 12-4, tôi hy vọng nhận được tin tức của đồng chí vào ngày 24 tới. Tôi tin cậy ở đồng chí và gửi đến đồng chí lời chào cộng sản anh em.

Nguyễn Ái Quốc”.

            –  Bút tích hai bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.324-326.

Tháng 4, ngày 14

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Phong trào công nhân ở Ấn Độ, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 37 và bản tiếng Đức số 35.

Về tình hình phát triển của giai cấp công nhân Ấn Độ, bài báo cho biết: đầu những năm 20, tuy có sự gia tăng về số lượng, song phần lớn giai cấp công nhân Ấn Độ chưa được tổ chức và số đông nghiệp đoàn chịu ảnh hưởng cải lương của Đảng Lao động Anh. Từ nửa sau những năm 20, dấu hiệu chứng tỏ bước phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân Ấn Độ rất rõ nét, đình công liên tiếp nổ ra không riêng ở một ngành mà ở nhiều ngành, yêu sách kinh tế đã kết hợp chặt chẽ với yêu cầu chính trị… Nguyên nhân của sự chuyển biến đó, như bài báo đã chỉ rõ: “Mặc dù có tình trạng vô tổ chức của thợ thuyền và thái độ hèn nhát của những người theo chủ nghĩa cải lương, sự nghèo khổ làm cho vô sản Ấn Độ cấp tiến hơn”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.327-329.

Tháng 4, ngày 18

 Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Nông dân Ấn Độ, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 38, bản tiếng Anh số 23, bản tiếng Đức số 42.

Tác giả viết về tình cảnh khốn cùng của nông dân Ấn Độ dưới ách áp bức bóc lột của bọn địa chủ Anh, địa chủ bản xứ, bọn cho vay nặng lãi, bọn bao thầu thuế… là những đồng minh trung thành và chỗ dựa vững chắc cho chủ nghĩa đế quốc Anh.

Hàng triệu nông dân Ấn Độ đã bị chết đói, làng xóm xác xơ. Từng đoàn người kéo nhau đi lang thang, hoặc lũ lượt dồn về các thành phố, hình thành lớp “vô sản áo rách”, sống vất vưởng bằng nghề hành khất. Mặc dù vậy, tác giả vẫn tin tưởng:

“Tuy không có tổ chức hoặc tổ chức còn lỏng lẻo – người nông dân nghèo khổ thúc bách – thường nổi dậy chống kẻ bóc lột”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.330-332.

Tháng 4, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc được Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ra quyết định đồng ý để Người trở về Đông Dương theo nguyện vọng.

Bản quyết định ghi: “Theo nguyện vọng của đồng chí (Nguyễn Ái Quốc – B.T), đồng chí có thể trở về Đông Dương; chi phí chuyến đi cũng như thời gian ba tháng lưu lại do Đảng Cộng sản Pháp chịu”.

            –  Biên bản số 93 cuộc họp của Ban Thư ký Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, ngày 25-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Badin (Basil) báo tin đã nhận được thư viết ngày 17-4-1928 của Nguyễn Ái Quốc và thông báo rằng Ban Phương Đông đã quyết định gửi cho Nguyễn Ái Quốc tiền đi đường và một phần trợ cấp cho ba tháng đầu.

            –  Bút tích bức thư của Badin gửi Nguyễn Ái Quốc. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 21

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi các đồng chí trong Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, cho biết Người đã nhận được các thứ cần thiết để lên đường và dự định sẽ đi vào khoảng tuần thứ ba tháng này.

Trong thư, Người nêu một số nhận xét về hoạt động của Ban Thuộc địa Đảng Cộng sản Pháp và những đề nghị cụ thể về tài chính, về lề lối làm việc của ban.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.341-342.

Tháng 5

Hai bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ  Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt nòi giống bản xứ đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 43 và số 47.

Bài Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ cho biết, cũng như tại các thuộc địa khác, ở Ấn Độ, chủ nghĩa đế quốc Anh đã tìm cách chia rẽ hàng ngũ vô sản bằng cách thường xuyên khoét sâu những thành kiến dân tộc. Chính sách đặc quyền đặc lợi dành cho những công nhân viên chức người Anh và người lai Anh – Ấn đã tạo ra ở đây một lớp công nhân quý tộc làm chỗ dựa chống lại công nhân bản xứ, phá hoại giai cấp vô sản Ấn Độ.

Song, trong điều kiện đó, công nhân Ấn Độ vẫn kiên trì đấu tranh chống lại mọi âm mưu của bọn đế quốc và những thành kiến chủng tộc. Các cuộc đấu tranh của công nhân đã thống nhất trong những yêu sách chung: đòi tăng lương, đòi ngày làm tám giờ, đòi cải thiện đời sống và điều kiện làm việc, đòi được bảo hiểm xã hội, đòi tự do hoạt động nghiệp đoàn, chống đánh đập, cúp phạt, sa thải…

Giải thích tình hình đó, tác giả cho rằng: “Những  cuộc đấu tranh này của công nhân chỉ là rất thường tình nếu ta xét đến hoàn cảnh vô cùng khổ cực của vô sản Ấn Độ”.

Cùng với phong trào công nhân đang trên đà phát triển, cuộc đấu tranh của nông dân Ấn Độ cũng diễn ra sôi động dưới nhiều hình thức. Đó là hậu quả tất yếu của tình trạng khốn cùng của họ do chính sách thống trị của đế quốc Anh. Các cuộc đấu tranh của nông dân tuy còn rời rạc, nhưng tác giả bài viết đã nhận thấy ý nghĩa to lớn: nông dân từ chỗ dễ bảo và thụ động, giờ đây đã thức tỉnh và biết cách tự vệ và cho rằng đây là “một dấu hiệu của thời đại!”.

Bằng những số liệu cụ thể, bài Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt nòi giống bản xứ  cho biết: Từ sau chiến tranh, để khôi phục lại những đổ nát, chủ nghĩa đế quốc đã tăng cường khai thác bóc lột thuộc địa, thu về những món lợi kếch xù, nhờ đó tạo nên bộ phận phồn vinh về kinh tế, kỹ nghệ và thương mại cho các nước đó.

Một trong những thủ đoạn tàn ác gia tăng sự bóc lột đối với dân bản xứ được thi hành ở tất cả các thuộc địa của Pháp, Bỉ, Anh và những nước khác là chế độ lao động khổ sai. Lao động khổ sai và những hậu quả của nó làm cho số dân bản xứ ở các thuộc địa chết tới mức khủng khiếp và đang trên đà bị diệt vong. Điều này được khẳng định qua những lời thú nhận của báo chí và chính khách tư sản mà bài viết đã trích dẫn.

Tác giả kết luận: “Ta có thể kết luận rằng mọi chế độ thực dân đế quốc đều tiêu diệt hết các nòi giống bản xứ, và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc!”.

            – Bút tích bài báo Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 47, tháng 5-1928.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.333-340.

Tháng 6, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc rời nước Đức, bắt đầu cuộc hành trình để về gần Tổ quốc. Từ Đức, Người qua Thuỵ Sĩ rồi sang Italia. Sau này, nhắc lại kỷ niệm về chuyến đi đó, Người kể:

“Khi Bác xin cấp phép đi qua nước Ý, cơ quan phát xít hỏi nhiều câu lôi thôi. Đến biên giới, cơ quan biên phòng phát xít giở xem quyểnTừ điển chống cộng quốc tế dày khoảng 2.000 trang, ghi tên tuổi những người cách mạng các nước từ chữ A đến Z. Không thấy có tên mới của Bác trong đó, chúng chào lễ phép và nói: “Mời ông cứ đi!”.

“Đến phía Bắc nước Ý, Bác ghé vào xem hội chợ ở Milan (Milano), một thành phố buôn bán phồn thịnh nhất nước Ý… Khi đi xem phong cảnh Thủ đô Rôm, Bác bị hỏi giấy tờ và bị đưa về Sở Công an. Cũng nhờ bị bắt mà Bác hiểu thêm cách thống trị của phát xít. Trên các đường phố, cứ cách độ 100 thước thì có một tên mật thám. Tên mật thám hỏi giấy và bắt Bác hầu như mù chữ. Tại Sở Mật thám, chúng ra vẻ lễ độ. Tên trưởng phòng đứng dậy bắt tay Bác, mời Bác ngồi và mời Bác hút thuốc, rồi hỏi những câu bâng quơ. Những người ít kinh nghiệm thì dễ rơi vào cạm bẫy của chúng…”.

Trong thời gian ở Milan, Nguyễn Ái Quốc thường đến ăn tại quán ăn Tơráttôria Lapôsa (Trattoria Laposa) 3) số 10 đường Pasubiô.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc viết ngày 18-2-1930 gửi Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 35-36.

Tháng 6, cuối tháng

Từ cảng Napôli (Napoli), Nguyễn Ái Quốc đáp tàu Nhật Bản đi Xiêm.

Trên đường từ Italia về Xiêm, Người dừng lại ở Xâylan (Ceylan) ít ngày 4).

Sau đó Nguyễn Ái Quốc đi tàu khác trở về Xiêm.

            –  T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 36.

            –  Báo Tiến lên, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Xâylan, ngày 9-9-1969.

Tháng 6

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Chế độ thực dân Pháp và xứ Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 49.

Mặc dầu đã phải áp dụng ở xứ thuộc địa rộng nhất và giàu nhất này chính sách ngu dân, chính sách khủng bố và mật thám để bóp nghẹt những quyền tự do tối thiểu của dân chúng, vậy mà chủ nghĩa đế quốc Pháp vẫn phải nơm nớp lo sợ cho nền thống trị của chúng. Chúng sợ cách mạng từ ngoài nhập vào và đã tìm mọi cách đối phó, kể cả trò bịp chính trị hòng trừ khử nguy cơ đó.

Song như tác giả nhận định: “Dù bọn xã hội đế quốc chủ nghĩa có đề phòng như thế nào đi nữa, thì nạn nghèo khổ và sự bóc lột vẫn cứ thúc đẩy người dân Đông Dương làm cách mạng, để đạp đổ ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.343 – 345.

Tháng 7, khoảng đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc với hộ chiếu mang tên một Hoa kiều là Nguyễn Lai đến bến cảng Khoong Tơi, hải cảng quốc tế tại Thủ đô Băng Cốc.

Những ngày ở Băng Cốc, Nguyễn Ái Quốc thường ở trong một số chùa như chùa Hội Khánh, người Thái gọi là chùa Mongkhol Sunrankhol; chùa ông Năm, người Thái gọi là chùa Somsanam Boriharn, chùa Tư Tế Tự, chùa Sư Ba, người Thái gọi là chùa Lacumkho.

Sau một thời gian ngắn, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Bản Đông, thuộc huyện Phìchịt, tỉnh Phítxanulốc miền Trung nước Xiêm. Đây là một làng Việt kiều với chừng hai chục gia đình, từ năm 1926 đã có những tổ chức cách mạng như Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Hội hợp tác, Hội Việt kiều thân ái.

Trong buổi họp mặt đầu tiên với kiều bào, Nguyễn Ái Quốc tự giới thiệu là Thọ, biệt hiệu Nam Sơn. Những ngày sau đó, Người đã nhanh chóng sống hoà mình với kiều bào, cũng đi chân đất, cũng quần áo nâu sồng, làm đủ thứ việc như mọi người.

Ban ngày, Người tranh thủ lần lượt đi thăm các gia đình, hỏi han công việc làm ăn và giúp đỡ ý kiến. Tối đến, Người tổ chức nói chuyện cho kiều bào nghe về tình hình thế giới, tình hình trong nước. Thỉnh thoảng, Người lấy báo Trung Quốc, Anh, Pháp ra đọc một bài rồi phân tích giảng giải cặn kẽ cho mọi người.

Người lưu lại ở Bản Đông khoảng hai tuần.

            –  Hồi ký của Lê Mạnh Trinh. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Căn cứ báo cáo đề tài cấp bộ của Bảo tàng Hồ Chí Minh: Nghiên cứu, phát hiện, thống kê di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thái Lan.

Tháng 7, giữa tháng

Nguyễn Ái Quốc rời Bản Đông đi Uđon 5) (tức tỉnh Uđon Thani).

Trong suốt cuộc hành trình ròng rã 15 ngày, Người đi bộ theo dọc đường rừng, vừa để đảm bảo bí mật, vừa để tìm hiểu thực tế tình hình kiều bào. Cũng như mọi người, Người đeo bên mình một con dao, một ống đựng sườn băm rang muối mặn, vai gánh đôi thùng có nắp đậy, trong đựng quần áo, ít gạo, muối, tài liệu, vài thứ đồ dùng cần thiết. Tuy xưa nay chưa quen gồng gánh, cũng chưa quen đi bộ đường dài nên mấy ngày đầu hai bàn chân bị phồng rộp, rớm máu, Người vẫn cố theo kịp mọi người. Người nói: “Thiên hạ vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên” (Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền).

            –  Hồi ký của Lê Mạnh Trinh. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 8, khoảng đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Uđon, Người đến Noong Bùa là nơi Việt kiều đông nhất trong tỉnh.

Ở Uđon, Người lấy tên là Chín. Mọi người tôn trọng gọi là “Thầu Chín” (ông già Chín) mặc dầu Người mới 38 tuổi.

Trong cuộc họp đầu tiên khi tới Uđon, Người báo cáo trước Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên về tình hình và triển vọng của cách mạng Việt Nam, nhấn mạnh đến phẩm chất của người cách mạng là phải biết chịu đựng gian khổ, kiên trì đấu tranh với khó khăn, tuyên truyền giác ngộ quần chúng, không ngừng rèn luyện ý chí phấn đấu.

Người chủ trương phải mở rộng tổ chức, củng cố cơ sở quần chúng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trước kia Hội hợp tác chỉ thu hút những thanh niên ở trong nước ra, nay cần kết nạp cả những kiều bào hăng hái cách mạng và tình nguyện gia nhập.

Người đề nghị đổi tên báo Đồng thanh – tờ báo của Hội thân ái xuất bản từ năm 1927, thành báo Thân ái và yêu cầu nội dung tờ báo này phải rõ ràng, bài viết phải ngắn gọn dễ hiểu, phát hành càng rộng càng tốt.

Người còn chủ trương phải làm cho người Xiêm có cảm tình hơn nữa với người Việt Nam và cách mạng Việt Nam; giáo dục kiều bào tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân bạn; khuyên mọi người học chữ Xiêm, tiếng Xiêm, đồng thời mở rộng việc vận động học chữ quốc ngữ. Với các cán bộ phụ trách, Người khuyên cố gắng tạo khả năng hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp hơn nữa.

Những ngày ở Uđon, cùng với công tác chấn chỉnh xây dựng tổ chức, Nguyễn Ái Quốc dành khá nhiều thời gian để dịch sách lý luận làm tài liệu tuyên truyền và huấn luyện cho cán bộ Việt Nam hoạt động ở Xiêm. Người đã dịch hai cuốn Nhân loại tiến hoá sử  Cộng sản A.B.C.

Các buổi tối, Người thường tổ chức nói chuyện với kiều bào. Những buổi nói chuyện đó, nhà chật ních người. Bà con rất thích đến nghe, vì “Thầu Chín” nói chuyện vừa hấp dẫn lại thiết thực, từ câu chuyện làm ăn đưa đến câu chuyện chính trị. Bà con thấy “Thầu Chín” vừa đáng kính, vừa gần gũi nên thường hỏi ý kiến về chuyện gia đình, chuyện làm ăn.

Nguyễn Ái Quốc sống như mọi người, cũng đào giếng, cũng vỡ đất làm vườn. Khi Chính phủ Xiêm cho phép mở trường học, Người đã tham gia với kiều bào gánh gạch, đào móng, đắp nền. Người vui vẻ chịu chung với các đồng chí những vất vả, kham khổ về đời sống vật chất. Bữa cơm nhiều khi chỉ có rau sam hoặc rau lang chấm muối, thậm chí chỉ có muối. Kiều bào ở gần, biết “Thầu Chín” hay hút thuốc lá, mỗi khi đi chợ đã không quên mua gửi biếu vài bao thuốc.

Thời gian ở Uđon, Nguyễn Ái Quốc đã đến Noọngkhai gặp gỡ một số cán bộ hoạt động ở Viêng Chăn sang để tìm hiểu tình hình phong trào Lào và khả năng đặt mối liên hệ với Xiêm để đẩy mạnh cuộc vận động cách mạng ở
Việt Nam.

            –  Hồi ký của Lê Mạnh Trinh. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 10, trước ngày 2

Nguyễn Ái Quốc gửi cho Tập san Inprekorr một tài liệu nhan đề Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông Dương 6).

Bài viết đưa ra những số liệu cụ thể và chia ra các phần sau đây:

          – Tình hình kinh tế

          – Sự tích luỹ tư bản

          – Lợi nhuận

          – Công nghiệp hoá thuộc địa

          – Chiếm đoạt ruộng đất

          – Sự độc quyền

          – Đầu sỏ tài chính

          – Tư bản nước ngoài ở Đông Dương

          – Đối kháng thực dân ở Đông Dương

          – Sự bóc lột người An Nam

          – Vô sản hoá người bản xứ

          – Lao động khổ sai đối với người bản xứ

          – Sợ hãi cách mạng.

Bài viết có đoạn: “Mặc dù có hoạt động bề ngoài về kinh tế, và mặc dù làm ra vẻ an tâm, những tên đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ về một cuộc cách mạng sắp tới. Việc đã tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc tự mình đào hố để chôn mình”.

            –  Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 346 – 362.

Trong năm

Nguyễn Ái Quốc viết bài  Đông Dương khổ nhục, ký bút danh NGUYỄN.

Tác giả tố cáo chính quyền thuộc địa, từ kẻ đại diện tối cao của Nhà nước chính quốc đến những tên thực dân bình thường, đều tự ý và đua nhau giết hại, bóc lột đến tận xương tuỷ xứ Đông Dương đã bị chinh phục và dân tộc Đông Dương đang bị đày đọa này. Tội ác của bọn côn đồ đó diễn ra hằng ngày và không đủ thì giờ để kể cho xiết. Đông Dương khổ nhục. Nhưng giờ đây, khi ách áp bức càng đè nặng lên vai dân chúng bao nhiêu thì dân chúng chống lại càng nhiều bấy nhiêu. Điều này chứng tỏ rằng, bây giờ căm hờn đã sôi sục trong lòng những người nô lệ và từ đây chủ nghĩa đế quốc Pháp không còn có thể bóc lột dân chúng Đông Dương mà không gặp phải những cuộc đấu tranh sinh tử để giành lại tự do và quyền sống. Bức màn mà chính phủ thuộc địa dựng lên để giấu giếm tội ác của chúng, bưng bít những tiếng thét căm hờn của người bản xứ và che đậy những cuộc khởi nghĩa bùng nổ liên tiếp, đã bị xé toang. Tội ác của chúng đã phơi bày trước giai cấp vô sản thế giới, đặc biệt là trước thợ thuyền Pháp.

Nhân danh Đông Dương khổ nhục, tác giả kêu gọi những ai đang đấu tranh ở khắp nơi, kêu gọi những người bạn Nga đã tự giải phóng mình khỏi tay bọn cường quyền: “Những người bạn bất hạnh của các bạn hiện đang giãy giụa ở Đông Dương. Họ đang trải qua những giờ phút khó khăn để tự giải phóng. Đế quốc Pháp đang giết hại họ, đang tước đoạt của cải của họ. Mong các bạn nghĩ tới họ; tiếng thét căm thù của họ phải được hoà lẫn với tiếng thét của các bạn để chặn bàn tay giết người của bọn đế quốc Pháp ăn cướp. Mong rằng sự quan tâm của các bạn đối với phong trào đấu tranh sẽ cổ vũ họ trong tương lai lật đổ được bọn đế quốc áp bức bóc lột”.

            –  Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.363-366. 

——————

1) Đến nay, chưa xác định được tên của người nhận bức thư này (B.T).

2) Đảng Cộng sản Đức (B.T).

3) Ngày 19-5-1990, nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bạn Italia đã dựng biển lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại khách sạn này (nay đã hiện đại hóa).

4) Theo hồi ức của Uychêmaxinghê, Chủ tịch Đảng Cộng sản Xâylan và Piêtơ Canơman – Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Xâylan thì trong chuyến đi này Nguyễn Ái Quốc ẩn danh là một thành viên của đoàn thủy thủ. Chiếc tàu Người đi đã ghé vào cảng Côlômbô, Thủ đô Xâylan. Người đã ở khách sạn ngày nay mang tên “Thắng Lợi” và đã tới thăm tỉnh Candi, cách Côlômbô khoảng 50km.

5) Uđon thuộc đông bắc nước Xiêm, là vùng có đông Việt kiều sinh sống, lại tiện đường liên lạc với Noọngkhai, Xacôn, Nakhôn, Thạt Phanôm… và những

nơi có kiều bào. Ở Uđon, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Hội thân ái và Hội hợp tác cũng ra đời. Vì vậy, Uđon còn là trung tâm cuộc vận

động Việt kiều ở Xiêm.

6) Tài liệu do Cơ quan lưu trữ Đảng Cộng sản Liên Xô gửi Đảng Cộng sản Việt Nam trên có ghi: Bài của Nguyễn Ái Quốc gửi cho Tập sanInprekorr, ngày

2-10-1928 (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1927)

Đầu năm

Cuốn Đường cách mệnh32, tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các khoá huấn luyện chính trị của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu, được Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tại Quảng Châu (Trung Quốc).

Sách khổ 13 x 18 cm, in giấy nến, kiểu chữ viết thường.

Nội dung cuốn sách phân chia theo từng vấn đề và số trang cũng được đánh theo từng vấn đề, không đánh liền cho cả cuốn sách. Có 15 vấn đề sau đây:

1.         Tư cách một người cách mệnh.

2.         Vì sao phải viết sách này?

3.         Cách mệnh.

4.         Lịch sử cách mệnh Mỹ.

5.         Cách mệnh Pháp.

6.         Lịch sử cách mệnh Nga.

7.         Quốc tế.

8.         Phụ nữ quốc tế.

9.         Công nhân quốc tế.

10.        Cộng sản Thanh niên quốc tế.

11.        Quốc tế giúp đỡ.

12.        Quốc tế cứu tế đỏ.

13.        Cách tổ chức công hội.

14.        Tổ chức dân cày.

15.        Hợp tác xã.

Các vấn đề trên được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.

Cuốn sách này nằm trong loạt sách do Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên xuất bản ở Quảng Châu nhằm giới thiệu về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

            –  Đường cách mệnh, in năm 1927. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.257 – 318.

Tháng 1, ngày 31

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ sáu về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi, chủ yếu giới thiệu Tuyên bố của Chính phủ Quốc dân về thái độ và ý đồ ngoại giao của mình. Theo Nguyễn Ái Quốc, đó là một bản tuyên bố rõ ràng và cương quyết, làm cho người ta không còn nghi ngờ gì về chính sách đối ngoại của Chính phủ Quốc dân.

Sau khi giới thiệu những nội dung cơ bản trong bản Tuyên bố, Nguyễn Ái Quốc khẳng định:

“1) Các cường quốc phải thay đổi chính sách ở Trung Quốc theo thực tế và những đòi hỏi hiện tại; 2) Chính phủ Quốc dân do những người Trung Quốc dân tộc chủ nghĩa ủng hộ sẽ đấu tranh giành lại độc lập hoàn toàn về chính trị và lãnh thổ của Trung Quốc; 3) Chính phủ Quốc dân quyết định xem xét với tinh thần công bằng tình hình của kiều dân nước ngoài, sẵn sàng thương lượng với các cường quốc nước ngoài, những cường quốc này không có nguy hiểm nào trong việc thương lượng và thoả thuận với Chính phủ Quốc dân mà quyền lực của nó dựa trên một lực lượng không khoan nhượng và vô địch: đó là chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc”.

Nguyễn Ái Quốc còn tiên đoán tuyên bố này của Chính phủ Quốc dân sẽ trở thành đối tượng của nhiều cuộc tranh cãi trong các giới ngoại giao nước ngoài và chắc chắn sẽ có hiệu quả tức thì đối với chính sách của các cường quốc nước ngoài ở Trung Quốc.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.480 – 484.

Tháng 2, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ bảy về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi, thông báo về diễn biến tình hình ở Hán Khẩu, ở Dương Tử, ở miền Bắc, đặc biệt là về thái độ của các cường quốc nước ngoài.

Thông tin những ý kiến trái ngược nhau về giải pháp ngoại giao của Anh đối với tình hình Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc vạch rõ đó chỉ là những kế hoãn binh, “những lý do khéo léo nhất để che đậy mục đích thực sự của chính sách hăm dọa của Anh”, mặt khác cũng chứng tỏ sự lúng túng của Anh và của các nước đế quốc khác trước tuyên bố của Chính phủ Quốc dân.

Nguyễn Ái Quốc còn đưa ra một nhận định: “Ở Trung Quốc, cũng như ở châu Âu, chính sách đối ngoại của Anh hình như bị chi phối bởi nỗi lo sợ thấy chủ nghĩa bônsêvích lan rộng trên lãnh thổ của mình, hay ở những nước tự trị và thuộc địa, trong những thần dân của Anh. Các nhà chính khách Anh không ngần ngại tuyên bố rằng đường lối xôviết ở Trung Quốc còn có mục đích làm áp lực đối với chính sách của Anh ở châu Âu, nhằm làm cho chính sách của Anh mềm đi và bớt cứng rắn theo quan điểm xôviết”.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.485 – 489.

Tháng 2, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết bài Khổng Tử nhân việc Chính phủ Trung Hoa dân quốc ban hành quyết định: từ nay về sau, xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử, những khoản dự chi cho những cuộc nghi lễ ấy cũng như những đền thờ ông sẽ được sử dụng làm các trường học công.

Sau khi ca tụng đạo đức, học vấn, kiến thức của Khổng Tử đã khiến những người cùng thời và hậu thế phải khâm phục, bằng quan điểm lịch sử, tác giả đã phân tích mặt tích cực cũng như tiêu cực trong học thuyết của Khổng Tử.

Cuối cùng, tác giả viết:

“Với việc xóa bỏ những lễ nghi tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin”.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 452-454.

Tháng 2

Nguyễn Ái Quốc chủ trương ra tờ báo Lính cách mệnh nhằm tuyên truyền giác ngộ binh lính người Việt Nam. Báo Lính cách mệnh số 1 được ra vào tháng 2-1927 tại Quảng Châu (Trung Quốc). Tờ báo khổ 13 x 19cm, in rônêô. Nguyễn Ái Quốc là cây bút chính. Ngoài ra, còn có Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Duy Điếm, là những biên tập viên của tờ báo này.

            –  Báo Lính cách mệnh. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Nguyễn Thành: Báo chí cách mạng Việt Nam (1925 – 1945), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, tr.43.

Tháng 4, sau ngày 12

Mặc dù ở Quảng Châu đã nổ ra cuộc đảo chính của Tưởng Giới Thạch và những cuộc đàn áp khủng bố các lực lượng cách mạng diễn ra khắp thành phố, Nguyễn Ái Quốc vẫn tiếp tục ở lại Quảng Châu để bí mật liên lạc với các đồng chí Trung Quốc và duy trì công việc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

            –  T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.32-33.

Tháng 5, đầu tháng 1)

Vào một đêm khuya, Nguyễn Ái Quốc được Trương Vân Lĩnh, một người Việt Nam tốt nghiệp Trường quân sự Hoàng Phố đang làm việc ở Sở Công an của chính quyền Tưởng Giới Thạch, đến báo tin: “Chúng sắp bắt anh đấy! Tính thế nào, anh phải tính nhanh đi!”. Nguyễn Ái Quốc liền bí mật đi Hương Cảng.

Đến Hồng Kông, Người bị Sở mật thám Anh xét hỏi. Chúng buộc Người rời Hồng Kông trong 24 giờ.

Nguyễn Ái Quốc đi Thượng Hải. Tại đây bọn Quốc dân Đảng cũng đang khủng bố gắt gao. Người phải vào ở khách sạn thật sang, ăn mặc thật đẹp để che mắt mật thám. Sau đó đáp tàu từ Thượng Hải đi Vlađivôxtốc (Liên Xô) 2).

        –  T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.33.

        –  Bút tích bức thư Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, tháng 6-1927. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 25

Từ Mátxcơva, với tư cách là đại biểu Việt Nam trong Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư cho Chi bộ Cộng sản Trường đại học Phương Đông, thông báo quyết định của Ban Phương Đông, Ban Bí thư latinh của Quốc tế Cộng sản và đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Ban Chấp hành về việc thành lập một nhóm cộng sản Việt Nam gồm 5 người: Phon Shon, Le Man, Jiao, Min Khan, Le Quy 3) – do Le Quy làm Bí thư và yêu cầu chi bộ nhà trường cử cán bộ phụ trách việc giáo dục cộng sản cho nhóm “để họ học cách làm việc” và “để đào tạo các đồng chí đó theo sinh hoạt của Đảng”.

            –  Bút tích bức thư ngày 25-6-1927. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 240.

Tháng 6

Tại Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản báo cáo những kết quả chính đã làm trong thời gian công tác ở Quảng Châu, tình hình sau cuộc đảo chính của Tưởng Giới Thạch (tháng 4-1927), những ý kiến của Đôriô (Doriot) 4) và Vôitinxki về công tác của Nguyễn Ái Quốc khi họ gặp nhau ở Vlađivôxtốc…

Thư cho biết, trong thời gian từ năm 1924 đến năm 1927, “mặc dù thiếu thời gian và tiền, nhờ sự giúp đỡ của các đồng chí người Nga và An Nam, chúng tôi đã có thể: 1) Đưa 75 thanh niên An Nam đến học ở Trường tuyên truyền do chúng tôi tổ chức ở Quảng Châu; 2) Xuất bản 3 tờ báo nhỏ; 3) Phái những người tuyên truyền vừa mới được đào tạo về Xiêm, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Nam Kỳ; 4) Thành lập một liên đoàn cách mạng do một ủy ban gồm 5 ủy viên ở tại Quảng Châu lãnh đạo, liên đoàn đã bắt rễ khắp nơi trong tất cả các xứ Đông Dương đó”.

Sau khi cuộc đảo chính nổ ra, “3 trong số 5 ủy viên của Uỷ ban Đông Dương chúng tôi bị bắt giữ, tôi suýt bị bắt… trụ sở của chúng tôi bị cảnh sát đến khám xét và giám sát. Khi đó, tôi chỉ còn cách là phải chọn gấp giữa hai con đường hoặc là để bị bắt hay tiếp tục qua Mátxcơva về công tác ở Xiêm”.

Trong thư, Nguyễn Ái Quốc cũng nêu quan điểm của mình giữa việc về công tác ở Xiêm theo ý kiến của Đôriô hay về công tác ở Thượng Hải (Trung Quốc) theo ý kiến của Vôitinxki, và trình bày một yêu cầu về kinh phí cho chuyến đi từ Liên Xô về Đông Dương qua Xiêm và “thời gian cư trú ở thuộc địa này khoảng chừng 2 năm”.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc viết: “Trong khi chờ đợi quyết định của các đồng chí, xin các đồng chí vui lòng: 1) Đưa tôi vào bệnh viện; 2) Khi tôi ra viện cho phép tôi được học vài kinh nghiệm cần thiết cho công tác của tôi; 3) Và cho tôi lên đường càng sớm càng tốt”.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.241-244.

Tháng 7

Nguyễn Ái Quốc vì lý do sức khỏe được Quốc tế Cộng sản bố trí đi điều trị tại bệnh viện.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, ngày 12-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 8, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đi nghỉ tại nhà an dưỡng mang tên Lênin ở Éppatôria vùng Crưm bên bờ biển Hắc Hải.

            –  Bưu thiếp của Nguyễn Ái Quốc gửi Ph. Biu. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tháng 8, trước ngày 8

Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Phrăngxoa Biu (Francois Billoux) làm việc tại Quốc tế Cộng sản.

Bức thư viết trên bưu ảnh, nội dung như sau:

“Đồng chí thân mến,

Nhờ đồng chí nói với nữ đồng chí thay chị Mácgô rằng, nếu tôi có thư từ gì xin gửi theo địa chỉ dưới đây:

Ái Quốc

Krưm – Éppatôria

Nhà an dưỡng Lênin.

Xin chào tất cả”.

            –  Bưu ảnh của Nguyễn Ái Quốc gửi Ph. Biu. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Ph. Biu: Bác Hồ của chúng tôi. In trong tập Bác Hồ ở Pháp, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.43-44.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.245.

Tháng 9, ngày 28

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Những tội ác kinh khủng của chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr bản tiếng Pháp, số 99, và các bản tiếng Đức và tiếng Anh.

Tác giả tố cáo việc đế quốc Pháp “mộ phu” người Đông Dương sang khai thác các thuộc địa khác của Pháp và vạch trần âm mưu bẩn thỉu, thủ đoạn tàn bạo để vét dân bản xứ đem bán làm nô lệ, từ việc lợi dụng tình trạng khốn khổ của họ do đói kém, do nợ lãi, do những gánh nặng của “công cuộc khai hóa”, đến cả việc tổ chức bắt cóc người.

Bài báo dành một phần mô tả thảm cảnh của những người dân bản xứ được “tuyển mộ” này: họ được chất đống trong hầm tàu; luôn luôn bị đày đọa; dày vò vì đói và khát; ốm đau thì bị quăng xuống biển để tránh “truyền nhiễm”; phụ nữ tuy được mang theo con nhỏ, nhưng lên tàu rồi thì đứa trẻ bị vứt xuống nước để “giảm bớt những miệng ăn không cần thiết”; trên tàu, những tên lính tay súng lăm lăm canh gác họ và khi sống sót được tới đảo, họ bị nhốt trong các chuồng để chờ các ông chủ đến mua bán như những con vật.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 246-248.

Tháng 10, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc viết thư cho đồng chí K.Vacne, một thư ký của Ban thư ký Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, đề nghị cho ba người mới bị ốm 5) và một người ốm chưa khỏi hẳn đi bệnh viện.

            –  Hồ sơ của Trung tâm lưu trữ và nghiên cứu các tư liệu lịch sử hiện đại Nga, phông 531.1.52.

            –  Theo A.A.Xôkôlốp: Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, bản tiếng Nga, Nxb. Mátxcơva, 1998, tr.33.

Tháng 10, ngày 15

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh N.K., nhan đề Sự thống trị của đế quốc Pháp ở Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 104.

Bài báo tố cáo âm mưu của đế quốc Pháp trong việc gây ra cuộc xung đột “Hoa – Việt”vạch trần tính chất bịp bợm, mị dân của cái gọi là Viện “Đuma” An Nam do chúng nặn ra và kết tội chính chủ nghĩa đế quốc Pháp là nguyên nhân của mọi tai họa mà người dân xứ Đông Dương đang phải gánh chịu.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.249-254.

Tháng 11

Nguyễn Ái Quốc được Quốc tế Cộng sản cử đi Pháp công tác.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản ngày 12-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 12, đầu tháng

Nhận sự phân công của Quốc tế Cộng sản, từ Pháp, Nguyễn Ái Quốc đi dự cuộc họp Đại hội đồng của Liên đoàn chống đế quốc33 (Grand conseil général de La ligue anti impérialistes) từ ngày 9 đến ngày 12-12-1927 tại Brúcxen 6) (Bruxelles) – Thủ đô nước Bỉ.

Cuộc họp có khoảng 50 người tham dự, mở rộng cho các thành viên ngoài hội đồng. Nội dung chính: quyết định thành lập các phân bộ của Liên đoàn ở các nước, bàn về chống chiến tranh thế giới mới, thông qua nghị quyết về Trung Quốc, Ấn Độ, Nicaragoa, Inđônêxia, Đông Dương, Iran; về mối quan hệ của Liên đoàn với Quốc tế II trong vấn đề thuộc địa.

Tại cuộc họp, Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ và làm quen với Môtilan Nêru (thân sinh cố Thủ tướng J. Nêru), Xucácnô, Katayama Xen, Tống Khánh Linh. Trong thời gian dự họp, Người ở tại một khách sạn phố Rêgin và đã tranh thủ viết một tài liệu về cuộc đấu tranh của nhân dân Cônggô, thuộc địa của Bỉ, nơi Người đã từng đến sống và lao động những ngày tìm đường cứu nước.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, ngày 12-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            –  T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.33.   

            –  Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1980, tr.209.

Tháng 12, ngày 16

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Toàn văn bức thư như sau:

“Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân.

Các đồng chí thân mến,

Trong 2 hoặc 3 tuần lễ tôi sẽ trở về đất nước tôi. Chuyến đi của tôi tốn chừng 500 đôla Mỹ. Vì tôi không có tiền, nên tôi mong các đồng chí giúp tôi.

Xin vui lòng trả lời tôi ở địa chỉ như sau: Ông Lai, ở nhà ông Écxten, 21 phố Halesơ, Béclin 7)Trong thư trả lời, hãy viết đơn giản “có” hoặc “không”. Nếu là có, hãy gửi tiền đến Uỷ ban Trung ương của Đảng Đức, cho “Liwang”.

Có hay không có tiền, tôi yêu cầu các đồng chí gửi cho tôi một chương trình tổ chức thực hành để tôi có thể làm việc một cách có ích.

Trong khi chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng có được tức thời, xin gửi các đồng chí thân mến nhận lời chào cách mạng của tôi.

Béclin, ngày 16-12-1927

N. Ái Quốc”

            –  Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.255.

Cuối năm

Nguyễn Ái Quốc viết Công tác quân sự của Đảng trong nông dân34, nêu lên tầm quan trọng của nông dân trong tiến trình cách mạng và đảng của giai cấp vô sản phải hết sức quan tâm tới công tác chính trị và tổ chức (cả về công tác quân sự) trong nông dân.

Thời gian hoạt động ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã chứng kiến cuộc chiến tranh Bắc phạt do Tôn Trung Sơn phát động nhằm mở rộng thành quả cách mạng ra phạm vi cả nước. Đây là một cuộc chiến tranh chống đế quốc phong kiến của nhân dân Trung Quốc, thực chất là do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhưng bề ngoài do Chính phủ Quốc dân tiến hành. Cuộc chiến tranh Bắc phạt được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân, nên liên tiếp giành được những thắng lợi về quân sự, lực lượng cách mạng nhanh chóng phát triển, khống chế được quá nửa lãnh thổ Trung Quốc. Song cuối cùng, cuộc Bắc phạt đã thất bại.

Theo dõi chặt chẽ diễn biến của cuộc chiến tranh, suy nghĩ về những sự biến đó, tổng kết những bài học kinh nghiệm, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “Chính sách kém cỏi về vấn đề nông dân của Đảng Cộng sản là một trong những nguyên nhân quyết định làm cho cuộc cách mạng Trung Quốc cuối năm 1927 thất bại”.

Từ thực tiễn của cách mạng Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc cho rằng:

“Đảng của giai cấp vô sản, trước hết ở tất cả các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp, phải quan tâm tới công tác chính trị và tổ chức (cả về công tác quân sự) trong nông dân. Công tác này không được phó thác cho sự may rủi, hay tiến hành gặp chăng hay chớ, một kiểu giống nhau trên khắp cả nước”. Những vấn đề về tổ chức các lực lượng vũ trang trong nông dân, vấn đề xây dựng căn cứ địa, những nguyên tắc trong việc tổ chức du kích và lãnh đạo chiến tranh du kích đã bước đầu được Nguyễn Ái Quốc phân tích và giải quyết về mặt lý luận. Trên cơ sở đó, kết hợp với những bài học của cách mạng thế giới, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực. Đó là một sự thực hiển nhiên đối với cả hai cuộc cách mạng – cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản”. Do vậy mà công tác tuyên truyền, tổ chức của đảng với nông dân có tầm quan trọng đặc biệt. “Cách mạng chỉ có thể thắng lợi nếu như những làn sóng cách mạng lay động được quần chúng nông dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 413 – 433.

————————–

1) Theo William Duiker là ngày 5-5-1927.

2) Trong một lá thư gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc ghi tháng 6 tới Mátxcơva.

3) Tức Nguyễn Thế Rục, Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng, Bùi Lâm và Trần Phú (B.T).

4) J. Doriot – đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, cán bộ của Quốc tế Cộng sản (B.T).

5) Theo A. A. Xôkôlốp một trong ba người mới bị ốm là Nguyễn Thế Vinh (em ruột Nguyễn Thế Rục) bí danh là Tăng Hy Hiền.

6) T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện đã nhắc lại một kỷ niệm trong chuyến đi Brúcxen như sau:

“Đến ga xe hỏa thì Bác (tức Nguyễn Ái Quốc khi đó – B.T) gặp đồng chí Xen Câtdâm – người sáng lập Đảng Cộng sản Nhật. Vì tuổi già, đồng chí được đoàn thể cấp vé hạng nhất. Khi thấy Bác đi hạng ba, đồng chí cũng quyết định đi hạng ba, mặc dù Bác khẩn khoản mời đồng chí đi hạng nhất cho khoẻ khoắn”.

7) Nguyên văn: M. Lai, chez M., Ecckstein, 21 Halle-chastransse, Berlin (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1926)

Tháng 1, ngày 6

Nhân Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân Đảng Trung Quốc họp tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã gửi một bức thư 1) đến đại hội. Bức thư ký tên Lý Thuỵ, toàn văn như sau:

“Kính gửi Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Quốc dân Đảng Trung Quốc.

Xin thưa, tệ nhân 2) là một người An Nam mất nước phải lưu vong bôn ba đến chốn này. May thay gặp lúc quý hội họp đại hội, tuyên bố viện trợ cho công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới, không nén nổi sự vui mừng. Song “muốn bốc thuốc, trước hết phải biết bệnh”. Cho nên, tệ nhân yêu cầu quý hội cho phép đến hội nghị để bộc bạch tình cảnh đau khổ của đất nước kém cỏi chúng tôi, mong những người muốn giúp chúng tôi tiện nghiên cứu để tìm phương châm. Nước tôi sẽ may mắn biết bao! Cách mạng sẽ may mắn biết bao! Trước khi ngừng lời, xin kính chúc:

Cách mạng Trung Quốc muôn năm!

Quốc dân Đảng Trung Quốc muôn năm! 3).

Lý Thụy

Ngày 6 tháng 1 Trung Hoa dân quốc năm thứ 15

Địa chỉ liên lạc: Sứ quán Bôrôđin, ngài Trương Xuân Mộc 4) chuyển”.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.35 (bản tiếng Trung Quốc).  

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.210-211.

Tháng 1, ngày 13

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, cho biết Người đã nhiều lần viết thư cho các đồng chí trong Đoàn Chủ tịch đề nghị gửi cho các tài liệu về nông dân viết bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh để phục vụ tập san Nông dân sắp xuất bản, nhưng cho đến nay vẫn không nhận được gì cả. Bức thư có đoạn viết:

“Tôi sẽ rất cảm ơn các đồng chí nếu gửi cho tôi nhật báo của Quốc tế Nông dân từ số 1 cho tới số hiện nay bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, để tôi có thể dịch sang tiếng Trung Quốc dùng cho việc tuyên truyền của chúng tôi”.

Cuối thư ký tên: Nilốpxki (N.A.Q)

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.212.

Tháng 1, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc với bí danh Vương Đạt Nhân được Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân Đảng Trung Quốc mời đến dự và phát biểu ý kiến tại phiên họp thứ 9 của đại hội.

Chủ tịch phiên họp là Uông Tinh Vệ – Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền của Trung ương Quốc dân Đảng Trung Quốc, đã mời Nguyễn Ái Quốc lên phát biểu và mời Lý Phú Xuân làm phiên dịch (vì Người phát biểu bằng tiếng Pháp).

Sau lời chào mừng và cảm ơn sự hoan nghênh của đại hội, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra rất nhiều sự thật để tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam trong hơn 60 năm qua, đối với Hoa kiều ở Việt Nam. Chúng đàn áp dã man cách mạng Việt Nam và cũng sợ cả cách mạng Trung Quốc nên đã tìm mọi cách công kích phá hoại Chính phủ cách mạng Quảng Châu.

Cuối cùng, Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: “Tất cả các dân tộc bị áp bức đều cùng chịu sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần phải cùng nhau liên hiệp lại, đánh đổ đế quốc Pháp, đánh đổ chủ nghĩa đế quốc trên thế giới… Không phân biệt nước nào, dân tộc nào, tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung của chúng ta”.

Bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc đã được đại hội hoan nghênh nhiệt liệt.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr. 35-37 (bản tiếng Trung Quốc).

Tháng 1, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc viết bài Báo chí bình dân để trả lời những lời phàn nàn nhiều lần rằng “các bài báo của ta quá thiếu trau chuốt để có thể gây ảnh hưởng đến tâm trí dân chúng”.

Bài viết có đoạn:

“Chúng tôi xin báo với các độc giả của mình rằng chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, văn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đăng đối song hành, những sự tô vẽ văn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngược lại chúng tôi gắng sức, vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một văn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Vì mục đích của chúng tôi là: 1. Đánh trả sự tàn bạo của người Pháp; 2. Khích lệ dân tộc An Nam kết liên lại; 3. Làm cho họ thấy được nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm cách nào để tránh được những điều đó, nên bản báo chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động mà người ta gióng lên khi có đám cháy để báo cho người đang trong ngôi nhà cháy, giục giã họ chạy thoát thân để khỏi bị chôn vùi hoặc bị thiêu cháy, và gọi những người xung quanh đến ứng cứu.

Tiếng đàn cầm chắc chắn hay hơn tiếng kẻng; nhưng trước mối hoạ đang đe doạ chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gẩy đàn”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 446-447.  

Tháng 1, ngày 21

Nhân kỷ niệm ngày mất của Lênin, Nguyễn Ái Quốc viết bài nhan đề Lênin và phương Đông, đăng trên báo Gudok, Cơ quan ngôn luận của ngành giao thông vận tải Liên Xô, xuất bản ở Mátxcơva.

Bài báo phê phán các lãnh tụ Quốc tế thứ II đã không đồng tình với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa. Họ luôn luôn nhất trí với chính sách đế quốc mà bọn tư bản thực hiện ở các thuộc địa. Ngược lại, “Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa”.

Một lần nữa, Nguyễn Ái Quốc khẳng định những đóng góp lớn lao của Lênin đối với phong trào giải phóng dân tộc, và kết luận:

“Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 218-220.

Tháng 2, ngày 3

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, báo tin đã gửi số đầu tiên của tờ Nông dân Trung Quốc do Quốc dân Đảng xuất bản, tờ Litao và những báo cáo về phong trào nông dân đăng trên Quảng Châu báo.

Người nhắc lại đề nghị gửi cho các tài liệu tuyên truyền bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, nhất là nhật báo của Quốc tế Nông dân từ số đầu tiên để “tôi có thể dịch cho báo chí Trung Quốc chúng tôi”, và lưu ý “tôi đã viết cho các đồng chí nhiều lần về vấn đề này. Nhưng cho tới nay, tôi không nhận được gì cả”.

Cuối thư, ký tên: Nguyễn A.Q.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.221.

Tháng 3, ngày 8

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Toàn văn bức thư như sau:

Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân.

Các đồng chí thân mến,

Tôi muốn biết tại sao tất cả những thư mà tôi đã gửi đến các đồng chí đều không được trả lời, và nhất là những yêu cầu của tôi về báo cáo và tài liệu khác dùng cho tuyên truyền.

Tất cả những thư mà các đồng chí giao cho tôi để gửi đi Giava, Manila, Ấn Độ và những nơi khác đã được gửi đi. Chỉ có một thư quay trả lại tôi, vì không có người nhận, đó là thư gửi Ban biên tập Petir, Langiơ, Átgét – Xumatơra 5).

Tôi gửi đến các đồng chí những bài cắt ở báo có liên quan đến phong trào nông dân (tháng 2 và tháng 3), và một số báo nông dân của Quốc dân Đảng.

Tôi vẫn hy vọng các đồng chí vui lòng gửi cho tôi tài liệu để tuyên truyền. Xin gửi các đồng chí lời chào anh em.

Quảng Châu, ngày 8-3-1926.

Nilốpxki (N.A.Q)

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.222.

Tháng 4, ngày 4

Ký bút danh Mộng Liên, Nguyễn Ái Quốc viết bài Về sự bất công gửi báo Thanh niên đăng trên mục Dành cho phụ nữ.

Tác giả đã dẫn lời của Khổng Tử, Mạnh Tử, cách ví von của người Trung Quốc và câu nói cửa miệng của người Việt Nam về thân phận của người phụ nữ đã bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì trong xã hội và trong gia đình. Và đặt ra một câu hỏi lớn:

“Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công này?”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 448.

Tháng 5, sau ngày 14

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân do Phó Tổng thư ký Đômban, Trưởng ban Phương Đông Vônhêxienxki và Thư ký tổ chức Oóclốp, thay mặt ký tên.

Thư báo cho biết đã nhận được các thư của Nguyễn Ái Quốc đề ngày 13-1-1926, 3-2-1926, và 8-3-1926 với hai số báo Nông dân và những bài cắt của Quảng Châu báo nói về tình cảnh nông thôn Quảng Đông. Đoàn Chủ tịch muốn biết tình hình phong trào nông dân Sơn Đông sau khi gia nhập Quốc tế Nông dân và yêu cầu Nguyễn Ái Quốc gửi cho một thông báo chi tiết về tình hình các tỉnh Quảng Tây, Quý Châu và về kế hoạch tổ chức nông dân.

Thư còn yêu cầu Nguyễn Ái Quốc gửi cho Đoàn Chủ tịch “vào chuyến thư sắp tới” Cương lĩnh của Quốc dân Đảng về vấn đề nông dân, những nghị quyết, những biên bản của Đại hội II Quốc dân Đảng về công tác nông thôn.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 6, ngày 3

Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo cho Quốc tế Cộng sản (Báo cáo của Đông Dương) về những công việc đã làm cho Đông Dương từ khi Người đến Quảng Châu, như tổ chức được một tổ bí mật, một Hội liên hiệp nông dân của những người Việt Nam sống ở Xiêm, một tổ thiếu nhi, một tổ phụ nữ cách mạng, một trường huấn luyện chính trị, xuất bản tờ báo Thanh niên…

Báo cáo cũng nhắc đến Hội liên hiệp các thuộc địa ở Pari, về hai tờ báo Le Paria (viết bằng tiếng Pháp) và Việt Nam hồn (viết bằng tiếng Việt), và nhờ tổ chức liên lạc giúp với Nguyễn Thế Truyền gửi các báo đó cho Nguyễn Ái Quốc. Ngoài ra, còn nhờ nhắc hiệu sách của Đảng gửi cho Người các báo L’Humanité, La Vie Ouvrière và Tập san Inprekorr bằng tiếng Anh và tiếng Pháp.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 223-224.  

Tháng 7, ngày 22

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư Gửi Uỷ ban Trung ương thiếu nhi (tức Uỷ ban Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin – Liên Xô) về việc đề nghị cho gửi “một nhóm thiếu nhi Việt Nam” sang học ở Mátxcơva.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc còn viết thư Gửi đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp tại Quốc tế Thanh niên Cộng sản, nói là “đã viết thư cho Uỷ ban Trung ương Thiếu nhi Mátxcơva” và “đề nghị đồng chí ủng hộ yêu cầu của tôi và tiến hành mọi hoạt động cần thiết để người ta trả lời tôi được mau chóng và thuận lợi” về nội dung trên.

– Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.225-227.

Tháng 8, ngày 14

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Phong trào cách mạng ở Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 91.

Tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến những hành động yêu nước “lần đầu tiên người ta thấy ở Đông Dương”, như phong trào phản đối việc bắt bớ và xử án cụ Phan Bội Châu đã buộc tên Toàn quyền Varen phải ân xá cho nhà lão thành cách mạng này, như cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng yêu nước chống bọn thực dân phản động dưới danh nghĩa một cuộc đón rước Bùi Quang Chiêu – một người thuộc phái Quốc gia mới ở Pháp về, như phong trào để tang nhà chí sĩ Phan Châu Trinh diễn ra sôi nổi trong khắp cả nước bất chấp sự đe doạ và đàn áp của chính quyền thuộc địa.

Các tổ chức chính trị cũng lần lượt ra đời. Bắc Kỳ có Phục Việt, kêu gọi “Người Việt Nam không thể đội trời chung với người Pháp!… Hỡi dân tộc Việt Nam! Hãy mau mau thức tỉnh…”. Nam Kỳ có Đảng Lập hiến của một nhóm trí thức Tây học chủ trương “Pháp – Việt đề huề”, có tổ chức Thanh niên An Nam hoạt động tích cực, hướng tới việc thành lập đảng…

Cuối cùng, bài viết có đoạn: “Tình hình chính trị ở Đông Dương có thể tóm tắt trong lời than vãn sau đây của một tờ báo tiếng Pháp ở Bắc Kỳ: “Vụ biến động này… đã làm cho nước ta xưa nay yên ổn biết bao, đã trở thành trung tâm của những cuộc biến động và hỗn loạn”.

– Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 91, ngày 14-8-1926.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 228-233.

Tháng 9, ngày 18

Nguyễn Ái Quốc viết bài Người cách mạng mẫu mực, nêu 12 điều đòi hỏi ở một người cách mạng, bao quát các mặt về lý tưởng, về tinh thần hy sinh, về phẩm chất đạo đức, về phương pháp công tác.

Đoạn mở đầu và cũng là lời kết luận, tác giả viết:

“Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa”. Để hoàn thành vẻ vang vai trò này, người cách mạng kiểu mẫu phải có đầy đủ và thực hiện tốt những điều đó.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 449-450.

Tháng 9

Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ lấy tên là Vương đã giao nhiệm vụ cho Nguyễn Lương Bằng, một trong số anh em trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vừa học xong lớp huấn luyện chính trị, về nước tổ chức đường dây giao thông Hải Phòng – Hương Cảng để đưa thanh niên trong nước ra ngoài và chuyển tài liệu, sách báo từ nước ngoài về nước.

Sau này, nhớ lại Những lần gặp Bác, đồng chí Nguyễn Lương Bằng kể về sự kiện trên như sau:

“Hôm đó đồng chí Vương căn dặn nhiều điều… khi về nước, thì tìm gặp những bạn cũ ở quê nhà hay ở thành phố vẫn có tình thân với mình. Trong bất cứ câu chuyện gì, cũng gợi đến cảnh Pháp áp bức bóc lột. Nếu bà con tỏ ý đồng tình, thì hỏi: ta cứ để cho nó áp chế mãi sao? Bà con sẽ hỏi: sức đâu mà chẳng chịu? Nói: sức mạnh là ở đoàn kết, đoàn kết thì có sức mạnh lấy súng của giặc làm vũ khí của mình. Dần dần đưa bà con vào các phường họ, các hội ái hữu, tương tế. Người tích cực thì tổ chức vào Hội trước. Cứ thế mà mở rộng phong trào”.

“Đồng chí Vương dặn dò tôi cặn kẽ, tỉ mỉ nhất là về vấn đề giữ bí mật. Trước khi chia tay, đồng chí Vương lại bảo tôi phải chú ý một điểm: Mình ở nước ngoài về, thường là có mật thám theo. Cho nên mới về nước, không nên đi lung tung ngay, chưa nên vào nhà ai vội. Không những thế, nếu cần còn phải đóng vai người chơi bời để mật thám không chú ý”.

– Nguyễn Lương Bằng: Những lần gặp Bác. In trong Bác Hồ. Hồi ký của nhiều tác giả, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 36.

Tháng 10, ngày 24

Bài Nhân đức của Pháp của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Thanh niên, số 66, viết về vụ nhà cầm quyền Pháp trong mùa nước lũ đã sai lính phá đê sông Hồng ở phía bên kia để giữ an toàn cho thành Hà Nội “vì có nhiều Tây ở”, mặc dầu chúng biết khi đê lở nước ào vào, người lính kia không phòng bị trước chắc chắn sẽ chết trôi và dân chúng bên đó chắc chắn sẽ bị nhấn chìm. Quả nhiên, người lính phá đê rồi thì chết đuối ngay. Và 20.000 dân ta bất thình lình bị nước ùa vào làm cho chết trôi hết.

Bài viết có đoạn:

“Thương ôi! Dân ta bị Tây nó giết mòn, giết mỏi. Giết cách này không chết hết, thì nó giết cách khác. Nó lấy rượu và a phiến làm cho dân ta chết nhiều. Nó bắt đi đào sông, đào đường bị nước độc mà chết. Nó bắt đi lính đi làm nô lệ bên các xứ đen 6) mà chết. Nay nó lại nhận chìm cả xứ!

Đồng bào ơi! Mau mau dậy cứu lấy nòi!

Kẻo mà Nam Việt đi đời nhà ma!”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 451.

Tháng 11, ngày 13

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc với tư cách “đặc phái viên” của báo, viết bài đầu tiên trong loạt bài Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi gửi về cho báo L’Annam, một tờ báo xuất bản bằng tiếng Pháp ở Nam Kỳ do ông Phan Văn Trường làm chủ nhiệm.

Bài viết thông báo về những thắng lợi đầu tiên của Quân cách mạng Quốc dân 7) trong cuộc Bắc phạt do Tôn Trung Sơn phát động nhằm mở rộng thành quả cách mạng trong phạm vi cả nước, về những lục đục phe phái trong nội bộ chính quyền Bắc Kinh, về thái độ của các cường quốc nước ngoài với Quảng Châu.

Nói về nhiệt tình của dân chúng đối với Chính phủ Quốc dân, Nguyễn Ái Quốc nhận xét: “Sự nồng nhiệt của nhân dân chứng tỏ người Trung Quốc biết ơn dường nào vị lãnh tụ vĩ đại quá cố đã khơi dậy nơi họ ý chí tự giải phóng khỏi ách áp bức về ngoại giao mà bây giờ không gì có thể biện hộ được”.

Về quan hệ giữa các cường quốc với Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc nhận định: Họ “không phải là chính thức thừa nhận Chính phủ Quốc dân ở Quảng Châu mà là thực hiện một kế hoạch nhằm làm suy yếu Trung Quốc và đặt nước này dưới sự thống trị hoàn toàn của ngoại bang (…). Mưu mô này nhất định đã được Chính phủ Quốc dân nhận thấy, và những biện pháp thoả đáng đã được áp dụng để ngăn chặn việc thực thi này.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 458-461.

Tháng 11, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ hai về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi. Ngoài việc thông báo phía Chính phủ Quốc dân “sự kiện nổi bật trong tuần qua là việc cải tổ cuối cùng hệ thống cai trị ở cấp tỉnh tại tỉnh Quảng Đông”, bài viết tập trung nói về những khó khăn bế tắc của chính quyền Bắc Kinh, đặc biệt là tình hình tài chính đã không đủ để chi tiêu cho quân sự, về những chia rẽ sâu sắc và phân hoá giữa các tướng lĩnh quân phiệt.

Nhận xét về diễn biến của chiến tranh, Nguyễn Ái Quốc viết: “Thái độ của dân chúng các tỉnh rõ ràng là thuận lợi cho Chính phủ Quốc dân… Thái độ đúng đắn của dân chúng quốc gia, lòng yêu nước và sự trong sạch của các thủ lĩnh dân sự và quân sự, sự đoàn kết giữa họ, lòng mong muốn thành thật và rõ ràng của họ là vì lợi ích chung, tất cả những cái đó làm cho dư luận dân chúng ủng hộ Chính phủ Quốc dân… Họ không bỏ lỡ cơ hội nào để chứng tỏ cảm tình của mình đối với Quân giải phóng” 8).

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 462-465.

Tháng 11, ngày 28

Bài viết Người An Nam ở Xiêm 9) của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Thanh niên, số 71.

Tác giả đã điều tra và cho biết về số lượng, về tín ngưỡng, về nghề nghiệp, về thân phận của 3 vạn dân Việt đã “lưu ly thất sở, tan cửa tan nhà, phải bỏ quê cha đất tổ, dạt ra đất khách quê người” kể từ ngày thực dân Pháp xâm chiếm nước ta.

Nhận xét chung về người An Nam ở Xiêm khi đó, Nguyễn Ái Quốc phải thốt lên: “Tình cảnh người mình như vậy đều là lưu lạc quê người, cứ kể bình thường thì người An Nam ở Xiêm trông thấy nhau nên thương yêu nhau, giúp nhau là phải, nào ngờ vẫn giữ lấy thói dã man nào lương giáo giết nhau, lợi hại tranh nhau, lừa đảo nhau, chém giết nhau đến nỗi đem nhau đi kiện cáo cho Xiêm, Lào sỉ nhục. Vì một tính không biết đoàn thể, đã đến nỗi bỏ nước mà đi, lại còn vẫn không giác ngộ thế thì sao còn trách người Xiêm nó khinh, nó chửi. Nói ra thật đau lòng”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 455-456.

Tháng 12, ngày 10

Trong bài thứ ba viết về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi, về tình hình ngoại giao, Nguyễn Ái Quốc cho biết các cường quốc nước ngoài vẫn “tiếp tục quan hệ với một chính phủ mà quyền hạn không vượt quá các tường thành của Bắc Kinh, một chính phủ chỉ có cái tên, mà lý do duy nhất tồn tại là sự công nhận ngoại giao của các cường quốc”. Tuy nhiên, lập trường nào của họ đã có sự thay đổi, họ “có thể ký với Chính phủ Quốc dân một thứ tạm ước, chẳng hạn thừa nhận nó bình đẳng với Chính phủ Bắc Kinh”.

Nguyễn Ái Quốc còn cho biết, theo dư luận của báo chí, trước sức tiến công của Quân Quốc dân, nhiều nơi như ở Hán Khẩu và Thượng Hải đã lấy cớ “cứu tính mạng và của cải người nước ngoài bị đe doạ” để yêu cầu các cường quốc can thiệp.

Mặc dù vậy, Nguyễn Ái Quốc vẫn nhận định: “Cho đến nay, các sự kiện đã diễn ra theo kế hoạch Chính phủ định ra và kế hoạch ấy được thực hiện dễ dàng là do dân chúng nông thôn tận tình, do có sự đồng lòng giữa những nhà chức trách dân sự và quân sự, do lòng mong muốn chung góp phần cải tổ lại nước Trung Hoa. Cho đến nay, chưa bao giờ dân chúng Trung Quốc lại nêu một tấm gương về sự đoàn kết dân tộc, về chính trị, tốt đẹp đến như thế…”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 466-469.

Tháng 12, ngày 12

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, nhan đề Bà Trưng Trắc, ký bút danh H.T., đăng trên báo Thanh niên, số 73.

Sau khi thuật lại cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, tác giả bình luận: “Can đảm thay! Phận thuyền quyên vì nước quên mình! Tuy chỉ trong 3-4 năm nhưng cũng đủ làm cho bọn tu mi quân giặc mất vía”. Và kêu gọi:

“Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết K. m 10). Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 457.

Tháng 12, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc viết bài thứ tư về Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi. Ngoài việc phản ánh một số nét về tình hình ở Bắc Kinh, Thiên Tân và Quảng Đông, bài viết tập trung nói về chính sách ngoại giao của Anh ở Trung Quốc.

Theo tác giả, nước Anh đang thi hành chính sách ngoại giao hai mặt ở Trung Quốc. Một mặt, trong khi tiếp tục duy trì quan hệ với Bắc Kinh, Anh đã cử đại diện tiếp xúc và hội đàm với Chính phủ Quốc dân nhằm mục đích lôi kéo Trung Hoa Dân quốc tham gia vào sự phòng thủ và duy trì những hiệp ước bất bình đẳng cần phải được xoá bỏ. Mặt khác, tăng cường lực lượng hải quân ở các cửa biển, hòng gây áp lực với Chính phủ Quốc dân.

Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc nhận xét, “dư luận nhân dân tố cáo kịch liệt mưu toan ngoại giao nhằm cung cấp cho kẻ thù của Chính phủ Quốc dân những phương tiện để có tiền của chống lại Chính phủ ấy”, “báo chí của phái dân tộc chủ nghĩa không che giấu sự bất bình lớn của mình, và đã có những lời bình luận không có lợi cho nước Anh”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 470-474.

Tháng 12, ngày 31

Chính phủ Quốc dân sau một năm là nội dung chính bài viết thứ năm Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi của Nguyễn Ái Quốc.

Tác giả điểm lại cách nhìn nhận của các nước Viễn Đông, của giới ngoại giao nước ngoài về Chính phủ Quốc dân một năm trước đây, họ cho rằng chính phủ đó chỉ là “một nhúm gây rối làm tay sai cho Quốc tế III, nếu không phải là cho nước Nga Xôviết”, rằng “Tất cả các cuộc biểu tình của thợ thuyền ở miền Nam cũng như ở miền Bắc và miền Trung, của Trung Quốc được tổ chức dường như là do những người bônsêvích lãnh đạo”, rằng “Những người dân tộc chủ nghĩa đòi hỏi huỷ bỏ những hiệp ước giữa Trung Quốc với nước ngoài không có lợi cho quyền lợi của dân tộc Trung Hoa, đều là những nhân viên “đỏ” tay sai của Mátxcơva”, v.v..

Nhận định về tình hình của Chính phủ Quốc dân sau một năm, tác giả viết: “Dư luận nước ngoài, tuy còn chống đối những người dân tộc chủ nghĩa, bây giờ không còn cố chấp như đầu năm trước”, “các giới chính trị của phần lớn các nước cũng xem xét những khả năng ấy”, “các cường quốc nước ngoài công nhận Chính phủ”, “Chính đảng mạnh, Quốc dân Đảng, chính đảng duy nhất có một tổ chức cho phép tiếp xúc thường xuyên với các giai cấp khác nhau trong nhân dân Trung Quốc, được thừa nhận như là người đại diện của những khát vọng dân tộc Trung Hoa, và Chính phủ Quốc dân, chính phủ duy nhất xứng đáng với cái tên ấy tồn tại ở Trung Quốc, được xem như là chính quyền duy nhất có thể nói chuyện được”.

Nguyễn Ái Quốc cũng nêu một trong những lý do khiến dư luận nước ngoài đã có sự đánh giá khác về Chính phủ Quốc dân chỉ sau một năm:

“Dư luận nước ngoài nhận thấy rằng Quốc dân Đảng thực sự mong muốn lợi ích cho Trung Quốc và Chính phủ Quốc dân thành thực mong muốn đạt điều đó.

Người nước ngoài nhận thấy rằng sau một năm thành lập Chính phủ Quốc dân ở Quảng Châu và ở các tỉnh, sự kiểm soát của những người dân tộc chủ nghĩa lan ra dần dần, những biện pháp về chính trị và hành chính thực sự nhằm mục đích thiết lập ở Trung Quốc một chính phủ của dân, do dân và vì dân, theo ba nguyên tắc lớn của người sáng lập Quốc dân Đảng”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 475-479.

Trong năm

Từ năm 1923 đến năm 1926, căn cứ vào những sự kiện có thật, bằng lời văn châm biếm sâu sắc mang tính chiến đấu mạnh mẽ, Nguyễn Ái Quốc viết một loạt bài bằng tiếng Pháp, bóc trần bộ mặt tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương trên mọi lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội. Các bài viết cũng đồng thời phản ánh phong trào đấu tranh cách mạng ở Đông Dương và vạch ra con đường đúng đắn cho cách mạng Đông Dương là gắn chặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản.

Năm 1962, các bài viết nói trên được tập hợp thành cuốn sách lấy tên là Đây “công lý” của thực dân Pháp ở Đông Dương!, do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Việt, nội dung cuốn sách gồm các vấn đề:

– Nước Việt Nam dưới con mắt người Pháp.

– Tâm địa thực dân.

– Đông Dương khổ nhục.

– Đời sống kinh tế.

– Độc quyền ăn cướp.

– Chế độ nhượng quyền và những kẻ được nhượng quyền.

– Những thảm hoạ của nền văn minh Pháp.

– Các quan cai trị.

– Ăn bám và hỗn độn.

– Những tội ác của chủ nghĩa quân phiệt.

– Tạp dịch hay là khổ sai.

– Công chính.

– Thuế khoá.

– Giáo hội.

– Chính sách ngu dân.

– Chế độ báo chí.

– Công lý.

– Phong trào cách mạng ở Đông Dương.

– Cuộc kháng Pháp.

– Hồ Chí Minh: Đây “công lý” của thực dân Pháp ở Đông Dương, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1962. 

————– 

1) Bức thư do Tưởng Vĩnh Kính công bố trong cuốn Hồ Chí Minh ở Trung Quốc, Đài Bắc Truyện ký xuất bản xã, 1972. Bản gốc lưu tại Quảng Châu (B.T).

2) Tệ nhân có nghĩa là tôi, một lối nói khiêm nhường. Do bức thư viết theo lối văn cổ nên chúng tôi giữ nguyên từ ngữ Nguyễn Ái Quốc dùng (B.T).

3) Quốc dân Đảng Trung Quốc ở thời kỳ này theo đuổi những mục đích rất tiến bộ do Tôn Trung Sơn đề xướng, nên Nguyễn Ái Quốc nêu khẩu hiệu trên (B.T).

4) Một bí danh của Trương Thái Lôi (B.T).

5) Ở nguyên bản là: Redactie Petir, Langxa, Atjeh – Sumatra (B.T).

6) Châu Phi (B.T).

7) Tháng 7-1925, Chính phủ cách mạng Quảng Châu đổi tên là Chính phủ Quốc dân. Lực lượng vũ trang cách mạng trước đây gọi là Quân cách mạng

 Quốc dân (hay còn gọi là Quân Quốc dân) (B.T) 

8) Chỉ quân cách mạng Quốc dân (B.T).

9) Từ năm 1938 đổi tên là Thái Lan (B.T).

10) Cách mạng (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1925)

Đầu năm

Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện chính trị, tổ chức tại nhà số 13 và 13/1 đường Văn Minh, nay là số 248 và 250 đường Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc). Phần lớn học viên là những thanh niên Việt Nam yêu nước, xuất thân từ học sinh, trí thức, cũng có một vài người là tú tài nho học.

Chương trình học rất phong phú, có thể chia làm ba loại vấn đề: cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam và phương pháp vận động cách mạng. Các bài giảng về cách mạng thế giới, đã so sánh cách mạng Nga với các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp. Về cách mạng Việt Nam, các bài giảng đã phân tích sự áp bức bóc lột của đế quốc Pháp đối với nhân dân Việt Nam, chỉ ra lực lượng đấu tranh chủ yếu để đánh đổ đế quốc thực dân và phong kiến là công nông. Có nhiều đoạn phê phán các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc hồi đầu thế kỷ do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo. Về phương pháp vận động cách mạng, có các bài về tuyên truyền, tổ chức, vận động các giới đồng bào như công nông, trí thức, phụ lão, phụ nữ…

Nguyễn Ái Quốc trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khoá học. Người lấy tên là Vương. Các giảng viên ngoài “đồng chí Vương” và Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,… còn có một số cán bộ trong đoàn cố vấn của Liên Xô lúc đó công tác ở Trung Quốc và một số cán bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc như Bành Bái (giảng về công tác nông vận),… Sau mỗi lần giảng, học viên chia tổ thảo luận. Mỗi người nhắc lại điều mình hiểu, các đồng chí khác bổ sung, cho đến lúc nắm vững toàn bài mới thôi.

Lớp học còn ra một tờ “bích báo” đăng bài của học viên. Có khi còn tổ chức diễn các vở “kịch cương”, sinh hoạt văn nghệ hoặc tham quan Trường quân sự Hoàng Phố, thăm mộ 72 liệt sĩ ở đồi Hoàng Hoa Cương, những người đã hy sinh trong các cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc.

            – Nhiều tác giả: Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1960, tr. 95.

Tháng 1, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc gửi cho một cán bộ trong Quốc tế Cộng sản 1) bức thư sau đây:

Đồng chí thân mến,

Quốc dân Đảng Đông Dương vừa được thành lập vào ngày 3 tháng này với 3 đảng viên lúc bắt đầu.

Một người sẽ được phái đi Trung Kỳ và Lào. Một người khác (chưa phải là đảng viên) sẽ được phái đến Bắc Kỳ để lấy 5 người đi Quảng Châu học cách làm công tác tổ chức.

Tôi nghĩ có thể tìm nam thanh niên để gửi đi học ở Trường đại học Mátxcơva. Xin đồng chí vui lòng cho biết có thể cho tôi gửi bao nhiêu sinh viên.

Đồng thời, tôi xin đồng chí chỉ thị cho các đồng chí Nga ở đây cũng nhận trách nhiệm về các công việc của Đông Dương bởi vì có một mình, tôi không thể làm quá nhiều việc được.

Quảng Châu ngày 5-1-1925

Chào cộng sản

N.A.Q.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.18.

Tháng 1, sau ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi một đồng chí 2) làm việc tại Quốc tế Cộng sản. Mở đầu, bức thư đặt vấn đề “nếu đồng chí đồng ý cho tôi gửingay một hoặc hai sinh viên thì điều đó sẽ cho phép tôi tuyên truyền tốt, và nói rằng cách mạng Nga đang và sẽ có thể làm gì cho dân chúng thuộc địa”.

Nguyễn Ái Quốc trách rằng: “đồng chí ngần ngại cho tôi vay tiền” để: có được một cơ sở trong nước, có người sẵn sàng làm tuyên truyền viên, thực hiện việc tuyên truyền đến nơi đến chốn và bắt đầu ngay công tác tổ chức và làm những công tác khác nữa…

Người viết: “Không có tiền, tất cả những điều đó đều không thể làm được. Vì thế tôi muốn đề nghị đồng chí cấp cho một quỹ nào đó”. Người nêu rõ hiện đang mắc nợ trên 350 đôla cho công tác đầu tiên, nên phải làm việc ít ra là 5 tháng để trả nợ. “Ở điều kiện đó, tôi sẽ không có thời giờ, không có tiền để làm công tác khác”.

Cuối thư viết: “Tôi rất hy vọng đồng chí sẽ ủng hộ yêu cầu của tôi”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 16-17.

Tháng 1, ngày 10

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản nhắc lại những vấn đề đã nêu trong thư gửi ngày 5-1-1925 về Quốc dân Đảng Đông Dương và hỏi có thể nhận bao nhiêu sinh viên An Nam vào Trường đại học Cộng sản ở Mátxcơva.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 19-20.

Tháng 1, trước ngày 21

Nhân kỷ niệm một năm ngày V.I.Lênin qua đời, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài Lênin và các dân tộc thuộc địa, đăng trên Tạp chí Đỏ (Liên Xô) số 2 năm 1925.

Bài viết nêu bật những cống hiến lớn lao của Lênin đối với sự nghiệp cách mạng của các dân tộc thuộc địa.

Kết luận bài báo, tác giả viết: “Trong lịch sử cuộc đời khổ đau và bị mất quyền của các dân tộc thuộc địa, Lênin là người sáng tạo ra cuộc đời mới, là ngọn hải đăng chỉ dẫn con đường đi tới giải phóng cho toàn thể nhân loại bị áp bức”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 136-137.

Tháng 2, trước ngày 14

Lý Thuỵ (Nguyễn Ái Quốc) gửi liên tiếp hai lá thư cho Cụ Phan Bội Châu, lúc này đang ở Hàng Châu. Trong thư “có nói tường tận chuyện ông Hy Mã Phan Châu Trinh”.

Bức thư do Lâm Đức Thụ và Hồ Tùng Mậu chuyển tới.

Trong thư của Cụ Phan Bội Châu đề ngày 14-2-1925 (tức 21-1 năm Ất Sửu), gửi trả lời Lý Thuỵ, Cụ viết:

“Nhận được liên tiếp hai lá thư của cháu, Bác cảm thấy vừa buồn vừa mừng. Buồn là buồn cho thân Bác mà mừng là mừng cho đất nước ta”.

Bức thư còn viết: “Tuy thư dựa trực tiếp trên chuyện thật, nhưng ngụ ý sâu sắc, mà lối lập luận lại dựa trên những ý tưởng lớn, nhân đó mới biết là học vấn, tri thức của cháu nay đã tăng cường quá nhiều, quả thật không phải như hai mươi năm về trước”.

“Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai để nhờ uỷ thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có được niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao Bác không cảm thấy vui mừng được?”.

Bức thư còn có đoạn:

“Bác đang định tìm một dịp tốt về Quảng Đông một chuyến 3) để đàm luận với cháu, không biết cháu còn ở lại Quảng Đông lâu mau, hoặc giả trong tương lai có định đi chỗ khác không? Trong lòng Bác có nhiều chuyện muốn hỏi ý kiến cháu nhưng không gặp mặt thì làm sao có thể bàn cho hết ý được? Làm sao được? Nếu không coi già yếu là đồ bỏ thì cháu viết thư nhiều cho Bác, Bác thành thật yêu cầu cháu đấy”.

            – Bút tích bức thư chữ Hán của Cụ Phan Bội Châu đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 38, tháng 4-1997, tr.6.

Tháng 2, ngày 19

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Gioócgiơ Maran – đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, cán bộ của Quốc tế Cộng sản – cho biết đã mấy tháng nay Người hoàn toàn không biết gì về tình hình trong Đảng Cộng sản Pháp và châu Âu vì không nhận được tài liệu và báo chí của Đảng.

Thư cũng cho biết: “Ở đây, có nhiều công tác phải làm, mà công tác thì rất thú vị, ở trong Đảng Trung Quốc cũng như ở trong đảng mới của An Nam mà chúng tôi đang xây dựng”.

Nguyễn Ái Quốc còn gửi kèm theo thư bản sao bức thư Người gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản. Trong thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản, sau khi báo cáo một vài nét mới về tình hình Đông Dương (Đảng Lập hiến, cuộc đấu tranh giữa những người Pháp bảo thủ và dân chủ ở Đông Dương, thủ đoạn của chính quyền thuộc địa đối với người cách mạng bị trục xuất) và những công việc đã làm được, Nguyễn Ái Quốc nêu “những việc chúng tôi phải làm trong năm nay”:

1. Thiết lập một cơ sở hoạt động tại Quảng Châu.

2. Thiết lập những cơ sở giao thông ở Quảng Tây; ở phía cực Nam Quảng Đông; ở Băng Cốc, Tích Kho, Lạc Phách (Thái Lan).

3. Cử người về ở trong nước để thu thập và chuyển tin tức.

4. Phái một hoặc nhiều đồng chí làm việc trên các tàu thuỷ đi lại giữa Trung Quốc và Đông Dương.

5. Gửi sinh viên An Nam sang học Trường đại học Cộng sản ở Mátxcơva.

Và yêu cầu Quốc tế Cộng sản giúp đỡ về mặt tài chính, điện báo cho biết số học viên An Nam có thể nhận đào tạo và gửi ngay các tài liệu tuyên truyền.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 140-142.

Tháng 2

Nguyễn Ái Quốc viết Dự thảo Điều lệ Đảng 4). Bản dự thảo gồm 14 điều:

1. Tên gọi (chưa xác định cụ thể).

2. Mục đích (tôn chỉ): Ghi rõ tổ chức này “hoạt động giác ngộ anh em và giành chính quyền; hoạt động vì hạnh phúc của giai cấp vô sản – người lao động và thợ thủ công”.

3. Đảng viên: Quy định những đối tượng có thể được kết nạp vào Đảng.

4. Nghĩa vụ của đảng viên.

5. Không được kết nạp Đảng: Quy định những người không được vào Đảng.

6. Tổ chức hành chính: Quy định hệ thống tổ chức của Đảng.

7. Số lượng đảng viên của mỗi chi bộ.

8. Mỗi đảng viên không được cùng lúc sinh hoạt tại hai chi bộ.

9. Người lãnh đạo chi bộ.

10. Tổ chức kinh tế.

11. Chế độ báo cáo của chi bộ.

12. Thống nhất tổ chức kinh tế và hành chính trong mỗi chi bộ.

13. Vấn đề chi tiêu của Đảng và đóng đảng phí.

14. Tuyên thệ: Cách tổ chức kết nạp và nội dung lời tuyên thệ.

             – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 434-435.

Tháng 2 và tháng 3

Truyện ngắn Con rùa của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Le Paria, số 32.

Qua câu chuyện viên xã trưởng nọ dâng lên quan sứ một con rùa để làm quà đấm mõm cho y, tác giả vạch trần tâm địa ty tiện nhỏ nhen của bọn quan lại thực dân ở thuộc địa.

            – Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 114-116.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 143-144.  

Khoảng tháng 2, tháng 3

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Những vấn đề châu Á, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp,
số 19.

Tác giả nêu một số nhận xét về tình hình nội chiến ở Trung Quốc, việc chuẩn bị về quân sự của Anh – Mỹ ở Thái Bình Dương, mưu toan của đế quốc Nhật Bản đối với vấn đề châu Á và nhận định chung rằng:

“Những sự biến ở Trung Quốc ngày càng đáng cho ta chú ý đến nhiều hơn, nếu ta coi đó là những sự biến gắn liền với toàn cục, tức tình hình chung ở châu Á.

Cuộc nội chiến nhen lên ở Trung Quốc thực ra chỉ là một cuộc đọ gươm giữa các đế quốc Pháp – Nhật và Anh – Mỹ”.

            – Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 19, năm 1925.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 148-151.

Tháng 3, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc viết bài Nông dân Trung Quốc  5)  phân tích 7 nguyên nhân dẫn tới sự khốn cùng của nông dân Trung Quốc:

1. Dân quá đông, ruộng đất thiếu.

2. Phương tiện canh tác thô sơ.

3. Công nghiệp chậm phát triển.

4. Chủ nghĩa quân phiệt.

5. Sự xâm chiếm của chủ nghĩa tư bản nước ngoài.

6. Thiên tai.

7. Lòng tham của địa chủ.

Tác giả cho biết, trước tình cảnh đó nông dân Trung Quốc bắt đầu đi vào tổ chức nhờ sự thúc đẩy của công nhân công nghiệp có tổ chức và sự khích lệ của Chính phủ miền Nam. Đứng trước phong trào cách mạng này, giai cấp địa chủ Trung Quốc đã dùng những biện pháp phát xít để chống lại, hòng dập tắt phong trào. 

            – Bút tích bài viết. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 152-153.

Tháng 4, ngày 8

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Lối cai trị của người Anh, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 33 6).

Tác giả nêu những nhận xét về chính sách xâm lược mới của chủ nghĩa đế quốc Anh ở Trung Quốc, Ấn Độ và Xuđăng (Soudan) sau khi Đảng Bảo thủ trở lại nắm chính quyền.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 154-155.

Tháng 4, ngày 9

Nguyễn Ái Quốc, với bút danh L.T, viết thư trả lời ông H (Thượng Huyền), góp ý kiến nhận xét về tập Cách mệnh của ông theo yêu cầu của tác giả.

Nhận xét về tình hình tác phẩm, sau khi cho rằng tác giả đã dùng nhiều điển tích, lối hành văn cầu kỳ, lạm dụng từ ngữ Trung Quốc, v.v., Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên một số quan điểm của mình về cách viết, rằng: “Dùng điển tích là tốt, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất cao xa, thâm thuý của các điển tích thường cũng hay bao hàm những ý nghĩa mơ hồ có thể làm cho người ta hiểu lầm”, rằng: “Một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được, và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm, thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt”, rằng “Một lối hành văn giản dị, chính xác hơn hẳn cái lối hành văn rườm rà, hoa mỹ”, rằng “Nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truyền thì đó phải là một tác phẩm ai đọc cũng hiểu được. Một tác phẩm hành văn hay mà khó hiểu thì chẳng có ích gì”…

Về nội dung tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét có tính chất phê phán quan điểm của ông H về cách mạng, về việc ông lên án những hành động của Chính phủ Pháp, về nguyên nhân “cách mệnh của chúng ta” không thành công, về chủ trương “một cuộc cách mệnh hoà bình”. Tóm lại, viết về cách mệnh, “Ông không nói 1) Phải làm gì trước cách mệnh, 2) Phải làm gì trong cách mệnh, 3) và phải làm gì sau cách mệnh.

Ông chưa bàn đến lực lượng mà người Pháp có thể sử dụng (ở nước ta) và cũng chưa bàn đến lực lượng của ta.

Ông đã nhầm lẫn tẩy chay với cách mệnh và ngược lại”.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc viết:

“Tôi đã nói thẳng những ý kiến của tôi về bài viết của ông; và cũng nhân cơ hội này, nêu lên một số vấn đề để thảo luận; mong rằng có thể rút ra từ đó một cái gì để mở rộng thêm kiến thức của tôi. Xin thành thực và nhiệt liệt hoan nghênh tài cao trí lớn của ông. Bất cứ một người lao động nào, dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới không sai lầm mà thôi. Nhưng làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh tay ngồi không!”.

            – Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 156-165.  

Tháng 5, ngày 1

Cùng với những người cộng sản Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc tham gia tổ chức Đại hội lần thứ nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông. Tham dự Đại hội có 117 đại biểu, thay mặt cho trên 20 vạn nông dân Quảng Đông, nhằm thành lập Hội Nông dân tỉnh để thống nhất sự lãnh đạo về công tác và đấu tranh.

            – Viện Hồ Chí Minh: Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (1924 – 1927), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 128.

Tháng 5, ngày 2

Từ Quảng Châu, với bí danh HOWANG T.S, Nguyễn Ái Quốc viết báo cáo gửi Quốc tế Công hội đỏ về ngày làm việc đầu tiên của Đại hội lần thứ nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông và Đại hội lần thứ hai của công nhân toàn Trung Quốc, cả hai đại hội cùng họp chung. Nguyễn Ái Quốc cho biết, “do đã nhất trí với nhau và nhằm thực hiện một mặt trận thống nhất giữa những người bị bóc lột ở các thành phố với những người bị bóc lột ở nông thôn, những người lãnh đạo đã triệu tập đồng thời vào một lúc hai đại hội họp ở cùng một địa điểm.

Báo cáo mô tả chi tiết quang cảnh hội trường đại hội, lễ khai mạc và lễ kết thúc ngày làm việc đầu tiên. Đồng thời, chuyển tới Quốc tế Công hội đỏ bức điện văn của đại hội sau cuộc lễ.

            – Bút tích (tiếng Pháp). Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 166-169.

Tháng 5, đầu tháng

Cùng với những người cộng sản Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc tham gia tổ chức Hội nghị đại biểu đầu tiên của 20 vạn nông dân có tổ chức của tỉnh Quảng Đông và Hội nghị đại biểu lần thứ hai của công nhân Trung Quốc nhằm mục đích thành lập một mặt trận thống nhất giữa những người bị bóc lột ở thành thị và nông thôn.

            – Báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Sau tháng 5 7)

Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Quốc tế Nông dân về Nghị quyết của Đảng bộ Quốc dân Đảng Quảng Đông về vấn đề nông dân.

Bản báo cáo cho biết Nghị quyết của Đảng bộ Quốc dân Đảng Quảng Đông đã chỉ rõ rằng: “Cuộc cách mạng dân tộc không thể hoàn thành nếu không có sự ủng hộ của quần chúng” và “ở Trung Quốc 85% quần chúng là nông dân”. Do đó Quốc dân Đảng từ khi cải tổ 8) “đã chú ý đến mức tối đa vấn đề nông dân”.

Bản báo cáo chỉ rõ nông dân tỉnh Quảng Đông đang hăng hái lập các hội nông dân và nông dân ở nhiều nơi đã nổi dậy tiến công bọn phản loạn.

Nhưng chính những nông dân anh dũng đó lại là những người đau khổ nhất, bị áp bức bóc lột nhiều nhất. “Không có tháng nào mà không có một vài hội nông dân bị triệt phá hoặc một vài chiến sĩ bị sát hại”. Thủ phạm những vụ sát hại đó là bọn hương dũng. Ngoài ra “bọn cho vay tiền nặng lãi là những kẻ không thương xót gì nông dân cả”…

Từ đó bản nghị quyết đã nêu lên những vấn đề sau:

– Xoá bỏ sự độc quyền ruộng đất và các thứ thuế nặng.

– Cấm cho vay nặng lãi, cấm thu hồi ruộng đất.

– Thiết lập ngân hàng và các hợp tác xã nông dân.

– Rút ngắn ngày lao động, tăng lương và đối xử bình đẳng với người làm thuê.

– Xoá bỏ các hội hương dũng, hương vệ…

– Cấp ruộng cho những nông dân không có ruộng.

– Về giáo dục, tổ chức lớp học buổi tối cho người lớn và trường không thu học phí cho trẻ em.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 176-181.

Tháng 6, ngày 21

Tuần báo Thanh niên29, cơ quan trung ương của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên.

            – Tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương Đảng.

Tháng 6

Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Mục đích của hội là: “Hy sinh tính mệnh, quyền lợi, tư tưởng để làm cuộc cách mệnh dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành lại được độc lập cho xứ sở) rồi sau làm cách mệnh thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản)”.

Điều lệ của hội đề cập đến Chương trình hoạt động như kết nạp hội viên; tổ chức các đoàn thể như Công hội, Nông hội, Hội học sinh, Hội phụ nữ…, thành lập Chính phủ nhân dân; áp dụng những nguyên tắc “tân kinh tế chính sách”, đoàn kết với những giai cấp vô sản của tất cả các nước và thành lập xã hội cộng sản.

Điều lệ còn quy định cụ thể các vấn đề điều kiện vào hội, lề lối tổ chức, cơ cấu các cấp trung ương, xứ uỷ, tỉnh uỷ, huyện uỷ, chi bộ, vấn đề tiến hành hội nghị thường kỳ của các cấp và hội nghị toàn quốc. Các vấn đề kỷ luật, nhiệm vụ hội viên… cũng được bản Điều lệ quy định rõ ràng.

Trụ sở của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đặt tại Quảng Châu (Trung Quốc).

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Văn kiện Đảng, các tổ chức tiền thân của Đảng, Hà Nội, 1997, tr. 82-152.

Tháng 7, ngày 9

Sau một thời gian chuẩn bị, Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức do Nguyễn Ái Quốc cùng với một số đồng chí Trung Quốc chủ trương tổ chức được chính thức thành lập. Đây là một đoàn thể có tính chất quốc tế bao gồm người Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, Inđônêxia, Miến Điện, v.v..

Đại hội thành lập 9) đã thông qua tôn chỉ của hội là “liên lạc với các dân tộc đó, cùng làm cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc”.

Tuyên ngôn của Hội khẳng định: “Con đường thoát duy nhất để xoá bỏ sự áp bức chỉ có thể là liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới, áp dụng những phương pháp cách mạng để lật đổ về căn bản chủ nghĩa tư bản đế quốc cực kỳ hung ác”.

Hội trưởng là Liêu Trọng Khải (Trung Quốc).

Nguyễn Ái Quốc mang tên Lý Thuỵ là một trong những người lãnh đạo của hội, được bầu làm Bí thư kiêm phụ trách công việc tài chính của hội, đồng thời cũng là người trực tiếp phụ trách chi bộ Việt Nam của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 27.

            – Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr. 30-31 (bản tiếng Trung Quốc).       

Tháng 7, ngày 13

Nguyễn Ái Quốc đến Uỷ ban bãi công Cảng Tỉnh 10) đề nghị được tham gia vào đội diễn thuyết với danh nghĩa là hội viên Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức.

Từ ngày 19-6, công nhân Cảng Tỉnh đã tổ chức cuộc bãi công lớn để ủng hộ phong trào “30-5”30.

Ngày 9-7, Uỷ ban bãi công Cảng Tỉnh quyết định tổ chức đội diễn thuyết để ngày đêm đi tuyên truyền cổ vũ công nhân kiên trì đấu tranh.

Ngày 10-7, tờ Công nhân chi lộ đặc hiệu đăng thông cáo về quyết định trên của Uỷ ban bãi công.

Biết được tin này, Nguyễn Ái Quốc đã đến ghi tên vào đội diễn thuyết. Trong danh sách ghi tên là Lý Thuỵ. Nguyễn Ái Quốc còn đăng ký đề mục của bài diễn thuyết Quan hệ giữa công nhân Trung Quốc với các dân tộc bị áp bức và sự cần thiết phải liên hiệp lại đánh đổ đế quốc.

Ủy ban bãi công đã hoan nghênh, chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Ái Quốc và giới thiệu Người đi báo cáo ở một số cơ sở.

Về việc này, báo Công nhân chi lộ đặc hiệu, số 20, ra ngày 14-7-1925 đã đưa tin Một người Việt Nam gia nhập đội diễn thuyết và để giữ bí mật cho Nguyễn Ái Quốc, tờ báo dùng tên gọi Lý Mỗ (chữ Mỗ như cách gọi ông X. của Việt Nam).

            – Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr. 32-33 (bản tiếng Trung Quốc).

Tháng 7, ngày 19

Tuyên ngôn của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức do Nguyễn Ái Quốc tham gia khởi thảo, đăng trên báo Thanh niên, số 5.

Sau khi tố cáo bọn đế quốc thực dân đang tăng cường áp bức bóc lột, đầu độc và tìm cách tận diệt nòi giống các dân tộc nhược tiểu, nhất là các dân tộc ở châu Á, biến đất nước của họ thành thuộc địa và nửa thuộc địa, Tuyên ngôn kêu gọi “cần phải đoàn kết các dân tộc bị áp bức và toàn thể công nhân trên thế giới lại để làm cách mạng”.

Lời kêu gọi có đoạn:

“Hỡi hết thảy những người bị áp bức, anh em! Nếu bọn đế quốc áp bức chúng ta và đối xử với chúng ta như loài vật, đó là vì chúng ta không đoàn kết! Nếu chúng ta đoàn kết, chúng ta sẽ trở nên đáng gờm… Chúng ta nên sớm kết đoàn lại! Hãy hợp lực để đòi quyền lợi và tự do của chúng ta! Hãy hợp lực để cứu lấy nòi giống chúng ta.

Hỡi các bạn thợ thuyền! Tất cả các bạn đều biết rằng những kẻ áp bức chúng tôi và những kẻ ngược đãi các bạn chỉ là một… Nếu các bạn muốn thoát khỏi nanh vuốt của những kẻ đang hành hạ các bạn thì các bạn hãy kết đoàn với chúng tôi! Chúng tôi cần sự giúp đỡ của các bạn. Chúng ta cùng có chung lợi ích, nên khi đấu tranh cho chúng tôi là các bạn cũng chiến đấu cho các bạn. Khi giúp đỡ chúng tôi các bạn cũng tự cứu mình.

Các bạn thân yêu! Đoàn kết của chúng ta sẽ làm nên sức mạnh. Nó đủ để đánh tan bọn đế quốc. Muốn vượt qua vòng nô lệ, chúng ta chỉ có thể cậy vào sức của mình mà thôi. Toàn thể các dân tộc bị áp bức, toàn thể thợ thuyền trên trái đất đang bị cướp công, hãy đoàn kết với chúng tôi làm cuộc cách mạng tối thượng”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 437-439.

Tháng 7, ngày 31

Nguyễn Ái Quốc được Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân quyết định phân công phụ trách công tác vận động nông dân ở Trung Quốc và ở thuộc địa Đông Dương, Miến Điện, Xiêm, Đài Loan và quần đảo Philíppin. Nhiệm vụ trước mắt của Nguyễn Ái Quốc là liên hệ với các thuộc địa đó, tiếp xúc với các tổ chức nông dân địa phương nếu đã có, tổ chức những liên đoàn nông dân hoặc hạt nhân nông dân ở những nơi chưa có các tổ chức nông dân, chuẩn bị để những tổ chức này chính thức tham gia Quốc tế Nông dân.

            – Thư của Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân gửi Nguyễn Ái Quốc, ngày 13-8-1925. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 8, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc viết bài văn vần, nhan đề Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết, kêu gọi mọi giới đồng bào kết đoàn vì sự nghiệp chung.

“Kẻ không đoàn kết cũng như chim lạc đàn

Chóng hoặc chày rồi sẽ trúng tên

Vì đơn độc sẽ làm mồi cho hiểm hoạ

Từ kết đoàn hạnh phúc sẽ sinh sôi.

Hãy liên kết như thể thân mình

Ngũ quan cùng với tay chân dính liền

Tách rời nhau thời không thể sống

Chỉ cùng với nhau sức lực mới sinh sôi.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 440-441.

Tháng 8

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Viễn Đông – Varen và Đông Dương, đăng trên báo Le Paria, số 35.

Tác giả đã phân tích những mâu thuẫn trong nội bộ Đảng Xã hội Pháp trước nguy cơ chia rẽ, tình hình nghiêm trọng ở Đông Dương và quanh Đông Dương, vạch trần những tính toán của Panhlơvê (Painlevé) trong quyết định đưa Varen (Varenne) sang làm Toàn quyền Đông Dương.

            – Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 119-122.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.145-147.

Tháng 9, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc viết thư Trả lời bạn nữ sinh viên X của chúng ta, phản đối sự ngộ nhận của người sinh viên này coi các vua quan, thư lại, thông ngôn là những người phản cách mạng. Theo tác giả, “một ông vua có thể suy nghĩ và biết cảm thông với những bất hạnh chưa từng thấy đang giáng xuống dân tộc của ông; vì vậy ông ta thà làm một người dân bình thường còn hơn là trị vì một dân tộc nô lệ”. Những người cách mạng “là người dạy cho các vị vua chúa bài học đó và chỉ ra cho họ thấy rằng họ làm cách mạng thì có lợi hơn là sống dưới ách ngoại bang”. Với quan lại, thư ký và thông ngôn, họ “bị chìm đắm trong bóng tối ngu dốt từ nhỏ, họ không bao giờ có thể tự trau dồi kinh điển hay tri giác được những tiến bộ của nhân loại qua việc đọc báo chí… Họ giống như những con gà què chỉ ăn quẩn cối xay… đành bằng lòng với thứ thức ăn mà kẻ khác đem cho họ”. Vậy nhiệm vụ của chúng ta là “phải hướng họ theo lý luận cách mạng”.

Với những người cần lao và thợ thuyền cũng vậy. Nếu chúng ta làm cho công nông hiểu được, rằng tất cả những gì họ kiếm được bằng mồ hôi đều chui vào túi người Pháp, rằng nếu cách mạng thành công thì thuế má sẽ giảm nhẹ rất nhiều và được dùng vào những việc có ích cho họ, rằng thắng lợi của cách mạng sẽ mở ra một thời kỳ dân chủ trong đó quyền tự do và quyền tự quyết sẽ thuộc về họ, thì chắc chắn “hết thảy họ đều giúp chúng ta làm cách mạng”.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc còn nói về số phận của người phụ nữ Việt Nam. “Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi… Điều đó chứng tỏ rằng vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.442-443.

Tháng 9 và tháng 10

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc nhan đề Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, đăng trên báo Le Paria, số 36-37.

Thông qua một câu chuyện tưởng tượng, tác giả dựng lại “một cuộc chạm trán”, “một cuộc đối mặt”, “một tấn kịch” giữa Toàn quyền Đông Dương Varen, “con người đã phản bội giai cấp vô sản Pháp,… kẻ đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình”, với Phan Bội Châu, “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập…” của nhân dân Việt Nam.

            – Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 123-128.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 170-175.

Tháng 10, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân viết ngày 13-8-1925 do Đômban – Phó Tổng thư ký Quốc tế Nông dân, Gôrốp – Thư ký tổ chức và Vônhêxienxki – Trưởng ban Phương Đông và thuộc địa, cùng ký tên.

Thư nhấn mạnh đến yêu cầu mở rộng và tăng cường hơn nữa công tác vận động nông dân Trung Quốc. Qua cuộc trao đổi với Đoàn đại biểu Quốc dân Đảng ở Mátxcơva, được biết đảng này sẵn sàng phối hợp hành động với Quốc tế Nông dân trong một chương trình đối với nông dân, do đó Đoàn Chủ tịch đề nghị Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại diện của Quốc tế Nông dân, chính thức liên hệ với Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng để bàn việc thực hiện. Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân cũng yêu cầu Nguyễn Ái Quốc phải hết sức cố gắng phát triển Ban Nông dân Quảng Châu của Quốc dân Đảng và thành lập các Ban Nông dân của Quốc dân Đảng tại khắp các địa phương, đồng thời làm cho các Ban Nông dân đó gia nhập Quốc tế Nông dân.

            – Thư của Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân gửi Nguyễn Ái Quốc ngày 13-8-1925. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Thư Nguyễn Ái Quốc gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, ngày 17-10-1925. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc, ký tên Nilốpxki, viết báo cáo gửi Quốc tế Nông dân về Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông.

Báo cáo nêu bật sự phát triển của phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) về các mặt tổ chức, hoạt động và đấu tranh, đặc biệt là ở bốn huyện Hải Phong, Quảng Ninh, Hoa Yên và Vệ Hoa.

Nguyễn Ái Quốc cho biết, đông đảo nông dân Quảng Đông đã được tập hợp trong các hội nông dân. Tới thời điểm hiện tại, các hội nông dân đã được thành lập ở 32 huyện. Hưởng ứng lời kêu gọi của hội, nông dân đã tổ chức lực lượng tự vệ của mình, xuống đường tuần hành đòi giảm tô giảm tức, tiến hành nhiều cuộc biểu tình bày tỏ tình đoàn kết với anh em công nhân bãi công… Tỷ lệ thanh niên và phụ nữ tham gia Hội Nông dân chiếm khá cao, và “sẽ là một điều rất lý thú nếu thiết lập được sự trao đổi tin tức giữa thanh niên nông dân với Ban Thanh niên của Quốc tế Nông dân”.

            – Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 182-187.

Tháng 10, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, báo tin đã nhận được sáu thư của tháng 8 và năm thư của tháng 9 do Đoàn Chủ tịch gửi tới; hứa sẽ thực hiện một số những nội dung công việc đã được nêu trong thư ngày 18-8-1925 của Đoàn Chủ tịch 11) và lưu ý tổ chức gửi cho các tài liệu bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh chứ không phải bằng tiếng Đức “vì chúng tôi không hiểu”.

Gửi kèm theo thư là một báo cáo về công tác nông dân ở tỉnh Quảng Đông.

Cuối thư ký tên: Nilốpxki.

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.203-204.

Tháng 11, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân nêu những nhận xét về tình cảm, nguyện vọng, trình độ văn hoá, tâm lý, thái độ chính trị của nông dân Trung Quốc qua những báo cáo và nghị quyết của Đảng bộ Quốc dân Đảng Quảng Đông.

Thư cũng cho biết Nguyễn Ái Quốc chưa chính thức liên lạc được với Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng như chỉ thị của Đoàn Chủ tịch.

Cuối thư ký tên: Nilốpxki (NAQ.)

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.205-206.

Tháng 12, ngày 3

Từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân thông báo rằng đã tham khảo ý kiến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về vấn đề Người trực tiếp liên hệ với Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng với tư cách đại diện chính thức của Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, nhưng theo ý kiến của các đồng chí Trung Quốc, việc ấy không cần thiết, vì vẫn có thể thu thập được mọi thông tin về vấn đề nông dân qua các đồng chí của chúng ta.

Thư còn báo cho biết: bắt đầu từ tháng này, Quốc dân Đảng sẽ phát hành một bán nguyệt san về nông dân. Số đầu tiên sắp ra mắt trong vài ngày tới. Và nhắc Đoàn Chủ tịch gửi cho tài liệu về phong trào nông dân quốc tế để dịch và in trong tạp chí của Quốc dân Đảng.

Cuối thư ký tên: Nilốpxki (NAQ.)

            – Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.207.

Trong năm

Khi phụ trách tổ chức, lãnh đạo lớp huấn luyện ở Quảng Châu, ngoài những giờ lên lớp, Nguyễn Ái Quốc còn đến dự những buổi thảo luận, những buổi diễn đàn của học viên, qua đó nắm những vấn đề học viên chưa hiểu, hoặc hiểu chưa thấu đáo để có kế hoạch bổ sung. Nhằm tạo cho những buổi sinh hoạt và học tập thêm sinh động, vui tươi, thắm tình quốc tế vô sản, Người đã dịch và phổ biến bài Quốc tế ca theo thể thơ lục bát:

Điệp khúc:

Trận này là trận cuối cùng

Ầm ầm đoàn lực, đùng đùng đảng cơ,

Lanhtécnaxiônalơ

Ấy là nhân đạo, ấy là tự do. 

Đoạn I

Hỡi ai nô lệ trên đời,

Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên!

Bất bình này chịu sao yên,

Phá cho tan nát một phen cho rồi!

Bao nhiêu áp bức trên đời,

Sạch sành sanh phá cho rồi mới tha!

Cuộc đời này đã đổi ra,

Xưa kia con ở nay là chủ ông! 

Đoạn II

Công nông ta có đảng to,

Có nhờ ta mới có kho có tài.

Trời sinh đất để cho người,

Những đồ lười biếng thì mời đi đi,

Những đồ ăn xổi ở thì,

Mình làm chúng hưởng lẽ gì xưa nay.

Nếu đem diệt sạch lũ này,

Mặt trời vẫn cứ ngày ngày xuân dung!

Đoạn III

Việc ta ta phải gắng lo,

Chẳng nhờ trời phật chẳng nhờ thần linh.

Công nông mình cứu lấy mình,

Sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền.

Muốn cho đánh đổ cường quyền,

Tự do bình đẳng vẹn tuyền cả hai.

Thụt lò ta phải ra tay,

Sắt kia đang nóng đập ngay mà dùng!

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr. 490-491.

Trong năm

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, cũng với nhan đề Lênin và các dân tộc thuộc địa, đăng trên báo Bakinxki Rabôtri (Liên Xô), số 16.

Bài báo nêu rõ: mặc dù Lênin đã mất, nhưng còn có Đảng Cộng sản và Quốc tế Cộng sản tiếp tục sự nghiệp của Người. Nhân dân các dân tộc bị áp bức hiểu rằng, sự nghiệp của Lênin không bao giờ mất, và họ vẫn hy vọng được giải phóng vì vẫn còn Đảng của Lênin. Họ đặt hy vọng vào đảng này, cũng như trước đây đã đặt hy vọng vào Lênin.

Kết luận, bài báo nhắc lại điều mà tác giả đã khẳng định trong bài Lênin và các dân tộc thuộc địa, đăng trên báo Pravđa, ngày 27-1-1924.

“Khi còn sống, Lênin là người thầy, người cha của nhân dân bị áp bức. Sau khi mất, người là ngôi sao sáng chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân dân bị áp bức.

Lênin sống mãi trong lòng mọi người dân nô lệ ở các nước thuộc địa!”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.208-209.

Trong năm

Nguyễn Ái Quốc viết bài Văn minh tư bản chủ nghĩa và phụ nữ ở các thuộc địa, nói về số phận thảm thương của phụ nữ và trẻ em người bản xứ phải đi làm thuê trong các hầm mỏ của các ông chủ thực dân.

Lấy việc bóc lột trong các hầm mỏ ở Ấn Độ thuộc Anh, tác giả muốn để mọi người “thấy thứ nhân đạo và văn minh của bọn con buôn của đế quốc Anh”. Trong số 252 hầm mỏ ở Ấn Độ được khai thác (tính đến năm 1921), thực dân Anh đã dùng tới 42.000 phụ nữ và 1.171 trẻ em.

Bài viết có đoạn: “Thật là một sự nhục nhã cho thế kỷ XX khi phải thấy những phụ nữ bước run run, đầu đội thúng than nặng, mà vẫn phải bước vì đói; và những trẻ em từ 12 đến 13 tuổi bò trong những đường hầm chật hẹp vừa đi bằng bốn chân, vừa dùng răng kéo một thúng đầy!”.

Trong năm, Người còn viết câu chuyện ngụ ngôn Loài vật tranh nhau công trạng.

Nhân vật trong truyện là Rồng, Tôm, Cừu, Bò, Cua, Rắn, Voi, Lươn, Chuột, Gà trống, Cá chép, Ếch. Ngoài con Rồng mày râu óng ánh, mào và vảy rực rỡ lên tiếng trước tiên và nói rằng: “Ta là thuỷ tổ của giống nòi An Nam từng chứng kiến sinh ra biết bao vị anh hùng lừng lẫy”, những con vật còn lại đều phát biểu thương hại cho người An Nam, những kẻ nô lệ tội nghiệp mà số phận không được bằng mình. Cuối cùng đến lượt Ếch, Ếch nói:

“- Hỡi anh em, suy đi tính lại, nếu thực sự chúng ta thương xót người An Nam thì hãy cùng nhau đi cứu họ. Loài Ếch hèn mọn chúng tôi nhờ có kêu ca mà làm trời phải mủi lòng, và lẽ nào vô cớ trời lại bỏ ngoài tai lời cầu khẩn mà để loài Ếch vĩnh viễn bị tận diệt? Nếu họ đồng tâm và đồng sức, nếu họ liên kết trong ngoài, thì người Pháp sẽ mất tinh thần, kinh hãi và phải trả lại cho họ những quyền tự do của họ.

Ôi, những người An Nam, các anh phải luôn nhớ rằng đoàn kết làm nên sức mạnh!”.

            – Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 134-135, 444-445.  

Cuối năm

Tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp nhan đề Le procès de la colonisation française (Bản án chế độ thực dân Pháp)31được xuất bản tại Pari, do Thư quán Lao động (Librairie du Travail) ấn hành.

Nội dung cuốn sách dựa trên cơ sở các bài viết của Người trong thời gian từ 1921 – 1924, chia thành 12 chương:

Cuốn sách in năm 1925 tại Pháp mở đầu có Lời giới thiệu của Nguyễn Thế Truyền, tiếp đó là 12 chương:

Chương I. Thuế máu

Chương II. Việc đầu độc người bản xứ

Chương III. Các quan thống đốc

Chương IV. Các quan cai trị

Chương V. Những nhà khai hoá

Chương VI. Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị

Chương VII. Bóc lột người bản xứ

Chương VIII. Công lý

Chương IX. Chính sách ngu dân

Chương X. Chủ nghĩa giáo hội

Chương XI. Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ

Chương XII. Nô lệ thức tỉnh.

Cuốn sách đã thu thập những tài liệu người thực việc thực xảy ra ở các thuộc địa của Pháp nhằm vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với người dân thuộc địa.

Cuốn sách còn giới thiệu Lời kêu gọi của Quốc tế Nông dân gửi nông dân lao động các thuộc địa, giới thiệu Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa, trong đó có đoạn viết:

“Anh em phải làm thế nào để được giải phóng?

Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em.

Hội liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy!”.

Cuối sách là phần Phụ lục: Gửi thanh niên Việt Nam. Bức thư đã cảnh tỉnh thanh niên Việt Nam đang an phận làm nô lệ. Bức thư nêu gương thanh niên một số nước đang đấu tranh cho nền độc lập ngày mai của họ.

Kết luận, bức thư viết: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 21-133.

——————- 

1) Cho tới nay, chưa xác minh được tên của người nhận thư (B.T).

2) Cho đến nay chưa rõ tên người nhận. Căn cứ nội dung, dự đoán thư gửi cho một đồng chí đại diện Đảng Cộng sản Pháp tại Quốc tế Cộng sản (B.T).

3) Qua bức thư, chúng ta biết, cho đến ngày 14-2-1925, Cụ Phan Bội Châu chưa gặp Lý Thuỵ, chỉ mới trao đổi qua thư từ (B.T).

4) Đây là Dự thảo điều lệ của tổ chức Thanh niên trong tương lai, in tháng 2-1925 và được bí mật đưa về Đông Dương. Tài liệu bị mật thám Đông Dương bắt được (Theo chú thích của Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.434) (B.T).

5) Bài viết này, bút tích ghi nhận đã được sao chép chuyển cho toà soạn một tờ báo. Cho đến nay chưa xác định được tên tờ báo đó(B.T).

6) Bài viết này còn được đăng trên báo Le Paria, số 33 (tháng 4 và tháng 5-1925) dưới nhan đề Rule Britannia (Lối cai trị của người Anh)(B.T) 

7) Trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2 không ghi ngày tháng, nhưng đối chiếu với các sự kiện lịch sử thì báo cáo này được viết sau tháng 5-1925 (B.T).

8) Tức từ năm 1924 (B.T).

9) Về Đại hội thành lập hội được đăng trên báo Công nhân chi lộ đặc hiệu, do Uỷ ban bãi công Cảng Tỉnh xuất bản, số 18, ra ngày 12-7-1925.

10) Cảng Tỉnh: địa danh chỉ Hồng Kông và Quảng Châu (B.T).

11) Ngày 18-8-1925, Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân đã gửi cho đồng chí Nilốpxki (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) một bức thư báo tin đã gửi 5.000 rúp theo tên đồng chí Bôrôđin để dùng vào các việc: xuất bản các tài liệu về nông dân, cử người đi vận động và tổ chức những Hội Nông dân ở các tỉnh Trung Quốc, gửi về Mátxcơva một đồng chí Trung Quốc tin cậy am hiểu vấn đề nông dân và có thể làm việc ở Quốc tế Nông dân, cung cấp đều đặn cho Quốc tế Nông dân những tài liệu, tin tức và những chỉ dẫn về phong trào nông dân và tình hình ruộng đất ở Trung Quốc.

Bức thư có đoạn viết: “Chúng tôi trông đợi đồng chí sẽ gửi đều đặn và vào bất cứ lúc nào, những báo cáo tổng kết từng hai tháng một về phong trào nông dân và về công tác đảng trong việc tổ chức giai cấp nông dân. Ngoài ra, chúng tôi đề nghị đồng chí viết cho một tập sách nhỏ phù hợp và chi tiết về tình hình giai cấp nông dân Trung Quốc hoặc là giao việc thảo tập sách này cho một đồng chí Trung Quốc am hiểu về vấn đề nông dân”.

Bức thư do Phó Tổng thư ký Quốc tế Nông dân Đômban, Trưởng ban Phương Đông và các thuộc địa Vônhêxienxki, thay mặt thư ký của cách mạng Bôsêkiêvích, cùng ký tên.

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)