Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1928)

Tháng 1, sau ngày 5

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư trả lời của Đômban, Phó Tổng thư ký Quốc tế Nông dân.

Trong thư, Đômban cho biết không thể cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc một kế hoạch cụ thể về công tác vận động nông dân vì không biết rõ lắm tình hình nông dân và vấn đề ruộng đất ở Đông Dương.

Đômban lưu ý Nguyễn Ái Quốc, trong thời gian đầu phải chú ý đặc biệt vào công tác vận động nông dân ở các tỉnh giáp với Quảng Đông, việc tổ chức những hội nông dân bằng nhiều hình thức như viết sách, in truyền đơn, thành lập những nhóm tuyên truyền.

Đômban đề nghị Nguyễn Ái Quốc gửi cho tất cả những tư liệu thu thập được về vấn đề ruộng đất ở Đông Dương từ các nguồn sách vở, từ những quan sát cá nhân hoặc từ những cuộc điều tra nông thôn. Các tài liệu gửi cho Đômban theo địa chỉ:

“Noi Đoócphơ, Béclin W.10, Lútsô Uphe N.1.

(Neues Dorf, Berlin W10, Lutzowufer N.1)

            –  Bút tích bức thư của Đômban gửi Nguyễn Ái Quốc. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 3

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi các đồng chí lãnh đạo Quốc tế Nông dân ở Mátxcơva thông báo Người không tìm được cơ sở liên lạc ở phố Lútsô Uphe và yêu cầu cho địa chỉ liên lạc mới. Thư cũng cho biết: Trong khi chờ đợi ngày có thể lên đường khoảng một tháng hoặc một tháng rưỡi nữa, Người sẽ tranh thủ thời gian viết cuốn Những ký ức của một nhà tuyên truyền, nói về phong trào nông dân Trung Quốc, chủ yếu là ở Hải Lục Phong – nơi có các xôviết nông dân. Cuốn sách dự tính dày 120 trang đánh máy và chia thành năm mươi chương.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc ghi địa chỉ mới của mình: Ô.Lu, Tạp chí Thư tín Quốc tế, Ban biên tập tiếng Pháp, số nhà 225, phố Phrêđrích Strát, Béclin.

            –  Bút tích bức thư ngày 3-2-1928. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.319 – 320.

Tháng 3, ngày 4

Nguyễn Ái Quốc gặp ba người Việt Nam từ Pháp sang Béclin (Đức) tại trụ sở Liên minh phản đế là Trần Đình Long, Nguyễn Thế Thạch và Bùi Ái trên đường từ Pháp đi Liên Xô, lúc qua Béclin đã được giao thông bí mật của Quốc tế Cộng sản bố trí cuộc gặp này.

            –  Trần Đình Long: Ba mươi năm ở nước Nga Xôviết. Hà Thành thời báo, số 21, ngày 4-9-1937.

            –  Dẫn theo Nguyễn Thành, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5, 1986, tr.16.

Tháng 3, ngày 17

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, bút danh Wang, nhan đề Thư từ Ấn Độ, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 28, bản tiếng Đức số 28.

Thư từ Ấn Độ, viết về phong trào đấu tranh rộng lớn của các tầng lớp nhân dân Ấn Độ chống lại âm mưu của đế quốc Anh thông qua hoạt động của Ủy ban Ximông (Simon)35 phá hoại sự thống nhất đất nước và chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Ấn Độ.

Nhận xét về tính chất, quy mô và kết quả của phong trào này, tác giả viết: “Chưa bao giờ – ngay cả trong thời kỳ mà phong trào bất hợp tác theo chủ trương của Găngđi lên tới tột đỉnh – tinh thần của đất nước lại sôi động đến mức đó”. “Phong trào sôi động đó đã buộc Ximông và những đồng sự của y trong Công Đảng phải lùi bước”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.321-323.

Tháng 4, ngày 12

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản trình bày về hoàn cảnh hiện tại của mình. Bức thư có đoạn viết:

“Không thể công tác ở Pháp, ở Đức vô ích, nhưng cần thiết ở Đông Dương, nên tôi đã xin lại lên đường về xứ sở này. Trong những thư gửi cho các đồng chí, tôi đã lập một ngân sách công tác và một ngân sách đi đường.

Khi đồng chí Đôriô qua Béclin, đồng chí đã hứa sẽ quan tâm đến vấn đề của tôi. Tôi đã nói với đồng chí ấy là nếu không được kinh phí công tác, miễn là đồng chí cho tôi tiền đi đường, thì dù thế nào tôi cũng sẽ đi, bởi vì đã một năm tôi lang thang từ nước này sang nước khác trong khi có nhiều việc phải làm ở Đông Dương.

Nhưng cho tới nay tôi chưa nhận được chỉ thị của các đồng chí, cả câu trả lời của đồng chí Đôriô.

Hiện nay, tôi ở trong hoàn cảnh khó khăn không chịu nổi:

1) Chờ đợi vô thời hạn (tôi chờ chỉ thị đã 4 tháng).

2) Không có gì để sống vì rằng MOPR36 không thể giúp tôi một cách vô hạn, ngay cả cho 18 đồng mác mỗi tuần (số tiền đối với tôi không đủ sống nhưng quá nặng cho tổ chức).

Vậy tôi xin các đồng chí cho tôi càng sớm càng tốt những chỉ thị chính xác về điều mà tôi phải làm và bao giờ thì tôi có thể lên đường.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc còn gửi thư cho một cán bộ của Quốc tế Cộng sản 1).

Toàn văn bức thư như sau:

“Đồng chí thân mến,

Tôi gửi cho đồng chí một bản sao bức thư gửi cho Ban Phương Đông để đồng chí được biết. Đồng thời tôi rất cám ơn về việc đồng chí quan tâm đến vấn đề của tôi và nhanh chóng trả lời tôi. Đồng chí có thể hình dung nổi tôi đang sống trong một tình trạng tinh thần và vật chất như thế nào không: biết là có nhiều công việc nhưng không thể làm gì được, ăn không ngồi rồi, không có tiền, sống ngày nào hay ngày ấy mà không được phép hoạt động, v.v..

Ngay cả khi những sự vận động của đồng chí không có kết quả, đồng chí cũng viết cho tôi một chữ Uỷ ban Trung ương KPD 2) để tôi liệu quyết định. Hôm nay là ngày 12-4, tôi hy vọng nhận được tin tức của đồng chí vào ngày 24 tới. Tôi tin cậy ở đồng chí và gửi đến đồng chí lời chào cộng sản anh em.

Nguyễn Ái Quốc”.

            –  Bút tích hai bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.324-326.

Tháng 4, ngày 14

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Phong trào công nhân ở Ấn Độ, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 37 và bản tiếng Đức số 35.

Về tình hình phát triển của giai cấp công nhân Ấn Độ, bài báo cho biết: đầu những năm 20, tuy có sự gia tăng về số lượng, song phần lớn giai cấp công nhân Ấn Độ chưa được tổ chức và số đông nghiệp đoàn chịu ảnh hưởng cải lương của Đảng Lao động Anh. Từ nửa sau những năm 20, dấu hiệu chứng tỏ bước phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân Ấn Độ rất rõ nét, đình công liên tiếp nổ ra không riêng ở một ngành mà ở nhiều ngành, yêu sách kinh tế đã kết hợp chặt chẽ với yêu cầu chính trị… Nguyên nhân của sự chuyển biến đó, như bài báo đã chỉ rõ: “Mặc dù có tình trạng vô tổ chức của thợ thuyền và thái độ hèn nhát của những người theo chủ nghĩa cải lương, sự nghèo khổ làm cho vô sản Ấn Độ cấp tiến hơn”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.327-329.

Tháng 4, ngày 18

 Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Nông dân Ấn Độ, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 38, bản tiếng Anh số 23, bản tiếng Đức số 42.

Tác giả viết về tình cảnh khốn cùng của nông dân Ấn Độ dưới ách áp bức bóc lột của bọn địa chủ Anh, địa chủ bản xứ, bọn cho vay nặng lãi, bọn bao thầu thuế… là những đồng minh trung thành và chỗ dựa vững chắc cho chủ nghĩa đế quốc Anh.

Hàng triệu nông dân Ấn Độ đã bị chết đói, làng xóm xác xơ. Từng đoàn người kéo nhau đi lang thang, hoặc lũ lượt dồn về các thành phố, hình thành lớp “vô sản áo rách”, sống vất vưởng bằng nghề hành khất. Mặc dù vậy, tác giả vẫn tin tưởng:

“Tuy không có tổ chức hoặc tổ chức còn lỏng lẻo – người nông dân nghèo khổ thúc bách – thường nổi dậy chống kẻ bóc lột”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.330-332.

Tháng 4, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc được Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ra quyết định đồng ý để Người trở về Đông Dương theo nguyện vọng.

Bản quyết định ghi: “Theo nguyện vọng của đồng chí (Nguyễn Ái Quốc – B.T), đồng chí có thể trở về Đông Dương; chi phí chuyến đi cũng như thời gian ba tháng lưu lại do Đảng Cộng sản Pháp chịu”.

            –  Biên bản số 93 cuộc họp của Ban Thư ký Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, ngày 25-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Badin (Basil) báo tin đã nhận được thư viết ngày 17-4-1928 của Nguyễn Ái Quốc và thông báo rằng Ban Phương Đông đã quyết định gửi cho Nguyễn Ái Quốc tiền đi đường và một phần trợ cấp cho ba tháng đầu.

            –  Bút tích bức thư của Badin gửi Nguyễn Ái Quốc. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 21

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi các đồng chí trong Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, cho biết Người đã nhận được các thứ cần thiết để lên đường và dự định sẽ đi vào khoảng tuần thứ ba tháng này.

Trong thư, Người nêu một số nhận xét về hoạt động của Ban Thuộc địa Đảng Cộng sản Pháp và những đề nghị cụ thể về tài chính, về lề lối làm việc của ban.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.341-342.

Tháng 5

Hai bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ  Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt nòi giống bản xứ đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 43 và số 47.

Bài Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ cho biết, cũng như tại các thuộc địa khác, ở Ấn Độ, chủ nghĩa đế quốc Anh đã tìm cách chia rẽ hàng ngũ vô sản bằng cách thường xuyên khoét sâu những thành kiến dân tộc. Chính sách đặc quyền đặc lợi dành cho những công nhân viên chức người Anh và người lai Anh – Ấn đã tạo ra ở đây một lớp công nhân quý tộc làm chỗ dựa chống lại công nhân bản xứ, phá hoại giai cấp vô sản Ấn Độ.

Song, trong điều kiện đó, công nhân Ấn Độ vẫn kiên trì đấu tranh chống lại mọi âm mưu của bọn đế quốc và những thành kiến chủng tộc. Các cuộc đấu tranh của công nhân đã thống nhất trong những yêu sách chung: đòi tăng lương, đòi ngày làm tám giờ, đòi cải thiện đời sống và điều kiện làm việc, đòi được bảo hiểm xã hội, đòi tự do hoạt động nghiệp đoàn, chống đánh đập, cúp phạt, sa thải…

Giải thích tình hình đó, tác giả cho rằng: “Những  cuộc đấu tranh này của công nhân chỉ là rất thường tình nếu ta xét đến hoàn cảnh vô cùng khổ cực của vô sản Ấn Độ”.

Cùng với phong trào công nhân đang trên đà phát triển, cuộc đấu tranh của nông dân Ấn Độ cũng diễn ra sôi động dưới nhiều hình thức. Đó là hậu quả tất yếu của tình trạng khốn cùng của họ do chính sách thống trị của đế quốc Anh. Các cuộc đấu tranh của nông dân tuy còn rời rạc, nhưng tác giả bài viết đã nhận thấy ý nghĩa to lớn: nông dân từ chỗ dễ bảo và thụ động, giờ đây đã thức tỉnh và biết cách tự vệ và cho rằng đây là “một dấu hiệu của thời đại!”.

Bằng những số liệu cụ thể, bài Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt nòi giống bản xứ  cho biết: Từ sau chiến tranh, để khôi phục lại những đổ nát, chủ nghĩa đế quốc đã tăng cường khai thác bóc lột thuộc địa, thu về những món lợi kếch xù, nhờ đó tạo nên bộ phận phồn vinh về kinh tế, kỹ nghệ và thương mại cho các nước đó.

Một trong những thủ đoạn tàn ác gia tăng sự bóc lột đối với dân bản xứ được thi hành ở tất cả các thuộc địa của Pháp, Bỉ, Anh và những nước khác là chế độ lao động khổ sai. Lao động khổ sai và những hậu quả của nó làm cho số dân bản xứ ở các thuộc địa chết tới mức khủng khiếp và đang trên đà bị diệt vong. Điều này được khẳng định qua những lời thú nhận của báo chí và chính khách tư sản mà bài viết đã trích dẫn.

Tác giả kết luận: “Ta có thể kết luận rằng mọi chế độ thực dân đế quốc đều tiêu diệt hết các nòi giống bản xứ, và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc!”.

            – Bút tích bài báo Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 47, tháng 5-1928.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.333-340.

Tháng 6, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc rời nước Đức, bắt đầu cuộc hành trình để về gần Tổ quốc. Từ Đức, Người qua Thuỵ Sĩ rồi sang Italia. Sau này, nhắc lại kỷ niệm về chuyến đi đó, Người kể:

“Khi Bác xin cấp phép đi qua nước Ý, cơ quan phát xít hỏi nhiều câu lôi thôi. Đến biên giới, cơ quan biên phòng phát xít giở xem quyểnTừ điển chống cộng quốc tế dày khoảng 2.000 trang, ghi tên tuổi những người cách mạng các nước từ chữ A đến Z. Không thấy có tên mới của Bác trong đó, chúng chào lễ phép và nói: “Mời ông cứ đi!”.

“Đến phía Bắc nước Ý, Bác ghé vào xem hội chợ ở Milan (Milano), một thành phố buôn bán phồn thịnh nhất nước Ý… Khi đi xem phong cảnh Thủ đô Rôm, Bác bị hỏi giấy tờ và bị đưa về Sở Công an. Cũng nhờ bị bắt mà Bác hiểu thêm cách thống trị của phát xít. Trên các đường phố, cứ cách độ 100 thước thì có một tên mật thám. Tên mật thám hỏi giấy và bắt Bác hầu như mù chữ. Tại Sở Mật thám, chúng ra vẻ lễ độ. Tên trưởng phòng đứng dậy bắt tay Bác, mời Bác ngồi và mời Bác hút thuốc, rồi hỏi những câu bâng quơ. Những người ít kinh nghiệm thì dễ rơi vào cạm bẫy của chúng…”.

Trong thời gian ở Milan, Nguyễn Ái Quốc thường đến ăn tại quán ăn Tơráttôria Lapôsa (Trattoria Laposa) 3) số 10 đường Pasubiô.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc viết ngày 18-2-1930 gửi Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 35-36.

Tháng 6, cuối tháng

Từ cảng Napôli (Napoli), Nguyễn Ái Quốc đáp tàu Nhật Bản đi Xiêm.

Trên đường từ Italia về Xiêm, Người dừng lại ở Xâylan (Ceylan) ít ngày 4).

Sau đó Nguyễn Ái Quốc đi tàu khác trở về Xiêm.

            –  T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 36.

            –  Báo Tiến lên, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Xâylan, ngày 9-9-1969.

Tháng 6

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Chế độ thực dân Pháp và xứ Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 49.

Mặc dầu đã phải áp dụng ở xứ thuộc địa rộng nhất và giàu nhất này chính sách ngu dân, chính sách khủng bố và mật thám để bóp nghẹt những quyền tự do tối thiểu của dân chúng, vậy mà chủ nghĩa đế quốc Pháp vẫn phải nơm nớp lo sợ cho nền thống trị của chúng. Chúng sợ cách mạng từ ngoài nhập vào và đã tìm mọi cách đối phó, kể cả trò bịp chính trị hòng trừ khử nguy cơ đó.

Song như tác giả nhận định: “Dù bọn xã hội đế quốc chủ nghĩa có đề phòng như thế nào đi nữa, thì nạn nghèo khổ và sự bóc lột vẫn cứ thúc đẩy người dân Đông Dương làm cách mạng, để đạp đổ ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.343 – 345.

Tháng 7, khoảng đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc với hộ chiếu mang tên một Hoa kiều là Nguyễn Lai đến bến cảng Khoong Tơi, hải cảng quốc tế tại Thủ đô Băng Cốc.

Những ngày ở Băng Cốc, Nguyễn Ái Quốc thường ở trong một số chùa như chùa Hội Khánh, người Thái gọi là chùa Mongkhol Sunrankhol; chùa ông Năm, người Thái gọi là chùa Somsanam Boriharn, chùa Tư Tế Tự, chùa Sư Ba, người Thái gọi là chùa Lacumkho.

Sau một thời gian ngắn, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Bản Đông, thuộc huyện Phìchịt, tỉnh Phítxanulốc miền Trung nước Xiêm. Đây là một làng Việt kiều với chừng hai chục gia đình, từ năm 1926 đã có những tổ chức cách mạng như Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Hội hợp tác, Hội Việt kiều thân ái.

Trong buổi họp mặt đầu tiên với kiều bào, Nguyễn Ái Quốc tự giới thiệu là Thọ, biệt hiệu Nam Sơn. Những ngày sau đó, Người đã nhanh chóng sống hoà mình với kiều bào, cũng đi chân đất, cũng quần áo nâu sồng, làm đủ thứ việc như mọi người.

Ban ngày, Người tranh thủ lần lượt đi thăm các gia đình, hỏi han công việc làm ăn và giúp đỡ ý kiến. Tối đến, Người tổ chức nói chuyện cho kiều bào nghe về tình hình thế giới, tình hình trong nước. Thỉnh thoảng, Người lấy báo Trung Quốc, Anh, Pháp ra đọc một bài rồi phân tích giảng giải cặn kẽ cho mọi người.

Người lưu lại ở Bản Đông khoảng hai tuần.

            –  Hồi ký của Lê Mạnh Trinh. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Căn cứ báo cáo đề tài cấp bộ của Bảo tàng Hồ Chí Minh: Nghiên cứu, phát hiện, thống kê di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thái Lan.

Tháng 7, giữa tháng

Nguyễn Ái Quốc rời Bản Đông đi Uđon 5) (tức tỉnh Uđon Thani).

Trong suốt cuộc hành trình ròng rã 15 ngày, Người đi bộ theo dọc đường rừng, vừa để đảm bảo bí mật, vừa để tìm hiểu thực tế tình hình kiều bào. Cũng như mọi người, Người đeo bên mình một con dao, một ống đựng sườn băm rang muối mặn, vai gánh đôi thùng có nắp đậy, trong đựng quần áo, ít gạo, muối, tài liệu, vài thứ đồ dùng cần thiết. Tuy xưa nay chưa quen gồng gánh, cũng chưa quen đi bộ đường dài nên mấy ngày đầu hai bàn chân bị phồng rộp, rớm máu, Người vẫn cố theo kịp mọi người. Người nói: “Thiên hạ vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên” (Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền).

            –  Hồi ký của Lê Mạnh Trinh. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 8, khoảng đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Uđon, Người đến Noong Bùa là nơi Việt kiều đông nhất trong tỉnh.

Ở Uđon, Người lấy tên là Chín. Mọi người tôn trọng gọi là “Thầu Chín” (ông già Chín) mặc dầu Người mới 38 tuổi.

Trong cuộc họp đầu tiên khi tới Uđon, Người báo cáo trước Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên về tình hình và triển vọng của cách mạng Việt Nam, nhấn mạnh đến phẩm chất của người cách mạng là phải biết chịu đựng gian khổ, kiên trì đấu tranh với khó khăn, tuyên truyền giác ngộ quần chúng, không ngừng rèn luyện ý chí phấn đấu.

Người chủ trương phải mở rộng tổ chức, củng cố cơ sở quần chúng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trước kia Hội hợp tác chỉ thu hút những thanh niên ở trong nước ra, nay cần kết nạp cả những kiều bào hăng hái cách mạng và tình nguyện gia nhập.

Người đề nghị đổi tên báo Đồng thanh – tờ báo của Hội thân ái xuất bản từ năm 1927, thành báo Thân ái và yêu cầu nội dung tờ báo này phải rõ ràng, bài viết phải ngắn gọn dễ hiểu, phát hành càng rộng càng tốt.

Người còn chủ trương phải làm cho người Xiêm có cảm tình hơn nữa với người Việt Nam và cách mạng Việt Nam; giáo dục kiều bào tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân bạn; khuyên mọi người học chữ Xiêm, tiếng Xiêm, đồng thời mở rộng việc vận động học chữ quốc ngữ. Với các cán bộ phụ trách, Người khuyên cố gắng tạo khả năng hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp hơn nữa.

Những ngày ở Uđon, cùng với công tác chấn chỉnh xây dựng tổ chức, Nguyễn Ái Quốc dành khá nhiều thời gian để dịch sách lý luận làm tài liệu tuyên truyền và huấn luyện cho cán bộ Việt Nam hoạt động ở Xiêm. Người đã dịch hai cuốn Nhân loại tiến hoá sử  Cộng sản A.B.C.

Các buổi tối, Người thường tổ chức nói chuyện với kiều bào. Những buổi nói chuyện đó, nhà chật ních người. Bà con rất thích đến nghe, vì “Thầu Chín” nói chuyện vừa hấp dẫn lại thiết thực, từ câu chuyện làm ăn đưa đến câu chuyện chính trị. Bà con thấy “Thầu Chín” vừa đáng kính, vừa gần gũi nên thường hỏi ý kiến về chuyện gia đình, chuyện làm ăn.

Nguyễn Ái Quốc sống như mọi người, cũng đào giếng, cũng vỡ đất làm vườn. Khi Chính phủ Xiêm cho phép mở trường học, Người đã tham gia với kiều bào gánh gạch, đào móng, đắp nền. Người vui vẻ chịu chung với các đồng chí những vất vả, kham khổ về đời sống vật chất. Bữa cơm nhiều khi chỉ có rau sam hoặc rau lang chấm muối, thậm chí chỉ có muối. Kiều bào ở gần, biết “Thầu Chín” hay hút thuốc lá, mỗi khi đi chợ đã không quên mua gửi biếu vài bao thuốc.

Thời gian ở Uđon, Nguyễn Ái Quốc đã đến Noọngkhai gặp gỡ một số cán bộ hoạt động ở Viêng Chăn sang để tìm hiểu tình hình phong trào Lào và khả năng đặt mối liên hệ với Xiêm để đẩy mạnh cuộc vận động cách mạng ở
Việt Nam.

            –  Hồi ký của Lê Mạnh Trinh. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 10, trước ngày 2

Nguyễn Ái Quốc gửi cho Tập san Inprekorr một tài liệu nhan đề Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông Dương 6).

Bài viết đưa ra những số liệu cụ thể và chia ra các phần sau đây:

          – Tình hình kinh tế

          – Sự tích luỹ tư bản

          – Lợi nhuận

          – Công nghiệp hoá thuộc địa

          – Chiếm đoạt ruộng đất

          – Sự độc quyền

          – Đầu sỏ tài chính

          – Tư bản nước ngoài ở Đông Dương

          – Đối kháng thực dân ở Đông Dương

          – Sự bóc lột người An Nam

          – Vô sản hoá người bản xứ

          – Lao động khổ sai đối với người bản xứ

          – Sợ hãi cách mạng.

Bài viết có đoạn: “Mặc dù có hoạt động bề ngoài về kinh tế, và mặc dù làm ra vẻ an tâm, những tên đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ về một cuộc cách mạng sắp tới. Việc đã tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc tự mình đào hố để chôn mình”.

            –  Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 346 – 362.

Trong năm

Nguyễn Ái Quốc viết bài  Đông Dương khổ nhục, ký bút danh NGUYỄN.

Tác giả tố cáo chính quyền thuộc địa, từ kẻ đại diện tối cao của Nhà nước chính quốc đến những tên thực dân bình thường, đều tự ý và đua nhau giết hại, bóc lột đến tận xương tuỷ xứ Đông Dương đã bị chinh phục và dân tộc Đông Dương đang bị đày đọa này. Tội ác của bọn côn đồ đó diễn ra hằng ngày và không đủ thì giờ để kể cho xiết. Đông Dương khổ nhục. Nhưng giờ đây, khi ách áp bức càng đè nặng lên vai dân chúng bao nhiêu thì dân chúng chống lại càng nhiều bấy nhiêu. Điều này chứng tỏ rằng, bây giờ căm hờn đã sôi sục trong lòng những người nô lệ và từ đây chủ nghĩa đế quốc Pháp không còn có thể bóc lột dân chúng Đông Dương mà không gặp phải những cuộc đấu tranh sinh tử để giành lại tự do và quyền sống. Bức màn mà chính phủ thuộc địa dựng lên để giấu giếm tội ác của chúng, bưng bít những tiếng thét căm hờn của người bản xứ và che đậy những cuộc khởi nghĩa bùng nổ liên tiếp, đã bị xé toang. Tội ác của chúng đã phơi bày trước giai cấp vô sản thế giới, đặc biệt là trước thợ thuyền Pháp.

Nhân danh Đông Dương khổ nhục, tác giả kêu gọi những ai đang đấu tranh ở khắp nơi, kêu gọi những người bạn Nga đã tự giải phóng mình khỏi tay bọn cường quyền: “Những người bạn bất hạnh của các bạn hiện đang giãy giụa ở Đông Dương. Họ đang trải qua những giờ phút khó khăn để tự giải phóng. Đế quốc Pháp đang giết hại họ, đang tước đoạt của cải của họ. Mong các bạn nghĩ tới họ; tiếng thét căm thù của họ phải được hoà lẫn với tiếng thét của các bạn để chặn bàn tay giết người của bọn đế quốc Pháp ăn cướp. Mong rằng sự quan tâm của các bạn đối với phong trào đấu tranh sẽ cổ vũ họ trong tương lai lật đổ được bọn đế quốc áp bức bóc lột”.

            –  Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.363-366. 

——————

1) Đến nay, chưa xác định được tên của người nhận bức thư này (B.T).

2) Đảng Cộng sản Đức (B.T).

3) Ngày 19-5-1990, nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bạn Italia đã dựng biển lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại khách sạn này (nay đã hiện đại hóa).

4) Theo hồi ức của Uychêmaxinghê, Chủ tịch Đảng Cộng sản Xâylan và Piêtơ Canơman – Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Xâylan thì trong chuyến đi này Nguyễn Ái Quốc ẩn danh là một thành viên của đoàn thủy thủ. Chiếc tàu Người đi đã ghé vào cảng Côlômbô, Thủ đô Xâylan. Người đã ở khách sạn ngày nay mang tên “Thắng Lợi” và đã tới thăm tỉnh Candi, cách Côlômbô khoảng 50km.

5) Uđon thuộc đông bắc nước Xiêm, là vùng có đông Việt kiều sinh sống, lại tiện đường liên lạc với Noọngkhai, Xacôn, Nakhôn, Thạt Phanôm… và những

nơi có kiều bào. Ở Uđon, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Hội thân ái và Hội hợp tác cũng ra đời. Vì vậy, Uđon còn là trung tâm cuộc vận

động Việt kiều ở Xiêm.

6) Tài liệu do Cơ quan lưu trữ Đảng Cộng sản Liên Xô gửi Đảng Cộng sản Việt Nam trên có ghi: Bài của Nguyễn Ái Quốc gửi cho Tập sanInprekorr, ngày

2-10-1928 (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Advertisements