Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

Điện chào mừng các đại biểu tham dự “cuộc gặp gỡ thế giới của thanh niên và sinh viên vì thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam” (22-8-1969)

Kính gửi các đại biểu tham dự “Cuộc gặp gỡ thế giới của thanh niên và sinh viên vì thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam”1),

Henxinki

Tôi rất vui mừng gửi lời chào mừng nhiệt liệt và lời cảm ơn chân thành tới các đại biểu thanh niên và sinh viên thế giới đang đấu tranh ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược.

Cuộc họp mặt của các bạn là một biểu hiện rực rỡ của nhiệt tình và quyết tâm của thế hệ trẻ muốn thực hiện những lý tưởng cao đẹp là tự do, độc lập dân tộc và hoà bình. Giữa lúc chính quyền Níchxơn đang ngoan cố tǎng cường chiến tranh xâm lược, cố giữ nguỵ quyền Sài Gòn và gây thêm nhiều tội ác đối với nhân dân chúng tôi, cuộc họp mặt đó càng cổ vũ mạnh mẽ nhân dân chúng tôi ra sức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.

Nhân dân Việt Nam càng kiên trì chiến đấu cho đến khi Mỹ phải chấm dứt xâm lược, rút hết quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không được đặt điều kiện gì, để nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định lấy công việc của mình.

Chúc cuộc gặp gỡ của các bạn thành công.

Hà Nội, ngày 22 tháng 8 nǎm 1969
Hồ Chí Minh

——————

Báo Nhân dân, số 5611, ngày 25-8-1969.

—————————————-
1) “Cuộc gặp gỡ thế giới của thanh niên và sinh viên vì thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam” diễn ra ngày 23-8-1969, tại Henxinki (Phần Lan).

cpv.org.vn

Bác Hồ đi làm ruộng với nông dân

Bác sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho, nhưng là nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thời gian dài từ tấm bé đến tuổi học trò Bác sống ở quê giữa những người nghèo khổ một nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của người nông dân. Những việc của nghề nông đối với Bác cũng không có gì xa lạ.

388.jpgBác Hồ tát nước với bà con Thanh Oai – Hà Đông. Ảnh: Tuấn Anh

Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, khi Người được bầu vào Ban chấp hành Quốc tế nông dân, có người thắc mắc, hoài nghi vì Bác khai trong lý lịch là xuất thân nhà nho, trí thức. Nghề nghiệp chính là thuỷ thủ, họ e rằng Bác sẽ không có điều kiện để am hiểu các vấn đề nông dân. Sau khi bế mạc Đại hội nông dân, các đại biểu đi thǎm một nông trang, thấy nông dân đang lao động, Bác cũng xắn quần xuống giúp một nông dân đang làm ruộng, việc nhà nông đối với Bác không gì khó khǎn, trong khi các đại biểu nhiều người đang lúng túng; thì Bác làm nhanh nhẹn như một nông dân thực thụ, trước con mắt thán phục của mọi người. Có ai biết một thời Bác ra đồng cùng người dân quê làng Sen làm lụng, hay những lúc đi trồng nho cùng những người nông dân nghèo khổ ở Bruklin nước Mỹ. Trên mặt trận báo chí công luận, Bác là người viết nhiều về nông dân, vạch mặt tố cáo sự bóc lột sức lao động người nông dân của địa chủ cường hào phong kiến, đẩy nông dân vào con đường bần cùng bằng sưu cao thuế nặng. Bác đã tìm ra và chính Người đã thực hiện cương lĩnh giải phóng người nông dân bằng cuộc cách mạng Tháng Tám lịch sử. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người Nga, một dân tộc đi đầu tiên phong, biến người nông dân lao động “thành người tự do”, nhưng nay họ chưa đi đến nơi đã tạm dừng. Còn người nông dân Việt Nam chúng ta luôn có Bác Hồ cùng đi bởi không chỉ tư tưởng Bác soi đường mà hình ảnh Bác dung dị bên người nông dân mãi mãi là chỗ dựa tinh thần để tự hào, tin tưởng và làm theo lời Người.

Cùng đổ mồ hôi với người nông dân mới quý hạt gạo, củ khoai, mới xót lòng khi bão lụt ập đến cướp đi thành quả lao động vất vả của người dân trên ruộng đồng. Ngay sau khi giành được chính quyền, tuy bận trǎm công nghìn việc Bác vẫn dành nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa phương vận động giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khǎn, Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, trước hết phải lo cái ǎn để họ khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thǎm. Thế rồi, giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống cắt bǎng khánh thành chỗ đê vừa mới đắp. Bác đi xem kiểm tra một lượt, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Người nhắc nhở phải tǎng cường gia cố mới an toàn. Bác vừa đi vừa nhún thử độ lún, Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tǎng cường thêm lực lượng để đầm thật kỹ mới bảo đảm lâu dài.

Thay mặt “Ban đời sống” mới nhà vǎn Nguyễn Huy Tưởng đến báo cáo với Bác là hoạt động của Ban dựa trên 3 nguyên tắc: dân tộc, dân chủ và khoa học, nghe xong, Bác liền nói: “Trong đồng bào ta chưa mấy người hiểu những từ chú nói mà hiện nay họ cần là cần cái này”, vừa nói Bác vừa chỉ tay vào bụng, “phải có cái ǎn đã, nếu không có ǎn không làm gì được. Hoạt động của ban “Đời sống mới” cũng phải tập trung cái đó đã, vận động bà con “lá lành đùm lá rách”, tǎng gia sản xuất, cứu đói”. Hậu quả nạn đói nǎm 1945 như một bóng ma ghê rợn phủ lên cuộc sống đói rách của người nông dân, càng làm không khí ảm đạm khó khǎn thêm, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác đi xuống các địa phương như Ninh Bình, Thái Bình… để đôn đốc việc cứu đói, tổ chức tǎng gia sản xuất, đắp đê phòng chống thiên tai… Một lần trong cuộc họp, bàn chống đói, Bác nói: “Các chú biết không, người xưa nói “dân di thực vi thiên”, có đồng chí tưởng Bác nói nhầm bèn chữa lại thưa Bác “dân dĩ thực vi tiên chứ ạ”, Bác cười và giải thích: “Bác nói “Dân dĩ thực vi thiên” người xưa dạy “dân lấy cái ǎn làm trời”, Đảng, Chính phủ phải lo cái ǎn cho dân không được để dân đói. Đó là Bác lấy lời của Lục sinh nói với Hán Cao Tổ “Nhà vua lấy dân làm trời, dân lấy cái ǎn làm trời”. Bác dạy thật chí lý. Nǎm 1955, nghe tin lũ lụt lớn ở Kiến An, gây thiệt hại lớn về người và của cho nhân dân. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên hỏi cụ thể. Bác hỏi, xã Hoà Nghĩa thiệt hại mấy người chết, nhà cừa trưởng học bệnh xá bị đổ bao nhiêu, khi nghe báo cáo con số thiệt hại cụ thể, Bác rất lo lắng và rơm rớm nước mắt nhất là biết có nhiều gia đình chết người và trôi nhà cửa. Bác cǎn dặn phải có phương án tỷ mỉ khắc phục hậu quả thiệt hại. Người chỉ thị Tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo và dặn đi dặn lại “trước hết phải lo cái ǎn, nơi ở cho người bị nạn, tuyệt đối không để một người bị đói”. Cứ đến mùa nước lũ, hay kỳ hạn hán Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia “chống trời” cùng nhân dân. Nhớ lần Bác về công trường Đại thuỷ nông Bắc-Hưng-Hải, Bác xuống công trường tham gia lao động như một người dân. Trên đường đi, thấy một chị đang đẩy chiếc xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị. Bác hoà vào không khí lao động khẩn trương của công trường như tǎng thêm sức mạnh cho mọi người hǎng say quên mình trong không khí vui vẻ. Lần Bác về Hải Hưng tham gia chống hạn với nông dân, nghe tin Bác về các đồng chí cán bộ tỉnh tổ chức đón Bác long trọng, Bác không hài lòng, Bác phê bình ngay: “Bác về là đi chống hạn chứ có phải đi chơi đâu mà đón tiếp”~ Bác ǎn mặc quần áo như một lão nông thực sự Người đi rất nhanh đến chỗ nhân dân đang đào mương, Bác vội xắn quần xắn tay áo xuống cùng đào đất với bà con để lại phía sau các “quan cách mạng” trong những bộ quần áo bảnh bao đang lúng túng hổ thẹn trước dân chúng; cuối cùng tất cả cùng ào xuống đào đất với bà con theo gương Bác. Bác không nói, không hô hào, nhưng Người đã làm cuộc “cách mạng” cho “các quan” trước muôn dân. Bác ǎn cơm chung với mọi người tại nơi đang đào mương. Thấy người xới cơm, xới bát nào cũng vơi, Bác nói vui: ” Chú xới cơm thế này thì công việc làm sao cho đầy được” Bữa ǎn có Bác thêm vui hẳn lên. Bác hỏi chuyện: “Các chú có biết nấu nướng không?”. Mỗi người kể theo cách hiểu của mình. Bác thừa hiểu chẳng có ai ở nhà thực sự giúp vợ nấu ǎn cả, nên nghe nói nấu nướng sao thì kể vậy. Rồi Bác kể chuyện hồi xưa Bác làm phụ bếp thế nào nên biết nấu nướng, Bác nói nghề nấu ǎn ai biết nấu kể là biết ngay, còn ai chỉ nghe hoặc nhìn thấy thì không thể bịp được người khác, vì kỹ thuật nấu ǎn quan trọng là chỗ này – Bác chỉ vào mũi, chứ không phải chỗ này – Bác chỉ vào mắt và tai. Bác nói tiếp, vì sao mọi người phải biết nấu ǎn là vì vừa giúp được “cô ấy” có thời gian học tập và nuôi dạy con cái, vừa rèn luyện mình, chữa cái bệnh hão, bệnh sĩ, bệnh gia trưởng thâm cǎn cố đế, cho việc bếp núc là của đàn bà. Hơn nưa khi tự mình nấu thì mình ǎn ngon hơn, thích ǎn món nào thì làm món ấy. Chuyện vui, nhưng Bác giáo dục đạo đức con người, đạo đức cộng sản trong cán bộ. Bác lo lắng quan tâm đến sự tiến bộ của cán bộ từ những việc làm bình thường nhất, nhưng chính đó là những xuất phát điểm của đạo đức chân chính, mà mọi người cán bộ muốn dân tin thì rõi vào để tự xem xét, rèn luyện hoàn thiện mình. Bác về Hà Đông chống hạn, khi đến một con mương chắn ngang đường, đồng chí Chủ tịch tỉnh mời Bác đi vòng đến chỗ dễ qua hơn. Nhìn xuống thấy đồng chí Chủ tịch tỉnh đi đôi dày bóng lộn, Bác bảo: “Chú cứ đi đường ấy” nói rồi, Bác cởi dép lội tắt qua cho nhanh để đến với nông dân đang tát nước chống hạn. Sang bờ bên kia, Bác bảo mọi người cùng tát nước giúp dân. Bác chỉ một thanh niên ǎn mặc bảnh bao cùng tát nước với Bác, nhưng đồng chí này không biết tát nước, đồng chí Bí thư tỉnh đỡ lời: “Thưa Bác, đồng chí này là nhà báo ạ”. Bác cười và nói: “Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được”.

Mỗi người dân chúng ta ai cũng được xem hình ảnh Bác đang đạp nước trên guồng chống úng, ghi nhận trong ta hình ảnh Bác hoà mình với nỗi vất vả một nắng hai sương của người nông dân. Khắc sâu trong ta tâm niệm Chủ tịch nước cũng là một công dân, một người lao động trong triệu triệu người không có gì cách biệt. Đó là hình ảnh được ghi lại vào nǎm 1960 Bác về chống úng tại xã Hiệp Lực. Vừa đạp guồng nước, Bác nhắc nên lắp ổ bi vào trục để người đạp đỡ vất vả, mà nǎng suất cao hơn. Bác hỏi các cô thanh niên có biết hát đối đáp không, rồi Bác lẩy Kiều: “Trǎm nǎm trông cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan”. Bác bảo các cô lẩy tiếp, các cô vì mải ngắm Bác nên không chuẩn bị không lẩy tiếp được chỉ biết vỗ tay, và xin mắc nợ với Bác. Bác nói: “Muốn lao động đỡ mệt và có sức mạnh, thanh niên nên tổ chức vǎn nghệ”.

Nǎm 1958, Bác về Nam Định dự Hội nghị “Bàn về sản xuất, nông nghiệp”. Bác chǎm chú lắng nghe các bản báo cáo thành tích của các đơn vị. Bác chú ý bản báo cáo nói về cách làm các loại phân bón. Bác đứng lên nhìn khắp hội trường và hỏi to: “Chú nào gánh bùn đổ-cho hai sào lúa có đây không?”, không có ai đứng dậy. Một đồng chí cán bộ tỉnh uỷ báo cáo, là người nông dân đó không thuộc diện tham dự hội nghị này. Bác phê bình và yêu cầu cho người đó đến dự hội nghị ngay. Bác hỏi chị em phụ nữ ở đây có đội phân nữa không? Các đồng chí cán bộ tỉnh chưa dám báo cáo Bác ngay, may có chị đại biểu nữ đỡ lời: “Thưa Bác, chị em ở đây không quen gánh nên cái gì cung đội ạ”, Bác dặn: “Nên tìm cách cải tiến vận chuyển bằng xe để đỡ cho chị em về lâu dài”.

Nǎm 1963, Bác về chống hạn ở Nghiêm Xuân (huyện Thường Tín) hôm đó Bác đến sớm, đồng bào còn vắng, tiện đường Bác xuống khu dân cư, hỏi thǎm dân- Bác vào một nhà dân thǎm và hỏi tết vừa qua gia đình đón, tết có vui không. Có cụ già hơn 60 tuổi thưa với Bác là ǎn tết không vui. Bác hỏi vì sao, cụ kể lại gia đình từ xưa có ngôi nhà gần đường, vừa qua Huyện có lệnh đuổi bà đi để mở đường không bồi thường, cũng không chỉ cho gia đình chuyển đi đâu, vì thế gia đình ǎn tết không vui, người ra lệnh ấy là ông Chủ tịch huyện. Bác lắng nghe mà vẻ mặt không vui Bác bảo, làm người cán bộ như vậy là không xứng đáng không khác gì cường hào xưa. Sau đó Bác chỉ thị phải điều tra làm rõ ngay. Vị Chủ tịch kia bị kỷ luật. Lòng dân rất hả dạ và nhắc mãi chuyện đó như làm gương cho cán bộ đối với dân phải làm gì. Hơn nữa hôm đó Bác tham gia chống hạn với dân, trời nắng to có đồng chí cầm ô che cho Bác, Bác bảo: “Dân chịu được thì Bác cũng chịu được, chú làm như Bác là ông quan thời xưa”. Trên đường đi chống hạn giúp dân, Bác thấy đi trước Bác có xe công an còi inh ỏi dẹp đường, Bác cho dừng xe và lệnh cho xe công an dừng lại, Bác mới đi tiếp. Bác phê bình: “Bác xuống với dân để chống hạn mà các chú làm cho dân họ sợ thì xuống làm gì?”. Trong di sản tư tưởng của Bác, vấn đề giải phóng nông dân chiếm một vị trí quan trọng. Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, tiếp cận với nhiều xu hướng chính trị của loài người, Bác phân tích lựa chọn tiếp thu những gì tinh túy phù hợp với hoàn cảnh đất nước và vận dụng một cách sáng tạo những tinh hoa đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước nhà. Người đi đến kết luận vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam thực chất là vấn đề nông dân. Nông dân vừa là động lực nhưng cũng là đối tượng của cách mạng. Cho nên Bác dành nhiều trí tuệ, công sức và thời gian cho vấn đề nông dân. Từ tấm bé, xuất phát từ trực quan sinh động, trước cảnh người nông dân làng quê khổ cực vì bị áp bức, bóc lột mà nghèo đói, từ đó mới có nhận thức do mất nước, không có tự do và động cơ ra đi tìm đường cứu nước một phần cũng được xuất phát từ vấn đề nông dân. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác nói nhiều viết nhiều; đấu tranh không mệt mỏi cho vấn đề giải phóng dân tộc, cho quyền lợi người nông dân. Bác bênh vực, xây dựng cho mình một hệ thống quan điểm về vấn đề nông dân trong hệ tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Bác đứng về nông dân, bênh vực quyền ldi củá nông dân nhưng không sa vào nông dân chủ nghĩa, không quá tả, không xô bồ khi phân tích mặt tốt, mặt phải hoàn thiện của nông dân trong cách nạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Những nǎm tháng cuối đời Bác, tuy sức khoẻ yếu nhưng Người dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị, hay các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm. Nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào, chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La mã, Bác sửa lại “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa cho chặt chẽ hơn: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu” chữ “để lại” vừa có tình và có nghĩa giữa xã viên và Hợp tác xã. Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích luỹ để khoảng 7 – 10% thu nhập Hợp tác xã là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích luỹ 5 – 10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc dễ nhớ để làm theo.

hochiminhhoc.com

Hãy nhớ đến những người bị tù đày vì chính trị của chúng ta

Trường hợp Lê Ngọc Liên

Bị đày sang Tân Calêđôni1) năm 1913, được tha năm 1924, người đồng bang của chúng ta lại bị khước từ việc trả về quê hương.

Ngày 5-9-1913, sau những quả bom ở Hà Nội và Thái Bình, toà đề hình Hà Nội, trong một phiên toà xử kín, căn cứ vào những báo cáo của cảnh sát, quyết định kết án tử hình vắng mặt Phan Bội Châu và hoàng thân Cường Để, đưa lên máy chém khoảng chục người vô tội và đưa đi đày khoảng ba chục người khác.

Lê Ngọc Liên bị nỗi bất hạnh và được vinh dự liệt vào số sau này với lời nhận xét khó hiểu như sau: “Âm mưu chống an ninh quốc gia và đồng loã tụ tập với bọn bất lương”2).

Chúng ta thử tìm cách giải đáp trò đố chữ này.

Năm 1913, Lê Ngọc Liên với tư cách một người thợ đã “hợp tác” với Khánh Ký, một người anh em của mình. Ông Khánh Ký hiện nay là một trong những nhà nhiếp ảnh lớn nhất ở Sài Gòn và ông ta chưa bao giờ, theo tôi biết, bị tai tiếng hoặc tố cáo là bất lương. Như thế, không phải vì là một người đã hợp tác với Khánh Ký mà Lê Ngọc Liên bị kết án phát vãng.

Vậy thì vì lý do gì? – Như thế này: thời bấy giờ có một hội lớn theo chủ nghĩa dân tộc gọi là “Đông kinh nghĩa thục”. Được thành lập do những nho sĩ có danh vọng nhất ở Bắc Kỳ, trong đó có ông Cử Can, thân sinh Lương Ngọc Quyến, người anh hùng của cuộc khởi nghĩa lớn Thái Nguyên, các ông Phan Tiên Phong và Phan Trọng Kiên, anh em của Phan Văn Trường, trạng sư ở toà thượng thẩm Pari, hội “Đông kinh nghĩa thục” dự định truyền bá học vấn trong quảng đại quần chúng nhân dân của chúng ta. Hội mở tại Hà Nội những lớp học công khai và không lấy tiền. Lê Ngọc Liên dự những lớp ấy, kết thân với vài người bạn và mời họ về nhà uống trà, chỉ có thế.

Bỗng những vụ đánh bom xảy ra. Một sự đàn áp khốc liệt đã ập xuống những hội viên của “Đông kinh nghĩa thục”. Nhà cầm quyền bắt giam bừa bãi giáo sư, học sinh và bạn bè của họ. Khi cảnh sát xông vào nhà Lê Ngọc Liên, họ thấy người đồng hương của chúng ta đang ngủ trưa với một trong những người bạn cùng lớp. Thế là đủ lắm rồi: đấy là những người âm mưu chống an ninh quốc gia, đấy những kẻ đồng loã tụ tập với bọn bất lương!

Lê Ngọc Liên đã bị đày sang Tân Calêđôni vào tháng 9-1913 như thế đấy.

Ngày 29-12-1924, anh chính thức biết tin mình được tha. Đến thời điểm này, anh đã trải qua 11 năm bị đày ải. Quả thật, cũng đã đến lúc, vì những gì anh sai phạm…, người ta phải để cho anh trở về xứ sở với gia đình của mình.

Các bạn tin như thế à? – Các bạn đã nhầm. Ngay lúc đó, Lê Ngọc Liên được bọn quản lao báo cho biết là họ hoàn toàn không có trách nhiệm gì về việc hồi hương của anh và anh phải tự mình xoay sở mọi phí tổn từ Numêa1) đến Hải Phòng.

Anh ta, một người bị đày ải, thế họ muốn anh ta trả bằng cái gì mới được chứ? Thật là ngu xuẩn và đê tiện. Nhưng, chính quyền thực dân là như thế đấy.

Ngày 20-1-1926, Lê Ngọc Liên gửi đơn lên thống đốc Tân Calêđôni. Không được trả lời. Ngày 25-2-1926, gửi đơn lên Bộ trưởng thuộc địa. Không được trả lời. Lê Ngọc Liên nhờ Hội những người lao động Đông Dương ở Mácxây can thiệp, hội này nhờ phân hội Nhân quyền Mácxây và phân hội Mácxây lại nhờ Uỷ ban trung ương của Hội ở Pari (tháng 6-1926). Không được trả lời.

Trước sự lẩn tránh chung ấy, ở phía hữu và phía tả, người đồng hương của chúng ta sẽ buộc phải, theo người ta nói với tôi, nhờ đến Hội chữ thập đỏ quốc tế và cả Đảng Cộng sản. Như thế người ta sẽ có thêm một bằng chứng rằng chính là Chính phủ đẩy những người An Nam đến với chủ nghĩa bônsêvích mà về chủ nghĩa này, Chính phủ lại không ngừng vung vẩy một con ngoáo ộp, cố nhiên là để lừa dối hòng che lấp những việc làm bẩn thỉu của mình. Nhưng ngoại trừ Chính phủ và bọn thống đốc, phải chăng người ta có thể tin chắc rằng những tổ chức gọi là thuộc phái tả, cụ thể ở đây là Hội nhân quyền, đã hơi quá hững hờ khi phải bảo vệ quyền của những quân khốn khổ người da màu?

NGUYỄN ÁI QUỐC

——————————–

Báo L’Ame Annamite,
ngày 1-2-1927.

cpv.org.vn

Bác nói chuyện tại lớp chỉnh huấn khóa II của Bộ công an

Gần một tháng học tập, các cô, các chú đã thấy được cách mạng xã hội chủ nghĩa là vĩ đại. Thấy được như vậy là tiến bộ, nhưng chưa đủ. Các cô, các chú là cán bộ cần phải nhận thức sâu hơn nữa. Phải thấy càng vĩ đại bao nhiêu thì càng gian khổ bấy nhiêu. Ví dụ: đào một con kênh càng rộng, càng sâu, càng dài thì cần phải bỏ ra nhiều công sức, càng phải vất vả khó nhọc. Đó mới chỉ là việc đào kênh, còn xây dựng chủ nghĩa xã hội là thay đổi cả xã hội, thay đổi cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm no và hạnh phúc. Một cuộc thay đổi vĩ đại như vậy tất nhiên phải mất nhiều công sức. Mất nhiều công sức thì nhất định là phải vất vả, gian khổ. Nhưng gian khổ mỗi thời kỳ có khác nhau: hồi hoạt động bí mật gian khổ khác, trong kháng chiến gian khổ khác, bây giờ xây dựng chủ nghĩa xã hội gian khổ khác. Gian khổ đó ai phải ra sức vượt qua trước? Đó là Đảng, là đảng viên và cán bộ. Phải nhận thức cho rõ điều ấy, chớ không phải vào Đảng để hưởng thụ, để làm quan cách mạng. Và thấy gian khổ là để vượt qua, chớ không phải là để lùi bước.

Nhiệm vụ của công an thì nhiều, nhưng nói tóm tắt là bảo vệ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa. Nên nhớ rằng bọn Mỹ – Diệm, bọn phản động không bao giờ muốn cho chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, công an phải luôn luôn cảnh giác ngăn ngừa những hành động phá hoại của chúng để bảo vệ lợi ích của nhân dân, bảo vệ sự nghiệp cách mạng. Đó là nhiệm vụ nặng nề, gian khổ đồng thời cũng rất vẻ vang. Không phải được đăng báo, được nêu trên đài phát thanh mới là vẻ vang, mà bất kỳ làm công việc gì có ích cho cách mạng, cho nhân dân, cho xã hội đều là vẻ vang cả.

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là phải đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân. Trong đầu óc mọi người đều có sự đấu tranh giữa cái “thiện” và cái “ác”, hoặc nói theo cách mới là sự đấu tranh giữa tư tưởng cộng sản và tư tưởng cá nhân.

Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dịa, sinh sôi, nảy nở rất dễ.

Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra nhiều cái xấu, thiên hình vạn trạng. Ví dụ: lười biếng, hủ hoá, suy tính tiền đồ, cho rằng ngành công an gian khổ, vất vả nhiều mà ít được ai biết, ít được huân chương; đòi hỏi đãi ngộ, so bì lương thấp, lương cao; công thần địa vị: cho rằng ở trong Đảng lâu năm mà không được đề bạt bằng người vào Đảng ít năm hơn; không an tâm công tác; ở công an thì muốn sang ngành khác; có quyền hạn một chút là thiếu dân chủ, chỉ tay năm ngón; đối với nội bộ thì suy bì, ganh tị, không đoàn kết với nhau, v.v.. Còn có thể nêu ra nhiều ví dụ nữa, nhưng tóm lại cái gì trái với đạo đức cách mạng đều là chủ nghĩa cá nhân. Muốn thành người cách mạng, thành người cộng sản chân chính thì phải chống chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa cá nhân không phải chống lại một lần mà hết được. Trong lớp này, các cô các chú kiểm thảo thành khẩn là điều tốt, tiến bộ. Nhưng không phải kiểm thảo xong là gột rửa hết chủ nghĩa cá nhân. Ví như rửa mặt thì phải rửa hàng ngày. Vì vậy kiểm thảo ở đây không phải là xong, là đủ mà còn phải tiếp tục luôn luôn phê bình, tự phê bình, kiểm thảo trong mọi việc.

Bác nói một điểm nữa là: làm công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì công an mới hoàn thành được tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được. Nếu trong công tác, các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì nhất định các cô, các chú thành công. Muốn được như vậy cũng phải trau dồi đạo đức cách mạng, cũng phải chống chủ nghĩa cá nhân.

Một điểm nữa là tất cả cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động phải nâng cao tinh thần trách nhiệm. Như Bác đã nói ở trên, nhiệm vụ của các cô, các chú rất nặng nề. Muốn làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang đó, phải luôn luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm. Có như vậy mới xứng đáng là người cán bộ được Đảng và nhân dân tín nhiệm.

Tóm lại:

1. Phải trau dồi đạo đức cách mạng,
2. Phải nâng cao tinh thần trách nhiệm.

Muốn vậy phải luôn luôn chống chủ nghĩa cá nhân.

——————————–

Nói ngày 16-5-1959.

Sách Phát huy tinh thần cầu học cầu tiến bộ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.84-86.

cpv.org.vn

Thư trả lời Tổng thống Mỹ Risớt M. Níchxơn (25-8-1969)

Gửi Ngài Risớt M. Níchxơn, Tổng thống nước Mỹ, Oasinhtơn

Ngài Tổng thống,

Tôi đã nhận được thư của Ngài.

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chà đạp lên các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, đến nay vẫn kéo dài ở miền Nam Việt Nam. Mỹ vẫn đẩy mạnh các cuộc hành quân càn quét, tǎng cường các cuộc đánh phá bằng máy bay B.52 và chất độc hoá học, gây thêm nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam. Chiến tranh kéo dài làm cho nước Mỹ càng hao người tốn của. Tôi vô cùng công phẫn trước những tổn thất và tàn phá do quân Mỹ gây ra cho nhân dân và đất nước chúng tôi; tôi cũng rất xúc động thấy ngày càng có nhiều thanh niên Mỹ chết vô ích ở Việt Nam vì chính sách của nhà cầm quyền Mỹ.

Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hoà bình, một nền hoà bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình. Giải pháp toàn bộ 10 điểm của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam là cơ sở hợp tình hợp lý để giải quyết vấn đề Việt Nam, giải pháp đó đã được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ.

Trong thư, Ngài bày tỏ lòng mong muốn hành động cho một nền hoà bình công bằng. Muốn vậy, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài. Đó là cách đúng đắn để giải quyết vấn đề Việt Nam phù hợp với quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam, với lợi ích của nước Mỹ và nguyện vọng hoà bình của nhân dân thế giới.

Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự.

Với thiện chí của phía Ngài và phía chúng tôi, chúng ta có thể đi tới những cố gắng chung để tìm một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam.

Chào Ngài

Hà Nội, ngày 25 tháng 8 nǎm 1969
Hồ Chí Minh

cpv.org.vn

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập, Tự do, Hạnh phúc

(Tuyệt đối bí mật)                                                                          Nhân dịp mừng 75 tuổi

Người làm thơ rất nổi tiếng, ở Trung Quốc đời nhà Đường là cụ Đỗ Phủ có câu thơ rằng: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Nghĩa là: Người thọ bảy mươi, xưa nay hiếm.

Nǎm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khoẻ. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người “xưa nay hiếm”.

Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy nǎm mấy tháng nữa?

Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để

củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hǎng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy nǎm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

Về phong trào cộng sản thế giới – Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

*

*      *

Về việc riêng – Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hoả táng”. Tôi mong rằng cách “hoả táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thǎm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thǎm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.

Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta được thống nhất, thì nên gửi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam.

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên nhi đồng quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới./.

Chứng kiến,                                                                  Hà Nội, ngày 15 tháng 5 nǎm 1965
Bí thư thứ nhất                                                                                                Hồ Chí Minh
Ban Chấp hành Trung ương: Lê Duẩn
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 nǎm 1965

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập, Tự do, Hạnh phúc

(Tuyệt đối bí mật)

Nǎm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Người ta đến khi tuổi tác càng cao thì sức khoẻ càng thấp. Đó là một điều bình thường.

Nhưng không ai đoán biết được tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy tháng, mấy nǎm nữa?

Vì vậy, tôi viết sẵn và để lại mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

Về việc riêng

Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hoả táng”. Tôi mong rằng cách “hoả táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.

Đồng bào mỗi miền nên chọn 1 quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thǎm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thǎm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp . Việc sǎn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão.

Tháng 5/1968, khi xem lại thư này tôi thấy cần phải viết thêm mấy điểm không đi sâu vào chi tiết.

Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man. Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khǎn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm. Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khǎn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi.

Đầu tiên là công việc đối với con người.

Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ǎn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu

Ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ǎn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.
Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.

Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, v.v., thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện.

Trong bao nǎm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khǎn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 nǎm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất.

Ở đây nói về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa

đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập nửa ngày lao động. Củng cố quốc phòng. Chuẩn bị mọi việc để thống nhất Tổ quốc…

Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

10-5-1969

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng, thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thǎm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp nǎm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc, đời nhà Đường, có câu rằng “nhân sinh thất thập cổ lai hy” nghĩa là “người thọ 70, xưa nay hiếm”.

Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đã ngoại 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa ?

Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

DI CHÚC
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
CÔNG BỐ NĂM 1969

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập, Tự do, Hạnh phúc

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam – Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thǎm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp nǎm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

*

*      *

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là “người thọ 70, xưa nay hiếm”.

Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa ?

Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hǎng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

Về phong trào cộng sản thế giới – Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

*

*      *

Về việc riêng – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

*

*      *

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 nǎm 1969
HỒ CHÍ MINH

cpv.org.vn

Điếu vǎn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam

Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước,
Thưa các đồng chí và các bạn,

Hồ Chủ Tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa!
Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn!
Dân tộc ta và Đảng ta mất một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại.

Phong trào cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ mất một chiến sĩ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết.

Đồng bào và chiến sĩ cả nước ta thương nhớ Người khôn xiết! Anh em và bầu bạn khắp nǎm châu cùng chia sẻ nỗi đau buồn sâu sắc của chúng ta.

*

*       *

Hơn 60 nǎm qua, từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, Hồ Chủ Tịch đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ.

Với tấm lòng yêu nước nồng nàn, Hồ Chủ Tịch đã sớm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin ánh sáng soi đường cứu dân, cứu nước. Hồ Chủ Tịch là người Việt Nam đầu tiên đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn
cảnh nước ta, vạch đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam từng bước tiến lên, từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Hồ Chủ Tịch là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, là người xây dựng nền Cộng hoà dân chủ Việt Nam và Mặt trận dân tộc thống nhất, là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Người là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta.

Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta.

*

*       *

Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn nǎm lịch sử. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó là lời kêu gọi cứu nước khẩn thiết hiện nay của Tổ quốc, là lời hịch của ông cha ta vang vọng tự ngàn xưa, là nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta đối với muôn đời con cháu. Người nói: “Nước ta là một, dân tộc ta là một”. “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”. Lúc còn sống, Người luôn luôn theo sát từng bước đi của cách mạng giải phóng miền Nam, ngày đêm Người tưởng nhớ đến đồng bào và chiến sĩ miền Nam với tấm lòng thương yêu không bờ bến.

Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Giương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thoả lòng mong ước của Người.

*

*      *

Hoài bão lớn nhất của Hồ Chủ Tịch là Tổ quốc được giải phóng, nhân dân được hạnh phúc. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ǎn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Người còn nói: “Miền Bắc nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Lúc còn sống, Người dành tất cả lòng hiền từ ấm áp cho đồng bào, con cháu, già, trẻ, gái, trai, miền Bắc, miền Nam, miền xuôi, miền ngược. Khi mất đi, Người còn “để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”.

Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Đem hết sức mình tiếp tục phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân ta, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào.

*

*      *

Hồ Chủ Tịch hằng quan tâm và dày công xây dựng Đảng ta thành một khối đoàn kết, thống nhất vững mạnh. Người dạy: “Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí”. Hồ Chủ Tịch là hiện thân của khối đoàn kết dân tộc, là hiện thân tình ruột thịt Bắc – Nam. Người nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Người luôn luôn cǎn dặn chúng ta phải giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết và tình thương yêu đồng bào, đồng chí.

Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Hết lòng hết sức giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, tǎng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi.

Hồ Chủ Tịch là tượng trưng cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trái tim, khối óc của Người dành cho dân tộc Việt Nam ta cũng hướng về giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Là người học trò trung thành của Các Mác và Lênin, Hồ Chủ Tịch chẳng những là một nhà yêu nước vĩ đại, mà còn là một chiến sĩ xuất sắc trong phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc của thế kỷ XX. Hồ Chủ Tịch thường dạy chúng ta phải chǎm lo bảo vệ sự đoàn kết quốc tế, vì sự nghiệp to lớn của cách mạng Việt Nam, vì nghĩa vụ cao cả đối với cách mạng thế giới.

Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Luôn luôn phát huy tình cảm quốc tế trong sáng của Hồ Chủ Tịch, hết lòng góp sức vào việc khôi phục và tǎng cường sự đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa và giữa các Đảng anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản; thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc Đông Dương; ra sức ủng hộ phong trào cách mạng của nhân dân các nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

*

*      *

Cả cuộc đời vĩ đại của Hồ Chủ Tịch là tấm gương mãi mãi sáng ngời chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị. Hồ Chủ Tịch dạy chúng ta: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chủ Tịch. Noi gương Người, toàn thể nhân dân ta, thanh niên ta nguyện ra sức trau dồi mình thành những con người mới, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội mới, mang lá cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ Tịch tới đích cuối cùng.

*

*      *

Hồ Chủ Tịch đã qua đời! Nhưng Người để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu. Đó là thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Toàn thể dân tộc Việt Nam ta, mỗi người Việt Nam ta mãi mãi ghi lòng tạc dạ công ơn trời biển của Người.

Trước anh linh của Hồ Chủ Tịch, chúng ta nguyện suốt đời trung thành với Người, đem hết tâm hồn và nghị lực, đoàn kết thành một khối sắt thép, phấn đấu quên mình, quyết làm tròn nghĩa vụ cao cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân ta và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới.

Hồ Chủ Tịch đã qua đời! Nhưng Người luôn luôn dẫn dắt chúng ta. Chúng ta vẫn cảm thấy có Người luôn luôn bên cạnh. Bởi vì chúng ta vẫn đi theo con đường của Người, tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Người. Bởi vì Người vẫn sống mãi với non sông đất nước, tên tuổi và hình ảnh của Người ngày càng khắc sâu trong trái tim, khối óc của mỗi chúng ta.

Các đồng chí và đồng bào thân mến!

Vĩnh biệt chúng ta, Bác Hồ có để lại cho Đảng ta, cho toàn thể đồng bào và chiến sĩ hai miền Nam – Bắc một bản Di chúc lịch sử. Đó là những lời cǎn dặn cuối cùng củaBác, là những tình cảm và niềm tin của Bác đối với chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau.

Chúng ta hãy xứng đáng với Bác hơn nữa!

Hãy nén đau thương, anh dũng phấn đấu, hǎng hái vươn lên, đạp bằng mọi trở lực, chông gai, quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, thực hiện lời thề danh dự trong giờ phút vĩnh biệt thiêng liêng này!

Hồ Chủ Tịch, lãnh tụ vĩ đại, người thầy kính yêu của Đảng ta, của Dân tộc ta, đời đời sống mãi!

cpv.org.vn

Danh mục các lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký từ nǎm 1966 đến nǎm 1969

NǍM 1966

– Lệnh số 1-LCT, ngày 3-1-1966, thưởng 20 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 35 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 140 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 63 đơn vị, 132 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 7, 8, 9, 10-1965; truy tặng 103 Huân chương Chiến công cho các liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 2-LCT, ngày 3-1-1966, thưởng 12 Huân chương Chiến công các hạng cho 7 đơn vị, 5 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 7, 8, 9, 10-1965; truy tặng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất cho hai liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 3-LCT, ngày 3-1-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho Đại đội xe 23, thuộc Trạm B2 Bắc, Vận tải B, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho thuyền trưởng thuyền số 6 Lê Xuân Long thuộc hợp tác xã vận tải Phúc Thọ, Nghệ An, đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 4-LCT, ngày 3-1-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho bác sĩ thú y, chuyên gia Mông Cổ, đã giúp Việt Nam về kỹ thuật thú y và chǎn nuôi.

– Lệnh số 5-LCT, ngày 3-1-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Tần Chí Hùng, đã giúp Việt Nam xây dựng Nhà máy mì, bánh, kẹo Hà Nội.

– Lệnh số 6-LCT, ngày 10-1-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho 5 chuyên gia Trung Quốc đã giúp Việt Nam nghiên cứu kỹ thuật trồng lúa và mía.

– Lệnh số 7-LCT, ngày 13-1-1966, thưởng 5 Huân chương Quân công hạng Ba, 15 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 17 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 20 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 26 đơn vị, 31 cán bộ và chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 8, 9, 10-1965; truy tặng 14 Huân chương các loại cho 14 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 8-LCT, ngày 14-1-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho nhân dân, cán bộ Đào Xá, huyện Thanh Thuỷ, Phú Thọ (nay thuộc Vĩnh Phú); xã viên, cán bộ hợp tác xã nông nghiệp Liên Phương, huyện Yên Mô, Ninh Bình.

– Lệnh số 9-LCT, ngày 14-1-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đoàn nghệ thuật múa rối và chiếu hình bìa tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) sang thǎm và biểu diễn ở nước ta.

– Lệnh số 10-LCT, ngày 19-1-1966, thưởng 52 Huân chương Chiến công cho 40 đơn vị và 12 cán bộ chiến sĩ quân đội, dân quân, tự vệ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 10, 11-1965; truy tặng 16 Huân chương Chiến công cho 16 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 11-LCT, ngày 19-1-1966, thưởng 55 Huân chương các loại cho 41 đơn vị, 14 cán bộ chiến sĩ quân đội, dân quân, tự vệ đã lập chiến công trong các trận chiến đấu tháng 10, 11, 12-1965; truy tặng 12 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 12 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 12-LCT, ngày 19-1-1966, thưởng 48 Huân chương Quân công cho 23 đơn vị, 25 cán bộ, chiến sĩ quân đội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng 19 Huân chương Chiến công cho 19 liệt sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 13-LCT, ngày 20-1-1966, thưởng 7 Huân chương Chiến công cho 6 đơn vị và một chiến sĩ công an vũ trang có nhiều thành tích trong các trận chiến đấu tháng 5, 6, 7, 8, 9-1965; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho liệt sĩ Phạm Viết Sơn đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 14-LCT, ngày 24-1-1966, thưởng 6 Huân chương Chiến công hạng Nhì và hạng Ba cho 6 đơn vị công an vũ trang đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 9, 10, 11-1965.

– Lệnh số 15-LCT, ngày 24-1-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho nông trường Rạng Đông đã lập chiến công trong trận chiến đấu ngày 4-9-1965.

– Lệnh số 16-LCT, ngày 25-1-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì cho đơn vị 152 đảo Bạch Long Vĩ thuộc Quân khu Đông Bắc đã bắn rơi một máy bay Mỹ ngày 22-1-1966.

– Lệnh số 17-LCT, ngày 2-2-1966, thưởng 54 Huân chương các loại cho 28 đơn vị, 26 cán bộ và chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 8, 9, 10, 11-1965; truy tặng 35 Huân chương các loại cho 35 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 18-LCT, ngày 5-2-1966, thưởng 48 Huân chương Lao động cho 48 chuyên gia Trung Quốc đã giúp Việt Nam đo đạc và lập bản đồ miền Bắc.

– Lệnh số 19-LCT, ngày 5-2-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho cán bộ và chiến sĩ công an thành phố Nam Định có thành tích xuất sắc trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ ngày 28-6 và các ngày 2, 4-7-1965.

– Lệnh số 20-LCT, ngày 5-2-1966, cử ông Nguyễn Ngọc Vũ làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Mali.

– Lệnh số 21-LCT, ngày 5-2-1966, cử ông Nguyễn Vǎn Phát làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Gana.

– Lệnh số 22-LCT, ngày 5-2-1966, bổ nhiệm Chủ nhiệm Uỷ ban Thống nhất Chính phủ Nguyễn Vǎn Vịnh kiêm giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

– Lệnh số 23-LCT, ngày 7-2-1966, thưởng 22 Huân chương Chiến công hạng Nhì cho 12 đơn vị, 10 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 8, 9, 10, 11, 12-1965.

– Lệnh số 24-LCT, ngày 19-2-1966, thưởng 2 Huân chương Lao động hạng Nhất, 3 Huân chương Lao động hạng Nhì, 5 Huân chương Lao động hạng Ba cho nhân dân và cán bộ 10 tỉnh đã lập nhiều thành tích trong phong trào thi đua làm thuỷ lợi hai nǎm 1964-1965.

– Lệnh số 25-LCT, ngày 15-3-1966, thưởng 12 Huân chương Chiến công cho 11 đơn vị và một cán bộ công an vũ trang đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh nǎm 1965; truy tặng 3 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 3 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 26-LCT, ngày 19-3-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đoàn ca múa Phương Đông (Trung Quốc) sang thǎm và biểu diễn ở Việt Nam.

– Lệnh số 27-LCT, ngày 22-3-1966, thưởng 6 Huân chương Lao động hạng Ba cho 6 đơn vị thuộc ngành nội thương đã hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước nǎm 1965.

– Lệnh số 28-LCT, ngày 22-3-1966, thưởng 116 Huân chương Lao động và Huân chương Chiến công cho 91 đơn vị và 25 cá nhân đã lập nhiều thành tích đảm bảo giao thông vận tải nǎm 1965; truy tặng 4 Huân chương Lao động hạng Ba cho một thuỷ thủ và 3 công nhân đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 29-LCT, ngày 22-3-1966, thưởng 5 Huân chương Lao động cho 5 tỉnh đã lập nhiều thành tích xoá nạn mù chữ ở vùng cao.

– Lệnh số 30-LCT, ngày 25-3-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đoàn xiếc của Bộ Đường sắt Trung Quốc, sang thǎm và biểu diễn ở Việt Nam.

– Lệnh số 31-LCT, ngày 25-3-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Lưu Bảo Nhiệm, đã giúp Việt Nam kỹ thuật trồng khoai lang.

– Lệnh số 32-LCT, ngày 25-3-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Chung Thạch Kim, đã giúp tỉnh Quảng Ninh đào tạo cán bộ, thuỷ thủ và xây dựng đoàn tàu đánh cá biển.

– Lệnh số 33-LCT, ngày 28-3-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Lưu Niệm Dân, đã giúp Việt Nam khảo sát và thiết kế đồng muối theo phương pháp khơi nước.

– Lệnh số 34-LCT, ngày 31-3-1966, thưởng 28 Huân chương Quân công và Chiến công cho 28 đơn vị, cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu nǎm 1965.

– Lệnh số 35-LCT, ngày 31-3-1966, thưởng 18 Huân chương Chiến công cho 9 đơn vị, 9 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu nǎm 1965; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất và 6 Huân chương Chiến công hạng Nhì cho 7 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 36-LCT, ngày 19-4-1966, thưởng 23 Huân chương Quân công, Chiến công cho 23 đơn vị và chiến sĩ quân đội, dân quân tự vệ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 1 và 2-1966; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất cho một liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 37-LCT, ngày 19-4-1966, thưởng 43 Huân chương Chiến công cho 24 đơn vị, 19 cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng 6 Huân chương Chiến công cho 6 liệt sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 38-LCT, ngày 19-4-1966, thưởng 155 Huân chương Chiến công cho cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu từ tháng 4 đến tháng 11-1965; truy tặng 98 Huân chương Chiến công cho các liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 39-LCT, ngày 19-4-1966, thưởng 14 Huân chương Chiến công cho 10 đơn vị, 4 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu nǎm 1965; truy tặng 33 Huân chương Chiến công cho 33 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 40-LCT, ngày 30-4-1966, thưởng 5 Huân chương Độc lập và 8 Huân chương Quân công cho 13 đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam đã lập nhiều chiến công vẻ vang và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

– Lệnh số 41-LCT, ngày 9-5-1966, thưởng một Huân chương Quân công và 33 Huân chương Chiến công cho 17 đơn vị, 17 cán bộ và chiến sĩ quân đội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng 31 Huân chương Chiến công cho 31 liệt sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 42-LCT, ngày 9-5-1966, thưởng 68 Huân chương Kháng chiến cho 68 cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân đã có nhiều thành tích trong kháng chiến; truy tặng 38 Huân chương Kháng chiến cho 38 cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân có nhiều thành tích và đã hy sinh trong kháng chiến.

– Lệnh số 43-LCT, ngày 9-5-1966, thưởng 2 Huân chương Quân công và 66 Huân chương Chiến công cho 50 đơn vị, 18 cán bộ, chiến sĩ quân đội đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu tháng 11 và 12-1965, tháng 1 và 2-1966; truy tặng 22 Huân chương Chiến công cho 22 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 44-LCT, ngày 14-5-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho hạ sĩ Nguyễn Thị Ngọc Đoàn, thuộc Đội 6, Cục 22, Bộ Công an, đã dũng cảm bảo vệ an toàn khách quốc tế trong lúc máy bay địch bắn phá.

– Lệnh số 45-LCT, ngày 17-5-1966, thưởng 125 Huân chương Lao động cho 125 chuyên gia Liên Xô đã giúp Việt Nam phát triển kinh tế và vǎn hoá.

– Lệnh số 46-LCT, ngày 17-5-1966, thưởng 5 Huân chương Lao động cho 5 chuyên gia Liên Xô đã giúp Việt Nam phát triển kinh tế và vǎn hoá.

– Lệnh số 47-LCT, ngày 17-5-1966, thưởng 127 Huân chương Chiến công cho 57 đơn vị, 70 cán bộ và chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu từ tháng 8 đến tháng 12-1965.

– Lệnh số 48-LCT, ngày 17-5-1966, thưởng một Huân chương Quân công và 73 Huân chương Chiến công cho 28 đơn vị, 46 cán bộ và chiến sĩ quân đội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng 14 Huân chương Chiến công cho 14 liệt sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 49-LCT, ngày 17-5-1966, thưởng 64 Huân chương Lao động cho 64 cán bộ và chiến sĩ Đoàn 559 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; truy tặng 2 Huân chương Lao động cho một cán bộ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ và một cán bộ đã từ trần.

– Lệnh số 51-LCT, ngày 18-5-1966, thưởng 2.186 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang cho cán bộ và chiến sĩ đã phục vụ trong quân đội và công an vũ trang.

– Lệnh số 53-LCT, ngày 18-5-1966, thưởng 5 Huân chương Chiến công cho các đơn vị đã lập thành tích xuất sắc trong những trận chiến đấu nǎm 1965.

– Lệnh số 58-LCT, ngày 25-6-1966, thưởng 7 Huân chương Chiến công cho các đơn vị đã lập nhiều thành tích trong công tác nǎm 1965.

– Lệnh số 59-LCT, ngày 4-7-1966, cử Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại các nước Cộng hoà Angiêri Dân chủ và Nhân dân, Cộng hoà Cônggô (Bradavin), Cộng hoà Hồi giáo Môritani, Cộng hoà A Rập Yêmen.

– Lệnh số 60-LCT, ngày 12-7-1966, thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 2 đơn vị đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 61-LCT, ngày 12-7-1966, truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho giao thông viên hoả tốc Ngô Vǎn Phấn, thuộc Cục bưu điện Trung ương, Tổng cục bưu điện và truyền thanh, đã nêu cao tinh thần dũng cảm bảo vệ an toàn công vǎn, tài liệu, bảo đảm hành trình đúng thời gian quy định và đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 62-LCT, ngày 12-7-1966, thưởng 51 Huân chương Chiến công cho 11 đơn vị, 40 cán bộ, chiến sĩ quân đội, công nhân quốc phòng và thanh niên xung phong đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.

– Lệnh số 63-LCT, ngày 12-7-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho Tổng đội 41 thuộc Công trình thi công đường dây thông tin ngày 15-6-1966 đã bắn rơi một máy bay Mỹ.

– Lệnh số 64-LCT, ngày 26-7-1966, thưởng 21 Huân chương Lao động cho 21 đơn vị và địa phương đã hoàn thành xuất sắc công tác bổ túc vǎn hoá trong kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất (1961-1965).

– Lệnh số 65-LCT, ngày 26-7-1966, thưởng 6 Huân chương Lao động hạng Ba cho các địa phương đã có thành tích xuất sắc trong cuộc vận động 2 nǎm (1964-1965) thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.

– Lệnh số 66-LCT, ngày 26-7-1966, thưởng 2 Huân chương Quân công, 94 Huân chương Chiến công cho 53 đơn vị, 43 cán bộ và chiến sĩ quân đội, dân quân, tự vệ và công nhân quốc phòng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 7 Huân chương Chiến công cho 7 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 67-LCT, ngày 28-7-1966, thưởng 28 Huân chương Chiến công cho 3 đơn vị, 25 cán bộ, chiến sĩ quân đội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu.

– Lệnh số 68-LCT, ngày 28-7-1966, truy tặng 57 Huân chương Chiến công cho 57 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 69-LCT, ngày 9-8-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho chuyên gia Liên Xô, kỹ sư trưởng A.V. Alếchxâyêvích, đã giúp Việt Nam xây dựng công trình thuỷ điện Thác Bà.

– Lệnh số 70-LCT, ngày 18-8-1966, thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và 30 Huân chương Chiến công cho 31 đơn vị quân đội, dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 71-LCT, ngày 19-8-1966, thưởng 2 Huân chương Chiến công cho 2 cán bộ Chi cục xǎng dầu Nghệ An, thuộc Tổng cục vật tư, đã anh dũng cứu tài sản của Nhà nước; truy tặng 3 Huân chương Chiến công cho 3 cán bộ đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 72-LCT, ngày 19-8-1966, thưởng 6 Huân chương Chiến công cho 2 đơn vị, 3 cán bộ và một chiến sĩ công an đã anh dũng cứu tài sản của Nhà nước trong các trận chiến đấu ngày 26-6 và ngày 7-7-1966.

– Lệnh số 73-LCT, ngày 20-8-1966, cử ông Nguyễn Việt Dũng làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Cộng hoà Dân chủ Đức.

– Lệnh số 74-LCT, ngày 1-9-1966, thưởng 23 Huân chương Chiến công cho 3 đơn vị, 20 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 8 Huân chương Chiến công cho 8 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 75-LCT, ngày 1-9-1966, truy tặng 59 Huân chương Chiến công cho 59 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 76-LCT, ngày 1-9-1966, thưởng 6 Huân chương Quân công cho 6 đơn vị đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 77-LCT, ngày 1-9-1966, thưởng 104 Huân chương Chiến công cho 77 đơn vị, 27 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 12 Huân chương Chiến công cho 12 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 78-LCT, ngày 6-9-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho Trưởng đoàn chuyên gia Trung Quốc Dư Khởi Đông, đã giúp Việt Nam xây dựng Nhà máy miến, mì chính Việt Trì và nghiên cứu việc trang bị thêm cho 7 nhà máy thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ.

– Lệnh số 79-LCT, ngày 9-9-1966, thưởng Huân chương Quân công hạng Ba cho binh chủng Thông tin thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm tốt nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc, phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 80-LCT, ngày 26-9-1966, ân xá và giảm án cho những phạm nhân đã cải tạo tốt.

– Lệnh số 81-LCT, ngày 28-9-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Đội công trình của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đã giúp tỉnh Hà Giang xây dựng cầu hữu nghị Giang Nam.

– Lệnh số 82-LCT, ngày 28-9-1966, truy tặng 113 Huân chương Chiến công cho 113 liệt sĩ quân đội đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 83-LCT, ngày 28-9-1966, thưởng 2 Huân chương Quân công, 48 Huân chương Chiến công cho 26 đơn vị, 24 cán bộ, chiến sĩ và dân quân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 84-LCT, ngày 28-9-1966, thưởng 3.547 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang và truy tặng 2 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang cho cán bộ, chiến sĩ đã phục vụ trong quân đội và công an vũ trang từ sau ngày hoà bình lập lại (20-7-1954).

– Lệnh số 85-LCT, ngày 28-9-1966, thưởng 48 Huân chương Lao động cho 48 đơn vị đã hoàn thành xuất sắc công tác bổ túc vǎn hoá trong kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất (1961-1965).

– Lệnh số 86-LCT, ngày 28-9-1966, thưởng 55 Huân chương Kháng chiến cho 55 cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân đã có nhiều thành tích trong thời kỳ kháng chiến; truy tặng 64 Huân chương Kháng chiến cho 64 cán bộ và nhân dân có nhiều thành tích và đã hy sinh trong kháng chiến.

– Lệnh số 87-LCT, ngày 7-10-1966, thưởng 13 Huân chương Lao động cho 13 đơn vị đã có nhiều thành tích trong cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế và vǎn hoá miền núi.

– Lệnh số 88-LCT, ngày 12-10-1966, thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, 48 Huân chương Chiến công cho 49 đơn vị công an đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trị an và đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ.

– Lệnh số 89-LCT, ngày 12-10-1966, thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Ba cho 2 đơn vị công an đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ.

– Lệnh số 90-LCT, ngày 12-10-1966, thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì cho công an vũ trang đã vượt mọi khó khǎn, làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trị an, phục vụ nhân dân và đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ.

– Lệnh số 91-LCT, ngày 12-10-1966, thưởng 33 Huân chương Chiến công cho 20 đơn vị, 13 cán bộ, chiến sĩ công an vũ trang đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trị an và đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ; truy tặng 5 Huân chương Chiến công cho 5 liệt sĩ công an vũ trang đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 92-LCT, ngày 27-10-1966, công bố Pháp lệnh quy định cấm nấu rượu trái phép.

– Lệnh số 93-LCT, ngày 28-10-1966, thưởng 128 Huân chương Chiến công cho 72 đơn vị, 56 cán bộ và chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 94-LCT, ngày 28-10-1966, truy tặng 148 Huân chương Chiến công cho 148 liệt sĩ quân đội đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 95-LCT, ngày 29-10-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho trưởng đoàn chuyên gia Liên Xô D.A. Mátvâyêvích, đã giúp Việt Nam về kỹ thuật tên lửa.

– Lệnh số 96-LCT, ngày 8-11-1966, thưởng 5 Huân chương Quân công, 91 Huân chương Chiến công cho 79 đơn vị, 17 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 20 Huân chương Chiến công cho 20 liệt sĩ quân đội đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 97-LCT, ngày 8-11-1966, thưởng 8 Huân chương Chiến công cho 6 đơn vị và 2 cán bộ công an vũ trang đã lập nhiều chiến công trong các trận chiến đấu chống máy bay Mỹ.

– Lệnh số 98-LCT, ngày 8-11-1966, thưởng 38 Huân chương Chiến công cho 11 đơn vị, 27 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 15 Huân chương Chiến công cho 15 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 99-LCT, ngày 8-11-1966, thưởng 3 Huân chương Chiến công cho 3 đơn vị đã lập nhiều thành tích trong công tác giao thông vận tải nǎm 1965.

– Lệnh số 100-LCT, ngày 16-11-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho công trình sư địa chất, trưởng đoàn chuyên gia Trung Quốc Hà Phát Vinh, đã giúp Việt Nam thǎm dò mỏ ở Sơn La và Lào Cai.

– Lệnh số 101-LCT, ngày 16-11-1966, thưởng 7 Huân chương Lao động hạng Ba cho các đơn vị thuộc Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng), đã có nhiều thành tích sản xuất phục vụ chiến đấu nǎm 1965.

– Lệnh số 102-LCT, ngày 19-11-1966, thưởng 4 Huân chương Lao động hạng Ba cho nhân dân, cán bộ và các lực lượng vũ trang các tỉnh Nghệ An, Nam Hà, Hà Tây và Thái Bình, đã có nhiều thành tích trong công tác phòng chống lụt bão, bảo vệ đê điều và các công trình thuỷ lợi nǎm 1966.

– Lệnh số 103-LCT, ngày 21-11-1966, thưởng 6 Huân chương Quân công và 94 Huân chương Chiến công cho 84 đơn vị, 16 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu; truy tặng 7 Huân chương Chiến công cho 7 liệt sĩ quân đội đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 104-LCT, ngày 29-11-1966, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia bóng đá Liên Xô K.V.Pêtrôvích, đã giúp Việt Nam huấn luyện đội bóng đá Trường huấn luyện kỹ thuật Trung ương.

– Lệnh số 105-LCT, ngày 1-12-1966, thưởng 5 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 3 đơn vị và 2 cá nhân thuộc đơn vị Tổng cục vật tư đã dũng cảm bảo vệ tài sản Nhà nước trong các trận chiến đấu ngày 29-6, ngày 1, 7, 12-7-1966; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho nhân viên bảo vệ thuộc Chi cục xǎng dầu Hải Phòng Trần Vǎn Mâu đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 106-LCT, ngày 6-12-1966, quyết định Phó Thủ tướng Phạm Hùng thôi kiêm chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Tài chính – Thương nghiệp Phủ Thủ tướng và chức Chủ nhiệm ủy ban Vật giá Nhà nước; ông Nguyễn Thanh Bình thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội thương để giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Tài chính – Thương nghiệp Phủ Thủ tướng, kiêm Chủ nhiệmủy ban Vật giá Nhà nước.

– Lệnh số 107-LCT, ngày 17-12-1966, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho 2 chuyên gia Trung Quốc Ngô Chí Đốc và Triệu Thụ Lâm, đã giúp Việt Nam trong việc sửa chữa cầu đường.

– Lệnh số 108-LCT, ngày 19-12-1966, cử ông Nguyễn Thọ Chân làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Liên Xô.

– Lệnh số 109-LCT, ngày 20-12-1966, thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Ba và 234 Huân chương Chiến công cho 60 đơn vị, 176 cán bộ, chiến sĩ đã lập nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 110-LCT, ngày 20-12-1966, truy tặng 133 Huân chương Chiến công cho 133 liệt sĩ đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 111-LCT, ngày 23-12-1966, thưởng 8 Huân chương Chiến công cho 8 đơn vị công an đã có nhiều thành tích trong huấn luyện, bảo vệ trật tự trị an và góp phần bắn rơi máy bay Mỹ trong nhiều trận chiến đấu.

– Lệnh số 112-LCT, ngày 23-12-1966, thưởng 4 Huân chương Chiến công cho 2 đơn vị và 2 chiến sĩ công an đã dũng cảm bảo vệ tài sản Nhà nước và nhân dân trong các trận chiến đấu tháng 4 và tháng 8-1966; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho đồng chí Trần Thị Phương, thuộc Đội phòng cháy chữa cháy phố Nam Dân, xã Thượng Kiệm, huyện Kim Sơn, Ninh Bình, đã anh dũng chiến đấu và hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 113-LCT, ngày 23-12-1966, thưởng 2 Huân chương Lao động hạng Nhì và hạng Ba cho 2 chuyên gia Trung Quốc Vương Vinh Long và Triệu Hải Truyền, đã giúp Việt Nam phát triển ngành dâu tằm và chǎn nuôi bò sữa.

– Lệnh số 114-LCT, ngày 30-12-1966, thưởng 156 Huân chương Lao động cho 156 cán bộ, công nhân, viên chức và xã viên hợp tác xã đã khắc phục khó khǎn, lập nhiều thành tích trong sản xuất và công tác; truy tặng 12 Huân chương Lao động cho 12 cán bộ, công nhân, viên chức và xã viên hợp tác xã đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 115-LCT, ngày 30-12-1966, thưởng 161 Huân chương Lao động cho 161 tổ, đội và phân xưởng xã hội chủ nghĩa đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch Nhà nước nǎm 1965 và gương mẫu trong phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ, cứu nước nǎm 1966.

– Lệnh số 116-LCT, ngày 30-12-1966, thưởng 584 Huân chương Lao động cho 584 đơn vị tiên tiến đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch Nhà nước nǎm 1965 và gương mẫu trong phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ, cứu nước nǎm 1966.

NǍM 1967

– Lệnh số 117-LCT, ngày 1-1-1967, tặng danh hiệu Anh hùng cho Khu Vĩnh Linh và 44 đơn vị thuộc các lực lượng vũ trang nhân dân và các ngành công, nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện và truyền thanh, y tế đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ, cứu nước.

– Lệnh số 118-LCT, ngày 1-1-1967, tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho 43 cán bộ và chiến sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam, dân quân và công an đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước.

– Lệnh số 119-LCT, ngày 1-1-1967, tặng danh hiệu Anh hùng lao động cho 68 cán bộ, công nhân, viên chức và xã viên hợp tác xã đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ, cứu nước.

– Lệnh số 01-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng Nhì và 39 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 42 đơn vị thuộc ngành công an đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trị an.

– Lệnh số 02-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba cho cán bộ và nhân dân thôn Trà Dương, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên đã anh dũng cứu chữa tài sản của Nhà nước trong trận chiến đấu ngày 14-10-1966.

– Lệnh số 03-LCT, ngày 3-1-1967, truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho đồng chí Hoàng Vǎn Phú, thuyền trưởng thuyền máy Nhất Thanh, thuộc hợp tác xã thuyền buồm Tháng Tám, Ty giao thông vận tải Quảng Ninh đã có thành tích về công tác vận tải trong nǎm 1965 và đã hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 04-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho tổ trưởng chuyên gia Trung Quốc Bạch Hiển Canh đã có công giúp Chính phủ ta trong việc thǎm dò mỏ than Uông Bí.

– Lệnh số 05-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Ba cho bác sĩ Nguyễn Luân và y sĩ Dương Thị Hồng Cẩm thuộc ngành y tế đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.

– Lệnh số 06-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng 29 Huân chương Kháng chiến hạng Ba cho 29 cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân đã có nhiều thành tích trong thời kỳ kháng chiến; truy tặng 1 Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, 34 Huân chương Kháng chiến hạng Ba cho 35 cán bộ và nhân dân có nhiều thành tích, đã hy sinh trong kháng chiến.

– Lệnh số 07-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng một Huân chương Lao động hạng Nhất, 5 Huân chương Lao động hạng Nhì và 7 Huân chương Lao động hạng Ba cho 8 trường học và 5 tổ giáo viên đã có nhiều thành tích xuất sắc trong nǎm học 1965-1966.

– Lệnh số 08-LCT, ngày 3-1-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho nhân dân và cán bộ xã Tân Tiến, huyện Vǎn Giang, tỉnh Hưng Yên đã có nhiều thành tích xuất sắc về phát triển mẫu giáo.

– Lệnh số 09-LCT, ngày 9-1-1967, truy tặng 11 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 11 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 10-LCT, ngày 9-1-1967, thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất cho 2 cán bộ đã lập được nhiều chiến công trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 11-LCT, ngày 9-1-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Diệu Trí Đức , đã có công giúp Chính phủ ta trong việc hướng dẫn sản xuất và đào tạo cán bộ kỹ thuật tại Nhà máy nhựa Tiền Phong (HảiPhòng).

– Lệnh số 12-LCT, ngày 10-1-1967, thưởng một Huân chương Lao động hạng Nhất cho phụ nữ khu Vĩnh Linh, 5 Huân chương Lao động hạng Nhì cho phụ nữ thành phố Hà Nội, Hải Dương, Quảng Bình, Vĩnh Phúc, Yên Bái, 13 Huân chương Lao động hạng Ba cho phụ nữ các tỉnh: Bắc Thái, Hà Tĩnh, Hải Phòng, Nam Hà, Nghệ An, Ninh Bình, Quảng Ninh, Sơn La, Thái Bình, Thanh Hoá, Nam Định, huyện Nam Sách (Hải Dương), xã Vĩnh Nam (khu Vĩnh Linh).

– Lệnh số 13-LCT, ngày 17-1-1967, thưởng 6 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 7 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 9 đơn vị, 4 cán bộ và chiến sĩ thuộc lực lượng công an, đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trật tự trị an và góp phần bắn rơi máy bay Mỹ; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho liệt sĩ Vũ Hữu Tháng, hạ sĩ công an vũ trang thành phố Hải Phòng, đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 14-LCT, ngày 28-1-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc Vương Cộng Hoà, đã có công giúp Chính phủ ta trong việc phát triển ngành nuôi ong.

– Lệnh số 15-LCT, ngày 3-2-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho Trưởng đoàn chuyên gia thể dục thể thao Trung Quốc Vươngấu Lương, đã có công giúp Chính phủ ta trong việc huấn luyện và đào tạo cán bộ thể dục thể thao.

– Lệnh số 16-LCT, ngày 7-2-1967, thưởng một Huân chương Quân công hạng Ba, 4 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 10 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 33 Huân chương Chiến công hạng Ba, cho 40 đơn vị, 8 cán bộ và chiến sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 17-LCT, ngày 11-2-1967, truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Trần Tử Bình, đã suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng.

– Lệnh số 18-LCT, ngày 17-2-1967, thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 6 Huân chương Chiến công hạng Ba cho một đơn vị và 7 cán bộ thuộc ngành công an làm tốt nhiệm vụ bảo vệ trị an; truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất cho thiếu uý cảnh sát Hoàng Cung thuộc Công an thị xã Hải Dương đã hết lòng phục vụ nhân dân và anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

– Lệnh số 19-LCT, ngày 18-2-1967, thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng Nhất cho Trường sĩ quan Pháo binh, Trường sĩ quan Hậu cần, Trường đại học Quân y có nhiều thành tích trong việc đào tạo cán bộ, kịp thời đáp ứng yêu cầu cho quân đội.

– Lệnh số 20-LCT, ngày 28-2-1967, truy tặng một Huân chương Chiến công hạng Nhất, 29 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 160 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 190 liệt sĩ quân đội và dân quân đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 21-LCT, ngày 28-2-1967, thưởng 16 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 48 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 102 Huân chương Chiến công hạng Ba, cho 94 đơn vị, 72 cán bộ và chiến sĩ quân đội, dân quân, tự vệ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 22-LCT, ngày 4-3-1967, cử:

– Ông Ngô Minh Loan làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thay ông Trần Tử Bình đã từ trần.

– Ông Phạm Ngọc Quế làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Nhân dân Bungari thay ông Phạm Vǎn Thuyên về nước nhận nhiệm vụ mới.

– Lệnh số 23-LCT, ngày 8-3-1967, quyết định Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị thôi kiêm chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Công nghiệp Phủ Thủ tướng để kiêm chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng; ông Trần Danh Tuyên giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Công nghiệp Phủ Thủ tướng; ông Nguyễn Vǎn Trân thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng để nhận nhiệm vụ khác.

– Lệnh số 24-LCT, ngày 23-3-1967, thưởng 2 Huân chương Lao động hạng Nhất, 10 Huân chương Lao động hạng Nhì, 7 Huân chương Lao động hạng Ba cho thanh niên của 16 địa phương và 3 đơn vị đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào “ba sẵn sàng”.

– Lệnh số 25-LCT, ngày 24-3-1967, thưởng 79 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì, 112 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba cho các cán bộ và chiến sĩ đã có nhiều thành tích phục vụ trong lực lượng công an vũ trang sau ngày hoà bình lập lại (20-7-1954).

– Lệnh số 26-LCT, ngày 24-3-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho Công trường lắp dựng cột điện cao thế vượt sông Hồng thuộc Công ty lắp máy, Bộ Kiến trúc; Công trình 280N thuộc Công ty kiến trúc Vinh, Bộ Kiến trúc, đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ, cứu nước nǎm 1966.

– Lệnh số 27-LCT, ngày 24-3-1967, thưởng 10 Huân chương Lao động hạng Ba cho 10 cán bộ và công nhân đã nêu cao quyết tâm khắc phục khó khǎn, lập nhiều thành tích xuất sắc trong sản xuất và công tác.

– Lệnh số 28-LCT, ngày 25-3-1967, thưởng 2 Huân chương Lao động hạng Ba cho 2 chuyên gia Trung Quốc Trương Khải Mỹ và Trình Thuý Đình, đã có công giúp Chính phủ ta trong việc trồng cây gai lấy sợi.

– Lệnh số 29-LCT, ngày 1-4-1967, thưởng 2 Huân chương Lao động hạng Nhất, 2 Huân chương Lao động hạng Nhì, 37 Huân chương Lao động hạng Ba cho 11 địa phương và 30 đơn vị đã lập nhiều thành tích xuất sắc trong việc bảo đảm giao thông vận tải nǎm 1966.

– Lệnh số 30-LCT, ngày 5-4-1967, thưởng 4 Huân chương Lao động hạng Ba cho nhân dân và cán bộ huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; nhân dân và cán bộ xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; nhân dân và cán bộ xã Hoà Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; xã viên và cán bộ hợp tác xã Chè Lân, xã Lộc Yên, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, đã có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào làm thuỷ lợi nǎm 1966.

– Lệnh số 31-LCT, ngày 6-4-1967, truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba cho cụ Trần Thi, nguyên đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.

– Lệnh số 32-LCT, ngày 6-4-1967, thưởng 45 Huân chương Kháng chiến hạng Ba cho 45 cán bộ, công nhân, viên chức và nhân dân đã có nhiều thành tích trong thời kỳ kháng chiến; truy tặng 5 Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, 67 Huân chương Kháng chiến hạng Ba cho 72 cán bộ và nhân dân có nhiều thành tích đã hy sinh trong kháng chiến.

– Lệnh số 33-LCT, ngày 9-4-1967, thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho Trưởng đoàn chuyên gia Không quân Liên Xô Touzov Iakovlevich, đã có công trong thời gian công tác ở Việt Nam.

– Lệnh số 34-LCT, ngày 11-4-1967, công bố Pháp lệnh quy định một số điểm về bầu cử và tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp trong thời chiến.

– Lệnh số 72-LCT, ngày 17-6-1967, thưởng 3 Huân chương Lao động hạng Nhì, 35 Huân chương Lao động hạng Ba cho 38 địa phương và đơn vị đã hoàn thành thắng lợi công tác bổ túc vǎn hoá trong kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất.

– Lệnh số 94-LCT, ngày 30-8-1967, công bố lệnh tha cho những phạm nhân đã cải tạo tốt và giảm hạn tù cho những phạm nhân thật thà cố gắng sửa chữa trong thời gian ở trại.

– Lệnh ngày 10-11-1967, công bố Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng. Pháp lệnh có 3 mục và 22 điều, quy rõ những tội danh phản cách mạng và những nguyên tắc trừng trị đối với người phạm tội.

NǍM 1968

– Lệnh số 11-LCT, ngày 4-1-1968, cử ông Dương Quốc Chính giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, ông Nguyễn Đôn giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

– Lệnh số 12-LCT, ngày 4-1-1968, quyết định ông Lê Thanh Nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ thôi kiêm chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng; ông Nguyễn Côn giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước; ông Hoàng Anh, Chủ nhiệm Vǎn phòng Nông nghiệp Phủ Thủ tướng thôi kiêm chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp; ông Nguyễn Vǎn Lộc giữ chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp; ông Nguyễn Hữu Mai, giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng; ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ nhiệm Vǎn phòng Tài chính – Thương nghiệp Phủ Thủ tướng thôi kiêm chức Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước; ông Đỗ Mười, giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước; ông Hoàng Quốc Thịnh, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội thương.

– Lệnh số 53-LCT, ngày 10-5-1968, quyết định ông Nguyễn Vǎn Vịnh thôi giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

– Lệnh số 54-LCT ngày 10-5-1968, cử ông Xuân Thuỷ giữ chức Bộ trưởng Chính phủ; ông Trần Quang Huy giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Vǎn giáo Phủ Thủ tướng.

– Lệnh số 82-LCT, ngày 8-8-1968, thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì cho tỉnh Quảng Bình.

– Lệnh số 83-LCT, ngày 10-8-1968, thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì cho khu Vĩnh Linh.

– Lệnh số 96-LCT, ngày 30-8-1968, công bố lệnh tha cho những phạm nhân đã cải tạo tốt và giảm hạn tù cho những phạm nhân thật thà cố gắng sửa chữa trong thời gian ở trại.

– Lệnh số 119-LCT, ngày 17-10-1968, truy tặng 15 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 45 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 60 liệt sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

– Lệnh số 125-LCT, ngày 29-10-1968, bổ nhiệm ông Lương Xướng làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Cộng hoà Nhân dân Bungari thay ông Phạm Ngọc Quế; ông Phạm Ngọc Quế làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà A Rập Xyri thay ông Lương Xướng.

NǍM 1969

– Lệnh số 60-LCT, ngày 1-4-1969, thưởng 6 Huân chương Quân công hạng Ba, 4 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 20 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 83 Huân chương Chiến công hạng Ba cho 79 đơn vị, 34 cán bộ và chiến sĩ quân đội và dân quân, tự vệ đã có thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Lệnh số 67-LCT, ngày 16-4-1969, cử bác sĩ Nguyễn Vǎn Hưởng làm Bộ trưởng Bộ Y tế.

– Lệnh số 118-LCT, ngày 24-7-1969, bổ nhiệm một số đại sứ Việt Nam ở các nước: ông Lê Trang làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Nhân dân Ba Lan, thay ông Đỗ Phát Quang về nước nhận công tác khác; ông Nguyễn Hữu Ngô làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc, thay ông Phan Vǎn Sử về nước nhận công tác khác; ông Nguyễn Đǎng Hành làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Rumani, thay ông HoàngTú về nước nhận công tác khác; ông Nguyễn Xuân làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Vương quốc Campuchia, thay ông Nguyễn Thương về nước nhận công tác khác; ông Trần Vǎn Sớ làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà A Rập thống nhất, thay ông Nguyễn Xuân; ông Nguyễn Đức Thiệng làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Angiêri Dân chủ và Nhân dân, thay ông Nguyễn Vǎn Phát về nước nhận công tác khác; ông Vũ Hắc Bồng làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Ghinê, thay ông Nguyễn Đức Thiệng; ông Lê Thanh Tâm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà thống nhất Tandania; ông Nguyễn Thành Vân làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Cônggô (Bradavin), thay ông Nguyễn Đức Thiệng.

– Lệnh số 123-LCT, ngày 20-8-1969, quyết định ông Đỗ Mười giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Vǎn phòng Kinh tế Phủ Thủ tướng; ông Trần Danh Tuyên thôi giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Công nghiệp Phủ Thủ tướng để giữ chức Bộ trưởng Bộ Vật tư; ông Nguyễn Thanh Bình thôi giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Tài chính – thương nghiệp Phủ Thủ tướng để giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ; ông Nguyễn Hữu Mai thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng để giữ chức Bộ trưởng Bộ Điện và Than; ông Đinh Đức Thiện thôi giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần thuộc Bộ Quốc phòng để giữ chức Bộ trưởng Bộ Cơ khí và luyện kim; ông Ngô Minh Loan thôi giữ chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa để giữ chức Bộ trưởng Bộ Lương thực và thực phẩm; Ông Nguyễn Lam, Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm thứ nhất Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước; ông Đặng Thí, Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước; ông Nguyễn Vǎn Kha, Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước; ông Hoàng Anh thôi giữ chức Chủ nhiệm Vǎn phòng Nông nghiệp Phủ Thủ tướng.

– Lệnh số 125-LCT, ngày 21-8-1969, ân xá và giảm án cho những phạm nhân thật thà hối cải, tích cực cải tạo nhân dịp kỷ niệm lần thứ 24 Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

cpv.org.vn

Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “người tốt, việc tốt”1 (6-1968)

Hôm nay Bác mời các chú đến để bàn cách thực hiện điều mà Bác đã đề nghị với Ban Bí thư Trung ương Đảng. Bác muốn bàn luận dân chủ, các chú có ý kiến gì trái với Bác thì cứ cãi, nhất trí rồi về làm mới tốt được. Không nên: Bác nói gì, các chú cũng cứ ghi vào sổ mà trong bụng thì chưa thật rõ, rồi các chú không làm, hay làm một cách qua loa.

Bác đề nghị cho Bác được trình bày trước ý kiến của Bác:

Từ nǎm 1959, Bác có ý định dùng huy hiệu của Bác như thế nào cho tốt. Có người đề nghị cho các nơi được làm huy hiệu của Bác để bán cho nhân dân. Có người lại đề nghị không nên bán, mà nên cho, coi như một phần thưởng. Bác thấy nên cho thì đúng hơn. Nhưng cho ai?

Các chú vẫn thường nói: nhân dân ta rất anh hùng, ra ngõ gặp anh hùng. Điều đó rất đúng. Có thể nói trong mỗi nhà đều có anh hùng, như thế ra ngõ mới gặp anh hùng chứ! Nhìn lại lịch sử mấy nghìn nǎm của ông cha ta, ta cũng thấy điều đó. Cứ mỗi lần có những thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình. Ngày nay, chúng ta lại đang đứng trước những thử thách rất lớn, truyền thống anh hùng hàng nghìn nǎm đang được nhân dân ta phát huy đến độ cao chưa từng thấy. Đã có những người làm nên sự tích oanh liệt được Đảng và Nhà nước tuyên dương. Đó là những bông hoa rất đẹp trong vườn hoa chung của dân tộc. Nhưng dù sao, số người và những tập thể được công nhận là anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua, được tặng huân chương, huy chương vẫn chỉ là số ít so với hàng triệu, hàng chục triệu con người hằng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc nước, việc nhà để đánh thắng giặc Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Có tập thể vĩ đại ấy mới có Đảng ta vĩ đại, mới có Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, mới có kháng chiến chống Pháp thành công, mới có sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước được cả thế giới khen ngợi. Đánh thắng giặc Mỹ rồi, cũng với tập thể anh hùng ấy, chúng ta sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Cho nên Bác nghĩ: cần có những phần thưởng để khuyến khích, động viên, cổ vũ mọi người hǎng hái làm tròn nhiệm vụ. Từ ngày hoà bình lập lại, Bác có yêu cầu báo của Đảng và của các đoàn thể mở ra mục Người mới, việc mới để làm việc đó đi đôi với phong trào thi đua ở các cấp, các ngành.

Bây giờ nên gọi là Người tốt, việc tốt cho đúng hơn. Đối với anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua được Đảng và Nhà nước khen thưởng thì phải qua nhiều cấp, nhiều ngành cân nhắc, xét duyệt. Còn với người tốt làm những việc tốt thì việc khen thưởng có thể đơn giản hơn. Nếu Trung ương cho phép Bác làm, thì Bác nghe báo cáo, đọc báo và chỉ cần điều tra lại một chút cho đúng sự thật là Bác có thể thưởng huy hiệu…

Các chú sẽ xem bản kê này, Bác đã ghi rõ mỗi ngành, mỗi giới, mỗi địa phương, già, trẻ, gái, trai, miền ngược, miền xuôi, Việt kiều mới về nước… có bao nhiêu người được khen thưởng. Những con số ghi trong này không có nghĩa là ngành này, giới này, tỉnh này anh hùng hơn ngành, giới, tỉnh kia. Nơi nào có ít người được khen là do khuyết điểm của cấp lãnh đạo ở đó. Một số cán bộ ta hình như mải làm công tác hành chính, sự vụ hơn là để nhiều tâm sức xây dựng con người, xây dựng Đảng và các tổ chức cách mạng, cho nên không chịu theo dõi việc làm hằng ngày của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Ai làm tốt không kịp thời nêu gương, ai làm xấu không kịp thời giúp đỡ sửa chữa. Có nơi khi nhận được huy hiệu của Bác gửi về, đã biết tổ chức trao tặng hẳn hoi và làm cho mọi người, ít nhất là trong tập thể của người đó, noi gương và làm theo. Nhưng có nơi lại làm theo lối hành chính, chuyển cho người được khen như chuyển một cái công vǎn. Hoặc cho vào ngǎn kéo cất kỹ, quên không trao cho người được thưởng! Đó là những cán bộ không biết làm việc, hoặc có cái nhìn không đúng. Những chiến công và thành tích nổi bật, vang dội thì ai cũng có thể thấy được. Còn những việc nhỏ, bình thường thôi, nhưng ích nước lợi dân, thì hay bị xem thường.

Hình như các chú cũng chưa coi trọng những việc nhỏ như thế.

Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không?

Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc!

Người tốt, việc tốt nhiều lắm. ở đâu cũng có. Ngành, giới nào, địa phương nào, lứa tuổi nào cũng có. Ví dụ: có cháu gái tên là Xuân ở Quảng Bình đã chiến đấu dũng cảm, góp phần bắn rơi máy bay Mỹ. Nhiều cháu gái cũng làm được như cháu Xuân. Nếu tất cả cháu gái đều dám làm và làm được như thế thì chỉ riêng con gái Việt Nam cũng đủ đánh thắng giặc Mỹ rồi.

Các chú có thấy các cháu bé Việt Nam nhặt được của rơi đem trả có ý nghĩa như thế nào không? ở nước Mỹ và các nước tư bản, người ta giết nhau chỉ vì đồng bạc giấy. Thế mà ở Việt Nam ta, các cháu bé đã biết sống như thế nào. Có cháu đã bảo mẹ cõng đi tìm

chú công an để trả lại của bắt được. Có cháu bé lên 6 tuổi cùng bạn đi chơi, bạn nó xảy chân ngã xuống ao, nếu chạy về gọi người lớn thì bạn chết mất, cháu liền bám vào bụi cỏ bờ ao, nhoai cái chân nhỏ xíu ra, miệng bảo bạn: “Bám vào đây! Bám vào đây!”. Cháu tuy nhỏ tuổi mà đã biết thương bạn như vậy. Thương bạn, thông minh và dũng cảm, cháu lại khiêm tốn nữa, cứu được mạng người mà không khoe khoang. Vǎn minh chiến thắng bạo tàn. Xã hội ta vǎn minh hơn xã hội Mỹ từ những việc làm của các cháu bé như vậy.

Bộ đội ta không những biết đánh giặc giỏi mà còn biết đỡ đẻ cho dân nữa. Có chú bộ đội đi đường thấy người đàn bà sắp đẻ, thật là khó xử, vì chú ấy chưa học đỡ đẻ bao giờ. Nhưng chú bộ đội vẫn tìm mọi cách giúp đỡ và tuy tàu xe rất khó khǎn, vẫn đưa được cả hai mẹ con về tới gia đình. Như thế mới là bộ đội của nhân dân.

Các cụ già Việt Nam cũng giỏi lắm, còn sức còn phục vụ. Các cụ cùng con cháu đánh giặc giữ nước, xung phong chǎm sóc sức khoẻ thương bệnh binh, đỡ đầu lớp mẫu giáo, trông nom vườn trẻ, gương mẫu trồng cây, trồng rừng. Có những cụ ông, cụ bà chuyên nhận nuôi những con trâu ghẻ, trâu gầy của hợp tác xã thành những con trâu béo khoẻ có thể kéo cày, kéo gỗ được…

Nếu Bác ngồi kể lại những việc làm như thế thì kể mãi cũng không hết được. Bác chỉ muốn nhắc các chú một điều: chớ bỏ qua những việc mà các chú tưởng là tầm thường. Hai cô con gái đi đường thấy cái hố nhỏ ở vỉa hè đã rủ nhau đi lấy đất lấp lại cho đồng bào khỏi vấp ngã. Một người nông dân đi giữa trời mưa thấy bao gạo của Nhà nước không có gì che phủ, đã cởi tấm nilông của mình ra đậy gạo cho Nhà nước. Cụ già Việt kiều trở về Tổ quốc để cùng chia sẻ những khó khǎn, cùng gánh vác công việc đánh Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Tất cả những việc làm như vậy đều nói lên tinh thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục của nhân dân ta. Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng một vài việc làm nổi bật và vang dội của một số cá nhân anh hùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi có ý kiến gì cần bàn cãi không? Người yêu cầu cho biết kế hoạch dự định làm như thế nào? Một đồng chí trình bày với Người về cách phân công cho các nhà xuất bản.

Các chú định ngành nào, giới nào thì nêu cao người của ngành ấy, giới ấy, có phải như thế không?

Vậy Bác xin hỏi các chú điều này: con gái có cần phải học con trai, học anh em, chồng con mình không? Con trai có cần phải học con gái không? Trẻ em có cần phải học người già không? Bộ đội có cần phải học nhân dân không? Tiền tuyến có cần phải học hậu phương không? Anh hùng chiến sĩ có cần phải học những người bình thường không? Cán bộ, đảng viên có cần phải học quần chúng nhân dân không? Cấp trên có cần phải học cấp dưới không?

Như vậy là các chú cũng đồng ý với Bác: Một người phải biết học nhiều người. Hơn nữa, cần làm cho món ǎn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ǎn một món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần cho mọi người được thấy nhiều loại hoa đẹp. Ta xây dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc. Định xây dựng ngôi nhà như thế nào rồi mới dùng gạch, vữa, vôi cát, tre gỗ… mà xây nên. Những gương người tốt làm việc tốt muôn hình muôn vẻ là vật liệu quý để các chú xây dựng con người. Lấy gương tốt trong quần chúng nhân dân và cán bộ đảng viên để giáo dục lẫn nhau còn là một phương pháp lấy quần chúng giáo dục quần chúng rất sinh động và có sức thuyết phục rất lớn. Đó cũng là cách thực hành đường lối quần chúng trong công tác giáo dục.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cǎn dặn về cách viết cho quần chúng:

Các chú còn hay mắc cái tật nói chữ nhiều. Người ốm các chú gọi là “bệnh nhân”. Làm bệnh nhân thì oai hơn người ốm có phải không? Giúp đỡ thì các chú không thích bằng “tương trợ”. Hình như các chú tương trợ Bác thì quan trọng hơn là giúp đỡ Bác! Tiếng
Việt của ta rất phong phú, ta phải làm giàu thêm cho tiếng của ta, nhưng không nên vay mượn lu bù để loè thiên hạ. Ngày xưa, ta còn bị thực dân cai trị, có những người không thạo tiếng mẹ đẻ, nói nǎng chẳng ai hiểu gì, lại cho mình là tri thức cao. Bây giờ ta độc lập rồi, đừng nên bắt chước những thói xấu của thời nô lệ. Ta là cán bộ cách mạng, ta nói và viết cho quần chúng nhân dân mà mọi người không hiểu ta nói cái gì, sao có thể gọi là cán bộ cách mạng được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại, Người vừa xem báo thấy có tin đã làm xong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Người nói:

Đã tiếng Việt, lại còn ngữ pháp! Sao không gọi là “Mẹo tiếng Việt”? Cái gì tiếng ta đã có và dễ hiểu rồi thì đặt thêm ra làm gì? Mấy chú cải cách chữ Việt không khéo lại làm cho người ta khó hiểu thêm. Có tiếng ta dùng đã quen rồi, các chú lại tự ý sửa đổi. Tại sao lại viết: Quốc hội họp kỳ thứ bốn?

Các chú đi hỏi các cụ mà xem. Xưa nay nhân dân ta vẫn nói thứ tư chứ ai nói thứ bốn bao giờ!

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về việc vẽ cho quần chúng:

Vẽ rất quan trọng, Bác gần tám mươi tuổi rồi mà Bác còn nhớ hình ảnh ông Tử Lộ đội gạo nuôi mẹ trong sách giáo khoa ngày xưa. Nhân dân ta rất thích tranh vẽ, nhưng có những bức vẽ không ai hiểu gì cả. Hình như mấy chú vẽ cho mình xem chứ không phải vẽ cho quần chúng. Vẽ con gái đi đánh giặc mà các chú bắt người ta phải mặc áo dài tha thướt và đội nón bài thơ!

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa cho xem một tờ báo có hình vẽ ba cô du kích Hà Nội – Huế – Sài Gòn:

Nếu các chú không tin, các chú thử đem hỏi các cháu gái ở mấy thành phố này xem. Chắc các cháu sẽ bảo: Các chú vẽ ai chứ các cháu cầm súng đánh giặc, không bao giờ lại ǎn mặc như thế!

Bác không giỏi về mỹ thuật nên có thể không đánh giá đúng tranh vẽ của các chú. Nhưng Bác nghĩ rằng nghệ thuật phải gần với cuộc sống, người vẽ không thể tuỳ ý muốn tưởng tượng ra thế nào cũng được, rồi quần chúng phê bình lại bảo người ta dốt.

Trở lại những cuốn sách sắp làm, Người dặn thêm:

Về loại sách này, các chú không nên tham viết dài. Nhân dân ta có truyền thống kể chuyện ngắn gọn mà lại có duyên. Các chú phải học cách kể chuyện của nhân dân, nên kèm theo nhiều tranh vẽ dễ hiểu mà đẹp, nhưng đừng vì vẽ nhiều mà tính giá đắt quá.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi về khuôn khổ cuốn sách, Người xem rất kỹ hàng chục cuốn sách loại viết về anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua mà chúng tôi đã đưa cho Người xem. Nói về khuôn khổ cuốn sách mà chúng tôi định lựa chọn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen:

Các chú làm được khá nhiều và trình bày cũng khá. Nhưng các chú có khuyết điểm là “mặc áo gấm đi đêm”. Các chú làm được nhiều, lại không biết tuyên truyền giới thiệu cho nhiều người biết mà đọc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn một cuốn sách đưa làm mẫu:

Loại sách mới, các chú nên làm theo khuôn khổ như thế này, không nên to quá, cũng không nên nhỏ quá. Ngoài bìa cần có dòng chữ Loại sách người tốt, việc tốt. Tên sách là gì thì mỗi ngành, mỗi giới chọn, các đồng chí lãnh đạo ngành, giới phải bàn tập thể để đặt tên sách cho đúng, cho hay. Rồi phải có lời tựa nữa. Lời tựa này phải viết tập thể. Sau khi có sách rồi, các chú lại phải biết tuyên truyền giới thiệu trên báo và giới thiệu bằng mồm nữa.

Ngành, giới nào cũng phải làm công tác tuyên truyền giới thiệu. Và các chú nhớ ở trang đầu mỗi cuốn sách đều phải ghi một câu: Hoan nghênh bạn đọc phê bình. Từ nay trở đi trên sách hay trên báo, các chú nên luôn luôn có câu đó. Bác biết các chú vǎn hay chữ tốt, nhưng dù sao, nhân dân trǎm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn. Không riêng gì viết sách viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân.

*

* *

Lâu nay, các chú tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin như thế nào? Kết quả ra sao?

Một đồng chí báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về những việc đang làm:

Các chú làm khá nhiều việc đấy. Nhưng có mấy điều Bác muốn biết rõ hơn. Các chú dạy cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không? Theo Bác, hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm Chủ tịch nước hay nấu ǎn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác. Đó là điều thứ nhất cần rõ.

Các chú có biết nhân dân ta sống với nhau như thế nào không?

Một đồng chí trả lời: Thưa Bác, nhân dân ta có câu “tối lửa tắt đèn có nhau”.

Đúng là như vậy! Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa nǎm châu bốn biển một nhà. Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin được. Đó là điều thứ hai cần phải rõ.
Mấy chục nǎm nay, nhân dân ta thực hành chủ nghĩa Mác – Lênin bằng cách ra sức làm tròn nhiệm vụ cách mạng và sống với nhau có tình có nghĩa. Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin thiết thực nhất.
Về giáo dục thanh niên: các chú tuyên huấn có xem xét công tác giáo dục thanh niên không?

Đối với các cháu học ở trong nước và đi học nước ngoài, các chú giáo dục các cháu thế nào?

Một đồng chí báo cáo về những việc đang làm. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét:

Thanh niên ta bây giờ giỏi lắm. Chỉ nói về đánh giặc, so với cuộc kháng chiến chống Pháp hơn mười nǎm về trước, cũng đã thấy con hơn cha rồi. Ta có câu “con hơn cha là nhà có phúc”. Bác mong các cháu bây giờ và sau này ngày càng giỏi thì mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản được. Nhưng bên cạnh những điều đáng khen, vẫn còn những chuyện không xứng đáng với thanh niên ta. Trước đây, Bác và các chú bước vào con đường cách mạng, ai cũng sẵn sàng nhận lấy hai cái này: một là ngồi tù, hai là lên máy chém. Ngoài cái được lớn là độc lập tự do cho nhân dân, Tổ quốc, không ai nghĩ sẽ giành phần danh lợi cho cá nhân mình. Bây giờ ta đã có chính quyền rồi, hoàn cảnh đã khác trước. Một số cháu khi phấn đấu vào Đoàn hay vào Đảng lại có ý nghĩ là để được tín nhiệm, để mau được đề bạt và lên lương! Phải uốn cây từ lúc cây non, đừng để cho tâm hồn các cháu bị vẩn đục vì chủ nghĩa cá nhân như thế.

Đối với các cháu học sinh đại học, sau mấy nǎm học các cháu sẽ bước vào đời, trở thành những cán bộ có trình độ vǎn hoá, khoa học khá. Nhưng các cháu ấy có biết cán bộ nghĩa là gì không? Các chú dạy các cháu rất nhiều điều, nhưng có một điều phải thật rõ: Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được.
Mấy chục nǎm nay, nhân dân ta phải tập trung sức lực để đánh giặc cho nên về xây dựng đời sống ta chưa làm được nhiều. Nhưng đánh thắng giặc Mỹ rồi thì những việc chính của cách mạng là làm thế nào giải quyết ngày càng tốt hơn những vấn đề: ǎn, mặc, ở, đi lại, học hành, phòng và chữa bệnh…, tóm lại là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Những điều lớp người này chưa làm xong thì lớp người sau phải tiếp tục làm. Các chú không nên nói cao xa mà phải nói rất cụ thể cho các cháu hiểu. Ví dụ: các cháu học ngành xây dựng thì phải hiểu rằng nhân dân ta còn thiếu nhiều nhà ở. Đi học ở nước ngoài thì phải học những cái hay cái tốt của bạn, để làm sao xây dựng được nhiều và nhanh những ngôi nhà thoáng mát, thuận tiện, hợp khí hậu và rẻ tiền cho nhân dân. Nếu các cháu tốt nghiệp rồi, việc trước tiên lại chỉ lo sao cho mình có quần áo đẹp, có cǎn nhà riêng sang trọng làm tổ ấm, thì công tác giáo dục của các chú không thể coi là có kết quả được!

Bác nghe nói có cháu trước khi vào đại học đã có người yêu hoặc đã có vợ, nhưng khi “thành tài” rồi lại chê người cũ. Như thế là không có đạo đức, làm sao trở thành cán bộ tốt được!

Tuy vậy, những cái hư hỏng chỉ là số ít. Nhà trường, đoàn thể và gia đình hằng ngày phải biết phòng ngừa và đẩy lùi những cái không tốt đó cho các cháu. Phải thấy phần đông các cháu là tốt. Cần lấy ngay những gương tốt đó của các cháu và những gương người tốt việc tốt trong nhân dân để giáo dục các cháu. Không nên nói lý luận suông.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi về công tác giáo dục lịch sử và nêu ra một số cuốn sách về lịch sử nước ngoài và truyện thần thoại nước ngoài:

Các chú làm loại sách này cho ai đọc?

Bác không phản đối việc giáo dục cho thanh niên ta những hiểu biết về thế giới, về lịch sử các nước, về những cái hay của loài người. Nhưng ta phải phân biệt cái gì nên làm trước, cái gì làm sau cho thiết thực và có ích. Trước kia, thực dân Pháp còn cai trị nước ta, có những người trí thức Việt Nam rất thông thuộc lịch sử, địa lý và các chuyện thần thoại của nước Pháp, của Hy Lạp và La Mã. Nhưng khi hỏi đến các vị anh hùng là tổ tiên, ông cha mình, hỏi đến địa lý nước mình thì mù tịt. Nay ta độc lập, tự do rồi, cố nhiên ta không đào tạo nên những con người như thế.

Tuy vậy, Bác nhắc các chú điều này: Bây giờ do cuộc chống Mỹ, cứu nước của ta có một vị trí rất lớn đối với thế giới, ta lại đánh thắng đế quốc Mỹ, nên ngày càng có nhiều người nước ngoài tìm hiểu rất kỹ về Việt Nam. Coi chừng, có nhiều người Việt Nam lại không hiểu rõ lịch sử, đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình bằng những người nước ngoài. Nếu có tình hình như vậy, thì các chú làm công tác tuyên truyền giáo dục phải phụ trách!

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi về công tác giáo dục cán bộ, đảng viên:

Muốn giáo dục nhân dân, làm cho mọi người đều tốt cả thì cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục và rèn luyện hằng ngày. Người xưa còn biết tu thân, mỗi buổi tối kiểm điểm mình và dùng hai cái lọ đỗ đen, đỗ trắng để ghi việc tốt việc xấu. Đảng viên, cán bộ ta từ nhân dân anh hùng mà ra, phải sống cho xứng với nhân dân và Đảng anh hùng.

Bác rất vui mừng thấy phần đông đảng viên, cán bộ ta đã tỏ ra xứng đáng với danh hiệu của mình. Nhưng cũng có một số trường hợp khiến Bác không vui.

Trước đây, khi cách mạng còn trong bóng tối, hoặc khi còn ở chiến khu, chúng ta chỉ có hai bộ quần áo nâu, đi công tác thì ba lô lên vai mà đi bộ.

Khó khǎn, thiếu thốn, ốm đau ta đều dựa vào nhân dân. Nay tình hình đã khác trước. Đời sống nhân dân khá hơn xưa, cán bộ ta ǎn ở cũng khá hơn, đi công tác có xe đạp, có ô tô nữa. Nhưng có một số người không nhớ lúc hàn vi, lại để cho chủ nghĩa cá nhân nảy nở. Đã có xe rồi, lại “phấn đấu” để có chiếc xe đẹp hơn, chiếm mất phần của người khác. Đã có nhà ở rồi, lại “phấn đấu” theo kiểu như thế để có nhà đẹp hơn. Làm như vậy là trái với đạo đức cách mạng. Các chú có biết rằng dân tộc ta vĩ đại, Đảng ta vĩ đại, ta được anh em bầu bạn khắp nǎm châu yêu mến và ca ngợi là vì cái gì không?

Vì cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta do Đảng ta lãnh đạo là chí công vô tư, mình vì mọi người.

Từ nay về sau, nhân dân ta và Đảng ta phải giữ gìn và phát huy mãi mãi đạo đức trong sáng ấy. Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cho nên trong khi ta kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, làm cho vǎn minh chiến thắng bạo tàn thì đồng thời phải loại trừ những cái xấu xa do chế độ cũ để lại trong xã hội và trong mỗi con người.

Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời. Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quay sang hỏi một đồng chí:

Chú có biết người xưa đã có những cách giáo dục sâu sắc như thế nào không? Chú còn nhớ những chuyện Nhị thập tứ hiếu không?

Bác gần tám mươi tuổi mà vẫn còn nhớ chuyện ông Lão Lai, vợ chồng Quách Cự, chú bé Hán Lục Tích… hiếu thảo với cha mẹ như thế nào. Những chuyện như thế ngày xưa cả những người không biết chữ cũng thuộc. Các chú phải biết rút kinh nghiệm. Học tập cách giáo dục của ông cha ta. Các chú có thể làm tốt hơn, vì đạo đức ngày nay cao rộng hơn: không phải chỉ có hiếu với bố mẹ, mà trung với nước, hiếu với dân. Đạo lý ngày xưa các cụ nêu lên không phải ai cũng làm được, vì con người sống trong xã hội cũ là xã hội người đi áp bức bóc lột người, quan hệ giữa người với người là thường xấu. Bây giờ xã hội mới, không có áp bức bóc lột, ai cũng có thể vươn tới đỉnh cao của đạo đức cách mạng. Những gương thánh hiền ngày xưa chỉ có mấy chục và là chuyện của nước ngoài, chuyện tưởng tượng ra. Còn thánh hiền ngày nay bao gồm hàng triệu con người có thật trong nhân dân Việt Nam ta, ở trong nhà hay ra ngõ đều có thể gặp được. Đó là những anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua.

Đó là hàng triệu “người tốt việc tốt” đang chống Mỹ, cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đang cùng nhau viết nên những trang sử vô cùng oanh liệt mà con cháu ta sẽ mãi mãi tự hào.

Nếu có điều gì chưa rõ thì các chú cứ nói. Ta sẽ bàn nữa. Nếu về thấy có điều gì nữa thì báo Bác biết, rồi lại bàn tiếp.

– Thế bao giờ thì các chú làm xong những cuốn sách đầu tiên?

Các đồng chí hứa với Người đến ngày 2 tháng 9:

Trước khi in, các chú gửi cho Bác xem một số bài. Viết giản dị thôi và phải đúng sự thật. Không được bịa ra. Gửi cho Bác xem cả bìa sách và một số tranh vẽ các chú định làm. Ta làm những cuốn đầu tiên, rồi rút kinh nghiệm để làm tốt hơn những cuốn sau này.

Sách Hồ Chí Minh: Về công tác vǎn hoá vǎn nghệ, Nxb. Sự thật,Hà Nội, 1971, tr.78-93.

——————————–

1) Đầu tháng 6-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng về việc làm và xuất bản loại sách Người tốt việc tốt. Đây là bản lược ghi ý kiến trao đổi và phát biểu của Người.

cpv.org.vn

Bác nói chuyện với nhân dân, bộ đội, cán bộ tại Yên Châu (Sơn La)

Bác và đồng chí Bộ trưởng lên thăm bộ đội, cán bộ, thăm đồng bào đã có công, có thành tích trong kháng chiến, thăm các cháu thanh niên và nhi đồng.

Đảng, Chính phủ và Bác rất vui lòng khen ngợi đồng bào châu nhà trong kháng chiến đã tổ chức du kích đánh Tây rất tốt, đã giúp đỡ bộ đội, cán bộ đánh Tây. Thế là tốt.

Đặc biệt đồng bào vùng cao sinh hoạt gian khổ, trong kháng chiến rất anh dũng; Đảng và Chính phủ tỏ lời khen.

Từ ngày hoà bình lập lại, đồng bào, cán bộ, bộ đội đoàn kết rất tốt, giúp đỡ nhau tăng gia sản xuất, học bình dân. Như thế là tốt.

Bây giờ Bác có mấy lời dặn dò đồng bào như sau:

Khi trước đồng bào bị Tây áp bức, bây giờ không còn Tây nữa. Khi trước nhân dân không có ruộng, bây giờ nhờ có Đảng và Chính phủ, nhân dân tự đấu tranh có ruộng. Như thế là đời sống của đồng bào đã có phần sung sướng.

Nhưng muốn sung sướng hơn phải làm thế nào? Phải sản xuất cho tốt. Ví dụ: khi trước cấy 1 mẫu được 100 gánh, bây giờ đồng bào phải cố được 150, 200 gánh. Muốn như thế phải làm thế nào? Phải cải tiến kỹ thuật. Phải cải tiến kỹ thuật là đúng. Nhưng có việc phải làm trước hết là phải tổ chức tổ đổi công thật tốt rồi tiến lên hợp tác xã thật tốt.

Mỗi một người phải coi tổ đổi công, hợp tác xã như nhà mình, phải làm lợi cho tổ đổi công trước, lợi cho mình sau, như thế mới là tốt. Ví dụ: cái nhà hợp tác xã dột, nhà của mình cũng dột thì phải làm nhà cho hợp tác xã trước. Cán bộ đổi công, hợp tác xã phải công bằng, dân chủ và gương mẫu. Ví dụ: làm thì cán bộ xung phong làm việc khó, khi thu hoạch chia hoa lợi thì để cho xã viên lấy trước, cán bộ lấy sau, không nên lấy trước, thế mới tốt.

Bác được biết ở đây nhiều chỗ ruộng thiếu nước. Nếu có đủ nước làm được 2 mùa, thiếu nước chỉ làm được một mùa thôi.

Làm thế nào cho có nước? Mỗi năm mưa xuống rất nhiều nước. Khi mưa xuống nước nhiều bị ngập, khi nắng lên thì lại bị cạn. Muốn làm cho được 2 mùa phải giữ nước. Muốn giữ nước phải làm thuỷ lợi. Đồng bào có nghe thấy đồng bào Điện Biên làm thuỷ lợi không? Đồng bào Điện Biên làm thuỷ lợi rất tốt, mà đồng bào tự làm lấy. Đồng bào Điện Biên làm được thì đồng bào Yên Châu cũng làm được, muốn làm được như Điện Biên phải có tổ đổi công, phải có hợp tác xã. Ví dụ: đào một cái mương dài 1 cây số, một gia đình không làm được. Hai nhà cũng không đào được. Hai mươi nhà, bốn mươi nhà tổ chức nhau lại mới làm được. Có đúng thế không? Vì vậy đồng bào phải tổ chức nhau lại làm tổ đổi công, hợp tác xã. Đồng bào phải tổ chức tổ đổi công cho tốt, hợp tác xã cho tốt, làm mương phai tốt để có nhiều nước làm được 2 mùa.

Chúng ta có mương phai, có nước rồi, lúa có tốt không? Người ta chỉ uống nước thôi mà không ăn cơm có sống được không?

Lúa chỉ có nước, không có ăn cũng không tốt. Ngô, lúa, khoai, sắn, mía nó ăn gì? Nó ăn phân. Lúa ăn phân nhiều lúa càng tốt. Ví dụ: ở đây bây giờ 1 mẫu chỉ được 100 gánh vì ít phân, ở dưới xuôi có tổ đổi công, hợp tác xã nhiều nơi đã thu hoạch hơn thế nhiều vì có nhiều phân.

Cần phải có nhiều phân. Muốn làm phân nhiều, nhưng từng nhà, mỗi nhà làm một đống có tốt không? Không. Ví dụ: mỗi nhà làm một đống phân hao tốn nhiều, hợp tác xã làm lên một đống phân ở gần ruộng không hao tốn. Vì vậy, muốn làm mương phai tốt, phân nhiều, phải tổ chức tổ đổi công, hợp tác xã cho tốt.

Đồng bào ở đây cày cuốc quen làm lối cũ từ những đời trước. Làm như thế rất tốn công mà không tốt. Bác đã đi qua thấy phụ nữ lấy cây tre chọc đất để giồng lúa nương. Như thế rất tốn công mà không tốt. Muốn cho lúa, ngô, khoai, sắn tốt, phải cày sâu bừa kỹ. ở đây Bác thấy cái cày, cái cuốc bé tẹo thế này không thể cày sâu được. ở các nước anh em như Liên Xô cày bằng máy hết.

Bây giờ ta chưa có máy, nhưng sau này ta sẽ có. Có khi độ 5 năm, 10 năm nữa mới có. Trong thời gian đó cần phải cải tiến kỹ thuật, không thể cứ làm theo lối cũ để ngồi chờ 5 năm, 10 năm được. Muốn cải tiến phải tổ chức tổ đổi công, hợp tác xã, từng nhà riêng không làm được.

Đồng bào đã biết tổ đổi công, hợp tác xã là tốt. Vậy phải có quyết tâm làm tổ đổi công, hợp tác xã. Tổ chức tổ đổi công, hợp tác xã là phải tự nguyện, nghĩa là tuyên truyền giải thích ai muốn vào thì vào, không phải nắm cổ kéo người ta vào. Ví dụ: mấy gia đình này vào hợp tác xã, tổ đổi công, thu hoạch 200 gánh, mấy nhà kia làm riêng lẻ thu hoạch 100 gánh thôi. Như thế những nhà làm riêng lẻ sẽ muốn xin vào. Như thế để người ta tự xin vào. Người ta thấy tổ đổi công, hợp tác xã làm tốt, người ta sẽ tự xin vào, không phải nắm cổ người ta kéo vào.

Một điều nữa, Bác đi qua nhiều nơi thấy rừng bị phá rất nhiều. Những cây gỗ to, cao chặt để đốt hay để cho nó mục nát, không khác gì đồng bào tự mình đem tiền bạc của mình bỏ xuống sông. Có đúng không? Sau này đường sá tốt, bến sông làm tốt, đưa gỗ ấy về xuôi bán, hay bán ra nước ngoài, đó là của của đồng bào đấy. Chừng 150 cây gỗ hay 200 cây gỗ chúng ta đưa ra nước ngoài bán, đổi được máy cày, cày được cả vùng này. Đồng bào có nên giữ gìn rừng, giữ gìn gỗ không? Có nên đốt bừa đi không? Phải giữ gìn rừng cho tốt. 5 năm, 10 năm nữa, rừng là vàng là bạc, là máy móc cả.

Đồng bào châu nhà kháng chiến anh dũng. Bây giờ hoà bình rồi, cũng phải anh dũng. Anh dũng là anh dũng mọi mặt. Trong kháng chiến anh dũng giết Tây, đuổi giặc; bây giờ anh dũng sản xuất, xoá nạn mù chữ. Về bình dân học vụ ở miền Bắc, nhiều xã, nhiều thị trấn đã xoá xong nạn mù chữ. Nhưng châu nhà chưa xoá xong nạn mù chữ. Như thế là còn kém, đúng thế không? Bây giờ phải cố gắng. Hết năm nay nữa, năm sau phải xoá cho xong nạn mù chữ. Đối với công việc này, thanh niên và nhi đồng phải góp nhiều vào đấy. Đối với những xã, những châu đã xoá xong nạn mù chữ, Chính phủ có thưởng huân chương, đồng bào ở đây có muốn được thưởng huân chương không?

Một điều nữa, ở đây đồng bào nhiều người còn sốt rét, các cháu bé thường thường đau mắt hột, bụng to. Vì sao? Vì không biết giữ vệ sinh. Đồng bào có muốn có sức khoẻ để sản xuất không? Có muốn con cháu mình không đau mắt hột, không bụng to thế này không? Muốn thế phải giữ gìn vệ sinh, ăn uống sạch sẽ, nhà cửa sạch sẽ, vườn cũng sạch sẽ. Công việc ấy, cán bộ châu phải đôn đốc đồng bào mà đồng bào phải tích cực làm.

Tây, Mỹ, Diệm và bọn phản động khác chúng có muốn đồng bào đoàn kết không? Chúng có muốn đồng bào sung sướng không? Không, chúng không muốn như thế. Chúng sẽ làm thế nào? Chúng tuyên truyền nhảm nhí. Vì vậy đồng bào phải cảnh giác, chớ nghe tuyên truyền bậy bạ, thấy kẻ nào nói bậy bạ phải giúp công an, Uỷ ban hành chính xã, châu giáo dục, nếu cố tình và ngoan cố thì trừng trị.

Một điểm nữa, để giữ gìn an ninh trật tự trong bản mường, phải có dân quân; để giữ gìn Tổ quốc mình không cho Tây, Mỹ vào được, phải có bộ đội. Bộ đội là ai? Bộ đội là con, em, cháu của đồng bào, bộ đội không phải trên trời rơi xuống. Vì vậy đồng bào nên giúp đỡ cán bộ làm nghĩa vụ quân sự cho tốt.

Một điểm nữa, đồng bào muốn no ấm hơn phải cố gắng sản xuất. Nhưng chỉ sản xuất đã đủ chưa? Chưa đủ. Ví dụ: nhà Bác ở đây làm được 200 gánh, nhưng lại xa phí, uống rượu một phần, làm cưới một phần, làm ma một phần, còn một ít để ăn Tết nữa. Như thế là hết sạch thì có nên không?

Vì vậy, đã tăng gia sản xuất phải thực hành tiết kiệm. Ví dụ làm được 200 gánh thì ăn mặc một phần, rượu bớt đi, cưới cũng giảm, ma chay cũng giảm bớt đi (cái này các cụ già hơi khó làm), còn thừa đem bán mua thêm trâu bò, nông cụ để năm sau sản xuất được nhiều hơn nữa.

Hồi còn Tây, còn vua quan, đồng bào Kinh ăn hiếp đồng bào Thái, đồng bào Thái ăn hiếp đồng bào Puộc, đồng bào Xá, có phải thế không? Hồi trước như thế là vì sao? Vì Tây và vua quan muốn chia rẽ đồng bào, muốn làm cho đồng bào yếu đi.

Bây giờ chúng ta, tất cả các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Mèo, Mán, Xá, Puộc, v.v. đều là anh em ruột thịt một nhà chứ không phải Kinh ăn hiếp Thái, Thái ăn hiếp Xá, Puộc như trước nữa. Cũng ví như một bó que, đây là đồng bào Kinh, Thái, Mèo, Xá, Puộc, Mán, Mường. Từng cái một có thể bẻ gãy. Bây giờ đoàn kết lại thế này có ai bẻ gãy được không? Chẳng những không ai bẻ gãy được, mà ai bẻ chúng ta đánh vào cái đầu nó. Đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ như nắm tay này.

Cán bộ, bộ đội, nhân dân phải đoàn kết chặt chẽ như nắm tay thế này. Nếu mà Tây, Mỹ muốn xâm phạm nước ta, ta sẽ đánh vào đầu nó.

Bây giờ Bác có mấy lời dặn dò cán bộ:

Cán bộ từ trên xuống dưới, từ Bác đến cán bộ xã đều là đày tớ của nhân dân, không phải là vua, là quan như ngày trước mà đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Tức là cán bộ phải chăm lo đời sống của nhân dân, phải giúp nhân dân tổ chức được tổ đổi công, hợp tác xã, dân quân. Cán bộ phải đến tận nơi giúp đỡ, bao giờ các tổ chức đó thật vững mới thôi.

Cán bộ châu nhà có hai bộ phận họp thành: một bộ phận là cán bộ địa phương, một bộ phận là ở nơi khác đến và ở xuôi lên.

Cán bộ địa phương thường thường có tâm lý tự ti, cho mình là văn hoá kém, chính trị kém, không muốn làm cán bộ. Như thế là không đúng. Nếu như thế, không ai làm việc cho đồng bào cả, việc làm đây là do cán bộ địa phương phải làm lấy. Vì vậy cho nên còn kém thì phải học, phải tích cực học cách làm việc, tích cực học chuyên môn cho biết. Nếu vì kém mà không làm thì không được. Nhiều cái mình chưa biết, nhưng có quyết tâm học thì phải biết, nhất định biết. Biết là tiến bộ.

Cán bộ xuôi lên không yên tâm công tác, muốn về Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. Như thế là không đúng. Bác đã nói cán bộ là đày tớ của nhân dân, chỗ nào nhân dân cần đến mình là mình phải đến, bất kỳ chỗ nào cũng là Tổ Quốc, là đất nước, cũng là cương vị công tác của cán bộ. Phải nhớ rằng Đảng, Chính phủ tin cậy vào cán bộ, nơi nào khó có cán bộ. Việc gì khó có cán bộ. Vì vậy cán bộ các nơi đến phải yên tâm, tích cực công tác, phải gương mẫu, phải đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ cán bộ địa phương được tốt. Vì vậy cán bộ địa phương cùng cán bộ nơi khác đến phải đoàn kết yêu thương nhau, làm gương cho nhân dân địa phương.

Một điểm nữa: cho đến bây giờ cán bộ đã chú ý giúp đỡ đồng bào rẻo cao, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Từ giờ về sau phải chú ý hơn, giúp đỡ nhiều hơn.

Bây giờ Bác dặn dò bộ đội và dân quân:

Bộ đội, dân quân là những người được Đảng và Chính phủ tin cậy để giữ gìn trật tự, bảo vệ Tổ quốc. Các chú biết rằng miền Bắc đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, đang xây dựng nhà máy làm cho nhân dân được sung sướng. Mỹ – Diệm không muốn cho nhân dân mình sung sướng, không muốn cho ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy chúng nó luôn luôn tìm cách phá hoại chúng ta. Để ngăn chặn chúng lại, đánh tan âm mưu của chúng, bộ đội, công an, dân quân phải cảnh giác; để làm tròn nhiệm vụ Đảng, Chính phủ và nhân dân giao cho, các chú phải hết sức học tập ngày càng tiến bộ, phải tham gia lao động sản xuất, phải giữ gìn trật tự an ninh cho tốt, phải đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, tuỳ lực lượng của mình mà giúp dân.

Còn các cháu, các cháu phải làm gì? Cán bộ, bộ đội có việc của cán bộ, bộ đội. Các cháu phải học tập cho tốt, lao động cho tốt, giữ gìn vệ sinh cho tốt, giữ kỷ luật cho tốt.

Châu nhà có trên 13.000 đồng bào. Hôm nay mới có một số đồng bào được tới đây hội họp đông vui thế này thôi, các cô, các chú nhớ lời Bác nói, về nói lại với nhân dân, sau này Khu sẽ in thành tài liệu phổ biến rõ hơn.

Sau cùng, Bác và đồng chí Bộ trưởng gửi lời hỏi thăm đồng bào Xá, Puộc, Mèo, Thái, Mán, Mường, Kinh, v.v., hỏi thăm cán bộ, bộ đội và dân quân địa phương.

——————————–

Nói ngày 8-5-1959
Báo Nhân dân, số 1884, ngày 13-5-1959.

cpv.org.vn

Vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào …

Năm 1956, Bác Hồ đón một vị Tổng thống tại khu vườn Phủ Chủ tịch.

Một số công nhân Nhà máy đèn Hà Nội được Bác “mời vào mắc đèn điện trên các cành cây giúp Bác”.

Anh em làm việc suốt ngày, ròng dây dẫn điện lắp đèn nhiều loại màu sắc trên ngọn, trên cành trong các lùm cây.

Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, Bác ra vườn thăm anh em. Bác nói:

– Các chú bật đèn lên cho Bác xem đi.

Sau khi đóng cầu dao, những bóng đèn điện bỗng vụt hiện lên, lung linh như trong một hội hoa đăng. Đồng chí tổ trưởng công nhân điện mời Bác đi xem và kiểm tra.

Bác chú ý từng ngọn đèn, từng đoạn dây dẫn đã an toàn chưa, gật đầu tỏ ý hài lòng.

Đến một đèn pha chiếu sáng đặt dưới một gốc cây, Bác dừng lại nói:
– Ngọn đèn này phải để khuất trong lùm cây, vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào đi qua đường.

Bác nhanh nhẹn bước tới ngọn đèn. Đồng chí tổ trưởng Dương Văn Hậu lo Bác vấp ngã vì đôi guốc mộc dưới chân Bác đi trên đường rải sỏi, chạy vội đến:

– Bác để chúng cháu làm.

Nhưng Bác đã cúi xuống, rất “nghề nghiệp”, hai bàn tay bưng lấy thân ngọn đèn pha dấu vào một lùm cây đinh hương.

Ngọn đèn pha mới được đặt, đẹp hẳn lên, người ngoài nhìn vào không bị chói mắt, mà chỉ thấy những tia sáng chiếu qua các kẽ lá hắt lên một màu xanh dịu.

Lần sau, anh em nhà máy điện Hà Nội lại được đến Phủ Chủ tịch mắc đèn dây để Bác tiếp khách.

Rút kinh nghiệm lần trước, lần này anh em làm khác hẳn lối treo đèn cũ, như để thưa với Bác “phải luôn luôn đổi mới, không ngừng phát huy sáng kiến” – như lời Bác dạy.

Anh em đặt một dây đèn màu từ dưới gốc cây dừa nước lên ngọn rồi tỏa ra các cành, mỗi cành một đèn màu khác nhau. Ở các thân cây có quả đèn màu trắng, cành cây đèn màu xanh, gần quả, một chùm đèn nhỏ màu đỏ. Chếch hai bên đặt hai đèn pha dấu trong lùm cây hắt nghiêng lên.

Như lần trước, vừa chập tối, Bác đã đến trước khách, thăm anh em công nhân điện và kiểm tra. Bác khen:

– Lần này các chú mắc đẹp đấy. Chắc khách quý của chúng ta cũng sẽ khen…
Bác lấy thuốc lá chia cho anh em công nhân điện mỗi người một điếu (sau này được biết là thuốc lá thơm Cu-ba do Thủ tướng Phi Đen Cát-xtrô tặng Bác. Bác chia gần hết hộp thuốc. Một công nhân trẻ, thấy Bác vui, hộp thuốc đã cạn, muốn có kỷ niệm về Bác, mạnh dạn thưa với Bác xin cái hộp. Bác cười và nói:

– Các chú đã có phần rồi. Cái hộp này Bác để dành cho các cô để đựng kim chỉ chứ!

dongthap.gov.vn

Đoàn kết dân tộc

Ảnh minh họa

Xác định làm cách mạng giải phóng dân tộc phải huy động sức mạnh của cả dân tộc, Bác Hồ luôn coi việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược. Người đã chỉ rõ rằng: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta… Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”. Ngay cả với những người ít nhiều có tội với cách mạng mà cách mạng có chính sách khoan hồng, làm cho họ nhận rõ tội lỗi và thức tỉnh lòng yêu nước trong họ, có thể lôi kéo họ đi theo con đường cách mạng.

Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc phải đảm bảo vừa rộng rãi, vừa vững chắc. Để được vững chắc phải lôi cuốn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động, chân tay trí óc, những người đã đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra đời sống vật chất và văn hóa cho toàn xã hội. Để được rộng rãi, phải coi trọng việc vận động cá biệt đối với những vị là nhân sĩ trí thức, là người có uy tín lớn trong các dân tộc, các tôn giáo, các già làng, trưởng bản, trong người Việt Nam ở nước ngoài tham gia mặt trận, phát huy vai trò hiệu triệu quần chúng của họ trong công cuộc dựng nước và giữ nước, chống thù trong giặc ngoài. Có nền tảng vững chắc là điều kiện để mở rộng mặt trận. Có phát huy được vai trò hiệu triệu của những nhân vật tiêu biểu mới lôi cuốn được đông đảo quần chúng tham gia thành phong trào.

Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng phải chỉ rõ mục tiêu chung và hướng đi cụ thể cho mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội. Mục tiêu chung là phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Quá trình thực hiện đại đoàn kết dân tộc phải có phương châm, phương pháp thích hợp. Phương châm là đoàn kết lâu dài, đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết thực sự, đoàn kết chân thành, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Phương pháp là vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, khêu gợi tự giác tự nguyện, lấy lòng chân thành để cảm hóa.

Phải coi việc giữ gìn đoàn kết trong Đảng là hạt nhân đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn dân tộc. Để giành thắng lợi cho cách mạng, phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại. Xây dựng Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc phải gắn với thực hiện đoàn kết quốc tế, với việc xây dựng tình hữu nghị với các nước trên thế giới.

Trong công tác mặt trận, Đảng lãnh đạo cần làm nổi rõ vai trò của mặt trận trong xã hội, đề ra chương trình hành động sát hợp, biết khéo vận động những nhân vật tiêu biểu, khéo thực hiện nguyên tắc dân chủ hiệp thương. Công tác dân vận và công tác mặt trận có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải đồng nhất.

Trong Di chúc, Bác Hồ một lần nữa khẳng định: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng, của dân ta”.

  • Trọng Tân

baobinhdinh.com.vn