Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Ngày 25 tháng 1 – Nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam là một

Chủ nhật, 25/01/2009, 10:43 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 85 năm, ngày 25-1-1924, báo “Đời sống thợ thuyền” (La Vie Ouvrière) đăng bài báo của Nguyễn Ái Quốc có nhan đề: “Phong trào công nhân Viễn Đông”. Bài báo nhắc đến phong trào công nhân Nhật Bản tại thành phố Osaka, một trung tâm công nghiệp lớn của Nhật, nơi mà sức mạnh đoàn kết giai cấp đã buộc giới chủ phải hoảng sợ. Đó là những nét mới trong phong trào công nhân ở Viễn Đông, xứ sở gần gũi với Đông Dương.

9 năm sau đó, ngày 25-1-1924 là ngày 30 Tết Quý Dậu, Nguyễn Ái Quốc trên đường từ Hồng Kông cặp bến Hạ Môn và lưu lại đây qua tết để tìm cách liên lạc với tổ chức và tránh bị mạng lưới mật thám theo dõi.

Có 2 ngày 25-1 ứng vào ngày tết nguyên đán, đó là vào năm Giáp Thân (1944) và Quý Mão (1963). Ngày 25-1-1944 là ngày đầu năm Giáp Thân, trong khi đang tiến hành vận động quốc tế, từ Liễu Châu (Trung Quốc) Bác gửi lời chúc qua tờ Đồng Minh với nhan đề “Chào Xuân”: “…Xuân ơi, Xuân hỡi, hỡi Xuân / Từ xa tới gần Xuân khắp mọi nơi / Rót cốc rượu Xuân mừng cách mạng / Viết bài chào Tết, chúc thành công!”.

19 năm sau, ngày mồng một Tết Quý Mão (25-1-1963), trong “Lời chúc mừng năm mới” Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở “Càng thương đồng bào miền Nam, chúng ta phải lao động cần cù, phấn đấu hăng hái hơn nữa cho Bắc Nam sớm được sum họp một nhà” và nhắc lại chân lý mà cách đó 17 năm (1946) Bác đã từng nêu:“Nước Việt Nam ta là một / Dân tộc Việt Nam ta là một / Dù cho sông cạn đá mòn / Nhân dân Nam, Bắc là con một nhà”.

Ngày 25-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thông tư cho Ủy ban Trung bộ chỉ đạo việc đối xử với một số quan lại trong chế độ cũ đã tham gia các vụ đàn áp phong trào cách mạng. Thông tư yêu cầu “các ủy ban địa phương cần phải tỏ rõ thái độ rộng lượng với các cựu công chức và quan lại ấy. Nếu không thấy nhân dân oán hờn thì cứ để họ sống yên ổn” vì “Chính phủ muốn để họ có cơ hội được giác ngộ khiến họ tự ý tham gia vào phong trào kháng chiến kiến quốc một cách thành thực và mong chuộc lại lỗi lầm xưa”.

Ngày 25-1-1948, Bác gửi tới cụ Ưng Úy, một cựu quan lại cao cấp và là người của Hoàng tộc, thân sinh của nhà bác học Bửu Hội đang sống tại Huế, bức thư “xin mời cụ tham gia kháng chiến để chúng ta tiếp tục sự nghiệp bỏ dở của các vị tiền bối Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân là đánh đuổi thực dân Pháp để giành độc lập cho dân tộc, cho Tổ quốc”.

Đáp lại, cụ Ưng Úy đã lên chiến khu và ra lời tuyên bố (26-2-1949): “Tôi vốn là cựu quan chức Nam triều và là người trong Hoàng gia. Nay thực dân Pháp thực hiện mưu mô lấy người Việt trị người Việt, tôi phẫn uất quá nên tôi phải lìa nhà lên chiến khu, nguyện theo Chính phủ để giúp một phần hiểu biết vào công cuộc kháng chiến cho đỡ nỗi phẫn uất trong lúc tuổi già…”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 24 tháng 1, Bác Hồ “vi hành” chúc tết

Thứ bảy, 24/01/2009, 02:01 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 78 năm, ngày 24-1-1931, giữa lúc cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đang dâng cao ở Việt Nam thì ở nước Nga, Nguyễn Ái Quốc viết văn kiện “Phong trào cách mạng ở Đông Dương”. Bài viết biểu dương cao trào đấu tranh của giới công, nông, lên án tội ác thực dân, phong kiến và kêu gọi: “Nhiệm vụ cấp thiết của giai cấp vô sản thế giới, đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp, là chìa bàn tay hữu nghị anh em và giúp đỡ tới Đông Dương, để chứng tỏ tình đoàn kết thực sự và tích cực của họ. Đông Dương bị áp bức và cách mạng cần điều ấy!”.

16 năm sau, vào dịp Tết Đinh Hợi 1947, Bác viết riêng một bức “Thư chúc tết đồng bào và chiến sĩ Nam bộ”. Để đả phá luận điệu tuyên truyền của thực dân rằng nếu thống nhất thì những người theo Pháp sẽ bị khủng bố; người Nam sẽ bị người Bắc cai trị; chính phủ chỉ toàn Việt Minh, bức thư nêu rõ:

“…Một dân tộc đã tự cường, tự lập, dân chủ cộng hòa thì không làm những việc nhỏ nhen, báo thù báo oán… Trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ làng xã đến toàn quốc, những người chức trách đều do dân cử ra. Dân tin cậy ai thì người ấy trúng cử và bổn phận những người trúng cử là làm đầy tớ công cộng cho dân chứ không phải làm quan phát tài… Trong chính phủ có đủ những người thuộc các đảng phái, như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, Đảng Quốc dân, Đồng Minh hội, lại có cả những người không thuộc đảng phái nào. 5 vị bộ trưởng và thứ trưởng quê quán ở Nam bộ… Sự thật chỉ đơn giản có thế, mong đồng bào hiểu rõ, chớ mắc lừa thực dân”.

Ngày 24-1-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Nha Bình dân học vụ, thông báo việc nhà nước tặng Huân chương kháng chiến cho phong trào xóa nạn mù chữ. Trong thư, Bác biểu dương: “Từ ngày nhân dân ta nắm quyền đến nay, 13 triệu đồng bào đã hết mù chữ. Những thành tích ấy đều do tinh thần yêu nước mà ra. Nhưng chúng ta phải cố gắng hơn nữa, phải làm thế nào cho trong một thời gian gần đây, tất cả đồng bào Việt Nam từ 8 tuổi trở lên đều biết đọc biết viết, ngày ấy mới là hoàn toàn thắng lợi trên mặt trận diệt giặc dốt”.

Cách đây 46 năm, ngày 24-1-1963, là ngày 29 Tết Quý Mão, buổi sáng vị nguyên thủ quốc gia đã “vi hành” thăm chợ Đồng Xuân. Trong bộ quần áo gụ đã bạc màu, ngoài khoác áo mưa vải bạt, cổ quàng khăn len, mắt đeo kính trắng và chân đi dép cao su, Bác cùng 2 cảnh vệ đi thăm cảnh đồng bào sắm tết. Tối hôm ấy, Bác lại đi thăm và chúc tết một số nơi, trong đó có gia đình bác sĩ Hồ Đắc Di.

Ngày 24-1-1966, Bộ Chính trị bàn về công tác đấu tranh ngoại giao và các phương án chọn nơi tiến hành đàm phán Việt – Mỹ. Tại cuộc họp này, Bác tiên liệu “Mỹ có thể sẽ ném bom miền Bắc, thậm chí cả Hà Nội, Hải Phòng, vì vậy không được chủ quan”. Dự báo sớm ấy đã giúp quân dân ta chủ động phòng chống thắng lợi.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 23 tháng 1 – “Thanh niên Việt Nam đều là con cháu tôi”

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thứ sáu, 23/01/2009, 01:20 (GMT+7)

Cách đây 85 năm, ngày 23-1-1924 vẫn là ngày lễ tang V.I.Lê Nin, Nguyễn Ái Quốc cùng các bạn học ở Trường Đại học Phương Đông có mặt trong đám đông đứng đón linh cữu Lê Nin từ Gorơki theo đường sắt đến ga Pavilexki ở thủ đô Mátxcơva để chuyển tới đặt tại Hội trường Nhà Công đoàn ngay tại Hồng trường để dân chúng đến viếng. Xếp trong hàng người dài dằng dặc dưới giá lạnh âm 30 độ của mùa đông nước Nga, cuối cùng nhà cách mạng trẻ tuổi đến từ đất nước Việt Nam xa xôi với lòng mong muốn đến quê hương của cuộc Cách mạng tháng Mười để được gặp Lê Nin đã chỉ có cơ hội được đứng trước linh cữu của người thầy vĩ đại ấy.

Trở về nơi cư trú là khách sạn Lux, chân tay tê cóng, trời đã khuya. Tại phòng số 176, Nguyễn Ái Quốc ngồi viết bài báo “Lê Nin và các dân tộc thuộc địa” với câu kết thúc: “Lê Nin sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.

Cũng vào thời gian này, 23 năm sau (1947), Bác Hồ đã viết thư và cho người chuyển vào Phát Diệm trao tận tay Giám mục Lê Hữu Từ chân thành đề nghị tiếp tục ủng hộ chính phủ kháng chiến cũng như đã từng giúp trong các thương thảo ngoại giao và “Nhờ cụ cầu Đức Chúa ban phúc cho Tổ quốc…”. Sau đó, Bác còn viết nhiều lá thư để kiên trì giải thích: “Trong Hiến pháp ta đã định rõ: Tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích Công giáo thì sẽ bị phạt… Việt Nam Độc lập Đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập chứ không phải để chia rẽ, phản đối tôn giáo… Hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do; và tôi chắc ai cũng tuân theo khẩu hiệu: Phụng sự Thượng đế và Tổ quốc…”.

Đây cũng là lúc thực dân Pháp đang tìm mọi thủ đoạn chia rẽ lương – giáo và lôi kéo Giám mục Lê Hữu Từ để rồi sau đó không lâu, nhân vật này đã từ bỏ hàng ngũ kháng chiến đi theo giặc Pháp chống phá cách mạng quyết liệt. Tuy vậy, trước sau Bác vẫn giữ lòng tin đối với các chức sắc và bà con giáo dân. Cũng trong những ngày cuối tháng này, Bác nhận được tin con trai duy nhất của Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một trí thức theo đạo Thiên Chúa, lúc đó đang đảm trách Hội trưởng Hội Hồng Thập tự Việt Nam, vừa hy sinh ngoài mặt trận. Bác đã viết lá thư chia buồn với những lời lẽ thống thiết và sâu sắc:

“Thưa ngài, tôi được báo cáo rằng con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột…

Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên Trời cũng bằng lòng và sung sướng…”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 22 tháng 1: Công nông các nước đoàn kết lại!

Thứ năm, 22/01/2009, 02:14 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày này 85 năm trước, ngày 22-1-1924, Nguyễn Ái Quốc đang học và làm việc tại Liên Xô thì nhận được tin V.I.Lênin đã từ trần vào đêm hôm trước (21-1-1924). Nguyễn Ái Quốc đã tới trụ sở Quốc tế Nông dân ở Mátxcơva để dự phiên họp bất thường. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc được phân công cùng một số đồng chí khác viết “Lời kêu gọi của Quốc tế Nông dân”.

Văn kiện kêu gọi: “Nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta là thực hiện những lời khuyên quan trọng nhất của Lê Nin. Điểm quan trọng nhất trong di huấn chính trị của Người là thực hiện liên minh công nông, củng cố khối đoàn kết nông dân ở nông thôn và công nhân ở thành thị… Hãy cất lên thật to, thật mạnh giữa quần chúng nông dân lời kêu gọi: Nông dân và công nhân ở tất cả các nước hãy đoàn kết lại!”. 

9 năm sau, ngày 22-1-1933, lúc 5 giờ chiều, Tống Văn Sơ (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) trong bộ cánh cải trang một thương nhân giàu có bí mật cùng thư ký riêng của Luật sư Lôdơbi rời bến bằng một chiếc thuyền riêng do Thống đốc Hồng Công bố trí để lên con tàu “An Huy” đỗ sẵn ở ngoài khơi trên đường đi Hạ Môn, từ đó đến Thượng Hải và sang Nga, kết thúc “Vụ án Hồng Công” phá âm mưu trục xuất Nguyễn Ái Quốc để giao cho mật thám Pháp ở Đông Dương thực hiện bản án tử hình vắng mặt của Tòa án Nam triều đã tuyên từ năm 1929. Theo dõi rất sát vụ án này, nhưng phải đến hơn 2 tháng sau (25-3) Pháp mới biết Nguyễn Ái Quốc đã thoát khỏi Hồng Công và phát lệnh truy nã!

Tết Đinh Hợi nhằm đúng ngày 22-1-1947, tết cả nước kháng chiến, đầu Mặt trận Hà Nội vẫn đang rền tiếng súng xen lẫn pháo đón giao thừa của các chiến sĩ quyết tử. Bài thơ “Chúc năm mới” của vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập thực sự là một hiệu kèn xung trận: “Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió / Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông / Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến / Chí ta đã quyết lòng ta đã đồng / Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào! / Sức ta đã mạnh, người ta đã đông / Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi! / Thống nhất độc lập, nhất định thành công!”.

Nhật ký của thư ký Vũ Kỳ cho biết, ngày hôm ấy Bác dậy sớm như thường lệ, đi thăm và chúc tết các nhà hàng xóm… Bác viết lên tấm giấy điều hàng chữ Hán “Cung hỷ tân xuân” mừng gia đình chủ nhà rồi cùng các đồng chí thân thiết ngồi bàn việc nước bên bếp lửa hồng cho đến một giờ sáng hôm sau. Ngày tết, vị Chủ tịch “khai bút” bằng sắc lệnh cử cụ Bùi Bằng Đoàn làm Chủ tịch Ủy ban Tản cư và di cư để lo an toàn cho dân ở các vùng chiến sự.

Ngày 22-1-1952, được tin Thứ trưởng Bộ Giao thông công chính, kỹ sư Đặng Phúc Thông, qua đời, Bác gửi điện chia buồn: “Tôi rất thương tiếc, vì chú Thông là một cán bộ cao cấp xuất sắc của Chính phủ, một chiến sĩ trung thành của dân tộc và một người bạn tốt của tôi”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

“Trộn đấu”, du kích Hải Dương diệt 44 lính Âu-Phi

QĐND Online – Ngày 9-10-1950, du kích xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ (tỉnh Hải Dương) đã tổ chức một trận phục kích địch rất táo bạo, đạt hiệu suất cao. Chỉ trong 25 phút, với hình thức đánh gần, đánh “trộn đấu”, du kích của ta đã tiêu diệt 44 lính Âu-Phi, bắt sống 6 tên và thu hơn 20 súng các loại…

Nắm chắc đặc điểm hoạt động của địch…

Nhằm bình định địa bàn tỉnh Hải Dương nói chung và huyện Tứ Kỳ nói riêng, thực dân Pháp âm mưu chiếm đóng các vùng tuyến theo trục đường 191 (là tỉnh lộ chạy qua xã Văn Tố), lập đồn bốt ở nơi xung yếu, thực hiện chiếm đóng theo chiến thuật “vết dầu loang”.

Từ tháng 8-1949, quân Pháp lập đồn bốt ở thôn An Nhân (xã Đông Kỳ, huyện Tứ Kỳ), thôn La Tỉnh-thị trấn Tứ Kỳ, xóm Măng- thôn Đồng Kênh (Văn Tố). Chúng bắt phu của xã Quang Phục (Tứ Kỳ) về xây dựng, củng cố đồn bốt. Hàng ngày địch sử dụng một số lính lê dương canh gác cho phu vào xã Văn Tố phá nhà dân, lấy gạch, đá, tre, luồng về xây bốt. Lực lượng làm phu rất căm phẫn vì bị quân Pháp cưỡng ép làm việc cực nhọc.

Xã Văn Tố nằm ở phía Nam huyện Tứ Kỳ, cách trung tâm huyện gần 3km; cách TP Hải Dương 18km về phía Bắc. Phía Tây có sông Tứ Kỳ, phía Đông có sông Thái Bình, rất thuận tiện cho phương tiện giao thông cả thủy và bộ. Trong xã có nhiều đường nhánh quanh co, thuận lợi cho việc đóng quân, bố trí chông, mìn, cạm bẫy.

Thời điểm này, lực lượng du kích của xã Văn Tố đã khá lớn mạnh. Toàn xã có một trung đội du kích cơ động với quân số 60 người. Đầu năm 1950, du kích Văn Tố đã đánh trả thành công một số trận càn của địch.

Qua theo dõi quy luật hoạt động của địch, du kích của ta nhận thấy: hàng ngày dẫn phu từ bốt Măng vào các làng của xã Văn Tố cướp bóc vật liệu, bọn lính lê dương thường đi rải rác trên đường 191, đến khu vực ta rào làng thì dừng lại. Nhiều lần dừng lại nhưng chưa bị đánh nên địch rất chủ quan…

Hình thành cách đánh táo bạo, bất ngờ

Căn cứ vào đặc điểm, quy luật hoạt động của địch, du kích xã Văn Tố quyết định chọn đoạn phục kích trên đường 191, từ khu vực Đông Nam thôn La Giang đến đoạn giáp ranh thôn Đồng Kênh, trên chiều dài khoảng 100m, cách bốt địch 400m.

Địa hình phục kích tuy trống trải, nhưng gần thôn La Giang, thuận lợi cho ta tiếp cận địch; dễ chi viện và dễ rút quân sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ.

Sơ đồ trận phục kích ở thôn La Giang, xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Về cách đánh, ta bố trí lực lượng ở thôn La Giang về phía Tây ngoài bờ đê. Lợi dụng địa hình, địa vật để ngụy trang, chờ địch lọt vào đoạn phục kích sẽ bất ngờ nổ mìn chặn đầu, khóa đuôi, đồng loạt xung phong tiêu diệt địch. Đồng thời kết hợp kiềm chế, ngăn chặn lực lượng địch từ bốt ra ứng cứu; nhanh chóng kết thức trận đánh và rời khỏi trận địa an toàn.

Đội hình chiến đấu của lực lượng du kích xã Văn Tố được chia thành 4 bộ phận, gồm có: Bộ phận chặn đầu có 5 đồng chí, được trang bị 5 quả mìn loại 2kg, bố trí 1 tổ mìn chặn đầu địch; bộ phận khóa đuôi có 5 đồng chí, được trang bị 2 quả mìn ở mép đê, có nhiệm vụ chặn địch rút về bốt; lực lượng diệt địch gồm 9 đồng chí, bố trí ngoài mép đê, trong đoạn phục kích, được trang bị giáo mác, gậy gộc; lực lượng kiềm chế bốt gồm 8 đồng chí, được trang bị súng trường, có nhiệm vụ kiềm chế hỏa lực địch ở bốt Măng và sẵn sàng chi viện lực lượng, hỏa lực tiêu diệt địch, yểm trợ cho lực lượng của ra rút quân. Tín hiệu hiệp đồng được thống nhất là lấy tiếng mìn nổ ở tổ chặn đầu làm hiệu lệnh trận đánh bắt đầu; tiếng mìn nổ thứ hai làm hiệu lệnh cho lực lượng xung phong tiêu diệt địch…

“Trộn đấu”

6 giờ sáng 9-10-1950, đội hình chiến đấu của du kích Văn Tố được triển khai tại các vị trí đã định, ngụy trang kín đáo, sẵn sàng đánh địch. Đến 9 giờ, lực lượng quan sát thấy 50 lính lê dương dẫn phu ra khỏi bốt về phía làng, với đội hình như thường ngày. 9 giờ 15 phút, tốp lính đi đầu đã đến vị trí đặt mìn của ta. Khi tên lính cuối cùng vượt qua tổ mìn khóa đuôi, ngay lập tức, tiếng mìn điểm hỏa ở tổ mìn chặn đầu vang lên làm rung động cả một vùng quê, khiến 4 tên lính lê dương chết tại chỗ, một số tên hoảng loạn bỏ chạy về phía bốt. Ngay sau đó, mìn khóa đuôi tiếp tục phát nổ, làm 2 tên địch tiếp tục phải đền tội. Ngay khi tiếng mìn thứ hai phát nổ, lực lượng xung phong nhất tề lao lên, dùng giáo mác chiến đấu quyết liệt với địch. Những tên địch còn sống sót tuy có súng trong tay, nhưng bị đánh bất ngờ, đánh gần nên tinh thần hoảng loạn, chống cự yếu ớt. Bọn địch ở bốt Măng cách đó chỉ khoảng 300m song không dám bắn vào trận địa phục kích vì ta và địch đang đánh giáp lá cà.

Sau 25 phút chiến đấu, du kích Văn Tố đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch. Kết thúc trận đánh, lực lượng của ta nhanh chóng rút quân,. Cùng lúc đó, lực lượng yểm trợ bắn mạnh về phía địch ngăn chặn không cho địch chi viện ứng cứu. Trên đường rút quân về thôn Mỹ Ân (Văn Tố), một đồng chí du kích đã anh dũng hy sinh.

Chỉ với 27 đồng chí, được trang bị vài khẩu súng trường và 2 tổ mìn, nhưng du kích Văn Tố đã đánh một trận phục kích thắng lợi, hiệu quả cao. Trong 25 phút, bằng cách đánh gần, đánh “trộn đấu”, ta đã hạn chế sức mạnh và ưu thế vũ khí của địch, làm địch đánh giáp lá cà không thể sử dụng hiệu quả vũ khí chúng đang có trong tay, đồng thời khiến địch ở bốt cũng không dám nổ súng vì sợ “bắn nhầm” vào quân của chúng.

Cách đánh táo bạo, bất ngờ, hiệu quả của du kích Văn Tố sau đó đã được phổ biến để LLVT toàn huyện Tứ Kỳ học tập.

Bài, ảnh: Thành Đông (Dựa theo cuốn Một số trận đánh điển hình của quân và dân Quân khu 3)
qdnd.vn

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội báo công dâng Bác

Ngày 7/3/2013, trong không khí của những ngày đầu Xuân Quý Tỵ, cùng với cả nước kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng tới kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 103 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ; 38 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, Đoàn cán bộ ngành Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội gồm 200 đại biểu hội tụ về Quảng trường Ba Đình lịch sử để tổ chức lễ báo công nhằm báo cáo những thành tích xuất sắc của ngành Tòa án Thủ đô trong những năm qua.

Toa an 1Đồng chí Ngô Thị Minh Ngọc, Bí thư Đảng ủy, Phó Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội báo cáo thành tích, bày tỏ lòng biết ơn của Ngành trước Lăng Bác.

Trong giờ phút trang nghiêm và bồi hồi xúc động, thay mặt cán bộ, nhân viên ngành Tòa án Thủ đô, đồng chí Ngô Thị Minh Ngọc, Bí thư Đảng ủy, Phó Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập lãnh đạo Đảng ta, vị lãnh tụ kính yêu của các dân tộc Việt Nam. Trong Hội nghị cán bộ ngành Tư pháp năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung tòa án. Phải “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”. Thấm nhuần lời dạy của Người, cán bộ, nhân viên ngành Tòa án Hà Nội đã không ngừng ra sức thi đua, cố gắng phấn đấu miệt mài học tập, nghiên cứu,luôn giữ vững và nâng cao phẩm chất chính trị của người cán bộ Tòa án để phục vụ nhân dân, góp phần vào xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan vững mạnh toàn diện.

Trong những năm qua, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội triển khai công tác trong điều kiện kinh tế cả nước và Thủ đô còn nhiều khó khăn; tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội giữ được ổn định nhưng tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh thương mại và hành chính ngày càng gia tăng. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Tòa án nhân dân tối cao, Thành ủy và Hội đồng nhân dân thành phố cùng với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của tập thể Ban cán sự Đảng, lãnh đạo và cán bộ công chức trong toàn Ngành, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã giải quyết các vụ án kịp thời, đúng pháp luật, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch công tác đề ra. Nhiều tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý. Cụ thể, năm 2012, Ngành đã có 3 đơn vị được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba và 4 cá nhân có thành tích xuất sắc được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.

Toa an 2jpgĐoàn đại biểu Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội kính dâng vòng hoa lên Bác

Dù Bác đã đi xa nhưng những lời căn dặn của Bác với cán bộ ngành Tư pháp luôn là nguồn động viên, định hướng vững bước trên con đường bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đứng trước anh linh của Bác, cán bộ ngành Tòa án Thủ đô xin hứa với Bác: Tiếp tục phát huy truyền thống dân tộc, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, kiên định con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân lựa chọn; thường xuyên rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng xứng đáng là các chiến sĩ trong ngành Tư pháp trên trận tuyến bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa;đoàn kết gắn bó xây dựng đơn vị vững mạnh xuất sắc, kỷ luật nghiêm minh, quyết tâm vượt mọi khó khăn, hoàn thành vượt chỉ tiêu công tác mà Ngành đề ra; thực hiện lời dạy của Bác với cán bộ ngành Tư pháp “Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân và học dân” gắn với phương châm của Ngành là “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư”, ra sức học tập nâng cao trình độ mọi mặt, giữ vững phẩm chất chính trị của người cán bộ Tòa án hết lòng vì dân.

Kết thúc lễ báo công, đoàn đại biểu Tòa án thành phố Hà Nội đã kính cẩn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

“Vai trò lãnh đạo của Đảng là một tất yếu lịch sử”

Ảnh minh họa.

Ngày 14/3, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Nhiều vấn đề liên quan đến chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, sở hữu đất đai… đã được các đại biểu tham gia góp ý.

Các đại biểu cho rằng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã bảo đảm cụ thể hóa các quan điểm của Đảng trong Cương lĩnh và Văn kiện của Đại hội XI về sửa đổi Hiến pháp năm 1992, dự thảo Hiến pháp xác lập được cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thể hiện rõ nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội; tăng tính dân chủ và pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân.

Các ý kiến đều thống nhất giữ nguyên Điều 4 Dự thảo Hiến pháp. Trong tình hình hiện nay, cần tập trung làm rõ và khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng là một tất yếu lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Đối với vấn đề đất đai, nhiều đại biểu cho rằng Hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân đã cho thấy tính chất ưu việt của đất nước là quyền thuộc về nhân dân, quyền tối thượng là phục vụ nhân dân, thể hiện tính dân chủ cao. Song, không ít ý kiến băn khoăn cho rằng khái niệm này còn chung chung, dễ dẫn đến tình trạng lợi dụng để đồng hóa việc thu hồi đất phục vụ công trình phúc lợi công cộng với phục vụ sản xuất, đây là mầm mống của những vụ khiếu kiện.

Khoản 3 Điều 58 cần nêu rõ nhà nước thu hồi đất như thế nào, với các công trình an ninh quốc phòng, công trình công cộng, Nhà nước thu hồi phải có bồi thường thỏa đáng nhưng với những dự án phát triển kinh tế-xã hội thì phải thu mua.

Do đó, cần tách nội dung “các dự án phát triển kinh tế-xã hội” ra khỏi khoản này, để chủ đầu tư các dự án phát triển kinh tế – xã hội thực hiện theo quy định của pháp luật, tránh tình trạng lợi dụng để lấy đất của dân.

Xung quanh những quy định về Mặt trận Tổ quốc được thể hiện tại Điều 9, các đại biểu đề nghị giữ nguyên cụm từ “Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân” như Hiến pháp 1992.

Đồng thời, cần làm rõ khái niệm giám sát và phản biện của tổ chức này theo hướng giám sát đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, cơ quan dân cử; phản biện đối với các chủ trương, chính sách của cơ quan Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền để các chủ trương, chính sách đó phục vụ lợi ích của Nhà nước và nhân dân.

Cũng liên quan đến quy định này, nhiều ý kiến cho rằng Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, do vậy, không thể nói “Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” như khoản 3 mà cần nói rõ Nhà nước bảo đảm hay có cơ chế chính sách để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động./.

Chu Thanh Vân (TTXVN)
vietnamplus.vn

Vị tướng hải quân và những lần thoát hiểm

QĐND Online – Anh hùng LLVTND, Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chính ủy Quân chủng Hải quân – được sinh ra ở vùng quê biển Giao Thủy (Nam Định) nhưng ông luôn coi Quảng Trị là quê hương thứ hai bởi trên mảnh đất khói lửa ấy ông đã được người dân địa phương đùm bọc, chở che và nhiều lần thoát hiểm trước “nanh vuốt” quân thù…

“Trong các năm 1966-1968, khi là lính đặc công nước của Đoàn 126, tôi (lúc đó lấy bí danh là Hữu) cùng với anh Mai Năng (tên hoạt động là Mai) được kẻ địch “định giá” hàng chục nghìn đô-la cho bất kỳ ai bắt sống được, bởi chúng tôi đã gây ra nhiều vụ đánh chìm và làm thiệt hại những tàu vận tải lớn của Mỹ-ngụy ở hai cảng Cửa Việt, Đông Hà” – Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình nhớ lại. Rồi ông kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện khi ông cùng đồng đội một thời “dọc ngang trong lòng địch”.

Uống trà, hút thuốc với… sĩ quan ngụy

Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình kể rằng, trong những năm làm nhiệm vụ đánh phá tàu địch, ông và đồng đội đã từng có những lần chạm trán đối phương trong những tình huống khá trớ trêu. “Đó là lần nhóm chúng tôi do anh Mai Năng chỉ huy được cử đi tiêu diệt tàu địch ở cảng Đông Hà. Tôi nhận nhiệm vụ dẫn một tổ trinh sát đột nhập vào nhà một cơ sở của ta ở thôn An Lạc (xã Cam Giang, huyện Cam Lộ) để nắm tình hình”. Đêm ấy, ba người trong tổ trinh sát vừa đi dọc bờ tre quan sát thì phát hiện hai bóng đen đang đi lại trong sân, đoán chắc là quân địch, Nguyễn Văn Tình đã ra hiệu cho anh em quay về. Vừa trở ra thì cả tổ lại thấy một vật khả nghi ở phía trước, Nguyễn Văn Tình lại gần, khẽ chạm vào cái hình “mờ mờ, dài dài” ấy, thì ra đó là khẩu AR15 trên bụng của một tên lính đang nằm ngủ. Tên lính tỉnh dậy, vội vàng chộp lấy tay Tình. Rất nhanh, Tình giả giọng miền Nam: “Gác khuya lạnh quá, cho xin điếu thuốc hút đi cha nội!”. Tên lính đang ngái ngủ, càu nhàu: “Thuốc men gì, để yên cho tau ngủ, đang mệt thấy bà nè”. Nói vậy rồi tên lính hất tay Tình ra. Tưởng “thoát”, ai ngờ tên này lại rờ được bao thuốc rồi ném vào ngực anh. Vơ vội bao thuốc, Tình rút một điếu rồi đưa bao thuốc cho hai đồng đội là Tâm và Độ đang đứng phía sau, tiếp đó anh kéo sụp chiếc mũ xuống, lấy hai tay che miệng, bật quẹt châm thuốc rồi lợi dụng ánh lửa đảo mắt quan sát. Thì ra, toàn bộ dãy bờ rào, địch đang mắc võng nằm la liệt xung quanh. Nguyễn Văn Tình đã bình tĩnh đưa điếu thuốc đang hút cho hai đồng đội châm rồi ra hiệu cho họ cùng giả bộ lính gác, miệng phì phèo thuốc rồi tìm cách rút nhanh.

Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình với đời thường.

Lần hoạt động trinh sát tàu vận tải Mỹ của Nguyễn Văn Tình và đồng đội Nguyễn Đình Thi ở cảng Đông Hà cũng “ly kỳ” không kém. Hôm ấy khoảng 4h30 sáng, hai người vừa tới làng Thượng Nghĩa, xã Cam Giang thì bị một toán phục kích của địch truy đuổi. Cả hai chạy vào nhà một phụ nữ trạc tuổi 40 đang nấu ăn dưới bếp. Sau khi tự giới thiệu là Quân giải phóng, người phụ nữ sợ hãi bảo: “Các ông không thể ở đây được”. Hai anh nài nỉ: “Bọn chúng đuổi gấp quá, chúng tôi không còn chỗ nào khác”. Nói rồi Tình đẩy Thi chui vào góc bếp và phủ kín rơm rạ lên người. Ngoài kia, địch đã vào tới ngõ, bí quá, Tình đành ngồi cạnh chiếc cối xay rồi lấy tạm chiếc mẹt để che. Vừa nấp xong thì nghe thấy tiếng quát của tên chỉ huy: “Việt Cộng vừa chạy vào đây phải không?”. Người phụ nữ ấp úng mãi không trả lời. Viên sĩ quan bực tức lục lọi rồi đá tung chiếc mẹt, đúng chỗ Tình đang ẩn nấp. Nhanh như chớp, Tình lao ra đá văng khẩu súng ngắn trên tay viên sĩ quan. Sau khi khóa chặt tay anh ta, Tình hạ giọng: “Anh biết rồi đấy, chúng tôi là Quân giải phóng, anh hãy giải tán quân lính đi rồi chúng ta nói chuyện với nhau”. Tên trung úy lấm lét nhìn Tình, sau đó ra sân tuýt còi cho quân lính về nghỉ. Lúc đó, người phụ nữ mới thú thực tên trung úy chính là chồng mình. Khi quay vào, Nguyễn Văn Tình đã tháo đạn trong khẩu súng ngắn rồi đưa lại cho tên sĩ quan ngụy. “Bây giờ anh hãy thu xếp cho chúng tôi nghỉ lại đến tối, cơm thì có gì ăn nấy, chị cũng không được đi đâu cả”. Nghe vậy, tên trung úy liền bảo vợ trải chiếu cho hai chiến sĩ đặc công nghỉ tạm trong buồng rồi miễn cưỡng pha trà mời “khách”.

Cả ngày hôm ấy, ba người lính ở hai chiến tuyến đã cùng ngồi lại với nhau và tâm sự đủ thứ chuyện. Nguyễn Văn Tình cũng đã khuyên nhủ tên sĩ quan buông súng, tìm đường về với cách mạng. Sau khi ăn uống, nghỉ ngơi, hai chiến sĩ đặc công lại “chia tay” vợ chồng viên sĩ quan ngụy, tiếp tục hòa vào bóng đêm…

Thoát hiểm trong gang tấc

Lần ấy, Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Đình Thi được một du kích tên Hiếu dẫn đi trinh sát cảng Đông Hà. Lúc trở về, vào tới làng Thượng Nghĩa (xã Cam Giang, huyện Cam Lộ) thì trời vừa tảng sáng. Hiếu đành dẫn hai chiến sĩ đặc công vào nhà má Năm – người cô ruột của mình và là cơ sở tin cậy của Quân giải phóng. Hôm đó là ngày Tết Đoan ngọ (mùng 5-5 âm lịch), cũng là ngày má Năm làm cơm cúng giỗ chồng. Vì má có hai người con rể đi lính cho Quân đội Sài Gòn nên khi gặp các anh, má lo lắng bảo: “Các con thông cảm không ở lại được vì hôm nay hai thằng rể nhà má sẽ về đây”. Không còn cách nào khác bởi trời sắp sáng, Nguyễn Văn Tình đành khẩn khoản: “Má ơi, má cứ để tụi con lánh tạm, ở ngoài thì sẽ bị tụi nó bắt sống”. Cuối cùng má Năm cũng đồng ý để các chiến sĩ nấp vào gian buồng được ngăn ra từ những tấm liếp.

“Rái cá” Nguyễn Văn Tình trong một lần trở lại xã Gio Mai (Gio Linh, Quảng Trị) thăm ân nhân Trương Thị Láo (bên trái) và Trương Thị Lài (ngoài cùng, bên phải) – Ảnh do nhân vật cung cấp.

Khoảng 9 giờ sáng, hai người con rể của má Năm chở vợ đến. Từ lúc đó, không chỉ má Năm mà cả ba “vị khách không mời” trong buồng cùng thấp thỏm, lo âu. “Tới 10 giờ, người con rể lớn tên Thục trong lúc vào tìm mâm đã vô tình vạch tấm ri-đô ngay chỗ ẩn nấp của ba chúng tôi. Vừa vén ri-đô, Thục chợt sững người khi nhìn thấy tôi. Do đã chuẩn bị trước nên tôi kịp trấn tĩnh, chĩa khẩu súng ngắn vào ngực Thục, nói khẽ: “Anh biết cả rồi đấy, tốt nhất là anh hãy im lặng, tối nay chúng tôi sẽ rời khỏi đây”. Thục nhìn thẳng vào mắt tôi, “dạ” nhẹ một tiếng rồi cầm chiếc mâm đi ra”, Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình kể.

Từ lúc đó, Thục trở nên ít nói, mặt lộ rõ vẻ căng thẳng. Một lúc sau, Thục xin phép đi đâu đó. Tới gần trưa vẫn không thấy anh ta về ăn cơm, má Năm liền cho cô con út đi tìm thì được biết Thục đang ngồi đánh bài ở ngoài đình. Thục dặn em gái: “Mọi người cứ ăn cơm trước, anh ngồi ngoài này chứ về nhà bây giờ sẽ bị tụi nó nghi…”. Trưa ấy, má Năm đã mang cơm vào buồng cho ba chiến sĩ, nhưng chẳng ai muốn ăn vì còn phải căng óc ra lo đối phó. Cả ba đã tính tới phương án Thục báo cho đồng bọn kéo tới đàn áp và sẵn sàng hy sinh cùng số vũ khí mang theo. Rất may là tình huống xấu nhất đã không xảy ra…

Lần khác, “rái cá” Nguyễn Văn Tình cùng đồng đội Cao Xuân Liễn vừa đi hoạt động trinh sát ở cảng Cửa Việt về tới làng Mai Xá (xã Gio Mai, huyện Gio Linh) thì gặp đám binh lính Trung đoàn 2 của địch đang càn vào làng. Lên bờ, áo quần vẫn còn ướt sũng, trời lại sắp sáng, cả hai đành chia thành hai hướng vào nhà dân lánh tạm. Nguyễn Văn Tình vào nhà chị Trương Thị Láo, một cơ sở được lực lượng đặc công nước xây dựng từ trước đó. Biết địch đang ở đầu ngõ, chị Láo vội đẩy anh leo lên chiếc cột để náu mình trên trần nhà. Để xóa vết nước loang ra trên chiếc cột, chị Láo liền nhanh trí kéo em gái Trương Thị Lài còn đang ngái ngủ ra đứng sát chiếc cột rồi cầm chậu nước hắt lên người em, vừa hắt nước, chị vừa cầm roi quất mạnh và xối xả mắng: “Hơn chục tuổi đầu rồi mà mi vẫn còn đái dầm, đánh cho mi chừa đi này!”. Lúc ấy, Lài khóc rất to, còn người má đang lúi húi trong bếp cũng lao ra. Thấy cô em bị đánh, bà tru tréo mắng cô chị. Mặc má rầy la, chị Láo vẫn vừa đánh, vừa mắng đứa em tội nghiệp. Bọn địch thấy cảnh cãi lộn, khóc lóc của ba mẹ con nên đã không nghi ngờ gì, chúng vào nhà sục sạo, bắn chỉ thiên vài phát rồi rút. Mãi sau này, khi lớn lên, Lài mới được biết trận đòn oan của mình đã giúp cho người lính đặc công đang “nín thở” trên trần nhà “thoát hiểm”.

Cũng từ sự mưu trí của chị Láo, một người phụ nữ quê mùa, chất phác mà nhiều lần “rái cá” Nguyễn Văn Tình đã thoát khỏi nanh vuốt kẻ thù. Có lần anh đang trú tạm trong nhà chị thì quân Mỹ vào làng càn quét. Được tin, chị vội nhảy vào chuồng lợn, dùng cuốc xới phân ở góc chuồng lên thành một chiếc hố nhỏ để anh nằm nép vào rồi lấy rơm rạ, lá cây mục phủ lên mặt, còn thân người thì phủ kín… phân lợn. Xong việc, chị Láo lên nhà, mở toang hết các cửa rồi giả bộ bận bịu với công việc lấy phân, chuẩn bị ra đồng. Quân địch xộc vào, thấy nhà cửa trống trơn, chẳng thấy ai khả nghi nên bọn chúng lại hò hét kéo nhau đi…

Trong những cuộc đấu trí căng thẳng và những lần chạm trán đối phương, Nguyễn Văn Tình đều bình tĩnh xử trí nhằm đảm bảo bí mật cho cơ sở, góp phần cùng đồng đội đánh phá, tiêu diệt hàng trăm tàu địch. Qua những câu chuyện nhuốm màu huyền thoại của lính đặc công nước, ông và đồng đội “Đoàn 1A” đã được người dân địa phương ví như những chú “rái cá” trên vùng sông nước Cửa Việt – Đông Hà.

*

* *

Khi đất nước thống nhất, “rái cá” Nguyễn Văn Tình đã có dịp tới thăm lại những ân nhân của mình. “Nhiều năm qua, tôi đều vào Quảng Trị thăm lại bà con, cô bác từng cưu mang, che chở mình trong những năm chiến tranh. Mấy năm gần đây, tôi đã vào đón chị Trương Thị Láo ra Hà Nội và ở lại nhà tôi chơi nhiều ngày. Dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Quảng Trị vừa qua, tôi cũng vào thăm chị, nhưng lần này do bị đau chân nên chị không thể ra Hà Nội được”, Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình bộc bạch. Với ông, hình ảnh chị Láo và những người dân Quảng Trị không chỉ in sâu trong tâm trí những người lính đặc công trẻ ngày ấy mà cho tới tận bây giờ ông vẫn không quên ơn họ, như lời ông tâm sự: “Chúng tôi hoạt động giữa lòng địch nhưng không hề đơn độc bởi luôn có đồng bào Quảng Trị chở che, bảo vệ”.

Bài, ảnh: Bùi Vũ Minh
qdnd.vn

Ém quân dưới chân Đồi Cháy

QĐND Online – Ở quê lúa Thái Bình, có một con ngõ dài ước chừng hơn 300 mét nối liền hai thôn An Trực và Đồng Trực của xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ. Trong ngõ nhỏ ấy, có tới 3 người được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân là: Nguyễn Thế Thao, Nguyễn Hồng Thế và Nguyễn Công Dị. “Một ngõ ba anh hùng, đó không chỉ là niềm tự hào của người dân Thái Bình, mà còn khá hiếm gặp ở những địa phương khác”, Đại tá, Anh hùng Nguyễn Thế Thao tâm sự với chúng tôi như vậy.

Tìm gặp đúng dịp ông đang tất bật chuẩn bị cho chương trình “Về chiến trường xưa – tri ân đồng đội”, nhưng người lính trận từng có mặt trong đội hình Trung đoàn 165 (Sư đoàn 312) vẫn sẵn lòng dành thời gian kể lại cho chúng tôi về một thời trong biên chế Tiểu đoàn 6 chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị .

Anh hùng Nguyễn Thế Thao.

Những ngày đầu tháng 9-1972, lợi dụng mùa mưa, quân đội Sài Gòn mở chiến dịch “Đại phong lôi” phản kích sang phía nam sông Thạch Hãn. Đêm 3-9-1972, các Trung đoàn 165, 141 và 209 của Sư đoàn 312 bí mật hành quân chiếm lĩnh các tuyến xuất phát xung phong và nhận nhiệm vụ phối thuộc cùng các đơn vị bạn. Trong khi Trung đoàn 209 chọc thủng nhiều vị trí quân địch ở tuyến tây nam, Trung đoàn 141 giữ vững trận địa ở Điểm cao 39 và động Ông Do, thì Trung đoàn 165 kiên cường chiến đấu bảo vệ thành cổ Quảng Trị, Tân Tạo và La Vang. Để mở rộng hành lang vận chuyển, Tiểu đoàn 6 – Trung đoàn 165 ( do Nguyễn Thế Thao là Tiểu đoàn trưởng) nhận nhiệm vụ diệt cứ điểm Đồi Cháy, một điểm cao do một đại đội lính thuỷ đánh bộ địch chiếm giữ ở phía đông nam làng Như Lệ, xã Hải Lệ (nay thuộc Thị xã Quảng Trị).

“Thay vì đánh địch vào lúc nửa đêm hoặc gần sáng như phương án của các đơn vị bạn trước đây, sau khi trinh sát, chúng tôi đã quyết định sẽ đánh địch từ 17 giờ chiều, đúng vào lúc chúng đang chủ quan, lơ là canh gác. Một khó khăn đặt ra: Phải giấu quân ở đâu? Nếu giấu quân ở xa thì sẽ không kịp xung phong, nếu giấu quân vừa tầm thì địa hình trống trải, làm mồi cho pháo dàn và B52 của địch. Cuối cùng Tiểu đoàn quyết định: giấu quân ở trong lòng đất, ngay dưới chân đồi cháy, cách địch 70m” – Anh hùng Nguyễn Thế Thao kể lại. Đêm 8-9-1972, toàn tiểu đoàn bí mật luồn vào quanh điểm cao Đồi Cháy, cách địch khoảng 70m từ các hướng Đông, Đông Nam, Tây Bắc, với lực lượng khoảng 300 người của ba đại đội: 9, 10, 11. Tại đây, mỗi chiến sĩ đào một công sự nhỏ, nguỵ trang kín đáo chờ lệnh. Chiều 9-9, trên Đồi Cháy xuất hiện hàng trăm nấm khói do bọn địch đang tổ chức nấu cơm chiều. Thời cơ nổ súng đã đến. Sau khi hoả lực phủ đầu, quân ta xung phong. Mũi đột kích của Tiểu đoàn 6 chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài, song bị chững lại ở lưng đồi, vì pháo dàn của địch trùm lên Đồi Cháy. Từ trên cao, một ổ 12,8mm của địch quét chéo xuống sườn đồi, làm quân ta không sao tiến lên được. Đúng lúc đó, Trung đội trưởng Hoàng Đăng Miện đã trườn lên, tìm một địa thế thuận lợi, rồi đứng vụt dậy, giương khẩu B41, bóp cò! Ổ 12,8mm của địch bị tiêu diệt, những bước chân xung phong rầm rập tràn lên..

Sau khi chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, Đại đội trưởng Nguyễn Đình Khuyến đã chỉ huy Đại đội 10 đột phá tuyến phòng thủ thứ hai. Máy bay địch bắn phá dữ dội xung quanh Đồi Cháy. Đại đội trưởng Khuyến bị trúng đạn, hy sinh, Trung đội trưởng Hoàng Đăng Miện lên thay và nhận nhiệm vụ chỉ huy bộ đội tiếp tục tiến vào trung tâm cứ điểm, mặc cho pháo địch bắn dồn dập… Sau hai ngày chiến đấu, Tiểu đoàn 6 đã diệt 150 tên địch và làm chủ Đồi Cháy. Chiến dịch “Đại phong lôi” của địch bước đầu bị thất bại.

Ngồi ôn lại chuyện cũ, Đại tá Nguyễn Thế Thao không khỏi xúc động khi nhắc tới sự hy sinh của đồng đội Hoàng Đăng Miện trong trận đánh Đồi Cháy năm xưa. Ông ngậm ngùi, đơn vị đã mất đi một cán bộ tài năng, một “chuyên gia” diệt địch bằng B41 được anh em mến phục. “Ngay từ ngày đơn vị còn chiến đấu ở Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng những năm 1970-1971, Miện đã là người có kinh nghiệm đánh B41 và diệt nhiều tên địch. Hôm diễn ra trận đánh Đồi Cháy, khi Hoàng Đăng Miện đang lắp tiếp vào đầu súng một trái đạn mới, bỗng một vầng sáng chớp lóe trước mặt, mọi người chỉ kịp thấy quả đạn B41 trên đầu súng của anh bắt lửa, đỏ chói…” – Đại tá Nguyễn Thế Thao kể lại.

Từ cách đánh “ém quân dưới chân đồi” của Tiểu đoàn 6, ngày 23-9-1973, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thế Thao và Trung đội trưởng Hoàng Đăng Miện được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Bài và ảnh: Minh Tuệ-Trung Nguyên
qdnd.vn

“Người lính U-crai-na, cựu chiến binh Việt Nam”

QĐND Online – Trong căn nhà ấm cúng của mình tại phố Liễu Giai, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh-nguyên Phó Cục trưởng Cục tác chiến –Bộ Tổng tham mưu đã cho chúng tôi xem cuốn nhật ký bằng hình ảnh của một cựu chiến binh U-crai-na gửi tặng ông trong chuyến thăm Việt Nam hồi đầu năm 2011. Với ông, những kỉ niệm của một thời là Bộ đội Tên lửa cùng các chuyên gia quân sự Liên Xô đánh thắng máy bay Mỹ mãi mãi không thể nào quên…

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh (ngoài cùng bên trái) và Đa-líp-sơ-ki cùng đọc nhật ký chiến đấu của bạn. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Bắn rơi chiếc máy bay thứ 400

Cuối tháng 6-1965, cơ quan Tham mưu Quân chủng Phòng không-Không quân (PKKQ) dưới sự chỉ đạo của Thượng tá Nguyễn Quang Tuyến, Tham mưu phó Quân chủng xây dựng phương án tổ chức trận đánh đầu tiên của Bộ đội Tên lửa phòng không. Đơn vị trực tiếp tham gia trận đánh là Tiểu đoàn 63 và 64 của Trung đoàn Tên lửa 236 (Đoàn Sông Đà) ở hai vị trí cách nhau khoảng 5km và Tiểu đoàn 61 làm dự bị. Để đảm bảo bí mật, các trận địa tên lửa đều được cấp trên chỉ đạo xây dựng cấp tốc trong 36 giờ. Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh khi ấy là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 64 tác chiến ở khu vực Suối Hai, Sơn Tây nằm phía hữu ngạn sông Đà, cách Hà Nội khoảng 60 km. Với quyết tâm đánh thắng trận đầu, Quân chủng PKKQ thống nhất với bạn theo phương án: kíp chiến đấu do quân nhân Liên Xô trực tiếp thao tác, kíp chiến đấu của Việt Nam theo dõi, học tập rút kinh nghiệm. Mùa hè năm đó, một tổ chuyên gia quân sự Liên Xô do Thiếu tá I-li-nức (Ivan Ylinysh) là tổ trưởng sang giúp đỡ ta trong công tác huấn luyện và trực tiếp tham gia chiến đấu. Đồng chí I-li-nức người U-crai-na lúc đó đóng vai trò là Tiểu đoàn trưởng cố vấn cho Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Ninh. 16 giờ 15 phút ngày 24-7-1965, phát hiện thấy có máy bay địch, toàn bộ kíp chiến đấu sẵn sàng. Khi máy bay địch vào tầm bắn, Nguyễn Văn Ninh và I-li-nức ra lệnh bắn. Tiểu đoàn 64 phóng hai quả tên lửa, bắn rơi tại chỗ một chiếc F-4. Đây là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị bắn rơi bởi Bộ đội Tên lửa phòng không Việt Nam và là chiếc máy bay thứ 400 của không lực Mỹ bị ta bắn hạ. Ngay ngày hôm sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện chúc mừng đến toàn đơn vị. Người cũng căn dặn Bộ đội Tên lửa cần tiếp tục phối hợp đánh mạnh và đánh thắng lớn hơn nữa.

Sẵn sàng chiến đấu sau chiến công đầu, ngày 25-7 đơn vị của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Ninh tiếp tục triển khai trận địa dự bị. Ngày 26-7 phát hiện thấy tốp máy bay địch có nhiễu điện tử xâm lấn vùng trời miền Bắc, Tiểu đoàn 64 phóng hai quả tên lửa, bắn rơi một máy bay không người lái của địch mà lúc đầu cả kíp chiến đấu của ta cùng tổ chuyên gia quân sự Liên Xô đều tưởng là máy bay do thám U2.

Cuộc gặp gỡ kì diệu

Tổ chuyên gia quân sự của Thiếu tá I-li-nức ở lại hỗ trợ ta khoảng bốn tháng rồi về nước. Đồng chí Nguyễn Văn Ninh sau đó vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội và cũng trải qua vài lần thay đổi vị trí công tác nên cũng không còn liên hệ gì với các đồng chí bạn. Chỉ biết sau này đồng chí I-li-nức khi trở về U-crai-na được một thời gian thì lâm bệnh hiểm nghèo rồi qua đời. Đầu năm 2011, một đoàn cựu chiến binh (CCB) U-crai-na, trong đó có một đồng chí là trắc thủ ra-đa trong tổ chuyên gia quân sự Liên Xô năm xưa sang thăm Việt Nam. Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh được Quân chủng PKKQ và đơn vị cũ mời tham gia buổi gặp gỡ đặc biệt với đoàn CCB này. Khi đoàn CCB bạn đến, thấy một đồng chí có bộ râu nhác giống Thiếu tá I-li-nức cứ tự nhiên tiến thẳng về phía mình ông đã ngờ ngợ. Với vốn tiếng Nga ít ỏi của mình, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh sau một hồi trò chuyện đã nhận ra người đồng đội cũ Đa-líp-sơ-ki Pê-tơ-rô.

Năm 1965, Đa-líp-sơ-ki Pê-tơ-rô là trắc thủ ra-đa trong tổ chuyên gia của I-li-nức. Theo trí nhớ của Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, Đa-líp-sơ-ki sống ở thành phố Ki-ép (Kiev, U-crai-na). Khi đến Việt Nam, ông còn rất trẻ chỉ chừng 22-23 tuổi, là một thanh niên rất nhanh nhẹn, linh hoạt và thân thiện. Trong kíp chiến đấu năm xưa Đa-líp-sơ-ki là trắc thủ ra-đa ở góc phương vị, ngay bên phải Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Ninh. Sau 46 năm mới có dịp trở lại Việt Nam Đa-líp-sơ-ki đã thông qua Đại sứ quán hai nước đề nghị gặp được người từng tham gia trận đánh đầu tiên của Bộ đội Tên lửa năm 1965. Đa-líp-sơ-ki trao tặng Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh cuốn nhật ký công tác và chiến đấu của các bạn trong thời gian ở Việt Nam. Ông hoàn toàn ngỡ ngàng khi nhìn lại hình ảnh và những dòng lưu bút của mình và đồng đội đã được các bạn giữ gìn rất cẩn thận. Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh kể: “Khi Đa-líp-sơ-ki lại gần tôi, ông ấy đưa cho tôi một tờ giấy nhỏ có ghi con số 400. Tôi hiểu ngay ông muốn nói đến chiếc máy bay thứ 400 của quân đội Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời miền Bắc Việt Nam. Tôi hỏi lại: Có nhớ I-li-nức không? Đa-líp-sơ-ki chỉ gật đầu không nói gì cứ ôm ghì lấy tôi”.

Hai người lính ở hai đất nước cách xa nhau hàng nghìn km một thời từng hợp tác chiến đấu bên nhau đã gặp lại sau gần nửa thế kỷ-một điều tưởng chừng như không thể. Khi chia tay, tháo chiếc huy hiệu CCB đang đeo Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh gắn lên ngực Đa-líp-sơ-ki và nói: “Anh bây giờ là CCB Việt Nam”.

Bích Trang
qdnd.vn

Người anh hùng gần gũi

QĐND Online – Những ngày này, trong ngôi nhà nhỏ tại quận Tân Phú (TP Hồ Chí Minh) của ông Nguyễn Quốc Độ, Phó Chủ nhiệm CLB Khối vũ trang Biệt động Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, không khí thật buồn sau khi ông biết tin Đại tá, anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đức Hùng (bí danh Tư Chu) qua đời.

Đại tá, anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đức Hùng (bí danh Tư Chu)

Trong cả thời chiến và thời bình, ông đã từng gặp gỡ và tiếp xúc với người được coi là “vị tướng biệt động” tài ba, nguyên là Chỉ huy trưởng lực lượng Biệt động Sài Gòn – Gia Định, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Định.

Với ông Độ, ngoài tài chỉ huy những trận đánh lớn, “vị tướng biệt động” Tư Chu còn là một cán bộ lãnh đạo sống giản dị và tình cảm, luôn quan tâm tới anh em. Câu chuyện về hai lần gặp gỡ “vị tướng biệt động” vẫn đọng lại trong ông nhiều cảm xúc…

Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, chỉ huy Tư Chu được coi là một trong những mục tiêu “cần phải tiêu diệt ngay” của chính quyền Sài Gòn và quân đội Mỹ. Ông bị truy lùng ráo riết khắp nơi cả trong nội thành và ngoại ô, chúng treo thưởng 2 triệu USD cho ai bắt và giết được ông. Việc gặp gỡ và tiếp xúc với ông rất khó ngay cả với những người cùng đơn vị.

Giữa lúc “nước sôi lửa bỏng” như vậy, chiến sĩ trẻ Nguyễn Quốc Độ lại có cơ hội được gặp chỉ huy Tư Chu, người mà anh thường được nghe kể qua những trận đánh lớn của lực lượng biệt động Sài Gòn, làm chính quyền Ngụy và quân đội Mỹ khiếp sợ.

Hồi đó, ông Độ mới 22 tuổi và đang là giáo viên quân sự và văn hóa tại Trường thiếu sinh quân Lê Văn Tám thuộc Quân khu Sài Gòn – Gia Định. Ngày 20-6-1969, Trường được thành lập tại tỉnh Tây Ninh với gần 100 học viên, hầu hết là con em cán bộ chiến sĩ đang hoạt động trong nội thành.

Địa điểm gặp mặt là căn cứ đồi Thơ thuộc xã Hòa Hiệp, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vào cuối tháng 3-1972. Người giáo viên trẻ được dẫn tới một lán nhỏ nằm ngay trong trường. Trong lòng ông không khỏi hồi hộp muốn được biết người đã chỉ huy những trận đánh lớn làm nghiêng ngả Sài Gòn.

Trong đầu ông nghĩ rằng hình ảnh thủ trưởng là một chỉ huy oai phong, nghiêm khắc nhưng thật bất ngờ “vị tướng biệt động” đó thật giản dị và tình cảm.

– Em nghe về anh đã lâu, hôm nay mới có dịp gặp. Ông Độ nói.

– Cậu thấy tớ có gì ghê gớm không?

Phó Tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Đinh cười hỏi rồi kéo ông xuống ngồi cùng võng.

Chỉ huy Tư Chu hỏi thăm về gia đình ông và tình hình của trường. Ông Độ kể về những khó khăn của nhà trường như thiếu lương thực và thuốc men trong nhiều tháng, rồi trường thường xuyên phải đi sơ tán nhiều nơi do địch càn… Có thời gian dài, học viên của trường phải thường xuyên ăn cháo nấu với củ mài và ngọn lục bình.

Chỉ huy Tư Chu giải thích, trong trường chủ yếu là con em cán bộ, chiến sĩ ta đang hoạt động trong nội đô, nếu để địch bắt, chúng sẽ tạo sức ép lớn cho ta. Ông nói:

– Đây là nhiệm vụ quan trọng, các đồng chí sống thì các cháu phải an toàn, thay mặt bố mẹ nuôi dậy các cháu lên người. Các cháu đều là những hạt giống đỏ sau này đấy.

Sau đó, chỉ huy Tư Chu nhờ người giáo viên trẻ tìm đường ngắn nhất và bí mật đến thăm bếp ăn của trường. Lúc này, chị nuôi tên Ba Ngôn đang nấu bữa cơm chiều.

Vừa bước vào bếp, chỉ huy Tư Chu đã nói:

– Chị Ba có khỏe không?”

Chị nuôi giật mình quay lại đánh rơi chiếc đũa, không nói được câu nào. Chị bất ngờ khi thủ trưởng đến thăm trong thời điểm này.

– Chị đang nấu gì cho các cháu vậy?. Chỉ huy Tư Chu hỏi tiếp.

Chị Ba buồn rầu nói:

– Chúng tôi đang nấu bữa chiều cho các cháu và cả chúng tôi nữa, chỉ có gạo nấu với ngọn lục bình thôi.

Rồi chị khóc.

Vị chỉ huy cầm đũa khuấy vào nồi cháo lỏng cùng những ngọn lục bình xanh rờn. Ông nói:

– Các đồng chí và các cháu ăn như vậy thôi sao. Chúng tôi thấy có lỗi vì không lo đươc cho các cháu, nếu bố mẹ chúng biết được thì làm sao mà chiến đấu được.

Cả ba người đứng lặng yên. Nước mắt rơi xuống gương mặt người chỉ huy.

Cựu chiến binh Nguyễn Quốc Độ kể về những lần gặp gỡ chỉ huy Tư Chu

Những năm sau đó, Trường được ổn định và luôn có gạo dự trữ. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975 trường kết thúc khóa học cuối cùng. Nhiều thiếu sinh quân học tại trường sau này trở thành những tướng lĩnh cấp cao trong quân đội và cán bộ chủ chốt chính quyền.

Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông Độ xin ra quân, học đại học và công tác tại một doanh nghiệp nhà nước. Đến năm 1996, ông được gặp thủ trưởng lần thứ 2. Lúc đó chỉ huy Tư Chu đang lâm bệnh nặng và nằm điều trị tại nhà.

Lần thứ hai cũng lại là một bất ngờ.

– Anh Tư còn nhớ em không?. Ông bước vào nhà và hỏi.

– Sao quên được mày, thằng Độ đúng không?.

Chỉ huy Tư Chu nói. Rồi ông lại hỏi tiếp:

– Mày có nhà cửa chưa?

Cựu chiến binh Độ bất ngờ bởi ông không nghĩ rằng thủ trưởng lại hỏi như vậy. Ông hỏi:

– Sao anh lại hỏi em như vậy?

– Không, tao biết, có nhiều anh em sau chiến tranh cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn lắm.

Ông Độ cảm nhận được tình cảm của người chỉ huy quan tâm tới anh em.

Quả đúng như vậy, trong thời gian lâm bệnh nặng nhưng ông vẫn luôn quan tâm tới gia đình các đồng đội. Nhiều đồng đội ông coi như anh em đã hi sinh trong các trận đánh, trong đó có những bí số, bí danh không ai biết.

Câu chuyện của người cựu chiến binh già kết thúc khi vợ ông hỏi về giờ đưa đám tang chỉ huy Tư Chu. Sáng mai (19-5), hai vợ chồng ông sẽ đưa “vị tướng biệt động” tới nơi an nghỉ cuối cùng…

Xuân Duy ghi
qdnd.vn

Mỗi tấc đất, một cuộc đời có thật

QĐND – “Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi/Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ/Trời Quảng Trị trong xanh và lộng gió/Dẫu ồn ào đừng lay mạnh hàng cây”– Thiếu tướng Giang Văn Thành bất chợt khẽ ngâm đoạn thơ trên khi tôi hỏi anh về hành trình đi tìm hài cốt liệt sĩ, giúp các gia đình đồng đội thỏa nỗi mong ngóng nhiều năm. 40 năm đã trôi qua nhưng ký ức về chiến trường Quảng Trị vẫn nguyên vẹn trong anh.

Người lập bàn thờ liệt sĩ

Tôi gặp Thiếu tướng Giang Văn Thành lần đầu vào tháng 9-2010, đúng ngày Sư đoàn 390 (Quân đoàn 1) tổ chức lễ trao danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của Chủ tịch nước tặng anh. Lúc đó, Giang Văn Thành đang là Đại tá, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Chính trị. Tại buổi lễ, tôi được nghe nhiều cựu chiến binh là đồng đội của anh chia sẻ:

– Giang Văn Thành được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân là rất xứng đáng, chứng tỏ công tác thi đua-khen thưởng của Đảng, Nhà nước ta đã không bỏ sót những người có công với Tổ quốc, với nhân dân.

Nhà báo Duy Mười (Báo Hànộimới), người từng một thời “súng bên súng, đầu sát bên đầu” với anh Thành, ghé tai tôi, thủ thỉ:

– Giang Văn Thành đã chỉ huy đại đội tả xung, hữu đột trong những trận đánh giải phóng Cửa Việt trước ngày thực hiện Hiệp định Pa-ri (28-1-1973). Không chỉ anh hùng trong chiến đấu, anh ấy còn là người chí nghĩa, chí tình với đồng chí, anh em. Đã gần 20 năm nay, bên cạnh việc hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, anh Thành còn thực hiện hàng chục chuyến trở về chiến trường xưa Quảng Trị, tìm kiếm hài cốt đồng đội rồi báo tin cho gia đình của họ; giúp đỡ các gia đình liệt sĩ trong việc cất bốc, đưa liệt sĩ trở về quê hương nếu gia đình yêu cầu.

Vợ chồng Đại tá (nay là Thiếu tướng) Giang Văn Thành trong ngày đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Nhân lúc vui vẻ, nhiều cựu chiến binh Trung đoàn 64 (Sư đoàn 390)-đơn vị của Giang Văn Thành trước đây cùng nói với tôi:

– Báo Quân đội nhân dân cần có bài viết về tấm gương Giang Văn Thành đi tìm hài cốt liệt sĩ. Việc này không phải để tuyên truyền thành tích cá nhân, mà là việc nghĩa cần phải nói để nhân dân, bộ đội hiện nay hiểu thêm về tình đồng đội của những người đã “một thời Quảng Trị”.

Trước “sức ép” của các cựu chiến binh, anh Thành đồng ý sẽ dành thời gian kể với tôi về hành trình đi tìm đồng đội của mình. Sau hôm đó, tôi đến nhà thấy anh đang đứng trước bàn thờ những đồng đội đã hy sinh (trong phòng thờ của gia đình, anh Thành lập một bát hương riêng để thờ đồng đội đã hy sinh ở Quảng Trị). Anh ngước nhìn tôi mà mắt đỏ hoe. Mấy lần tôi định hỏi nhưng thấy tâm trạng anh khó có thể trả lời. Đợi sự xúc động qua đi, anh nói nhỏ:

– Có lẽ mình phải hẹn cậu dịp khác. Bây giờ, mỗi lần nhớ về chúng nó (anh gọi những đồng đội đã hy sinh thân mật như vậy), mình không thể nào tĩnh tâm được. Những trận đánh cứ như vừa diễn ra hôm qua. Mỗi tên đất, tên làng ở Quảng Trị hiện nay đều gắn liền với những trận đánh bi hùng, những góc ruộng, bờ mương đều hiện lên hình ảnh đồng đội hy sinh mà mình đã trực tiếp chôn cất. Cho nên, cứ nhắc đến, mình lại thấy đó là một số phận, một mảnh đời, một tiếng kêu, một lời nhắn nhủ… Đành vậy nhé!

Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ

Từ tháng 9-2010 đến nay, tôi đã có dịp đến gặp anh Thành nhiều lần nhưng ý định tìm hiểu về hành trình đi tìm hài cốt đồng đội của anh vẫn chưa thành; vì anh không muốn kể chuyện này trên báo. Nhưng mỗi lần cóp nhặt vài mẩu chuyện, cũng giúp tôi hiểu được nhiều phẩm chất đáng quý trong anh.

Giang Văn Thành, sinh năm 1954, quê ở Thái Thụy, Thái Bình. Ngày 3-1-1972, cùng với hàng trăm trai làng trong huyện, Thành hăm hở nhập ngũ. Chiến trường miền Nam vẫy gọi, huấn luyện chưa xong, Thành cùng đồng đội đã được bổ sung vào Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320B cũ, nay là Sư đoàn 390), chiến đấu ở Mặt trận Cánh Đông Quảng Trị. Ngày 28-6-1972, chưa đầy nửa tuổi quân, Binh nhất Giang Văn Thành đã có trận “giáp lá cà” đầu tiên với giặc. Mỹ-ngụy lúc đó mất Quảng Trị, điên cuồng tung quân tái chiếm. Tiểu đoàn của Giang Văn Thành quần nhau với một tiểu đoàn địch tại Phương Lang – Linh Chiểu suốt một ngày. Trận đánh khốc liệt đầu tiên đó, ta giành thắng lợi lớn nhưng đại đội của Thành hy sinh gần một nửa. Một sự thật khốc liệt, một mất mát ngoài sức tưởng tượng đã đến với người lính trẻ Giang Văn Thành. Nhưng anh không khóc. Đêm đó, Thành tham gia an táng những đồng đội hy sinh, những người bạn cùng quê mới tối hôm trước còn rúc rích trêu đùa cùng anh…

Chiến đấu mưu trí, dũng cảm, táo bạo nên Giang Văn Thành trưởng thành rất nhanh. Sau 22 ngày quần nhau với địch, Thành đã lần lượt được cấp trên tin tưởng bổ nhiệm làm tiểu đội trưởng rồi trung đội trưởng. Đến đầu năm 1973, anh đã là đại đội trưởng ở tuổi 19, chỉ huy đại đội tham gia giải phóng Cửa Việt. Những trận đánh của anh, được sách sử Trung đoàn 64 ghi lại khá rõ nhưng anh không nhớ nhiều về chuyện đó, anh chỉ nhớ những lần băng bó vết thương cho đồng đội, hàng trăm lần tham gia chôn cất liệt sĩ. Có lần, đang trò chuyện với tôi, bất chợt anh kể:

– Trí nhớ của mình không phải tốt, nhưng không hiểu sao gần đây, mình nhớ lại rõ mồn một từng hình ảnh trong ngày 28-6-1972, cái ngày mình giáp trận đầu tiên. Nhớ nhất là Phạm Quang Vinh, bạn mình, người xã Thái Giang (Thái Thụy), bị dính một mảnh cối của địch văng vào cổ. Vinh cứ cố gọi mình: Thành ơi, băng đi, băng đi… Lúc đó, mình đang mải băng cho một đồng đội khác, khi quay lại thì Vinh… đã hy sinh rồi. Và kỳ lạ lắm, trong hàng chục trận đánh mình trải qua, trận nào cũng có đồng đội bị thương gọi mình: Thành ơi, băng đi. Mỗi lần về Quảng Trị, nhất là đến các nghĩa trang, mình lại nghe như nó đang vọng về bên tai…

Bén chuyện, anh mới chịu hé lộ chút ít về lần đầu tiên đi tìm hài cốt đồng đội. Kể từ sau năm 1973, Thành được cử ra Bắc đi học, trở thành sĩ quan, mải miết với nhiệm vụ, đến năm 1996, lần đầu tiên anh mới có điều kiện quay lại Quảng Trị. Mất rất nhiều chuyến tìm lại chiến trường xưa, xác minh xem những địa điểm mình đã chôn cất đồng đội khi xưa còn dấu vết hay không. Thật may, nhờ việc lưu trữ hồ sơ của đơn vị khá tốt nên phần nhiều hài cốt được quy tập về các nghĩa trang. Anh Thành đã dày công ghi lại địa chỉ từng ngôi mộ, tìm cách liên hệ với thân nhân liệt sĩ để gia đình biết tin. Liệt sĩ đầu tiên mà anh giúp gia đình đưa hài cốt về quê là Trần Vinh Phong, Tiểu đội trưởng của anh. Cuối năm 1996, sau mấy lần vào Quảng Trị thắp hương cho đồng đội, trên đường trở ra, đi ngang qua huyện Ý Yên (Nam Định), Thành bỗng nhớ lại trong một đêm tâm sự trước giờ xuất trận, Tiểu đội trưởng Phong có dặn: “Quê anh ở Ý Yên, Nam Định, gần Quốc lộ 1. Sau này có điều kiện, các em nhớ về nhà anh nhé”. Nhớ đến đây, anh Thành thấy thảng thốt trong người. Anh quyết định về huyện Ý Yên tìm địa chỉ nhà liệt sĩ Phong. Điều này tưởng chừng mơ hồ, vì cả một huyện rộng lớn như thế, biết đâu mà tìm. Thế nhưng, khá may mắn là người đầu tiên mà anh hỏi thăm, lại là người cháu của liệt sĩ Phong. Gặp được anh, mẹ liệt sĩ Phong mừng mừng, tủi tủi. Bà nói, bao năm qua, bà đã dò dẫm đi tìm hài cốt của con trai. Cứ nghe người ta mách ở đâu là vào đó tìm. Đi cả vào Gia Lai, Đắc Lắc… tìm mà vẫn biệt vô âm tín. Nay gặp anh Thành, mới biết hài cốt anh Phong đang nằm ở Nghĩa trang liệt sĩ xã Hải Thượng (Hải Lăng, Quảng Trị).

Hành trình báo tin và đưa hài cốt đồng đội đã hy sinh về với người thân của Thiếu tướng Giang Văn Thành còn nhiều câu chuyện ly kỳ, cảm động. Anh bảo, trong mấy chục đồng đội mà anh đã “đưa về quê”, mỗi người là một câu chuyện. Nhưng cũng có gia đình, anh Thành khuyên chỉ nên đến nghĩa trang thắp hương chứ không đề nghị đưa hài cốt liệt sĩ về quê. Tôi mấy lần hỏi vì sao? Anh chậm rãi:

– Đó là những đồng chí mình trực tiếp mai táng. Họ hy sinh anh dũng lắm, và nói thật là sau trận đánh, thi thể có còn nguyên vẹn đâu. Có người trúng mấy lần đạn pháo địch, thịt xương hòa lẫn với đất, chúng mình bốc đất đó để mai táng. Nên tiếng là mộ còn, nhưng các anh thực sự tan vào Đất Mẹ cả rồi.

Tôi thẫn thờ. Và tôi chợt hiểu vì sao, anh Thành lại thích câu thơ: “Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi/Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ…” đến thế.

Bài và ảnh: Hồng Hải
qdnd.vn