Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Ngày 23 tháng 2: Chính phủ không giấu dân

Thứ hai, 23/02/2009, 01:49 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 89 năm, báo cáo của mật thám Pháp cho biết Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ một người lính Việt Nam sang Pháp tham gia chiến tranh và hứa sẽ làm báo bằng tiếng Việt phân phát cho binh lính người Việt khá đông đảo đang sống trên đất Pháp.

Ngày 23-2-1946, trả lời phỏng vấn vào thời điểm cuộc đàm phán Pháp – Hoa đã đạt tới thỏa thuận Pháp sẽ thay thế quân Trung Hoa ở phía Bắc vĩ tuyến 18, Bác nêu rõ quan điểm: “Dân Việt Nam có một ý muốn rất bình thường là muốn độc lập. Thấy tôi nói thế, có người họ cũng tán thành nền độc lập của ta. Là vì sau những câu hỏi của họ, tôi đã hỏi lại họ: “Ông là người Pháp, có muốn được độc lập, có muốn được tự do không?”. Tôi lại nói cho họ biết thêm rằng chúng tôi tranh đấu từ trước tới bây giờ là cũng tranh đấu theo như người Pháp đó thôi. Ba tiếng Tự do – Bình đẳng – Bác ái đã làm cho Pháp thành một dân tộc tiên tiến, thì chúng tôi cũng chỉ muốn tranh đấu để được như thế. Nếu bao giờ có cuộc đàm phán, Chính phủ cũng không giấu dân vì nước mình chưa phải là một nước ngoại giao bí mật”.

Ngày 23-2-1953, Báo Cứu Quốc đăng bài “Canh giả hữu kỳ điền” của Bác (ký tên C.B) giải thích tên bài báo “có nghĩa là dân cày có ruộng, ruộng đất của dân cày lại trả lại cho dân cày. “Dân cày có ruộng” chỉ là một chính sách dân chủ, nó không phải là chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội”.

Ngày 23-2-1958, Bác đến thăm hội nghị cán bộ tỉnh Sơn Tây đang học tập Tuyên bố của Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân… vừa họp tại Mátxcơva (11-1957). Bác căn dặn: “Các xã họp lại thành cả nước. Nước ta mạnh là do cán bộ và nhân dân các xã đồng tâm, nhất trí, đoàn kết chặt chẽ. Muốn cho Đảng mạnh thì chi bộ phải vững chắc. Muốn chi bộ vững chắc thì mọi đảng viên phải có đạo đức cách mạng, phải làm đúng đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ, phải gần gũi và đoàn kết với quần chúng”.

Ngày 23-2-1960, Bác Hồ thăm và nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Lạng Sơn nêu lên 10 nhiệm vụ để thúc đẩy phát triển ở một tỉnh biên giới và thực hiện tốt đoàn kết dân tộc, đoàn kết Việt – Trung.

Ngày 23-2-1962, dự họp Bộ Chính trị bàn về tình hình quốc tế và công tác đối ngoại, Bác căn dặn: “Cần có sự kiểm tra, đôn đốc cán bộ ngoại giao và nhắc nhở họ: ra ngoài đừng tham”. Bàn về cách mạng miền Nam, Bác lưu ý phải nắm được đặc tính của cuộc chiến tranh, chuẩn bị quan điểm để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc và Liên Xô, phải quan tâm đến đồng bào Thượng và kiên trì khẩu hiệu: “Trường kỳ gian khổ, nhất định thắng lợi”.

Cũng trong tháng 2-1962, Bác nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác cảnh vệ. Với kinh nghiệm của một nhà hoạt động cách mạng từng trải, Bác kết luận: “Tóm lại, các chú muốn bảo vệ tốt phải có kỹ thuật, phải giữ được bí mật và phải có thái độ tốt đối với đồng bào”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 22 tháng 2: Làm kế hoạch phải chú ý tới con người

Chủ nhật, 22/02/2009, 01:03 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 84 năm, ngày 22-2-1925, cụ Phan Bội Châu viết thư nhờ Hồ Tùng Mậu chuyển cho Lý Thụy (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) – lúc này đang hoạt động tại Quảng Châu. Trong thư nhà ái quốc lão thành đã thành tâm đưa ra những lời đánh giá khích lệ: “(Đọc thư) mới biết là học vấn, trí thức của cháu nay đã tăng trưởng quá nhiều, không phải như hai mươi năm trước… Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này. Nhận được liên tiếp hai bức thư của cháu, bác vừa buồn lại vừa mừng. Buồn là buồn cho thân bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh ban mai… Cháu học vấn rộng rãi, đã từng đi nhiều nơi hơn bác cả chục, cả trăm lần. Tri thức và kế hoạch của cháu tất vượt sức đo lường của bác…”.

Cũng trong tháng 2-1925, báo Le Paria (Người Cùng Khổ) đăng bài “Chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Viễn Đông, Varen và Đông Dương”. Bài báo phân tích lý do một đảng viên Đảng Xã hội là Varen sang làm Toàn quyền Đông Dương là nhằm “ngăn không cho người bản xứ nghe lời người” và “ru ngủ dân bản xứ bằng hứa hẹn hàng đống những cải cách”.

Tháng 2-1945, Mặt trận Việt Minh xuất bản sách “Phép dùng binh của ông Tôn Tử” do Hồ Chí Minh dịch. Trong lời giới thiệu, dịch giả lưu ý: “Ông Tôn Tử là một người quân sự có tiếng nhất ở Trung Quốc. Ông sinh hơn 2.000 năm trước… Nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng về quân sự đúng mà dùng về chính trị cũng rất hay”.

Tháng 2-1945 cũng là thời gian Hồ Chí Minh được tướng Trương Phát Khuê cấp giấy phép đi lại trên vùng Vân Nam. Trong bộ quân phục Trung Hoa, Bác tiếp xúc với nhiều lực lượng chính trị Trung Hoa và Việt kiều, đồng thời cũng tìm cách tiếp cận với lực lượng Đồng Minh đang đặt bản doanh ở Côn Minh.

Ngày 22-2-1952, Bác thăm Đoàn pháo binh 351 đang trú quân và huấn luyện tại tỉnh Tuyên Quang. Trong lời thăm hỏi, Bác nêu tư tưởng: “Muốn thắng địch phải đưa pháo đi xa, khiêng, kéo pháo gần địch mà bắn trăm phát trúng cả trăm thì đồn nào mà không hạ được”.

Bác dự kỳ họp của Bộ Chính trị khai mạc ngày 22-2-1963 bàn về việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và phát biểu vì sao kế hoạch năm nào cũng phải điều chỉnh: “Có phải mình chủ quan và quá tham không? Chủ trương đúng nhưng chỉ đạo chưa tốt, đó cũng là một loại mất cân đối… Khi bàn, mình thường không bàn toàn diện. Ra trận, diễu binh cũng phải dàn ra xem thiếu những thứ gì. Trong lãnh đạo kinh tế cũng phải như thế, phải liệu bò lo chuồng, liệu cơm gắp mắm. Công nghiệp thì phải nhìn xa nhưng lại phải xem xét cụ thể, tính toán chu đáo… Trong xây dựng thì phân tán, cái gì cũng muốn làm. Cần phải tập trung vào cái gì quan trọng nhất. Phải chú ý tới con người, vì con người rất quan trọng… Mục tiêu kế hoạch phải nêu rõ vấn đề cải thiện dân sinh”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Sơn Mỹ, 45 năm thổn thức

45 năm vụ thảm sát Sơn Mỹ (16-3-1968/16-3-2013)

QĐND – Sơn Mỹ những ngày tháng Ba.

Cánh đồng lúa đang thì con gái, xanh mướt. Dòng mương thẳng tắp, rì rầm chảy bên hàng dừa cao vút. Sau Tết, hương xuân vẫn lưu giữ ở mấy chậu cúc vàng trước sân; vạt hoa xuyến chi tim tím vương vấn men các đường thôn. Trước một ngôi nhà nhỏ, ông lão tóc bạc phơ vít cành, hái trái ổi to mọng cho cô cháu gái yêu váy hoa rực rỡ. Sơn Mỹ hiền hòa, bình yên ngỡ như không hề có cuộc thảm sát kinh hoàng của quân đội Mỹ thuộc Lữ đoàn 11, Sư đoàn bộ binh số 23 với 504 người dân vô tội ngày 16-3-1968.

Về Sơn Mỹ-Tịnh Khê (Sơn Tịnh, Quảng Ngãi), tôi gặp những người sống sót sau buổi sáng đẫm máu đó. Họ ở tại địa phương và từ các nơi về. Thời gian ngỡ đã trôi, vậy mà chưa ai quên quá khứ hãi hùng.

Ông Phạm Thành Công giới thiệu chiếc giếng ông Trương Thơ bị lính Mỹ ném xuống và bắn chết.

Ở xóm biển xã Cà Ná, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận có một người phụ nữ tên là Lương Thị Tranh đầu tắt mặt tối bán cá kiếm sống nuôi đàn con 8 đứa. Vậy mà nhiều đêm khi nhớ về thân phận côi cút của mình, chị lại khóc. Vẻ thất thần còn hằn sâu trên đôi má khắc khổ, chị kể: “Hôm đó pháo bắn dọn đường ghê lắm, rồi Mỹ trên trực thăng nhảy xuống. Mẹ bảo: “Ba đứa qua bên bác Lưu, còn mẹ, bé Điệp, cu Đen (lúc này mới được một tháng), dì Út ở nhà”. Đám lính Mỹ đến trước miệng hầm gọi ba anh em chúng tôi lên. Anh Hải bị chúng bắn vào đầu, vỡ óc, em Thành khóc bị chúng lia một băng. Tôi cũng bị dính đạn ngã sấp. Chúng ném cả ba xuống hầm. Khát nước quá, tôi bò lên, thấy bóng người, chúng lại quăng lựu đạn sập luôn miệng hầm. Lưng tôi cắm đầy mảnh, mặt mũi tay chân đều bị thương. Đến chiều, anh Lợi con bác Lưu thấy tôi còn thở, mừng quá bế sang cho ba tôi. Lúc này tôi mất nhiều máu quá bất tỉnh, trời lại tối hay quá hoảng loạn vì 6 mẹ con tôi đã chết hết nên ba tôi và anh Hùng, con ông bác, bó tất cả vào mấy mảnh chiếu và đào hố chôn. Khi hắt đất vào huyệt, chắc trúng mảnh, tôi đau đớn khóc lên, ba mới bế tôi đi lên bệnh viện Quảng Ngãi cứu chữa. Hàng tháng trời, tôi mới lành, cái sẹo sau lưng vẫn còn một vệt dài. Hai cha con tôi ở Nghĩa An, ba đi biển nuôi tôi, rồi bị chìm ghe, chết mất xác. Tôi lang bạt vào Ninh Thuận với ông chú. Cuộc sống túng thiếu, quê hương cũng không còn ai nên tôi chỉ về vài lần. Quên đi thì thôi. Nhắc đến lại đau lòng quá chừng…”.

Cùng con chú bác với Lương Thị Tranh, nhưng Lương Văn Hạnh sống sót nhờ sự nhanh nhẹn và dũng cảm. Năm đó, Hạnh mới 13 tuổi, có 6 anh em. Cha mẹ cậu bảo các con chia làm hai hầm để tránh “chết chùm”. Vậy mà cũng không thoát. Hầm nhà ông Rạng mà Hạnh và ba đứa em đang nấp có mẹ con chị Phụ bồng con gái 1 tuổi. Chị Phụ thấy bà Một đã bị lựu đạn ném vào tan thây nên ôm con chạy trốn. Nhưng mới đến hè đã bị đạn găm vào lưng, đứa con ngã theo, khóc thét. Cả hai sau đó bị chúng dùng tranh đốt cháy đen. Thấy cảnh rùng rợn, Hạnh vọt lên khỏi hầm chạy ngoằn ngoèo qua nỗng cát. Chúng dùng đủ loại súng bắn theo. Đạn tiểu liên, M79 bay vèo vèo bên tai. Bắp chân trái nát băm chỉ còn ống quyển, cổ tay trái cũng găm mảnh. Một viên khác làm bay vành tai trái. Nhưng nhờ sức trẻ, cậu đã may mắn sống sót, nhưng ba đứa em và mẹ không còn.

Ông Phạm Thuận (áo trắng) chỉ tên 11 người thân trong khu mộ tập thể. Ảnh: HỒNG VÂN.

Anh Võ Cao Đức hiện làm ở Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cũng có ba đứa em bị chết trong vụ thảm sát. Anh cho biết, hôm đó, ba má anh không có nhà. Anh dắt chúng đi nấp hầm nhà bà Thi cùng hai đứa con Trương Hiếu, Trương Lợi của bà. Bọn chúng ném lựu đạn vào hầm. Xác bà Thi bay lên từng mảnh. Bọn trẻ khóc ré. Lính Mỹ tiếp tục ném. Cuối cùng chỉ còn Đức và Lợi sống sót, mình đầy mảnh đạn. Hai anh em động viên nằm im. Nhưng rồi khát không chịu được, Lợi bò lên. Hầm sập, chỉ còn một lỗ nhỏ đủ chui cái đầu ra. Thấy có bước chân người đi tới, Lợi mừng quá: “Bác ơi! Cứu con”. Người được gọi “bác” là một tên Mỹ chưa mất tính người như đồng loại. Anh này ra hiệu im lặng và lấy báng súng đẩy Lợi vào hầm. Hai anh em nằm đến chiều thì được cha mình về cứu.

Đại tá Võ Cao Lợi người sống sót từ Sơn Mỹ, cũng là nhà viết sử. Anh cho biết: “Lấy cớ đây là “làng đỏ”, “căn cứ Việt Cộng”, Đại đội C, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 4, Lữ đoàn Bộ binh số 11, Sư đoàn Bộ binh số 23, đã đổ bộ vào Sơn Mỹ. Tại xóm Khê Hội, thuộc Cổ Lũy (Mỹ Lai 2), lúc này khoảng 7 giờ 30 phút, tôi đang nấp trong hầm thì má tôi bảo chạy ra rừng dừa nước cho chắc. Tôi nghe tiếng nổ chát chúa, từng cột khói cuồn cuộn bốc lên. Chừng 5 giờ chiều, tôi mò về. Một cảnh tượng khủng khiếp diễn ra trước mắt. Người chết dưới hầm, miệng hầm, trong nhà, la liệt. 18 người bà con nội tộc tôi bị chết hết, trong đó có có mẹ, chị dâu và cháu tôi. Thương cho chị dâu chết trong tư thế tay ôm chặt con trai 5 tháng tuổi vào lòng. Cháu Tô, chiếc áo đen sẫm vì máu đã khô cứng từ mẹ. Qua bà con kể lại, tôi được biết, tại xóm Khê Thuận, nhà bà Đốc có 9 người đang ăn cơm sáng thì 8 người bị giết chết. Cụ Trương Thơ, 72 tuổi bị lính Mỹ bắt, vặt râu thả xuống giếng rồi dùng súng bắn. Tấm ảnh chiếc giếng nhà cụ và mô hình giếng bằng bê tông hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Sơn Mỹ. Chúng dùng trực thăng và lính bộ binh bao vây không cho người dân nào ra khỏi làng. Hễ thấy vật di động là bắn đại liên, rốc-két trên trực thăng tiêu diệt bằng hết. Tàn bạo và đẫm máu nhất là chúng bắt từng tốp 30, 40 người đến con mương cuối xóm rồi xả súng. Hơn 170 xác người chồng chất lên một đoạn kênh chưa đầy 20m. Ở gốc cây gòn giữa xóm, gần nhà ông Nguyễn Nhiều, hơn 30 chị em trong đó có em mới 12, 13 tuổi bị lính Mỹ hãm hiếp trước khi giết hại. Chỉ trong buổi sáng, 504 người dân Sơn Mỹ trong đó có 407 người ở xóm Khuê Thuận và 97 người Khê Hội không còn biết đến ánh mặt trời. Số sống sót chỉ trên đầu ngón tay”.

Du khách nước ngoài tại Bảo tàng Sơn Mỹ. Ảnh: HÀ VY.

Ở xóm Khê Thuận, thôn Tư Cung, nhà ông Đạt có 11 người, ông Hòa có 7 người chết trong vụ thảm sát. Giữa cánh đồng lúa, ngôi mộ chôn chung 32 nạn nhân với màu vôi trắng như một vết thương nhức nhối. Những ngôi mộ chôn chung như thế này ở Khê Thuận không ít. Nhiều du khách đã đến đây. Theo ông Hòa kể, mới chiều qua, một người Mỹ tự phóng xe máy đến hỏi đường bằng tiếng Việt, đặt bánh trái bên mộ và ngồi lặng thinh rất lâu. Ông Hòa nhận định, chắc là người Mỹ đã từng có mặt trong vụ thảm sát 45 năm trước.

Giám đốc Bảo tàng Sơn Mỹ Phạm Thành Công có gương mặt rặt chất nông dân, lúc nào cũng đượm buồn. 45 năm trước, mẹ và 4 anh chị em của anh đã chết. Anh may mắn được mẹ đẩy vào sát trong hầm nên chỉ bị thương. Ba anh là cán bộ (sau này đã hy sinh) về tìm và bàng hoàng khi thấy vợ con không còn nhận ra hình dạng. Nấm mồ chung cho 5 người để đến bây giờ anh chỉ còn biết thắp chung một nắm hương. Chữa lành vết thương, rồi đi chiến đấu, từng lập công, được đi báo cáo “tuổi nhỏ chí lớn” tại 7 nước XHCN. Làm ở Huyện đoàn rồi duyên nợ gắn với Bảo tàng hơn 20 năm nay. Anh kể rằng, cách đây 5 năm, Đài Truyền hình An Gia-gi-ra (Aljajeera) có mời anh gặp gỡ với một cựu binh Mỹ. Khi biết đó là người đã từng tham gia vụ thảm sát, phản xạ đầu tiên của anh là lập tức đứng lên, căm giận. Nhưng rồi anh đã lấy lại bình tĩnh và đối thoại với tên này suốt 3 tiếng đồng hồ. Anh Công nói rằng, anh nghe tin tên Trung úy Uy-li-am Cô-ly (William Laws Calley), kẻ chỉ huy vụ thảm sát đã xin lỗi trên báo chí, nhưng chỉ khi nào ông ta đến đây, nói trước đồng bào, người Sơn Mỹ mới chấp nhận lời xin lỗi đó.

Bảo tàng Sơn Mỹ có dáng dấp kiến trúc theo kiểu nhà mồ của Nga. Sau giải phóng, ngôi nhà cấp 4 lưu giữ hình ảnh về Sơn Mỹ đã được xây dựng. Nhưng phải đến năm 2003 sau khi Bộ VH-TT thông qua đề án, với duyệt chi 11,7 tỷ đồng thì khu chứng tích hiện nay mới được đưa vào sử dụng. Có 202 hiện vật với nhiều hiện vật gốc về cuộc thảm sát đã được trưng bày tại đây, trong đó có bằng chứng nhận huân chương của Chính phủ Mỹ tặng cho Chuẩn úy Hiu Tom-xơn (Huge C. Thompson), phi công và chuyên gia súng máy Lô-ren-xơ Côn-bơn (Laurence Colburn) nhờ hai người này đã ngăn cản đồng đội và đưa đi cấp cứu một số người dân bị thương. Hai ông này đã qua đây gửi tặng cho bảo tàng nhân kỷ niệm 30 năm vụ thảm sát. Có 5 bộ phim truyện và tài liệu về Sơn Mỹ được trình chiếu hằng ngày cho khách tham quan. Riêng bộ phim được chờ đợi nhất “Những bức thư từ Sơn Mỹ” của đạo diễn Lê Dân quay cả tháng tại đây đang trong giai đoạn hậu kỳ, dự kiến sẽ được chiếu trước kỷ niệm 45 năm. Khách tham quan tỏ vẻ ngạc nhiên khi xem 15 loại vũ khí, đạn được quân Mỹ dùng để giết hại đồng bào Sơn Mỹ. Theo người thuyết minh, có được số hiện vật này là nhờ sự giúp đỡ của Bộ tư lệnh Quân khu 5. Năm 2012, đã có 46.000 người từ 73 quốc gia đã đến đây. Có ngày đông đến 600 người. Nhiều phụ nữ đã ngất xỉu khi xem các hình ảnh được trưng bày. Một người Mỹ đã nói rằng họ không nghĩ con em họ qua Việt Nam lại gây tội ác tày trời đến thế.

Theo Giám đốc Phạm Thành Công, dự kiến sẽ có 3000 người dự lễ kỷ niệm 45 năm vụ thảm sát do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Quảng Ngãi tổ chức. Nhiều trường học, ban ngành, đoàn thể của tỉnh và cả nước đã đăng ký về dự, đó là chưa kể 16.000 người dân Tịnh Khê sẵn sàng tham gia buổi lễ. Nhân dịp này, Bảo tàng Sơn Mỹ phối hợp với Bảo tàng Tội ác chiến tranh tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức triển lãm hình ảnh tội ác chiến tranh trên thế giới, ngay khuôn viên khu chứng tích; biểu diễn văn nghệ với những bài hát về Sơn Mỹ, dàn dựng các hoạt cảnh về thảm sát Sơn Mỹ để người xem có thể hình dung về vụ thảm sát năm xưa.

Quá nhiều nước mắt chảy ở Sơn Mỹ trong đạn lửa và cả bây giờ khi đất nước hòa bình. Sơn Mỹ vẫn chưa nguôi thổn thức dù 45 năm đã trôi qua.

HỒNG VÂN
qdnd.vn

Năm Thi và trận tiêu diệt Chiến khu ma Bình Quới

QĐND Online – Nắng phương Nam lan tỏa, tôi và cháu Nguyễn Phúc Huy bước vào cư xá Nguyễn Trung Trực, đường 3/2, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh thăm Đại tá Nguyễn Văn Thi, nguyên Tư lệnh Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định; Cục trưởng Hậu Cần miền.

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Thi, nguyên Tư lệnh Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định

Tiếp chúng tôi là bà Nguyễn Thị Minh Phú, cựu phóng viên chiến trường, ở Sư đoàn 330, đơn vị ông Đồng Văn Cống phụ trách. Ông Năm Thi bệnh từ mấy năm nay, không đi lại được. Độ còn khỏe, cứ chiều mồng 1 tháng 9, là ông trịnh trọng treo lá cờ mới nhất lên, rồi ngắm, không ai giành được việc đó với ông hết. Nhớ năm 1974, ông là một trong số người đầu tiên trao trả tù binh ở Quảng Trị, tình hình đang căng thẳng. Được tin người của Ủy ban Thống Nhất báo, vợ sốt nặng 410C, do nhiễm chất độc da cam, không giữ được cái thai. Ông Năm Thi liền tức tốc cùng lái xe, nhịn ăn, đi ngày đêm về Hà Nội. Gặp vợ, ông nghẹn lời: – “Anh không có tiền, dọc đường mua đồ ăn cho thằng Giao nó ăn. Anh nhịn, về với em là được. Sợ em chết, em bỏ anh! …”. Ở hai hôm, ông lại quay vào Quảng Trị, mang theo 1/2kg hồng sâm Triều Tiên, ông Nguyễn Thọ Chân thăm vợ ông. Bà nói ổng mang vào cho anh em trong đó. Bà nhận thấy trong ông con người cách mạng sôi động, sự lãng mạn, phong phú, trung kiên với Đảng, với nhân dân và sự tận tụy cống hiến hết tâm lực mình. Mãi mãi trong đời, bà thấy hạnh phúc, thầm kính trọng ông.

Một trong những trận đánh thể hiện khả năng tổ chức, tài năng, tác phong chỉ huy, tinh thần dám chịu trách nhiệm của ông là trận Bình Quới Tây.

Bình Quới Tây là một xã ven đô Sài Gòn – Gia Định, nằm gọn trong một vòng cung gần tròn của sông Sài Gòn bao quanh. Địch lập “chiến khu quốc gia” ở đây, để bảo vệ an toàn Sài Gòn, để dễ phát huy ảnh hưởng vào khu vực này và các vùng ven đô Sài Gòn – Gia Định. Phá “chiến khu quốc gia” của đương kim Thủ tướng Nam kì tự trị là một việc lớn. Ông Năm Thi báo cáo kế hoạch với Bí thư Tỉnh ủy. Một Ban phụ trách phá chiến khu được lập ra gồm ba người: Nguyễn Văn Thi, Lương Đường Minh, Trần Minh Phú, do đồng chí Nguyễn Văn Tiết lãnh đạo. Ông Năm Thi kể:

– “Qua được cửa ải đầu tiên rất quan trọng là đưa Hoàng Của vào Bộ Tham mưu địch, việc ta cài người được triển khai rộng, nhưng không có vẻ gì vội vàng làm cho địch nghi ngờ. Đầu tiên tôi chọn bốn đồng chí: Bảy Thanh, Xuân, Ty và Mười Tài đều là những cán bộ trẻ năng nổ, xông xáo và gan dạ. Tới “chiến khu quốc gia”, bốn anh em được Hoàng Của “gà” văn phòng của Lê Văn Hoạch cấp cho họ “giấy thông hành công lệnh” có chữ kí của Lê Văn Hoạch và đại diện Phòng nhì Pháp. Loại giấy thông hành này rất mạnh, đi khắp Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định mà không một sắc lính nào dám đụng đến.

Đợt đưa người lần thứ hai (5/1947), tôi chọn 64 anh em du kích, vì họ đã quen chiến đấu, giặc đến họ đánh, giặc rút họ trở về với công việc bình thường, thật khó mò ra tung tích họ.

Đợt thứ ba, tôi chọn thêm một số chiến sĩ Đại đội 1, để làm nòng cốt, đặc biệt có 5 xạ thủ súng máy loại cừ. Các đợt tiếp theo, chỉ mười mấy hai chục người. Đợt cuối, có những tay súng trường và đồng chí Tám Lãnh – Đội trưởng đội biệt động, rất mưu trí dũng cảm.

Cả mấy đợt cài người, quân số bên ta được hơn 130 người gồm: du kích, tín đồ, bộ đội, biệt động với hơn 20 đảng viên, cán bộ chỉ huy là 4 anh em đi đợt đầu tiên.

Hoàng Của xin chỉ thị, bố trí doanh trại thế nào cho hợp lí? Việc bố trí đội hình là một bước bày khai thế trận, cần phải tính toán kĩ. Tôi bảo Hoàng Của về trước. Tôi sẽ tới tận nơi xem xét địa hình Bình Quới Tây.

Hoàng Của lúc này là tham mưu trưởng “chiến khu quốc gia”. Tôi đóng vai tùy tùng của tham mưu trưởng, đi đến đâu cũng thấy Hoàng Của được trọng vọng. Trước khi ra về, tôi quyết định đặt đội hình ta đối mặt với đối phương, hai doanh trại cách nhau 100 mét.

Cuối tháng 11 năm 1947, tôi cho gọi Ba Thành phụ trách giao liên quân sự, bảo: – Gấp rút tổ chức một đường liên lạc bằng thuyền từ Lái Thiêu đến bến đò Bình Quới. Khi liên lạc giao thông đường thủy đã thông suốt, thì ngày 3-12-1947, có cán bộ Tỉnh ủy Thủ Dầu Một báo cáo với anh Hai Trí – Chính ủy Khu là: “Tình hình nguy hiểm, có nguy cơ hơn một trăm anh em Chi đội 1 đưa vào, có thể bị tàn sát”. Hoảng lên, anh Hai Trí điện cho tôi: – “Trong ba ngày phải bỏ đi, giải quyết cho xong đối tượng X, không được chậm trễ.”

Tôi bấm đốt ngón tay:

-Xin anh Hai 7 ngày. Bảy ngày tôi xin hoàn tất.

Thế ta đã ở trên lưng cọp. Bộ tham mưu của Lê Văn Hoạch vẫn chưa võ trang một cây súng nào cho “lực lượng Thủ Dầu Một”. Ta định khi chúng vũ trang cho “đại đội Thủ Dầu Một”, thì mới trù liệu cách giải quyết. Lực lượng đối phương gấp đôi ta? Suy nghĩ mấy đêm đến bạc đầu, sáng 6-12-1947, tôi lấy danh nghĩa mở tiệc mừng làm ăn phát tài, triệu tập một cuộc họp tại khách sạn ở trung tâm Chợ Lớn, gồm: Hoàng Của, Bảy Thanh, Xuân, Ty, Mười Tài, Tám Lãnh và hai xạ thủ tiểu liên.

Một kế hoạch biến lực lượng ta từ yếu trở thành mạnh được vạch ra và được hết sức tán đồng. Phổ biến xong mệnh lệnh, ông Năm Thi nhìn anh em một lượt, cười: -“ Làm được không nè?” Hoàng Của cười: – “Nhất định phải được. Ta đã vào hang cọp và đã cưỡi trên lưng nó rồi.” Các anh em đồng thanh: – Trăm người như một, anh em chúng ta có hơn một trăm trái tim và hơn một trăm cái miệng, vậy mà đã mấy tháng rồi, bí mật vẫn được giữ vững, mặc dầu kẻ địch ra sức dò xét, đánh hơi, thử thách.

Kết thúc cuộc họp, ông Năm Thi nói:

– “Các anh thấy đó. Ta đang ở thế chủ động, mạnh đoàn kết, mạnh ý chí. Vũ khí có kém, thì ta tạo lực bằng cách tạo thời cơ thật thích hợp, khiến chúng mất cảnh giác, bộc lộ sơ hở và ta sẽ chộp ngay sơ hở đó mà quật ngã chúng. Các anh cần phải chú ý là, ta có 3 cụm chiến đấu cần giải quyết. Một là ban tham mưu – cơ quan đầu não điều hành căn cứ, phải đánh giập đầu rắn, nếu để chúng lọt lưới, thế trận chúng ta sẽ bị đảo lộn ngay. Hai là tháp canh Cầu Sắt – khi ta ra tay, mà nó đứng sừng sững đó, quân tiếp viện sẽ cơ động ứng cứu dễ dàng. Ba là đại đội Tây Ninh – người và vũ khí nguồn sinh lực của đối phương. Nói cách khác là, ba quả đấm thép phải giáng cùng một lượt, vào đúng ngày N, giờ G, phải bị ta hạ gục. Không được phép chuệch choạc. Không được phép sơ sểnh. Ta đã chọn giờ G, vừa hạn chế tác dụng của quân cứu viện, vừa để ta rút khỏi chiến trường về căn cứ được an toàn. Nên nhớ, ta làm ăn lụp chụp, nổ súng kéo dài, quân địch toàn thành phố và vùng lân cận sẽ báo động đỏ ngay.”

Hoàng Của về, đề nghị với Lê Văn Hoạch tổ chức ăn mừng kỉ niệm ngày hòa nhập giữa hai lực lượng ở “chiến khu quốc gia” vào ngày 9, ngày 10 và được chấp thuận.

Sau khi phân công cho Lương Đường Minh, đưa một trung đội xuống ém ở bờ tả ngạn sông Sài Gòn, bắt liên lạc với chốt gác bến đò Bình Quới, ông Năm Thi giao cho Trần Minh Phú dẫn một lực lượng cùng 2 xe bò để sẵn sàng đón chở anh em thương binh, vũ khí đạn dược về căn cứ ta. Đồng thời lệnh cho Ba Thành từ đêm mồng 9 tháng 12 hãy sẵn sàng với chiếc ghe ba tấn.

Ngày N. đã định. Ông Năm lại xuống tận nơi lần nữa, để kiểm tra thế trận, nhắc lại mệnh lệnh và kế hoạch tác chiến.

Thấy ông Năm Thi bất ngờ xuất hiện trước giờ nổ súng, anh em hết sức phấn khởi. Những ánh mắt ngời sáng chan chứa niềm tin, ngầm hứa hẹn đảm bảo thành công. Ông Năm muốn ở lại trong giờ phút nghiêm trọng này. Nhưng, Ba Của, Bảy Thanh yêu cầu ông Năm Thi hãy tin ở anh em. Thế là ông đành phải lên xe, ra về. Đến cầu Bình Lợi thì đúng giờ G., liền nghe súng nổ mấy tiếng, mấy phút sau nổ mấy loạt rồi im bặt. “Ăn rồi!” Ông Năm nghĩ bụng.

Lúc này, ở “chiến khu quốc gia”, đúng 14 giờ ngày 10 – 12 – 1947, một trận đá bóng giữa “đội Tây Ninh” và “đội Thủ Dầu Một” đang diễn ra tại sân chào cờ, nằm giữa doanh trại hai bên. Sau lưng “đội Tây Ninh” là doanh trại của họ ở phía tây. Sau lưng “đội Thủ Dầu Một’ là doanh trại đối diện. Cổ động viên bên nào thì ở phía bên ấy.

Qua hiệp một, sau giờ giải lao, hai bên đổi sân. Sau lưng “đội Thủ Dầu Một” và cổ động viên của ta, lại là doanh trại của “đội Tây Ninh”.

Lúc này, ngay tại sở chỉ huy, tham mưu trưởng Hoàng Của đang mở tiệc chiêu đãi 5 tên trong ban tham mưu Bình Quới Tây, có sự tham gia của cán sự tham mưu Bảy Thanh.

Hoàng Của liếc nhìn đồng hồ tay, biết hiệp hai bóng đá đã bắt đầu. Chờ đúng 15 giờ 15 phút, anh đưa mắt cho Bảy Thanh và bất thình lình hai người vụt đứng lên. Khẩu Vickers trong tay Hoàng Của vẩy vào hai sĩ quan tham mưu quan trọng nhất. Còn Bảy Thanh với khẩu Colt 12 đã bắn chết ba tên sĩ quan còn lại.

Súng nổ tại ban tham mưu là hiệu lệnh tấn công trên toàn mặt trận. Các cầu thủ bên ta vội ngưng chân bóng, quay lại cùng các “cổ động viên” đằng mình, chạy về phía sau lưng, vào các giá súng của đội Tây Ninh. Xạ thủ súng máy chụp lấy các khẩu súng máy, một tổ chiếm khẩu cối 60, súng trường, lựu đạn, … Xuân và Ty cầm tiểu liên bắn chặn, không cho tên lính bên Tây Ninh nào dám nhào về lấy súng.

Ta dàn trận, nã đạn vào những tên ngoan cố, bức hàng và bắn đuổi một số khác chạy ào vào sình lầy. Phá cổng nhà giam, mấy chục người được trả tự do. Vợ con binh sĩ trong khu gia binh và số lính bị bắt, trước khi thả ngay tại chỗ, được giải thích rõ về âm mưu của địch, chính sách khoan hồng của cách mạng.

Tháp canh Cầu Sắt, trước giờ G., Tám Lãnh đã cùng một tổ có mặt, đẩy xe đến chở nước như thường ngày, nhân tiện đưa rượu thịt để cùng số lính trong tháp canh tổ chức ăn mừng. Đang khi chén tôi, chén anh, nghe hiệu lệnh, Tám Lãnh cùng đồng đội hạ gục các đối thủ, chiếm ngay ổ súng máy, bịt chặt con đường độc đạo từ Sài Gòn vào, sẵn sàng đánh quân tiếp viện.

Ở phía sông Sài Gòn, đơn vị đặc biệt của Lương Đường Minh giấu mình trong mấy lùm dừa nước, chờ đợi. Chiếc ghe ba tấn của Ba Thành cũng đợi sẵn. Chốt gác của ta ở bến đò Bình Quới kêu xét và giữ lại một số ghe lớn, từ trưa. Khi nghe súng nổ, rồi hàng trăm quân ta cùng chiến lợi phẩm từ trong “chiến khu” Bình Quới lao ra. Một cán bộ ta, bắc tay làm loa: “Thưa đồng bào, xin lỗi các má, các chị, chúng tôi bộ đội và đạo hữu vâng lệnh trên đã tiêu diệt hoàn toàn chiến khu ma Bình Quới. Bây giờ, xin nhờ các má, các chị đưa chúng tôi qua sông”. Các má, các chị đổi giận làm vui, hoan hô nhiệt liệt.

Khoảng 3, 4 giờ khuya hôm đó, bờ sông bên Thủ Đức, trung đội của Lương Đường Minh và bộ phận của Trần Minh Phú, đón anh em trên hai chiếc xe bò, về đến căn cứ ở Thuận An Hòa, không mất một người và được anh Nguyễn Văn Tiết hoan nghệnh nhiệt liệt.

Anh Chín Phú nói: “Tài tổ chức và chỉ huy của anh Năm Thi thật đặc biệt. Anh Năm thật dám làm, dám chịu …”

Sáng 11 tháng 10 năm 1947, báo chí Sài Gòn chạy tít lớn: “Trong mấy phút, chiến khu quốc gia đã bị xóa sổ trên đất Sài Gòn – Gia Định”.

Nguyễn Minh Thu
qdnd.vn

Bức chân dung anh Trỗi

QĐND – Anh Nguyễn Văn Tuyên, hiện trú tại xã Minh Khai (Từ Liêm, Hà Nội), con trai liệt sĩ Nguyễn Văn Xuyên cho tôi xem những kỷ vật của cha mình. Trong số đó, có một “bảo vật” mà gia đình anh cất giữ, bảo quản cẩn thận nhiều năm nay. Đó là bức chân dung Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi mà cha anh đã “khắc họa” trên bức tường nhà, sau ngày anh Trỗi hy sinh năm 1964. Cách đây hơn 15 năm, khi gia đình anh Tuyên phá nhà cũ để xây nhà mới, anh Tuyên đã “cắt” nguyên vẹn mảng tường có chân dung anh Trỗi, bao gói cẩn thận để gia đình lưu giữ lâu dài.

Bà Nguyễn Thị Dòn, vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Xuyên bồi hồi kể: “Bức tranh này, ông nhà tôi vẽ suốt một buổi chiều cuối năm 1964. Thời bấy giờ, thanh niên ai cũng ngưỡng mộ tấm gương anh Trỗi và muốn được tiếp bước anh…”.

Liệt sĩ Nguyễn Văn Xuyên.

Đầu xuân năm 1966, chàng trai Nguyễn Văn Xuyên lên đường nhập ngũ khi cậu con trai Nguyễn Văn Tuyên mới 4 tháng tuổi. Gần 3 năm sau, gia đình nhận được tin anh đã hy sinh. Giấy báo tử số 56/HN ngày 2-12-1969 do Thượng tá Nguyễn Văn Tân ký, có ghi: “Hạ sĩ, chiến sĩ Nguyễn Văn Xuyên, thuộc Đơn vị KH, nguyên quán thôn Văn Trì, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội; sinh ngày 2-1-1942, nhập ngũ ngày 28-1-1966, hy sinh ngày 18-10-1968 tại Mặt trận phía Nam. Thi hài liệt sĩ mai táng tại Nghĩa trang liệt sĩ mặt trận…”.

Anh Nguyễn Văn Tuyên, con trai liệt sĩ được hưởng chính sách đãi ngộ của Nhà nước đi học nghề ở Liên Xô (trước đây), rồi định cư, làm ăn bên nước bạn nhiều năm. Đến năm 1994, anh quyết định cùng vợ con về nước để có điều kiện chăm sóc bà, mẹ đều đã tuổi cao và đi tìm mộ cha.

Chân dung liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi trên bức tường nhà anh Tuyên.

Mở cho tôi xem chiếc ba lô của người cha, kỷ vật đơn vị gửi về khi báo tử, gồm bao xe, hộp màu, ca đựng nước, lược, rút dép… anh Tuyên cho biết: “Đầu năm 1968 thì đơn vị bố tôi hành quân vào Nam. Trong lá thư cuối cùng, bố tôi viết: “Đơn vị hành quân vào Nam, qua Quốc lộ 32, chỉ cách làng Văn Trì mấy trăm mét, nhưng ai cũng phải bám theo đội hình. Đi qua làng, nhớ lắm, nhưng chỉ biết “quét” ánh đèn pin về phía xóm mình để chào tạm biệt!”.

Hơn 15 năm qua, anh Tuyên lặn lội nhiều nơi để tìm thông tin về mộ người cha, nhưng chưa có kết quả. Trong lá thư cuối cùng gửi về gia đình, liệt sĩ Xuyên cho biết: “Đơn vị đang dừng chân bên bờ sông Sê-băng-hiêng…”. Qua tra cứu hồ sơ, Phòng Chính sách Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559 trước đây) cung cấp cho gia đình một thông tin: “Liệt sĩ Nguyễn Văn Xuyên, thuộc Đoàn 3027, hy sinh trên đường hành quân”. Gia đình rất mong nhận được thông tin của đơn vị và đồng đội cũ để tìm kiếm mộ liệt sĩ Xuyên. Chia tay tôi, anh Tuyên bộc bạch: “Nếu được, gia đình sẽ kính tặng quê hương anh hùng Nguyễn Văn Trỗi bức chân dung của anh, mà cha tôi vẽ trên tường nhà trước khi lên đường nhập ngũ…”.

Bài và ảnh: Anh Quân
qdnd.vn

“Tân binh” làm nên kỳ tích

QĐND-Trước Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, hai Trung đoàn Tên lửa 261, 257 (Sư đoàn 361) làm nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội đều chưa một lần đối mặt với B-52, nhưng khi chiến dịch này diễn ra, các kíp chiến đấu của họ – những người từng bị coi là “tân binh” của lực lượng phòng không Thủ đô – đã làm nên kỳ tích bắn rơi hơn 20 “siêu pháo đài bay”…

Đại tá Hoàng Bảo, nguyên Trưởng ban Tác huấn Sư đoàn 361 kể: “Trước khi diễn ra Chiến dịch 12 ngày đêm, hai Trung đoàn 261 và 257 đều ở Hà Nội và chưa hề “chạm trán” B-52. Nhưng, sau rất nhiều cuộc tập huấn, thục luyện, sư đoàn đã có những kíp chiến đấu giỏi với những trắc thủ điêu luyện như: Luyến-Ấp-Đức-Hiền; Thuận-Tứ-Linh-Độ; Kiên-Lịch-Thi-Đài…”.

Đêm 18-12-1972, Tiểu đoàn 78 của Trung đoàn 257 phóng quả tên lửa đầu tiên vào đội hình B-52 địch. Máy bay không rơi, nhưng đó là một sự mở đầu nhiều ý nghĩa. Đêm ấy, các trắc thủ đã phát sóng để bắt mục tiêu. Phát sóng, nghĩa là họ sẵn sàng đối mặt với tên lửa sơ-rai lao vào trận địa từ máy bay địch, và các anh đã phát hiện ra dải nhiễu “na ná” hình dải nhiễu mà các đồng đội ở chiến trường Khu 4 gửi ra. Vậy là điểm yếu của “siêu pháo đài bay” đã bộc lộ.

Đại tá Hoàng Bảo (ngoài cùng, bên phải) và các đồng đội Sư đoàn 361. Ảnh: MINH TRƯỜNG.

Đại tá Nguyễn Đình Kiên, nguyên sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261 – kể lại thời điểm kíp chiến đấu của Tiểu đoàn đã lập nên kỳ tích từ những “quả đạn cuối”. Đó là khi phương án tiết kiệm đạn được đặt ra, các thành viên kíp chiến đấu tự nhận thấy: Nếu trắc thủ thao tác tốt, chọn thời cơ phóng thích hợp thì có thể giảm số lượng đạn trong loạt bắn xuống từ 1 đến 2 quả mà vẫn tiêu diệt được mục tiêu. “Tiểu đoàn tôi lúc đó có rất nhiều cán bộ kỹ thuật được đào tạo cơ bản ở các trường đại học và trung cấp kỹ thuật, họ có trình độ và kiến thức khá vững. Trong hơn 3 năm sát cánh, chúng tôi đã hiểu rõ năng lực của nhau nên công tác phối hợp chiến đấu của tiểu đoàn thường tiến hành thuận lợi”.

Được bổ nhiệm là Đại đội phó Đại đội 1 từ tháng 7-1972, nhưng do yêu cầu chiến đấu nên Chuẩn úy Nguyễn Đình Kiên vẫn được cấp trên giao nhiệm vụ sẵn sàng thay thế vị trí sĩ quan điều khiển kíp 1. Cấp trên hiểu rất rõ năng lực của Kiên, một người lính từng gác bút nghiên lên đường nhập ngũ từ giảng đường của Trường Đại học Nông nghiệp 1 và đã có 5 năm đảm nhiệm vị trí sĩ quan điều khiển. “Lần đầu tiên tôi nhìn thấy đồng đội mình đổ máu, đó là buổi trưa ngày 4-9-1972 khi trận địa của tiểu đoàn bị dính tên lửa sơ-rai của địch làm gần chục người có mặt trên xe điều khiển bị thương, riêng Nguyễn Văn Nhận bị thương nặng và hy sinh”, Đại tá Nguyễn Đình Kiên nhớ lại.

Sau sự cố thương vong ngày 4-9-1972, Hạ sĩ, Trắc thủ góc tà Ngô Ngọc Lịch mới tròn 20 tuổi được lựa chọn đưa từ kíp 2 lên kíp 1, anh đã tiếp thu kinh nghiệm của lớp đàn anh và nhanh chóng trưởng thành. Trắc thủ cự ly Mè Văn Thi là một người ít nói nhưng cẩn thận, tỉ mỉ, đức tính khiêm nhường của anh làm mọi người trong kíp đều quý mến. Trong số 3 trắc thủ thì Nguyễn Xuân Đài – Trắc thủ phương vị – là người có kinh nghiệm chiến đấu dày dạn. Từng nhập ngũ cùng năm và chiến đấu nhiều trận với Nguyễn Đình Kiên, Đài rất am hiểu tính tình và cách đánh của người sĩ quan điều khiển. Với Nguyễn Đình Kiên, ở vị trí sĩ quan điều khiển, anh nhận thấy bất kể lúc nào 3 trắc thủ và mình đều phải ăn ý, bốn người như một.

Nhớ lại kỷ niệm sâu đậm trong 12 ngày đêm chiến đấu với B-52, các thành viên kíp chiến đấu Tiểu đoàn 57 đều nhắc nhiều tới hai trận đánh diễn ra vào rạng sáng ngày 21-12 tại trận địa Đại Đồng (Thuận Thành, Bắc Ninh). Đó là những trận chiến đấu lập nên kỷ lục mới của bộ đội tên lửa: Với hai quả đạn cuối cùng, Tiểu đoàn 57 đã lập nên kỳ tích với nhiều cái “nhất”: Hiệu suất chiến đấu cao nhất (10 phút bắn rơi 2 B-52); xác suất diệt mục tiêu lớn nhất (mỗi quả đạn bắn rơi 1 máy bay B-52); đơn vị bắn đạn tiết kiệm nhất… Tiểu đoàn 57 còn trở thành tiểu đoàn tên lửa duy nhất có hai cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, đó là Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt và Sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên.

Đầu tháng 10-2012, các cựu chiến binh thuộc 10 tiểu đoàn tên lửa từng trực tiếp hạ gục B-52 trong Chiến dịch 12 ngày đêm đã có mặt tại Sở chỉ huy Sư đoàn 361 để làm rõ thời gian, địa điểm, danh sách kíp chiến đấu… Một cuốn kỷ yếu nêu rõ thành tích, diễn biến của những trận đánh hạ gục 25 B-52 đã được biên soạn, trở thành “cẩm nang” giúp thế hệ trẻ sư đoàn học tập, rèn luyện.

Ít ai biết rằng, trước khi bước vào Chiến dịch 12 ngày đêm, những kíp chiến đấu ấy vẫn từng bị coi là những “tân binh” trong cuộc chiến với “siêu pháo đài bay”.

VŨ MINH
qdnd.vn

Ngày 21 tháng 2: Dự báo tốt nên thắng giặc

Thứ bảy, 21/02/2009, 03:42 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 88 năm, được tin Phan Châu Dật, con trai cụ Phan Châu Trinh mới qua đời, Nguyễn Ái Quốc đang điều trị tại Bệnh viện Cochin đã chuyển lời chia buồn tới người đồng bào đáng kính của mình.

Ngày 21-2-1931, Nguyễn Ái Quốc viết “Thư gửi Ban phương Đông” báo tin Lý Tự Trọng sau khi bắn chết mật thám Legrand ở Sài Gòn đã bị bắt và khó thoát khỏi án tử hình, đồng thời yêu cầu Đảng Cộng sản Pháp “tổ chức biểu tình đòi thả đồng chí ấy ra”. Nguyễn Ái Quốc cũng đề nghị Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Công hội Đỏ lên tiếng tỏ tình đoàn kết với cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương.

Ngày 21-2-1946, Bác chủ trì phiên họp của Chính phủ bàn việc chuẩn bị thành lập Chính phủ Liên hiệp dựa trên nguyên tắc có 10 bộ chia cho 4 đảng phái, mỗi đảng 2 ghế. Riêng Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng sẽ do 2 người không đảng phái giữ. Cùng ngày, Bác ký sắc lệnh thống nhất các sở cảnh sát và sở liêm phóng trên toàn quốc thành “Việt Nam Công an vụ” nằm trong Bộ Nội vụ.

Cách đây 62 năm, Bác ghé vào đồn điền Chinê (Hòa Bình) của nhà điền chủ Đỗ Đình Thiện, nơi đang đặt nhà máy in tiền của Bộ Tài chính. Bất ngờ, máy bay địch đến oanh tạc, Bác phải xuống hầm tránh bom nhưng sau đó lại tiếp tục hành trình.

Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến kể lại: “Ngày 21-2-1947, Cụ trở lại Chinê hồi 3 giờ sáng sau cuộc kinh lý Thanh Hóa. Cụ đi thăm nhà máy và lùng khắp nhà. Nơi nào bẩn thỉu bị phê bình ráo riết. Nói chuyện với anh em công nhân và tự vệ chiến đấu ở đây, Cụ đã làm cho ai nấy đều thêm tin tưởng và nỗ lực làm việc để sản xuất kháng chiến. Cụ cũng đi thăm các làng thổ (đồng bào Mường ở địa phương), vào từng nhà một và vui vẻ, thân mật nói chuyện với tất cả mọi người… Đối với lũ trẻ thơ, Cụ càng làm cho chúng rất quyến luyến. Hỏi trẻ con nào biết chữ, Cụ vui vẻ khen ngợi. Em nào không biết chữ, Cụ bảo phải bắt đầu học ngay và gọi mấy thanh niên giao trách nhiệm dạy dỗ cho đến ngày nào Cụ trở lại thì ai nấy đều phải biết chữ”.

Cùng ngày, Bác viết “Thư gửi đồng bào thiểu số Thanh Hóa” nêu vấn đề: “Việc dìu dắt đồng bào Thượng du, tôi trông cậy vào lòng ái quốc và sự hăng hái của các vị lang đạo”.

Hồi ký của Đại tướng Văn Tiến Dũng nhắc đến sự kiện: “Ngày 21-2-1958, Bác chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị thông qua kế hoạch xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng… Bác nhắc lập kế hoạch phòng không nhân dân, một vấn đề rất mới và phải nói là sớm, đó là nghiên cứu kế hoạch phòng không nhân dân”. Sự kiện này cho thấy tầm nhìn xa của Bác, vì 6 năm sau (1964), Mỹ đã ném bom miền Bắc; rồi từ cuối năm 1962, Bác đã yêu cầu Tư lệnh Phòng không – Không quân phải nghiên cứu về loại máy bay B52 (mà sau đó 3 năm Mỹ đã sử dụng trên chiến trường miền Nam rồi đánh ra miền Bắc…). Nhờ dự báo tốt mà ta chủ động đánh thắng.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 20 tháng 2: “Muốn cho dân tin, phải thanh khiết”

Thứ sáu, 20/02/2009, 01:59 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 82 năm, ngày 20-2-1927, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Khổng Tử” đăng báo Thanh Niên ở Quảng Châu, nhân việc Chính phủ Trung Quốc tuyên bố xóa bỏ những nghi lễ và biến mọi nơi thờ phụng Khổng Tử thành trường học… Tác giả bình luận: “Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta và nếu ông khăng khăng giữ những quan điểm cũ thì ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng. Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ trái với dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin!”.

Ngày 20-2-1947, thăm Thanh Hóa, nói chuyện với cán bộ tỉnh, Bác nhấn mạnh đến công tác cán bộ: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt… Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân… Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết…”.

Về cuộc kháng chiến, Bác nói: “Hai hòn đá chọi nhau thì hai hòn cùng vỡ, hai cái trứng chọi nhau thì hai cái cùng vỡ. Phải một cái cứng, một cái mềm thì khi chọi nhau một cái mới còn. Nên hai bên cùng mưu trí. Pháp có xe tăng, đại bác thì ta phá đường, Pháp có máy bay thì ta đào hầm. Pháp muốn đánh chớp nhoáng thì ta kéo dài. Nhất định ta thắng!”.

Nói chuyện với nhân sĩ, trí thức, Bác đề nghị: “Xin đồng bào hãy giúp đỡ giám sát công việc của chính phủ. Còn những việc làm chưa được thì xin đồng bào nguyên lượng. Vì nếu có nấu cơm cũng 15 phút mới chín huống chi là sửa chữa cả một nước đã 80 năm nô lệ… Tóm lại chính trị là: 1. Đoàn kết; 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ”.

Ngày 20-2-1959, về thăm làng Bát Tràng, Bác khuyên mỗi nhà ở mặt đường dịch vào một ít thì làng có đường cho xe ô tô ra vào, phải nâng cao chất lượng sản phẩm của làng nghề, và chúc: “Bát Tràng phấn đấu trở thành một trong các làng kiểu mẫu của nước Việt Nam mới…”. Ngày 20-2-1960, về thăm tỉnh Hải Ninh (tỉnh Quảng Ninh ngày nay), Bác căn dặn cán bộ và nhân dân phải “đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo và đoàn kết Việt-Trung”. 

Ngày 20-2-1961, nhân trở lại Cao Bằng thăm chiến khu xưa, Bác làm bài thơ “Thăm lại hang Pác Bó”: “Hai mươi năm trước ở hang này/ Đảng vạch con đường đánh Nhật – Tây/ Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu/ Non sông gấm vóc có ngày nay”.Hai mươi năm trước (2-1941) Bác từng làm bài thơ “Pác Bó hùng vĩ”: “Non xa xa, nước xa xa/ Nào có thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lênin, kia núi Mác/ Hai tay xây dựng một sơn hà”.

Ngày 20-2-1965, phát biểu tại cuộc họp của Bộ Chính trị về Cách mạng miền Nam, Bác dự báo: “Phải đề phòng Mỹ nhảy vào, mình không sợ địch nhưng không khinh địch”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 19 tháng 2 – Không được làm cho các cháu thành “ông bà bé”

Thứ năm, 19/02/2009, 01:46 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 86 năm, ngày 19-2-1923, báo “L’Humanité” (Nhân Đạo) ở Pháp đăng truyện “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc. Với giọng văn hài hước, tác giả biến chuyến sang Pháp của Vua Khải Định thành con rối cho thú giải trí của dân chính quốc.

Hai năm sau, ngày 19-2-1925, từ Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi các đồng chí Pháp nóng lòng muốn biết tình hình hoạt động của Đảng và cho biết những công việc ở Trung Quốc “rất thú vị”, trong đó có việc tập hợp các lực lượng cách mạng Việt Nam. Kèm theo còn có báo cáo chương trình hành động gửi Quốc tế Cộng sản, trong đó đề cập đến việc thiết lập cơ sở ở Quảng Châu, các đầu mối liên lạc ở miền Nam Trung Quốc và Xiêm, cử người về nước và gửi sinh viên Việt Nam sang Mátxcơva học…

Ngày 19-2-1931, giữa lúc cao trào cách mạng đang bộc phát mạnh mẽ ở trong nước, Nguyễn Ái Quốc viết 2 bài báo. Bài “Nghệ Tĩnh Đỏ” khẳng định “Nghệ-Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu Đỏ”. Còn bài “Khủng bố trắng ở Đông Dương” lên án thực dân và nêu cao chí khí của những chiến sĩ cách mạng trước các phiên tòa của chính quyền thuộc địa ở Thái Bình, Hà Nội, Nam Định…

Ngày 19-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thông tư về việc đình công nhằm đối phó với một số thủ đoạn kích động của các lực lượng chống đối, nghiêm khắc quy định: “Xét rằng trước tình thế nghiêm trọng bây giờ, chúng ta cần phải tập trung toàn lực để chống ngoại xâm. Xét rằng tổng đình công là một lợi khí chỉ nên dùng để đối phó với quân địch chứ không bao giờ nên dùng để chia rẽ nội bộ. Tôi, Chủ tịch Chính phủ lâm thời hạ mệnh lệnh cho toàn thể viên chức và dân chúng phải làm việc như thường, trừ khi có chỉ thị của Chính phủ”.

Ngày 19-2-1951 bế mạc Đại hội II của Đảng. Là Chủ tịch Đảng, Bác chủ trì phiên họp đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương khóa II, sắp xếp tổ chức, triển khai kế hoạch ra công khai và thống nhất Mặt trận Việt Minh với Liên Việt.

Cách đây đúng nửa thế kỷ, ngày 19-2-1959, đến thăm Hội nghị cán bộ phụ trách thiếu niên, Bác căn dặn: “Trong khi giáo dục thiếu niên, phải giữ được tính chất tự nhiên, vui vẻ, hoạt bát của trẻ em, không được làm cho các cháu thành “ông bà bé”. Trẻ em hay bắt chước nên các cô, các chú, các thầy giáo, cha mẹ đều phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm”.

Ngày 19-2-1960, ông bà luật sư Loseby, ân nhân đã cứu Bác Hồ khỏi nhà tù của thực dân Anh ở Hồng Kông (1931-1933) sau chuyến thăm Việt Nam trở về đã viết thư cảm ơn Bác, trong thư có đoạn: “Ngài nói rằng tôi đã “cứu sống Ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm, và mãi mãi là một việc làm sáng suốt…”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 18 tháng 2: Không ngừng nâng cao năng suất lao động

Thứ tư, 18/02/2009, 01:37 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 87 năm, ngày 18-2-1922, tại Paris, Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Phan Châu Trinh gửi từ Marseille. Cụ Phan là một nhà ái quốc lớn, lại là người có quan hệ thâm tình trong phong trào Việt kiều tại Pháp. Về tuổi tác và uy tín, Phan Châu Trinh tuy là bậc bề trên nhưng thực tiễn đã giúp cụ nhận ra rằng con đường của mình đã không theo kịp thời đại và tương lai sẽ thuộc về Nguyễn Ái Quốc.

Trong thư cụ đã thẳng thắn nói những khác biệt về đường lối, phê phán những điều mà mình cho là còn bất cập…, nhưng cũng rất chân thành nhận rằng: “Bây giờ tôi tợ chim lồng cá chậu. Vả lại cây già thì gió dễ lay, người già thì trí dễ lẫn, cảnh tôi như hoa sắp tàn…” và thừa nhận: “Còn Anh như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hỏi, lý thuyết tinh thông” và “tôi tin rằng không bao lâu nữa cái chủ nghĩa Anh tôn thờ sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tình chí sĩ nước ta”.

Chỉ 8 năm sau, Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện sứ mạng thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và ngày 18-2-1930 đã ra “Lời kêu gọi”: “Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng để đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng, làm cho nước An Nam độc lập, thành lập Chính phủ công-nông-binh… đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân, thực hành giáo dục toàn dân, thực hiện nam nữ bình quyền”.

Ngày 18-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi công hàm tới Trung Quốc, Mỹ, Liên Xô và Anh, vạch trần âm mưu tái xâm lược của thực dân Pháp và khẩn thiết yêu cầu: “Thực hiện tất cả những bước đi thích hợp để bằng sự can thiệp khẩn cấp ngăn chặn cuộc đổ máu đang diễn ra ở Nam Việt Nam để đi tới một giải pháp cấp bách và hợp lý cho vấn đề Đông Dương”. Hồ Chủ tịch khẳng định: “Chúng tôi đã xác định sẽ chiến đấu tới giọt máu cuối cùng chống lại việc tái lập chủ nghĩa đế quốc Pháp” và đề nghị “đưa vấn đề Đông Dương ra trước Liên hiệp quốc”.

Ngày 18-2-1951, Đại hội Đảng lần thứ II đã bầu Bác vào Ban Chấp hành Trung ương và giữ cương vị Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam.

Ngày 18-2-1958 là mồng một Tết Mậu Tuất, vừa về nước sau chuyến thăm Ấn Độ và Miến Điện, Bác dành thời gian thăm các đơn vị quân đội, nhà máy, Đại học Bách khoa, đồng bào người Hoa, cán bộ tập kết và gửi thư thăm Trường thương binh hỏng mắt.

Ngày 18-2-1960, Bác viết bài báo “Hơn hẳn” để khẳng định tính hơn hẳn giữa 2 phương thức xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa quyết định bởi “năng suất lao động, cho nên… chúng ta hãy kiên quyết giảm bớt những cuộc bàn cãi suông xem chừng không bổ ích mấy. Hãy dồn sức vào giải quyết những vấn đề thiết thực hơn để không ngừng nâng cao năng suất lao động… Năng suất lao động – tích lũy cao – sản xuất cao – đời sống cao. Đó là con đường tiến lên không ngừng của chúng ta”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 17 tháng 2: “Con Lạc cháu Hồng bao giờ cũng quật cường”

Thứ ba, 17/02/2009, 02:50 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Ngày 17-2-1923, cách đây 86 năm, là ngày bước vào Tết Quý Hợi, tại Paris, Nguyễn Ái Quốc cùng bà con Việt kiều dự một bữa tiệc mừng Tết Nguyên đán và công bố sự trở lại hoạt động của Hội Ái hữu, một tổ chức do nhà yêu nước Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường thành lập cách đó 10 năm nhưng đã ngừng hoạt động từ năm 1914 khi hai nhà sáng lập đều bị thực dân bỏ tù.

Ngày 17-2-1947, Bác Hồ viết “Thư gửi đồng bào tản cư”, xác định: “Thực dân Pháp bội tín gây chiến tranh… Tản cư cũng là kháng chiến… Tôi và Chính phủ không giờ phút nào không lo lắng đến các đồng bào. Bây giờ đang cực khổ thì chúng ta vui chịu với nhau. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau vui sướng. Con Lạc cháu Hồng bao giờ cũng quật cường, không bao giờ sợ khổ”.

Tháng 2 năm 1947, trả lời câu hỏi phỏng vấn của báo Chiến Đấu: “Từ ngày kháng chiến bùng nổ, Chủ tịch có luôn luôn mạnh khỏe không?”, Bác vui vẻ: “Cảm ơn, như bạn trông thấy, bây giờ tôi béo đỏ hơn trước, mặc dầu tôi luôn luôn đi thăm mặt trận này đến mặt trận khác, nhiều khi đi mấy chục cây số, mưa ướt dầm đường trơn như mỡ, mà cũng không thấy mệt”. Hỏi: “Vì sao Pháp chưa điều đình với ta?”, trả lời: “Vì thực dân Pháp đang mơ tưởng có thể dùng vũ lực mà chinh phục ta. Vì họ chưa hiểu rằng toàn thể dân ta đã kiên quyết kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập”.

Khoảng giữa tháng 2-1948, Bác Hồ gửi thư tới Hội nghị Thông tin tuyên truyền và báo chí toàn quốc. Là một nhà báo lão luyện, Bác biểu dương những ưu điểm của anh chị em làm báo nhưng cũng vạch ra nhiều khuyết điểm mà “Nói tóm lại: nội dung các tờ báo chưa phản ảnh được sự sinh hoạt của các tầng lớp dân chúng, chưa thành tờ báo của dân chúng”, và xác định báo chí phải “làm tròn nhiệm vụ tuyên truyền, cổ động, huấn luyện và lãnh đạo nhân dân”.

Ngày 17-2-1950 ứng với ngày mồng một Tết Canh Dần, Thơ chúc mừng năm mới của vị Chủ tịch Chính phủ kháng chiến viết: “Kính chúc đồng bào năm mới/ Mọi người càng thêm phấn khởi/ Toàn dân xung phong thi đua/ Đẩy mạnh cuộc chuẩn bị tới/ Chuyển mau sang tổng phản công/ Kháng chiến nhất định thắng lợi”.

Ngày 17-2-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc chuyến thăm Miến Điện, ký kết Tuyên bố chung và dự lễ nhận bằng Tiến sĩ Luật học Danh dự của Trường Đại học Rangoon. Bác tỏ niềm vinh dự được nhận danh hiệu cao quý của “một trung tâm văn hóa có truyền thống vẻ vang, yêu nước và anh dũng chống thực dân. Trường này đã đào tạo ra vị anh hùng Ung San và các nhà lãnh đạo Miến Điện…”.

Ngày 17-2-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “Thêm một thắng lợi to lớn” ca ngợi thành công của Liên Xô đã phóng vệ tinh đầu tiên của trái đất, mở ra kỷ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 16 tháng 2: “Nước Việt Nam là một khối thống nhất”

Thứ hai, 16/02/2009, 01:27 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 86 năm, ngày 16-2-1923, Luật sư Phan Văn Trường đã thuyết trình về lịch sử Việt Nam tại trụ sở của Hội Liên hiệp thuộc địa ở Paris, công khai đề cập tới “vấn đề các dân tộc tự định đoạt lấy tự do khi tất cả các dân tộc ấy hiểu được sự cần thiết của việc áp dụng lý thuyết cộng sản…”. Sau đó, Nguyễn Ái Quốc phát biểu rằng bổn phận mỗi người dân thuộc địa là “cần ủng hộ và làm công việc tuyên truyền cộng sản” và giới thiệu tờ “Le Paria” với cử tọa.

Ngày 16-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Hoa Kỳ thông báo về sự ra đời của nước Việt Nam độc lập, lên án chủ nghĩa thực dân Pháp và đưa ra thông điệp: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi sau quá nhiều năm chịu sự cướp bóc và tàn phá, mới chỉ đang bắt đầu công cuộc xây dựng. Cần phải có an ninh và quyền tự do, trước hết là để đạt được sự phồn vinh và phúc lợi trong nước, sau đó là góp phần nhỏ của mình vào việc xây dựng lại thế giới. An ninh và tự do chỉ có thể được đảm bảo bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác. Chính với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi”. Đây là văn kiện mang tính nhà nước đầu tiên trong lịch sử quan hệ Việt-Mỹ.

Ngày 16-2-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự chiêu đãi do Stalin tổ chức tại Mátxcơva để chào mừng “Hiệp ước tương trợ Xô – Trung” vừa được ký kết. Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại câu chuyện Bác Hồ kể: “Qua Liên Xô, Bác có gặp đồng chí Stalin… Liên Xô phê bình ta chậm làm cải cách thổ địa. Đồng chí Stalin trỏ hai chiếc ghế rồi hỏi mình: “Ghế này là ghế của nông dân, ghế này là của địa chủ, người cách mạng Việt Nam ngồi ghế nào?”. Tới đây chúng ta phải làm cách mạng ruộng đất. Trung Quốc sẽ giúp ta kinh nghiệm về phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất”. Hai năm sau, ngày 16-2-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Thống chế Stalin nhân kỷ niệm 2 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt – Xô.

Ngày 16-2-1958, tiếp tục chuyến thăm Miến Điện, phát biểu tại cuộc họp báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia cắt được. Dân tộc Việt Nam từ lâu đã xây đắp Tổ quốc mình suốt từ Bắc chí Nam cùng chung một lịch sử, một tiếng nói, một nền kinh tế, cùng đứng lên đánh đuổi thực dân. Dân tộc Việt Nam kiên quyết đấu tranh thống nhất nước nhà”.

Ngày 16-2-1969 là ngày mùng một Tết Kỷ Dậu, Bác thăm và chúc Tết Quân chủng Phòng không – Không quân tại sân bay Bạch Mai và lên Vật Lại, Ba Vì tham dự Tết trồng cây cuối cùng trong cuộc đời sau 10 năm phát động.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn