Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Cựu phóng viên AP kể thời khắc Dương Văn Minh đầu hàng

Là phóng viên ảnh làm việc cho hãng AP thường trú tại Sài Gòn, ông Phạm Kỳ (77 tuổi, bút danh Kỳ Nhân) đã trực tiếp có mặt tại Dinh Độc Lập trong thời khắc hồi hộp và quyết liệt nhất.

Ông kể lại, đúng 9 giờ sáng ngày 30/4/1975 tôi có mặt tại Dinh Độc Lập. Lúc này, ở sân cỏ phía trước Dinh có một Trung đội lính Lôi Hổ, được trang bị đầy đủ súng đạn muốn vào để gặp Tổng thống Dương Văn Minh.

cuu-pv-ap1
Ông Phạm Kỳ đang ngồi viết lại những sụ kiện lịch sử tại nhà riêng

Lúc này, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh nói với ông Nguyễn Văn Bính: “Ông là dân biểu của Hạ viện thuộc khối dân tộc xã hội, đồng thời là dân biểu đối lập thuộc nội các mới vào Phủ Tổng thống ngày 28/4/1975 cùng với ông Vũ Văn Mẩu là Thủ tướng Chính phủ vừa mới được bổ nhiệm.

Nhiều dân biểu khác, đa số họ thuộc khối dân tộc xã hội của hạ viện, riêng ông Lý Quý Chung vừa bổ nhiệm chức Tổng thống dân vận cũng có mặt trong Dinh”. Sau cuộc nói chuyện của Chuẩn tướng Hạnh với lính Lôi Hổ thì họ tự động bỏ súng ở sân cỏ để ra về.

cuu-pv-ap2
Từ trái sang phải (hàng đầu): SV Hà Thúc Huy (Điệp báo A10), nhà báo Đức Petearnet, Tổng thống Dương Văn Minh, Đồng chí Lâm (bộ đội), Đồng chí Hà Huy Đỉnh (áo đen, đang chỉ tay), KTS Nguyễn Hữu Thái (Điệp báo A10), Đồng chí Phạm Xuân Thệ. (Ảnh chụp lúc 12 giờ 20, ngày 30/4/1975 tại Đài Phát thanh Sài Gòn, do Phạm Kỳ (Kỳ Nhân) – Phóng viên Thông tấn AP (Cơ sở Điệp báo A10)

Đúng 11 giờ ngày hôm đó, tôi thấy xe tăng của quân giải phóng đang tiến vào từ phía sở thú, đối diện với Dinh, trên đường Thống Nhất.

Mặc dù đã bước qua tuổi 71, nhưng nhân chứng sống lịch sử 37 năm về trước vẫn nhớ như in từng giây phút diễn ra trong ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhất là thời khắc Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời đầu hàng, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hát bài “Nối vòng tay lớn” tại Đài Phát thanh Sài Gòn.

Ông là kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái – người phát thành viên “bất đắc dĩ” trong ngày Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời đầu hàng.

Ông kể lại, “Sáng tinh mơ ngày 30/4, nắm chắc tình hình chuẩn bị nổi dậy của sinh viên ở Đại học Vạn Hạnh và để cuộc chiến kết thúc không phải đổ máu, Sài Gòn không bị tàn phá, tôi bàn với người thân cận của Thượng tọa Trí Quang rồi chạy vội lên chùa Ấn Quang gặp vị lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn tới nhóm Dương Văn Minh để nhờ họ tác động”.

cuu-pv-ap3
KTS Nguyễn Hữu Thái bên bức hình kỷ niệm tại nhà riêng

Khoảng 9 giờ sáng ngày 30/4/1975, ông được tin, Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi các binh lính Việt Nam Cộng hòa trên Đài Phát thanh Sài Gòn, hãy bình tĩnh, không nổ súng và ai ở đứng vị trí của người đó để gặp Chính phủ Cách mạng thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong trật tự, tránh đổ máu.

Nghe tin xong, ông cùng nhà báo Nguyễn Vạn Hồng và Giáo sư Huỳnh Văn Tòng vào Dinh Độc Lập thuyết phục những người quen biết trong chính quyền Dương Văn Minh bàn giao chính quyền cho phía Mặt trận Dân tộc giải phóng. Cùng lúc này, một nhóm sinh viên cầm vũ khí lên xe ca đến áp sát, chuẩn bị xâm nhập vào Đài Phát thanh.

Ở bên ngoài, những chiếc xe tăng đang tiến vào Dinh. Xe tăng 390 chạy đầu tiên kế đến là xe tăng 843, chạy đến húc vào cổng phụ bên trái nhưng cổng không sập. Ngay lập tức, lái xe tăng 390 húc sập cổng chính để mở đường và đồng chí Bùi Quang Thận nhảy từ trên xe 843 xuống, cầm lá cờ giải phóng gắn trên cần ăng ten xe tăng rồi tiến vào thềm Dinh.

cuu-pv-ap4
 Xe Tăng 390 húc sập cổng chính Dinh Độc Lập 

Lúc này, tôi và Giáo sư Tòng đeo băng đỏ của lực lượng quần chúng nổi dậy, do không biết cách điều khiển cầu thang máy nên đồng chí Thận đi theo tôi và Giáo sư Tòng đi bằng thang bộ. Đến nóc Dinh, cả 3 chúng tôi phải leo thêm chiếc thang gỗ mới đến được chân cột cờ. Lá cờ giải phóng được kéo lên trong tiếng reo hò lẫn tiếng súng chỉ thiên chào mừng vang trời.

Ông xúc động, “Thật ngẫu nhiên, vào thời điểm lịch sử ấy trên nóc Dinh Độc Lập có 3 chàng trai của 3 miền đất nước: Anh Thận ở miền Bắc, Giáo sư Tòng miền Nam và tôi ở miền Trung. Cả ba anh em vừa xúc động, vừa sung sướng vừa hãnh diện”.

Gần 12 giờ, Trung tá Bùi Văn Tùng nghĩ ngay đến việc lật đổ chính quyền Sài Gòn do Tổng thống Dương Văn Minh cầm đầu để tránh những thiệt hại về người và của nên Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, Trung tá Bùi Văn Tùng, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Văn Tòng, nhà báo Tây Đức Borries Gallasch… cùng đến Đài Phát thanh bằng xe Jeep để đọc lời đầu hàng.

cuu-pv-ap5

cuu-pv-ap6
Bản thảo chấp nhận đầu hàng do Trung tá Bùi Văn Tùng soạn thảo (Ảnh: Tuổi trẻ)

Tại đài, do tình thế khẩn cấp nên tôi đã trở thành phát thanh viên “bất đắc dĩ” của buổi phát thanh trực tiếp đầu tiên trong ngày trọng đại. “Đời sống bình thường từ nay đã trở lại Sài Gòn, thành phố mà Hồ Chủ tịch rất mong đợi, nay đã được giải phóng… Tôi xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này”.

Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng: “Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam”.

Và Trung tá, Bùi Văn Tùng tuyên bố chấp nhận đầu hàng: “Chúng tôi đại diện lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn”.

Trong buổi phát thanh, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã xúc động bày tỏ những quan điểm của mình và cất cao bài hát “Nối vòng tay lớn” – bài hát đầu tiên được phát trên sóng của Đài Phát thanh Sài Gòn trong ngày giải phóng.

Ông niềm nở kể lại, tại đài lúc đó, mọi việc diễn ra một cách bất ngờ và không hề có sự chuẩn bị trước nên khi làm việc ai cũng phải “lớ ngớ”. Khi ghi âm thì không có thiết bị ghi âm, nhà báo Đức đã cho mượn đài để thu âm. Đang lúc thu âm thì pin yếu nên các sinh viên phải chạy đôn chạy đáo đi tìm pin thay thế. Lời đầu hàng thì phải soạn thạo vội vàng.

cuu-pv-ap7
Niềm vui trong ngày chiến thắng

“Chiều 30/4/1975, mọi người dân Sài Gòn đều ra đường để cảm nhận bầu không khí trong ngày chiến thắng. Mọi người vui mừng reo hò, vỗ tay vang dội khi đón bộ đội giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập. Những người gặp nhau mừng mừng tủi tủi, họ như quên hết những khó khăn, khổ cực mà mình đã trải qua để hòa chung trong ngày chiến thắng. Còn chúng tôi bắt tay nhau thở phào một cách nhẹ nhõm và bất ngờ nói với nhau “thắng rồi ư”, mọi việc cứ diễn ra một cách thật bất ngờ”. Ông Thái vui mừng kể lại.

Cũng là một nhân chứng sống, chứng kiến những thời khắc diễn ra trong ngày trọng đại, Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã  – người trực tiếp ghi lại cuốn băng trong buổi phát thanh, ngày 30/4/1975. Ông kể lại cho chúng tôi nghe, ngày hôm ấy, tất cả mọi người đều hân hoan, vui mừng trong ngày toàn thắng nên không ai nghĩ ra việc phải làm gì đó để lưu lại thời khắc quan trọng này.

Lúc đó, ông đang ở nhà nghe qua radio lời tuyên bố đầu hàng của tổng thống Dương Văn Mình, lời chấp nhận đầu hàng của ông Bùi Văn Tùng tại đài phát thanh nên ông đã dùng băng ghi âm ghi lại để vừa làm nguồn tư liệu và là bằng chứng sống trong lịch sử.

Ông kể lại, lúc đó, ông vừa ghi âm, vừa nghe tiếng xì xào nói chuyện, tiếng nhốn nháotại đài.

Ông cho biết, thời khắc 30/4/1975 là một biến cố lịch sử trọng đại, hiếm thấy, sau một cuộc chiến dài đã làm thay đổi cả chính quyền, chế độ. Và đây là một sự thay đổi rất lớn trong lịch sử nhân loại. Cuộc chiến cũng kết thúc một đất nước đã chịu 1 ngàn năm đô hộ.

Theo VTC News
bqllang.gov.vn

Đồng chí Cù Văn Chước – một cán bộ nhiệt thành, một cuộc đời tận tuỵ phục vụ Bác Hồ

1. Từ rất sớm một lòng theo cách mạng

Đồng chí Cù Văn Chước sinh ngày 18 tháng 1 năm 1928 tại xã Vĩnh Chân, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, và mất ngày 30 tháng 6 năm 2007 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô, Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi, cái tuổi được coi là “ẩn tuổi” của Bác Hồ, người mà ông đã phụng sự suốt đời.

Tham gia cách mạng từ rất sớm, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, năm 1946, khi mới 18 tuổi, đồng chí Cù Văn Chước đã tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Năm 20 tuổi, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, công tác ở Huyện ủy, rồi làm Thư ký cho Ủy ban nhân dân lâm thời huyện Hạ Hòa, rồi được điều về công tác ở Tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ. Như vậy, ngay từ những bước chân đầu tiên trên đường đời, đồng chí đã chọn con đường theo Đảng, theo cách mạng và được Đảng tin cậy.

Thế nhưng, chỉ đến cuối cuộc kháng chiến chống Pháp “thần thánh” của dân tộc, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh mở “trường học lớn”, chỉ thị tổ chức Đoàn Thanh niên xung phong (TNXP) để rèn luyện thế hệ trẻ, tạo thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến và phục vụ trực tiếp cho Chiến dịch Điện Biên Phủ thì đó mới chính là cơ hội thử sức cho đồng chí Cù Văn Chước. Năm 1953, Đoàn TNXP được thành lập, Bác Hồ cử đồng chí Vũ Kỳ làm Đoàn trưởng, ông Tạ Quang Chiến – Đội trưởng đội 36 phụ trách an ninh – xây dựng – hậu cần khu ATK Trung ương, thì đồng chí Cù Văn Chước được giao phụ trách hậu cần, làm Chủ nhiệm cung cấp cho toàn đoàn.

Đầu năm 1954, Đoàn TNXP được chỉ thị phục vụ trực tiếp cho chiến dịch Điện Biên Phủ, với nhiệm vụ chính là mở đường cho bộ đội, cũng như vận chuyển lương thảo, vũ khí ra mặt trận, và bảo đảm giao thông thông suốt trong toàn bộ chiến dịch. Sau chiến dịch này, Đoàn TNXP còn được giao nhiều nhiệm vụ quan trong khác, trong đó có việc thực hiện chỉ thị của Bác Hồ mở một con đường chiến lược từ biên giới Lai Châu – Vân Nam (Trung Quốc) về thị xã Lai Châu (dài gần 100km). Toàn bộ việc hậu cần cho các hoạt động trên của Đoàn TNXP đều do đồng chí Chước đảm nhiệm. Là người phụ trách hậu cần của hàng chục ngàn người trong suốt nhiều năm song đồng chí luôn là người liêm khiết, minh bạch, không bị lợi ích vật chất cám dỗ. Đó cũng là một trong phẩm chất mà sau này, đồng chí được tổ chức tin cậy, giao cho nhiệm vụ chăm lo cuộc sống hàng ngày của Bác Hồ.

2. Những tháng ngày tận tụy bên Bác

Sau ngày Thủ đô giải phóng, giữa tháng 10-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ về Hà Nội. Từ chối ngôi nhà Phủ Toàn quyền sang trọng, Bác Hồ chọn ngôi nhà 1 tầng xây gạch, sàn nhà lát gỗ, nằm phía bên trái Phủ Chủ tịch, gần hồ nước, vốn là nơi nghỉ tạm của những người thợ điện phục vụ Phủ Toàn quyền cũ (nay gọi là nhà 54), làm nơi ở cho mình.

Năm 1956, khi đang làm Chủ nhiệm cung cấp của Tổng đội TNXP (tức Đoàn TNXP), đồng chí Cù Văn Chước được cấp trên điều về nhận nhiệm vụ mới ở Văn phòng Chủ tịch nước (có mật danh là Cơ quan 41). Sau mấy tháng phụ trách Nhà khách Phủ Chủ tịch, đồng chí được các đồng chí Phan Mỹ – phụ trách Văn phòng và Vũ Kỳ – Thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh phân công làm việc tại phòng Văn thư, trực tiếp phục vụ Bác Hồ trong công việc và đời sống hàng ngày. Cũng từ Đoàn TNXP về làm việc tại Văn phòng Chủ tịch nước, ngoài các đồng chí Vũ Kỳ, Cù Văn Chước còn có các đồng chí Vận, Lãm, Quỳnh… Cán bộ phòng Văn thư có khoảng trên 10 người, làm mọi công việc phục vụ Chủ tịch điều hành đất nước. Văn phòng tiếp nhận, phân loại và chuyển giao tài liệu tới các cơ quan có trách nhiệm, theo dõi, đôn đốc các công việc có liên quan, trình Bác rồi trả lời các bộ, ngành, địa phương. Ngoài ra là các công việc như trực ban, làm vườn, làm bếp, lái xe… Phòng Văn thư còn trực tiếp phục vụ Bác làm việc, hội họp, tiếp khách… Bác không có gia đình riêng, do vậy những cán bộ, nhân viên làm việc ở đây như là những người thân trong gia đình với Bác. Đồng chí Chước là một trong những người như thế.

Khoảng cuối năm 1957, việc làm một ngôi nhà khác để Bác Hồ ở và làm việc được đặt ra. Việc thiết kế ngôi nhà được giao cho đồng chí Nguyễn Văn Ninh (1908-1975), quê ở Đông Kinh, Lạng Sơn, Kiến trúc sư tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương làm việc ở Cục Thiết kế, Bộ Kiến trúc đảm nhiệm. Theo yêu cầu của Bác, đó phải là một ngôi nhà sàn theo kiểu nhà của đồng bào Việt Bắc, có thể nhìn ra ao cá trong vườn. Việc thi công ngôi nhà được giao cho đơn vị bộ đội thuộc Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần quân đội, trong vòng hơn 1 tháng, từ đầu tháng 4/1958 đến giữa tháng 5/1958 thì hoàn thành. Trong thời gian làm nhà sàn, đồng chí Chước được giao nhiệm vụ trực tiếp theo dõi, đôn đốc và đáp ứng các yêu cầu của việc thi công. Đồng chí đã làm việc rất tích cực, không kể ngày đêm, phối hợp chặt chẽ với kiến trúc sư và đơn vị thi công để ngôi nhà sớm được hoàn thành. Ngày 15/5/1958, ngôi nhà khánh thành, mọi việc đều khiến Bác Hồ hài lòng. Hai ngày sau, ngày 17/5/1958, Người chính thức chuyển sang ngôi nhà mới. Cũng từ đó, ngôi nhà đã đi vào lịch sử với tên gọi “Nhà sàn Bác Hồ”.

Sau này, đồng chí Chước còn vinh dự là người trực tiếp theo dõi, đôn đốc và đáp ứng các yêu cầu của đơn vị thi công một công trình quan trọng khác tại Phủ Chủ tịch, đó là công trình Hầm 66 (xây dựng năm 1966). Công trình Hầm 66 dành cho Bác (và cả các đồng chí Trung ương khác đến gặp Bác) tránh bom trong những năm đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đối với Khu nhà làm việc của Bác ở Đá Chông – Ba Vì (có mật danh K9), đồng chí Chước tuy không trực tiếp trong Ban chỉ đạo thi công, nhưng vẫn thường xuyên được đồng chí Vũ Kỳ ủy nhiệm đến kiểm tra, trao đổi với đơn vị thực hiện để công trình đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

Trong những năm 60, đồng chí Chước được cấp trên phân công làm Phó phòng rồi Trưởng phòng Văn thư, kiêm Bí thư chi bộ cơ quan. Đồng chí đã cùng anh em tận tụy phục vụ Bác Hồ cho đến khi Người qua đời (9-1969). Một trong những công việc quan trọng mà đồng chí trực tiếp phục vụ đó là việc tổng hợp tin tức và trực tiếp đọc sách, báo, điểm tin cho Bác.

Từ năm 1962, sức khoẻ của Bác Hồ bắt đầu giảm sút, đồng chí Chước và đồng chí Lê Hữu Lập được phân công đọc báo, tổng hợp tin tức, đề xuất ý kiến về các vấn đề báo chí nêu để Bác xem xét. Công việc này cần trình độ tri thức tổng hợp, sự nhạy cảm nắm bắt được đúng và đủ những thông tin hợp yêu cầu của Bác. Đồng chí Lập về sau chuyển sang Văn phòng Phó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng nên một mình đồng chí Chước đảm nhiệm toàn bộ công việc điểm tin đọc báo phục vụ Bác Hồ.

Hàng ngày, thông thường đồng chí làm tin, báo phục vụ Bác hai lần: Trước giờ nghỉ trưa và sau bữa cơm chiều. Bác nghe trực tiếp tin tức trên radio bằng nhiều thứ tiếng. Bác đọc các bản tin do Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng gửi đến từ sáng sớm mỗi ngày. Phần đồng chí Chước, đọc và lựa chọn những tin tức bài viết quan trọng từ các bản tin của Thông tấn xã Việt Nam, báoNhân dân, Quân đội nhân dân và các báo địa phương. Khi đọc có tin hay, Bác nói đưa mọi người cùng đọc. Bác theo dõi tình hình chiến sự ở hai miền Nam – Bắc rất sát sao. Khi cần làm việc với các cơ quan, các đồng chí lãnh đạo và đồng chí Vũ Kỳ thường giao cho đồng chí Chước liên hệ, nêu yêu cầu và trực tiếp liên lạc để đón lên làm việc với Bác. Buổi tối, đồng chí Chước cũng thường đọc sách cho Bác nghe.

Sách Bác đọc có nhiều thể loại và từ nhiều nguồn khác nhau. Sách của tác giả, của nhà xuất bản gửi biếu Bác, sách của những cá nhân và tổ chức nước ngoài gửi tặng Bác qua Bộ Ngoại giao hoặc các đoàn của ta đi công tác… Thời gian cuối đời, Người nghe đồng chí Chước đọc cuốnCuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ XIII (Tác giả: Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968). Chính Bác đã khen ngợi hai tác giả qua đồng chí Cù Văn Chước: “Không biết hai cô chú này có phải vợ chồng không mà viết tâm đắc thế?”

Đồng chí Chước cũng là người được Bác giao cho nhiệm vụ cắt những bài báo phản ánh về gương người tốt việc tốt dán thành từng chuyên đề gương chiến đấu, sản xuất, thiếu nhi học giỏi dũng cảm… Sau này, Bác chỉ đạo đồng chí Hà Huy Giáp, Phan Hiền in thành các tập sáchNgười tốt việc tốt.

Những ngày cuối cùng của đời mình, Bác Hồ vẫn đọc báo và nghe đọc báo. Trên bàn làm việc của Người ở nhà sàn cũng như ngôi nhà Người chữa bệnh và qua đời vẫn còn nguyên chồng báo Người đang xem. Đó là những tờ báo xuất bản vào thời điểm tháng 8 và tháng 9 năm 1969. Đây cũng là những ngày vô cùng sôi động của cách mạng cả hai miền. Miền Nam tin chiến thắng ròn rã. Miền Bắc với khí thế quyết giành vụ mùa thắng lợi và sản xuất nông nghiệp có nhiều chuyển biến. Hội nghị Pari về Việt Nam tiếp tục diễn ra căng thẳng… Tất cả những tin tức đó đều được báo chí phản ánh kịp thời và được Bác theo dõi đều đặn. Có tới 29 tờ báo Bác đã đọc và nghe trong thời gian cuối đời. Người trực tiếp đọc báo cho Bác nghe trong những ngày này là đồng chí Chước và đồng chí Trần Văn Vượng. Các đồng chí chỉ dừng việc đọc báo cho Bác nghe từ sau ngày 24/8/1969, khi Bác đã quá mệt, rồi một tuần sau đó Bác đi về “cõi người hiền” (2/9/1969).

Một công việc quan trọng và thường xuyên khác mà bộ phận văn phòng đảm nhiệm đó là chăm lo sức khỏe và đời sống thường nhật cho Bác Hồ. Việc chăm sóc sức khỏe của Bác do các bác sĩ đảm nhiệm, nhưng việc chăm lo bữa ăn hàng ngày và các sinh hoạt khác thì đồng chí Chước phụ trách, có việc phân công cho người khác, có việc đồng chí trực tiếp làm. Mọi thứ mua về đều được kiểm tra và bảo quản sao cho hợp vệ sinh. Trong việc ăn uống, Bác Hồ rất giản dị, nhất là những năm tháng ở chiến khu. Nhưng từ khi về Hà Nội, do có điều kiện hơn nên bữa ăn của Bác đã được cải thiện rất nhiều. Với trách nhiệm chăm lo trực tiếp đời sống cho Bác, đồng chí Chước đã cùng với các đồng chí Đinh Văn Cẩn, Đặng Văn Lơ (sau này được phân công sang phục vụ Thủ tướng Phạm Văn Đồng) tìm mọi cách nâng cao chất lượng bữa ăn cho Bác, đảm bảo cho Bác ăn ngon miệng, để có đủ sức khỏe gánh vác việc dân việc nước.

Hàng tuần, vào mỗi tối chủ nhật, Văn phòng còn tổ chức để Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng xem phim tại phòng khách Phủ Chủ tịch. Bác lại muốn có các cháu thiếu nhi (thường là con em cán bộ văn phòng) xem cùng, thế nên đồng chí Chước thường cùng anh em nhau bàn bạc chọn phim, chọn người chiếu phim, tìm người phiên dịch ở Bộ Ngoại giao nếu chiếu phim nước ngoài. Đồng chí Chước còn cùng với đồng chí Chiêm bên cảnh vệ bàn và thực hiện việc cấp giấy mời để quản lý người vào xem, phân công phục vụ, thu xếp chỗ ngồi cho phù hợp với từng đối tượng. Sau mỗi lần xem phim hay xem biểu diễn văn nghệ, theo chỉ thị của Bác, các đồng chí Vũ Kỳ, Cù Văn Chước còn phải chuẩn bị kẹo để Bác chia cho các cháu.

Có thể nói, việc quản trị đời sống ở Văn phòng Phủ Chủ tịch cơ bản do đồng chí Chước đảm nhiệm. Các khoản thu chi của Bác (trừ sổ tiết kiệm do đồng chí Lê Hữu Lập giữ), gồm lương, phụ cấp đại biểu Quốc hội, nhuận bút, hóa đơn, chứng từ…, tất cả đều do đồng chí Chước quản.Các chứng từ bao giờ đồng chí Chước cũng là người kiểm tra cuối cùng trước khi báo cáo lên lãnh đạo. Cứ 6 tháng một lần, đồng chí báo cáo tổng hợp tài chính chi tiêu trong quỹ lương của Bác. Mọi việc đều chỉn chu, ngăn nắp. Các giấy tờ sổ sách ghi lại công việc này hiện nay còn lưu giữ thường có chữ ký của đồng chí Chước, đúng với vai trò một “Quản gia” của Bác Hồ.

3. Góp công xây dựng bảo tàng, gìn giữ di sản Bác Hồ

Sau khi Bác Hồ qua đời, cùng với đồng chí Vũ Kỳ và một số cán bộ Văn phòng Chủ tịch nước trước đó, đồng chí Cù Văn Chước tiếp tục được vinh dự gắn bó cuộc đời mình với Bác Hồ, bằng việc đảm nhận nhiệm vụ mới: Gìn giữ và phát huy di sản của Bác. Đồng chí được giao nhiều chức vụ quan trọng như Phụ trách Văn phòng Ban Quản lý xây dựng công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh (1969-1977), Chánh Văn phòng (1977-1979) rồi Trưởng Ban Nghiệp vụ Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh (1979-1982), Phó Viện trưởng Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh (1983-1987), Phó Giám đốc (1988-1990) rồi Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh (1990-1999).

Ngay từ đầu những năm 1970, Trung ương Đảng đã có chỉ thị về việc giữ gìn và phát huy di sản của Người bằng việc tiến tới thành lập Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội và hình thành hệ thống bảo tàng, di tích và khu tưởng niệm Hồ Chí Minh trong cả nước.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh trong những ngày đầu là khẩn trương tiến hành việc đạc họa, chụp ảnh, kiểm kê, bảo quản toàn bộ hiện vật và di tích có liên quan đến Bác Hồ trong khu vực Phủ Chủ tịch; Quy hoạch các khu vực trong di tích cần bảo vệ… Các văn bản kiểm kê di sản Bác Hồ hiện còn lưu giữ đều có chữ ký xác nhận của đồng chí Chước và chữ ký nhận bàn giao nhập kho bảo tàng của đồng chí Lưu Quang Lập.

Đồng chí Chước cũng trực tiếp phụ trách việc đo đạc chính xác ngôi Nhà sàn Bác Hồ, phục vụ cho việc làm một ngôi nhà khác thay thế, để ngôi nhà thật được bảo quản tại một nơi an toàn, tránh sự đánh phá của bom Mỹ. Sau này (sau năm 1975), những số liệu đo đạc ấy còn dùng làm mô hình cho Nhà sàn Bác Hồ ở Quân khu V (cũng do đồng chí Chước tham gia chỉ đạo thực hiện), để đồng bào miền Trung có cơ hội được nhìn thấy ngôi nhà của Bác.

Những hiện vật và di tích có giá trị lịch sử, liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước tại khu vực Phủ Chủ tịch đã được bảo quản và lập hồ sơ khoa học và đó chính là cơ sở để Khu Di tích Phủ Chủ tịch chính thức được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 15/5/1975.

Năm 1979, kỷ niệm 10 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ, hưởng ứng sáng kiến của Bộ Thủy sản, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh đã cùng với Bộ Thủy sản và Bộ Nông nghiệp phát động phong trào “Vườn quả Bác Hồ”, “Ao cá Bác Hồ” trong toàn quốc và lấy Vườn quả, Ao cá Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch làm hình mẫu. Đồng chí Chước là người thay mặt Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với hai cơ quan trên tổ chức thực hiện. Đó quả là một phong trào xã hội rộng lớn, có ý nghĩa kinh tế và giáo dục ở nước ta cuối thập kỷ 70 và cả thập kỷ 80 của thế kỷ XX.

Cũng trong những năm 1978-1979, khi Trung Quốc gây căng thẳng và tiến hành chiến tranh biên giới, đồng chí Chước cũng là người trực tiếp tổ chức tốt việc đóng gói và vận chuyển an toàn gần 300 hòm hiện vật quý của Bác Hồ tới nơi bảo quản an toàn.

Về việc xây dựng Công trình Lăng (1973-1975) và Bảo tàng Hồ Chí Minh (1985-1990), đồng chí Cù Văn Chước với vai trò, trách nhiệm của mình, đã cùng với đồng chí Vũ Kỳ, Hà Huy Giáp, Đặng Xuân Kỳ góp phần tích cực cho sự thành công của hai công trình đặc biệt quan trọng này. Trong suốt gần hai mươi năm xây dựng các công trình Lăng và Bảo tàng, đồng chí Chước đã làm việc hết sức mình, chú ý lắng nghe ý kiến của chuyên môn và hợp tác chặt chẽ với các đơn vị thi công để hai công trình đạt chất lượng cao. Đặc biệt, với công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh, đồng chí Chước có những đóng góp trực tiếp và to lớn hơn. Là một trong những người trong Ban Phụ trách xây dựng (do đ/c Đỗ Mười làm Trưởng Ban), đồng chí Chước liên tục được cử đi về giữa Liên Xô và Việt Nam, làm việc với các chuyên gia Liên Xô về kiến trúc, thiết kế và trưng bày bảo tàng, lo nhập khẩu máy móc, kỹ thuật; hợp tác chặt chẽ với các đơn vị như Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, Bộ Kiến trúc, trao đổi trực tiếp với các chuyên gia kỹ thuật phụ trách thi công công trình, lắp đặt thiết bị để công trình Bảo tàng đạt chất lượng cao nhất và kịp tiến độ.

Năm 1990, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ kính yêu, Bảo tàng Hồ Chí Minh được khánh thành. Đây cũng là năm đồng chí Cù Văn Chước chính thức thay thế người đàn anh của mình, đồng chí Vũ Kỳ, làm giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Như vậy, không chỉ là một trong những người có công đầu trong việc xây dựng Bảo tàng, đồng chí Chước còn là người tiếp nhận chức vụ, mà cũng là trách nhiệm trực tiếp cao nhất của một cơ quan chuyên trách việc trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy di sản Bác Hồ kính yêu.

4. Trên cương vị Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Với cương vị làm Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh trong suốt 9 năm (1990-1999), đồng chí Cù Văn Chước – con người đã trung thành, tận tụy với Bác Hồ, càng có nhiều điều kiện hơn để đóng góp sức mình cho sự nghiệp bảo tồn, gìn giữ di sản và làm sáng danh Bác. Trong nhiệm kỳ Giám đốc của mình, đồng chí Chước gần như không xem nhẹ bất kỳ mặt công tác nào trong 6 mặt công tác bảo tàng, chú trọng công tác nghiên cứu khoa học, kiện toàn Hội đồng khoa học và chỉ đạo xây dựng kế hoạch chuyên môn dài hạn. Đồng chí cũng đã chỉ đạo thực hiện nhiều chuyến sưu tầm tài liệu và hiện vật có liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh có quy mô ở nước ngoài, như ở Liên Xô (1991), Trung Quốc (1997), Pháp… Những cống hiến của đồng chí Chước là toàn diện, trên nhiều mặt, tuy nhiên chúng tôi muốn nhấn mạnh đến 2 đóng góp lớn nhất của đồng chí, đó là: 1. Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đầu tiên cho Bảo tàng Hồ Chí Minh; và 2. Chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo xây dựng giúp nước bạn Lào xây dựng Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản thành công, khánh thành đúng tiến độ thời gian.

Về đóng góp thứ nhất, có thể khẳng định đồng chí Chước là một trong những người có công lớn nhất trong việc đào tạo, bồi dưỡng, tạo dựng lớp cán bộ đầu tiên cho Bảo tàng Hồ Chí Minh. Sự thực, ngay từ những ngày đầu với vai trò: Phụ trách công tác hành chính của Ban Nghiệp vụ của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, rồi Phó Viện trưởng, Giám đốc kiêm Bí thư Đảng bộ cơ quan Bảo tàng Hồ Chí Minh, đồng chí Chước đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành đội ngũ cán bộ này.

Trong những ngày đầu, Trung ương đã phân công về Viện bảo tàng Hồ Chí Minh những cán bộ khoa học có chuyên môn giỏi trong nhiều lĩnh vực: Kiến trúc, kỹ thuật, khoa học xã hội, mỹ thuật… để làm nòng cốt, nền tảng cho công tác nghiên cứu, gìn giữ và phát huy di sản Hồ Chí Minh. Đội ngũ đó theo thời gian cứ đông dần lên, với trình độ chuyên môn cao hơn, sát thực hơn với công tác nghiên cứu và nghiệp vụ của bảo tàng. Vai trò của đồng chí Chước trong vấn đề này từ chỗ là người chấp hành chỉ đạo của cấp trên để xây dựng đội ngũ cán bộ, giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt để các cán bộ chuyên môn được đào tạo, bồi dưỡng, đến chỗ phụ trách trực tiếp và toàn diện việc xây dựng và phát triển đội ngũ này. Bản thân đồng chí không được trải qua các cấp đào tạo có hệ thống về chuyên môn, nghiệp vụ bảo tàng, nhưng đồng chí có tâm huyết với Bác Hồ, với sự nghiệp phát huy di sản của Bác, có năng lực tổ chức giỏi nên đã có công trực tiếp tạo ra nhiều lớp cán bộ chuyên môn cho bảo tàng. Tổng cộng, từ khi Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh được thành lập cho đến năm 1990, khi công trình Bảo tàng khánh thành, đã có hơn 90 cán bộ trình độ đại học và trên đại học được đào tạo để phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản Hồ Chí Minh. Dấu ấn của đồng chí Chước trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ này là rất lớn, cụ thể ở việc tham gia lập kế hoạch, xin chỉ tiêu đào tạo, đặt quan hệ với các đối tác trong nước và nước ngoài để hợp đồng đào tạo, lựa chọn những người cụ thể gửi đi học, chăm lo, hỗ trợ các điều kiện học tập và sắp xếp, sử dụng cán bộ chuyên môn… Vai trò đó còn được thể hiện rõ hơn và mang tính quyết định kể từ khi đồng chí chính thức được bổ nhiệm làm Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh (1990). Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cho rằng, dấu ấn của đồng chí Chước không hoàn toàn chỉ là ở số lượng cán bộ được bồi dưỡng, đào tạo, ở trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, mà còn ở tình cảm và lòng kính yêu Bác Hồ, trách nhiệm đối với nghề nghiệp, với sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản của Bác. Bởi đó cũng chính là những phẩm chất của đồng chí Chước để từ đó trở thành tấm gương sáng cho mọi cán bộ, đảng viên trong cơ quan học tập và noi theo.

Về đóng góp thứ hai, có thể khẳng định đồng chí Chước là người có công đầu trong việc giúp nước bạn Lào xây dựng Bảo tàng vị lãnh tụ của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào – Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản. Việc xây dựng công trình này diễn trong những năm 1992-2000, đúng khoảng thời gian đồng chí Chước làm Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Bởi thế, đồng chí càng có điều kiện dành nhiều tâm huyết của mình cho công trình, với tinh thần: “Giúp bạn là mình tự giúp mình” mà hơn ai hết, đồng chí là người ghi nhớ và thấm nhuần lời dạy đó của Bác Hồ.

Công trình Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản bắt đầu được thực hiện từ năm 1992 do Việt Nam giúp Lào xây dựng (với kinh phí trước sau khoảng 3 triệu USD), trong đó Bảo tàng Hồ Chí Minh được sự phân công của Trung ương, trực tiếp là của Bộ Văn hóa – Thông tin, chủ yếu đảm trách nội dung trưng bày và đào tạo cán bộ, với các nhiệm vụ cơ bản: Giúp Bạn sưu tầm tài liệu hiện vật về Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, về cách mạng Lào hiện có tại Việt Nam; Giúp Bạn đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn phục vụ cho hoạt động của bảo tàng; Giúp Bạn xây dựng ý tưởng trưng bày, chuyển giao kinh nghiệm tổ chức thực hiện.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, phía Bạn gặp rất nhiều hạn chế, do vậy Bảo tàng Hồ Chí Minh, dưới sự dẫn dắt của đồng chí Chước, đã khéo léo thuyết phục cấp trên, đồng thời quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, vượt qua cả những giới hạn của nhiệm vụ được giao ban đầu để giúp Bạn. Những đóng góp của Bảo tàng Hồ Chí Minh do đồng chí Chước lãnh đạo đối với Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản không chỉ dừng lại ở công tác chuyên môn, nghiệp vụ và đào tạo, mà còn có cả kinh phí và thiết bị phục vụ trưng bày, không chỉ dừng ở mức “chuyển giao kinh nghiệm”, mà còn thực sự bắt tay vào thực hiện, với sự hoạt động tích cực của các cán bộ, chuyên gia của Bảo tàng Hồ Chí Minh do đồng chí Chước trực tiếp lựa chọn và đích thân chỉ đạo.

Trong lịch sử đối ngoại của Bảo tàng Hồ Chí Minh, việc giúp nước Bạn Lào xây dựng thành công và khánh thành đúng thời gian Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản là thành quả lớn nhất. Thành quả ấy có được dưới thời đồng chí Chước làm Giám đốc và cũng chính là người trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả này.

5. Một cuộc đời, một tấm lòng tận trung vẹn nghĩa với Bác Hồ

Từ sau năm 1999, đồng chí Cù Văn Chước nghỉ hưu, song không vì thế mà đồng chí thôi gắn bó với sự nghiệp gìn giữ và phát huy di sản Bác Hồ. Cho đến nhiều năm sau, theo lời hẹn với các đồng nghiệp trẻ, đồng chí vẫn kiên trì, thường xuyên đến cơ quan giúp việc xác minh, hoàn thiện các tài liệu, hồ sơ hiện vật về Bác Hồ.

Đến đây, nhìn lại những cống hiến của đồng chí Cù Văn Chước, từ những ngày đầu tôi luyện trong “trường học lớn” là Đoàn TNXP do Bác Hồ sáng lập, trải qua những năm tháng trực tiếp phục vụ, chăm lo cho Bác từ bữa ăn, giấc ngủ, tiếp khách, hội họp, đến những năm đứng đầu cơ quan Bảo tàng Hồ Chí Minh, và cả đến những năm cuối đời, có thể khẳng định đồng chí Cù Văn Chước đã dành trọn cuộc đời mình, đã hiến dâng tấm lòng tận trung vẹn nghĩa của mình cho Bác Hồ.

Đi sau và kế tục bậc đàn anh tiền nhiệm Vũ Kỳ, đồng chí Cù Văn Chước là một trong những người cuối cùng của thế hệ những người đã vinh dự được sống và trực tiếp phục vụ Bác Hồ, đồng thời là một trong những người có công đầu trong sự nghiệp giữ gìn và phát huy di sản của Bác, cho hôm nay và cho muôn đời sau.

Do điều kiện chiến tranh và phục vụ Bác Hồ, đồng chí Cù Văn Chước không có thời gian được cử đi đào tạo bài bản, ông trưởng thành trong thực tiễn công tác. Bằng trí thông minh và sự cầu thị, ông tự học ngay trong đường đời và học chính ở vị lãnh tụ mình được phục vụ. Do vậy, dù không có bằng cấp cao, nhưng ông quản lý cơ quan khoa học hết sức suôn sẻ bằng chính cái Tâm, cái Tầm, cái Tài, cái Tình của mình.

Sinh ra và lớn lên từ một làng trung du nghèo, được nuôi dưỡng bởi truyền thống văn hóa – lịch sử của vùng quê rừng cọ – đồi chè, ven con sông Cái quanh năm nặng đỏ phù sa, đồng chí Cù Văn Chước được mang đậm dấu ấn: “Trọng tình, trọng người” của quê hương Đất Tổ. Dấu ấn đó theo ông đi suốt cuộc đời và cho đến hôm nay, khi ông về với Tổ tiên, tiếp tục đi theo phục vụ Bác Hồ ở thế giới bên kia, ông vẫn là tấm gương sáng về mọi mặt:

– Nghiêm túc, tận tụy, chỉn chu với công việc;

– Cân nhắc cẩn trọng trong lời nói và việc làm;

– Luôn cầu thị lắng nghe, tôn trọng, khuyến khích và quan tâm tới mọi người;

– Và hơn nữa, ông là tấm gương thủy chung với gia đình, dòng họ và quê hương Hạ Hòa – Phú Thọ.

Hôm nay nhân kỷ niệm 85 năm ngày sinh của ông, chúng tôi đã tập trung về đây để cùng tưởng nhớ tới ông – người đồng chí, người thủ trưởng mẫu mực và kính mến./.

Theo TS. Chu Đức Tính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

“Lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có một niềm tin tuyệt đối vào trí tuệ và sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam. Người đã xây dựng khối đoàn kết toàn dân vững chắc chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Tư tưởng thêm bạn bớt thù, đại đoàn kết toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ truyền thống giàu lòng đồng tình và bác ái của dân tộc ta:

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Từ quan niệm đạo đức quý báu đó, Người đã đúc kết thành một chân lý vĩ đại: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”(1).

Đoàn kết toàn dân vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng và là mục tiêu đấu tranh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Là người nắm vận mệnh của đất nước, hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò quan trọng của đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng, để giải phóng một dân tộc cũng như để xây dựng một chế độ mới đều cần huy động sức mạnh toàn dân. Đoàn kết toàn dân vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng và là mục tiêu đấu tranh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh to lớn của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết, không ai chiến thắng được. Mỗi khi đất nước đứng trước những hiểm họa xâm lăng, Người kêu gọi toàn dân hãy đoàn kết lại thành một khối thống nhất để đấu tranh giải phóng dân tộc vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập tự do.

Để xây dựng khối đoàn kết toàn dân vững mạnh, Người khuyên đồng bào vì lòng yêu nước thương nòi, hãy xóa bỏ mọi bất hòa, thành kiến để cùng phấn đấu cho một tương lai tươi sáng. Trong Thư gửi đồng bào Nam bộ, Người viết: “Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu con người cũng có người thế này thế khác nhưng thế này thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận ra rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc…có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”(2).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân, trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân bao gồm công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Người coi đó là nền, là gốc của đại đoàn kết. Người chủ trương đoàn kết lâu dài và rộng rãi, vì vậy, đoàn kết phải trở thành chính sách chiến lược của Đảng và Nhà nước. Người xác định mục đích của đoàn kết là để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, vì vậy trong nhân dân hễ ai có tài, có đức, có lòng thì ta đoàn kết với họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, trong chính sách đoàn kết toàn dân phải chống hai khuynh hướng sai lầm: Cô độc hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc. Đồng thời Người cũng chỉ rõ: Phải luôn củng cố khối đoàn kết theo phương châm lấy công tác mà củng cố đoàn kết, lấy đoàn kết mà đẩy mạnh công tác.

Nhận thấy nhân dân là lực lượng quyết định thắng lợi của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra các hình thức tốt nhất để tổ chức lực lượng của nhân dân như thành lập các mặt trận: Việt Minh, Liên Việt, Dân tộc thống nhất, Tổ quốc Việt Nam… nhằm tập hợp các lực lượng cách mạng thành khối đoàn kết toàn dân tộc. Người chủ trương đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân thuộc các đảng phái, các đoàn thể trong mặt trận Tổ quốc Việt Nam để giúp đỡ nhau phấn đấu hoàn thành sự nghiệp xã hội chủ nghĩa.

Người nêu ra bốn mục đích của Mặt trận đoàn kết dân tộc là: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Theo Người, muốn thống nhất phải có hòa bình, muốn độc lập thì phải có dân chủ. Bốn điểm đó như bầu trời có bốn phương Đông – Tây – Nam – Bắc, như một năm có bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, không thể tách rời nhau. Cương lĩnh của mặt trận đoàn kết phải là ngọn cờ tập hợp các lực lược cách mạng, trong đó Đảng là người lãnh đạo mặt trận và là hạt nhân của khối đoàn kết toàn dân. Tư tưởng của các thành viên trong mặt trận phải đoàn kết với nhau chân thành, không đoàn kết ngoài miệng mà đoàn kết bằng việc làm, đoàn kết thực sự với thái độ thân ái giúp đỡ lẫn nhau, thật thà học tập những ưu điểm, thẳng thắn phê bình những khuyết điểm của nhau để cùng nhau tiến bộ.

Khối đoàn kết toàn dân được xây dựng từ mối quan hệ khăng khít giữa các dân tộc, các tôn giáo, mối liên hệ quân – dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nước ta là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc mang bản sắc riêng nhưng đều nằm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Vì vậy Người kêu gọi đồng bào các dân tộc không phân biệt Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,…phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng xã hội chủ nghĩa, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc.

Đối với các thành phần tôn giáo, Chủ tịch Hồ chí Minh rất tôn trọng tự do tín ngưỡng của đồng bào vì đó là điều thiêng liêng trong sâu thẳm tâm linh mỗi con người, là quyền lợi chính đáng cần được bảo vệ. Tuy nhiên, Người nhắc nhở phải luôn gắn liền lợi ích tôn giáo với lợi ích chung của dân tộc. Phải đoàn kết giữa đời và đạo, giữa yêu nước và phụng đạo. Dù là lương hay giáo, đồng bào cũng phải yêu thương đùm bọc nhau, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận, ấm no, xây dựng Tổ quốc. Người đánh giá cao công lao đóng góp của đồng bào các tôn giáo trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước. Người nhắc nhở đồng bào Phật giáo phải đoàn kết, đóng góp sức lực và tiền của để đánh đuổi thực dân, cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, làm theo lòng từ bi của đạo Phật. Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một. Người mong muốn các hòa thượng tăng ni và Phật tử tích cực thực hiện tinh thần từ bi vô ngã vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc.

Trong thư gửi đồng bào công giáo ngày 14/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nước nhà ta đang đứng trước một tình thế rất nghiêm trọng. Dân tộc ta suy hay thịnh, mất hay còn chính là ở trong lúc này. Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(3). Thấu hiểu nguyện vọng của đồng bào Thiên chúa giáo là phần xác ấm no, phần hồn thong dong cho nên cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng sẽ giải phóng trọn vẹn cho người dân công giáo cả về phương diện chính trị và tôn giáo. Người tin tưởng rằng, khi lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hào bình thống nhất Tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ ta, tình đoàn kết giữa nhân dân và quân đội trở thành sức mạnh vô cùng to lớn.Trong bài Quân đội nhân dân đăng Báo Nhân Dân ngày 24/12/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân và dân đoàn kết thành một khối vững chắc, cùng nhau mạnh mẽ tiến lên, thì sẽ vượt qua được mọi khó khăn, nhất định thành công trong sự nghiệp thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ cả nước”(4).

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Quân dân đoàn kết là đường thành công.

Đối với đồng bào ta ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự quan tâm sâu sắc. Người khen ngợi, khích lệ sự đóng góp của kiều bào cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Người hiểu rằng, kiều bào ta tuy ở đất khách quê người nhưng lòng luôn hướng về Tổ quốc. Người khuyên kiều bào khi về nước cần góp tài góp sức vào công cuộc xây dựng nước nhà. Trong thư gửi kiều bào Việt Nam ở Pháp ngày 12/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chúng tôi gửi lời chào và khuyên tất cả anh chị em kiều bào:

1. Phải triệt để đoàn kết…

4. Mỗi người cần biết thạo một nghề để mai sau về nước giúp ích cho cuộc xây dựng nước Việt Nam mới”(5).

Đại đoàn kết toàn dân là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng này mang ý nghĩa chiến lược, góp phần quan trọng trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đoàn kết toàn dân trở thành một trong những quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Từ khi ra đời đến nay chính sách này đã không ngừng được bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với sự vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam nhằm phát huy tối đa sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân. Nhờ đó mà chúng ta đã vượt qua bao khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù của dân tộc, vững vàng tiến bước ngay cả trong những thời điểm thế giới có những diễn biến phức tạp.

Thực hiện lời dạy của Người, trong suốt những năm qua Đảng ta đã không ngừng xây dựng củng cố tình đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân. Từ khi bước sang giai đoạn đổi mới đất nước Đảng ta đã nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn giá trị tư tưởng đại đoàn kết toàn dân. Điều đó được thể hiện nhất quán trong các chủ trương chính sách đổi mới trên cơ sở thống nhất về chính trị tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân, giải quyết hợp lý lợi ích kinh tế giữa các thành phần kinh tế xã hội, huy động được sức lực trí tuệ toàn dân để xây dựng đất nước.

Về giá trị lý luận cũng như thực tiễn, đại đoàn kết toàn dân là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà mỗi người dân Việt Nam phải thấm nhuần sâu sắc và thực hiện một cách triệt để trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc.

Theo http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

30 tháng 4 năm 1975 – mùa Xuân đại thắng

Cách đây 38 năm, với cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bắc – Nam sum họp một nhà, đất nước trọn niềm vui. Chiến tranh đã qua đi, đất nước Việt Nam nay đã đổi mới, vươn mình lớn mạnh nhưng mùa Xuân đại thắng năm 1975 vẫn luôn sống mãi trong ký ức của mỗi thế hệ người Việt Nam với ý nghĩa lịch sử vô cùng sâu sắc.

Ngay từ ngày 25/3/1975, Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã khẳng định thời cơ chiến lược đã đến, phải tập trung nhanh nhất lực lượng, phương tiện để giải phóng miền Nam trước mùa mưa. Chiến dịch giải phóng thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn được Bộ Chính trị quyết định mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Từ đầu tháng 4 năm 1975, quân dân ta sống trong những ngày hào hùng và sôi động nhất của lịch sử dân tộc. Cả dân tộc ta ra quân trong một mùa Xuân lịch sử với tinh thần “đi nhanh đến, đánh nhanh thắng” và khí thế “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.

Trận Xuân Lộc

Ngày 9/4,  ta tiến công vào thị trấn Xuân Lộc, một căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông Bắc. Ngày 16/4, quân ta phá vỡ phòng thủ Phan Rang. Ngày 21/4, quân địch ở Xuân Lộc tháo chạy, cửa ngõ vào Sài Gòn từ hướng Đông Bắc đã được mở. Ngay từ khi mất Xuân Lộc, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức.

Chiến dịch Hồ Chí Minh

chien-dich-ho-chi-minh1Bản đồ tái hiện Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh, kết thúc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước. Ảnh internet

Đúng 17h ngày 26/4, quân ta được lệnh nổ súng mở màn chiến dịch, 5 cánh quân từ các hướng vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài tiến vào thành phố Sài Gòn. Ngày 28/4, các trận địa pháo của ta nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Rạng sáng ngày 29/4, tất cả các cánh quân đồng loạt tổng công kích vào trung tâm thành phố, đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch

chien-dich-ho-chi-minh2Sáng 30/4/1975, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đánh chiếm Sân bay Tân Sơn Nhất
Ảnh internet

Đánh chiếm Dinh Độc lập

4. 3. mua xuan dai thangXe tăng quân giải phóng húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975Ảnh internet

10h45p ngày 30/4, 4 xe tăng của ta húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập, bắt sống toàn bộ Ngụy quyền Sài Gòn. Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện và ra lệnh cho quân Ngụy đầu hàng. Vào lúc 11h30 cùng ngày, lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Phủ Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn báo hiệu sự toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngày 2/5/1975, những địa phương cuối cùng của miền Nam được giải phóng.

Ý nghĩa lịch sử

4.4 . mua xuan dai thangNhân dân Sài Gòn nô nức xuống đường mừng chiến thắng.  Ảnh internet

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với trận mở màn Buôn Ma Thuột và Chiến dịch Tây Nguyên, tiếp đó là Chiến dịch Huế – Đà Nẵng, cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã hoàn toàn thắng lợi trong gần hai tháng liên tục và kiên cường chiến đấu (từ 18/3/1975 đến 2/5/1975). Đó là chiến thắng vẻ vang nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đánh dấu thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, là sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, một sự kiện có tác động lớn đến tình hình thế giới. Trải qua 21 năm tiến hành chiến tranh, 5 đời Tổng thống Mỹ điều hành 4 kế hoạch chiến lược thực dân mới và tiến hành chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ từng bước leo thang biến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thành cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất trên thế giới kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Quân dân miền Nam với quyết tâm, ý chí thắng Mỹ với thế trận chiến tranh nhân dân đã lần lượt đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của chúng mà Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là chiến thắng vĩ đại nhất quyết định số phận của cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan hơn 1 triệu quân Ngụy, lật đổ hoàn toàn chế độ Ngụy quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam, cố vấn Mỹ phải rời khỏi miền Nam, Tổng thống Ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Chiến thắng đó đã giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và tay sai.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đánh dấu kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đồng thời kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của đế quốc Pháp – Mỹ và chế độ phong kiến, rửa sạch nỗi nhục và nỗi đau mất nước hơn 1 thế kỷ của dân tộc Việt Nam.

Chủ nghĩa thực dân cũ, chủ nghĩa thực dân mới và thế lực phản động tay sai là nguyên nhân chia cắt đất nước. Thực dân Pháp chia nước ta thành 3 kỳ trong xứ Đông Dương 5 kỳ thuộc Pháp, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới. Đế quốc Mỹ và Ngụy quyền Ngô Đình Diệm chia cắt đất nước thành 2 miền Nam – Bắc với vĩ tuyến 17. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã xóa bỏ mọi ranh giới chia cắt đất nước, đất nước đã được thống nhất về mặt lãnh thổ, đó là điều kiện thuận lợi để hai miền Nam – Bắc thống nhất đất nước về mặt nhà nước và thống nhất trên các lĩnh vực khác.

Đường lối cách mạng dân chủ nhân dân của Đảng là mục tiêu của cách mạng, là niềm tin của dân tộc, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp tạo điều kiện cho miền Bắc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đại thắng mùa Xuân năm 1975 lật đổ chế độ đế quốc và tay sai, mở đường cho sự hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp cách mạng dân chủ nhân dân, xóa bỏ giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản ở miền Nam.

Đất nước không còn bóng giặc ngoại xâm, chế độ Ngụy quyền tay sai đã bị lật đổ, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước độc lập, thống nhất trong cả nước và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, một trong những chiến công hiển hách nhất của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Chiến dịch Hồ Chí Minh – trận kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước- cùng với trận Bạch Đằng (1288), Chi Lăng (1427), Đống Đa ( 1789), Điện Biên Phủ (1954) đã cắm một cột mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên của lịch sử nước ta, tô đậm truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc ta trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.

Tình đoàn kết gắn bó keo sơn của ba dân tộc Đông Dương được thể hiện sâu sắc trong quá trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên một chiến trường thống nhất nhằm chống một kẻ thù chung với cùng một mục tiêu là giải phóng dân tộc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 không những mở ra bước ngoặt mới của lịch sử dân tộc và còn tạo thời cơ lớn cho nhân dân Campuchia giải phóng đất nước ngày 17/4/1975, cho nhân dân Lào giành độc lập ngày 2/12/1975.

Đối với đế quốc Mỹ, thất bại ở miền Nam năm 1975 là thất bại của một cuộc chiến tranh hao người tốn của nhất, là thất bại to lớn và nặng nề nhất trong lịch sử 200 năm của đế quốc Mỹ, thất bại đó đã tác động sâu sắc tới nội tình nước Mỹ, làm suy giảm uy tín và vị trí của Mỹ trên trường quốc tế.

Đối với thế giới, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan cuộc phản kích lớn nhất vào các lực lượng cách mạng của tên đế quốc đầu sỏ, phá vỡ phòng tuyến ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc và sự mở rộng của chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á, góp phần làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ.

Thắng lợi mùa Xuân năm 1975 đã quyết định sự giải thể của khối quân sự SEATO do Mỹ cầm đầu tháng 9 năm 1975, góp phần đem lại hòa bình, an ninh và sự hòa hợp của khu vực Đông Nam Á.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Thắng lợi đó đã góp phần tăng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội, thu hẹp trận địa của chủ nghĩa đế quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là nguồn cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ tiến bộ trên thế giới, tiếp tục chứng minh một chân lý của thời đại ngày nay là: Một dân tộc kiên quyết chống chủ nghĩa đế quốc có đường lối lãnh đạo đúng đắn, có sự đồng tình giúp đỡ của quốc tế thì nhất định sẽ giành được thắng lợi dù phải đương đầu với tên đế quốc đầu sỏ.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân ta đã thực hiện được ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhân dân hai miền Nam – Bắc đã sum họp một nhà. Trong cuộc đọ sức giữa ý chí Việt Nam và sức mạnh quân sự Mỹ, mặc dù phải chiến đấu gian khổ, hi sinh nhiều người, nhiều của, nhưng tinh thần và ý chí của nhân dân Việt Nam quyết tâm giành độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà đã toàn thắng. Chiến thắng oanh liệt đó mãi là niềm tự hào của mỗi thế hệ người dân Việt Nam, là động lực tinh thần to lớn để chúng ta kiên định, vững bước trên con đường mà Đảng, Bác Hồ kính yêu và nhân dân ta đã chọn: Độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; tiếp tục công cuộc đổi mới, CNH-HĐH, xây dựng và phát triển đất nước, sánh vai với bạn bè thế giới như Bác Hồ kính yêu vẫn hằng mong muốn./.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Chuyện của người làm nhà cho Bác Hồ

Những ngày được gần Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi thực hiện nhiệm vụ làm nhà cho Bác tại chiến khu Việt Bắc, để lại trong ông Lê Nhạ, xã Đức Trung, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, những kỷ niệm không bao giờ quên.

Câu chuyện cuộc đời, gắn với trọng trách gần 60 năm về trước như cuốn phim quay chậm hiện dần trong ký ức ông.

chuyen-ngươi-lam-nha-1

“Chú Kiệm”, tên do Bác Hồ đặt tên, quàng khăn, hàng cuối. Ảnh: Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh.

Vinh dự được Bác đặt tên

Ông Lê Nhạ trào nước mắt nhìn về cõi xa xăm: “Được sống, làm việc và phục vụ Bác Hồ ngày ấy thật hạnh phúc. Những năm qua, bạn bè, đồng chí lần lượt ra đi, số còn lại chắc cũng chỉ đủ đếm trên đầu ngón tay. Phần lớn họ đều là người nổi tiếng, được nhiều người biết đến. Riêng tôi, chỉ là một công nhân quốc phòng…”.

Ông nhớ lại, một buổi sáng mùa thu năm 1949, khi sương chưa tan trên đỉnh núi, ông cùng với ba anh em thợ mộc được ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam, hiện nghỉ hưu ở Hà Nội, lúc đó đang phục vụ Bác Hồ, gọi “đi nhận nhiệm vụ đặc biệt”. Một người ốm không đi được nên ông và hai người bạn khác lên đường.

Ba người đi theo ông Chiến đến giữa rừng rậm, bốn bề cây rừng cổ thụ, dốc đá cheo leo, phía dưới thung sâu là một con suối nước xanh trong như ngọc. Tại một ngôi nhà, đúng hơn là một cái lán bằng tranh tre, nứa lá dựng tạm, thì xuất hiện một cụ già cao thanh mảnh, hiền từ chào hỏi: “Các chú đến đây có biết đi mô không?”.

Ông Nhạ ngập ngừng, lúng túng, quên không chào bằng Bác mà lại buột miệng chào “ông Cụ”. “Bởi lúc ở quê, tôi chỉ biết và nghe người ta nói với nhau là “Cụ Hồ” mà thôi”, ông Nhạ giải thích.

Sau khi nghe ông Nhạ và hai người bạn báo cáo về việc được phổ biến đi làm công nhân, Bác ôn tồn nhắc các ông cất hành lý và dụng cụ rồi nhận nhiệm vụ.

Phía bên kia, cách mấy hàng cây cổ thụ, ông Nhạ thấy có khoảng vài chục người chừng tuổi như mình đang cần mẫn lao động.

Bác tự tay rót nước mời ba người thợ mới tới, nhẹ nhàng căn dặn: “Các chú đến đây thì ở lại làm việc cùng anh em. Mọi người làm gì thì các chú làm nấy. Ai cũng phải tuyệt đối giữ bí mật”.

Nói xong, Bác Hồ nhìn từng người rồi ân cần đặt tên theo một trong những từ theo khẩu hiệu Người nêu ra trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí, Công, Vô, Tư…  Ông Nhạ được Bác Hồ đặt tên là Kiệm, ông Ưng (Nghệ An) là Cần và ông Ngụ (Hà Tĩnh) là Liêm. Ba ông được ông Tạ Quang Chiến tiến cử làm nhà cho Bác.

Bác dạy câu chuyện cảnh giác và tính giản dị

“Khi được gặp Bác Hồ, chúng tôi ai nấy đều xúc động không nói nên lời, mắt đỏ hoe”, “chú Kiệm” bồi hồi tâm sự. Rồi ông kể, chờ qua cơn xúc động, Bác Hồ ôn tồn căn dặn chúng tôi, đại ý, công việc các chú làm không đơn thuần là chặt gỗ, đục nhà mà là công việc liên quan đến cách mạng, đến kháng chiến nên phải hết sức giữ bí mật, nêu cao cảnh giác, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà…

Sau khi về lán làm việc, vâng theo lời căn dặn của Bác Hồ, ông Nhạ cùng với hai người bạn, ai lo công việc nấy. Mỗi tiếng chặt, cưa, xẻ gỗ, mỗi tiếng đục, đẽo… các ông đều đặc biệt chú ý, không để phát ra tiếng động mạnh. Họ tuân thủ không tiếp xúc với ai khi chưa có lệnh của người chỉ huy.

Dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo trực tiếp của ông Chiến, chẳng bao lâu ba người và một số anh em khác đã hoàn thành ngôi nhà sàn để Bác làm việc và ở.

Nói là ngôi nhà sàn “cho oai” nhưng thực chất rất đơn sơ: Ngôi nhà chỉ bốn cây gỗ đục ra, cao khoảng 5m. Sàn nhà được lát bằng gỗ, phía trên là những tấm phên đan vội để Bác ở và làm việc. Phía dưới trệt là nền đất, có kê những khúc gỗ tròn làm ghế ngồi, và những “chiếc bàn” bằng tre và nứa dùng làm nơi họp Bộ Chính trị.

“Xung quang nhà được đan bằng phên nứa, gió và rét của núi rừng Việt Bắc lọt qua, lạnh thấu xương. Mỗi đợt gió mùa đông bắc kéo về rét tê tái, lòng chúng tôi vô cùng thương cảm Bác”, ông Nhạ buâng khuâng kể lại.

Sau này, ông Cần có “sáng kiến” đan và thưng (cài) thêm một lớp phên nữa để ngôi nhà được kín gió hơn nhưng Bác nhất quyết không đồng ý, vì lý do: ” Khi nào lán của tất cả các chú có hai lớp phên thưng xung quanh thì lúc đó mới thêm phên cho ngôi nhà Bác ở”.

Cảm động và thương Bác cháy lòng, để Người rét ba người thấy mình như có lỗi, nên ai nấy ra sức lao động để có đủ phên thưng hai lớp đỡ rét cho bản thân và cho Bác. Nhưng khi phên đan sắp đủ, do yêu cầu giữ bí mật, các ông được lệnh cùng Bác và Bộ Chính trị dời sang một địa điểm mới, vào sâu hơn trong núi rừng vẫn thuộc chiến khu Việt Bắc (Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn).

“Bác vẫn nhớ mình!”

“Trong suốt hơn ba năm ở, công tác và trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, chúng tôi đã ba lần dời địa điểm để đảm bảo bí mật và an toàn cho Bác Hồ và Chính phủ. Những ngày được bảo vệ Bác là những ngày hạnh phúc của cả đời người mà không bao giờ tôi quên bởi gần người ấm áp đến lạ thường”, “Chú Kiệm” kể tiếp.

Tuy Người rất bận công việc quốc gia đại sự nhưng cũng không quên những người công nhân, bảo vệ… Năm 1952, ông Nhạ được điều về xây dựng căn cứ địa ở chiến khu Việt Bắc, không còn được trực tiếp làm việc và bảo vệ Bác Hồ. Đầu năm 1953, khi ông đang lao động trên công trường thì được Bác đến thăm. Trong lúc anh em công nhân vui mừng khôn xiết  râm ran chào Bác, Người nói với cán bộ bảo vệ đi cùng: “Chú Kiệm đang làm việc trên đó kìa”. Xúc động trước chân tình của vị lãnh tụ, ông Nhạ chạy đến bên Bác.

“Một người công nhân, một chiến sĩ bảo vệ như tôi, xa Bác có dễ gần một năm, nay đến thăm công trường, Bác vẫn nhớ làm tôi vô cùng sung sướng vì vinh dự…”, ông Nhạ bày tỏ.

Theo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh

Thanh Huyền (st)
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm rừng đá Lộ Nam (Trung Quốc)

Tháng 8 năm1962, trong dịp đi nghỉ ở Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm một thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Vân Nam – Rừng đá Lộ Nam. Bà Đỗ Lệ Hoa, một diễn viên giọng nữ cao của Đoàn ca múa tỉnh Vân Nam được tháp tùng Người. Đó là những ngày vinh hạnh trong cuộc đời của bà.

Một năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ và quen biết Đỗ Lệ Hoa. Đó là vào cuối năm 1961, trong dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang thăm Trung Quốc. Một hôm, Đoàn nghệ thuật Trung Quốc đang chuẩn bị đi thăm và biểu diễn ở Miến Điện thì được điều động đến biểu diễn phục vụ đoàn Việt Nam tại Hoài Nhân Đường, bà Đỗ Lệ Hoa là thành viên của đoàn. Kết thúc buổi biểu diễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi riêng Đỗ Lệ Hoa lên đứng giữa Người và Mao Chủ tịch chụp một bức ảnh. Nét mặt thân thương, hiền từ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một ấn tượng không bao giờ phai đối với bà. Nhận được tin Hồ Chủ tịch mời bà và chồng bà cùng đi với Người thăm Rừng đá Lộ Nam, Đỗ Lệ Hoa vô cùng xúc động, không biết gần một năm đã trôi qua, Hồ Chủ tịch có thay đổi gì không? Bà chỉ ước ao được gặp ngay Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến.

Khi Đỗ Lệ Hoa đến khách sạn Thạch Lâm, Hồ Chủ tịch đã đứng đợi sẵn ở cửa. Vừa trông thấy Đỗ Lệ Hoa, Người nhanh nhẹn bước tới, thân thiết gọi: “Cháu Lệ Hoa, hoan nghênh cháu, cháu vẫn nhớ lần gặp mặt đầu tiên của Bác cháu ta ở Bắc Kinh chứ?. Đỗ Lệ Hoa vui vẻ trả lời: “Nhớ chứ ạ! Nhớ chứ ạ!Rồi bà rút ra một bức ảnh được phóng to đưa cho Hồ Chủ tịch. Người vừa xem bức ảnh vừa quay sang nhìn khuôn mặt Đỗ Lệ Hoa. Người ôn tồn hỏi: “Cháu ốm hay sao? Sắc mặt cháu hơi xanh!”. Đỗ Lệ Hoa báo cáo với Người rằng gần đây mình phải vào bệnh viện điều trị. Với giọng hiền từ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Diễn viên như các cháu là tài sản quý báu của đất nước, phải hết sức giữ gìn sức khoẻ đấy!Nghe Người nói, Đỗ Lệ Hoa cảm động không cầm được nước mắt.

Tối hôm đó, trong phòng khách nhỏ của khách sạn, các nghệ sĩ tỉnh Vân Nam đã tổ chức biểu diễn văn nghệ chào mừng Hồ Chủ tịch. Đỗ Lệ Hoa tham gia biểu diễn đầy nhiệt tình. Bà đã hát hai bài hát Việt “Quê hương” và “Tiếng đàn tơ rưng”. Nghe xong bài hát thứ hai, Hồ Chủ tịch rất vui, Người đứng dậy đến bắt tay Đỗ Lệ Hoa và cảm động nói: “Cháu thực sự là nghệ sĩ của nhân dân hai nước Trung – Việt”. Đỗ Lệ Hoa thưa với Người rằng mình phát âm tiếng Việt chưa chuẩn lắm. Hồ Chủ tịch thân mật nói: “Không đâu, hát giống tiếng Việt lắm. Cháu hát quá tốt!.

Tiếp đó, Đỗ Lệ Hoa hát tặng Người một bài dân ca tỉnh Tứ Xuyên nhan đề “Cô gái Tứ Xuyên đảm đang”. Nghe xong, Hồ Chủ tịch bắt chước giọng Tứ Xuyên đọc lại lời của bài dân ca đó: “Cô gái Tứ Xuyên bao đảm đang, chân cô đi đôi giầy hoa…Nhìn dáng vẻ dí dỏm của Người, mọi người đều vui lây.

Những ngày nghỉ ở rừng đá, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm nhiều thắng cảnh. Đứng ở Đình Vọng Phong, nơi cao nhất của rừng đá, Người trông thấy các xã viên người dân tộc Xa-ni đang làm ruộng ở gần đó, trong lòng rất cảm kích. Người nói: “Nhân dân Trung Quốc đã đổ mồ hôi, cần cù lao động như thế để chi viện cho nhân dân Việt Nam chúng tôi, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt – Trung thật là đằm thắm gắn bó như chân với tay!.

Dưới khối đá có hình tượng Asưma, Chủ tịch Hồ Chí Minh say sưa nghe Đỗ Lệ Hoa kể câu chuyện truyền thuyết đẹp đẽ về cô gái dân tộc Xa-ni có tên là Asưma. Nghe xong, với tình cảm sâu lắng, Người nói: “Ở Việt Nam cũng có những Asưma hiền lành và thông minh. Các cô gái đó dũng cảm, cần cù, không sợ cường bạo. Đó là niềm tự hào của dân tộc chúng ta!.

Trên đỉnh Liên Hoa, Chủ tịch Hồ Chí Minh phóng tầm mắt ngắm nhìn phong cảnh bao la, tráng lệ và nói với những người cùng đi: “Ở đất nước Việt Nam cũng có nhiều nơi phong cảnh đẹp, nhưng phần lớn đã bị quân xâm lược Pháp tàn phá. Chúng tôi nhất định phải nhanh chóng khôi phục lại đất nước tươi đẹp của chúng tôi.

Theo http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Họa sĩ Trần Từ Thành tự hào với “Bức tranh Bác Hồ”

“Bức tranh Bác Hồ” đặt trên nóc Nhà Thông tin Thành phố Hà Nội, số 93 Đinh Tiên Hoàng, hơn 30 năm qua, là niềm tự hào không chỉ của riêng tác giả Trần Từ Thành.

Tác phẩm tái hiện hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tươi cười bế một em bé trên nền chim hòa bình ngậm cành ô liu. Nét vẽ chim bồ câu được họa sĩ cách điệu từ hình chữ S (biểu hiện bản đồ Việt Nam) có bố cục chặt chẽ, màu sắc đơn giản. Bức tranh mang thông điệp về niềm khát khao hòa bình và đoàn kết dân tộc. Tác phẩm, đặt giữa trung tâm Thủ đô, hàng chục năm qua đã trở thành hình ảnh thân quen, gắn liền với mỗi người dân Hà Nội.

Họa sĩ Trần Từ Thành 1

Bức tranh mang niềm khát khao hòa bình.

Chia sẻ về ý tưởng hình thành nên tác phẩm này, họa sĩ Trần Từ Thành kể: Năm 1975, khi đất nước thống nhất, ông hào hứng tìm đề tài cho bức tranh tham dự cuộc Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc đầu tiên tổ chức vào đầu năm 1976 tại khu triển lãm Vân Hồ, Hà Nội.

Sau nhiều cân nhắc lựa chọn, vị giảng viên Đại học Mỹ thuật Công nghiệp đã dựa trên ý thơ của nhà thơ Tố Hữu trong bài Ta đi tới: “… Lòng ta không giới tuyến. Lòng ta chung một Cụ Hồ. Lòng ta chung một Thủ đô. Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam…”.

Họa sĩ Trần Từ Thành 2

Họa sĩ tự hào vì tác phẩm của mình
trở thành hình ảnh quen thuộc nơi góc phố lớn tại Hà Nội.
 

Bức tranh được trao giải Nhì tại triển lãm năm đó và được Bộ Văn hóa – Thông tin lúc bấy giờ in và phát hành trên toàn quốc. Ngoài ra tác phẩm còn được treo ở Bảo tàng Lênin ở Matxcơva (Nga), La Habana (Cuba)….

Gần đây, nhiều nhà sưu tập trong nước và quốc tế “dạm mua” bản gốc của bức tranh nhưng Trần Từ Thành đều từ chối, bởi với ông “đó là kỷ vật riêng của đời mình”.

Ngọc Điệp

Theo http://vnexpress.net

Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Đền thờ Bác Hồ trên đỉnh non thiêng Ba Vì

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”– trích Điếu văn của BCH TƯ Đảng Lao động Việt Nam đọc trong Lễ tang của Người năm 1969.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, đã để lại muôn vàn thương tiếc cho đồng bào cả nước. Nhân dân cả nước đã lập bàn thờ Bác Hồ ở khắp nơi, từ trong chính ngôi nhà mình, ở các tỉnh, ở những nước Người đã bôn ba và đặt chân tới trên đường đi tìm đường cứu nước. Thậm chí trong nhiều đền, chùa, đình, đền, cũng lập bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ lòng thành kính, nhớ thương Người.

Một trong số những nơi thờ Bác được nhiều người biết đến là Đền thờ Bác Hồ trên đỉnh non thiêng Ba Vì. Từ cuối năm 1998 đến đầu năm 1999, nghĩa là bước vào dịp kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số đồng bào và cán bộ vốn có tâm huyết xây dựng Ðền thờ Bác Hồ. Sau đó, họ cùng nhau góp công sức tự tổ chức thiết kế và xây dựng chỉ trong khoảng sáu tháng đã căn bản hoàn thành công trình. Việc xây dựng Ðền thờ là phù hợp với một số ý tưởng trong Di chúc của Bác và cũng đã được sự phê chuẩn của đồng chí Ðào Duy Tùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư hồi đó. Ngôi đền tưởng niệm Bác Hồ được bắt đầu xây dựng từ ngày 1/3/1999 và khánh thành đúng vào ngày 21 tháng Bảy âm lịch năm ấy, ngày giỗ Bác. Người được vinh dự thiết kế ngôi đền là kiến trúc sư Hoàng Phúc Thắng, còn kiến trúc sư Nguyễn Trực Luyện làm chủ nhiệm công trình, chỉ đạo thi công. Kinh phí xây dựng đền do nhiều tập thể, cá nhân đóng góp, thể hiện sự biết ơn đối với Bác Hồ, người Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá do Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc tôn vinh.

Núi Ba Vì được coi là ngọn núi tổ của nước Đại Việt. Dãy núi Ba Vì có ba ngọn, đỉnh cao nhất là đỉnh Vua, cao 1.296m. Đỉnh giữa là đỉnh Tản Viên, cao 1.281m. Đỉnh thứ ba là đỉnh Ngọc Hoa, cao 1.120m. Trên đỉnh ngọn núi nổi tiếng nhất là Tản Viên có Đền Thượng thờ Thánh Tản – một trong “tứ bất tử” theo tín ngưỡng của người Việt (Thần Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Bà chúa Liễu Hạnh). Còn trên đỉnh núi Vua cao nhất tọa lạc một ngôi Đền thờ một con người, một nhân vật của lịch sử, của thời đại – Đền thờ Bác Hồ.

Để đến được Đền thờ Bác Hồ, từ chân núi Ba Vì, phải đi ô tô leo dốc quanh co vượt quãng đường dài 12km, tiếp đó, phải leo hơn 1.300 bậc thang đá bên vách núi. Tới đây du khách như lạc vào cõi thiêng, bởi được đi xuyên qua cánh rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ vút lên, mốc và rêu xanh bám phủ thân cây, dây leo chằng chịt, sương mù phủ giăng giăng mặc dù vẫn có mặt trời.

Đến thăm Đền thờ Bác Hồ ở trên đỉnh non thiêng Ba Vì, ngồi bên trong ngôi Đền nhìn ngắm cảnh vật bên ngoài ta thấy thiên nhiên hòa quyện ùa vào từ mọi phía làm cho ngôi Đền luôn tràn ngập ánh sáng, chứ không cô tịch mờ ảo như ta thường gặp ở các ngôi đền khác. Ngoài bức tường phía sau Ban thờ Bác, ba bề xung quanh và phía trước của ngôi Đền có kiến trúc khác biệt với các ngôi đền truyền thống là không có tường bao quanh, tất cả được để mở bằng những chiếc cột to tròn dùng làm trụ đỡ cho toàn bộ mái Đền và những chân tường thấp chỉ nhô cao chừng 0,5m, mặt trên được lát những tấm gỗ dài chắc chắn tựa như những chiếc ghế băng dài làm chỗ nghỉ chân cho du khách. Ngôi Đền được kiến trúc thật gần gũi, hài hoà với thiên nhiên như những ngôi nhà lúc sinh thời Bác vẫn thường dùng để ở và làm việc, đúng như mong muốn mà Bác đã để lại trong Di chúc: “…Nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi…”.

dền thờ BácNgôi Đền thờ Bác trên đỉnh Vua núi Ba Vì

Trên bệ thờ đá có bức tượng Bác Hồ đúc bằng đồng trong tư thế ngồi, phía trên là bức hoành phi ghi dòng chữ nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trên cao là cờ Tổ quốc ghép bằng đá hoa cương màu đỏ. Hai bên bệ thờ là chuông đồng và khánh đồng. Ngoài ra còn nhiều hạng mục công trình khác tạo nên một không gian hài hòa, tinh tế nhưng vẫn hết sức giản dị.

ảnh bác ngopi đọc báo nhần dânTượng Bác Hồ trong tư thế ngồi đọc Báo Nhân Dân

Những hình ảnh và hiện vật về Bác được bày trang trọng tại đây làm ta càng nhớ tới Người. Trước Đền, một tấm bia đá lớn nguyên khối, mặt trước khắc một đoạn trong Điếu văn của BCH TƯ Đảng Lao động Việt Nam được đọc trong lễ tang của Người năm 1969: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”. Mặt kia khắc bút tích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

đền thượng bia đáTấm bia đá lớn nguyên khối, mặt trước khắc một đoạn trong Điếu văn của BCH TƯ Đảng Lao động Việt Nam được đọc trong Lễ tang của Người năm 1969

Ở bức tường đầu hồi của Đền có hình trống đồng với hình bản đồ Việt Nam và dòng chữ màu vàng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi – Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Những cán bộ, nhân viên trạm kiểm lâm thuộc Vườn quốc gia Ba Vì, ngoài công việc tuần tra bảo vệ gần một nghìn héc-ta rừng thuộc đặc khu bảo vệ nghiêm ngặt, còn đảm nhiệm việc trông coi Ðền thờ Bác Hồ. Các cán bộ kiểm lâm ở đây cho biết từ khi khánh thành đến nay, hằng ngày Đền thờ Bác luôn ấm áp khói hương và hoa tươi. Ngôi Đền được các cán bộ kiểm lâm của Vườn Quốc gia Ba Vì túc trực, chăm sóc bất kể lúc thời tiết khắc nghiệt nhất. Vào những ngày lễ, Tết và ngày mồng Một, Rằm, số lượng người đến thăm Đền và lễ Bác rất đông. Đông khách nhất là vào ngày giỗ Bác, 21 tháng Bảy Âm lịch hằng năm, rồi đến trong dịp kỉ niệm ngày sinh của Bác (19-5), những ngày đầu năm, cuối năm.

1Một em bé theo bố mẹ đi lễ Đền thờ Bác Hồ

Mặc dù đường lên Đền thờ Bác phải leo qua không ít đoạn dốc dựng đứng của con đường nhỏ luồn lách, uốn lượn quanh những gốc cây rừng nhưng trong dòng người chậm rãi leo lên từng bậc thang đá, có rất nhiều trẻ em và cả những cụ già tay chống gậy, hai bên có con cháu dìu cho bước chân thêm vững để lên được đến Đền thờ thắp nén hương thơm dâng lên Người. Khi về đây cảm nhận sự thành kính của mỗi người khi đến thăm Đền thờ ta như thấy thêm kính yêu hơn vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta. Để từ đó nguyện suốt đời học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người và cũng hứa với Người sẽ cố gắng phấn đấu tu dưỡng học tập, rèn luyện đạo đức để đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Phong cách dân chủ của Bác

10a. Phong cách dân chủ của Bác1Chủ tịch Hồ Chí Minh họp với Thường vụ Trung ương Đảng
quyết định mở Chiến dịch Biên Giới (1950)

Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước dân chủ, ở đỉnh cao của quyền lực, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên có phong cách làm việc tập thể và dân chủ. Gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể là phương châm chỉ đạo suy nghĩ và hành động của Người.

Trong hàng trăm, hàng nghìn câu nói của Người về dân chủ đều luôn luôn nổi bật vai trò chủ động, tích cực của dân, đều luôn luôn nhất quán với tinh thần trọng dân gắn liền với trọng pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh rành mạch và tường minh trong những khẳng định sau đây:

– Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trên thế giới không có sức mạnh nào mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân.

– Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân.

– Thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn.

– Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương là do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng, đều ở nơi dân…

Người còn nhấn mạnh, trong một nước dân chủ thì nhân dân là chủ. Cán bộ, đảng viên cũng như nhiệm vụ của chính quyền ta và đoàn thể ta là phụng sự nhân dân. Nghĩa là làm đầy tớ cho dân. Dân đã có quyền làm chủ thì cũng phải thi hành nghĩa vụ của người chủ. Đây là những tóm tắt cô đọng nhất bản chất của dân chủ và quyền làm chủ, có giá trị như những định nghĩa kinh điển về dân chủ. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ, dân là chủ thể gốc của quyền lực. Dân ủy quyền cho Nhà nước để Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân, phụng sự lợi ích, nhu cầu và cả ý chí của dân. Đảng cũng chỉ vì dân mà tồn  tại.

Dân chủ và quyền làm chủ của dân phải trở thành một giá trị thực tế chứ không phải một lời nói suông. Dân chỉ biết đến dân chủ, công bằng, bình đẳng khi dân được ăn no, mặc ấm. Độc lập tự do phải tranh đấu mà có được thì phải làm sao cho dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đã tranh được tự do độc lập rồi mà dân vẫn đói rét, cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Thiết thực đến như vậy cho nên chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, được học hành tiến bộ, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do, hạnh phúc mà họ xứng đáng được hưởng. Đó là dân chủ thực chất để làm chủ thực chất, không hình thức giả dối, cũng không phù phiếm giả tạo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Người luôn đòi hỏi cán bộ, đảng viên trước hết là những người lãnh đạo phải có tác phong tập thể dân chủ thực sự. Bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể, mọi thói hình thức chủ nghĩa sớm muộn sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ.

Trước hết, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, đồng thời tinh thần ấy cũng thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ đặt mình cao hơn tổ chức, ở ngoài sự kiểm tra, giám sát của tổ chức, mà luôn luôn tranh thủ bàn bạc với tập thể Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội, khi cần thiết, triệu tập cả Hội nghị chính trị đặc biệt – một hình thức Diên Hồng của thời đại mới – để xin ý kiến các đại biểu quốc dân.

Khi bàn về cách làm và xuất bản loại sách Người tốt, việc tốt với một số cán bộ, Người nói: “Bác muốn bàn luận dân chủ, các chú có ý kiến gì trái với Bác thì cứ cãi, nhất trí rồi về làm mới tốt được. Không nên: Bác nói gì, các chú cứ ghi vào sổ mà trong bụng thì chưa thật rõ, rồi các chú không làm, hay làm một cách qua loa”.

Thứ hai, là phải mở rộng dân chủ để phát huy sức mạnh của tập thể. Người thường nói: Đề ra công việc, đẻ ra nghị quyết, không khó, vấn đề là thực hiện nó. Ai thực hiện? – Tập thể, quần chúng. Vì vậy, có dân chủ, bàn bạc tập thể mới cùng thông suốt, nhất trí, mới cùng quyết tâm thực hiện, tránh được “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Sở dĩ xảy ra mất đoàn kết vì người đứng đầu ở nơi đó còn chuyên quyền, độc đoán, áp đặt chủ quan, trong hội nghị thì mọi người miễn cưỡng đồng tình, sau hội nghị nếu đã không thông thì sẽ không quyết tâm thực hiện. Vì vậy, Người yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”. “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”; “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Bản thân Người là tấm gương mẫu mực về thực hành dân chủ. Trong công tác lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Người luôn có ý thức sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức, sức mạnh tập thể và sức mạnh tổng hợp của quần chúng, nhân dân. Trước khi quyết định một công việc hệ trọng, Người đều hỏi lại cẩn thận và chu đáo những người đã giúp mình. Tất cả những ai đã được Bác giao việc đều cảm nhận sâu sắc điều đó.

Phong cách dân chủ Hồ Chí Minh được thể hiện từ việc lớn cho đến việc nhỏ: Chuẩn bị ra một nghị quyết hay dự thảo một văn kiện, viết một bài báo… Người đều đưa ra thảo luận trong tập thể Bộ Chính trị, tham khảo ý kiến những người xung quanh. Người tuân thủ chặt chẽ quy trình ra quyết định: Mọi vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, khoa học – kỹ thuật… Người đều huy động sự tham gia của đội ngũ trí thức, chuyên gia trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, yêu cầu chuẩn bị kỹ, trao đổi rộng, sao cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều được cân nhắc kỹ, lựa chọn thận trọng, để sau khi ban hành, ít phải thay đổi, bổ sung.

Thứ ba, là nhận trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước, nhưng Hồ Chí Minh thường xuyên có phong cách làm việc tập thể và dân chủ. Người giải thích: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách, tức là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”.

Tác phong tập thể – dân chủ của Bác luôn luôn tạo ra được không khí làm việc hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo. Cương vị lãnh đạo càng cao, thì càng đòi hỏi phải có tác phong tập thể – dân chủ thật sự, chứ không phải hình thức. Bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể. Mọi thói hình thức chủ nghĩa, sớm muộn sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ. Nhiều lần, Người đã phê bình cách lãnh đạo của một số cán bộ không dân chủ, do đó mà người có ý kiến không dám nói, người muốn phê bình không dám phê bình, làm cho cấp trên, cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau, không còn hăng hái, không còn sáng kiến trong khi làm việc. Từ thực hành dân chủ cho nhân dân, đến thực hành dân chủ trong Đảng, trong cơ quan, tổ chức, phong cách dân chủ của Bác Hồ là sự thể hiện nhất quán của tư tưởng đạo đức vì dân, vì nước, như Người từng khẳng định 5 điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

– Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.

– Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.

– Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.

– Vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

Học tập và làm theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ cương của xã hội. Mọi biểu hiện dân chủ hình thức, hay ngược lại, dân chủ quá trớn, lợi dụng dân chủ để “kéo bè, kéo cánh”, để làm rối loạn kỷ cương, để cầu danh, trục lợi, hoặc chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, đứng trên pháp luật, làm cho nhân dân bất bình, cần phải bị lên án và loại bỏ. Học tập đạo đức Hồ Chí Minh, tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất cứ cương vị nào, phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn nghèo, đói. Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà còn phải biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói, nghèo. Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ phát biểu tại Đại hội đại biểu thanh niên Hà Nội (Nói ngày 27/9/1945)

7a.
Ảnh Tư liệu

Các anh em nếu đến đây để đợi nghe một bài diễn văn bóng bảy, hoa mỹ thì các anh em sẽ thất vọng. Những lời tôi nói với anh em sẽ chỉ rất giản dị, rất thiết thực. Tôi sẽ không khen ngợi anh em, mà chỉ chú ý vạch ra những khuyết điểm của anh em. Những khuyết điểm ấy, có mấy điều lớn nhất sau đây:

Một là, thanh niên nhất là thanh niên Hà thành vốn giữ tính kiêu căng, biệt phái, bởi vậy những tổ chức đều chia rẽ, cô lập, chưa hợp thành được một mặt trận thống nhất.

Hai là, thanh niên tuy có hăng hái, sôi nổi nhưng kém sáng kiến; việc gì cũng đợi ở Tổng bộ hoặc Chính phủ ra cho mệnh lệnh, chỉ thị, giúp hộ ý kiến hoặc định hộ kế hoạch; lại không biết tự ý đề nghị với Chính phủ những việc cần phải làm hay phải sửa chữa.

Ba là, các đồng chí phụ trách thanh niên không chịu đào tạo, dìu dắt thêm những cán bộ mới, tuy những phần tử có thể trở nên cán bộ vẫn không thiếu trong đám thanh niên.

Bây giờ, cần phải làm sao cho mất những khuyết điểm ấy. Việc cần trước nhất là làm thống nhất các tổ chức thanh niên. Mỗi giới thanh niên có một nguyện vọng, quyền lợi, đường lối phát triển riêng. Bây giờ không phân biệt, giới nào cũng phải đứng chung trong một tổ chức duy nhất. Nhưng điều đó không phải sẽ cột chặt tất cả sự hoạt động riêng của mỗi giới, không cho tự phát triển, miễn là những hoạt động ấy không đi ngược lại với hướng hoạt động chung của toàn thể. Sau đó, việc nên chú ý đến là sự định rõ những công việc và nhiệm vụ của thanh niên như là: Đi sâu vào quần chúng để san sẻ những thường thức về chính trị và quyền lợi công dân; ủng hộ Chính phủ không phải chỉ bằng những lời hoan hô suông thôi, mà cần phải một mặt giải thích cho dân chúng về những nỗ lực của Chính phủ, một mặt phê bình, giám đốc, tham gia ý kiến vào công việc của Chính phủ; chiến đấu giữ lấy nền độc lập và tự luyện ngay từ bây giờ để sau này lên thay những thủ lĩnh mà gánh vác việc trọng đại của nước nhà. Nói tóm lại, phải làm sao cho tổ chức thanh niên Hà Nội phải thành một khối thanh niên khuôn mẫu cho thanh niên toàn xứ và toàn quốc.

Nói ngày 27-9-1945. Báo Cứu quốc, số 53, ngày 28-9-1945.

Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn

Những câu chuyện nhỏ kể về Bác Hồ

6a.Hình ảnh “Ông Ké” trở nên quen thuộc, gần gũi với đồng bào các dân tộc

Câu hát ví dặm

Chiều ngày 18-5-1969, các diễn viên Đoàn văn công Quân khu 4 vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để mừng thọ Bác 79 tuổi. Sau một số tiết mục, đến lượt chị Mai Tư hát dặm đò đưa: “Nước sông Lam biết khi mô cho cạn cũng như tinh thần cách mạng của dân ta…”. Bác hỏi mấy đồng chí ngồi xung quanh: “Có hay không các chú?”. “Thưa Bác hay ạ!”. Bác hỏi chị Mai Tư: “Trong ta chừ còn dệt vải nữa không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. “ Rứa cháu có biết hát phường vải không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. Bác bảo Mai Tư hát một câu mà các cụ ngày xưa hay hát, Mai Tư thưa với Bác: “Dạ, chúng cháu hát điệu phường vải nhưng không biết lời cũ ạ!”. Bác bảo: “Thì cháu lấy câu ni để hát nhé: “Khuyên ai chớ lấy học trò”. Cháu tiếp đi…”. “Dạ, thưa Bác, có phải dài lưng tốn vải ăn no lại nằm không ạ!”. “Giờ cháu tiếp câu nữa đi”. Mai Tư lúng túng không biết, Bác nhắc: “Lưng dài có võng đòn cong; áo dài đã có lụa hồng vua ban”. Mai Tư hát câu Bác vừa nhắc theo điệu hát ví Nghệ An. Đến lượt Minh Huệ, chị đứng dậy thưa: “Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ! Rồi chị cất giọng “A ờ ơ… Ru em em ngủ cho muồi”, Bác sửa lại: “Ru tam tam théc cho muồi”. Minh Huệ hát tiếp: “Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu; Mua cau chợ Sải, mua trầu chợ Dinh”. Bác cười và nói: “Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải”. Thế mới biết Bác Hồ đã từng đi năm châu bốn biển mấy chục năm trời mà vẫn không quên từng tên làng, ngõ xóm, từng câu hát ví dặm của quê nhà.

Bác Hồ trên đồi Yên Lập

Tết Ất Tỵ 1965, đúng dịp kỷ niệm Đảng ta tròn 35 tuổi, Bác Hồ về chúc Tết đồng bào, chiến sĩ tỉnh Quảng Ninh. Tối 30 Tết, Bác nghỉ lại ở khu Bãi Cháy, nơi sáu tháng trước máy bay Mỹ bắn phá. Đoàn cán bộ, chiến sĩ đi theo Bác được lãnh đạo tỉnh mời dự bữa cơm đón giao thừa. Chúng tôi đang ngồi tập trung ở một phòng ăn nhỏ, bỗng thấy Bác Hồ từ trên gác hai đi xuống bước vào phòng. Bác chúc Tết mọi người cùng gia đình. Bác nói lời thông cảm với những anh chị em ngày Tết phải xa nhà để đi công tác ở Quảng Ninh.

Chúng tôi đứng cả dậy chúc Bác năm mới mạnh khoẻ, sống lâu để lãnh đạo nhân dân ta sản xuất, chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Bác bảo nhắc nhà bếp chuẩn bị xôi nắm cho Đoàn hôm sau đi đường.

Sáng mồng 1 Tết, Bác qua phà Bãi Cháy để sang thị xã Hòn Gai. Ở đầu bến phà, Bác đã thấy dấu tích còn lại của cuộc chiến đấu đánh thắng không quân Mỹ, bắt sống phi công Mỹ đầu tiên. Hơn 20.000 đồng bào, chiến sĩ Quảng Ninh đứng kín một sânTrường học Hòn Gai reo mừng đón Bác. Bác nói chuyện, khen ngợi dân Quảng Ninh đã làm nên chiến thắng oanh liệt ngày 5-8-1964 và thợ mỏ Quảng Ninh đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 200.00 tấn than.

Bác rời Hòn Gai đi chúc Tết nhân dân ở huyện Yên Hưng. Bác “xông đất” một số gia đình xã viên Hợp tác xã Khe Cát. Các cụ, các cháu trong xóm chạy ra nắm tay Bác mời Bác vào nhà. Bác mừng thấy trong hoàn cảnh chiến tranh gia đình nào cũng có bánh mật, bánh chưng, chè Ba Đình và hoa đẹp. Bác chúc Tết các gia đình.

Bác ra đường, đi bộ một quãng. Bỗng Bác dừng bên một cột mốc khắc chữ: “Lộc Ninh – 1995 km”. Bác nói với anh em trong đoàn: “Tết này không biết đồng bào miền Nam ăn Tết có được yên ổn không?”.

Cả đoàn đề nghị Bác nghỉ một lát trước khi tiếp tục đi chúc Tết đồng bào, chiến sĩ. Bác đồng ý và chỉ mọi người lên ngồi nghỉ trên một đồi thông bên đường thuộc xã Yên Lập. Bác dặn: Đừng hái lộc để bảo vệ rừng.

Chúng tôi quây quần bên Bác. Bác gọi phóng viên Báo Nhân Dân đến cho ngồi cạnh Bác. Trời xanh cao. Tiết xuân ấm dịu. Đi làm việc từ mờ đất, mọi người đã đói. Bác nói: “Các chú đã có gói xôi mang theo. Các chú lấy ra ăn rồi lên đường”.

Nắm xôi ngày Tết ấy trên đồi Yên Lập bùi ngon đến lạ thường.

Những kỷ niệm sâu đậm nhất

Năm 1965, bắt đầu thời kỳ chiến tranh phá hoại của Giônxơn, tôi (Hoàng Thị Mễ) về công tác ở Vĩnh Linh, làm Trưởng Ban Kiểm tra của Đảng trong khu vực và được cử đi dự Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra toàn quốc.

Lần này, đến thăm hội nghị, Bác mặc một bộ ka ki giản dị. Trông người vẫn khoẻ khoắn, nhanh nhẹn. Tôi rất mừng. Bác huấn thị cho chúng tôi nhiều điều hết sức quý báu về công tác kiểm tra, về đạo đức, phẩm chất của người cộng sản. Bác dặn đi dặn lại, đại ý: Công tác kiểm tra có quan hệ đến sinh mệnh của từng người đảng viên. Làm công tác kiểm tra tốt thì có lợi cho Đảng, có lợi cho mỗi đồng chí của ta. Bác nhắc nhở các đại biểu nữ càng phải đi sâu kiểm tra, bảo đảm quyền lợi cho đảng viên phụ nữ. Chúng tôi ghi tạc những lời Bác dạy. Làm công tác kiểm tra không được thành kiến, phải có lượng khoan hồng, đồng thời cần cứng rắn về nguyên tắc. Những lời dạy của Bác thật là quý báu cho chúng tôi và cho đất Vĩnh Linh nóng bỏng lửa đạn quân thù. Ngay từ đầu Bác đã hết sức quan tâm đến mảnh đất này, Bác rất chú ý đến các cháu thiếu nhi và chị em phụ nữ Vĩnh Linh, Bác dặn: Trong cuộc chiến đấu ác liệt này, các cháu Vĩnh Linh là những hạt giống quý, những mầm non xanh tươi, phải được giữ gìn sao cho mầm non đó cứ tươi tốt lên, dù trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào. Bác chỉ thị: Phải sơ tán hết các cháu, không được để cháu nào bị địch giết hại ở Vĩnh Linh. Ngày Tết sắp đến, Bác nhắc các tỉnh phải gói bánh chưng gửi cho các cháu. Riêng Bác, Bác hay gửi bánh kẹo cho các cháu Vĩnh Linh. Cho đến giờ các cháu vẫn nhớ và nhắc đến “Quà Bác Hồ”. Thỉnh thoảng Bác lại hỏi thăm đồng bào và phụ nữ Vĩnh Linh có khoẻ mạnh không, sản xuất chiến đấu và học tập ra sao?

Năm 1968, địch buộc phải ngừng bắn, Bác chỉ thị ngay phải tiếp tế khẩn trương cho Vĩnh Linh, chủ yếu là đường, vải, thuốc. Các xe tải phải chuyên chở cho Vĩnh Linh, Cồn Cỏ và phải coi đây là một công tác rất quan trọng. Hồi đó tôi là Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Vĩnh Linh, được phụ trách phân phối hàng về các xã. Tôi đã chấp hành nghiêm chỉnh lời Bác dạy. Việc phân phối được bảo đảm công bằng, hợp lý, chú ý các cháu mồ côi, các cụ già, bà mẹ các thương binh, bệnh binh…

Nhận được quà Bác cho, đồng bào Vĩnh Linh vô cùng hồ hởi bảo nhau: chúng ta phải làm gì để tỏ lòng biết ơn Bác.

Riêng tôi, lời dạy của Bác luôn là nguồn khuyến khích, động viên lớn nhất. Nhớ lại những lời dạy bảo của Bác về phẩm chất của người đảng viên, người cán bộ phải hết lòng vì nhân dân phục vụ, lại nghĩ tới tình thương yêu của Bác đối với nhân dân Vĩnh Linh như biển cả, tôi thấy mình có thêm sức mạnh, cùng với anh chị em dân quân, du kích làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Đi thăm miếu Khổng T

Ngày 19-5-1965, nhân lúc đang thăm Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến quê hương Khổng Tử. Hai giờ chiều, trong bộ quần áo lụa Hà Đông, Bác Hồ thong thả bước vào Khổng phủ trang nghiêm, cổ kính. Bác kể cho các cán bộ cùng đi: “Cho đến năm 1937, Khổng Đức Thanh là lớp con cháu đời thứ 77. Bố Khổng Tử có ba vợ. Khổng Tử là con vợ thứ ba. Khổng Tử lấy vợ sinh con là Khổng Lý… Đời Tống, Nguyên, Thanh đều góp của, góp công sửa sang Khổng phủ, Khổng miếu… Điều đó chứng tỏ học thuyết Khổng Tử từ lâu thành hệ tư tưởng chính thống, có sức sống qua nhiều thời đại. Chúng ta không gạt bỏ tất cả mà phải chọn lọc, tiếp thu những cái tốt đẹp nhất để làm giàu cho mình, cho con cháu mình…”. Đứng dưới gốc cổ thụ ở Khổng miếu mà nghe nói chính tay Khổng Tử trồng, cách đây 2.400 năm, Bác nói, giọng trầm lắng: “Khổng Tử là người chủ trương quyền bình đẳng về của cải và sự công bằng trong đời sống. Câu “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” mà Bác trích là từ câu của Khổng Tử: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên. Đã công bằng thì không nghèo, đã hoà mục thì không thiếu, lòng dân đã yên thì không sợ nghiêng đổ”. Rời Khổng miếu, sang Khổng Lâm, dạo bước dưới bóng cây cổ thụ, Bác Hồ lại tiếp tục nói chuyện. Bác nhắc đến chữ “nghĩa chiến” của Mạnh Tử trong sách “Khổng học đăng” chính là chiến tranh nhằm mục đích nhân nghĩa, Bác nói: “Khổng Tử thường nêu “dân vi bang bản” (dân là gốc của nước) hoặc “quốc dĩ dân vi bản” (nước lấy dân làm gốc)…”. Gần ba giờ vừa đi xem cảnh, vừa nói chuyện, đến năm giờ chiều, Bác cùng đoàn cán bộ lên xe lửa về Tế Nam. Ngồi trên tàu, nhìn nắng chiều nhạt dần trên triền núi mờ xa, Bác đọc bài thơ chữ Hán vừa làm: Thăm Khúc Phụ :

“Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ

Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa

Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ?

Lấp loáng bia xưa, chút ánh tà”.

Câu chuyện về chiếc tàu thủy phá lôi mang biệt hiệu T5 và tấm lòng của Bác

Năm 1965, tôi (Phan Trọng Tuệ) làm Chính ủy kiêm Tư lệnh đường mòn Hồ Chí Minh. Một hôm anh Vũ Kỳ gặp tôi và nói:

– Anh có phim tư liệu gì mới đem vào chiếu cho Bác xem.

Tôi đưa cuộn phim về giao thông vận tải, quay từ Hà Nội vào đến Vinh cho Bác xem. Bác xem phim rất chăm chú và hỏi thăm tình hình nhân dân trong đó.

Tôi báo cáo với Bác:

– Chúng cháu muốn đảm bảo giao thông phải dựa vào dân. Nhân dân nhiều khi phá cả nhà để lát đường cho xe qua.

Bác nói:

– Nhân dân không nhà không cửa thì ở vào đâu? Các cháu học hành thế nào?

Tôi thưa với Bác:

– Các cháu vẫn được học. Học dưới hầm. Giao thông vẫn có những chuyến xe đặc biệt chở dụng cụ học tập và sách vở cho học sinh.

Nghe tôi nói thế, Bác mới yên tâm và khen:

– Thế là tốt. Nếu chú có gặp các đồng chí trong đó, cho Bác gửi lời thăm đồng bào.

Bác vừa nói chuyện vừa suy trầm tư, vẻ mặt Bác rất xúc động.

Tôi vào khu IV truyền đạt lời thăm hỏi của Bác cho các đồng chí trong đó, các đồng chí rất xúc động.

Bộ phim mang vào chiếu cho Bác xem có cảnh phá thủy lôi bằng kích thích. Cho ca nô chạy nhanh qua bãi thủy lôi. Thủy thủ lái ca nô mặc áo bảo vệ kèm phao bơi. Bác xem và hỏi:

– Mặc như thế kia thì cử động thế nào được?

Tôi báo cáo với Bác:

– Ca nô chạy nhanh, thủy lôi sẽ nổ, thủy thủ phải mặc như thế để đảm bảo an toàn.

Bác nghe xong, suy nghĩ một lát rồi nói:

– Các chú đó thật dũng cảm. Nhưng chú thử nghĩ xem có phương pháp nào điều khiển ca nô chạy tự động qua bãi thủy lôi, chứ làm thế này nguy hiểm cho tính mạng của các chiến sĩ.

Tôi suy nghĩ rất nhiều về gợi ý của Bác. Sau đó tôi cho họp Hội đồng kỹ thuật, báo cáo lại ý kiến của Bác. Mọi người đều rất tán thành và đề nghị thiết kế tàu không người lái, điều kiển từ xa.

Sau đó một loại tàu mới có biệt hiệu là T5 ra đời, có người điều khiển từ xa để phá hủy thủy lôi. Đó là do bao công sức đóng góp của các anh em làm công tác kỹ thuật sáng chế.

Khi chiếc tàu này mới được chế tạo, chúng tôi cho mang lên Hồ Tây chạy thử. Lần chạy thử đó có mời đồng chí Tố Hữu đến xem. Nhờ chiếc tàu đó mà chúng tôi đã phá được rất nhiều thủy lôi, đảm bảo giao thông đường thủy thông suốt, lại không nguy hiểm đến tính mạng cho các chiến sĩ.

Lời phát biểu của Bác đã tác động đến anh em kỹ thuật, giúp họ suy nghĩ, phát huy sáng kiến và chế tạo ra chiếc tàu mang biệt hiệu T5.

Ngồi xem phim với Bác, Bác hỏi nhiều điều mà chúng tôi không lường hết được. Bác quan tâm đến mọi vấn đề. Bác muốn biết hết tất cả mọi việc.

Bác quan tâm đến công việc chung, nhưng cũng không quên những việc nhỏ, làm cho tôi rất cảm động. Tôi đưa phim vào chiếu cho Bác xem. Sau đó Bác cho phép tôi mang vợ con vào thăm Bác. Tôi còn nhớ khi đó là đầu năm 1967.

Bác hỏi tôi:

– Chú đi vào trong kia bằng phương tiện gì?

Tôi báo cáo với Bác:

– Cháu đi bằng ô tô. Đoạn nào không đi được bằng ô tô thì đi xe đạp.

Bác nghe, rồi nói:

– Đi bằng ô tô hay đi bằng xe đạp cũng phải thật chú ý và cảnh giác vì máy bay Mỹ có thể bắn phá bất ngờ.

Trên đây là một số kỷ niệm về Bác mà tôi còn ghi nhớ. Những kỷ niệm này sẽ mãi mãi không bao giờ phai mờ trong ký ức của tôi.

Tâm Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Cố hoạ sĩ Vũ Cao Đàm và món quà của người xa xứ

Sinh năm 1908 tại Việt Nam, mất năm 2000 tại Pháp, Họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm là tác giả của nhiều tranh, tượng sáng giá, được săn lùng trong các phiên giao dịch quốc tế…

Co hoa sy 1Tượng Bác Hồ do Vũ Cao Đàm thực hiện năm 1946

Lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng (ông là em ruột của bác sĩ Vũ Đình Tụng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương binh; là anh ruột của dược sĩ Vũ Công Thuyết, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), năm 1946, nhân chuyến Hồ Chủ tịch sang thăm Pháp, Vũ Cao Đàm đã tới chào và xin được nặn tượng Người, trở thành nghệ sĩ Việt kiều đầu tiên và duy nhất được nặn tượng Người trong chuyến công cán năm ấy…

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương bắt đầu khai giảng khóa I từ năm 1925, với 8 sinh viên đầu tiên là các họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Nguyễn Tường Tam, Mai Trung Thứ, Lê An Phan và George Khánh. Vũ Cao Đàm là sinh viên khóa II của trường này, nhưng là khóa đầu tiên của Khoa Điêu khắc (1926-1931). Thoạt đầu, Vũ Cao Đàm tham gia cả hội họa và điêu khắc, nhưng tới năm thứ nhì thì ông chuyển hẳn sang điêu khắc. Về việc này, ông từng kể: “Thầy Tardieu (Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương – NV) thấy tôi có khả năng về điêu khắc và tôi đã nặn tượng bán thân cho cha tôi, ông khen đẹp. Cho nên năm thứ nhì, tôi học thẳng sang ngành điêu khắc và tôi rất thích, sau đó tôi chuyển về chân dung”.

Năm 1931, Vũ Cao Đàm tốt nghiệp khóa học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với kết quả xuất sắc. Ông được nhận học bổng sang Pháp nghiên cứu và nâng cao kiến thức về tạo hình tại Bảo tàng Louvre. Năm 1938, Vũ Cao Đàm kết hôn với nghệ sĩ dương cầm Pháp Renee. Trong thời gian diễn ra cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), việc làm tượng trở nên hết sức khó khăn. Lý do là ở thời kỳ ấy, nhất là khi quân đội Đức chiếm đóng nước Pháp, họ sẵn sàng tịch thu những vật dụng bằng đồng để phục vụ việc đúc vũ khí. Việc đổ khuôn đồng bị cấm. Vũ Cao Đàm phải nặn tượng bằng đất nung rồi đánh bóng (như các bức ông dựng chân dung vợ chồng thi sĩ Jean Tardieu, con trai thầy dạy cũ của mình). Tình thế khiến Vũ Cao Đàm quyết định chuyển từ làm tượng sang vẽ tranh. Ông vẽ, thoạt tiên là tranh lụa, rồi sơn dầu. Lý do chuyển sang sơn dầu, ngoài sự đam mê khám phá còn xuất phát từ sự bất tiện trong việc thực hiện cũng như bảo quản tác phẩm. Ông cho biết: “Tôi thấy tranh lụa bị giới hạn bởi kích thước của bức tranh, vì có miếng kính che gìn giữ cho lụa cho nên không thể vẽ to được”.

Co hoa sy 2Hoạ sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm (thứ hai từ trái qua) thời là sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Cùng với các họa sĩ Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu…, bằng những sáng tác giàu tìm tòi, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật truyền thống phương Đông và hội họa phương Tây, Vũ Cao Đàm đã góp phần nâng cao vị thế của người họa sĩ Việt Nam với bạn bè quốc tế. Nếu như ở Pháp, từng có thời kỳ, mỗi cuộc triển lãm mở ra, tranh của Vũ Cao Đàm chỉ bán được một vài bức, thì sau này, Vũ Cao Đàm đã có thể bán tranh cho các galery ở Mỹ và Bỉ. Trong các họa sĩ từng định cư tại nước ngoài, cùng với Lê Phổ, Vũ Cao Đàm là họa sĩ có giá tranh bán luôn ở mức cao và liên tục nhiều năm. Ngoài tranh lụa, tranh sơn dầu, Vũ Cao Đàm còn tham gia sản xuất tranh in đá. Cách đây ít lâu, một bức tranh in đá của ông đã được nhà đấu giá Sothebys bán với giá lên tới 30.000 USD.

Bây giờ, xin được nói kỹ hơn về việc họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm thực hiện bức tượng và phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người sang thăm Pháp năm 1946.

Chúng ta đã biết: Ngày 31/5/1946, Bác Hồ bắt đầu thực hiện chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Theo ông Raymond Aubrac sau này kể lại thì ngày 27/7 năm ấy, trong một cuộc chiêu đãi do các Việt kiều ở Pháp tổ chức để chào mừng người đứng đầu của nước Việt Nam mới, ông Aubrac đã mời Bác Hồ về ở nhà mình – một căn nhà được xây dựng từ thế kỷ XVIII, có vườn tược rộng rãi, nằm ở phía Bắc Thủ đô Paris và cách Paris khoảng 20 phút xe hơi. Bác vui vẻ nhận lời và ngoài ăn ở, sinh hoạt, Người còn thường xuyên tiếp khách tại nhà ông Aubrac. Ông Aubrac còn nhớ rõ, tháng 7 năm ấy, nhân ngày sinh nhật của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh ghi cảnh một bà mẹ đang vươn cánh tay dài với những ngón mảnh dẻ vuốt đầu đứa con mới sinh của mình. Bức tranh do họa sĩ Vũ Cao Đàm thực hiện.

Trong biên niên sử về Hồ Chí Minh có ghi: Ngày 1/7/1946, họa sĩ Vũ Cao Đàm đến chào Hồ Chủ tịch, xin phép được vẽ và nặn tượng Người. Cùng ngày hôm ấy, một số văn nghệ sĩ Pháp tên tuổi như Richard Bloch, Aragon, Triolet, Moussinac, Borne, Masson cũng đến diện kiến Người.

Hiện nay, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh có lưu giữ một bức phù điêu tròn và tấm ảnh chân dung Bác Hồ do đích thân họa sĩ Vũ Cao Đàm chụp, phía sau ảnh có chữ ký và bút tích của Bác: “Tặng vợ chồng chú Đàm và các cháu – Thân ái. Hồ Chí Minh”. Hai kỷ vật này họa sĩ Vũ Cao Đàm trao tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh nhân chuyến người em trai ông – dược sĩ Vũ Công Thuyết có chuyến công tác tại Pháp năm 1976.

Con gái họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm là họa sĩ Yanick Vũ, trong một bài viết đã kể lại: Sau buổi tiếp chuyện Vũ Cao Đàm, Bác Hồ đã tặng nhà họa sĩ ảnh và huy hiệu của Người. Tấm huy hiệu đó đã được Vũ Cao Đàm “nhân bản” thành nhiều bức phù điêu tại một cơ sở đúc tiền. Và những bức phù điêu này đã được phái đoàn của ta dùng làm quà tặng chính thức trong thời gian công cán ở Pháp. Có thể nói, để thực hiện công việc giàu ý nghĩa này, Vũ Cao Đàm đã gặp nhiều khó khăn. Sau khi cuộc chiến tranh Pháp – Việt nổ ra, nhà của Vũ Cao Đàm thường xuyên bị nhà chức trách Pháp kiếm cớ khám xét, lục soát. Có lần, do bị người gác cổng tố giác nên cảnh sát đã ập đến khám xét nhà Vũ Cao Đàm. May mà ông kịp giấu ảnh và các tấm phù điêu chân dung Bác Hồ vào hòm đàn dương cầm nên cảnh sát không tìm ra. Tuy nhiên, họ đã bắt nhà họa sĩ đưa đi tra vấn tới gần sáng mới thả.

Năm 1950, 20 tấm phù điêu về Chủ tịch Hồ Chí Minh do Vũ Cao Đàm thực hiện và giấu ở một chỗ kín trong phòng khách đã bị cảnh sát tịch thu, đem đi mất. Cũng trong năm này, do phổi yếu, Vũ Cao Đàm phải chuyển xuống sống ở miền Nam nước Pháp cho phù hợp với điều kiện dưỡng bệnh. Để bảo toàn được bức tượng mà chúng ta thấy sau này, ông đã gửi nhờ gia đình một người nông dân Pháp sống ở Béziers, một thành phố thuộc tỉnh Hérault, nằm ở miền Nam nước Pháp cất giữ. Đến năm 1967, vợ chồng tác giả trở lại tìm bức tượng. Một chuyện thật cảm động: Mặc dù đã già yếu và trong tình cảnh bệnh nặng, gần như mất trí nhớ, nhưng sau khi nghe vợ Vũ Cao Đàm gợi chuyện, người nông dân nọ đã hỏi: “Thưa bà, bà đi tìm bức tượng Hồ Chí Minh phải không?”. Thì ra, bức tượng được cất giấu trong kho đồ cũ, dưới một lớp rơm. Năm sau, gia đình Vũ Cao Đàm định chuyển bức tượng này về Việt Nam thì đúng thời điểm diễn ra cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968) nên không xin được hộ chiếu.

Bức tượng gốc vốn được làm bằng chất liệu thạch cao. Để lưu giữ được lâu dài tác phẩm đặc sắc này, năm 1996, họa sĩ Yanick Vũ đã mang bức tượng sang Tây Ban Nha, tìm một cơ sở đúc đồng nổi tiếng để chuyển bức tượng từ chất liệu thạch cao sang chất liệu đồng. Bức tượng nặng 35 kg, trong đó phần chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được làm bằng chất liệu đồng đen, cao 45,7 cm, và phần bệ bằng đá màu ghi đen, cao 11, 8cm. Năm 1998, bức tượng đã được gia đình họa sĩ Vũ Cao Đàm tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Bức tượng đã nhiều lần xuất hiện trong các cuộc triển lãm tổ chức tại đây và công chúng đã rất ấn tượng với một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, thể hiện được phong thái của vị lãnh tụ kính yêu trong thời điểm vận nước hết sức khó khăn. Câu chuyện càng trở nên có ý nghĩa khi bức tượng là tác phẩm của một nghệ sĩ Việt kiều đầu tiên và duy nhất nặn tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến Người thăm Pháp năm ấy.

Năm 2000, tức là hai năm sau khi bức tượng được tặng lại cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam, họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm qua đời. Hẳn ông rất thanh thản bởi trước khi ra đi nơi đất khách quê người, ông đã trọn nghĩa vẹn tình với quê hương yêu dấu…

Tạ Ngọc Châu
Theo http://cand.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn