Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Chuyện về bộ quần áo kaki của Bác Hồ

Chuyện kể về NgườiTrong quá trình tiến hành nghiên cứu xác minh nội dung lịch sử để xây dựng hồ sơ khoa học bộ quần áo kaki Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng từ năm 1959 đến năm 1969, chúng tôi đã được nghe câu chuyện về việc may áo cho Bác Hồ. Những người thợ may ở Xí nghiệp may 10 Hà Nội mãi mãi ghi sâu kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu. Những đồng chí công nhân lớn tuổi ở đây thường kể lại cho lớp thợ trẻ nghe câu chuyện xúc động khi Bác Hồ về thăm Xí nghiệp.

Đó là mùa Xuân năm 1959, cách đây hơn 50 năm, ngày 8-1-1959, khi Xưởng may 10 (lúc đó thuộc Cục Quân nhu – Tổng cục Hậu cần) vinh dự được đón Bác Hồ về thăm. Năm đó Bác đã 69 tuổi nhưng đi lại vẫn nhanh nhẹn. Bác lần lượt đi thăm từng phân xưởng may, thăm các cháu ở nhà trẻ và thăm nhà ăn của công nhân. Bác đi thăm các phân xưởng sản xuất trước. Đi dọc ba phân xưởng may, Bác thấy trên các bàn máy có cắm cờ đỏ, cờ xanh trên các cọc chỉ liền hỏi, thì anh chị em công nhân trả lời: “Thưa Bác, trong ngày làm việc, ai có năng suất cao thì được tặng cờ đỏ, năng suất thấp thì nhận cờ xanh”. Bác dừng lại bên bàn máy của một nữ công nhân trẻ có cờ xanh ân cần hỏi kỹ về phong trào thi đua này. Bác tỏ ý vui mừng và căn dặn: “Các cô, các chú phải phấn đấu giành nhiều cờ đỏ, bỏ cờ xanh. Các cô, các chú có làm được không?” Tất cả mọi người có mặt đồng thanh đáp: “Thưa Bác có ạ”. Sau khi đi thăm xong các phân xưởng, Bác quay về hội trường nói chuyện với cán bộ, công nhân nhà máy. Bác nhắc nhở nhiệm vụ của xí nghiệp, của cán bộ và công nhân viên và căn dặn mọi người phải tiết kiệm trong quá trình sản xuất, phải chú ý đến việc cải tiến kỹ thuật. Cuối buổi nói chuyện, Bác trực tiếp phát động phong trào thi đua sản xuất trong toàn nhà máy, đồng thời Người hứa: “Nếu cuối năm đạt thành tích cao báo cáo lên Bác, Bác sẽ thưởng”.

Cán bộ, công nhân Xưởng may 10 rất xúc động khi thấy chiếc áo kaki màu đã bạc, sờn tay mà Bác vẫn mặc từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Không ai bảo ai, mọi người có mặt trong buổi đón Bác đều mong muốn được may biếu vị lãnh tụ kính yêu bộ quần áo. Một đồng chí cán bộ lãnh đạo Xưởng may 10 đem ngay ý tưởng đó ra trao đổi với đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác. Suy nghĩ giây lát, đồng chí Vũ Kỳ nói: “Bác sắp đi thăm Inđônêxia nhưng quần áo của Bác đã cũ hết cả rồi. Các cậu có thể may biếu Bác một bộ. Ngày mai tôi sẽ đưa bộ quần áo của Bác xuống làm mẫu”. Hôm sau, nhận được bộ quần áo mẫu (bộ quần áo kaki cũ của Bác) do các đồng chí phục vụ Bác chuyển đến, anh chị em Xưởng may 10 lập tức bắt tay vào việc. Xưởng cử người sang X20 (Cửa hàng may đo lúc đó ở phố Cửa Đông) lấy vải kaki Trung Quốc có màu sắc tương tự như màu áo của Bác. Các ông Trần Văn Quảng, Nguyễn Công Thái và Phạm Huy Tăng là những người thợ lành nghề được giao nhiệm vụ may bộ quần áo này. Điều khó là khi đo cắt vải mới nhưng lại không được tháo rời bộ quần áo mẫu. Những người thợ bèn cắt theo phương pháp quy vuông: Trải vải mới chồng lên bộ cũ. Bộ quần áo kaki dùng làm mẫu là bộ được may từ năm 1945, là bộ Người đã mặc trong buổi lễ đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

Đặc điểm bộ quần áo này là đường may bị lệch và thân quần một bên to một bên bé, khi cắt phải cố gắng thật khéo léo để khắc phục nhược điểm trên. Sau khi cắt nhiều mẫu, cuối cùng các anh chọn lấy hai mẫu giống nhất để may. Sau hơn một tháng, bộ quần áo đã may xong, xưởng gửi ngay cho đồng chí Vũ Kỳ hai bộ kèm theo một bức thư nói lên tấm lòng của cán bộ, công nhân xưởng may 10 đối với Bác Hồ. Bức thư có nội dung như sau:

Hà Nội ngày 23 tháng 2 năm 1959

Kính thưa Bác!

Ngày 8-1-1959 Bác về thăm chúng cháu. Chúng cháu coi ngày đó là một ngày lịch sử của xưởng chúng cháu. Chúng cháu vô cùng cảm động. Nhiều người đã khóc trước sự chăm sóc ân cần của Đảng, của Chính phủ và của Bác. Chúng cháu tự thấy rằng mình còn nhiều khuyết điểm, thành tích đã đạt được chưa xứng đáng với tấm lòng ân cần đó.

Chúng cháu làm việc ngày đêm, không kể giờ giấc để nâng cao sản xuất, kèm cặp, giúp đỡ anh chị em thợ mới vào nghề, năng suất của cả thợ mới, thợ cũ đều tăng. Do đó kế hoạch tháng 1 năm 1959 chúng cháu đã thực hiện được 109%. Về chất lượng chúng cháu đã đạt được 95,12%. Trong tháng 2 năm 1959 kế hoạch khá nặng nhưng chúng cháu quyết tâm để hoàn thành vượt mức.

Kính thưa Bác!

Hôm Bác đến chúng cháu chú ý nhìn kỹ thấy quần áo của Bác mặc đã cũ, chúng cháu vô cùng cảm động. Vì vậy chúng cháu không hẹn mà nên, mỗi người một ý bàn với nhau may biếu Bác hai bộ quần áo. Tuy quần áo chúng cháu may chưa được đẹp, nhưng đó là cả tấm lòng thành của chúng cháu đối với Bác, mong Bác vui lòng nhận cho chúng cháu. Chúng cháu coi đó là một vinh dự của chúng cháu.

Cuối cùng chúng cháu xin kính chúc Bác sống lâu muôn tuổi.

   Toàn thể công nhân, quân nhân, nhân viên

Xưởng may 10 Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần”.

Nhớ lại sự kiện này, đồng chí Cù Văn Chước – cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch, sau này là Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh kể lại: Nhận được thư và quà của Xí nghiệp may 10 gửi biếu Bác, tôi đã chọn một bộ cùng với bức thư để báo cáo với Bác. Sau khi Bác đi ăn cơm trưa về, tôi thưa với Bác: “Thưa Bác, anh chị em công nhân Xưởng may 10 tiết kiệm được vải, may biếu Bác bộ quần áo với tất cả tấm lòng thành, mong Bác vui lòng nhận cho”.

Bác Hồ cầm lên xem và khen may đẹp. Sau đó, Bác đánh máy bức thư gửi cán bộ, nhân viên Xưởng may 10, Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần:

Thân ái gửi: Công nhân, chiến sĩ, nhân viên và cán bộ Xưởng may 10, Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần.

Bác rất vui lòng các cô, các chú có tiến bộ khá về:

                       Đoàn kết thân ái

                       Liên tục thi đua

                       Cải tiến kỹ thuật

                      Tăng gia sản xuất

                      Thực hành tiết kiệm

                      Quản lý xí nghiệp.

Chắc các cô, các chú đã tự thấy rằng: Tư tưởng thông thì công việc tốt. Những kinh nghiệm ấy nên phổ biến cho các nhà máy khác.

Nhưng các cô, các chú chớ thấy có tiến bộ mà tự mãn, tự kiêu. Trái lại cần phải cố gắng nữa để tiến bộ mãi.

Cảm ơn các cô, các chú đã biếu Bác bộ quần áo. Bác nhận rồi. Nay Bác gửi bộ quần áo ấy làm giải thưởng cho một đợt thi đua. Khi nào đợt thi đua kết thúc, do các cô, các chú bình nghị, ai khá nhất thì được giải thưởng ấy.

Chúc các cô, các chú vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết, tiến bộ.

                                                                      Ngày 24 tháng 2 năm 1959.

                                                                                        Bác Hồ”.

Nhận được thư Bác, một phong trào thi đua mới sôi nổi trong toàn xưởng may. Anh chị em nào cũng quyết tâm lập thêm nhiều thành tích để đền đáp lại tình cảm của Bác. Ngày nghỉ nhiều công nhân vẫn đứng máy, thực hiện khẩu hiệu: “Ngày không giờ, tuần không thứ”, toàn xí nghiệp dấy lên phong trào quyết tâm “Giành cờ đỏ, bỏ cờ xanh”. Nhiều công nhân tăng năng xuất tới 200%, hầu hết các đầu máy không còn cờ xanh nữa. Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật quan trọng đã nâng cao được chất lượng và năng suất lao động. Những lời dạy bảo ân cần của Bác trở thành nguồn động viên cán bộ, công nhân, viên chức của xí nghiệp, ra sức thi đua lao động sản xuất, xây dựng xí nghiệp. Đầu năm 1960, Bác đã tặng cho cán bộ công nhân Xí nghiệp may 10 lá cờ thêu dòng chữ: “Đơn vị thi đua khá nhất” dưới là tên Bác: Hồ Chí Minh.

Trong phong trào thi đua đó, nhiều công nhân đạt thành tích cao trong lao động trong đó có ông Hoàng Nguyên đạt thành tích cao nhất và giành danh hiệu chiến sĩ thi đua. Ban Giám đốc, Đảng uỷ, Công đoàn Xưởng may 10 đã tặng cho đồng chí Hoàng Nguyên bộ quần áo kaki mà Bác gửi lại cho xí nghiệp. Đồng chí Nguyễn Văn Lợi có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (năm 1962).

Bộ quần áo ông Hoàng Nguyên được tặng sau đó ông gửi lại Xí nghiệp để trưng bày ở phòng truyền thống. Để góp phần xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngày 3-5-1977, Xưởng may 10 đã gửi tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh bộ quần áo này. Hiện nay, bộ quần áo đang được lưu giữ ở Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Còn bộ quần áo kaki các đồng chí phục vụ giữ lại, nhiều lần các đồng chí đề nghị Bác dùng bộ quần áo mới nhưng Bác đều từ chối. Cho đến dịp Bác chính thức đi thăm nước Cộng hoà Inđônêxia ngày 27-2-1959, khi lên máy bay Bác vẫn mặc bộ quần áo dạ lễ phục, sang đến Inđônêxia, áo của Bác bị đứt cúc. Lúc đó đồng chí Vũ Kỳ mới đưa bộ quần áo mới của Xí nghiệp may 10 biếu Bác đã chuẩn bị sẵn trong vali, đề nghị Bác mặc với lý do đồng chí không mang theo kim chỉ nên không đính lại cúc áo được. Bác cười và bảo: “Thế là chú cố ép Bác mặc áo mới nhưng chú nên nhớ rằng mình làm sao có thể thi sang với người ta được, mình phải biết tiết kiệm, dân mình đang còn nghèo lắm”.

Theo các đồng chí phục vụ Bác Hồ kể lại: Khi Bác tiếp khách thân mật tại Phủ Chủ tịch, Bác thường mặc bộ quần áo bà ba màu nâu giản dị như khi làm việc. Hôm nào trời hơi lạnh, Bác khoác thêm áo kaki, lạnh nhiều Bác khoác áo bông. Bộ quần áo kaki do Xí nghiệp may 10 may Bác thường mặc mỗi khi đi thăm các địa phương trong nước, đi thăm các nước anh em, đi dự hội nghị và các cuộc họp của Chính phủ, tiếp khách quốc tế.

Ông Tăng không ngờ 10 năm sau, ngày 2-9-1969, ông lại là người được may bộ quần áo cuối cùng cho Bác. Ngày đó những hiệu may nổi tiếng nhất Hà Nội cũng được nhận sứ mạng lịch sử này. Song tất cả các sản phẩm đều không được phê duyệt do dùng vải quá sang, không hợp với đức tính giản dị của Bác. Sau khi cân nhắc, nhiệm vụ này được giao cho Xí nghiệp may 10. Ông Tăng và ông Quảng lại được chọn thực hiện việc may áo để Bác mặc trong ngày tang lễ. Họ đã thức trắng đêm, vừa làm vừa khóc vì thương nhớ Bác và sau hai ngày thì công việc hoàn thành. Ông Tăng nhớ lại: “Lúc đó chúng tôi đâu biết rằng chuyên gia Liên Xô và các cán bộ khoa học kỹ thuật chịu trách nhiệm giữ gìn thi hài Bác đã kiểm tra hết sức cẩn thận từng đường kim mũi chỉ, từng sợi vải bằng nhiều loại máy móc hiện đại”. Nhưng mọi thông số kỹ thuật đều đạt yêu cầu. Sản phẩm đã được Bộ Chính trị phê duyệt.

Sau ngày miền Nam giải phóng, thể theo nguyện vọng của Bảo tàng các tỉnh ở trong Nam, Xí nghiệp may 10 đã tặng cho mỗi tỉnh một bộ quần áo may theo mẫu bộ quần áo của Bác và đều do ông Tăng may. Bộ quần áo đang trưng bày tại Di tích nhà 54 trong Khu Phủ Chủ tịch là bộ quần áo do Xí nghiệp may 10 may trong dịp này. Bộ quần áo được đánh số kiểm kê BTHCM 361/ĐD-4 (chiếc áo) và BTHCM/ĐD-5(chiếc quần). Có một kỷ vật mà suốt mấy chục năm qua ông Phạm Huy Tăng luôn nâng niu gìn giữ đó là tấm huy hiệu Bác Hồ ông được cơ quan Văn phòng Phủ Chủ tịch tặng khi may xong bộ quần áo của Bác. Ông nói: “Tôi đã học được rất nhiều từ đức tính giản dị, khiêm tốn của Bác Hồ”. Hình ảnh Bác Hồ, tấm áo của Bác, một phần thưởng thi đua cao quý được trưng bày trong phòng truyền thống, bên cạnh lá cờ thi đua lấp lánh cùng tấm Huy chương của Quốc hội và Chính Phủ tặng đã ghi đậm thành tích 50 năm Xí nghiệp làm theo lời Bác.

Theo http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Huyền Trang (
st)

Nữ biệt động “thép” 8 lần gặp Bác Hồ

Những ngày nắng nóng gay gắt, các vết thương cũ tái phát khiến nữ thương binh nặng 1/4 Trần Thị Kim Cúc cảm thấy đau nhức khắp người. Vậy mà, nhắc đến những lần được gặp Bác Hồ, giọng bà trào dâng niềm xúc động sâu sắc.

Trần Thị Kim Cúc sinh năm 1936, tại vùng quê nghèo xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang (Đà Nẵng). Bà làm giao liên cho huyện ủy Hòa Vang từ năm 14 tuổi. Năm 1961, bà được tổ chức phân công làm đội trưởng đội công tác đặc biệt, có nhiệm vụ thăm dò tình hình địch, đưa thông tin liên lạc cho cách mạng. 4 năm sau, bà vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Dũng cảm, mưu trí, gan dạ, bà đã tham gia nhiều trận đánh “tìm Mỹ mà diệt” làm nức lòng đồng bào và chiến sĩ. Nhiều lần bị địch bắt, tra tấn cực kỳ tàn độc nhưng bà vẫn kiên cường giữ vững khí tiết của người cộng sản. Ra tù, được tổ chức bí mật đưa ra Bắc chữa bệnh, bà vinh dự 8 lần được gặp Bác Hồ.

nu-biet-dong-aBà Trần Thị Kim Cúc thời trẻ

Bà Cúc bồi hồi nhớ lại: “Một buổi chiều giữa năm 1966, tôi và chị Mười quê ở Mỹ Tho, Tiền Giang nằm điều trị chung một phòng ở Bệnh viện Việt – Xô, được thông báo sắp có người trong Phủ Chủ tịch đến thăm. Tối đó, một chiếc ô tô con đỗ trước hiên Khoa A1. Một ông già dáng dong dỏng, râu tóc bạc, nét mặt đôn hậu, mặc bộ bà ba màu nâu sẫm, chân đi dép cao su và một người trẻ tuổi hơn (về sau tôi mới biết là chú Vũ Kỳ, thư ký của Bác), nhanh nhẹn đi về phía buồng bệnh. Tôi hồi hộp nói với chị Mười: “Đúng là Bác rồi, chị ơi!”. Chúng tôi định chạy ra, thấy thế Bác liền vẫy tay, bảo: “Hai cháu đừng chạy, ngã đấy!” rồi đưa hai tay đỡ chúng tôi. Tôi ôm lấy Bác mà nước mắt cứ trào ra. Ước mơ cháy bỏng ấp ủ bấy lâu, bây giờ đã thành hiện thực!

Chú Trịnh Kim Ảnh, Giám đốc Bệnh viện thưa với Bác: “Cô Cúc ngoài các vết thương trong người còn có 2 vết thương rất nặng: Vết thương ở đầu do bọn địch đóng đinh vào gây chấn thương não, để lại di chứng động kinh kéo dài. Vết thương thứ 2 ở cửa mình vẫn ra máu do mảnh vụn đèn neon địch tra tấn”. Nghe vậy, mắt Bác ngấn lệ. Người đưa tay sờ lên vết thương trên đầu tôi, lo lắng hỏi: “Đau thế, đêm cháu ngủ có được không? Cháu ăn có biết ngon miệng không?” Tôi liền thưa: “Dạ thưa Bác! con ăn và ngủ cũng được ít”. Bác đưa tay vẫy anh Bình, Chủ nhiệm khoa A1 lại gần, căn dặn: “Chú phải theo dõi cả việc ăn uống của các cháu, nhắc nhà bếp phải thường xuyên đổi món và chế biến thức ăn cho hợp khẩu vị. Ở miền trong thường thích món cá nấu chua lắm!”.

nu-biet-dong-bThủ tướng Phạm Văn Đồng chụp ảnh với gia đình bà Cúc

Sau lần đó, tôi và chị Mười còn nhiều lần được đón vào Phủ Chủ tịch cùng ăn cơm với Bác và chú Tô (tức Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Tình cảm của Bác dành cho chúng tôi sâu nặng, ấp áp như tình thương của người cha vậy. Biết bệnh của chúng tôi không thuyên giảm, Bác quyết định đưa sang Trung Quốc chữa trị và động viên 2 chị em cố gắng học tiếng nước bạn, để nếu có nhà báo đến thì kể cho họ nghe về tội ác của đế quốc Mỹ và ý chí chiến đấu kiên cường của đồng bào ta. Khắc ghi lời Bác, tôi vừa chiến đấu với bệnh tật vừa nỗ lực học hỏi, luyện cách giao tiếp bằng tiếng Trung. Sau gần 2 năm, các vết thương được chữa lành, trở về Hà Nội, tôi được Bác cho xe đón vào Phủ Chủ tịch. Đó là buổi chiều 30 tết Mậu Thân 1968, tiết trời se lạnh, Bác bảo chú Vũ Kỳ đưa ra một cái khăn và chiếc mũ ấm bảo tôi mang vào kẻo lạnh (Chiếc khăn này tôi đã tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Quân khu 5). Rồi Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe, và bất ngờ hỏi bằng tiếng Trung: “Cháu đã học được tiếng nước bạn đến đâu rồi? Bác hỏi một câu, cháu trả lời Bác nghe thử”. Tôi lúng túng thưa với Bác cũng bằng tiếng Trung, Bác khen và dặn: “Có chí, ở hoàn cảnh nào học cũng được, cháu ạ!”. Tôi trình bày nguyện vọng muốn được trở về miền Nam đánh giặc, mắt Bác rưng rưng. Bác bảo hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe, vì người còn yếu thế chưa về được đâu”.

Sau đó, Trần Thị Kim Cúc học văn hoá tại Trường phổ thông lao động Trung ương, đầu năm 1969, được Đài Tiếng nói Việt Nam nêu gương về thành tích học tập. Bà kể: “Nhận được tin ấy, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đến trường đón tôi. Bác ôm chầm lấy tôi như một người cha đón đứa con sau bao ngày xa cách. Tình cảm của Bác vẫn nồng ấm, nhưng cử chỉ và giọng nói đã yếu đi nhiều. Bác dặn chú Tô bằng giọng khàn khàn: “Sau này, tôi có mệnh hệ gì, không chăm lo được cho cháu Trần Thị Cúc và cháu Trần Thị Lý (Anh hùng LLVTND, quê Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam) thì nhờ chú thay tôi chăm lo cho hai cháu đến nơi đến chốn”.

Đến chiều, chú Vũ Kỳ đưa tôi trở lại trường, Bác lấy tay xoa nhẹ lên đầu tôi và bảo: “Cháu về trường, nhớ giữ gìn sức khỏe, Bác gửi lời thăm thầy cô, bạn bè của cháu!”. Nghe thế, tôi cắn môi lại cố không để bật ra tiếng khóc, lòng thầm ao ước: “Cầu mong Bác mạnh khỏe, bình an”. Nào ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp Bác. Ngày 2-9 năm ấy Bác đã đi xa mãi mãi”.

Sau này, bà Cúc thi đỗ vào Khoa Hóa Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, học đến năm thứ tư thì vết thương tái phát, đôi mắt không nhìn được, phải sang chữa trị tại Cộng hoà Dân chủ Đức. Mãi đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà mới được trở về quê hương. Hiện nay, bà đang sinh sống trong căn nhà nhỏ số 149 đường Thanh Long, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, Đà Nẵng. Các con của bà đều đã trưởng thành, trong đó 2 người con trai đang công tác trong quân đội (Đại úy Huỳnh Thanh Hà Nam, Trợ lý Ban Chính trị – Cục Chính trị Quân khu 5 và Thượng úy Huỳnh Trần Thanh Hải, Trợ lý Thanh niên Bộ CHQS thành phố Đà Nẵng). Bà bảo: “Tôi thường kể cho các con nghe kỷ niệm về những lần được gặp Bác Hồ. Đó chính là hành trang để các cháu trọn đời vững bước đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn”.

Theo ĐỖ THỊ NGỌC DIỆP – Quân đội nhân dân
Thanh Huyền (st)
bqllang.gov.vn

Nguyên Thuyền trưởng Tàu không số và ký ức giải phóng Trường Sa

9 giờ sáng ngày 29-4-1975 mãi là thời khắc không bao giờ quên đối với Thiếu tá Nguyễn Xuân Thơm, nguyên Thuyền trưởng Tàu không số (nay là Lữ đoàn 125, Quân chủng Hải quân).Ngày ấy, con tàu 673 do ông làm thuyền trưởng đã cùng biên đội Tàu không số, hoàn thành nhiệm vụ thần tốc giải phóng Trường Sa trước ngày giải phóng Sài Gòn 30-4-1975.

tau-khong-so-aQuân dân đảo Song Tử Tây mít tinh kỷ niệm 38 năm giải phóng quần đảo Trường Sa (29-4-1975/29-4-2013).

Một trưa Tháng Tư, ghé căn nhà đầy ắp hình ảnh, kỷ vật của Đoàn Tàu không số nằm trên đường Đoàn Như Hài, quận 4, TP Hồ Chí Minh, chúng tôi được Thiếu tá Nguyễn Xuân Thơm – hiện là Trưởng ban Liên lạc truyền thống (Tàu không số) Đường Hồ Chí Minh trên biển tại Thành phố Hồ Chí Minh, bồi hồi kể lại chiến tích lẫy lừng ngày ấy. Tháng 4-1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân ngày càng khốc liệt và giành được nhiều thắng lợi to lớn. Lúc bấy giờ, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị thành lập một biên đội, chuẩn bị lực lượng, vũ khí, khí tài… để thực hiện nhiệm vụ giải phóng Trường Sa. Biên đội gồm có 3 tàu thô sơ mang bí số 673, 674 (tàu chở Ban chỉ huy), 675 được ngụy trang như tàu đánh cá. Ông Nguyễn Xuân Thơm là Thuyền trưởng tàu 673, Nguyễn Đức, Thuyền trưởng tàu 674 và Phạm Duy Tam Thuyền trưởng tàu 675.

Vị Thiếu tá già kể lại: “Ngày 9-4, chúng tôi nhận lệnh, cấp tốc hành quân từ Hải Phòng vào Đà Nẵng. Ngày hôm sau, biên đội đã cập cảng Tiên Sa, lấy phương tiện, vũ khí, dầu, nước, lương thực…đưa Đại đội đặc công Đoàn 126 và Tiểu đoàn 471 đặc công Khu 5 xuống tàu. 4 giờ sáng ngày 11-4, từ Đà Nẵng, biên đội hành quân ra đảo Song Tử Tây. Nhiệm vụ lần này là phải nhanh chóng đánh chiếm đảo Song Tử Tây kịp ngày 14-4 và phải giải phóng hoàn toàn Trường Sa cùng thời điểm với giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thế nhưng đi được nửa đường thì xảy ra sự cố: Tàu dẫn đầu 674 bị hỏng máy, không hoạt động. Trước tình hình đó, tàu 675 phải buộc dây cáp để kéo tàu 674”.

Đối với Thuyền trưởng Thơm, do trước đó đã hai lần đi trinh sát quần đảo Trường Sa và một lần lái Tàu không số chở vũ khí tiếp tế miền Nam vào Trường Sa để tránh sự lùng sục của hải quân Mỹ nên ông là người có kinh nghiệm, thành thạo hải đồ Trường Sa. Vì vậy, tàu 673 trở thành tàu xung kích dẫn đầu. Nhưng do tàu này kéo tàu kia nên đoàn đi rất chậm. Trước tình thế cấp bách, nguy cơ đoàn không thể hoàn thành nhiệm vụ đúng kế hoạch, Thuyền trưởng Nguyễn Xuân Thơm đã xin Ban chỉ huy cho tàu mình tách đoàn, đi một mình để kịp tiếp cận đảo.

Tờ mờ sáng ngày 13-4, tàu 673 tiếp cận đảo Song Tử Tây. Thuyền trưởng Thơm tiến hành trinh sát đảo và lực lượng bố trí của địch. Ông trở lại báo cáo Ban chỉ huy đang chờ ngoài biển để xin ý kiến và bàn bạc kế hoạch tác chiến. Một giờ đêm, tàu 673 xung kích, hai tàu còn lại yểm trợ. Lực lượng đặc công đổ bộ vào đảo bằng 3 chiếc xuồng cao su, áp sát các lô cốt hướng Bắc, Đông, Đông Nam. Thấy rằng địch có thể lấy xuồng cao su của ta để trốn thoát nên thuyền trưởng Thơm đã nêu sáng kiến cho anh em xì hết xuồng cao su, gói lại chôn dưới cát. Để tránh đánh nhầm địch với quân ta, Ban chỉ huy quyết định không đánh vào lúc trời còn tối mà đánh vào lúc 5 giờ sáng bằng khẩu ĐKZ mở màn.

tau-khong-so-b
Thiếu tá Nguyễn Xuân Thơm – nguyên Thuyền trường tàu 673

Một loạt đạn vang lên. Không phải khẩu ĐKZ của ta mà là loạt súng PRC 25 của địch. 3 giờ 40 sáng. Ta đã bị lộ? Các chiến sĩ dồn mắt về phía đảo. Im ắng. Hóa ra lúc tên lính của địch đổi gác, tiếng động của một con vật làm hắn giật mình, xả loạt đạn về phía có tiếng động.

5 giờ, quả ĐKZ đầu tiên bắn vào chòi canh của địch. Nhưng do tầm ngắm quá cao, quả đạn trật mục tiêu rớt ngay xuống biển. Rút kinh nghiệm, quả thứ hai trúng ngay mục tiêu. Chỉ trong vòng 30 phút, đặc công của ta đã tóm gọn lực lượng của địch, làm chủ đảo: 33 tên bị bắt sống, 7 tên bị thương. Bỗng một tên bất ngờ chạy ra bãi cát, lấy xuồng máy chạy trốn sang đảo Song Tử Đông. Giữa đường, chẳng may hắn gặp ngay tàu của Thuyền trưởng Thơm đang neo ở đó nên hoảng hốt quay lại và bị tóm gọn.

Đặc công bố trí lực lượng giữ đảo. Các tù binh bị dẫn về tàu 673. 11 giờ đêm, các tàu còn lại mới cập đảo, đưa quân yểm trợ. Lá cờ giải phóng bay phấp phới trên đảo Song Tử Tây. Tàu 675 kéo tàu 674 và chở tù binh về Đà Nẵng rồi tiếp tục chở quân ra yểm trợ. Tàu 641 được điều động cùng tàu 673 chở lực lượng đặc công tiếp tục giải phóng các đảo còn lại. Bị mất đảo trọng yếu Song Tử Tây, địch hoang mang. Cùng lúc đó, thông tin chiến thắng của quân giải phóng ở chiến trường miền Nam từ đất liền đổ về dồn dập khiến chúng càng hoang mang, hoảng loạn. Do đó, quân ta nhanh chóng giải phóng các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Trường Sa, Sinh Tồn, An Bang.

9 giờ sáng ngày 29-4, cờ giải phóng kiêu hãnh tung bay trên quần đảo Trường Sa. Non sông, biển đảo thu về một mối.

Theo QUỲNH NGA Quân đội nhân dân
Thanh Huyền (st)
bqllang.gov.vn

Quý trọng dân, tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chuyện kể rằng: Ngày 2 tháng 9 năm 1945, sau khi Bác Hồ đọc xong bản Tuyên ngôn Độc lập, ra về trên 1 chiếc xe màu đen, cửa kính hơi thấp. Một phóng viên đón đường, ghé máy ảnh sát vào cửa kính định chụp ảnh Bác. Bác Hồ xua tay không cho chụp và nói: “Chú quay máy ra ngoài kia mà chụp nhân dân!”.

quy-trong-danẢnh Chủ tịch Hồ Chí Minh (in lụa) được Đoàn chiếu bóng tỉnh Ninh Bình tặng cho nhân dân  Châu Thới để thờ tại Đền thờ Bác Hồ tháng 10/1972 (hiện nay, ảnh được lưu giữ trong phòng trưng bày hiện vật và hình ảnh của Bác tại Khu Di tích lịch sử – văn hóa Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu)

Thế mới biết Bác Hồ quý trọng nhân dân biết nhường nào. Theo Bác Hồ, sức mạnh của Đảng nằm ngay trong mối quan hệ giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Bác khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì thành vô địch”. “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt”. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được thể hiện rất cụ thể ở đạo đức, thái độ, tác phong trong quan hệ với dân ở từng cán bộ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Cán bộ đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải kính yêu nhân dân. Phải tôn trọng thật sự quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra lệnh, ra oai… phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo”.

Khi chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải lựa chọn “Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là người lãnh đạo của họ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căm ghét và lên án gay gắt chủ nghĩa cá nhân: “Hiện nay chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí. Họ tự cho mình là cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.

Nhân dân là nguồn bổ sung lực lượng vô tận cho Đảng và luôn luôn tràn trề sức xuân.Trọng dân là thương dân, vì nhân dân mà phục vụ và biết coi trọng sức mạnh vĩ đại của nhân dân. Biết bao người con ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đã trở thành đảng viên của Đảng. Quần chúng còn tham gia góp ý, phê bình sự lãnh đạo của Đảng với mong muốn Đảng luôn luôn trong sạch và vững mạnh để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đến đích cuối cùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, lãng phí, quan liêu, tham nhũng… vì nó là “Kẻ thù của nhân dân, của dân tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, nó nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta…”.

Bác còn dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ…”. Tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về nhân dân. Bác thương yêu và quý trọng nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại là vô hạn, và không bao giờ thay đổi.

Bác Hồ đã từng nói: “Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng nhân dân là tôn trọng và tin tưởng những người làm ra lịch sử, những người sáng tạo ra của cải, vật chất, những người được sánh với Trời, Đất…”. Bác Hồ khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân, đó là tư tưởng được Bác Hồ vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của tư tưởng quý trọng dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Bởi nhân dân là động lực, là trung tâm trong “chiến lược phát triển toàn diện”, trong công cuộc xây dựng xã hội mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, xã hội công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Võ Hoàng Nam
Nguồn: Liên hiệp Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu
Thu Hiền (st)/ Theo http://www.baclieu.gov.vn

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lối sống và môi trường văn hóa

Lối sống văn hóa như Bác nói là được thể hiện trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt hàng ngày.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong Diễn văn khai mạc Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, tổ chức tại Hà Nội ngày 21/11/1946, Bác Hồ đã nêu rõ: “Nền văn hóa mới của Việt Nam phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm cơ sở; phải học lấy những điều tốt đẹp của văn hóa nước ngoài tạo ra nền văn hóa Việt Nam, sao cho văn hóa mới phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập”(1).

Muốn làm được điều đó, nhiệm vụ đầu tiên và rất quan trọng là phải thường xuyên quan tâm xây dựng lối sống văn hóa và môi trường văn hóa.

Lối sống văn hóa như Bác nói là được thể hiện trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt hàng ngày như cách ăn mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc… Cốt lõi của lối sống văn hóa là nhân sinh quan, thế giới quan cách mạng, tiến bộ. Lối sống văn hóa mà Đảng ta, nhân dân ta xây dựng biểu hiện tập trung các giá trị của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là lối sống nhằm phát huy cao độ những giá trị tốt đẹp, bền vững của ông cha ta để lại như lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết cộng đồng, đức tính cần cù, giản dị, coi trọng đạo lý, nghĩa tình… Đó là lối sống lấy độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nội dung, mục tiêu hoạt động của cộng đồng và mỗi cá nhân.

Còn môi trường văn hóa là điều kiện để hình thành nhân cách con người văn hóa và lối sống văn hóa. Trong môi trường văn hóa có môi trường văn hóa xã hội, môi trường văn hóa cộng đồng, môi trường văn hóa gia đình… Môi trường văn hóa của nước ta xây dựng hiện nay bảo đảm cho con người được giao tiếp với thiên nhiên, sống trong một môi trường trong lành, hài hòa, bền vững. Đồng thời, ở đó con người với con người được sống bình đẳng, tự do, hạnh phúc, được phát huy mọi năng lực, sở trường, được thụ hưởng những giá trị chân – thiện – mỹ. Ở đó, cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái tiến bộ được tôn trọng và bảo vệ. Cái xấu, cái ác, cái phản văn hóa phải bị phê phán, loại trừ.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, những nội dung và các giải pháp về xây dựng lối sống văn hóa, môi trường văn hóa đã được Bác nêu một cách đầy đủ, cụ thể, giản dị mà sâu sắc. Người nói: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Thí dụ ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi.

Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước.

Cái mới mà hay thì ta phải làm. Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho nó ngăn nắp(2).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lối sống văn hóa còn có cả xây dựng lối sống văn minh, phù hợp với yêu cầu của thời đại. Muốn thực hiện điều này, theo Bác là phải thường xuyên quan tâm nâng cao dân trí, nhận thức đầy đủ vai trò của văn hóa, giáo dục con người “biết ham đọc”, bởi có học mới tiến bộ. Đồng thời, xây dựng lối sống văn hóa phải được nhận thức và thể hiện từ mỗi con người, trong từng gia đình, từng làng xóm, phố phường ra toàn dân mới có hiệu quả bền vững và phát huy tác dụng tích cực, rộng lớn, lâu dài.

Xây dựng môi trường văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh là luôn coi trọng và đề cao mối quan hệ hài hòa, sự kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng môi trường xã hội và môi trường tự nhiên. Trong môi trường xã hội phải coi trọng và luôn chăm lo giáo dục bồi dưỡng nhân cách phẩm chất con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bác Hồ nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa”(3).

Trong môi trường xã hội đó con người phải được tự do, bình đẳng, được sống ấm no, hạnh phúc, nhân phẩm, quyền lợi chính đáng được bảo vệ, chủ nghĩa cá nhân phải bị phê phán, loại bỏ, tham ô, tham nhũng, lãng phí phải được ngăn chặn, con người luôn coi trọng giá trị đạo đức và biết tôn trọng pháp luật…

Cùng với việc quan tâm xây dựng môi trường xã hội, Bác Hồ sớm nhận thức và luôn coi trọng, chú ý tới bảo vệ môi trường tự nhiên.

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Bác Hồ đã phát động “Tết trồng cây” và kêu gọi: “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Điều này cho thấy, Người đặt lợi ích của “trồng cây” và “trồng người” quan trọng như nhau và trong mối quan hệ gắn bó không thể tách rời của đời sống con người, của dân tộc. Người khẳng định: “Do Tết trồng cây mà nước ta ngày càng xanh tươi, nhân dân ta càng thêm giàu có”.

Ngày nay, môi trường sống đã trở thành vấn đề toàn cầu. Thế giới lấy ngày 5/6 hàng năm làm Ngày Môi trường thế giới, khuyến cáo mọi người, mỗi quốc gia hãy quan tâm và có trách nhiệm, hành động thiết thực nhằm bảo vệ môi trướng sống trên khắp hành tinh. Có thể nói, thông qua “Tết trồng cây” do Bác Hồ phát động đã cho thấy, Người chính là nguyên thủ quốc gia đầu tiên dự báo và đưa ra chiến lược bảo vệ môi trường.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng lối sống văn hóa và môi trường văn hóa, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp về phát triển văn hóa qua các thời kỳ, từ đó làm cho lối sống văn hóa, môi trường văn hóa nước nhà đã phát huy được những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam, tính ưu việt của văn hóa xã hội chủ nghĩa được thể hiện, trở thành “cái nôi” nuôi dưỡng những phẩm chất và nhân tố tích cực trong cộng đồng xã hội, góp phần vào những thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn chỉ ra rằng, hiện nay lối sống văn hóa và môi trường văn hóa nước ta còn nhiều vấn đề đáng quan tâm, lo ngại, tồn tại ở nhiều nơi, cả ở nông thôn và thành thị. Chẳng hạn như hiện tượng tàn phá thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, hủy hoại môi sinh một cách nghiêm trọng diễn ra khá phổ biến, kéo dài không được ngăn chặn. Sự lãng quên vô thức của con người làm cho các di sản văn hóa nhiều nơi bị biến dạng, xuống cấp nghiêm trọng… Một số người, ở nhiều nơi kể cả trong trí thức, văn nghệ sĩ, thanh thiếu niên sống thiếu văn hóa, ăn mặc lố lăng, đầu tóc nhuộm vàng nhuộm đỏ, nói năng văng tục, đua đòi lãng phí, vứt rác bừa bãi, vi phạm pháp luật, thiếu tôn trọng kỷ cương, không tự giác chấp hành luật lệ giao thông… Môi trường gia đình, xã hội bị xuống cấp, có nơi, có lĩnh vực đáng lo ngại. Điều đó đang đặt ra cho chúng ta từ các tổ chức Đảng, đến cả hệ thống chính trị ở trung ương đến các cơ sở phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng, tính cấp bách của nhiệm vụ xây dựng lối sống văn hóa, môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng vừa qua đã giành mục VI nói về “Chăm lo phát triển văn hóa”, trong đó nhiệm vụ “củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng” được đưa lên đầu tiên với những nội dung cơ bản, cụ thể:

Một là: Đưa phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng văn hóa đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả. Nâng cao chất lượng phong trào xây dựng xã, phường, khu phố, thôn bản đoàn kết, dân chủ, văn minh, lành mạnh.

Hai là: Xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, tạo sức đề kháng đối với các sản phẩm độc hại. Đấu tranh chống các biểu hiện phi văn hóa, suy thoái đạo đức, lối sống.

Ba là: Tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, mại dâm, ma túy, cờ bạc…

Bốn là: Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần gìn giữ và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, quan tâm bồi dưỡng, giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống, nếp sống mới đối với thế hệ trẻ.

Năm là: Đúc kết và xây dựng hệ thống giá trị chung của con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân.

Sáu là: Tiếp tục phát triển nền văn hóa, nghệ thuật nước nhà tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác, bồi dưỡng lý tưởng, thị hiếu thẩm mỹ cho công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ… Đồng thời tập trung xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hóa của mọi người dân, phát huy năng lực làm chủ của nhân dân…

Bước sang năm 2013, với quyết tâm và khí thế mới, chúng ta tin tưởng đất nước ta sẽ đạt được những thành tựu mới về các mặt, trong đó có thành tựu “củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng” theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà Nghị quyết Đại hội XI đã chỉ ra, góp phần làm cho văn hóa nước nhà xứng đáng với vai trò “soi đường cho quốc dân đi” như lời Bác căn dặn, trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập./.

(1): Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1993, tập 3, tr. 342
(2): Hồ Chí Minh: Toàn tập. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2000, tập 5, tr. 94
(3): Hồ Chí Minh: Về đạo đức cách mạng. NXB Sự thật Hà Nội, 1976, tr. 97

TS. Nguyễn Xuân Thông
Nguyên Vụ trưởng Vụ Thư ký Tạp chí Cộng sản

Theo vov.vn
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Sự can thiệp thô bạo khoác áo nhân quyền

Nhân quyền (quyền con người) là giá trị của nền văn minh nhân loại, là thành quả của quá trình đấu tranh gian khổ và lâu dài vì tự do, công bằng, hoà bình và phát triển. 

Tuy nhiên, lĩnh vực quyền con người hiện đang bị một số lực lượng chính trị bá quyền lợi dụng như là một ngọn cờ tập hợp lực lượng hòng can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia độc lập, có chủ quyền. Bởi vậy, quyền con người đang trở thành vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp trong đời sống chính trị quốc tế hiện nay.

Mỹ và một số nước phương Tây lớn tiếng rêu rao ”nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, ”nhân quyền không biên giới”.

Vậy thực chất cái gọi là ”nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, ”nhân quyền không biên giới”… ở đây là gì ?

Đó chính là chiêu bài mà Mỹ và một số nước phương Tây đừng làm cái cớ để ”can thiệp nhân đạo” vào công việc nội bộ các nước có chủ quyền. Dưới ngọn cờ ”nhân quyền”, Mỹ và các nước phương Tây muốn áp đặt ”nhân quyền” mang màu sắc siêu cường của họ lên các nước khác. Nếu không chấp nhận quan niệm giá trị đó họ sẽ tìm mọi cách gây sức ép bằng kinh tế, chính trị, công nghệ… uy hiếp vũ trang, thậm chí, lật đổ hoặc áp đặt bằng vũ lực. Có thể nói, thực chất đó là những hành động của chủ nghĩa thực dân mới ngày nay, núp dưới danh nghĩa bảo vệ ”nhân quyền” của Mỹ và phương Tây.

Trên thực tế, từ năm 1990 đến nay, núp dưới ngọn cờ ”nhân quyền”, Mỹ đã hơn 40 lần sử dụng vũ lực đối với một nước. Đặc biệt, cuối tháng 3 năm 1999, NATO do Mỹ cầm đầu đã phớt lờ luật pháp quốc tế, ngang nhiên bỏ qua Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, oanh tạc Nam Tư – một quốc gia có chủ quyền suốt 78 ngày. Bốn năm sau, (3/2003) một lần nữa, Mỹ- Anh lại bất chấp Liên hợp quốc, tiến công Irắc với cái cớ ”I-rắc có vũ khí huỷ diệt hàng loạt”.

Nếu quả thật nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia, thì phải chăng vì nhân quyền có thể không cần đến chủ quyền ? Và không có chủ quyền quốc gia thì căn cứ vào đâu họ nhân danh quốc gia có ”nhân quyền” can thiệp vào quốc gia ”vi phạm nhân quyền”, căn cứ vào đâu để xác định sự tồn tại của một quốc gia độc lập? Và khi chủ quyền của một quốc gia – dân tộc bị xâm phạm và chà đạp thì nhân quyền của quốc gia dân tộc đó có còn được bảo đảm hay không ? Và thử hỏi, liệu có thể có những vụ ném bom mang tính nhân đạo hay không, nhất là khi nhiều vụ ném bom ”nhầm” vào khu dân cư, phá huỷ bệnh viện, trường học, những công trình dân sinh… giết chết hàng trăm người dân vô tội, khiến bao gia đình tan nát hoặc lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Thử hỏi, những giá trị nhân quyền của Mỹ và các nước phương Tây ở đây là gì ?

Là một dân tộc từng bị chủ nghĩa thực dân cũ và mới xâm lược, áp bức, hơn ai hết chúng ta hiểu sâu sắc rằng khi 1à ”vong quốc nô” thì không thể có nhân quyền, và chỉ khi nào giành được độc lập dân tộc thì mới có được những quyền cơ bản của con người. Một quốc gia không có hoặc chưa có chủ quyền thì không thể nói đến nhân quyền, đến ”quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc”. Ngược lại, nước độc lập mà nhân dân không đủ cơm ăn, áo mặc, không được học hành thì độc lập, tự do cũng chẳng nghĩa lý gì, nền độc lập đó không thể bền vững.

Như vậy, chủ quyền quốc gia và nhân quyền có mối quan hệ biện chứng, làm tiền đề tồn tại và phát triển cho nhau. Chủ quyền quốc gia 1à điều kiện tiên quyết, cơ bản để thực hiện đầy đủ nhân quyền và một khi nhân quyền được thừa nhận và phát triển thì đó là nền tảng của tự do, công bằng và hoà bình. Vì lẽ đó, không thể có cái gọi là ”nhân quyền cao hơn chủ quyền”.

Đã từ lâu, Mỹ đã theo đuổi và sử dụng ngoại giao nhân quyền như là một chính sách cơ bản trong chiến lược ”diễn biến hoà bình” nhằm chống phá các nước XHCN, trong đó có Việt Nam. Sau thất bại ở Việt Nam, Mỹ càng đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện chính sách ngoại giao nhân quyền để chống phá nước ta. Ngày 19/10/1982, Bộ Ngoại giao Mỹ tổ chức Hội nghị ”Lên án sự vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam”. Tháng 12/1983, Bộ Ngoại giao Mỹ trình Quốc hội Mỹ rằng, Việt Nam là một nước không có nhân quyền. Ngày 8/12/1991, Quốc hội Mỹ lên tiếng phản đối Việt Nam vi phạm nhân quyền. Ngày 6/9/2001, Hạ viện Mỹ thông qua Dự luật nhân quyền Việt Nam (VHRA), nhưng không được Thượng viện Mỹ thông qua. Đặc biệt, ngày 15/7/2003,Hạ viện Mỹ đã thông qua điều khoản bổ sung cho Dự luật chi tiêu đối ngoại của Bộ ngoại giao Mỹ trong năm tài chính 2004-2005 (HR. 1950), gắn các điều kiện về nhân quyền với viện trợ không liên quan đến mục đích nhân đạo cho Việt Nam.

Sau gần một tuần thảo luận từ 14/7 đến 19/7/2004, Hạ Nghị viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu với 232 phiếu thuận, 45 phiếu chống, 65 không bỏ phiếu, thông qua cái gọi là luật Nhân quyền Việt Nam năm 2004 mang số hiệu H.R.1587.
Cái gọi là ”Luật Nhân quyền Việt Nam” năm 2004 hay còn gọi là hồ sơ H.R.1587 gồm 3 chương, trong đó liệt kê 10 điều xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, áp đạt điều kiện vô lý cho việc cải thiện quan hệ hữu nghị và hợp tác đang trên đà phát triển theo chiều hướng thuận giữaViệt Nam và Hoa Kỳ. Tệ hại hơn, dự luật này còn đề nghị dành một quỹ đặc biệt để khuyến khích việc gây ra tình hình bất ổn về chính trị ở Việt Nam.

Mỹ tự cho mình cái quyền phán xét tình hình nhân quyền của các nước khác, trong khi chính Mỹ đang bị dư luận chỉ trích vì vi phạm nhân quyền và bị các nước đồng loạt gạt khỏi Ủy ban nhân quyền của Liên hiệp quốc trong cuộc bỏ phiếu tại Hội đồng kinh tế-xã hội (ECOSOC) (3/5/2001). Điều mỉa mai là nước luôn đòi ”can thiệp nhân đạo” vào công việc nội bộ của các nước khác để giải quyết vấn đề nhân quyền, thì chính họ lại vi phạm nhân quyền nhiều nhất. Ngày 1/3/2004, Văn phòng Quốc Vụ viện Trung Quốc đã công bố báo cáo “Về quyền con người ở Mỹ năm 2003”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh, sau sự kiện ngày 11/9, dưới chiêu bài chống khủng bố, chính phủ Mỹ đã ra hàng loạt đạo luật vi phạm quyền và sự tự do của công dân.

Ở Mỹ hiện có không ít người không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản của con người và quyền sống của con người bị đe dọa bởi chính sách bóc lột, đàn áp, bởi tệ phân biệt chủng tộc, bởi bạo lực tràn lan và các tệ nạn xã hội. Các số liệu thống kê cho thấy, năm 2002 số người không có chỗ ở của Mỹ đã vượt quá con số 3 triệu, những người giàu chỉ chiếm 1% dân số lại nắm trong tay tổng số tài sản vượt quá tổng tài sản của 40% dân số, có đến 21.500 nhóm mafia với 731.000 thành viên, có khoảng 200 triệu cây súng đang lưu hành trong dân, 11,9 triệu vụ án giết người, hiếp dâm, cướp bóc. Gần đây, nhiều vụ việc cảnh sát hành hung người da đen ngay trên đường phố mà không bị xét xử nghiêm minh, cho thấy sự phân biệt chủng tộc vẫn còn nặng nề. Trong tháng 4,5 vừa qua, trên phương tiện thông tin đại chúng đang rộ lên hình ảnh lính Mỹ ngược đãi tù binh I-rắc đang làm hoen ố hình ảnh nước Mỹ và đương kim Tổng thống Buts. Về điều này, ông uỷ viên Hội đồng thành phố New York – Wenden Photxto, đã phải thừa nhận rằng, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là đặc trưng của nền pháp lý Mỹ. Nó là bệnh ung thư đang tàn phá chúng ta. Hãy dẹp bỏ câu chuyện hoang đường rằng nước Mỹ là xứ sở của nhân quyền và tự do.

Ở Việt Nam, đảm bảo và phát triển quyền con người đã là một mục tiêu chính trị chủ đạo và nhất quán trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Đường lối nhất quán và xuyên suốt từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến sự nghiệp đổi mới đất nước và tất cả vì sự nghiệp giải phóng con người, vì quyền con người đích thực. Đường lối này là kết tinh những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quyền con người. Không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận như là một tuyên ngôn chính trị, quyền con người đã và đang được thể chế hoá và hiện thực hóa trong đời sống thực tiễn ở Việt Nam, nhất là trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.

Cho đến nay, chúng ta đã có được một hệ thống văn bản pháp luật tương đối toàn diện về bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Cùng với việc khẳng định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2, Hiếnpháp năm 1992 đã được sửa đổi năm 2001), Hiến pháp còn xác định cách thức thực hiện quyền làm chủ trên thực tế. ”Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân” (Điều 53). Hiến pháp còn quy định những quyền công dân hết sức cụ thể: quyền bầu cử và ứng cử, quyền miễn nhiệm đối với đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, quyền khiếu nại, tố cáo, các quyền tự do về báo chí, ngôn luận, hội họp, lập hội…

Bên cạnh đó, công tác thông tin cho cử tri về hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là truyền hình trực tiếp (hoặc truyền thanh) về các phiên họp của cơ quan dân cử; công tác tiếp xúc cử tri; việc tổ chức các đợt góp ý kiến của nhân dân về các dự án luật; việc ban hành và đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở… là những tiền đề hết sức quan trọng trong việc đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, trong việc xây dựng nền dân chủ XHCN.

Đảm bảo và phát huy quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân sẽ làm tăng khả năng hiện thực của việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, trình độ phát triển kinh tế, những điều kiện sinh hoạt vật chất luôn là nền tảng và mang tính quyết định đối với việc hiện thực hoá và mở rộng các quyền con người, quyền công dân. Thực tế hơn 17 năm đổi mới vừa qua cho thấy, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến phát triển kinh tế và xem đây là nhiệm vụ trung tâm. Việc thừa nhận và thể chế hoá trong Hiến pháp 6 thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay chính là sự tôn trọng và khuyến khích những người có năng lực và điều kiện tham gia phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng.

Bên cạnh chú trọng nâng cao đời sống vật chất, Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm chăm lo đời sống tinh thần của nhân dân, đặc biệt là trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Những năm qua, nhiều lễ hội và ngày lễ lớn của các tôn giáo, các kỳ đại hội và hoạt động lớn của các tôn giáo được tổ chức trọng thể ở mọi miền của Tổ quốc trong không khí trang nghiêm, an toàn, thu hút hàng vạn tín đồ tham gia.

Thống kê cho thấy: ở Việt Nam hiện có khoảng 10 trường đại học tôn với hàng ngàn tăng ni sinh, chủng sinh, sinh viên đang theo học.

Hầu hết các cơ sở thờ tự của tôn giáo đều được xây dựng, duy tu, bảo dưỡng…

Nhìn tổng quát, những nỗ lực và thành tựu cơ bản trên đây có tính chất nền tảng và bao trùm trên tất cả những lĩnh vực chủ yếu về quyền con người như: chính trị, dân sự, kinh tế-xã hội, văn hoá ở Việt Nam hiện nay.

Điều đó, một mặt, chứng minh sự quan tâm đặc biệt và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo các quyền con người, quyền công dân, nhưng mặt khác, khẳng định tính tôn trọng và tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế về quyền người mà Nhà nước Việt Nam đã tham gia ký kết, phê chuẩn. Đồng thời, chính thực tiễn đầy sức thuyết phục đó đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt vu cáo trong vấn đề nhân quyền của các thế lực thù địch.

(Theo Võ Công Khôi
Phân viện Đà Nẵng
Tạp chí Tư tưởng-Văn hóa, tháng 8/2004)

cpv.org.vn

Sự sai trái của quan điểm “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”

“Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, ”Nhân quyền không biên giới”, ”Chủ quyền hạn chế”, ”Can thiệp nhân đạo”… là những cách diễn đạt khác nhau của cùng một tư tưởng lý luận và ý đồ chính trị của các thế lực cực hữu phương Tây dùng dân chủ, nhân quyền làm công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước XHCN và các quốc gia đi theo con đường độc lập dân tộc.

Để bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, chúng ta cần phân tích luận điểm này một cách có hệ thống trên cả hai bình diện: tư tưởng chính trị và pháp lý quốc tế.

Xét về tư tưởng chính trị, quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Tất cả các quốc gia dân tộc đều có những đóng góp vào giá trị đó. Quyền con người là thành quả của các cuộc đấu tranh: đấu tranh giai cấp, chống áp bức, bóc lột; đấu tranh giành độc lập dân tộc và đấu tranh chống lại sự suy thoái về đạo đức, lối sống, hướng đến sự hoàn thiện phẩm giá con người. Với chúng ta, bảo đảm quyền con người chân chính thuộc bản chất của chế độ xã hội XHCN của Đảng và của Nhà nước ta.

Nói đến ”quyền” là nói đến pháp luật. Nói đến pháp luật không thể không nói tới vai trò của Nhà nước.

Là một dân tộc có bề dày lịch sử và một nền văn hiến rực rỡ, có truyền thống nhân đạo, bảo vệ con người, vào thế kỷ XI, dưới thời nhà Lý, chúng ta đã có “Bộ luật hình”. Trong đó đã có nhiều điều bảo vệ quyền con người – tất nhiên còn nhiều hạn chế bởi các điều kiện kinh tế và quan điểm giai cấp. Vào thời nhà Lê, thế kỷ XV, chúng ta có bộ luật ”Quốc triều hình luật”, còn gọi là bộ luật “Hồng Đức”. Bộ luật có tới 712 điều, trong đó không chỉ chứa đựng những quy phạm xã hội tiến bộ mà còn thể hiện những tư tưởng nhân đạo, nhân quyền sâu sắc như bảo vệ quyền của bị can, bị cáo, tư tưởng về bình đẳng trước pháp luật, về quyền của phụ nữ, về sự khoan dung đối với người già và người chưa thành niên…

Như vậy, có thể nói, trong xã hội nô lệ, phong kiến tuy chưa có chế định quyền con người, nhưng đã có những chế định pháp luật có nội dung bảo vệ con người.

Chủ nghĩa Mác- Lênin đã đặt quyền con người vào trong tiến trình lịch sử, rằng, những quyền đó gắn liền với Nhà nước và pháp luật. Quyền con người, do đó không thể không in dấu ấn giai cấp, nhất là khi vận dụng nó trong cuộc đấu tranh giai cấp cũng như đấu tranh giành độc lập dân tộc. Quyền con người đã từng là vũ khí đấu tranh của giai cấp tư sản nhằm lật đổ sự thống trị bởi vương quyền, thần quyền và dùng để củng cố địa vị thống trị của mình.

Xét trên phương diện pháp lý quốc tế trước khi tổ chức Liên hợp quốc ra đời, quyền con người chỉ tồn tại trong Luật Hiến pháp, có nghĩa chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong phạm vi nội bộ của mỗi quốc gia. Từ khi Liên hợp quốc thành lập (1945) cùng với Hiến chương Liên hợp quốc và các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người ra đời, quyền con người đã trở thành một chế định trong Luật quốc tế. Từ đây, quyền con người được bảo đảm bởi cả hai cơ chế, cơ chế quốc gia và cơ chế quốc tế. Đây chính là cơ sở lịch sử – chính trị của luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền”.

Cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người gồm những yếu tố sau:

– Hệ thống các cơ quan bảo vệ quyền con người của Liên hợp quốc bao gồm: Đại hội Đồng Liên hợp quốc; Hội đồng kinh tế – xã hội, Ủy ban nhân quyền, Cao ủy nhân quyền, các ủy ban nhân quyền của một số công ước… Hội đồng Bảo an cũng có vai trò quan trọng, là tổ chức ra quyết định có can thiệp bằng quân sự khi xuất hiện tình trạng vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, phổ biến ở một quốc gia nào đó không?

– Cùng với sự ra đời hệ thống các cơ quan nhân quyền là hệ thống các văn kiện pháp lý về quyền con người, đó là Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, các công ước quốc tế về quyền con người, đặc biệt là hai công ước – Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966). Ngày nay, giới lý luận xem Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và hai công ước trên là ”Bộ luật quốc tế về quyền con người”.

Bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” cần phân tích mối quan hệ giữa độc lập dân tộc, quyền dân tộc tự quyết với cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người.

V.I.Lênin đã đề cập tới quyền dân tộc tự quyết trên tinh thần cách mạng và khoa học. Người nói:

”Quyền dân tộc tự quyết có nghĩa là sự phân lập của các dân tộc đó, với tư cách là quốc gia, ra khỏi tập thể các dân tộc khác, có nghĩa là sự thành lập một quốc gia dân tộc độc lập”. Người còn nhấn mạnh, quan điểm của chủ nghĩa xã hội đối với các dân tộc bị áp bức là: ”Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải lập nên chế độ dân chủ hoàn toàn và do đó, không những làm cho các dân tộc hoàn toàn bình đẳng với nhau, mà còn thực hành quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức”. Thực tiễn lịch sử ghi nhận, nhà nước Xô-viết đã giành quyền dân tộc tự quyết cho các dân tộc chung sống trong Liên bang cộng hòa XHCN Xô-viết bao gồm cả quyền tách khỏi Liên bang như trưởng hợp Phần Lan.

Tiếp nối và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin về quyền dân tộc tự quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong “Tuyên ngôn độc lập”, không chỉ nói đến ”quyền phân lập” với ”mẫu quốc” mà nhấn mạnh đến quyền đấu tranh giành độc lập dân tộc, đồng thời khẳng định dân tộc Việt Nam có đủ điều kiện và quyết tâm bảo vệ nền độc lập đó. Điều đó có nghĩa, Việt Nam không cần đến cái gọi là ”chế độ quản thác” của bất cứ ai, kể cả Liên hợp quốc.

Sau “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam 15 năm, vào những năm 60 của thế kỷ XX, cộng đồng quốc tế mới chính thức thừa nhận quyền dân tộc tự quyết trong “Văn kiện Tuyên ngôn về trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa”. Điều này còn được khẳng định lại trong hai công ước: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966.

Với hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966, Tuyên bố Viên và Chương trình hành động, 1993, quyền dân tộc tự quyết chẳng những được khẳng định trong Luật quốc tế nói chung mà còn là quyền tập thể trong hệ thống quyền con người. Các văn kiện nói trên còn lưu ý rằng, việc bảo đảm các quyền con người trước hết thuộc trách nhiệm của các quốc gia.

Như vậy là luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” trên phương diện Luật quốc tế, không có căn cứ bởi vì chủ thể của Luật quốc tế là các quốc gia, chứ không phải là các cá nhân. Không phủ nhận rằng, trong Luật quốc tế về quyền con người, tư cách pháp lý của cá nhân cũng có thể được xác lập với điều kiện có sự cam kết của các chính phủ tham gia Nghị định thư không bắt buộc thứ nhất. Song, cho đến nay, Việt Nam và nhiều quốc gia chưa thừa nhận Nghị định thư này. Xét về nội dung việc bảo đảm các quyền con người ở mỗi quốc gia theo Công ước quốc tế còn phải căn cứ vào các điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi nước. Pháp luật quốc tế không cho phép bất cứ quốc gia nào hay tổ chức quốc tế nào được phép can thiệp vào vấn đề nhân quyền của mỗi nước. Những mâu thuẫn hoặc khác biệt nào đó giữa các quốc gia trên lĩnh vực này chỉ có thể được giải quyết trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và đối thoại xây dựng.

Nhằm ngăn chặn ý đồ thông qua vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia cũng như việc áp đặt hệ tư tưởng tư sản, đại diện của Liên Xô đã bác bỏ những đề xuất ban đầu của Tiểu ban soạn thảo Tuyên ngôn ở một số điểm sau:

Thứ nhất, bác bỏ khái niệm ”Công ước” quốc tế về quyền con người mà thực chất là Bộ luật quốc tế về quyền con người Nói cách khác là bác bỏ tính ràng buộc về mặt pháp lý của Văn kiện này. Cuối cùng các thành viên đã nhất trí tính chất của văn bản là ”Tuyên ngôn”, một văn kiện không ràng buộc về mặt pháp lý.

Thứ hai, bác bỏ tư cách cá nhân của các thành viên tham gia Tiểu ban soạn thảo, thay vào đó là tư cách đại diện của mỗi quốc gia.

Thứ ba, mặc dù không đưa ra nguyên tắc đa số hay đồng thuận, song trên thực tế, nguyên tắc đồng thuận là nguyên tắc làm việc của Tiểu ban (vì lúc đó trong Tiểu ban chỉ có một đại diện của Nhà nước XHCN – đó là Liên Xô).

Thứ tư, về nội dung các quyền, đại diện Nhà nước Xô-viết bác bỏ quan điểm tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và quyền tự do cá nhân… thay vào đó là sự bảo đảm hài hòa giữa các quyền dân sự, chính trị với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa… Tuy nhiên, văn kiện này đã để ”ngỏ” vấn đề chủ quyền quốc gia.

Mặc dù còn một số hạn chế, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người vẫn là một Văn kiện chứa đựng những tư tưởng lớn, tiến bộ, có giá trị bền vững trên lĩnh vực quyền con người. Hiện nay, cùng với Hiến chương Liên hợp quốc, Văn kiện này được tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, mặc nhiên thừa nhận và xem đó như một Văn kiện mang tính đạo lý và có tính pháp lý mà các quốc gia cần phải tôn trọng.

Vào thập kỷ 60, thế kỷ XX do phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã thu được những thành tựu to lớn, chủ nghĩa đế quốc không thể phát động chiến tranh xâm lược, Hoa Kỳ đã đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình đối với các nước XHCN. Ngoại giao nhân quyền được xem là phương thức quan trọng của chiến lược đó.

Luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” là một trong những nội dung cơ bản của cuốn sách “Ngoại giao nhân quyền” do D.Niu sơn viết và xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1966. Các lực lượng cầm quyền Hoa Kỳ cho rằng, hệ tư tưởng tư sản với tự do, dân chủ nhân quyền là thế mạnh của họ. Hoa Kỳ có thể giành được ưu thế chính trị nếu biết dựa trên quan niệm dân chủ, nhân quyền trong hoạt động đối ngoại.

Chính sách ngoại giao nhân quyền của Hoa Kỳ lấy quan niệm dân chủ, nhân quyền của họ ”làm nền tảng”. Tùy theo tương quan lực lượng và điều kiện khách quan, chủ quan mà họ đề cập tới vấn đề nhân quyền với quốc gia nào và ở mức độ nào. Đôi khi Hoa Kỳ đặt vấn đề nhân quyền là điều kiện tiên quyết để thiết lập và duy trì quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, bản chất ngoại giao nhân quyền là dùng khái niệm dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Trên lĩnh vực tư tưởng, ngoại giao nhân quyền hướng vào phê phán, bài bác các quan điểm nhân quyền mác-xít, truyền bá quan điểm nhân quyền tư sản nhằm làm biến đổi ý thức hệ Mác-Lênin từ đó làm thay đổi tận gốc chế độ xã hội XHCN ở các quốc gia, áp đặt một xã hội theo ”hình ảnh” của họ.

Trong chiến lược ”diễn biến hòa bình”, ngoại giao nhân quyền là một vũ khí lợi hại của chủ nghĩa đế quốc. Vào những năm 1918 – 1922, khi nước Nga Xô-viết vừa ra đời, đứng giữa vòng vây và cuộc can thiệp quân sự của nhiều nước đế quốc nhưng nước Nga Xô-viết vẫn tồn tại và phát triển. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồng quân Liên Xô là lực lượng chủ yếu đánh bại chủ nghĩa phát xít, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, đồng thời còn góp phần giải phóng cho nhiều dân tộc khác. Thế nhưng, với chiến lược truyền bá tư tưởng ”dân chủ”, ”công khai”, ”đa nguyên, đa đảng”, ”nhân quyền”… các thế lực đế quốc đã làm sụp đổ ý thức hệ Mác-Lênin ở Liên Xô, Đông Âu. Đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ một bộ phận quan trọng của hệ thống XHCN vào những năm 1989 – 1991.

Sau khi Liên Xô tan rã, các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, đế quốc Mỹ thúc đẩy chiến lược ”diễn biến hòa bình” và ngoại giao nhân quyền, sử dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Năm 1991, Hoa Kỳ dùng quân sự can thiệp vào cuộc chiến tranh Irắc – Côoét. Năm 1999, Hoa Kỳ và NATO kiếm cớ bảo vệ nhân quyền của người An-ba-ni xâm lược Nam Tư. Năm 2001 , họ xâm lược Áp-ga-ni-xtan và năm 2003 họ xâm lược I-rắc cùng với những lý do dân chủ, nhân quyền.

Đối với Việt Nam, sau khi buộc phải rút quân, Hoa Kỳ đã áp dụng nhiều chiến lược phá hoại, từ các ”kế hoạch hậu chiến”, nuôi dưỡng những phần tử có hận thù với cách mạng, xây dựng lực lượng chính trị, quân sự trong nước và ngoài nước… đến việc đưa biệt kích xâm nhập nội địa, mưu toan gây bạo động chính trị, vực dậy lực lượng phản động trong nước… nhưng họ đã bị thất bại. Trong mục tiêu chiến lược đánh đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kịch bản ”diễn biến hòa bình”, dựa trên lợi dụng dân chủ, nhân quyền như đã từng diễn ra ở Liên Xô, Đông Âu (1989 – 1991) được xem là phương thức chủ yếu, là điều mong muốn nhất của họ.

Khác với các giai đoạn trước đây, điểm mới trong chiến lược ”diễn biến hòa bình” cũng là điểm mới trong việc sử dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” của Hoa Kỳ là song song với việc truyền bá hệ tư tưởng tư sản, lối sống, văn hóa là áp đặt pháp lý đơn phương nhằm gây khó khăn, từng bước làm biến đổi chế độ xã hội ta.

Liên tiếp từ năm 2001 đến nay, không kể Báo cáo nhân quyền hàng năm, lực lượng cực hữu Hoa Kỳ đã áp đặt nhiều Dự luật đối với Việt Nam, mở đầu là ”Đạo luật nhân quyền Việt Nam”, HR2368, tiếp đó là Hạ viện bang Viếc-gi-ni-a thông qua đạo luật cho phép công sở treo cờ ba sọc của ngụy quyền Sài Gòn, rồi đến ”Dự luật thúc đẩy tự do thông tin 1019”, ”Dự luật nhân quyền Việt Nam 2003”, HR1587 và ”Một số khoản bổ sung Dự luật chi đối ngoại của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ năm 2004 – 2005”, HRI950 – trong đó, họ đòi Việt Nam phải phóng thích tất cả tù nhân ”chính trị và tôn giáo” và yêu cầu Chính phủ Mỹ cung cấp tài chính cho đài phát thanh châu Á tự do, cho lực lượng ”đấu tranh” dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam…

Có thể nói về chiến lược của chủ nghĩa đế quốc hiện nay là lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, lợi dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” để can thiệp vào vấn đề dân tộc, tôn giáo, phá hoại đại đoàn kết toàn dân tộc làm trọng tâm; lấy việc xây dựng tổ chức, tạo dựng ngọn cờ và gây bạo loạn chính trị, tạo cớ móc nối với các thế lực bên ngoài làm khâu đột phá.

Ảo tưởng thành lập ”Nhà nước Đêga độc lập” ở Tây Nguyên, ”Nhà nước Khmer Rôm” ở Tây Nam Bộ; ”Vương quốc H’mông tự trị” ở Tây Bắc; ”Vương quốc Chăm” ở Nam Trung Bộ cùng với mưu đồ xây dựng các tổ chức chính trị đội lốt tôn giáo phi pháp như ”Tin Lành Đêga”, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, ”Ủy ban liên tôn đấu tranh vì tự do tôn giáo”… là những kịch bản đầy tham vọng của họ.

Bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” trong bối cảnh chính trị quốc tế hiện nay, chúng ta cần nhận thức đầy đủ, toàn diện về mục tiêu, chiến lược cách mạng của Đảng, về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời chúng ta cần nắm chắc đặc điểm của tình hình quốc tế liên quan đến cuộc đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người.

Như trên đã trình bày, đặc điểm của tình hình quốc tế liên quan tới quyền con người hiện nay đó là sự hình thành cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người với hệ thống các cơ quan nhân quyền rộng lớn có sự tham gia (ở những mức độ khác nhau) của các thành viên Liên hợp quốc. Hiện nay, Việt Nam đang là một thành viên tích cực. Chúng ta đã tham gia Ủy ban nhân quyền và đang tiếp tục ứng cử làm thành viên ủy ban này trong nhiệm kỳ tới. Các chuẩn mực cơ bản về quyền con người, được xem như Bộ luật quốc tế đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

Ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ đã hình thành tổ chức nhân quyền khu vực bao gồm cả Tòa án Nhân quyền. Nhân quyền đang trở thành mối quan tâm chung của cả cộng đồng quốc tế.

Trong điều kiện cơ chế quốc tế đã hình thành, hiện nay, giải quyết những vấn đề nhân quyền chúng ta cần phải tính đến các nhân tố quốc tế. Cuộc đấu tranh chống ”diễn biến hòa bình” nói chung, đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ nhân quyền là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Cuộc đấu tranh này cần phải phục vụ cho mục tiêu nhiệm vụ của chiến lược cách mạng hiện nay: xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế, văn hóa đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế, bảo vệ quốc gia và an ninh xã hội.

Trong khi kiên quyết và kiên trì cuộc đấu tranh chống ”diễn biến hòa bình”, bảo vệ vững chắc hệ tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh bảo vệ vững chắc chế độ chính trị, an ninh quốc gia, chúng ta cần phải chống lại âm mưu và thủ đoạn bôi nhọ, hạ thấp hình tượng cao đẹp của Việt Nam đã hình thành trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc. Chúng ta có thể và cần phải đấu tranh chống lại âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền cô lập Việt Nam, cản trở và ngăn chặn Việt Nam hội nhập với cộng đồng quốc tế.

Để giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, chúng ta phải chủ động; hợp tác trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, đối thoại bình đẳng. . . Đồng thời, giải quyết ngày càng tốt hơn các quyền công dân và quyền con người cho người đần; xử lý kiên quyết đối với những phần tử cơ hội, phản động trong nước và đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thể lực thù địch nước ngoài./.

Theo Cao Nguyên, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận tháng 5/2005
cpv.org.vn

Những hình ảnh lịch sử về đại thắng mùa xuân năm 1975

Đã 38 năm trôi qua kể từ ngày đại thẳng mùa Xuân năm 1975 nhưng mỗi khi đến dịp kỷ niệm chiến thắng lịch sử này cả dân tộc ta vẫn luôn luôn ghi nhớ về chiến thắng huyền thoại ấy. Chiến thắng này đã đem lại hòa bình, thống nhất đất nước, đã đem những người con thân yêu từ chiến trận chở về với gia đình, làng mạc… và toàn dân được sống trong hòa bình độc lập để từ đó đi lên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa như Bác chúng ta hằng mong ước. Nhân dịp cả nước đang long trọng chào mừng kỷ niệm 38 năm Đại thắng mùa Xuân Năm 1975, chúng ta hãy cũng nhau xem lại những bức hình lịch sử khi quân giải phóng ta tiến vào Sài Gòn, đánh thẳng vào cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, ghi lại thời khác chiến thắng anh hùng của dân tộc ta.

mN1
Tờ lịch lịch sử của Đại tướng Văn Tiến Dũng khi nghe tin giải phóng Sài Gòn

mN2
Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh

mN3
Chuyển vũ khí vào nội thành Sài Gòn chuẩn bị cho Tổng tấn công

mN4
Nữ du kích Trung Kiên dẫn đường cho bội đội vào Sài Gòn

mN5
Đặc công giải phóng trên đường vào Sài Gòn

mN6
Đánh sân bay Tân Sơn Nhất

mN7
Bão thép của quân giải phóng

mN8

Chiếm Bộ Tư Lệnh Cảnh sát quốc gia ngụy

mN9
Hai xe tăng, 390 và 843 đang tiến thẳng vào Dinh Độc Lập 

mN10
Xe tăng đang tiên vào Dinh Độc Lập trên đường Thống Nhất 

mN11
Xe tăng 390

mN12
Đoàn xe của Đại tá Bùi Văn Tùng đang tiến vào Dinh Độc lập

mN14Bộ đội giải phóng trong Dinh Độc Lập

mN15
Các chiến sĩ giải phóng vẫy tay chào nhân dân Sài Gòn

mN16
Dương Văn Minh (mặc áo đen, đeo kính) chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại
Đài Phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975.

mN17

Bút tích đầu hàng của Tống thống Ngụy Dương Văn Minh

mn18

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Lính đặc công vào Dinh Độc Lập

Mái tóc bạc phơ, đôi mắt tinh anh và giọng nói cuốn hút người nghe – đó là ấn tượng đầu tiên với chúng tôi khi gặp Đại tá Lê Bá Ước, nguyên Chính ủy Sư đoàn 2 Đặc công đã tham gia đánh chiếm Dinh Độc Lập trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. Gần 4 thập niên trôi qua, nhưng cứ vào dịp kỷ niệm ngày toàn thắng, ký ức về trận đánh cuối cùng ấy lại hiện về nguyên vẹn trong ông với bao cảm xúc…

Đại tá Lê Bá Ước sinh năm 1931, tại Rạch Giá, Kiên Giang, tham gia kháng chiến năm 1945. Ông từng là Chính ủy kiêm Đoàn trưởng Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác vang tiếng một thời. Do yêu cầu nhiệm vụ giải phóng Sài Gòn, đầu năm 1974 Sư đoàn 2 Đặc công được thành lập. Trung tá Lê Bá Ước lúc đó được bổ nhiệm làm Chính ủy sư đoàn. Ông Ước kể:

– Ngay sau khi thành lập với 7 Trung đoàn, chúng tôi nhận lệnh phối hợp với Quân đoàn 4 đang đánh địch ở Mặt trận Long Khánh. Sư đoàn chia thành 6 mũi thọc sâu áp sát vùng ven Sài Gòn – Gia Định. Với phương châm “vùng ven là nhà; kho tàng, bến cảng, sân bay là trận địa; Sài Gòn – Gia Định là quyết chiến điểm”, cuối năm 1974 chúng tôi đã phá hủy hơn 500 đồn, bốt, phân khu của địch. Sau đó, lệnh của Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam yêu cầu Sư đoàn phải phá cho được 20 cây cầu có ý nghĩa chiến lược bao quanh Sài Gòn để cắt đường tiến, thoái của quân địch. Toàn Sư đoàn đã sẵn sàng cho nhiệm vụ mới.

linh-dac-cong-aĐại tá Lê Bá Ước kể lại trận đánh cuối cùng

– Phá hủy 20 cây cầu? Cháu tìm hiểu trong sử liệu thì không thấy nói đến chi tiết này? – Tôi ngạc nhiên hỏi. Đại tá Lê Bá Ước mỉm cười, giải thích:

– Đó là kế hoạch đầu năm 1975. Nhưng khi toàn Sư đoàn đang triển khai phương án phối hợp với Quân đoàn 4 thì có lệnh khẩn cấp của Trung ương Cục miền Nam dừng kế hoạch và triệu tập tôi về trụ sở Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 ở Biên Hòa để nhận nhiệm vụ mới. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Quân đoàn chỉ thị cho sư đoàn đánh chiếm từ sông Buông, cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc đến cầu Sài Gòn bảo đảm cho quân đoàn đột phá vào Dinh Độc Lập; đồng thời, chiếm giữ bến phà Cát Lái, sông Lòng Tàu, giữ chắc và bảo vệ những cây cầu huyết mạch tạo điều kiện cho các đơn vị của ta tiến công vào nội đô. Hoàn thành nhiệm vụ cơ động lực lượng về Dinh Độc Lập. Vậy là, từ nhiệm vụ phá cầu chúng tôi chuyển sang bảo vệ cầu.

Thực hiện kế hoạch được giao, Sư đoàn 2 chia thành hai cánh quân. Cánh quân hướngĐông do Phó Sư đoàn trưởng Tống Viết Dương và Chính ủy Lê Bá Ước chỉ huy. Khoảng 20 giờ ngày 26-4-1975, Trung đoàn 116 thuộc cánh quân hướng đông đánh chiếm, chốt giữ cầu Đồng Nai và án ngữ khu vực xã Long Hưng, An Hòa, Bến Gỗ. Suốt hai ngày đêm chốt giữ cầu, các chiến sĩ đặc công phải căng mình đối phó với nhiều đợt phản kích quyết liệt của địch bằng cả phi pháo và xe tăng. Trong khi đó lương thực của bộ đội ta mang theo cũng cạn dần. Nhiều chiến sĩ phải nhịn đói nhưng vẫn quyết không rời mục tiêu, bám trụ đến cùng. Vị cựu Chính ủy Sư đoàn 2 nhớ lại:

– Ngày 29-4, địch phá sập cầu sông Buông ngăn chặn xe tăng của ta tiến công, buộc Lữ đoàn xe tăng 203 phải khắc phục khó khăn tiến dần theo Quốc lộ 15 đến Bến Gỗ, vừa chạy vừa bắn quét ra hai bên đường, vào cả đội hình của Trung đoàn 116 đang chốt giữ. Hai đơn vị không nhận ra nhau vì trời còn tối không nhìn rõ màu cờ. Tại ngã ba Bến Gỗ, các chiến sĩ đặc công canh gác hô mật khẩu “Hồ Chí Minh”, đúng ra phải đáp “Muôn năm” nhưng do anh em đơn vị tăng nhớ nhầm mật khẩu ở trận Bình Thuận nên đáp “19 tháng 5”. Lập tức, tổ B40 của đặc công bắn liền hai phát, may mà không trúng. Thấy không yên tâm, chiến sĩ chốt giữ hỏi lại mật khẩu lần nữa thì đơn vị tăng đáp đúng “Muôn năm”. Lúc này, hai bên mừng rỡ nhảy ra khỏi công sự, xuống xe tăng ôm chầm lấy nhau trong niềm vui khôn xiết.

– Lữ đoàn tăng mà cơ động không có bộ binh đi cùng hả bác? – Tôi băn khoăn hỏi. Đại tá Lê Bá Ước nhìn tôi, gật gù:

– Thực tế chiến đấu khác xa lý thuyết. Lữ đoàn 203 nhận lệnh trong đêm 29 phải tiến sát Dinh Độc Lập, nhưng bộ binh gặp trở ngại chưa đến kịp, mà đường nội thành thì anh em lính tăng không ai thông thuộc. Bởi thế, Phó Sư đoàn trưởng Tống Viết Dương mới nảy ra sáng kiến, thống nhất với chỉ huy Lữ đoàn xe tăng 203 đưa toàn bộ lực lượng đặc công tạm thời thay thế bộ binh tiến quân lên Sài Gòn, chỉ để lại một đại đội đặc công thủy chốt cầu đề phòng địch phá hủy. Phương án ấy hết sức sáng tạo, lợi cho cả hai đơn vị và bảo đảm kịp thời gian thực hiện nhiệm vụ nên tôi tán thành ngay. Nhờ đó mà kế hoạch tác chiến vẫn được triển khai đúng ý định.

linh-dac-cong-bCCB Lê Bá Ước (hàng đầu, thứ tư từ trái sang) trong một buổi giao lưu truyền thống với sinh viên Trường Đại học KHXH&NV TP Hồ Chí Minh

8 giờ 30 phút ngày 30-4, đội hình của hai đơn vị đã tới Thủ Đức. Bọn địch cố thủ ở trường võ bị bắn ra xối xả. Chỉ huy đơn vị lệnh cho phân đội tăng đi đầu vòng theo hướng khác, phân đội tăng phía sau tạt xuống mép ruộng, cơ động đánh lướt sườn khu vực trường võ bị; đặc công phối hợp với dân quân du kích địa phương xã Tăng Nhơn Phú vây ép tiêu diệt quân địch. Chỉ trong 30 phút bọn địch hoảng loạn rút chạy. Nhớ lại cái ngày lịch sử ấy, Đại tá Lê Bá Ước không giấu nổi niềm vui:

– Khoảng hơn 10 giờ ngày 30-4, bộ đội đặc công và lực lượng tăng, thiết giáp đã đến gần hồ An Phú. Bọn địch cố thủ ở đây bắn ra quyết liệt. Lập tức, anh Năm Dương hội ý chớp nhoáng với tôi, rồi hạ lệnh tiêu diệt tàn quân. Đội hình chiến đấu được triển khai nhanh chóng. Giữ thế áp đảo, Trung đoàn 116 bí mật áp sát mục tiêu, bắt sống một số tên khai thác tình hình. Xe tăng của ta nã đạn vào căn cứ, bắn cháy một xe tăng M48 của địch khiến tinh thần bọn chúng càng hoang mang. Đúng lúc đó 2 chiếc máy bay A37 bất ngờ bay tới, trút 2 loạt bom hòng phá sập cầu xa lộ và chặn đường tiến của xe tăng, pháo binh ta. Cũng may, do chúng lo sợ bị pháo phòng không bắn cháy nên vội vã cắt bom chệch mục tiêu, bom rơi vào nhà dân. Cầu xa lộ vẫn được giữ vững. Bỏ qua không truy kích tụi tàn quân, đội hình của sư đoàn tiếp tục vượt cầu Thị Nghè, đến đường Nguyễn Bỉnh Khiêm rẽ trái, rồi chạy thẳng tới Dinh Độc Lập. Ngồi trên xe tăng thứ 6, chúng tôi đã nhìn thấy xe tăng đi đầu mang số hiệu 390 húc đổ cánh cổng sắt tràn vào trong. Bọn lính bảo vệ chạy tán loạn. Anh Năm Dương hạ lệnh cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 116 tổ chức vây bắt số lính bảo vệ. Chừng 15 phút sau, anh em đặc công đã túm được 30 tên gom lại gần bãi cỏ phía trước dinh. Bên ngoài, các cánh quân của ta ầm ầm như vũ bão tiến vào nội đô, khí thế ngút trời. Bộ đội đặc công tỏa ra lùng sục khắp xung quanh và bảo vệ những nơi trọng yếu. Đúng 11 giờ 30 phút, khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập cũng là lúc hàng triệu con tim hòa cùng một nhịp, phấn khởi, tưng bừng đón chào chiến thắng.

Đại tá Lê Bá Ước ngừng lời. Nụ cười rạng rỡ làm khuôn mặt ông sáng lên. Vẻ kiêu hãnh vẫn vẹn nguyên trong ánh mắt của người cựu chiến binh đã bao phen xông pha trận mạc và được chứng kiến thời khắc lịch sử hào hùng của dân tộc.

– Cháu nghe kể, trong giờ phút khải hoàn, Sư đoàn 2 đặc công tiếp tục nhận nhiệm vụ giải phóng Côn Đảo?

Ông xác nhận:

– Mờ sáng ngày 1-5, tôi nhận được điện khẩn của đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh triệu tập về Sở Chỉ huy Quân đoàn 2 nhận nhiệm vụ tổ chức lực lượng đặc công thủy phối hợp với Hải quân vượt biển ra Côn Đảo giải phóng tù chính trị. Sau khi triển khai lực lượng sẵn sàng xuất phát, thì chúng tôi nhận được thông báo, anh em tù chính trị Côn Đảo đã nổi dậy tự giải phóng, hiện đang chờ tàu từ đất liền ra đón. Vậy nên chúng tôi hết nhiệm vụ, trở về đơn vị cũ trong niềm vui chiến thắng…

Kết thúc chiến tranh, người anh hùng đặc công Rừng Sác tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp xây dựng quân đội. Năm 1994, ông về nghỉ hưu với cấp hàm Đại tá. Gần 20 năm qua, ông đã dành bao công sức để đi tìm và xác nhận hài cốt đồng đội. Hiện tại, ông lập riêng một ban thờ các liệt sĩ đặc công thuộc đơn vị cũ đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Ông bảo, mình còn sống và may mắn được chứng kiến thời khắc huy hoàng của dân tộc là nhờ sự hy sinh của bao đồng đội. Bởi vậy, mình phải có trách nhiệm với thân nhân, gia đình họ, với vong linh của những người đã khuất cho trọn nghĩa, vẹn tình…

Nói rồi, ông đứng dậy kính cẩn thắp nén hương thơm tưởng nhớ những đồng đội đã ngã xuống cho độc lập hôm nay.

Theo Hoàng Thành – Quân đội nhân dân
Thanh Huyền (st)

bqllang.gov.vn

Đại thắng mùa Xuân 1975, giá trị lịch sử vô cùng quý báu của quân và dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam đã cách xa 38 năm, nhưng với đại thắng mùa Xuân năm 1975 vẫn còn vang mãi như là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam chống ngoại xâm. Với chiến thắng oanh liệt và hào hùng năm ấy, quân và dân ta đã “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” thống nhất non sông, quét sạch hoàn toàn bóng quân thù xâm lược, giang sơn thu về một mối, cả nước sống trong hòa bình độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội theo lời Bác Hồ dạy.

Từ cuộc tiến công mau lẹ, chớp nhoáng và giành thắng lợi hết sức ngoạn mục vào rạng sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975 tại thị xã Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), quân và dân ta đã mở màn cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Chiến dịch “Hồ Chí Minh lịch sử” đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc tổng công kích vào Sài Gòn – Gia Định, sào huyệt cuối cùng của bè lũ xâm lược và tay sai. Quân và dân ta đã giành thắng lợi huy hoàng; kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau hai mươi mốt năm chiến đấu gian khổ hy sinh, quật cường và anh dũng. Thắng lợi vĩ đại của quân và dân ta cũng là một thất bại thảm hại, nhục nhã đối với bè lũ cướp nước và bán nước.

dai thang mua xuan 1975Xe tăng ta húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 – Ảnh Tư liệu.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc nói chung, mãi mãi để lại cho dân tộc Việt Nam những bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá về phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyết chiến và quyết thắng kẻ thù xâm lược, gìn giữ non sông đất nước, cho dù kẻ thù đó mạnh đến đâu, có tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn đến chừng nào và hung hãn hiếu chiến đến bao nhiêu.

Trong khí thế hào hùng hôm nay, chúng ta tự hào ôn lại những kinh nghiệm đó để củng cố niềm tin vào tương lai và mãi mãi ghi nhớ. Khẳng định vị trí, tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc 30/4/1975; những thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những bài học kinh nghiệm về truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất; anh dũng của nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất đất nước.

Một trong những yếu tố quyết định tạo nên thắng lợi của cách mạng và cuộc chiến tranh nhân dân đó là sự lãnh đạo sáng tạo, năng động và tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam do Bác Hồ kính yêu sáng lập và dìu dắt. Đối với lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và đặc biệt đối với quân đội nói riêng, sự lãnh đạo của Đảng càng sâu sắc và toàn diện để làm nên sức mạnh trăm trận, trăm thắng của Quân đội nhân dân anh hùng.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội còn thể hiện ở sự kiên định và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta, sự trung thành với Đảng với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sự gắn bó chặt chẽ và phục vụ tận tụy nhân dân của quân đội ta thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Trung với Đảng, hiếu với dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua; kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Để có được chiến thắng vĩ đại mùa Xuân năm 1975, không thể không nói đến nghệ thuật quân sự độc đáo của văn hóa Quân sự Việt Nam với sự kết tinh truyền thống quân sự của mấy nghìn năm lịch sử. Trước hết, đó là việc xây dựng quân đội hùng mạnh, đủ sức mạnh đảm đương nhiệm vụ của mình. Khi thời cơ đến chuyển hóa thành sức mạnh vô địch. Với sức mạnh tổng hợp của nhiều quân chủng, binh chủng hợp thành, nhiều thứ quân kết hợp chặt chẽ, khai thác hết mọi địa hình, địa thế, vũ khí, trang bị, kỹ thuật, kết hợp hiện đại và thô sơ, đặc biệt là coi trọng yếu tố con người, quân đội ta có sức chiến đấu rất cao và khả năng chiến thắng rất lớn. Nhưng điều quan trọng hơn là, sự vận dụng năng động nghệ thuật quân sự một cách tài tình của Đảng và quân đội trong việc quyết chiến và quyết thắng kẻ thù.

Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, một thế mạnh phi thường của quân đội ta khi tiến vào giải phóng Sài Gòn – Gia Định như một thế nước lũ, thế chẻ tre, lấn át kẻ thù. Chúng ta hành quân thần tốc tiến thẳng vào Sài Gòn, đây chính là thế của sức mạnh chính nghĩa, thế trận của sức mạnh lòng dân, của chiến tranh toàn dân, toàn diện mà chúng ta đã dày công vun đắp.

Để có được những ngày tháng hào hùng náo nức như hôm nay, chúng ta càng thấm thía công lao to lớn của Đảng đã lãnh đạo dân tộc, quân đội làm nên bao chiến thắng vô cùng lớn lao. Với nhiều phương pháp, nhiều hình thức phong phú và những bước đi biến hóa khôn lường, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện với những chiến lược, sách lược năng động một cách tuyệt vời.

Có được thắng lợi của đại thắng mùa Xuân năm 1975 thống nhất Tổ quốc nói riêng, của 30 năm chiến tranh giải phóng của dân tộc ta nói chung, chúng ta biết ơn nhân dân lao động yêu nước trên đất nước ta đã sản sinh ra quân đội, đùm bọc, cưu mang quân đội, cùng quân đội đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Bên cạnh đó, để đóng góp vào chiến thắng lịch sử này, phải nói đến thế hệ trẻ Việt Nam, lớp trước tiếp lớp sau luôn là lực lượng nòng cốt của quân đội và luôn luôn tỏ rõ bản chất anh hùng, hoàn thành tốt vai trò xung kích cách mạng của mình, thực hiện lời dạy của Bác “đào núi và lấp biển” một cách xuất sắc. Giáo dục thế hệ trẻ, đặt niềm tin vào họ và tạo cho họ thể hiện mình sẽ là tiền đề của mọi thắng lợi. Đây cũng có thể nói là bài học quý giá mà chúng ta rút ra từ chiến tranh giữ nước, tiếp tục phát huy trong hôm nay mai sau.

Nhớ lại một thời hào hùng, với những chiến công lẫy lừng của dân tộc ta, chúng ta vô cùng biết ơn nhân dân yêu chuộng hòa bình công lý trên thế giới đã hết lòng ủng hộ, động viên quân dân ta chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Điều đó chứng tỏ: dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của cả dân tộc đã gặp gỡ, kết hợp với sức mạnh thời đại làm nên sức mạnh Việt Nam, đây cũng là bài học vô giá của chúng ta được rút ra để chiến thắng quân thù.

Đảng ta đã nhấn mạnh: “Năm tháng rồi sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sẽ mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một trong những trang sử chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm vóc quan trọng quốc tế lớn lao và có tính thời đại sâu sắc”.

Những bài học kinh nghiệm quý giá mà chúng ta đã rút ra được trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, là tài sản quý giá để Đảng ta, Nhà nước ta, nhân dân ta và quân đội ta gìn giữ, nâng niu và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn sinh động vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước.

Theo http://www.kontum.gov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thoát khỏi “Địa ngục trần gian”

Gần 40 năm qua, đã bao lần ông Phan Hoàng Oanh ngồi lặng lẽ nhìn về hướng cầu tàu 914, ở đó bao đồng đội của ông đã vĩnh viễn nằm lại để có một Côn Đảo sáng ngời khí phách anh hùng.

Và hôm nay, trong những ngày tháng Tư lịch sử này, ông lại bồi hồi nhớ về cái thuở bi hùng nơi “địa ngục trần gian”, nhớ thời khắc mà các tù chính trị sục sôi nổi dậy tự giải phóng mình khiến Côn Đảo đầy ắp tiếng cười và những dòng nước mắt… Ông là Phan Hoàng Oanh, một trong 5 cựu tù chính trị hiện đang sống tại Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu).

Giữ vững tinh thần

Sinh trưởng trên quê hương Kiên Giang, từ nhỏ Phan Hoàng Oanh đã sớm giác ngộ cách mạng, tích cực tham gia các hoạt động phản đế tại địa phương. Từ giao liên, tiếp tế cho bộ đội đến công tác phong trào thanh niên, xã đội… Oanh đều hăng hái tham gia. Nhờ đó, anh được bầu làm Phó bí thư Đoàn xã, kiêm đội viên xã đội. Năm 1969, trong một lần cùng nhóm đi công tác ban đêm, bị địch phục kích bất ngờ, Oanh bị thương. Tưởng bọn lính bảo an không nhận ra mình nên anh vẫn lén về nhà nằm điều trị. Ai ngờ, sáng hôm sau, tụi lính kéo đến bắt anh về đồn tra tấn, rồi kết án đưa vào trại giam Chí Hòa. Tại đây anh tiếp tục tổ chức tù nhân đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ và đòi được làm lễ kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khám. Bọn địch đưa anh vào danh sách “chăm sóc đặc biệt”. Đầu năm 1970, Phan Hoàng Oanh bị kết án và đày ra Côn Đảo. Nhớ lại những ngày ở “địa ngục trần gian”, ông Oanh kể:

– Nỗi cực khổ của tù nhân Côn Đảo không bút nào tả hết nhưng đối với những tù nhân trẻ tuổi thì đó còn là một cuộc đấu tranh tư tưởng cam go, không kém phần khốc liệt. Bọn cai ngục luôn “ưu ái” chúng tôi bằng những ngón đòn cực kỳ nham hiểm hòng lung lạc tinh thần và làm họ khuất phục. Nếu không vượt qua được chắc chắn sẽ ly khai. Chỉ cần một người ly khai là sẽ ảnh hưởng tới tâm lý của cả nhóm. Thế là thất bại! Bởi vậy, chống ly khai là một quyết định vô cùng khó khăn đòi hỏi mỗi người phải kiên định, không được phép nao núng tinh thần. Người cựu tù chính trị nhớ lại:

dia-nguc-tran-gian-aNhững cựu tù Côn Đảo trở về (ảnh chụp lại tại Bảo tàng Côn Đảo)

– Ngoài việc nhắc nhau thường xuyên, anh em chúng tôi còn tìm cách xin những mẩu báo từ mấy tên lính đồng hương để nắm thông tin chiến sự bên ngoài, nhất là những trận đánh lớn. Cả buồng giam xúm vào đọc rồi bàn bạc, phấn khởi động viên nhau chờ ngày toàn thắng. Nhờ vậy mà tinh thần lên cao bất chấp sự tra tấn dã man của tụi cai ngục.

Ông Oanh ngừng lời như để kìm nén một nỗi niềm sâu thẳm. Giây lát, ông kể tiếp:

– Lần ấy tụi lính đàn áp buồng tôi vì tội không chào cờ của chúng. Từng người một bị tra tấn, đánh đập, dốc đầu ngược xuống đất rồi đổ nước vôi vào mũi… nhưng không một ai hé răng nửa lời. Tôi trẻ tuổi, sức khỏe khá hơn, cố nhoài người chịu đòn thay đồng đội nên bị đánh ngất xỉu. Lúc tỉnh dậy, buồng tôi đã mất đi hai người. Căm hận, xót xa, chúng tôi động viên nhau giữ vững bản lĩnh, dù chết cũng phải chết cho oanh liệt.

Vỡ òa niềm vui giải phóng

Tháng 4 năm 1975, ở đất liền quân ta giành thắng lợi lớn trong nhiều chiến dịch. Ngoài Côn Đảo, thông qua một số lính gác, những người tù chính trị cũng biết được thông tin đôi chút. Họ vui mừng và càng vững tin vào chiến thắng. Ông Phan Hoàng Oanh kể:

– Mấy ngày cuối tháng 4 tụi cai ngục lầm lì, im lặng, lơ là canh phòng, ít tra tấn tù nhân nhưng khóa chặt tất cả các cửa không cho ai ra ngoài. Thậm chí chúng còn không mang cơm tới các buồng giam như thường lệ. Ngày 29-4, tiếng máy bay quân sự, tiếng ca nô huyên náo khắp Côn Đảo. Đây là sự lạ ở “địa ngục trần gian”. Dù vậy, chúng tôi vẫn chưa hề biết thông tin gì từ đất liền. Ai cũng nghĩ sắp tới ngày Quốc tế Lao động (1-5) nên chúng nới lỏng cực hình để hạn chế biểu tình. Mãi đến đêm 30-4, trại giam số 7 nhận được tin giải phóng Sài Gòn. Bất ngờ, mừng vui đến nghẹn ngào, ngộp thở nhưng chúng tôi vẫn chưa dám tin. Đến khi anh em trại 7 phá cửa thoát ra, mở khóa cho các trại giam khác thì tất cả như bừng tỉnh, đồng loạt nổi dậy tiến về dinh chúa đảo và nhà ở của bọn cai ngục nhưng chúng đã rút đi gần hết. Số còn lại run sợ đầu hàng không dám kháng cự. 8 giờ sáng 1-5, chúng tôi đã làm chủ Côn Đảo. Chi bộ nhà tù triển khai phương án sẵn sàng chiến đấu đề phòng bọn địch quay lại.

Địa ngục Côn Đảo vốn chỉ có tiếng kêu la, bắn giết, đầy đau thương, chết chóc nhưng trong thời khắc đổi thay đã vỡ òa tiếng reo hò, vui nhộn. Những giọt nước mắt hạnh phúc chảy dài trên gương mặt gầy gò, bủng beo của những người tù chính trị. Ngoài bộ phận làm nhiệm vụ, họ í ới rủ nhau đi tìm đồng đội, đồng hương ở các trại giam khác. Một số hạt nhân văn nghệ được giao triển khai tập luyện các tiết mục “cây nhà lá vườn” chuẩn bị chào đón lực lượng ở đất liền ra tiếp quản Côn Đảo. Không khí náo nhiệt, hân hoan như ngày hội.

Bám trụ nơi Côn Đảo

Sáng 5-5-1975, những chuyến tàu đầu tiên ra đón tù chính trị trở về đất liền đã cập cảng Côn Đảo trong niềm mong đợi của hàng ngàn chiến sĩ kiên trung. Chưa đầy 2 tuần, phần lớn cựu tù đã lần lượt rời Côn Đảo. Chuyến tàu cuối cùng dự kiến xuất bến ngày 20-5. Trước lúc nhổ neo, tổ chức đề nghị những thanh niên khỏe mạnh ở lại làm nhiệm vụ ổn định tình hình, giữ trật tự trị an Côn Đảo. Ai cũng mong đợi ngày về và muốn rời xa mảnh đất đau thương này càng sớm càng tốt. Ông Oanh cũng do dự, băn khoăn nhưng rồi đã tình nguyện ở lại. Theo gương ông, nhiều người khác cũng lần lượt đăng ký bám trụ tại đây. Nguyên Trưởng Ban Liên lạc tù chính trị Côn Đảo Phan Hoàng Oanh tâm sự:

– Quyết định ở lại Côn Đảo là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời tôi. Suốt đêm trằn trọc suy nghĩ về tình cảm gia đình, vợ con, về trách nhiệm xây dựng quê mới… Sáng hôm sau, tôi gửi về đất liền bộ quần áo và chiếc khăn tay do mẹ và vợ tôi chuẩn bị trước khi tôi bị đày ra Côn Đảo để làm tin. Đầu năm 1976, khi đã ổn định công tác tôi mới theo tàu vào đất liền thăm gia đình với ý định đưa vợ con ra Côn Đảo định cư. Mấy ngày ở nhà, nhìn cha mẹ, vợ con quây quần ấm cúng tôi không dám mở lời. Hết thời gian nghỉ phép tôi trở lại Côn Đảo. Vợ tôi khóc, nói: “Suốt 5 năm chờ đợi không tin tức, mẹ con em tưởng như tuyệt vọng. Nay anh trở về mới được mấy ngày đã muốn ra đi. Người ta thì chạy trốn khỏi nơi đó, còn anh lại tiếc nuối, chẳng cần đến vợ con”. Lúc đó, tôi chỉ biết động viên vợ gắng nuôi con rồi lên tàu ra đảo mà trong lòng cứ bịn rịn, nao nao.

dia-nguc-tran-gian-bCựu tù chính trị, Bí thư chi bộ Phan Hoàng Oanh (giữa) đang cùng các đảng viên thống nhất nội dung tuyên truyền chiến thắng 30-4

– Nhưng rồi bác đã thuyết phục được bác gái. Chắc phải mất nhiều thời gian lắm, phải không bác? – Tôi hỏi và đợi ông xác nhận. Nở nụ cười hiền hậu, ông bộc bạch:

– Khi trở lại Côn Đảo, anh em trong cơ quan thấy tôi ra một mình thì hiểu ngay nên đã cùng nhau bàn bạc và yêu cầu tôi bằng mọi giá phải đưa được vợ con ra theo. Lần đó về đất liền, thái độ của vợ tôi khác hẳn. Khi tôi đặt vấn đề cả nhà sẽ định cư ở Côn Đảo vợ tôi im lặng. Vốn mộc mạc, chân thành, tôi bảo vợ: Lẽ ra anh đã bỏ xác trong tù nhưng nhờ có tổ chức, có anh em đồng đội nên anh mới sống được đến ngày hôm nay để về gặp em. Bây giờ Côn Đảo do mình làm chủ, mình phải có trách nhiệm với bao đồng đội đã nằm lại ngoài đó. Nếu em thấy anh nói như vậy là sai thì mẹ con em ở nhà cũng được. Nghe vậy, vợ tôi mỉm cười: “Anh còn sống là mẹ con mừng lắm rồi! Giờ anh ở đâu mẹ con em ở đó”. Vậy là thành công đúng theo dự kiến.

Ông Oanh cười sảng khoái trong khi bà Trần Thị Duối – vợ ông, đang dắt đứa cháu ngoại rong chơi dưới những bóng cây xanh mát ngay trong khuôn viên dinh chúa đảo năm xưa. Ông bảo:

– Bà ấy nhà tôi làm cán bộ Hội Phụ nữ huyện, mới nghỉ hưu vài năm nay. Giờ chỉ lo chăm cháu và tiếp các đoàn khách đến nghe giới thiệu về Côn Đảo. Tuổi già như thế là vui rồi.

Ông Oanh cũng đã nghỉ công tác tại Bảo tàng nhưng vẫn làm Bí thư chi bộ khu dân cư. Nói là nghỉ hưu chứ ông vẫn thường xuyên tham gia kể chuyện truyền thống cho du khách tới thăm Côn Đảo, nhất là các Đoàn học sinh, sinh viên từ đất liền ra tham quan tìm hiểu về Khu Di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt này. Và, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay ông đang cùng những người đồng đội, đồng chí trong chi bộ khu chuẩn bị tài liệu để tuyên truyền cho du khách về tinh thần quật cường cách mạng của những cựu tù chính trị năm xưa. Với ông, đó là một nguồn vui bất tận, không có tuổi nghỉ hưu.

Theo Quân Đội nhân dân
Thanh Huyền (st)

bqllang.gov.vn

Về “bại tướng” Dương Văn Minh

Càng gần đến ngày 30-4, những câu chuyện liên quan đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước càng thu hút sự quan tâm của các bạn trẻ. Vai trò của Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh trong sự kiện ngày 30-4-1975 cũng là một chủ đề được giới trẻ quan tâm, tìm hiểu. Trong bài viết này, chúng tôi xin trích ý kiến của các tướng lĩnh, những nhân chứng lịch sử từng trực tiếp tham gia giải phóng Sài Gòn nhằm cung cấp đến bạn đọc một cái nhìn bao quát, đầy đủ về nhân vật này.

1. Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh: “Có người nghĩ rằng, Dương Văn Minh đầu hàng để tránh cho Sài Gòn đổ nát, điều đó hoàn toàn sai lầm. Thật ra, lúc ấy Mỹ vận động Nguyễn Văn Thiệu từ chức là có ý muốn nhường ngay ghế Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn cho Dương Văn Minh, để Minh điều đình với ta. Nhưng Thiệu không chịu, mà mượn cớ theo Hiến pháp, nhường cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay cuối ngày 21-4-1975 đến ngày 28-4-1975 mới nhường chức Tổng thống lại cho Dương Văn Minh.

Đó là ý đồ của Đại sứ Mỹ và Đại sứ Pháp tại Sài Gòn, họ hy vọng Dương Văn Minh có thể nói chuyện được với Việt Cộng nhằm tránh cái thua triệt để. Về phía ta, hiểu rõ mưu đồ của địch dùng ngoại giao để chặn bớt thắng lợi của ta, không cho ta thắng lợi triệt để. Vì vậy, ta đánh mạnh, đánh nhanh, thời gian là lực lượng, để địch không còn gì mà nói chuyện. Dương Văn Minh đã rủi ro hứng lấy sự đầu hàng vô điều kiện. Ta đã có kế hoạch để tiến công giải phóng Sài Gòn nguyên vẹn, không để xảy ra đổ nát. Chúng ta đã thần tốc tấn công mãnh liệt, không cho địch kịp tổ chức kháng cự, bằng 5 mũi dũng mãnh thọc vào trung tâm từ 5 hướng, chiếm cùng lúc 5 mục tiêu trọng yếu. Đó là nghệ thuật quân sự cách mạng theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, bảo vệ tối đa sinh mạng của nhân dân, tiết kiệm tối đa máu của chiến sĩ ta và giảm tối đa việc sát hại binh lính ngụy”.

1Tổng thống ngụy Dương Văn Minh được Quân giải phóng dẫn ra Đài Phát thanh để đọc lời đầu hàng vô điều kiện.

2. Thượng tướng Hoàng Cầm, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam: “Việc Dương Văn Minh lên làm Tổng thống chế độ Sài Gòn là con bài cuối cùng của Mỹ nhằm cản bước tiến của quân ta, tìm ra một giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Trước đó, từ ngày 9 đến 19-4-1975 đã diễn ra trận Xuân Lộc, là nơi Mỹ xây dựng thành “cánh cửa thép”, “lá chắn cuối cùng” để tìm giải pháp chính trị. Lúc đó, Đại tướng Mỹ Uây-en, Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, nguyên Tổng Tư lệnh quân Mỹ ở Đông Dương, được lệnh của Nhà Trắng bay sang chỉ huy việc lập phòng tuyến Xuân Lộc. Khi bị ta tiến công mãnh liệt, mất Xuân Lộc nghĩa là địch đã mất “lá chắn cuối cùng”, Uây-en liền lên máy bay chuồn về Mỹ, kéo theo nhiều tướng tá của chế độ Sài Gòn. Vì vậy, hành động đầu hàng của Dương Văn Minh là việc phải làm, không thể khác được, khi quân ta đã tiến đến nơi”.

3. Thiếu tướng Trần Văn Danh, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn: “Trước khi đầu hàng vô điều kiện, Dương Văn Minh có thông qua tổ điệp báo của ta liên lạc với Trại Đa-vít – Tân Sơn Nhất, đề nghị thành lập Chính phủ ba thành phần. Tôi thừa lệnh anh Phạm Hùng, thảo liên tục mấy công văn trả lời dứt khoát rằng: Chỉ có đầu hàng vô điều kiện mà thôi. Theo tôi, nếu Dương Văn Minh đầu hàng vào tối 28, sáng 29-4-1975 thì có thể chúng ta ghi nhận tinh thần tránh cho Sài Gòn đỡ đổ nát của ông ấy. Nhưng, đằng này ông ta đầu hàng khi đại quân ta đã vào Sài Gòn, chỉ một giờ sau đã làm chủ Dinh Độc Lập rồi”./.

Thanh Nhàn – Hải Yến (tổng hợp)
(Theo sách phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam NXB Trẻ năm 2000)
Thu Hiền (st)/ Theo http://qdnd.vn

bqllang.gov.vn