Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Thư khen dân quân gái các xã H. và T. huyện Hoằng Hoá, Thanh Hoá (20-11-1967)

Thân ái gửi các cháu dân quân gái xã H. và xã T.1), huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá,

Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu ngày 16-11-1967 đã hiệp đồng chặt chẽ, chiến đấu hết sức dũng cảm, mưu trí, bắn rơi cả tốp hai máy bay Mỹ. Bác đặc biệt khen ngợi các cháu xã H. trong sáu ngày đã bắn rơi 2 máy bay Mỹ.

Riêng các cháu dân quân gái xã T. đã lập công đầu, Bác gửi tặng mỗi cháu một huy hiệu.

Thanh Hoá là tỉnh có nhiều đội dân quân gái bắn rơi máy bay Mỹ. Đó là vinh dự chung của tỉnh nhà và của phụ nữ cả nước ta.

Các cháu chớ vì thắng lợi mà chủ quan, hãy chịu khó học hỏi và thi đua với dân quân, tự vệ các tỉnh bạn, chiến đấu giỏi và sản xuất giỏi hơn nữa.

Bác hôn các cháu
Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 nǎm 1967
Bác Hồ

————————

Báo Nhân dân, số 4972, ngày 21-11-1967.
cpv.org.vn

Điện gửi Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và vị trong Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (19-12-1967)

Thưa Chủ tịch và các vị trong Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ bảy ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam quang vinh, tôi xin gửi đến Chủ tịch và các vị trong Uỷ ban Trung ương Mặt trận cùng toàn thể đồng bào, chiến sĩ và cán bộ miền Nam lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Bảy nǎm qua, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Mặt trận, đồng bào và các lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam anh hùng đã giành được những thắng lợi to lớn, đập tan mọi kế hoạch xâm lược của giặc Mỹ và tay sai. Những thắng lợi liên tiếp trong đầu mùa khô này đang làm nức lòng nhân dân cả nước ta và nhân dân toàn thế giới. Trong ba nǎm qua, sát cánh cùng với đồng bào miền Nam, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi hơn 2.660 máy bay của giặc Mỹ, ra sức phát triển sản xuất và hết lòng hết sức ủng hộ đồng bào miền Nam ruột thịt, quyết cùng đồng bào đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Thắng lợi của nhân dân ta trong cả nước đang đẩy địch vào thế sa lầy, bị động và thất bại nặng.

Tôi tin rằng, trong thời gian tới, ra sức thực hiện Cương lĩnh chính trị của Mặt trận, với tinh thần “tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược”, quân và dân miền Nam sẽ giành được những thắng lợi vang dội hơn nữa.

Đế quốc Mỹ càng tàn ác, ngoan cố và xảo quyệt thì thất bại của chúng càng lớn.

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 nǎm 1967
Hồ Chí Minh

———————

Báo Nhân dân, số 5001, ngày 20-12-1967.
cpv.org.vn

Bài nói tại cuộc mít tinh trọng thể kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944) và ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (19-12-1946) (26-12-1967)

Thưa các đồng chí và các bạn,

Trong dịp kỷ niệm ngày xây dựng Quân đội nhân dân ta và ngày cả nước kháng chiến lần thứ nhất, tôi là một trong những người rất vui mừng, rất phấn khởi. Tôi thấy trẻ lại 20 tuổi. Vì lẽ rằng cách đây 23 nǎm, tôi và một số đồng chí được Đảng ta giao cho nhiệm vụ vẻ vang là tổ chức, huấn luyện và lãnh đạo Quân đội nhân dân ta. Lúc đầu chỉ có mấy nhóm du kích bé nhỏ với những vũ khí thô sơ. Nhờ đường lối mácxít – lêninnít của Đảng và sự ủng hộ hǎng hái của đồng bào, quân đội ta đã lớn mạnh nhanh chóng, đã góp phần quan trọng giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám và sau gần chín nǎm kháng chiến đã đánh thắng quân đội nhà nghề thực dân trong trận Điện Biên Phủ oanh liệt. Nay quân đội ta lại có thêm người anh em ruột thịt là các lực lượng vũ trang anh hùng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Các lực lượng vũ trang đó đang đánh thắng 1 triệu 20 vạn quân Mỹ và bè lũ tay sai.

Trong cuộc chiến tranh nhân dân của cả nước ta chống đế quốc Mỹ, đã nảy nở rất nhiều anh hùng và dũng sĩ. Vài ví dụ:

Ở miền Bắc, có những đơn vị dân quân già như ở Thanh Hoá đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Có những trung đội dân quân toàn là các cháu gái nông thôn đã bắn rơi máy bay Mỹ. Đặc biệt là có cháu Nguyễn Thị Xuân, 19 tuổi, ở tỉnh Quảng Bình, một mình dùng súng bộ binh với hơn 20 viên đạn, đã bắn rơi máy bay phản lực của Mỹ. Có những đồng chí phi công trẻ tuổi, một mình đã bắn tan xác bảy máy bay Mỹ.

Ở miền Nam Việt Nam, Phó Tổng tư lệnh Quân đội giải phóng là một phụ nữ, đồng chí Nguyễn Thị Định. Cháu Hồ Vǎn Mên, ở khu Đông Nam Bộ, mới 13 tuổi đã giật mìn diệt 75 tên giặc Mỹ và tay sai. Cháu Nguyễn Thị Hạnh, ở tỉnh Long An, là một cán bộ du kích ưu tú, đã xây dựng được một đội du kích rất mạnh, tổ chức đánh hơn 300 trận, diệt nhiều địch, thu nhiều vũ khí. Cháu Kpacơlơng, người dân tộc Giarai, lúc 15 tuổi, đã làm chông bẫy, dùng tên nỏ diệt tám tên địch, nay là một chiến sĩ trẻ đã diệt hơn 100 giặc Mỹ và tay sai.

Những chuyện như thế có rất nhiều và được cả thế giới ca ngợi. Tôi tưởng ca ngợi là phải mà chúng ta tự hào là phải.

Đường lối, chính sách của ta đúng đắn.

Toàn dân ta đoàn kết, nhất trí, quân đội ta anh hùng vô song, ta lại được các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa giúp đỡ tận tình và bạn bè khắp nǎm châu ra sức ủng hộ, cho nên ta nhất định thắng, Mỹ nhất định thua!

Mỹ thua đã rõ ràng. Một chứng cớ là Mắc Namara, một trong những tên trùm gây chiến tranh xâm lược, đã bị buộc phải thôi chức Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, chịu đòn thay cho Giônxơn và phe lũ. Tuy vậy, đế quốc Mỹ “chết thì chết, nết không chừa”, chúng chưa từ bỏ âm mưu xâm lược. Vậy quân và dân cả nước ta hãy đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, luôn luôn nâng cao cảnh giác, thừa thắng xông lên, kiên quyết đập tan mọi âm mưu của chúng.

31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng.

Nhân dịp này, tôi thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cảm ơn nhân dân và chính phủ các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, cảm ơn nhân dân và chính phủ các nước bạn, cảm ơn nhân dân thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đang chống đế quốc Mỹ xâm lược và ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Tôi thân ái khen ngợi quân đội và đồng bào ta không ngại gian khổ, hy sinh, kiên quyết chống Mỹ, cứu nước, giành nhiều thắng lợi to lớn, để hoàn thành nhiệm vụ vĩ đại là bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Cuối cùng, chúc các đồng chí và các bạn sang nǎm mới, cố gắng mới và giành nhiều thắng lợi mới!

—————————-

Báo Nhân dân, số 5007, Ngày 26-12-1967.
cpv.org.vn

Mỗi ngày viết một câu chuyện về Người

(Dân trí) – Ở thôn Nhan Biều 3 (Triệu Thượng, TriệuPhong, Quảng Trị) có một ông đại tá già ngày nào cũng đọc một câu chuyện, viết một bài viết về Bác Hồ. Tài sản vô giá của ông hiện là cuốn sách dày 200 trang dày đặc những câu chuyện về vị Cha già của dân tộc.

Ông đại tá già đó là ông Nguyễn Đức Vũ, 85 tuổi, người được người dân Nhan Biều coi là “cuốn sách sống về Bác Hồ”.

Ban thờ Bác được ông Vũ lập trang trọng trong một căn phòng riêng.

Bốn mươi năm khôn nguôi nhớ Bác

Bốn mươi năm trước, ngày Bác mất, triệu triệu người Việt Nam đã khóc, đã đau nỗi đau của dân tộc. Ngày đó, có một người lính đặc công cũng òa khóc nức nở như mất đi một người thân ruột thịt. Người lính đặc công ấy là ông Nguyễn Đức Vũ, người ôm nỗi nhớ khôn nguôi về Bác từ đó đến nay.

Vốn là bộ đội trinh sát, rồi được chọn vào đội ngũ của binh chủng đặc công, ông Vũ đã đi qua hai cuộc chiến ác liệt nhất của đất nước, dân tộc. Quãng đời lính xem cái chết nhẹ tựa lông hồng của ông Vũ đầy những chiến tích hào hùng, oai lẫm. Nhưng niềm tự hào lớn nhất của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Đức Vũ chính là hai lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Kỷ niệm quý giá ấy đã ăn sâu vào máu thịt, tuôn chảy trong từng mạch máu luân chuyển khắp cơ thể, chảy tràn qua tim ông Vũ.

“Đời lính của tôi vào sống ra chết, trở về với hai bàn tay trắng và một khối tài sản vô hình, vô giá. Đó chính là hai lần tôi vinh dự được cùng anh em đồng chí trong đơn vị gặp mặt Bác Hồ, nghe Bác kể chuyện, nhìn tận mắt gương mặt, đôi mắt sáng và nụ cười hiền từ ấm áp của Bác. Tôi vẫn nhớ mãi những kỷ niệm đó” – ông Vũ xúc động kể.

Đau đáu một nỗi nhớ Bác, khắc ghi hình ảnh của Người trong tim, khi đối mặt với quân thù, người lính Nguyễn Đức Vũ luôn tự nhủ “phải chiến đấu hết mình để giữ mảnh đất mà Bác Hồ và cả dân tộc đã đổ máu để gìn giữ”. Ông đã đi qua chiến tranh với niềm tin, nhiệt huyết ấy.

Cho đến lúc về nghỉ hưu, ông Vũ vẫn không ngừng học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, giữ mãi hình ảnh Bác trong tim.

Lập bàn thờ, xây phòng thờ Bác

Lòng kính yêu đối với Bác Hồ của ông đại tá già “đặc biệt” hơn rất nhiều người. Ông dành hẳn một gian phòng để làm nơi thờ Bác Hồ, đó cũng là nơi ông đọc truyện, viết sách về Bác.

Năm 1990, ông Vũ về nghỉ hưu với quân hàm đại tá, cái biệt danh thân mật “Vũ đại tá” bắt đầu được người dân Nhan Biều tặng cho ông từ đó. Ngay sau khi về hưu, việc đầu tiên ông Vũ nghĩ đến là lập bàn thờ và xây phòng thờ Bác Hồ.

“Hồi đó, tôi mới về phải sửa sang lại căn nhà cũ nên tạm thời tôi thờ Bác chung với bàn thờ tổ tiên, cha mẹ tôi. Năm 2006, tôi mới ổn định ổn định cuộc sống và cho xây phòng thờ Bác ngay. Sau đó, tôi chuyển tấm ảnh Bác đem về từ chiến trường, phóng to lên và đặt lên bàn thờ Bác để ngày ngày tôi thắp hương riêng cho Người” – ông Vũ kể lại.

Xây xong phòng, lập xong bàn thờ Bác, ông Vũ bắt đầu đọc những câu chuyện về Bác và viết lại thành sách. Tài sản mà ông Vũ gom góp đến bây giờ là đống sách vở, tài liệu, tranh ảnh về Bác mà ông đặt mua, sưu tầm. Đặc biệt là tập sách dày 200 trang do ông viết ra. Tập sách do chính tay ông Vũ viết với những dòng chữ rất rõ ràng, rất đẹp được ông đóng bìa rất cẩn thận mà ông đang có ý định đặt tựa đề “Bốn mươi năm nhớ Bác”.

Cuốn sách vô giá của vị đại tá già.

“Tôi viết tập tài liệu này mới có mấy năm nhưng bốn mươi năm nay tôi luôn nhớ đến Người nên tôi muốn đặt tựa đề như vậy”, vị đại tá kể. Giở tập tài liệu ấy ra đọc, bất kỳ một người đọc khó tính nào cũng không khỏi ngạc nhiên, hết lời khen ngợi bởi những câu chuyện, những bài học do ông Vũ viết đều rất hay và hấp dẫn lòng người. Tập sách là tâm huyết, tình cảm quý giá của một người lính luôn hướng lòng mình theo tư tưởng của Bác, nhớ về Bác.

Căn phòng ông Vũ cho xây làm phòng thờ, đặt bàn thờ Bác rộng chừng hơn 15 mét vuông đặt một bộ bàn ghế để ông làm việc, đọc viết sách và để tiếp những ai muốn nghe ông kể chuyện về Bác. Căn phòng chỉ rộng chừng hơn 15 mét vuông. Ngay chính giữa gian nhà, ông Vũ trịnh trọng đặt tượng Bác Hồ (thay cho bức ảnh đã cũ nát), bên trên là lá cờ Tổ quốc có sao vàng năm cánh và hình ảnh búa liền cùng dòng chữ Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm. Hai bên phải trái là hai câu đối “Suốt đời hy sinh cho lý tưởng cộng sản” và “Ra sức học tâp, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Chiếc lư hương luôn đầy ắp những đuôi nhang bởi ngày nào ông cung thắp hương khấn nguyện cho Bác và được ông thay cát mỗi tháng một lần. Trong căn phòng này, rất nhiều người đã được ông Vũ kể cho nghe hàng trăm, hàng ngàn câu chuyện hấp dẫn và cảm động về Bác Hồ. Nhiều Đảng viên ở Nhan Biều đã được kết nạp tại đây, đứng đọc lời tuyên thệ dưới bàn thờ nghi ngút khói hương của Bác. Cả những cô cậu sinh viên ở Nhan Biều trước khi nhập học cũng đến đây đọc lời thề, thắp hương trước bàn thờ Bác.

Mỗi lần kỷ niệm ngày sinh hay ngày mất của Bác là ngôi nhà của ông Vũ luôn có rất đông người do ông mời đến hoặc tự đến để cùng ông tổ chức hát những bài hát, kể những câu chuyện về Bác Hồ. “Những dịp ấy, ông Vũ kể chuyện suốt ngày. Cứ nhắc đến chuyện về Bác, nói về Đảng là ông ấy nói cả ngày cũng không hết. Những lúc ấy ông vui vẻ, phấn khởi lắm chẳng thiết ăn, thiết uống gì cả chỉ nói chuyện đó cũng đủ… no rồi” -bà Lan, em gái ông Vũ kể.

Ông Vũ sẽ còn viết, còn kể mãi những câu chuyện, bài học về Bác Hồ đến khi nào không còn đủ sức nữa mới thôi. Nhưng có một điều mà ông luôn chắc chắn “Bác luôn sống mãi trong tôi, trong trái tim tôi”.

Văn Được
dantri.com.vn

Những lão nông say mê vẽ Bác Hồ

(Dân trí) – Vẽ với các ông là cái duyên, cái nghiệp; nhưng vẽ về Bác lại là nghĩa vụ, là niềm say mê, là sự thôi thúc phải làm gì đó để tỏ lòng tôn kính Bác, để thế hệ mai sau hiểu về cuộc đời cách mạng cao quý của Người…

“Vẽ về Bác là nghĩa vụ đối với tôi”

Năm nay vừa tròn 70 tuổi, ông sống “ẩn dật” trong một ngôi nhà nhỏ trên lưng chừng đồi ở xóm vắng thôn Thạch Nham Đông (xã Hòa Nhơn, Hòa Vang, TP Đà Nẵng). Ngoài những lúc làm vườn, thời gian còn lại ông chỉ chuyên tâm vẽ tranh. Tranh của ông mang nhiều nội dung, thể loại, từ tranh cổ động, tranh về hai cuộc chiến tranh, tranh về cuộc sống… nhưng nhiều nhất và đẹp nhất là tranh về đề tài Bác Hồ. Ông lý giải đơn giản: “Vẽ về Bác là một nghĩa vụ đối với tôi”.

Ông Hạnh giới thiệu tập tranh và ký họa “Uống nước nhớ nguồn” tập hợp hàng trăm bức tranh mà ông đã vẽ trong cuộc đời sáng tác của mình. (Ảnh: Công Bính)

Đó là lão nông-họa sĩ Nguyễn Đức Hạnh. Trong căn nhà cấp 4 tuềnh toàng, ông dành riêng một phòng để làm “phòng triển lãm” khoảng 200 tác phẩm của mình, trong đó những bức tranh về Bác được ông trân trọng nhất. Những bức tranh ấy ông không bao giờ bán.

Ông từng tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội năm 1967, sau đó ông vào Nam vẽ tranh ghi lại các hoạt động, công tác chiến đấu của bộ đội, dân quân du kích… ở chiến trường khu V thuộc đơn vị đặc khu tuyên huấn Quảng Đà.

Nhìn những bức tranh về Bác bày khắp nơi trong phòng triển lãm, tôi hỏi: “Ông đã gặp Bác mấy lần rồi?”. Ông bảo: “Hồi nhỏ làm gì được gặp Bác, chỉ đọc tài liệu rồi tưởng tượng ra vẽ thôi. Nhưng vẽ rất chuẩn đấy nhé”.

Để vẽ được tranh về cuộc đời cách mạng của Bác, ông nói mình đã phải đọc rất nhiều tài liệu, bài báo và chiêm nghiệm con người Bác rồi từ đó phóng tác ra tranh. Và cuộc đời Bác đã ngấm vào máu của ông, sau ông cứ thế mà vẽ ra.

Trong “không gian tranh” của mình, ông trưng bày nhiều bức về Bác như “Lòng Bác”, “Đêm nay Bác không ngủ”, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “Bác Hồ với đất Quảng”, “Bác Hồ với Thủ tướng Phạm Văn Đồng”, “Bác Hồ hoạt động cách mạng ở Thái Lan”, “Cho Bác thêm hai quả cà muối”…

Hiện trong “phòng trưng bày” tại gia của ông có 15 bức tranh rất đẹp về của Bác Hồ trong hai cuộc kháng chiến được đưa vào khung và treo trang trọng. Khi có khách đến chơi, điều đầu tiên ông khoe với khách chính là 15 bức tranh đó; đồng thời thuyết minh tường tận ý nghĩa của từng bức.

Một số bức tranh về Bác Hồ trong phòng trưng bày tại gia của ông Hạnh. (Ảnh: Công Bính)

Đối với ông, vẽ là để thư giãn nhưng vẽ về Bác Hồ là nghĩa vụ, là việc phải làm. “Nếu tôi không vẽ có nghĩa là tôi đã chết”, ông khẳng khái. Càng về sau này đề tài về Bác Hồ được ông quan tâm, do đó trí lực của ông dồn hết vào những bức tranh về Bác.

Trong tập tranh và ký họa với chủ đề “Uống nước nhớ nguồn” tập hợp hàng trăm bức tranh của ông sáng tác từ xưa đến nay, ngay trang đầu tiên có ghi lời nói của Bác Hồ về Mỹ thuật trong một cuộc triển lãm tranh năm 1958 mà ông đã chép lại cẩn thận. Và ông lấy đó làm kim chỉ nam cho hoạt động sáng tác nghệ thuật của mình.

Ông tâm sự: “Bây giờ có mạnh thường quân nào tài trợ là tôi mở một cuộc triển lãm hoành tráng về Bác Hồ tại Quảng Nam hoặc Đà Nẵng”. Ông bảo đó là giấc mơ cuối đời của mình và “nếu thực hiện xong ý nguyện này có nhắm mắt tôi cũng yên lòng”.

Hơn 40 năm miệt mài vẽ Bác

Ông là Võ Đức Thuận (SN 1948), quê xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Hơn 40 năm qua ông miệt mài đi đó đây để sưu tập tranh ảnh của Bác Hồ để phác thảo nên chân dung Người theo cách rất riêng của mình. Giờ đây phòng tranh vẽ chân dung Bác Hồ của ông đã trở thành nơi tham quan lý tưởng và miễn phí cho các em học sinh khắp nơi mỗi khi muốn hiểu về Bác Hồ.

Khi chúng tôi đến nhà thăm, ông Thuận đang vẽ dở bức “Bác Hồ với lá cờ quyết thắng”. Ông “hòa hoãn”: “Các chú chờ tôi chút. Tôi đang thổi hồn vào bức tranh này, có gì lát nữa nói chuyện”. Nói đoạn ông như nhập hồn vào bức tranh, quên bẵng có chúng tôi bên cạnh.

Ông Thuận đang phác họa bức chân dung Bác Hồ với lá cờ quyết thắng. (Ảnh: Duy Thái)

Ông bảo: “Việc làm của tôi chỉ là để mai này con cháu biết để tôn thờ vị cha chung của dân tộc thôi. Tôi vẽ chân dung Bác Hồ mấy hơn 40 năm nay rồi. Tôi làm việc này cho các thế hệ học sinh noi gương Bác Hồ kính yêu…”.

Ông Thuận sinh ra ở cố đô Huế, năm lên 4 tuổi ông theo gia đình ra Nghệ An và sinh sống tại Nam Đàn – quê hương của Bác Hồ. Năm 1957, khi mới tròn 9 tuổi, trong một lần Bác Hồ về thăm quê, ông Thuận được mẹ dẫn đi cùng với nhân dân Nam Đàn đón Bác. Vì còn quá nhỏ, ông không chen lên để nhìn Bác được, ông tiếc lắm, quyết tâm sẽ học tập thật tốt, đạt nhiều thành tích để sau này được gặp Bác Hồ.

Một tác phẩm xúc động về phút lâm chung của Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Duy Thái)

“Đề tài về Bác Hồ được rất nhiều văn nghệ sĩ sáng tác nhưng với tôi vẽ chân dung của Bác là một niềm hạnh phúc nhất cuộc đời này. Thứ đến, là tuổi già như tôi phải làm một cái gì đó để truyền dạy cho con cháu sau này hiểu hơn về Bác Hồ”, ông Thuận tâm sự.

Thầy Nguyễn Văn Sơn, phụ trách đoàn đội trường THCS Quỳnh Lập tâm sự: “Hàng năm, vào các dịp lễ lớn như Quốc khánh 2/9, hay như sinh nhật Bác 19/5… nhà trường thường hay tổ chức các em học sinh vào nhà bác Thuận để chiêm ngưỡng những bức chân dung về Bác Hồ. Chính từ phòng tranh về Bác Hồ của bác Thuận đã cho thầy và trò nhà trường chúng tôi nhiều tư liệu quý báu. Đặc biệt, là để các em học sinh rõ hơn về cuộc đời của Bác”.

Bác Hồ về thăm quê (Ảnh: Duy Thái)

Đến nay, trong phòng trưng bày tranh về đề tài Hồ Chí của ông Thuận đã lên đến hàng trăm bức. Mỗi tác phẩm là một nét chấm phá thể hiện phong cách sống của Hồ Chủ Tịch.

Công Bính – Duy Thái

dantri.com.vn

Gặp người đầu tiên được mang họ Bác Hồ

(Dân trí) – “Bốn lần được gặp Bác Hồ, cùng ăn cơm, cùng nói chuyện với Bác cũng là lúc tôi vinh dự được Bác đặt cho họ Hồ” – anh hùng Hồ Đức Vai, người dân tộc Pa Kô, không giấu niềm tự hào.

Anh hùng Hồ Vai chụp ảnh với Bác Hồ năm 1965, Hồ Vai đứng bên phải Bác.

Anh hùng Hồ Đức Vai sinh năm 1940, đến nay vẫn được người dân vẫn âu yếm gọi là người thành lập ra họ Hồ ở thôn Lê Lộc, xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, Thừa Thiên – Huế.

Những năm 1961, 1962, ở mảnh đất Trị Thiên khói lửa, giặc Mỹ tàn phá dã man. Hồ Vai lúc ấy đang là anh du kích của xã, nghe trên đài về những chiến công của Bác, ngưỡng mộ Bác, ơn Đảng, ơn Bác Hồ như suối nguồn chảy mãi không bao giờ cạn. Cũng vì lẽ đó Hồ Vai đã tự nguyện lấy họ Bác Hồ làm họ của mình để thể hiện một long son sắc theo cách mạng.

Năm 1964, anh du kích Hồ Vai (24 tuổi) vinh dự được đi dự Đại hội chiến sĩ Anh hùng thi đua toàn miền Nam tổ chức tại Tây Ninh. Trong số 32 cán bộ chiến sĩ được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực Lượng vũ trang có 2 du kích người dân tộc (A Vai, dân tộc Pa Kô tỉnh Thừa Thiên-Huế và Pi Năng Tak, dân tộc Răglai tỉnh Ninh Thuận).

Sau năm 1965 anh hùng Hồ Vai được ra Hà Nội thăm quan, học văn hóa, học sĩ quan lục quân… Anh tự hào là người bốn lần được gặp Bác Hồ, cùng ăn cơm nói chuyện với Bác.

40 năm trôi qua rồi, giờ nghĩ lại, anh hùng Hồ Vai vẫn rơi những giọt nước mắt hạnh phúc. “Điều mà Bác hỏi tôi nhiều nhất là về vấn đề người dân tộc ít người. Thấy tui nói rành mạch, Bác khen”, ông nhớ lại.

Cũng từ lần đầu tiên đó, Bác chính thức đặt tên họ Hồ cho chàng du kích người dân tộc Pa kô là Hồ Đức Vai.

Năm 1968 khi chuẩn bị cho tết Mậu Thân, Hồ Vai trở lại Miền Nam chiến đấu. Ông vận động tuyên truyền cho lực lượng vũ trang tất cả đều bỏ họ mình lấy họ Bác Hồ. “Tất cả có đồng ý không? Đồng ý, đồng ý”. Rồi từ đó họ Hồ đi sâu vào lòng quần chúng nhân dân, cho đến ngày nay chủ yếu là ở các dân tộc thiểu số như: Pa Cô, Tà Ôi, Cà Tu, Pa Hy…

“Ngày xưa chưa có họ Bác Hồ, người dân nơi đây nghèo lắm. Thời đó, đồng bào miền núi sống du canh du cư, săn bắn, hái măng và củ rừng, thiếu cơm lạt muối, dẫn đến đau ốm, bệnh tật, chết dần chết mòn. Ngay cái tên, cái họ của mình cũng được đặt theo tên các loài cây rừng như Ra pát, Pơ loong, Pi siêh, A relơ… Từ ngày có cán bộ, bộ đội lên giúp bà con xây dựng bản làng, đánh đuổi giặc Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dạy cái chữ Bác Hồ, cuộc sống đồng bào mới thoát khỏi cảnh đói nghèo, tăm tối” – Anh hùng Hồ Vai kể lại.

Năm 1969, khi Bác mất, để nhớ ơn Bác, đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Thừa Thiên- Huế đồng loạt mang họ Bác Hồ để tỏ lòng thương kính đối với Bác.

Núi Phấn

dantri.com.vn

Kỷ niệm lần được đón Bác từ Fontainebleau về nước

(Dân trí) – Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Bác Hồ sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau. Người về nước tại cảng Hải Phòng tháng 10/1946. Thiếu tá Cao Phong – người nhận nhiệm vụ đón Bác Hồ – không bao giờ quên giây phút lịch sử ấy.

Bài viết dưới đây được ghi lại theo tư liệu của ông Nguyễn Thế Vinh, con trai cố Thiếu tá Cao Phong, Nguyên Trưởng Ty liên kiểm Việt – Pháp miền duyên hải Bắc bộ năm 1946.

“Trong những năm hoạt động cách mạng, có biết bao nhiêu sự kiện đến với tôi. Song được đón Bác Hồ từ Fontainebleau trở về là một kỷ niệm mà cho đến nay tôi vẫn không sao quên được.

Sau khi tham gia trận đánh lớn tiễu phỉ ngày 08 tháng 12 năm 1945 giải phóng thành Hà Giang, tôi được Bộ Quốc Phòng điều về Trường Cán bộ Việt Nam Trần Quốc Tuấn do đồng chí Trần Tử Bình làm Giám đốc.

Từ trái sang: Hoàng Hữu Nam – Trưởng ban Liên kiểm TW; Chủ tịch Hồ Chí Minh; Thiếu tá Cao Phong; Bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên – Chủ tịch uỷ ban hành chính Hải Phòng (Ảnh do ông Nguyễn Thế Vinh, con trai Thiếu tá Cao Phong cung cấp)

Đến ngày 15 tháng 3 năm 1946, tôi lại được Bộ giao nhiệm vụ Trưởng Ty Liên kiểm Việt – Pháp Hải Phòng với quân hàm thiếu tá. Trước khi đi nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái có gọi tôi lên căn dặn nhiêm vụ quan trọng của Liên kiểm trong tình hình đang có sư đoàn thuỷ quân lục chiến Pháp ở Hải Phòng. Trước khi trao cho tôi quyết định nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái mở ngăn kéo lấy ra năm mét vải kaki đưa cho tôi và bảo: “Liên kiểm hàng ngày phải giáp mặt với quân Pháp, nên phải ăn mặc cho đàng hoàng. Anh cầm vải đi may ngay một bộ quân phục và phải có mặt ở Hải Phòng đúng ngày 15 tháng 3 năm 1946 để nhận nhiệm vụ”.

Ở Hải Phòng đến ngày 12 tháng 8 năm 1946 tôi lại nhận được quyết định của cấp trên giao cho chức vụ Trưởng Ty Liên kiểm Việt – Pháp miền duyên hải Bắc Bộ, quản lý một vùng đất từ Hải Phòng đến Móng Cái.

Bác Hồ trở về nước là một sự kiện quan trọng. Với tư cách là chỉ huy Liên kiểm miền duyên hải Bắc Bộ, tôi cũng được cấp trên cho biết trước. Phía Pháp, Đại tá Đép, Tổng chỉ huy sư đoàn thuỷ quân lục chiến ở Hải Phòng, gặp tôi, đề nghị cho binh sỹ Pháp được tham gia lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi báo cáo ngay với đồng chí Hoàng Văn Thái về yêu cầu của phía Pháp và nhận được sự đồng ý với điều kiện phía Pháp phải đón Bác Hồ theo nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp.

Tôi trở lại làm việc với Đại tá Đép. Lần này tôi nói rõ từng chi tiết phía Pháp phải làm trong nghi lễ đón rước Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi yêu cầu của ta phía Pháp đều đồng ý. Riêng phần quân kỳ danh dự của nước Pháp chào Hồ Chủ tịch như thế nào thì cứ bàn đi bàn lại mãi. Cuối cùng phía Pháp phải đồng ý cử hành nghi lễ như đón chào Tổng thống của chính nước họ. Nghĩa là khi Hồ Chủ tịch đi qua quân kỳ của nước Pháp thì quân kỳ danh dự của nước Pháp phải hạ xuống chấm đất để chào Người. Đó là nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp

Chân dung Thiếu tá Cao Phong

Ngày 21 tháng 10 năm 1946, thông báo hạm Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ của hải quân Pháp đưa Bác cập bến Ngự, Hải Phòng. Hàng quân danh dự đứng đón Bác, một bên là Vệ quốc đoàn của ta, còn một bên là hàng quân danh dự của Sư đoàn thuỷ quân lục chiến Pháp, có quân kỳ trung đoàn, có cả quân nhạc.

Nhân dân Hải Phòng đứng đón Bác chật ních cả hai bên đường. Vì có quân đội Pháp tham gia nghi lễ đón Bác và phải chịu sự chỉ huy chung của tôi nên khẩu lệnh tôi sẽ phải hô bằng tiếng Pháp. Hôm ấy, đứng ngay dưới cầu tàu đón Bác, tôi thấy có đông đảo quan khách trong đó có cụ Nguyễn Văn Tố; Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội Võ Nguyên Giáp; ông Nghiêm Kế Tố; ông Trần Huy Liệu; ông Phạm Văn Bạch. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp gọi tôi lại gần, chỉ thị: “Anh là chỉ huy cuộc duyệt binh, anh phải lên tàu rước mời Bác xuống duyệt đội danh dự”.

Nhận lệnh của Bộ trưởng, tôi bước lên tàu Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ trong bộ quân phục chỉnh tề, bên mình đeo kiếm chỉ huy danh dự. Khi tới nơi, tôi thấy Bác Hồ chỉ có một mình, hai tay chắp ra phía sau, đi đi lại lại trên sàn tàu như Người đang suy nghĩ điều gì. Tôi mừng quá sững người lại trong tư thế đứng nghiêm, đưa tay lên vành mũ kính cẩn chào Bác và thưa: “Kính thưa Bác, Quân uỷ Trung ương uỷ nhiệm cháu lên đón Bác, kính mời Bác xuống duyệt đội danh dự ạ”.

Là chỉ huy cuộc duyệt binh, tôi hiểu trọng trách và vinh dự lớn của mình. Tôi đi chếch về phía bên phải Bác, theo đúng nghi thức một sỹ quan cận vệ bên cạnh một nguyên thủ quốc gia. Khi còn cách hàng quân danh dự chừng mười thước, tôi hô to khẩu lệnh để nghi lễ đón Bác được bắt đầu.

Sau lời hô của tôi, hai bên hàng quân danh dự nghiêm lệnh bồng súng chào. Quân nhạc phía Pháp long trọng cử Quốc ca. Khi Bác qua hàng quân danh dự, Quân kỳ danh dự của nước Pháp đã hạ xuống chấm đất để chào Người theo đúng nghi thức trọng thể nhất. Lúc ấy, tôi thấy một nhà quay phim nước ngoài đã quỳ xuống sát đất rất lâu để quay cảnh ấy. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui sướng.

Đi qua hàng quân, Bác tiếp cận đông đảo nhân dân Hải Phòng đứng chật hai bên đường. Bác giơ tay vẫy chào đồng bào rồi lên xe về nhà khách của Ủy ban thành phố. Còn tôi, cả cuộc đời đi theo cách mạng, đã có biết bao nhiêu kỷ niệm. Song lần được đón Bác là kỷ niệm sâu sắc nhất của một người lính đã đi suốt hai cuộc trường chinh.

Quốc Cường (trích ghi)

cpv.org.vn

Cụ già người Mông bốn lần được gặp Bác Hồ

(Dân trí) – Cụ Thào A Chiêu đã trên cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng khi nhớ lại quãng đời hơn 50 năm chiến đấu và công tác, đôi mắt lại trở lên linh hoạt khác thường, giọng nói nghe còn sang sảng: “Cả đời, bố vinh dự nhất là đã từng bốn lần được gặp Bác Hồ…”.

Bác Hồ gặp gỡ đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang. (Ảnh: hanoi.vnn.vn)

Hỏi thăm nhà cụ Thào A Chiêu ở xã vùng cao Hồng Thu, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, người dân nơi đây ai cũng biết. Khi đến được nhà, đợi mãi gần đúng Ngọ, mới thấy một cụ già có mái tóc bạc, chống chiếc gậy tre chậm rãi bước về từ khu rừng xanh mướt còn ẩn hiện trong mây mờ.

Cụ Chiêu mà người dân địa phương quen gọi là cụ Thào sinh năm 1928, có bề dày thành tích chiến trận khiến nhiều người kính nể: Tham gia du kích, tiễu phỉ, rồi gia nhập quân đội chính quy đi giải phóng miền Nam, tham gia chiến tranh biên giới và giúp bạn Lào đánh giặc. Chính những năm tháng đối diện với hoàn cảnh mong manh giữa sự sống và cái chết ấy, cụ đã may mắn và vinh dự được gặp Bác Hồ nhiều lần.

Cụ Thào mở đầu câu chuyện bằng cách chỉ vào cái tai bên trái của mình mà rằng: “Con phải nói to thì bố mới nghe thấy”. Mới hai năm trước, nhân một lần các bác sỹ Bệnh viện Quân Y 103 về Sìn Hồ khám chữa bệnh cho bà con, cụ đi khám thì được các bác sỹ lấy ra từ tai bên trái một cục máu đen khô đét, to gần bằng nửa đầu ngón tay út. Lúc ấy cụ Thào đã thốt lên: “Sướng quá bác sỹ ơi, cái tai tôi nhẹ quá, nghe rõ quá”. Nhưng sau đấy vài tháng, cái tai trái của cụ cứ từ từ ù đặc, đến nay thì không còn nghe thấy gì nữa.

Cụ kể: Năm 1962, trong một trận quyết chiến ở bên Lào, cụ vác trên vai khẩu “Đê ca” 82 và bắn liền một mạch 12 phát, trong khi các xạ thủ khác chỉ dám bắn 6 phát. Bắn đến quả cuối cùng thì máu mũi, máu tai, máu miệng ứa ra, cụ ngất lịm đi, sau một tuần mới nói được trở lại. Cụ Thào được máy bay của ta chuyển về Hà Nội điều trị tại Bệnh viện Quân Y 108, sau 8 tháng tai vẫn ù.

Chính cái lúc tưởng chừng như không thể qua nổi ấy, ông được gặp Bác Hồ. Bác mặc “chiếc áo thường dân, màu cỏ úa”, vào thăm, động viên các thương binh được chuyển từ chiến trường Lào về. Toàn là những thương binh nặng “người mất tay, người mất chân, băng bó khắp người…”. Cụ Thào bảo “nhìn cảnh ấy, nhiều người không dám vào thăm đâu”. Cụ tiếc là “lần được gặp Bác Hồ lần 3” này không nghe được lời Bác Hồ nói vì tai ù đặc.

Gia đình cụ Thào có 7 anh em trai, cụ là con thứ sáu. Năm lên 13 tuổi, mẹ của cụ ốm nặng qua đời, còn người bố bị giặc Pháp bắt đi tù vì “tội” theo cách mạng. 7 anh em tự đùm bọc rau cháo nuôi nhau. Sau 5 năm bị Pháp bắt đi biệt tích, tưởng không còn hy vọng gì, bố của cụ Thào được tha về. Kể từ đó cụ Thào được nghe bố kể nhiều chuyện về Bác Hồ, về người dân các dân tộc nghe theo Đảng, theo Bác Hồ đứng lên đấu tranh bảo về Tổ Quốc ở khắp nơi trong cả nước và cho tới mãi sau này cụ Thào mới được bố nói cho biết trong 5 năm ở tù của thực dân Pháp, người bố của cụ đã gặp và được các cán bộ cách mạng giác ngộ.

Đến năm 1951, có 4 cán bộ bộ đội trong đó 3 người giới thiệu tên là Bằng Quốc Bảo, người Dao quê ở Bắc Cạn; Phan Quang Sử, người Thái ở Việt Bắc; Lương Trọng Viễn, quê ở Yên Bái… đến nhà cụ Thào, bắt liên lạc với người bố của cụ. Suốt một tháng trời hoạt động gây dựng cơ sở cách mạng, vận động bà con dân bản xã Hồng Thu thành lập đội du kích, chuẩn bị đánh Pháp, 4 bộ đội được gia đình cụ Thào cùng bà con nơi đây bảo vệ, tiếp tế lương thực, thực phẩm và dẫn đi ẩn náu ở một hang đá thuộc địa bàn bản Chung Sung A.

Cụ còn nhớ: “Cứ nửa đêm, khi gà gáy là bố lại mang gạo, thực phẩm vào hang đá cho bộ đội”. Hưởng ứng lời kêu gọi, vận động của bộ đội, cả nhà cụ Thào đều tham gia đội du kích. Lúc đầu đội chỉ có 17 người nhưng càng về sau càng có nhiều người tham gia, đến đầu năm 1953 quân số tăng lên đến 30 người, trong đó có 5 phụ nữ.

Cụ Thào nhẩm tính, từ đầu năm đến cuối năm 1953, đội du kích xã Hồng Thu do ông Giàng A Tùng là Đội trưởng (nay đã mất) đã đánh 22 trận, góp một phần không nhỏ vào chiến thắng chung, giải phóng quê hương Sìn Hồ ngày 19/12/1953.

Đầu năm 1954, cụ Thào nhập ngũ, được giao nhiệm vụ Tiểu đội trưởng thuộc Đại đội địa phương C835, hành quân xuống vùng thấp Sìn Hồ tiễu phỉ hoành hành ở các xã Pu Sam Cáp, Noong Hẻo, Nậm Cuổi, Căn Co. Chỉ trong vòng 3 tháng, người Tiểu đội trưởng này và đồng đội tham gia 16 trận tiễu phỉ. Bây giờ, cụ vẫn còn nhớ trận cuối cùng đánh từ 4 giờ sáng đến khoảng 11 giờ trưa mới ngừng tiếng súng. Sáng sớm hôm sau, ba tên phỉ đầu sỏ phất cờ trắng cùng khoảng 600 tên lính mang gần 400 khẩu súng các loại xin hàng. Kể từ đó, Sìn Hồ sạch bóng phỉ.

Tháng 10/1954, trong buổi tổng kết chiến dịch Điện Phiên Phủ, cụ vinh dự được Đại tá Bằng Gia, Quân khu trưởng Quân khu Tây Bắc thay mặt Chính phủ trao tặng Huân chương chiến công hạng Nhất và cũng là người vinh dự cùng lên nhận Cờ thi đua của Chính phủ tặng Lai Châu (cũ). Sau đó cũng chính cụ là người duy nhất của huyện Sìn Hồ, là chiến sỹ thi đua được về Quân khu Tây Bắc (Sơn La) gặp và nghe Bác Hồ nói chuyện. Đây chính là lần đầu tiên cụ Thào được gặp Bác.

Tại một cái lán gianh nhỏ, cạnh khu rừng của Quân khu Tây Bắc, có khoảng 30 chiến sỹ tiêu biểu thuộc các dân tộc khu vực Tây Bắc cùng về dự. Bác Hồ đến, mặc bộ quần áo nâu, có một cái túi to ở vạt áo. Bác cười hiền từ, đi bắt tay từng chiến sỹ. Bác nói chuyện tình hình chiến thắng của Cách mạng trên các mặt trận, chừng 15 phút, với giọng trầm ấm. Bác kết thúc với câu “Chiến dịch Điện Biên Phủ đã thắng lợi hoàn toàn, nhưng chưa phải đã hết giặc, mong các chú cố gắng tiếp tục chiến đấu, khi hoà bình nếu còn sống Bác sẽ nói chuyện nhiều hơn”.

Lần thứ hai, cụ Thào vinh dự được gặp Bác Hồ vào buổi lễ tuyên bố thành lập khu tự trị Thái – Mèo ở Sơn La. Bấy giờ cụ là một trong 3 đại biểu của huyện Sìn Hồ đại diện cho dân tộc Mông đi dự lễ. Cụ vẫn nhớ, lần ấy, Bác mặc chiếc áo sỹ quan màu xanh, chùng gần đầu gối. Cụ thổ lộ, cũng vì được gặp Bác Hồ, nghe Bác nói mà như được tiếp thêm sức mạnh, luôn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, Cách mạng sẽ thành công và sự thực đã là như vậy.

Một lòng theo Đảng, cụ tích cực vận động con cháu và bà con xung quanh không nghe theo kẻ xấu. 3 người con của cụ đều đã trưởng thành, trong đó một người con trai tiếp tục được bản Chung Sung A tín nhiệm bầu làm Trưởng bản.

Khi chúng tôi nóng lòng muốn biết “lần thứ tư” cụ gặp Bác Hồ trong trường hợp nào thì ông cụ bỗng lặng đi giây lát, nhìn chúng tôi với đôi mắt đượm buồn. Đó là năm 1993, tỉnh Lai Châu (cũ) tổ chức cho những cựu chiến binh về thăm Lăng Bác. Cụ Thào bảo “gặp Bác lần này Bác không nói được như trước, Bác nằm nhìn vẫn thế, chỉ có điều gầy hơn trước nhiều thôi!”.

Có lẽ cũng như hàng triệu người dân Việt Nam bấy lâu nay, trong lòng cụ Thào, Bác Hồ chỉ đang nằm ngủ!

Nguyễn Công Hải
TTXVN

dantri.com.vn

Cụ bà dân tộc Thái 3 lần được gặp Bác Hồ

(Dân trí) – Vi Thị Hoá, cô gái Thái vùng Tây Bắc thủơ nào, nay đã 80 tuổi, đã kém minh mẫn, nhưng khi kể lại quãng đời hơn 50 năm chiến đấu, công tác, đôi mắt cụ vẫn bừng sáng: “Ba lần được gặp Bác là niềm vinh dự của đời tôi”.

80 tuổi, cụ Vi Thị Hoá đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người đảng viên 60 năm tuổi Đảng. Những năm trước cụ Hoá còn sức khoẻ cụ luôn luôn là một cán bộ hưu trí gương mẫu, hoà giải viên tích cực của Phường Lào Cai, thành phố Lào Cai (Lào Cai). Tài sản vô giá đối với cụ vẫn giữ vẹn nguyên là 2 tấm ảnh đen trắng, tấm ảnh hồi cụ được làm trong ban Chủ tịch đoàn ngồi cùng Bác năm 1964 và tấm ảnh cụ chụp khi Bác đang năm trong linh cữu thuỷ tinh trong suốt khi Người mới từ trần năm 1969.

Cụ Hoá hồi tưởng lại 50 năm về trước: Ngày ấy tôi là một trong những đại biểu tiêu biểu trong đoàn đại diện cho Thanh Niên Việt Nam tham dự liên hoan thanh niên thế giới lần thứ 4 tổ chức tại thủ đô Bucarest (Romania). Đang háo hức chuẩn bị cho ngày lên đường thì tôi cùng 2 người bạn trong đoàn được gọi đi có việc. Khi đến nơi tại khu căn cứ du kích bí mật Tuyên Quang, tôi vô cùng mừng rỡ vì mới biết mình được gặp Bác Hồ.

Bác căn dặn: “Các cháu sang dự liên hoan phải đoàn kết với thanh niên thế giới và thanh niên Pháp, tranh thủ sự ủng hộ của thanh niên Pháp, thể hiện mong muốn hoà bình của Việt Nam”. Khắc ghi lời Bác, noi theo gương của Người, tôi và các bạn đã khẳng định bản lĩnh và phong thái của người Việt Nam. Tham gia rất nhiều các hoạt động chung với thanh niên các nước, trong số đó có 2 thanh niên Pháp là Hăng-đi-Mac-tanh và Rây-Mông-Điêng, sau này đóng góp sức lực không nhỏ trong công cuộc đấu tranh chính nghĩa, ủng hộ hoà bình tại Việt Nam.

Sau ngày giải phóng thủ đô năm 1955, Bác Hồ đã đến thăm, chúc Tết và động viên Trường dân tộc thiểu số Trung ương nơi mà cụ Hoá đang học. Những lời Bác dạy, dặn dò hàng trăm học sinh như nuốt lấy từng lời. Thế hệ học sinh của trường ngày ấy bây giờ người còn, người mất, song đều trưởng thành, toả về với đồng bào các dân tộc đem theo lời căn dặn với mong muốn của Bác năm xưa trở thành hiện thực trên quê hương đổi mới.

Tại Hội nghị cán bộ nữ miền núi ở thủ đô Hà Nội năm 1964, Bác Hồ không chỉ đến dự mà còn tham gia Đoàn chủ tịch. Cụ Vi Thị Hoá vô cùng vinh dự được ngồi trong Đoàn chủ tịch điều hành Hội nghị cùng với Bác, Bác xưng hô thân mật “Bác” và “các cô” đầm ấm tình cảm đại gia đình.

Bác biểu dương khen ngợi và giao nhiệm vụ cho chị em theo cách riêng của Bác thật rõ ràng, cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Bác nhấn mạnh đến vấn đề đoàn kết các dân tộc, phụ nữ cũng là người chủ của đất nước, phải phấn đấu lao động sản xuất, xây dựng gia đình, xây dựng đời sống mới, cố gắng học tập. Bác giao nhiệm vụ cho Đảng uỷ các cấp ở miền núi phải ra sức phát triển đảng viên, đoàn viên phụ nữ, đào tạo, giúp đỡ cán bộ phụ nữ các dân tộc. Bác hứa sẽ thưởng cho những chị em có thành tích xuất sắc.

Cô Hoá ngỡ ngàng, rưng rưng cảm động, không ngờ bận rộn là thế mà Bác vẫn quan tâm, theo dõi từng bước tiến bộ của mình và chị em. Bác nói “Hiện nay, chị em miền núi đã tiến bộ nhiều như cô Vi Thị Hoá ở Nghĩa Lộ, là tỉnh uỷ viên…”.

Năm 1969, trong đoạn đại biểu nhân dân các dân tộc tỉnh Nghĩa Lộ về Hà Nội viếng Bác có Vi Thị Hoá. Bác nằm đó, bình yên như đang trong giấc ngủ. Vi Thị Hoá cùng 3 người trong đoàn được đứng 15 phút bên linh cữu, cùng với các đồng chí cảnh vệ, canh gác giấc ngủ cho Người. Để mặc nước mắt rơi, cố dồn nén tiếng nấc nghẹn ngào vào sâu thẳm trong tim, bằng tất cả nghị lực, tình cảm sâu lắng và lòng thành kính, Vi Thị Hoá đứng nghiêm trang bên linh cữu Người, lòng thầm gọi mãi: Bác…Bác ơi…

Ba lần được gặp Bác, hai tấm ảnh kỷ niệm, không chỉ là niềm trân trọng, vinh dự của riêng cụ, mà còn là niềm tự hào của các thế hệ con cháu trong gia đình. Đây cũng là tình cảm chân thành, niềm vinh dự tự hào chung của phụ nữ và nhân dân các dân tộc Tây Bắc với vị cha già kính yêu của dân tộc: Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Bùi Thanh Hải
TTXVN

cpv.org.vn

Chuyện kể của vị thủ lĩnh diệt phỉ 2 lần được gặp Bác Hồ

(Dân trí) – “Nhắc đến Bác Hồ, ký ức vẫn còn gợi nhớ trong tâm trí già. Được gặp Bác Hồ, nói chuyện suốt 2 tiếng, cái đầu già không nhớ hết, không hiểu hết. Nhưng chỉ bằng một câu chuyện “bó đũa” của Người, đúng cái lý của người Mông, cái dạ già đã sáng ra…”.

Già Vừ Chồng Pao còn gọi là Vừ Lầu Pó, là người dân tộc Mông, sinh ngày 1/9/1930, tại bản Mường Ải, xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn (Nghệ An). Già sinh ra và lớn lên ở nơi biên ải giáp ranh Việt Nam – Lào, là vùng “phên giậu” của Tổ quốc, quanh năm hạt gạo hạt bắp không đủ nuôi sống con người. 15 tuổi, Vừ Chồng Pao đã bộc lộ tố chất của một thủ lĩnh nơi đại ngàn.

Năm thực dân Pháp cùng bọn thổ phỉ đánh mạnh ở vùng biên giới Kỳ Sơn, Vừ Chồng Pao cùng 2 người bạn đứng ra thành lập đội du kích, vũ khí ban đầu là súng kíp tự tạo, thuốc súng tự sáng chế.

Bác Hồ thăm bộ đội (ảnh minh họa)

“Năm 1950 từ giữ chức trưởng công an xã Na Ngoi, rồi đến Ủy viên BCH huyện Tương Dương đặc trách tại Kỳ Sơn, ngày 2/9/1954, già vinh dự thay mặt đồng bào các dân tộc thiểu số huyện nhà ra Hà Nội đón Bác Hồ về thủ đô. Nhắc đến Bác Hồ, ký ức vẫn còn gợi nhớ trong tâm trí già. Được gặp Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nói chuyện suốt 2 tiếng. Cái đầu không nhớ hết, không hiểu hết. Chỉ in sâu một lời duy nhất: “Muốn thắng giặc, 54 dân tộc anh em phải đoàn kết. Như một bó đũa từng chiếc một thì nhỏ, nhưng kết lại thành một bó to, sẽ tạo thành một sức mạnh khổng lồ”. Cái lý đó đối với người Mông ta thật đơn giản và dễ hiểu. Cái dạ cũng sáng ra…” – già Vừ Chồng Pao nhớ lại.

Năm 1960, Kỳ Sơn tách huyện, cái khó khăn gian khổ của huyện non trẻ không kể hết. Bọn phỉ lại một lần nữa được đế quốc Mỹ xúi giục phía sau, hỗ trợ đánh vào biên giới các huyện Miền tây xứ Nghệ. Lúc này “tướng phỉ” Vàng Pao dụ dỗ, mua chuộc bà con. Nhiều bản gần như toàn bộ đi theo phỉ.

Lúc đó, với cương vị là Chủ tịch MTTQ huyện Kỳ Sơn, già Vừ Chồng Pao lại được ra Hà Nội dự lễ kỷ niệm quốc khánh, được gặp Bác Hồ và Tổng Bí thư Lê Duẩn. Tại buổi gặp, Bác đã nói để già Pao hiểu muốn diệt nạn nổi loạn, diệt phỉ thì phải hiểu kẻ thù thực sự của ta là đế quốc, chứ không phải là những người dân đi theo phỉ.

Hiểu lời dạy của Bác, khi về đến Kỳ Sơn, già đã tổ chức một cuộc họp suốt 3 ngày, truyền đạt lại lời dặn của Bác Hồ. Già phân công cán bộ đến tận các bản làng gặp mặt các già làng trưởng bản, vận động bà con các dân tộc đoàn kết, tập trung vào những gia đình có người theo phỉ.

Phong trào vào rừng gọi người thân trở về lan truyền rộng, những người theo phỉ đã lần lượt trở về làm ăn lương thiện. Đoàn kết chính là sức mạnh lòng dân, là chân lý vững chắc, già đã biết phát huy tinh thần ấy tạo thành sức mạnh rộng lớn, làm tan rã tổ chức phỉ Châu Phà.

Năm 1969, già được bầu làm Chủ tịch UBND huyện Kỳ Sơn, đại biểu Quốc hội khoá VIII. Trong thời gian 20 năm giữ cương vị Chủ tịch huyện Kỳ Sơn, mảnh đất “xung yếu”, “then khoá” chưa một ngày bình yên. Tàn quân phỉ liên tục quấy nhiễu nhưng già Vừ Chồng Pào chưa bao giờ chịu thua cuộc.

Từ đó cái tên Vừ Chồng Pao, thủ lĩnh diệt phỉ, đã lan truyền trong dân bản, tạo nỗi khiếp sợ cho bọn phỉ. Ký ức diệt phỉ của Vừ Chồng Pao được lan truyền cho đến tận hôm nay. Với những chiến công chói lọi đó, già Pao vinh dự được Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh mời lên Hà Nội chơi.

Năm 2004, biết già mỗi lần về xuôi đi họp phải ngồi xe khách chen chúc, trong khi tuổi cao sức yếu, Tổng Bí thư tặng già chiếc xe con từ dự án xoá bỏ cây thuốc phiện. Nhưng già Pao nhường lại cho UBMTTQ huyện để cơ quan có xe đi phục vụ công tác, khi cần già lại nhờ lái xe chở đi.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tặng đồng hồ cho già Pao

Nay đã hơn 80 tuổi nhưng với niềm tin yêu của dân bản, của Đảng, già không cho phép mình được nghỉ ngơi. Già lại tiếp tục được bầu vào chức Phó Chủ tịch không chuyên trách UBMTTQ tỉnh đặc trách tại Kỳ Sơn.

Tháng 3/2010 vừa qua, có dịp trở lại Hà Nội, một lần nữa già vinh dự được gặp và nói chuyện thân tình với Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại nhà riêng. Tổng Bí thư đã tháo chiếc đồng hồ từ tay mình trao tặng già. Món quà ấy già Pao xin nhận, lúc nào cũng giữ bên mình.

Vân Nga – Nguyễn Duy

dantri.com.vn

Theo hành trình “Bác Hồ và nước Pháp”

(Dân trí) – Hơn 200 hình ảnh, tài liệu quý mô tả lại con đường đấu tranh giành độc lập cho dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có gắn liền với nước Pháp đã được chính một phụ nữ gốc Pháp kỳ công tìm hiểu, sưu tầm và khám phá trong hơn 2 thập kỷ nay.

Bô sưu tập có tên “Hồ Chí Minh và tình hữu nghị Việt – Pháp” vừa được bà Dominique de Miscault giới thiệu tại triển lãm cùng tên tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh TT-Huế chiều 17/5.

Bộ sưu tập gồm 3 phần: “Nguyễn Ái Quốc ở Paris” giới thiệu những hình ảnh và tài liệu quý về những hoạt động của Người tại Pháp được khai thác từ Trung tâm Lưu trữ quốc gia Pháp ở các thành phố Aixcen Provence, Fontainbleau và Paris; “Những dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh trên đất Pháp” giới thiệu những địa danh Bác từng hoạt động như thành phố Tour với sự kiện tham gia đại hội lần thứ 18 của đảng Xã hội Pháp; và “Ảnh chụp các địa điểm Nguyễn Ái Quốc từng đến, đã từng sống hoạt động” như cảng cũ Marseille, số 9 ngõ Compoint…

Những tài liệu quý hiếm này một phần được trích ra từ các phòng lưu trữ thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương trước đây, Cảnh sát Trung Kỳ, Nam Kỳ và Lào. Trong đó một số trang tài liệu mới tỷ lệ 1:1 có xuất xứ từ Sở Mật thám Trung kỳ về Nguyễn Ái Quốc và các thành viên trong gia đình của Người.
Bà Dominique de Miscault đã có hai thập kỷ tìm hiểu, khám phá con đường đấu tranh giành độc lập cho dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong quãng thời gian đó, bà đã dành 7 năm tiến hành sưu tập riêng về Bác.

“Nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về Việt Nam là niềm say mê, tâm huyết và là sự nghiệp của tôi. Đi khắp nước Pháp để thu thập những bức ảnh, tài liệu – nơi vị chủ tịch vĩ đại các bạn đã đến. Tôi xin trao tặng toàn bộ triển lãm này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên – Huế với ước vọng người dân sẽ hiểu nhiều hơn về Bác”, bà Dominique thổ lộ.

Hiện người phụ nữ này đang làm việc cho hội hữu nghị Việt – Pháp (AAFV) – một trong những tổ chức quốc tế đầu tiên triển khai các hoạt động ủng hộ vụ kiện các nạn nhân Việt Nam nhiễm chất độc da cam. Bà đã có hàng trăm cuộc triển lãm ở Pháp, Nga và Tây Âu. Riêng Việt Nam, Dominique đã thực hiện 12 cuộc triển lãm tại Thủ đô Hà Nội, TPHCM và Huế.

Yêu sách 8 điểm đòi quyền tự quyết cho dân tộc Việt Nam.

Phiếu nhận dạng Nguyễn Ái Quốc của chính quyền thực dân Pháp lập năm 1931 trong vụ bắt giam Người tại Hồng Kông.

Lễ đón chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh của Chính phủ Pháp tại Dinh Thủ tướng Pháp 2/7/1946

Một số trích đoạn hồ sơ C-3268 của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Hồ Chí Minh) do sở mật thám Trung kỳ lập để theo dõi.

Chân dung và thẻ tù của Bác tại Hồng Kông tháng 6/1931

Nhiều cái tên của Bác đã từng dùng trong thời gian tranh đấu.

Đại Dương

dantri.com.vn

Gặp người 10 năm bảo vệ Bác Hồ

(Dân trí) – Cho đến bây giờ, nhớ lại 10 năm vinh dự được cận kề bên Bác, ông Lê Minh Thưởng vẫn không khỏi bồi hồi xúc động: “Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước thời bấy giờ. Vinh dự ấy tôi không thể nào quên…”.

Hăng say kể về những giây phút quý giá bên Bác Hồ, ông Thưởng “sung” đến nỗi cởi phăng cả áo khoác.

Ông Lê Minh Thưởng, xóm 2, Nghi Thịnh, Nghi Lộc, Nghệ An, năm nay đã bước qua cái tuổi thất thập cổ lai hy nhưng trong ông vẫn sáng những kỷ niệm không thể phôi phai về khoảng thời gian 10 năm làm lính bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt hơn, ông còn sở hữu tấm ảnh cực kỳ quý giá lưu giữ hình ảnh ông được chụp với Bác Hồ và gần đủ các Ủy viên Bộ Chính trị trước khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trở thành người thiên cổ một ngày.

Những ngày cuối năm Canh Dần, chúng tôi tìm về thăm ông Thưởng, mong được nghe ông kể những câu chuyện xưa. Có lẽ nhờ mấy chục năm công tác trong ngành công an, được rèn luyện nhiều, nên dù đã ở tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ông còn khỏe lắm; tác phong nhanh nhẹn, trí óc minh mẫn, giọng nói to khỏe, nước da đỏ rắn giữa cái giá rét hơn 10 độ C.

Chỉ vào một bức ảnh đen trắng được lồng trong khung kính treo trang trọng trên tường nhà, ông rành rọt đọc tên từng người trong ảnh: các ông Nguyễn Duy Trinh, Tố Hữu, Phạm Hùng, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng,… Nguyễn Chí Thanh, Lê Thanh Nghị, Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Vũ Kỳ. Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa; ông Thưởng bế trong lòng một cháu bé, ngồi bên phải Bác Hồ.

Ông Thưởng cho biết sở dĩ Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có trong ảnh vì khi đó đang bận đi công tác. Bức ảnh được chụp năm 1967, nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ. Với ông Thưởng, bức ảnh này là báu vật vô giá của cả đời ông.

Cũng có lúc ông trầm ngâm như tiếc nhớ một thời được sát cánh bên Người.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có bố là đảng viên, anh trai là liệt sĩ từ thời kháng chiến chống Pháp, năm 1958, ông Thưởng xin đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự nhưng không trúng. Ngay sau đó, ông được gia nhập lực lượng Công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Chẳng bao lâu sau ông được triệu tập về học ở Trường C500.

Tháng 4/1960 ra trường, ông nhận được quyết định về công tác ở Cục cảnh vệ (Cục cảnh vệ lúc đó có mật danh là K10) với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và công tác ở đó cho đến ngày Bác qua đời.

Những ngày đầu ông chỉ được bảo vệ vòng ngoài nơi Bác Hồ làm việc; chỉ được gặp Bác những khi Bác tập thể dục hay đi bách bộ. Không lâu sau ông Thưởng được giao trực tiếp bảo vệ Bác không chỉ ở Phủ Chủ tịch mà cả những lúc Bác đi công tác. Sau khi Bác mất, ông Thưởng được điều về công tác ở Cục Cảnh sát nhân dân, sau đó đi học chuyên tu. Năm 1980, ông được chuyển về Công an Nghệ Tĩnh với chức vụ Đội trưởng đội săn bắt cướp (SBC).
Trên cương vị này ông đã cùng đồng đội lập nhiều chiến công như bắt gọn nhóm tội phạm do Tọng (Trương Hiền), Sáu Côi… cầm đầu nổi tiếng liều lĩnh một thời ở đất thành Vinh. Sau này ông Lê Minh Thưởng nghỉ hưu với quân hàm Trung tá. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân huy chương khác. Phần thưởng nào cũng quý nhưng quý hơn cả là Huy hiệu Bác Hồ ông được Bác tặng năm 1968.

Hơn 10 năm được gần gũi, bảo vệ Bác, ông chỉ là người phục vụ, những chuyện “quốc gia đại sự” ông không được biết. Nhưng trong đời thường ông đã được Bác dạy nhiều điều hay lẽ phải. Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Việc gì biết thì nói, việc nào không biết thì phải hỏi, đừng giấu, im lặng làm thinh. Hiểu cái gì nói cho mọi người nghe. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”, ông Thưởng nhớ lại.

Được khuyến khích, ông Thưởng đã hỏi và được Bác giải thích nhiều chuyện như: sự tích con cá gỗ, chùa Bảo Minh ở đường Hùng Vương tại sao có tên khác là chùa Các Tút…. Bác vẫn gọi tấm mành treo quanh nhà sàn là tấm sáo như nhân dân Nghệ An vẫn gọi. Điều đó chứng tỏ dù xa quê nhiều chục năm, Bác không quên cả những việc nhỏ nhất.

Một lần Bác đi công tác Hải Phòng, xe đang chạy thì một đàn vịt của dân đang băng qua đường. Lái xe cố tránh nhưng không được, mấy con bị cán chết. Đến nơi Bác đã chỉ thị cho lái xe quay lại đền cho dân, hết bao nhiêu về bảo lại với Bác. Một tình huống khác cũng làm ông Thưởng nhớ mãi không bao giờ quên. Mồng 2 Tết năm 1966, Bác đi chúc tết cán bộ và nhân dân Quảng Ninh, khi về đoàn đi theo đường qua phà Phả Lại.

Mặc dù bến phà Phả Lại đã nhận được chỉ thị phải chuẩn bị 2 phà, 1 để chạy thường xuyên, 1 để phục vụ khách đặc biệt. Tuy nhiên không biết vì sao hôm đó bến phà chỉ có được một chiếc nên từ 6 – 7 giờ sáng phà không chạy, nhiều người cần qua sông bị dồn lại. Khi xe Bác đến và lên phà, mặc dù lực lượng bảo vệ đã cố ngăn nhưng nhiều người đi đường vẫn chen lên bằng được. Trên phà nhiều người đã trút sự bực dọc lên chiếc xe ôtô, có người đã văng tục.

Bức ảnh quý giá được ông Thưởng coi như báu vật. Trong ảnh, Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa, hàng đầu. Ông Thưởng bế trong lòng một cháu bé, ngồi bên phải Bác Hồ.

Thấy vậy Bác đã chỉ thị cho phà chạy chậm lại rồi xuống xe và nói: “Bác xin lỗi bà con” và sau đó chúc Tết mọi người. Khi thấy Bác xuất hiện, cả những người có mặt trên phà và những người ở hai bên bờ đã nhiệt liệt hoan hô. Nhiều người đã không quản nguy hiểm bơi ra phà để được tận mắt nhìn thấy Bác. Phà cập bến, trước khi lên xe Bác không quên nhắc lực lượng công an và nhân viên bến phà bằng mọi cách không được để một ai bị chết đuối.

Mười năm được gần Bác, ông Thưởng cũng nhận ra nhiều thói quen của Bác: Bác không bao giờ uống rượu, những lúc tiếp khách Bác cũng nâng cốc nhưng không uống. Đi thăm và làm việc ở đâu Bác không bao giờ cho phép tổ chức theo kiểu “tiền hô hậu ủng”…

Biết bao câu chuyện, bao kỷ niệm khó quên, bao bài học làm người trong quãng thời gian 10 năm bên Bác. Đó là món quà mừng tuổi quý nhất ông Thưởng vẫn dành cho con cháu mỗi dịp Tết đến Xuân về.

Nguyễn Duy – Sỹ Lập
dantri.com.vn