Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới

LTS: Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, đồng chí TRƯƠNG TẤN SANG, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có bài viết với tựa đề Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới. Bài viết khẳng định, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ, quật cường của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bài viết thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, thách thức, khuyết điểm trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước từ những ngày đầu đến nay; qua đó khẳng định, bằng những bài học kinh nghiệm trong suốt chiều dài lịch sử, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến và vượt qua thử thách. Bài viết cũng nêu bật, vấn đề đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy, tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp đất nước vượt qua khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau… Báo SGGP xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri quận 4, TPHCM tháng 6-2012. Ảnh: Việt Dũng

Ngày Quốc khánh bao giờ cũng đem lại cho mỗi người chúng ta những cảm xúc thật đặc biệt.

Tôi nhớ lại cảm xúc của mình vào những ngày kỷ niệm này trong nhiều năm đã qua, cho dù lúc đó tôi đang ở thành phố hay nông thôn, vào buổi trưa hay vào lúc nửa đêm khi vạn vật đã chìm vào giấc ngủ. Tràn ngập trong tâm khảm tôi lúc đó là cảm xúc thiêng liêng và lắng đọng về ý nghĩa vĩ đại của Ngày Độc lập với non sông và dân tộc Việt Nam ta. Một câu hỏi da diết xuất hiện trong những khoảnh khắc ấy: những gương mặt mà ta đã gặp, những ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi ngôi làng, hay thậm chí một tiếng chuông chùa trong đêm, sẽ như thế nào, sẽ ra sao, nếu như không có Ngày Độc lập ấy?

Đã có rất nhiều cuốn sách, những bài diễn văn của các học giả, các nhà lãnh đạo trong và ngoài nước, trong suốt 67 năm qua, đề cập từng khía cạnh, thậm chí nhỏ nhất về ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, không chỉ với đất nước và nhân dân Việt Nam, mà với sự tiến bộ của nhân loại nói chung. Trong thời đại thông tin ngày nay, việc kiếm tìm những thông tin như vậy trở nên thật dễ dàng…

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta với hình ảnh biểu tượng cách đây 67 năm, ngày 2-9 tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Ngày 2-9 đã trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, mở ra trang sử mới rạng rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một Nhà nước kiểu mới – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được xây dựng. Việt Nam từ một nước nô lệ bị sự thống trị hà khắc của chính quyền thực dân – phong kiến, đã xuất hiện trên bản đồ thế giới với tư cách là một nước tự do và độc lập. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình… Hơn ai hết, mỗi một người dân Việt Nam – những hậu duệ của rất nhiều thế hệ trước đó từng trải qua biết bao thiên tai, binh lửa, bao biến cố thăng trầm, những tiếp biến “vật đổi sao dời” ngàn năm, hết đời này sang đời khác – bằng máu huyết, thanh danh, vận mệnh của dân tộc và của chính mình, đều ý thức rõ ràng giá trị sâu sắc thiêng liêng và ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Ngày Độc lập này. Không ai có thể phủ nhận điều đó!

Cũng không ai có thể phủ nhận một sự thực lịch sử: thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Với những giá trị lịch sử to lớn và những bài học thực tiễn phong phú, suốt 67 năm qua kể từ ngày thành lập nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa dân tộc và nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ở Điện Biên Phủ, đến thắng lợi vĩ đại mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối; đến những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN…

Đến bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam hôm nay, ta cũng bắt gặp những đổi thay theo hướng tiến bộ, khắp nơi đều là những công trường xây dựng, diện mạo thành thị, nông thôn bao trùm một sức sống mới… Những vật dụng quen thuộc xưa kia trong đời sống lam lũ của người dân như cái khố rách, cái cối xay, đôi guốc mộc, hay là chiếc xe đạp Thống Nhất mới chỉ vài chục năm trước còn là một phương tiện “sang trọng” thời bao cấp… thì nay chỉ còn là ký ức hay vật trưng bày trong các viện bảo tàng.

Sau hàng ngàn năm lịch sử, đất nước đã bao giờ đẹp như hôm nay?

*

Nhưng phải chăng không còn điều gì bất cập, không có vấn nạn gì mà mỗi khi nghĩ đến ta thấy nhức nhối trong lòng?

Hàng ngày lật giở các trang báo, gặp gỡ các cán bộ, đảng viên và nhân dân, ai cũng có một điều gì đó, một bức xúc hoặc không đồng tình nào đó động chạm đến bản thân hoặc do chính sách, do tổ chức thực hiện. Thậm chí, nhiều khi ta bắt gặp sự phản ứng đến mức phẫn nộ. Đã có những chính sách được về mặt chính trị, an ninh thì lại chưa ổn về mặt xã hội, dẫn đến những tranh luận nhiều khi gay gắt, thậm chí xung đột. Giá cả các mặt hàng leo thang kéo theo nhiều hệ lụy; chuẩn mực giá trị bị đảo lộn và xem thường dẫn đến pháp luật kỷ cương, đạo đức xã hội bị xói mòn nghiêm trọng. Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì mặt trái tiêu cực của nó càng có môi trường nảy sinh. Ai cũng đồng tình từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, cào bằng, bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu mọi động lực phát triển, duy trì nghèo đói, nhưng chuyển sang cơ chế thị trường thì những mặt trái của nó đã giáng vào đời sống xã hội những “đòn” không kém phần khốc liệt. Có những việc tưởng như đơn giản, tưởng như dễ giải quyết, không phải là khó khăn, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”… Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”…

Nhìn nhận những khó khăn, thách thức này phải bằng con mắt biện chứng lịch sử. Trên thực tế, cách mạng Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới, chưa bao giờ hết khó khăn, thử thách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cách mạng Việt Nam lúc đó lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đe dọa, hậu quả của chế độ phong kiến – thuộc địa để lại rất nặng nề. Khó khăn chồng chất, nhưng Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đã làm nên những điều kỳ diệu, tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ, ban hành Hiến pháp, xây dựng và củng cố chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để Nhà nước Việt Nam vượt qua vô vàn gian khổ, bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Cũng như vậy, giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ, khó khăn nào bằng? Nhưng cả nước đều ra trận, quyết chiến, quyết thắng, và đã chiến thắng vang dội, Việt Nam trở thành “lương tâm của thời đại” như nhiều người trên thế giới đã tôn vinh. Sau khi đất nước thống nhất, khó khăn chồng chất, hậu quả nặng nề của chiến tranh chưa được khắc phục thì lại vừa phải tiến hành cuộc chiến đấu mới để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, vừa phải chống lại sự bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, phải tìm tòi khảo nghiệm con đường phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Cũng có không ít những sai lầm, khuyết điểm, phải sửa sai như trong cải cách ruộng đất, sửa sai những khuyết điểm chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo, quản lý và cơ chế chính sách khiến cho kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng thời điểm trước Đại hội VI (1986).

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm công trình xử lý nước thải thuộc dự án cải thiện vệ sinh môi trường nước lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Ảnh: GIẢN THANH SƠN

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn hai thập kỷ qua, giống như một cỗ xe còn chưa hoàn thiện nhưng đang chạy với tốc độ nhanh, thành công nhiều mà khó khăn cũng lắm. Hiện nay, những khó khăn mà chúng ta phải đối mặt là việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN còn nhiều hạn chế, có nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. Nền kinh tế đất nước phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển còn hạn chế. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu còn dựa vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm đi vào chiều sâu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. Môi trường bị ô nhiễm. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa hoàn thiện, những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng là những nhân tố cản trở sự phát triển. Vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định chính trị – xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia…

Ngoài xã hội và trong bộ máy Nhà nước, cái tích cực với cái tiêu cực xen lẫn, nhiều vấn đề giải quyết chậm, để lỡ mất cơ hội. Phải làm sao đây để phát triển đất nước giữa một thế giới cạnh tranh không chấp nhận sự trì trệ? Nếu chỉ cố gắng như những năm vừa qua không còn đủ nữa, mà phải đổi mới quyết liệt để theo kịp bước tiến thời đại, phải tiến hành những giải pháp đồng bộ trong mọi lĩnh vực. Trước những bất cập về quản trị kinh tế, chúng ta chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng đó đâu phải việc ngày một ngày hai. Thậm chí có những việc như chống lạm phát đã hé lộ khả năng giải quyết được cơ bản, nhưng nếu không cẩn thận thì có nguy cơ chuyển sang căn bệnh mới tác hại không kém đó là giảm phát. Sốt ruột thật, nhưng công việc đòi hỏi chúng ta phải điềm tĩnh, tỉnh táo, kiên trì tìm giải pháp giải quyết căn cơ, không chỉ nhất thời. Trong khi tìm tòi, tháo gỡ, xã hội chúng ta vẫn phải đối mặt với những áp lực mới, gay gắt…

Mới đây thôi, những vấn đề đặt ra từ Tiên Lãng – Hải Phòng, Văn Giang – Hưng Yên, Vụ Bản – Nam Định… đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại các cơ sở pháp lý về đất đai. Hoặc, những đổ vỡ, kém hiệu quả của DNNN; những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và cả trong nhân dân, đòi hỏi phải chỉnh đốn, phải tăng cường thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; những khoảng cách giữa mong muốn và hiện thực đòi hỏi phải rút ngắn; những mục tiêu đòi hỏi phải đạt được nếu không muốn dẫn đến tụt hậu và bất ổn; ngân sách Nhà nước thì còn rất eo hẹp, nợ công tăng lên, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, hàng hóa tồn đọng nhiều, lạm phát đang ăn vào thu nhập của phần đông người lao động… Đó thực sự là những áp lực không nhỏ, không chỉ với bộ máy Đảng, Nhà nước mà với toàn xã hội. Khó có thể nói những khó khăn thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và những khó khăn hiện nay thì cái nào lớn hơn, khốc liệt hơn?

*

Nhưng, Việt Nam là một đất nước, một dân tộc luôn vượt qua được mọi khó khăn và thực hiện được những mục tiêu tưởng như là không thể.

Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, cần nhắc lại những bài học kinh nghiệm đã giúp Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Đó là bài học về nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bài học về sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử, cội nguồn sức mạnh của Đảng chính là từ sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Đó là bài học về tăng cường củng cố đoàn kết – đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết là truyền thống quý báu và nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Đó là bài học về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam… Những bài học này, nếu được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, ai cũng quán triệt thực hiện trên thực tế, không phải chỉ là những khẩu hiệu suông, thì bất cứ khó khăn nào chúng ta đều có thể vượt qua!

Niềm tin “kháng chiến nhất định thắng lợi” trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm xưa, phải được thể hiện bằng niềm tin mới “sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN nhất định thành công” trong giai đoạn hiện nay!

Suốt 67 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã cố kết chặt chẽ, như cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến, cùng vượt qua thử thách hay nguy cơ chìm thuyền. Đảng, Nhà nước thì cũng từ nhân dân mà ra. Trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, trong muôn mặt của đời sống, dân tộc và cách mạng có hòa nhập với nhau, chính trị và xã hội có ổn định thì mới tồn tại và phát triển. Đó là đặc trưng của Việt Nam. Đối lập và chia rẽ, định kiến và bất ổn là con đường ngắn nhất phá hoại mọi thành tựu, đưa đất nước đến bờ vực thẳm hoặc sẽ bị các thế lực không muốn nhìn thấy một Việt Nam phát triển lôi kéo và lợi dụng.

Làm sao để chính trị xã hội ổn định? Mỗi người chúng ta đang sống trong cơ chế kinh tế thị trường, sử dụng có hiệu quả những mặt tích cực và hạn chế những mặt trái của nó không hề dễ dàng, nhất là với nước ta, vốn xuất phát từ một trình độ thấp, thu nhập quốc dân trên đầu người mới chỉ bắt đầu bước vào mức thấp của ngưỡng trung bình, với biết bao những khó khăn, thách thức và mâu thuẫn nhiều khi không lường hết được. Tôi xin nhấn mạnh: Đứng trước chúng ta là những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mới phức tạp hơn trước kia rất nhiều.

Đoàn kết, hòa hợp, thống nhất từng là bài học và nguyên nhân thắng lợi trong mọi giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam trong quá khứ, tiếp tục phải là một trong những giải pháp quan trọng nhất của đất nước để vượt lên những khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau. Trong giai đoạn mới, đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy và bổ sung thêm những giá trị mới nhằm thu hẹp những khác biệt, tất cả phải nhằm vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”…

Kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy, tất cả những ai nỗ lực học tập, làm việc, cố gắng làm việc trong khả năng của mình phải có được cơ hội, cuộc sống và thu nhập tốt hơn, chỉ như thế mới khuyến khích và tạo môi trường, khát vọng cho mọi người nỗ lực vươn lên, vượt qua khó khăn. Chúng ta không khuyến khích bình quân chủ nghĩa. Chúng ta chấp nhận sự cạnh tranh, lên án lòng ganh ghét đố kỵ bởi nó kìm hãm phát triển. Không có đất nước nào có thể lớn lên được từ lòng đố kỵ. Đồng thời, chúng ta tôn vinh lòng nhân ái, chia sẻ, yêu thương và cùng đấu tranh để chấm dứt nghèo đói, dốt nát và bệnh tật… Tôi tin, bất cứ ai, nếu có một nhu cầu tự thân như vậy và với tinh thần xây dựng, sẽ đều có trách nhiệm với đất nước và phải có thái độ như thế nào trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Đối diện với những khó khăn trong kháng chiến, mọi cán bộ, đảng viên đều biết phải làm tốt công tác dân vận và phải làm gương ra sao, và mỗi người dân từng đem cả nhà mình lót đường cho xe ra trận, kể cả tính mạng của mình khi cần, sẽ biết phải thể hiện lòng yêu nước thế nào khi đối chiếu vào hoàn cảnh mới hiện nay… Những kinh nghiệm ấy vẫn còn nguyên giá trị và phải được phát huy trong lúc này. Trách nhiệm của Đảng, Nhà nước là phải hình thành các điều kiện để làm xuất hiện những hành vi tích cực của toàn Đảng, toàn dân cho đất nước, cho việc củng cố và xây dựng Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn.

Việt Nam đã chứng tỏ không chỉ một lần về khả năng có thể vượt qua những khó khăn tưởng chừng không thể, chúng ta sẽ tiếp tục vượt qua mọi thử thách để thực hiện những mục tiêu lớn lao. Để làm được như vậy, đoàn kết, đồng thuận là một yêu cầu không thể thiếu.

Những gì đi ngược lại yêu cầu ấy phải dần bị triệt tiêu!

Chúng ta phấn đấu để trong một tương lai gần, năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có trình độ phát triển trung bình; chính trị – xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn, nhanh hơn, vững chắc hơn trong các giai đoạn sau.

Tiếp tục con đường của Cách mạng Tháng Tám trong giai đoạn này đòi hỏi chúng ta phải thực hiện bằng được mục tiêu đó! Nếu đất nước, dân tộc đã từng hun đúc ngọn lửa để chúng ta hy sinh xương máu, vượt qua biết bao “bão giông”, “nắng lửa” trong thiên tai và địch họa của “một thời đạn bom”, chúng ta phải làm mọi cách để giữ gìn những giá trị đó và làm cho đất nước trở nên tươi đẹp trong “một thời hòa bình”. Chúng ta hãy chứng tỏ niềm tin và tình yêu đất nước của mình bằng cách làm việc để xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lúc sinh thời Bác Hồ hằng mong ước. Không có gì chưa hoàn thiện mà chúng ta lại không có thể làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn bằng lòng yêu nước chân chính…

Đoàn viên thanh niên TPHCM tham gia chiến dịch tình nguyện Hoa phượng đỏ. Ảnh: Việt Dũng

*

Dù còn những khiếm khuyết, chưa hoàn thiện trên cơ thể đất nước, nhưng phải khẳng định rằng: công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tất cả những điều đó đã được chúng ta cùng nhau thực hiện và là bằng chứng về khát khao vươn lên của chúng ta. Đất nước chưa có bao giờ đẹp như hôm nay. Nhiều vùng của đất nước còn chậm phát triển, nhưng cũng đã có rất nhiều nơi công trình mới mọc lên to lớn, tráng lệ; còn đó những bộ phận dân cư đời sống rất khó khăn, cực nhọc, nhưng đại bộ phận đã vượt qua sự đói khổ, bần cùng, rất nhiều gia đình đã trở nên khá giả, giàu có, và chúng ta đang phấn đấu rút ngắn khoảng cách giàu nghèo; đất nước đang ngày càng được thế giới chú ý, trân trọng, đang tiếp tục vươn lên với sức mạnh Phù Đổng…

Hôm nay, chúng ta không thể quên rằng chúng ta là những thế hệ đang kế thừa thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Vào thời điểm này, chúng ta thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại và nhà văn hóa kiệt xuất, Người đã dẫn dắt chúng ta đi theo con đường cách mạng đúng đắn, làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta. Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam – một dân tộc Anh hùng, thông minh, hòa hiếu, đầy lòng nhân ái, cần cù, sáng tạo, yêu nước nồng nàn, có khát vọng vươn lên mạnh mẽ, luôn đoàn kết nhất trí một lòng đi theo Đảng, xây dựng quốc gia độc lập, tự do, phồn vinh, tiến bộ. Chúng ta đời đời khắc ghi công ơn to lớn của hàng triệu người con ưu tú đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, biết ơn các bậc lão thành cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thân nhân các liệt sĩ và những người đã hiến dâng tất cả tuổi xuân, xương máu, tài năng và của cải cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Biết ơn những thế hệ đi trước, chúng ta phải làm mọi điều có thể để đất nước phát triển. Tự hào với những gì đã làm được, nhưng chúng ta cũng cần phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc. Hổ thẹn không phải để bạc nhược, mất ý chí, mà để vươn lên gấp hai, gấp ba, để tiếp tục đi tới với tư thế vững vàng, khí phách hiên ngang vốn là truyền thống dân tộc, góp phần làm cho đất nước ta phát triển và trường tồn mãi mãi.

Tương lai đang vẫy gọi và thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới!

Trương Tấn Sang (Ủy viên Bộ Chính trị,
Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam)
sggp.org.vn

Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, vượt mọi khó khăn, thách thức, vững bước đi lên!

Trong chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là mốc son chói lọi, là bước ngoặt vĩ đại. Cách mạng Tháng Tám đập tan xiềng xích nô lệ của chế độ thực dân, phong kiến, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, lầm than trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là biểu hiện rực rỡ của tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường, không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ và khát vọng tự do, hòa bình, ấm no, hạnh phúc của toàn dân tộc ta đã được tôi luyện, hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử và trưởng thành trong 15 năm dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðó cũng là thắng lợi vĩ đại của ý chí, bản lĩnh, trí tuệ… của nền văn hiến Việt Nam, được phát huy cao độ, trở thành sức mạnh vật chất hùng mạnh hơn bao giờ hết. Sức mạnh ấy là hành trang cho cả dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, đạp bằng mọi trở ngại, chông gai trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thời gian càng lùi xa bao nhiêu, tầm vóc thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám càng tỏa sáng bấy nhiêu. Sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và Ðảng ta do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Chỉ 15 năm sau ngày thành lập, Ðảng ta đã vận dụng sáng tạo, tài tình những nguyên lý cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh thực tiễn của nước ta, đề ra đường lối cách mạng giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tập hợp hết thảy mọi người Việt Nam yêu nước trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng lớn; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; đi từ khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa. Với tầm nhìn sáng suốt, từ việc đề ra và kiên định mục tiêu giải phóng dân tộc, chuẩn bị đội ngũ, rèn luyện tinh thần và lực lượng bằng các cao trào cách mạng; đến việc tạo dựng và nắm bắt thời cơ giành thắng lợi, sự lãnh đạo của Ðảng đã trở thành nghệ thuật của chiến tranh cách mạng.

Thành quả và những bài học lịch sử quý báu của Cách mạng Tháng Tám là khởi nguồn của những thắng lợi vĩ đại mà nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành được trong các cuộc kháng chiến cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ 1954, Ðại thắng Mùa Xuân 1975. Mang tinh thần Cách mạng Tháng Tám vào trận tuyến chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu và tình trạng kém phát triển, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới suốt 26 năm qua, tạo thế và lực đưa đất nước tiến vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ CNH, HÐH.

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng. Trước mắt, tập trung thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng, Nhà nước về tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của hệ thống chính trị; kết hợp sức mạnh của dân tộc và thời đại để kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Gần 70 năm trước đây, Ðảng ta chỉ với 5.000 đảng viên đã lãnh đạo toàn dân tộc từ trong đêm trường nô lệ, lầm than, vùng lên làm cuộc Tổng khởi nghĩa long trời, lở đất, đưa dân tộc ta lên vị trí hàng đầu của phong trào giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới. Ngày nay, Ðảng ta đang gánh vác nhiệm vụ lịch sử đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực của mình, từng tổ chức đảng và đảng viên cần triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI) về xây dựng Ðảng, thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhằm tạo chuyển biến rõ nét, khắc phục những hạn chế, yếu kém để xây dựng Ðảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, năng lực và sức chiến đấu của Ðảng ngày càng được nâng cao để lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vững bước đi lên.

NHÂN DÂN
nhandan.com.vn

Các sự biến ở Trung Quốc (20-11-1926)

Của đặc phái viên chúng tôi

Quảng Châu, ngày 20-11-1926

Tình hình chung

Sự kiện nổi bật trong tuần qua là việc cải tổ cuối cùng hệ thống cai trị ở cấp tỉnh tại tỉnh Quảng Đông. Các viên chức được chọn ra để thực hiện kế hoạch mới, đã nhậm chức. Các biện pháp cần thiết cũng đã được thi hành và kết quả thì chẳng phải đợi lâu.

Các thành viên Chính phủ quốc dân đến Nam Xương không hàm ý là đã có quyết định dứt khoát sẽ dời trụ sở của Chính phủ về thành phố này hay về Vũ Xương. Như chúng tôi đã nói trong bài báo trước, sự di chuyển sẽ phụ thuộc vào kết quả hội nghị của đại diện Chính phủ với các tướng lĩnh quân sự, đứng đầu các đạo quân quốc gia và của đại biểu các tỉnh. Dư luận Trung Quốc tán thành chính sách này của Chính phủ, là sẽ không làm gì, không tiến hành những gì mà không được dân chúng ủng hộ.

Những chỉ thị của Hội đồng Chính phủ gửi các quan chức phụ trách hành chính cấp tỉnh trong các vùng do các lực lượng quốc gia đóng giữ đều yêu cầu củng cố các vùng lãnh thổ dưới sự kiểm soát của Quảng Châu. Các chỉ thị này, cho đến nay, đều được chấp hành nghiêm chỉnh và không có gì cho phép giả định rằng chúng sẽ không còn được chấp hành nghiêm chỉnh như thế nữa.

Sự thất bại của các đội quân chống quốc gia, do thống chế Tôn Truyền Phương chỉ huy ở Giang Tây đã loại bỏ hoàn toàn quyền lực của viên tướng này tại tỉnh đó. Thất bại này, xảy ra ngay khi thống chế Trương Tác Lâm triệu tập hội nghị quân sự ở Thiên Tân, dường như có gây được ảnh hưởng ít nhiều đến các sự biến ở miền Bắc. Chiến thắng của lực lượng quốc gia đối với quân đội của Tôn Truyền Phương làm thay đổi chính sách quân phiệt của Trương Tác Lâm. Trong khi giao cho phụ tá của mình là tướng Trương Tôn Xương, tỉnh trưởng Sơn Đông, lo bảo vệ tỉnh này chống mọi sự tấn công của quân quốc gia, ông ta về Bắc Kinh, và thái độ của thủ tướng Wellington Kou lúc ấy làm viên tướng quân sự cao cấp nhất ở miền Bắc rất lo ngại. Người ta không có tin tức cụ thể gì về thái độ của Trương Tác Lâm sau khi đến Bắc Kinh. Liệu ông ta có điều khiển được cái gọi là Chính phủ Bắc Kinh hay ông ta sẽ bằng lòng làm kẻ bảo vệ cái Chính phủ này thôi?

Những điều kiện hiện nay của tình hình Bắc Kinh không làm ta yên tâm nếu xét trên những thông tin trên báo chí Bắc Kinh và Thiên Tân. Kỷ luật khó được duy trì trong binh lính đồn trú. Nhiều binh sĩ đã bị hành quyết trong tuần qua.

Tình hình tài chính ở Bắc Kinh xem chừng không có lối thoát. Số tiền vay nặng lãi và mấy triệu tǎng thuế hải quan không đủ để chi tiêu cho quân sự. Nhiều trường không được mở lại, giáo viên và giáo sư sẽ bãi giảng, nếu không được trả lương. Thái độ của các cường quốc nước ngoài đối với Hội nghị quốc tế về thuế quan chẳng thay đổi tí nào. Các cường quốc này chờ đợi mà cũng chẳng biết họ chờ đợi cái gì. Những đề nghị về một khoản công trái quốc tế thế chấp bằng việc tǎng thuế hải quan Trung Quốc, do hội nghị này thông qua, phải hủy bỏ. Bản thân Trương Tác Lâm phải đối phó với một tình hình tài chính đáng lo ngại hơn ở Mãn Châu. Sự phát hành tiền nhà binh, dưới cái tên là “Phụng phiếu” đã làm đảo lộn thương mại và công nghiệp. Không được nước ngoài trợ giúp, nước Mãn Châu sẽ phải phá sản. Không thể có ảo tưởng về vấn đề này. Dù các tỉnh rất giàu lập thành Mãn Châu quốc vẫn không đủ sức trả chiến phí cho bốn cuộc nội chiến và chi phí cho tất cả các xí nghiệp quân phiệt của Trương Tác Lâm. Người ta đặt ngay câu hỏi là Trương lấy đâu ra hàng triệu đồng để tiến hành các cuộc chiến tranh ấy, để duy trì quyền lực của mình và bành trướng quyền lực ra tận Bắc Kinh.

Chẳng bao lâu, Trương Tác Lâm sẽ bị cô lập và chỉ thu hẹp lại ở lực lượng và phương tiện của mình mà những cái này từ lâu không còn nữa. Sự liên minh của Trương với kẻ thù cũ của mình, Ngô Bội Phu, sẽ chỉ kéo dài trong thời gian cần thiết để có thể sử dụng sự liên minh này nhằm đánh thắng Quốc dân quân do thống soái Phùng Ngọc Tường chỉ huy. Sự liên minh này không nhận được sự giúp đỡ thiết thực nào của Trương, Trương đòi phải nhượng lại đất đai do Ngô Bội Phu kiểm soát. Những quan hệ với Tôn Truyền Phương không còn mờ nhạt hơn. Tôn đuổi quân của Trương đóng ở Giang Tô và tập hợp nǎm tỉnh: Chiết Giang, Giang Tô, An Huy, Giang Tây, Phúc Kiến và tự tuyên bố làm chủ những đất đai này. Thắng lợi của ông ta đối với Trương không phải là sự phát triển. Tạo ra cho mình một thế mạnh, ông ta theo đuổi một chính sách kiểm soát mà không ai cho là trung lập. Dù báo chí Trung Quốc nói đến một sự hợp tác có thể có giữa Trương và Tôn, chúng tôi vẫn tin rằng chỉ có vài thành viên thuộc hạ của chúng thương thuyết với nhau và báo chí đưa tin là đưa tin về điều ấy. Tôn không thể làm được điều đó bây giờ, vì trong hào quang thế lực của mình, Tôn không thể làm cho Trương chú ý về bất kỳ điều gì, vả lại thế lực ấy nay không còn nữa.

Sự kiện lí thú đáng ghi nhớ: trong khi các thủ lĩnh quân sự Tôn Truyền Phương và Ngô Bội Phu bị quân đội quốc gia đánh cho tan tác, bị loại trừ khỏi vũ đài chính trị – quân sự, thì lực lượng Quốc dân tập họp lại dưới trướng của thống chế Phùng Ngọc Tường, lại hoạt động trở lại. Hoạt động này, bây giờ dù không tấn công, cũng đã tỏ ra đáng gờm. Vùng mà Quốc dân đảng hoạt động hiện nay cách không xa biên giới Hồ Bắc, Hồ Nam, nơi Quốc dân đảng đóng. Việc liên lạc có thể dễ dàng.

Ở miền thượng Dương Tử, tỉnh Tứ Xuyên đang trong tình hình đêm trước của một cuộc cải tổ toàn diện. Tướng Nguyên Sâm, có dưới trướng 20.000 quân, đã đầu hàng Chính phủ quốc dân, nhận thi hành mệnh lệnh của Chính phủ và hợp tác thực hiện kế hoạch quốc gia. Một sự phục tùng như vậy nhất định có những hậu quả quan trọng đối với tình hình chung của Vân Nam, tỉnh này khó duy trì được thái độ thù địch đối với Chính phủ quốc dân. Về mặt này, ta sẽ có thể trông chờ những sự phát triển lý thú.

Thái độ của dân chúng các tỉnh rõ ràng là thuận lợi cho Chính phủ quốc dân. Như chúng tôi đã nhận xét ở trên, thái độ đúng đắn của binh lính quốc gia, lòng yêu nước và sự trong sạch của các thủ lĩnh dân sự và quân sự, sự đoàn kết giữa họ, lòng mong muốn thành thật và rõ ràng của họ là vì lợi ích chung, tất cả những cái đó làm cho dư luận dân chúng ủng hộ Chính phủ quốc dân. Dân chúng các huyện không bị đánh thuế, bị tịch thu, bị đối xử tàn tệ, họ thấy rằng của cải của họ được bảo vệ, và tự do của họ được tôn trọng, họ không bỏ lỡ cơ hội nào để chứng tỏ cảm tình của mình đối với quân giải phóng – đó là tên họ đặt cho binh lính quốc gia. Quân lính này đã nhiều lần thắng các lực lượng phản quốc gia vì nhờ được thông tin. Chẳng hạn việc nhanh chóng chiếm lại được Khúc Giang là nhờ những thông tin do dân cung cấp. Dân không giấu giếm rằng họ rất mong muốn được thấy các viên tướng đã bóp nặn họ phải chuồn đi nhanh chóng.

Ngoại giao với nước ngoài

Báo chí nước ngoài và Trung Quốc bàn cãi rất lâu về vấn đề công nhận Chính phủ quốc dân Quảng Châu. Điều không chối cãi được là chính phủ Anh chỉ xét vấn đề công nhận một chính phủ địa phương. Luân Đôn sẽ công nhận Quảng Châu như sẽ thừa nhận thủ lĩnh quân sự khác trong một hay nhiều tỉnh. Dư luận của nhân dân Trung Quốc phản đối mạnh mẽ một quan niệm như vậy. Nhằm mục đích tỏ rõ cho dư luận quốc tế thấy rằng Chính phủ có một cương lĩnh xây dựng lại quốc gia, Chính phủ quốc dân rất quan tâm áp dụng những biện pháp nhằm đạt mục đích ấy.

X.

—————————–

Báo L’Annam, số 122, ngày 16-12-1926 (tiếng Pháp).
cpv.org.vn

Các sự biến ở Trung Quốc (24-12-1926)

Của đặc phái viên chúng tôi

Quáng Châu, ngày 24-12-1926

Chính sách ngoại giao của Anh ở Trung Quốc

Chính sách ngoại giao của Anh có thay đổi không?

Báo chí ở nước Anh và Trung Quốc gợi ý rằng nó đã hoặc sẽ thay đổi.

Chúng ta đã thấy một hoạt động ngoại giao của Anh được bảo đảm ở Trung Quốc, ngay sau khi người đại diện mới của Anh bên cạnh Chính phủ Bắc Kinh, ông M.Lamxơn đến Bắc Kinh.

Nhà ngoại giao này đến Hán Khẩu, ở đây ông được Ngoại trưởng của Chính phủ quốc dân tiếp, và hai bên hội đàm nhiều lần, những cuộc hội đàm này chúng ta biết được qua thông báo của hãng thông tấn Roitơ.

Thông báo không đưa ra một sự việc mới nào. Qua lối diễn đạt ngắn gọn và sự tuyên truyền của hãng thông tấn ấy cho biết những cuộc hội đàm không thể không có kết quả, bắt buộc chúng ta phải kết luận rằng người đại diện của Anh nhận được, từ miệng của uỷ viên Chính phủ quốc dân, người có thẩm quyền, lời tuyên bố khẳng định những nét lớn của cương lĩnh chính trị dân tộc chủ nghĩa.

Chính vào lúc tin tức về những cuộc nói chuyện ấy lan truyền ở Hán Khẩu, chúng tôi được biết, đại biện lâm thời của Anh ở Bắc Kinh đã trao cho các đại diện của những chính quyền ký kết Hòa ước Oasinhtơn một công hàm mà nội dung chưa được công bố.

Tuy nhiên, báo chí Anh ở chính quốc hình như được thông báo chính thức về nội dung của nó, rằng công hàm ấy đề nghị các chính quyền đã ký kết các hiệp ước cho phép thu ở Trung Quốc thuế phụ thu 2,5% của biểu thuế hải quan, mà phần do hải quan Trung Quốc thu sẽ trực tiếp trao cho chính quyền các tỉnh.

Báo chí dân tộc chủ nghĩa Trung Quốc kịch liệt phê phán một đề nghị như vậy, vì nó chỉ là một phương tiện nguỵ trang để nước Trung Hoa dân quốc tham gia vào sự phòng giữ và duy trì những hiệp ước bất bình đẳng cần phải được xoá bỏ.

Những cơ quan dân tộc chủ nghĩa trên toàn Trung Quốc còn nhấn mạnh khi đặt ra thuế phụ thu 2,5% ấy ở Quảng Châu và các cảng do mình kiểm soát, Chính phủ quốc dân đã đề nghị giao cho Hải quan Trung Quốc thu; đề nghị ấy bị bác bỏ, các cường quốc cũng phản đối việc tǎng thuế, và sự phản đối ấy không thay đổi tí nào quyết định của chính quyền tỉnh.

Việc này sẽ được thực hiện ở tất cả những cảng khác dưới sự kiểm soát của Chính phủ quốc dân.

Việc bộ trưởng Lamxơn chấp nhận đề nghị sẽ có lợi cho những người chỉ huy quân sự chống chủ nghĩa dân tộc và Chính phủ Bắc Kinh.

Vì vậy dư luận nhân dân tố cáo kịch liệt mưu toan ngoại giao nhằm cung cấp cho kẻ thù của Chính phủ quốc dân những phương tiện để có tiền của chống lại Chính phủ ấy.

Hình như đại diện của Anh không đặt vấn đề công nhận Chính phủ quốc dân đối với toàn bộ Trung Quốc.

Cương quyết duy trì những lợi ích và đặc quyền do các hiệp ước bất bình đẳng đem lại và áp đặt cho Trung Quốc, Chính phủ Luân Đôn, liên kết với chính sách đế quốc chủ nghĩa được thực hiện ở Trung Quốc của những nước ngoài có những lợi ích và đặc quyền ấy, không thể chịu trách nhiệm về một cuộc vận động ngoại giao đòi công nhận không điều kiện Chính phủ quốc dân cho toàn Trung Quốc.

Bộ trưởng Lamxơn không chỉ hội đàm với những uỷ viên của Chính phủ quốc dân. Một thông tin, về sau bị cải chính, nói rằng ở Nam Kinh ông ta hội đàm với chỉ huy quân sự chống chủ nghĩa dân tộc là Tôn Truyền Phương, trong khi đó một bức điện từ Thiên Tân cho biết rằng khi Lamxơn qua Thiên Tân thì được một chỉ huy chống chủ nghĩa dân tộc là thống chế Trương Tác Lâm tiếp đón.

Tuy nhiên, những cuộc nói chuyện, mà Bộ trưởng Lamxơn tiến hành ở Hán Khẩu với Eugène Trần, cho phép ông ta có được mọi sự chính xác mong muốn về Cương lĩnh chính trị của Chính phủ quốc dân.

Báo chí Trung Hoa ở những trung tâm dân tộc chủ nghĩa lớn kể rằng trong nhiều cuộc hội họp của nhân dân đã thông qua những quyết định chống lại một đề nghị như vậy, có thể sẽ gửi đến cho Chính phủ quốc dân nhằm bảo đảm với Chính phủ sự ủng hộ của nhân dân trong cuộc đấu tranh mở rộng sự kiểm soát của những miền dân tộc chủ nghĩa ở toàn Trung Quốc và thực hiện cương lĩnh chính trị theo chủ nghĩa dân tộc.

Sự tǎng cường mới của hạm đội Anh ở Trung Quốc

Chúng tôi đã nói đến việc tǎng cường hạm đội Anh ở các biển của Trung Quốc bằng cách tǎng thêm đội tầu thứ 3 từ Mantơ đến và nhiều tuần dương hạm tách ra từ hạm đội Anh ở Địa Trung Hải.

Những bức điện gửi từ Anh trong tuần ấy báo tin đã gửi đến Trung Quốc một đội tàu khu trục từ l.200 đến 1.500 tấn, kèm theo một tuần dương hạm 7.000 tấn.

Những bức điện này cũng báo tin rằng 2 tuần dương hạm đã được tách ra khỏi hạm đội ấn Độ Dương để tǎng cường cho lực lượng hải quân ở Trung Quốc.

Dư luận Trung Quốc ngạc nhiên về sự gia tǎng nhanh lực lượng hải quân Anh ở các biển Trung Quốc.

Báo chí của phái dân tộc chủ nghĩa không che giấu sự bất bình lớn của mình, và đã có những lời bình luận không có lợi cho nước Anh.

Vấn đề chung là: ý đồ của Anh là gì khi tǎng cường lực lượng hải quân ở các biển của Trung Quốc?

Tình hình ở Dương Tử

Sự tiến bộ của những lực lượng dân tộc chủ nghĩa ở Triết Giang được khẳng định.

Một chiến dịch mùa đông hình thành rõ rệt.

Những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc đến Phố Khẩu và Nam Kinh đòi hỏi những hoạt động quân sự quy mô lớn về phía những lực lượng dân tộc chủ nghĩa.

Người ta cũng kể lại rằng những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc ở Kashing, cách Thượng Hải vài chục km, đã rút lui và đặt phòng tuyến về phía sau.

Sự vận động này hình như khẳng định rằng những sĩ quan của viên tướng chống chủ nghĩa dân tộc Tôn Truyền Phương tìm kiếm được một sự thoả hiệp với các chỉ huy dân tộc chủ nghĩa.

Chắc chắn thái độ của họ là do tác động của thái độ nhân dân tỉnh Triết Giang, trong nhiều cuộc hội nghị chính trị công khai phản đối những đội quân ǎn cướp của Trương Tác Lâm và người cộng sự của y, Trương Tôn Xương khi chúng kéo xuống lưu vực sông Dương Tử.

Từ vùng thượng lưu Dương Tử, chúng ta nhận được tin tức về các lực lượng dân tộc chủ nghĩa đã chiếm được Tương và giải giáp những trung đoàn đáng nghi ngờ.

Người ta chờ đợi những sự phát triển quân sự ở phía tây tỉnh Hồ Bắc, chủ yếu là ở vùng biên giới Hồ Bắc – Hồ Nam.

Việc quân Quốc dân đảng, dưới sự chỉ huy của tướng Phùng Ngọc Tường, tiến đến biên giới phía tây của Hồ Nam, được thuật lại, trong khi không một tin tức nào khác được công bố về những hoạt động quân sự của những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc do thống chế Ngô Bội Phu chỉ huy.

Những hoạt động quân sự chống tỉnh An Huy được thông báo, những đạo quân tham gia ở đây được đặt dưới sự chỉ huy của những viên tướng nổi lên trong chiến dịch đánh những tên chỉ huy

chống những người dân tộc chủ nghĩa đang kiểm soát tỉnh này.

Tình hình ở Bắc Kinh và Thiên Tân

Những điều kiện được thuật lại trong bài báo trước của chúng tôi về tình hình ở Bắc Kinh không thay đổi.

Tình hình tài chính luôn luôn là bấp bênh và cái gọi là Chính phủ Bắc Kinh tồn tại một cách khó khǎn với những sự vay mượn nhỏ ở các chủ ngân hàng Trung Hoa ở địa phương.

Ở Thiên Tân, quân luật vẫn có hiệu lực.

Nhà cầm quyền chống chủ nghĩa dân tộc ở Phong Hàng tiếp tục thông qua những biện pháp mà họ cho là có khả nǎng ngǎn chặn mọi phong trào dân tộc chủ nghĩa và tiếp tục vận động để có sự cộng tác của nhà cầm quyền ở những tô giới nước ngoài đối với công việc mà họ đang thực hiện.

Quảng Đông

Tình hình chung đáng yên tâm.

Việc đàn áp nạn cướp phỉ vẫn tiếp tục.

ở biên giới Trung Hoa – Đông Dương, bọn cướp bị tiêu diệt.

Những bǎng tham gia ám sát công sứ Pháp ở Long Châu đã bị bắt, bọn chúng thú nhận đã tham gia giết viên công sứ ấy và lập tức bị hành hình.

Chính phủ gửi quân để quét sạch vùng Vịnh Blát, nơi ẩn náu của bọn cướp biển đã tấn công nhiều tàu trên đường Hồng Kông – Thượng Hải, cũng như các cảng khác nằm ở bờ biển giữa hai thành phố.

Chính phủ Hồng Kông được thông báo về chiến dịch ấy và được yêu cầu bắt những tên cướp trốn ở lãnh thổ Trung Quốc bị Anh thôn tính. Cần nói rằng trong những tên cướp này có những thủ lĩnh nguyên là sĩ quan của viên tướng chống chủ nghĩa dân tộc Trần Quýnh Minh mà tổng hành dinh được đặt ngay tại Hồng Kông.

X.

——————————

Báo L’Annam, ngày 31-l-1927, (Bản tiếng Pháp).
cpv.org.vn

 

 

 

Các sự biến ở Trung Quốc (14-2-1927)

Quảng Châu, ngày 14-2-1927

Thái độ của các cường quốc nước ngoài

Những đơn vị đầu tiên của đạo quân viễn chinh mà Anh gửi sang Trung Quốc, gọi là để bảo vệ tính mạng và tài sản của kiều dân, đến Hồng Kông vào tuần vừa qua. Lúc bấy giờ người ta có nói đến việc chúng đổ bộ và lưu lại ở cảng này. Người ta cũng nói rằng chính quyền Hồng Kông có những biện pháp cần thiết để sắp xếp nơi trú quân cho đến khi chúng được gọi về. Một số thông tin nhận được từ Luân Đôn nói đến những yêu cầu gửi Chính phủ Luân Đôn đòi phải từ bỏ cuộc viễn chinh chống Trung Quốc, khiến cho những đạo quân Anh phải dừng lại ở Hồng Kông. Nhưng đó chỉ là những tiếng xì xào sai, vì những đơn vị đầu tiên của Anh, từ ấn Độ đến sau khi dừng lại 24 giờ ở cảng Hồng Kông, được đưa đến Thượng Hải, nơi tập trung lực lượng của đạo quân viễn chinh Anh.

Những nguồn thông tin khác của Anh thuật lại sự xuất phát từ Anh của những đơn vị khác của đạo quân viễn chinh ấy, cũng như việc gửi những đơn vị hải quân mới đến các biển của Trung Hoa. Một bức điện từ Hán Khẩu cho biết những cuộc nói chuyện giữa ngoại trưởng của Chính phủ quốc dân và phái viên Anh được nối lại. Những cuộc nói chuyện này bị gián đoạn do chính sách có tính chất hǎm doạ rõ rệt của Anh, nó chỉ có thể được nối lại với sự cam đoan dứt khoát của phái viên Anh đối với Ngoại trưởng Chính phủ

quốc dân về những ý đồ của Anh. Chính sách ngoại giao hiện nay của Anh ở Trung Quốc, với tất cả những sự khất hoãn, hình như chịu ảnh hưởng của hai trào lưu tuy có biểu hiện trái ngược nhau nhưng vẫn nhằm cùng một mục đích. Có thể Chính phủ Luân Đôn hoàn toàn được thuyết phục rằng việc trả lại những tô giới của nước ngoài cho Trung Hoa là một việc không thể tránh được và những biến cố ở Hán Khẩu vào đầu tháng 1 chỉ thúc đẩy thời hạn trả lại. Công khai chấp nhận sự ngẫu nhiên ấy là một sự mất mặt, làm ảnh hưởng đến uy tín của Anh. Khéo léo tìm kiếm những mánh khoé có thể che đậy được thực tế này, giới ngoại giao Anh khǎng khǎng đẩy mạnh việc gửi quân viễn chinh đến Trung Quốc, nhằm chứng tỏ rằng nước Anh sẽ bảo vệ tính mạng và tài sản của kiều dân ở Trung Hoa. Và nếu sau này giới ngoại giao Anh tán đồng những quan điểm của những người dân tộc chủ nghĩa, thì những nhân viên của nó sẽ có thể giải thích rằng họ chỉ tuân theo tình cảm hữu nghị và đoàn kết với Trung Quốc, tình cảm luôn luôn hướng dẫn chính sách của Anh. Các biến cố sẽ nói rõ rằng sự giải thích thái độ hiện tại của Anh trong việc nối lại các cuộc nói chuyện với Chính phủ quốc dân và đẩy mạnh việc gửi những đơn vị quân viễn chinh sang Anh, là đúng đắn.

Một số giới Trung Hoa thấy trong thái độ hiện nay của Anh thủ đoạn để thuyết phục những cường quốc khác ký hiệp ước liên kết với mình để trở lại chính sách thống nhất, chính sách rất có lợi cho quyền lợi của nước ngoài trong quá khứ. Cũng những giới này đã vui lòng nhận rằng dư luận ở Anh không nhất trí ủng hộ chính sách của chính phủ Luân Đôn, và những người theo Công đảng Anh liên kết với một số phần tử tự do, đòi Chính phủ từ bỏ những phương pháp hǎm doạ và tìm một giải pháp bằng thương lượng.

Dư luận nhân dân Trung Hoa nhất trí trong việc phản đối chính sách hǎm doạ của Anh. Báo chí do các viên chỉ huy quân sự ở miền Bắc kiểm soát và những cơ quan ở các trung tâm lớn của miền Bắc cũng tố cáo một chính sách như vậy. Thái độ này là một sự cải chính dứt khoát với điều quyết đoán của báo chí Anh ở Trung Hoa cho rằng một số giới Trung Quốc không những muốn mà còn mong đợi sự can thiệp của nước ngoài ở Trung Quốc.

Báo chí chính thức và không chính thức của Anh không ngừng nêu lên những lý do khéo léo nhất để che đậy mục đích thực sự của chính sách hǎm doạ của Anh. Khi thì họ khẳng định rằng nếu những phần tử Quốc dân đảng ôn hoà khống chế trong những hội đồng của đảng này, thì một sự thoả thuận với Anh sẽ nhanh chóng được thực hiện, khi họ tố cáo những sự xúi giục của nước Nga Xôviết là trở ngại duy nhất cho một sự thoả thuận như vậy.

Ở Trung Quốc, cũng như ở châu Âu, chính sách đối ngoại của Anh hình như bị chi phối bởi nỗi lo sợ thấy chủ nghĩa bônsêvích lan rộng trên lãnh thổ của mình, hay ở những nước tự trị và thuộc địa, trong những thần dân của Anh. Các nhà chính khách Anh không ngần ngại tuyên bố rằng đường lối xôviết ở Trung Quốc chỉ có mục đích làm áp lực đối với chính sách của Anh ở châu Âu, nhằm làm cho chính sách của Anh mềm đi và bớt cứng rắn theo quan điểm xôviết.

Tình hình ở Hán Khẩu

6 tuần đã qua từ khi Chính phủ quốc dân quản lý nhượng địa của Anh là Hán Khẩu. Không có một sự thay đổi nào trong nền hành chính hiện hành. Bốn phái viên của Chính phủ bảo đảm giải quyết những công việc hành chính và duy trì trật tự công cộng. Trong 6 tuần lễ ấy, không một sự kiện nào xảy ra làm cho người ta nghi ngờ việc chính quyền dân tộc đã trung thành với tất cả những lời hứa của mình. Tất cả các tin tức, kể cả những tin tức chống chủ nghĩa dân tộc, đều nhất trí thừa nhận rằng tình hình hiện tại ở Hán Khẩu là yên tĩnh. Nếu trong những cộng đồng người nước ngoài còn có một sự gò bó và e sợ về sự bất ổn của tương lai, thì điều đó là do chiến dịch báo chí Anh cho rằng một nguy cơ lớn đe doạ tính mạng và tài sản của người nước ngoài ở Anh, mặc cho những sự kiện xảy ra hằng ngày.

Hãy điểm qua tuyên bố của ông Eugène Trần, Ngoại trưởng, với báo chí Trung Hoa và nước ngoài, ông ta nhấn mạnh sự già cỗi của những chính sách của Chính phủ Anh bị sa lầy vào một con đường cũ (con đường Bắc Kinh) và luôn đề nghị với cái gọi là chính phủ tồn tại ở thành phố ấy giải quyết những vấn đề do những người dân tộc chủ nghĩa nêu lên. Ông Eugène Trần tuyên bố rằng chính Anh phải quyết định rằng quyền lợi kinh tế của Anh ở Trung Quốc sẽ phát triển tốt hơn với sự bảo hộ của Chính phủ quốc dân có cương lĩnh chính trị và quyền lực cần thiết để bảo đảm những cam kết trong một nước Trung Hoa cải tổ và tái thiết bởi những người dân tộc chủ nghĩa, hơn cái gọi là chính phủ ở miền Bắc Trung Hoa.

Ở miền Bắc Trung Hoa

Tin tức từ Bắc Kinh trong tuần qua nêu rằng thống chế Trương Tác Lâm tự xưng là tổng tư lệnh của những “An quốc quân”, tức là lực lượng tái lập hoà bình ở Trung Quốc, ông ta chuẩn bị tái lập đế chế. Không có gì đáng ngạc nhiên về một thông báo như vậy, việc tái lập ấy sẽ có những hậu quả quá quan trọng khiến thủ lĩnh quân phiệt Trương phải tuyên bố ngay.

Chính phủ của ông ta không đạt kết quả gì. Việc cải tổ nội các chỉ là một sự thay đổi người, những bộ trưởng Trung Hoa mới được chọn, cũng như những người cũ, phải thực hiện những ý muốn của ông chủ. Tình hình tài chính không hề thay đổi, và cái gọi là Chính phủ Bắc Kinh tiếp tục sống bằng những xoay xở.

Những mâu thuẫn xẩy ra ngay trong việc quản lý tài chính của Bắc Kinh. Ngài Phrǎngxit Aglen, tổng thanh tra thuế quan Trung Hoa, từ chối gửi cho viên chức nước ngoài làm việc ở cơ quan này những chỉ thị về việc thu thuế phụ thu 2,5%, bị chính phủ ở Bắc Kinh cách chức, việc này gây nên những sự phản đối của đoàn ngoại giao ở Bắc Kinh. Một bức điện mà Bắc Kinh nhận được ngày 12-1, cho biết rằng người bị cách chức không chịu bàn giao công việc. Chắc chắn là thanh tra Aglen, nhân một dịp phát hành trái phiếu kho bạc Trung Hoa, đã đứng tên những trái phiếu bán ra, nên không muốn làm lâu công việc của mình, vì vậy mà thủ lĩnh quân phiệt kiểm soát chính phủ Bắc Kinh bất bình, và viên thanh tra ương ngạnh bị cách chức.

Hoạt động quân sự ở Dương Tử

Trừ những tin tức xuất hiện trong báo chí Trung Quốc và nước ngoài ở miền Bắc về hoạt động của những lực lượng chống chủ nghĩa dân tộc, không một sự kiện nào đánh dấu hoạt động của những lực lượng ấy. Về phía lực lượng dân tộc cũng không có một tin tức nào nói tới. Có việc tập trung lực lượng quân sự ở cả hai phía.

Những thông tin khác làm nổi bật sự đi lên của đảng Phụng Thiên cũng như sự đi xuống của đảng Tchéty (?) và thủ lĩnh của nó, thống chế Ngô Bội Phu. Người cộng tác chính của thống chế Trương Tác Lâm vẫn là tướng Trương Tôn Xương, thủ hiến tỉnh Sơn Đông, tìm cách chiếm tỉnh Giang Tô và lúc này tự bằng lòng với điều đó. Việc chiếm đóng này gây nên sự bất bình lớn trong nhân dân tỉnh này.

Sự thiếu phối hợp giữa quân của Trương Tôn Xương và quân của tướng Tôn Truyền Phương, cộng tác viên của thống chế Trương Tác Lâm, ngày càng rõ, và báo chí quân phiệt ở miền Bắc thông báo rằng chỉ có quân của Phụng Thiên là sẽ tiến hành chiến dịch chống những lực lượng dân tộc chủ nghĩa.

Việc bảo vệ người nước ngoài

Báo chí nước ngoài đǎng những chỉ thị của Chính phủ quốc dân gửi nhà cầm quyền các tỉnh và các chỉ huy quân sự phải bảo vệ tính mạng và của cải của người nước ngoài sống ở các tỉnh của Trung Quốc, điều đó chứng tỏ rằng những lãnh tụ của Chính phủ này biết trách nhiệm và nhiệm vụ của mình.

X.

—————————-

Báo L’Annam số ra ngày 14-3-1927.
(Bản tiếng Pháp).
cpv.org.vn

Quốc tế ca

Điệp khúc:

Trận này là trận cuối cùng
ầm ầm đoàn lực, đùng đùng đảng cơ,
Lanhtécnaxiônanlơ
ấy là nhân đạo, ấy là tự do.

Đoạn I

Hỡi ai nô lệ trên đời,
Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên!
Bất bình này chịu sao yên,
Phá cho tan nát một phen cho rồi!
Bao nhiêu áp bức trên đời,
Sạch sành sanh phá cho rồi mới tha!
Cuộc đời này đã đổi ra,
Xưa kia con ở nay là chủ ông!

Đoạn II

Công nông ta có đảng to,
Có nhờ ta mới có kho có tài.
Trời sinh đất để cho người,
Những đồ lười biếng thì mời đi đi,
Những đồ ǎn xổi ở thì,
Mình làm chúng hưởng lẽ gì xưa nay.
Nếu đem diệt sạch lũ này,
Mặt trời vẫn cứ ngày ngày xuân dung!

Đoạn III

Việc ta ta phải gắng lo,
Chẳng nhờ trời phật chẳng nhờ thần linh.
Công nông mình cứu lấy mình,
Sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền.
Muốn cho đánh đổ cường quyền,
Tự do bình đẳng vẹn tuyền cả hai.
Thụt lò ta phải ra tay,
Sắt kia đang nóng đập ngay mà dùng!

Dịch nǎm 1925

—————————-

In trong sách Thơ ca cách mạng, 1925-1945, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973, tr.111-112.
Theo bài in trong sách Thơ ca cách mạng 1925-1945
cpv.org.vn

Chánh cương vắn tắt của Đảng (1930)

Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngǎn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang được. Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều. Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.

A. Về phương diện xã hội thì:

a) Dân chúng được tự do tổ chức.

b) Nam nữ bình quyền, v.v..

c) Phổ thông giáo dục theo công nông hoá.

B. Về phương diện chính trị:

a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.

b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.

c) Dựng ra chính phủ công nông binh.

d) Tổ chức ra quân đội công nông.

C. Về phương diện kinh tế:

a) Thủ tiêu hết các thứ quốc trái.

b) Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý.

c) Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo.

d) Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo.

e) Mở mang công nghiệp và nông nghiệp.

f) Thi hành luật ngày làm 8 giờ.

————————–

Tài liệu của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa và kinh nghiệm lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám

Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong hoàn cảnh khách quan rất thuận lợi: kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phátxít Nhật đã bị Liên Xô và Đồng minh đánh bại, quân đội Nhật ở Đông Dương mất hết tinh thần chiến đấu, chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã. Đảng Cộng sản Đông Dương đã chớp thời cơ đó phát động toàn dân nổi dậy nên đã giành được thắng lợi nhanh chóng và ít đổ máu.

Cách mạng Tháng Tám là kết quả và đỉnh cao của 15 năm đấu tranh của toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945. Trong quá trình đó, Đảng đã xây dựng được một lực lượng chính trị hùng hậu; từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng và đùm bọc, có chỗ đứng chân ngày càng vững chắc trong căn cứ địa cách mạng, giữ vai trò nòng cốt, xung kích, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Đảng Cộng sản Đông Dương là người tổ chức và lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám. Đảng có đường lối cách mạng đúng đắn, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh, bắt rễ sâu trong quần chúng, đoàn kết và thống nhất, quyết tâm lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cơ bản nhất, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Trong 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng, biết bao đảng viên cộng sản và quần chúng cách mạng đã hy sinh oanh liệt. Hồ Chí Minh nói: “Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Các đồng chí đó đã tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc. Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay.

Tất cả chúng ta phải noi theo các gương anh dũng, gương chí công vô tư ấy, mới xứng đáng là người cách mạng”1. 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 2002, t.6, tr. 159 – 160.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng Cộng sản lãnh đạo, lần đầu tiên giành thắng lợi ở một nước thuộc địa. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần một thế kỷ trên đất nước ta, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế ngót nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước do nhân dân lao động làm chủ. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, người làm chủ vận mệnh của mình. Nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập và tự do. Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, không hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, “Chẳng những giai cấp lao động mà nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”2. 2. Sđd, tr. 159.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do.

Về mặt quốc tế, Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã chọc thủng một khâu quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ suy sụp và tan rã không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, góp phần cống hiến lớn lao vào sự nghiệp giải trừ chủ nghĩa thực dân và giải phóng dân tộc trên thế giới.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh và đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Nó chứng tỏ rằng: ở thời đại chúng ta, một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do giai cấp công nhân lãnh đạo hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa. Cuộc cách mạng đó quan hệ mật thiết với cách mạng vô sản ở “chính quốc”, nhưng không lệ thuộc vào cách mạng ở “chính quốc”. Trái lại, nó có thể giành được thắng lợi trước khi giai cấp công nhân “chính quốc” lên nắm chính quyền.

Cách mạng Tháng Tám thành công để lại cho Đảng và nhân dân Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý báu, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc. Những kinh nghiệm chính là:

Một là: Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến.

Con đường cứu nước của Nguyễn ái Quốc và Cương lĩnh của Đảng đã xác định cách mạng nước ta trải qua hai giai đoạn, trước hết là cách mạng dân tộc dân chủ, sau đó chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến không thể tách rời nhau. Trải qua ba cao trào cách mạng, Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ đó và xác định: tuy hai nhiệm vụ không tách rời nhau nhưng nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và phải thực hiện từng bước với những khẩu hiệu cụ thể như: giảm tô, giảm tức, chia ruộng đất công, chia ruộng đất của bọn phản động cho nông dân nghèo, tiến tới cải cách ruộng đất. Phân tích mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Đảng chủ trương chĩa mũi nhọn của cách mạng vào đế quốc phátxít Nhật – Pháp và bè lũ tay sai nhằm tập trung giải quyết yêu cầu chủ yếu cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc. Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của sự kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến.

Hai là: Toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh công – nông

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi là nhờ cuộc đấu tranh yêu nước anh hùng của hơn 20 triệu người Việt Nam. Nhưng cuộc nổi dậy của toàn dân chỉ có thể thực hiện được khi có đạo quân chủ lực là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đạo quân chủ lực này được xây dựng, củng cố qua ba cao trào cách mạng và lớn mạnh vượt bậc trong tổng khởi nghĩa. Dựa trên đạo quân chủ lực làm nền tảng. Đảng xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, động viên toàn dân tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Ba là: Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù

Đảng ta đã lợi dụng được mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa đế quốc phátxít, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và một bộ phận thế lực địa chủ phong kiến, mâu thuẫn trong hàng ngũ ngụy quyền tay sai của Pháp và của Nhật, cô lập cao độ kẻ thù chính là bọn đế quốc phátxít và bọn tay sai phản động; tranh thủ hoặc trung lập những phần tử lừng chừng. Như vậy, Cách mạng Tháng Tám giành được thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu.

Bốn là: Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân

Trong Cách mạng Tháng Tám, bạo lực của cách mạng là sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang; kết hợp nổi dậy của quần chúng với tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng ở cả nông thôn và thành thị, trong đó vai trò quyết định là các cuộc tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Cách mạng Tháng Tám là kết quả của sự kết hợp tất cả các hình thức đấu tranh kinh tế và chính trị, hợp pháp và không hợp pháp của quần chúng, từ thấp đến cao, từ ở vài địa phương lan ra cả nước, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp thống trị, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân.

Năm là: Nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ

Đảng ta coi khởi nghĩa là một nghệ thuật, vừa vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm của cách mạng thế giới, vừa tổng kết những kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ở nước ta. Trong rất nhiều văn kiện của Đảng từ năm 1939 đến nửa đầu năm 1945, Đảng đã vạch ra những điều kiện làm thời cơ cho tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi chứng tỏ Đảng đã chọn đúng thời cơ. Đó là lúc bọn cầm quyền phátxít ở Đông Dương hoang mang đến cực độ sau khi Nhật đầu hàng; nhân dân ta không thể sống nghèo khổ như trước được nữa (khi hơn hai triệu người đã bị chết đói…). Đảng đã chuẩn bị sẵn sàng các mặt chủ trương, lực lượng và cao trào chống Nhật, cứu nước làm điều kiện chủ quan cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sáu là: Xây dựng một Đảng Mác – Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền

Đảng ta ngay từ đầu đã xác định đúng đường lối chiến lược và sách lược cách mạng, không ngừng bổ sung và phát triển đường lối chiến lược và sách lược đó. Điều đó đòi hỏi Đảng phải biết vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, kịp thời tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng.

Đảng ta rất coi trọng việc quán triệt đường lối chiến lược và sách lược, chủ trương của Đảng trong đảng viên và quần chúng cách mạng, không ngừng đấu tranh khắc phục những khuynh hướng lệch lạc. Đảng chăm lo công tác tổ chức, cán bộ, giáo dục rèn luyện cán bộ, đảng viên về ý chí bất khuất, phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng, xây dựng Đảng vững mạnh và trong sạch. Đảng biết phát huy triệt để vai trò của Mặt trận Việt Minh với hàng triệu hội viên và thông qua Mặt trận để lãnh đạo nhân dân đấu tranh.

Với những yếu tố như trên và được tôi luyện qua 15 năm đấu tranh mặc dù chỉ có 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công.

Theo lichsuvietnam.vn
dostquangtri.gov.vn

Sách lược vắn tắt của Đảng (1930)

1. Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng.

2. Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến.

3. Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia.

4. Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới (1) làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ.

5. Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp, trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp.

————————

Tài liệu của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Chương trình tóm tắt của Đảng (1930)

1. Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ nǎng lực lãnh đạo quần chúng.

2. Đảng tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ và phong kiến.

3. Đảng giải phóng công nhân và nông dân thoát khỏi ách tư bản.

4. Đảng lôi kéo tiểu tư sản, trí thức và trung nông về phía giai cấp vô sản; Đảng tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư bản bậc trung, đánh đổ các đảng phản cách mạng như Đảng Lập hiến, v.v..

5. Không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác.

Đảng phổ biến khẩu hiệu “Việt Nam tự do” và đồng thời Đảng liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới nhất là với quần chúng vô sản Pháp.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1930

————————-

In trong sách Vǎn kiện Đảng, (từ 27-10-1929 đến 7-4-1935).
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1964, tr.15.
cpv.org.vn

Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930)

I- Tên: Đảng Cộng sản Việt Nam.

II- Tôn chỉ: Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản.

III- Lệ vào Đảng: Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản, hǎng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng thời được vào Đảng. Thợ vào Đảng thời phải có một đảng viên giới thiệu và phải dự bị 3 tháng, thủ công nghiệp nghèo, dân cày và lính phải có hai đảng viên giới thiệu và dự bị 6 tháng, học sinh, các giai cấp khác và người đảng phái khác phải có hai đảng viên giới thiệu và phải dự bị 9 tháng.

Người dưới 21 tuổi phải vào thanh niên cộng sản đoàn.

IV- Hệ thống tổ chức:

Chi bộ gồm tất cả đảng viên trong một nhà máy, một công xưởng, một hầm mỏ, một sở xe lửa, một chiếc tàu, một đồn điền, một đường phố, v.v..

Huyện bộ, thị bộ hay là khu bộ:

Huyện bộ gồm tất cả các chi bộ trong một huyện.

Thị bộ gồm tất cả các chi bộ trong một châu thành nhỏ.

Khu bộ gồm tất cả các chi bộ trong khu của một thành phố lớn như Sài Gòn, Chợ Lớn, Hải Phòng, Hà Nội hay của một sản nghiệp lớn như mỏ Hòn Gai.

Tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ:

Tỉnh bộ gồm các huyện bộ, thị bộ trong một tỉnh.

Thành bộ gồm tất cả các khu bộ trong một thành phố. Đặc biệt bộ gồm tất cả khu bộ trong một sản nghiệp lớn.

Trung ương

V- Trách nhiệm của đảng viên:

a) Tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và cổ động quần chúng theo Đảng.

b) Tham gia mọi sự tranh đấu về chính trị và kinh tế của công nông.

c) Phải thực hành cho được chánh sách và nghị quyết của Đảng và Quốc tế Cộng sản.

d) Điều tra các việc.

e) Kiếm và huấn luyện đảng viên mới.

VI- Quyền lợi đảng viên:

Trong các cuộc hội nghị của chi bộ, đảng viên dự bị có quyền tham gia và phát biểu ý kiến, song không có quyền biểu quyết, ứng cử và tuyển cử.

VII- Các cấp đảng chấp hành uỷ viên:

a) Một cấp đảng bộ có hội chấp hành uỷ viên để giám đốc và chỉ huy cho mọi đảng viên làm việc.

b) Mỗi chấp hành uỷ viên phải thường báo cáo cho đảng viên biết.

VIII- Kinh phí:

a) Kinh phí của Đảng do nguyệt phí và đặc biệt quyên mà ra.

b) Nguyệt phí do các cấp đảng bộ tuỳ kinh phí mỗi đảng viên mà định.

c) Người không việc hoặc ốm thì khỏi phải góp nguyệt phí.

IX- Kỷ luật:

a) Đảng viên ở nơi này đi nơi khác phải xin phép Đảng và theo cơ quan nơi đó để làm việc.

b) Bất cứ về vấn đề nào đảng viên đều phải hết sức thảo luận và phát biểu ý kiến, khi đa số đã nghị quyết thì tất cả đảng viên phải phục tùng mà thi hành.

c) Cách xử phạt người có lỗi trong đảng viên: Cách xử phạt người có lỗi trong Đảng do hội chấp hành uỷ viên trong cấp Đảng hay đại biểu đại hội định.

—————————-

Tài liệu của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi (1930)

Hỡi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, anh chị em 1 bị áp bức, bóc lột!

Anh chị em! Các đồng chí!

Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và thấy có trách nhiệm phải gửi tới anh chị em và các đồng chí lời kêu gọi này.

Mâu thuẫn gay gắt về kinh tế giữa các nước đế quốc chủ nghĩa đã gây ra Chiến tranh thế giới 1914-1918. Sau cuộc chém giết đẫm máu đó, thế giới chia ra làm hai mặt trận: mặt trận cách mạng gồm các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản bị bóc lột trên toàn thế giới mà đội tiên phong là nước Nga Xôviết, và mặt trận của chủ nghĩa đế quốc mà tổng hành dinh là Hội quốc liên.

Cuộc chiến tranh đế quốc ấy đã làm cho thế giới bị thiệt hại nặng nề về người và của, đặc biệt là đế quốc Pháp bị thiệt hại nhiều hơn các đế quốc khác. Hiện nay, để tổ chức lại nền kinh tế ở Pháp, đế quốc Pháp ra sức khai thác tài nguyên “của chúng” ở Đông Dương. Chúng xây dựng thêm nhà máy để bóc lột công nhân và buộc họ phải chịu đói rét. Chúng chiếm ruộng đất của nông dân để lập đồn điền, làm cho nông dân mất hết ruộng đất và lâm vào cảnh tuyệt vọng. Chúng tìm mọi cách để bóp nặn nhân dân ta; chúng thu thuế ngày càng nặng, bắt mua “quốc trái” ngày càng nhiều, làm cho đồng bào ta ngày thêm nghèo khổ.

Càng ngày chúng càng tǎng cường quân đội: một là để giết hại cách mạng An Nam, hai là để chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc nữa ở Thái Bình Dương nhằm chiếm thêm thuộc địa, ba là để phá cách mạng Trung Quốc, bốn là để chống lại nước Nga Xôviết, vì nước này đang giúp đỡ các dân tộc bị áp bức và các giai cấp bị bóc lột trên thế giới đứng lên đánh đổ bọn thống trị. Cuộc chiến tranh đế quốc thứ hai đang được ráo riết chuẩn bị. Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra, thì nhất định đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội ác. Nếu chúng ta để cho chúng chuẩn bị chiến tranh, nếu chúng ta để cho chúng chống lại cách mạng Trung Quốc và nước Nga Xôviết, nếu chúng ta để cho chúng tiêu diệt cách mạng An Nam thì khác nào chúng ta để cho chúng dìm giống nòi An Nam ta xuống Thái Bình Dương.

Sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào ta hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết. Chính vì vậy mà phong trào cách mạng ngày càng lớn mạnh: công nhân bãi công, học sinh bãi khoá, nông dân đòi ruộng đất, nhà buôn nhỏ đóng cửa hàng, nhân dân cả nước đang vùng dậy chống bọn đế quốc.

Phong trào cách mạng An Nam làm cho đế quốc Pháp phải run sợ. Cho nên, một mặt chúng dùng bọn phong kiến An Nam, bọn đại tư sản phản cách mạng và bọn địa chủ để áp bức, bóc lột nhân dân An Nam. Mặt khác, chúng khám xét nhà cửa, bắt bớ, giam cầm và giết hại những người cách mạng An Nam; chúng hy vọng dùng khủng bố trắng tiêu diệt cách mạng An Nam.

Nếu đế quốc Pháp tưởng có thể dùng khủng bố trắng hòng tiêu diệt cách mạng An Nam thì chúng đã lầm to! Một là, cách mạng An Nam không bị cô lập, trái lại nó được giai cấp vô sản thế giới nói chung và giai cấp cần lao Pháp nói riêng ủng hộ. Hai là, giữa lúc các cuộc khủng bố trắng lên đến đỉnh cao thì những người cộng sản An Nam trước kia chưa có tổ chức, đang thống nhất lại thành một đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam, để lãnh đạo toàn thể anh chị em bị áp bức chúng ta làm cách mạng.

Hỡi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh! Anh chị em bị áp bức, bóc lột!

Đảng Cộng sản Việt Nam 1 đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta. Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng để:

1) Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng.

2) Làm cho nước An Nam được độc lập.

3) Thành lập Chính phủ công nông binh.

4) Tịch thu tất cả các nhà bǎng và cơ sở sản xuất của đế quốc trao cho Chính phủ công nông binh.

5) Quốc hữu hoá toàn bộ đồn điền và đất đai của bọn đế quốc và địa chủ phản cách mạng An Nam chia cho nông dân nghèo.

6) Thực hiện ngày làm 8 giờ.

7) Huỷ bỏ mọi thứ quốc trái và thuế thân, miễn các thứ thuế cho nông dân nghèo.

8) Đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân.

9) Thực hành giáo dục toàn dân.

10) Thực hiện nam nữ bình quyền.

Thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam
NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————

Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn