Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Bốn mươi năm, đồng đội vẫn chưa về…

Một ngày cuối tháng 3 năm 2009, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm ở phường Lê Lợi (thành phố Bắc Giang) trở lại thăm chiến trường Phước Sơn (Quảng Nam) –  nơi ông làm nhiệm vụ ở Đài quan sát của Trung đoàn 230 trên điểm cao 1599 và chứng kiến sự hy sinh anh dũng của 15 chiến sĩ đặc công thuộc đơn vị bạn trong trận đánh ngày 5-8-1970. Sau chuyến đi năm ấy, ông Lâm đã cần mẫn chắp nối thông tin từ các đồng đội và được biết họ là lính đặc công của Tiểu đoàn 404 – Quân khu 5…

Chắp nối thông tin tìm tên đồng đội

Để tìm hiểu rõ hơn về trận đánh diễn ra cách đây bốn thập kỷ, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm đã cất công tìm kiếm tư liệu trong các cuốn lịch sử của nhiều đơn vị đặc công trên chiến trường Khu 5, nhưng không thấy tư liệu nào nhắc đến trận đánh này. Từ thành phố Bắc Giang, ông đã đi xe buýt về Hà Nội và tìm đến Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân. Tới Ban Tư liệu, ông tỉ mỉ lật giở những chồng báo cũ và tìm được thông tin về trận đánh đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 7-8-1970: “Đêm 4 rạng ngày 5-8-1970, Quân giải phóng đã tiến công quân Mỹ thuộc Lữ đoàn 196 đóng ở Khâm Đức. Địch thú nhận đây là trận tiến công lớn nhất của Quân giải phóng vào quân Mỹ sau những trận đánh ở vùng điểm cao 935 phía tây thành phố Huế”. Có được thông tin chính xác về ngày hy sinh của đồng đội, ông Lâm lại tích cực liên hệ với các nhân chứng của Tiểu đoàn 404 để biết rõ hơn về những người tham gia trận đánh. Ông và các cựu chiến binh có cùng tâm nguyện đã tới Cục Chính sách – Tổng cục Chính trị, Phòng Chính sách Quân khu 5 và tập hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau để tìm danh sách các liệt sĩ. Sau một thời gian kiên trì tìm kiếm, họ đã biết được tên của 7 trong số 17 liệt sĩ đặc công hy sinh ngày ấy.

CCB Hoàng Sơn Lâm (đứng giữa) và CCB Tiểu đoàn 404 tới thắp hương tại nơi đồng đội hy sinh 40 năm trước. (Ảnh do CCB Tiểu đoàn 404 cung cấp)

Tìm gặp cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc-nguyên Trợ lý quân giới Tiểu đoàn đặc công 404 – chúng tôi đã được ông kể khá chi tiết về trận đánh bi hùng của tiểu đoàn mình. Trận tập kích vào cứ điểm Khâm Đức đêm 4 rạng ngày 5-8-1970 được xác định là một trận đánh quan trọng, đối phương là lực lượng cơ động mạnh nên mũi chủ công được tiểu đoàn lựa chọn gồm 15 cán bộ, chiến sĩ đều là những cán bộ ưu tú, dày dạn kinh nghiệm. Dù bất lợi về thời gian và cách đánh, dù vũ khí mỗi người chỉ có 1 súng AK, 2 băng đạn, 6 quả thủ pháo, song mũi chủ công được chia làm 5 tổ do đồng chí Trợ lý Tác huấn Tiểu đoàn làm mũi trưởng đã dũng cảm chiến đấu giữa vòng vây dày đặc của địch. Trong lúc chiến đấu, địch phát hiện và bịt cửa mở, tất cả 15 cán bộ, chiến sĩ của mũi chủ công đã anh dũng hy sinh trong đồn địch và hai chiến sĩ khác hy sinh ở vòng ngoài…

Điều mong mỏi sau bốn mươi năm

“Sáng 5-8, tại trận địa, chúng tôi nghe loa của địch rêu rao trên máy bay là đã “tiêu diệt 15 Cộng quân”, ngay lúc đó tôi có hỏi anh Biền là Tham mưu phó Tiểu đoàn, anh cũng xác nhận 15 anh em của ta đã hy sinh trong trận đánh vào đồn địch đêm 4-8. Sau này, khi địch rút khỏi Khâm Đức, chấm dứt đợt càn lên hành lang Khu 5, tôi còn nhớ tại nơi địch đóng quân có một hố bom được san lấp và rào dây thép gai cẩn thận. Theo phán đoán của tôi, đó có thể là nơi địch chôn thi thể của các liệt sĩ hy sinh trong trận tấn công cứ điểm Khâm Đức”, Cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc nhớ lại.

Khi biết Ban CHQS huyện Phước Sơn (Quảng Nam) đã hai lần tổ chức tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Tiểu đoàn đặc công 404 vào các năm 2001, 2007 và chưa có kết quả, ngày 6-6-2009, đồng đội Tiểu đoàn đặc công 404 đã tổ chức một chuyến đi trở lại chiến trường xưa do cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc dẫn đầu từ Hà Nội vào Khâm Đức. Dựa vào tài liệu của Tổ chức Cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam (VVA) do cơ quan quân sự huyện lưu giữ, đoàn đã tìm kiếm ở khu vực trường bắn đoạn giáp với sông Nước Chè, nhưng kết quả vẫn không tìm thấy hài cốt các liệt sĩ. Đầu tháng 8 năm 2010, gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Tiến ở Quốc Oai (Hà Nội) cũng tổ chức tìm kiếm ở khu vực phía đông đường băng thuộc khu cột cờ, cũng giống như ba lần tìm kiếm trước, khu vực chôn cất các liệt sĩ vẫn chưa được xác định.

“Trở lại Khâm Đức lần thứ hai vào tháng 6 năm ngoái, tôi và các chiến sĩ Tiểu đoàn 404 chỉ thắp được cho đồng đội nén hương để anh linh các liệt sĩ được an ủi phần nào. Chúng tôi vẫn cảm thấy lòng mình day dứt bởi đã nhiều lần tìm kiếm mà các anh vẫn chưa “về”. Hy vọng trong năm nay, khi vừa tròn 40 năm các liệt sĩ ngã xuống, chúng ta sẽ tìm thấy họ”, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm đã tâm sự với chúng tôi như vậy. Điều ông Lâm và các cựu chiến binh Tiểu đoàn 404 mong mỏi hiện nay là muốn được đồng đội trên khắp cả nước cung cấp thêm thông tin về danh sách các cán bộ, chiến sĩ tham gia trận tiến công cứ điểm Khâm Đức và nên chăng cần dựng một tượng đài kỷ niệm ngay tại nơi các anh đã anh dũng hy sinh…

Bùi Vũ Minh
qdnd.vn

“Sổ, tem, phiếu” thời bao cấp

“Ngẩn ngơ như người mất sổ gạo” là thành ngữ điển hình của thời bao cấp ngày xưa. “Sổ gạo” tức là “Sổ lương thực” mà Nhà nước ta thời ấy phát cho mỗi hộ gia đình. Trong sổ ghi rõ họ tên, tiêu chuẩn lương thực hằng tháng của từng người. Đầu tháng, mang “Sổ gạo” ra cửa hàng lương thực gần nhất, xếp hàng, đợi gạo. Có dạo bán cả tháng, có dạo lại chỉ bán nửa tháng một. Gọi là “Sổ gạo”, nhưng thường thường là “nửa gạo, nửa mì”. Mì, có khi là mì bột, có khi là mì sợi, do các nước XHCN ngày ấy viện trợ cho Việt Nam. Thời đánh Mỹ lại càng nhiều mì. Cũng lắm khi, thay cho mì là ngô xay, là sắn khô, và sau này là hạt bo bo.

Phiếu thực phẩm

Nông dân, hiển nhiên là không có “Sổ gạo”. Riêng những làng nghề-ví dụ như quê tôi, làm thêm nghề tằm tơ, kiêm nghề dệt lụa gia công cho Nhà nước – thì những nhà, những người thợ thủ công này, cũng có “Sổ gạo”. Bộ đội và ai làm “công nghiệp nặng”, được 21kg mỗi tháng. Ưu tiên sinh viên sư phạm, cũng vậy, còn thì tùy vào nghề mà “ăn” 19kg, 17kg, 15kg mỗi tháng. Giáo viên, thị dân thì được 13,5kg. Trẻ con còn được ít hơn nữa, theo tuổi. Ngoài số lương thực trong “Sổ gạo”, không thể mua thêm ở đâu nữa, trừ khi bỏ tiền ra mà đi ăn… phở hay mì ở ngoài. Thế nên mới có chuyện, khi vợ họa sĩ Nguyễn Quân đặt “Sổ gạo” lên bàn, chán nản thông báo: “Gạo chưa về!”, thì họa sĩ (vốn là con trai duy nhất của một thiếu tướng quân đội ta) cười bảo: “Gạo chưa về, nhưng phở về rồi!”. Thế là cả nhà bỏ tiền ra, đi ăn phở đợi gạo. Mà phở, mì thời ấy, đa số là phở “mậu dịch”, mì “không người lái”- tức là không có một chút thịt nào. Thiểu số có thịt, thì thịt mỡ, thái mỏng, dày gấp chừng năm lần tờ giấy bóng kính, quạt mạnh là bay mất! Nhân viên cửa hàng ăn ngày ấy thái thịt giỏi gấp mấy lần “thằng Mới” trong ngày làng có việc xưa kia. Cũng vì thế cho nên, những làng nấu rượu “quốc lủi” thời đó bị cấm, không được nấu rượu bằng gạo. Ở các làng Vân Hà, Đại Lâm (Hà Bắc thời đó), người ta nấu rượu bằng sắn. Nếu bất ngờ, công an và phòng thuế đến kiểm tra, chỉ cần thấy bã rượu gạo, tức là chủ lò đã “vi phạm chính sách lương thực”, và tất nhiên là không thể tha được.

Nhưng cũng chính vì thế, mà dân Hà Bắc đã đưa được việc nấu rượu sắn lên thành “nghệ thuật”. “Rượu Vân” trở thành “đặc sản” mãi, là vậy.

Một cửa hàng thực phẩm thời bao cấp.

Bên cạnh đó, hình thành cả một nghề là nghề buôn rượu (lậu), chủ yếu là rượu Vân-rượu sắn. Có một người làm nghề này, sau bỏ nghề, kể với tôi: “Cho rượu vào săm ô-tô, thông đồng với cánh lái xe, chở về Hà Nội từ tờ mờ sáng. Đem săm ô-tô rượu để dưới vòi nước công cộng, lấy chân đạp thật lâu, rượu sẽ ngon hơn. Có đứa dã man, còn cho vào săm rượu mấy giọt thuốc trừ sâu Vô-pha-tốc, rồi cho thêm nước lã vào, đạp thật lâu. Rượu uống thấy nặng hẳn, lãi nhiều hơn!”. Trời ơi, Vô-pha-tốc là thuốc độc, cực độc, giờ đã cấm dùng! Từ khi nghe chuyện ấy, tôi và bạn bè tôi uống rượu Vân ít đi, không dám say nhiều như trước nữa. Nhưng rượu Vân không ngon bằng rượu Bắc Hà (Lào Cai) nấu bằng ngô. Rượu men lá Việt Bắc, nhẹ và nhạt! Rượu cần thì phải uống cả đêm, không hợp với phong tục “nhắm rượu” của dân Bắc Hà. Bây giờ dịch thơ Đường, thấy Lý Bạch suốt ngày say, vẫn thọ 62 tuổi, lại nghĩ, ngày ấy mình bớt rượu là dại! Và thấy Vương Tích, cũng là thi nhân đời Đường, viết: “Hôm nay ta say tràn cung mây – Ừ rằng như thế là không hay – Nhưng kìa, thiên hạ không ai tỉnh – Ta tỉnh làm chi giữa đất này?”, lại càng thêm quý rượu.

Nói vòng vo thế, để thấy rằng, “mất Sổ gạo” thật là một thảm họa, và người mất sổ ngơ ngẩn ngẩn ngơ nhất đời, là vì thế.

Trong một cửa hàng ăn uống thời bao cấp.

Bên cạnh “Sổ gạo”- “Sổ lương thực” – là “Tem gạo” và “Phiếu thực phẩm”. “Tem gạo” là để dùng khi đi công tác lẻ hoặc đi phép, có từ loại 100 gam đến 5 ki-lô-gam, 10 ki-lô-gam. “Phiếu thực phẩm” có các loại, từ cao xuống thấp, là A, B, C… N. Sổ loại A mua ở Tôn Đản (phố Tông Đản bây giờ). “Đi xe Vôn-ga, ăn gà Tôn Đản” là thế. Dân thường thì dùng phiếu N. Phiếu chia ô, đánh dấu tháng. Mỗi lần mua thức gì, cắt một ô. Có ô thịt, ô đường, ô mì chính, ô đậu phụ… Thế nên mới có chuyện, một ông tổ trưởng dân phố đi họp nghe phổ biến cách bầu đại biểu Quốc hội, về nhà phổ biến lại cho dân là “Bỏ người ở ô x…”, thì do không chú ý, một bà buột miệng kêu trời: “Thôi chết! Thế là tháng này mất đậu phụ rồi!”. Vì có nhiều loại tem, phiếu như vậy (ngoài “Sổ gạo”, “Phiếu thực phẩm”, còn có “Phiếu chất đốt”, “Phiếu vải” nữa-mỗi người 4m. Phụ nữ thì có tiêu chuẩn mua lụa đen, phíp đen để may quần), nên ở đâu cũng thấy “xếp hàng”. Xếp bằng người, xếp bằng gạch vỡ ở những cửa hàng lương thực, thực phẩm, củi, than; xếp hàng xem phim. Ở thôn quê, mỗi tháng có từ một đến hai buổi chiếu phim, do các tổ chiếu phim lưu động chiếu lần lượt ở các xã. Vé bán 1 hào một người, trẻ con thì 5 xu. Tôi, 11 – 12 tuổi, đi gánh nước thuê cho cụ Hàn ở Hoàng Mai, 40 gánh thì được 2 hào, thừa tiền xem phim. Nhưng có hôm bí, theo bạn xem phim “chui rào”, về bị anh cả bắt thức cả đêm để “kiểm điểm”! Mua “chất đốt” thì tôi lên Cầu Đổ trên phố Đại La xếp hàng. Ở đó bán củi, than – than cám, than “quả bàng” (chưa có than tổ ong như bây giờ). Sau này có cả dầu hỏa để đun bếp dầu. Ở nông thôn thì thôi, cứ đi kiếm củi, cắt rạ, vặt cỏ may, cắt lá chuối, quét lá rụng, giữ trấu… mà đun. Có lẽ không ở đâu trên thế giới này, người ta chế ra nhiều thứ bếp đun như ở ta thời ấy: Bếp dầu có bấc, không bấc. Bếp đun trấu, lò đun trấu – vừa đun vừa gõ cho trấu rơi xuống. Bếp than cám, bếp than quả bàng. Bếp đun rạ, rơm, củi (có nhà làm bếp hai ngăn, như cái lò dài, đun chính ở ngoài, hơi nóng chạy vào đun phụ ở trong). Sau này là bếp điện may-xo, đỏ rực, lộ thiên, như con giun lửa… Ấy thế mà hăng hái công tác và học tập; mà sản xuất và đánh giặc; mà sống và giúp nhau sống; mà vô tư, thanh sạch.

Ngày ấy, ở Hà Nội, nhà nào cũng có bếp dầu và ấm đun nước, gò – hàn bằng ống bơ sữa bò. Có khách, mươi phút là có nước pha trà (phích nước lúc ấy phân phối, không đủ dùng).

Thế nên mới có chuyện, cố thi sĩ Lưu Trọng Lư, khi đó là quyền Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu (tạm thay cụ Thế Lữ già yếu), Chủ nhiệm Tạp chí Sân khấu, “dại dột” in một bài thơ của tác giả Dũng Hiệp, có câu: “Hoan hô văn nghệ sĩ chúng ta – Uống nhiều nước pha trà, đun bằng ống bơ – Nên thơ ngân vang chất thép”…, và bị “xử lý”- thôi chức! “Con nai vàng ngơ ngác – Đạp trên lá vàng khô”, “Nụ cười đen nhánh sau tay áo”, “Áo đỏ người đem trước giậu phơi”… cũng chẳng cứu được! Chính Lưu Trọng Lư kể cho tôi nghe chuyện đó v.v…

Từ ngày “Đổi mới”, bao sự vừa kể không còn nữa. Đời sống, nói chung, đã tốt hơn nhiều. Nhưng mỗi thời có cái hay, cái dở của nó. Kể đôi lời về thời cũ, chỉ là để “ôn cố – tri tân”. Cái triển lãm “Một thời bao cấp” do ông tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, con cụ Nguyễn Văn Huyên, cựu Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học, là một triển lãm hay. Ai không xem, kể cũng tiếc!

Cái nước mình hay thật! Dân mình còn hay hơn: Thế nào thì cũng tìm ra “phương thức tồn tại” của mình. Sinh con đẻ cái, dựng vợ gả chồng, xây nhà xây cửa, trồng trọt chăn nuôi (cả trong toa-lét tập thể!), làm thơ và đánh giặc… không thua ai việc gì! “Bần tiện bất năng di”. Ta là “Quân tử” thật!

Có lẽ, chỉ có thời bao cấp mới đẻ ra lắm anh hùng kiểu ấy. Bây giờ lại có anh hùng kiểu khác!

Đỗ Trung Lai

Ảnh trong bài: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
qdnd.vn

Từ Thủ đô các nhà báo ra trận

Sau ngày Ngô Đình Diệm phản bội không thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ,  phong trào đấu tranh ở miền Nam ngày càng sôi sục, tiếng vọng ra tới miền Bắc. Báo chí trên miền Bắc – lúc đó chủ yếu là Hà Nội – đã tích cực tham gia cuộc đấu tranh ủng hộ phong trào ở miền Nam lên án bọn Ngô Đình Diệm và đế quốc Mỹ, yêu cầu thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Trên các báo chí lúc đó đã từng tập trung nhiều đợt tuyên truyền về cuộc đấu tranh ở miền Nam, như phản đối Diệm dùng luật 10/59 giết hại ông Hoàng Lê Kha và các đồng chí; vụ tố cáo chính quyền Sài Gòn gây ra các vụ thảm sát ở chợ Được, Vĩnh Trinh, Bến Tre; phản đối vụ thảm sát tập thể các tù chính trị ở trại giam Phú Lợi… Các nhà báo vừa hoạt động nghiệp vụ, vừa tham gia biểu tình kéo đến Ủy ban Quốc tế yêu cầu chấm dứt đàn áp, khủng bố.

Vào những năm đầu thập kỷ 60 thế kỷ trước, chúng tôi chưa hiểu rõ sự cần thiết chi viện cho miền Nam. Vài năm sau đó mới mang máng nghe có các nhà báo đã rời Hà Nội về Nam.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và các nhà báo trong chiến khu. Ảnh tư liệu

Tôi biết một nhà báo quân đội đã về Nam rất sớm, đó là anh Lê Nguyên Phổ ở Tạp chí Văn nghệ quân đội. Anh là đồng hương và là bạn chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp với Vũ Tùng (Chủ tịch Hội Nhà báo yêu nước và dân chủ miền Nam), Hoàng Lê Kha, Tỉnh ủy viên Tây Ninh. Anh vượt Trường Sơn về Nam với tên mới Bùi Kinh Lăng – tên hai con kênh anh đã sống và chiến đấu là kinh Bùi và kinh Bằng Lăng. Anh được giao phụ trách Tiểu ban Văn nghệ và sau này là Tiểu ban Báo chí.

Nhà báo Vũ Đương (Đài Tiếng nói Việt Nam) cũng rời Hà Nội về miền Nam khá sớm. Với tên mới là Thanh Nho, anh phụ trách Tiểu ban Báo chí rồi Đài Phát thanh Giải phóng. Cùng đi vào dịp đó còn có anh Bến Nghé (từ Việt Nam Thông tấn xã), anh Hoàng Hà (từ Đài Phát thanh).

Năm 1961, 1962 Báo Nhân Dân có hai đồng chí quê ở Khu 5 cũng “biến mất”: Anh Hồ Diểng, Trưởng ban Tuyên truyền thống nhất về Khu 5 làm Trưởng ban Tuyên huấn; anh Bùi Cảnh (Ban Công thương) về Nam Bộ làm Tạp chí Tiền Phong của Đảng bộ.

Năm 1964, anh Trần Phong (Tổng biên tập Báo Cứu Quốc) theo tàu chở vũ khí vào Bến Tre rồi đi bộ về Tây Ninh. Các anh Tống Đức Thắng (Trần Tâm Tri), Thái Duy (Trần Đình Vân) vượt Trường Sơn về Nam Bộ. Cũng vào năm này có nhà báo – nhà thơ Hoài Vũ, nhà báo Đinh Phong cũng vượt Trường Sơn về công tác tại Báo Giải Phóng. Cũng năm 1964, nhà báo Thụy Nga (Bảy Vân) từ Báo Hải Phòng theo tàu không số về thẳng miền Tây Nam Bộ.

Từ 1965 cho đến sau này, nhiều nhà báo ở Thông tấn xã như Võ Nhân Lý, Nguyễn Đức Giáp, Lê Đình Khuyên… cũng đã về Nam. Nhà báo Trọng Dân (Đài Tiếng nói Việt Nam); Thế Phiệt (Báo Cứu Quốc), Kim Toàn (Báo Hải Phòng), Mạnh Tùng (Báo Công Giáo)… cũng đã về tăng cường cho các báo, đài…

Trung ương Đoàn cũng cử một đoàn nhà báo về chi viện cho công tác tuyên truyền của Đoàn – trong đó có nhà văn – nhà báo Sơn Tùng.

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ cử các nhà báo: Dương Thị Xuân Quý (về Khu 5), Lê Đoan, Lê Phương (về Nam Bộ)…

Báo Nhân Dân đã cử nhà báo Thép Mới vượt Trường Sơn vào chiến trường với tên mới Hồng Châu. Một số nhà báo về Khu 5 – trong đó có Đặng Minh Phương, Nguyễn Trọng Định, Nguyên Ngọc Tứ, Nguyễn Huy. Nhà báo Tuất Việt từ Báo Nhân Dân cũng đã có mặt ở miền Nam trước chiến dịch Mậu Thân.

Quân đội đã cử vào Nam đội ngũ nhà báo, nhà văn khá hùng hậu, như: Nguyễn Thi, Võ Trần Nhã, Phú Bằng, Ngọc Bằng, Nguyễn Trọng Oánh, Thanh Giang, Ngọc Châu… và nhiều nhà quay phim thời sự.

Đội ngũ các nhà báo từ Hà Nội vào chiến trường đã chấp nhận gian khổ, ác liệt trong nhiều tháng vượt Trường Sơn, lại chấp nhận bám sát các xóm ấp chống địch gom dân lập “ấp chiến lược”, bám sát các đơn vị bộ đội trên khắp các chiến trường. Đội ngũ đó đã kết hợp với đội ngũ các nhà báo trưởng thành từ phong trào đấu tranh ở đô thị, ở đồng bằng, trở thành đạo quân báo chí hùng hậu từ trong chiến tranh cho đến ngày tiến về giải phóng Sài Gòn. Từ Hà Nội, hàng loạt phóng viên các Báo Quân đội nhân dân, Nhân Dân, Thông tấn xã, Đài Tiếng nói Việt Nam… đã nhanh chóng bám theo các đơn vị chủ lực vượt qua các trận đánh ác liệt tiến về Sài Gòn.

Một số nhà báo ra đi từ Hà Nội nhưng không còn được trở về Thủ đô, không còn dịp đi dạo Bờ Hồ, hóng mát Hồ Tây. Vì độc lập thống nhất, họ đem theo niềm thương nhớ Hà Nội và gia đình vào cõi vĩnh hằng.

Đinh Phong
qdnd.vn

Những chuyện ít biết về Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

– Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn – tiền thân của trường Sĩ quan Lục quân 1 (Đại học Trần Quốc Tuấn) – là đơn vị đầu tiên vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước hiếu với dân”. Nhân kỷ niệm 65 năm lễ khai giảng khóa 1 của ngôi trường đào tạo cán bộ chính quy đầu tiên của nước Việt Nam mới (26-5-1946 – 26-5-2011), xin giới thiệu với bạn đọc bài viết về những chuyện ít biết của đơn vị này.

Tiền thân của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

Ngay từ năm 1924, Bác Hồ đã cử nhiều thanh niên, học sinh Việt Nam sang du học ở Quảng Châu, Trung Quốc rồi Trường đại học Phương Đông Matxcơva… Cho đến ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Trung ương đã cho thành lập Trường Quân chính kháng Nhật.

Từ sau ngày 2-9 cho tới cuối năm 1945, theo chỉ thị của Bác để phù hợp với tình hình thực tế, trường đã 2 lần đổi tên: Trường Quân chính Việt Nam và Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam. Trong vòng nửa năm với 7 khóa huấn luyện, nhà trường đã cung cấp 1.500 cán bộ trẻ cho lực lượng vũ trang và các địa phương.

Ngày 17-4-1946, theo chỉ thị của Người, nhà trường được đổi tên thành Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn với nhiệm vụ: đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung, đại đội trong thời gian 6 tháng.

dHiệu trưởng Hoàng Đạo Thuý đón nhận lá cờ thêu 6 chữ vàng của Bác Hồ

Để đáp ứng yêu cầu huấn luyện, Người bổ nhiệm đồng chí Hoàng Đạo Thuý làm Hiệu trưởng cùng Chính trị uỷ viên Trần Tử Bình. Các đồng chí Vương Thừa Vũ, Vũ Lập phụ trách huấn luyện. Trường rời từ Hà Nội (khu Việt Nam Học xá, nay là Đại học Bách khoa) lên đóng quân tại sân bay Tông, thị xã Sơn Tây.

Lễ khai giảng khoá 1 và lá cờ thêu những chữ vàng

Chủ nhật 26-5-1946, nhà trường làm lễ khai giảng khoá 1. Hồ Chủ tịch cùng Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Anh và một số đại biểu đến trường từ sớm.

Tránh nghi lễ đón tiếp, Bác đi thẳng vào doanh trại xem bố trí nơi ăn chốn ở. Đến nhà bếp, thấy anh em ăn thừa Người đã phê bình là lãng phí cơm gạo, nhất là khi dân ta vừa qua nạn đói khủng khiếp đầu 1945. Tiếp thu ý kiến Bác, ngay hôm sau, cơm thừa còn sạch được tận dụng ủ làm tương cho bộ đội ăn.

Trong không khí trang nghiêm của buổi lễ, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên nền nhạc hùng tráng của bài “Tiến quân ca”. Từ trên lễ đài Hồ Chủ tịch bước xuống tiến về phía hàng quân, trao cho nhà trường lá cờ thêu những chữ vàng “TẶNG TRƯỜNG VÕ BỊ TRẦN QUỐC TUẤN “TRUNG VỚI NƯỚC – HIẾU VỚI DÂN” – 1946”.

Học viên Bùi Minh Trân, một chiến sĩ của Nam bộ, thay mặt 288 học viên khoá 1 đón nhận lá cờ.

Phát biểu với cán bộ, học viên, Người nói: “Trung với Nước, Hiếu với Dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Đáp lời Người, Giám đốc Hoàng Đạo Thuý nói: “…Thế kỷ 13, Nguyên-Mông là một đế quốc lật đất, nghiêng trời, chiếm từ bể Đông đến giữa châu Âu. Họ bảo nước ta là to bằng bàn tay ếch. Ba lần họ cất quân sang xâm lược nước ta. Ba lần tướng Trần Quốc Tuấn đã dựa vào thế đất và lòng người đuổi quân giặc phải tháo chạy. Cụ Chủ tịch lấy tên Trần Quốc Tuấn đặt tên cho trường ta, ý Cụ mong cho chúng ta trở thành học trò của Trần Quốc Tuấn”.

Với khẩu hiệu “Thao trường đổ mồ hôi để chiến trường không đổ máu”, mặc nắng mưa, mặc ngày đông tháng giá, học viên khoá 1 đã hăng say, miệt mài học rèn.

dTrường Đại học Trần Quốc Tuấn hôm nay tại TP Sơn Tây, Hà Nội (Ảnh: VECI)

dMột góc khuôn viên của trường Đại học Trần Quốc Tuấn (Ảnh: VECI)

Cuối khoá, nhà trường tổ chức diễn tập hành quân dài ngày từ Sơn Tây, qua Đồn Vàng, lên Phú Thọ, Việt Trì, có sự phối hợp giữa bộ đội và dân quân, nâng cao công tác chỉ huy, kỹ-chiến thuật, công tác chính trị, dân vận. Sau diễn tập, học viên có thêm kinh nghiệm tổ chức hành quân dã ngoại, tình cảm quân dân thêm sâu đậm.

Tháng 10-1946, vừa từ Pháp về, Bác lên thăm trường. Người vui vẻ nói chuyện với anh em: “Sau khi ở Pháp về, nhớ những đồng chí trẻ của mình ở đây, đồng chí già liền lên thăm ngay và dặn anh em mấy điểm: Một là phải kỷ luật. Hai là phải quần chúng hoá. Ba là phải thực tế. Bốn là phải ham học, ham làm. Năm là phải quyết tâm, chịu khó. Sáu là không lúc nào tự cho mình là đủ, không kiêu, không nịnh.Bảy là phải đoàn kết, thân ái tự phê bình, phê bình và khuyến khích lẫn nhau”.

Bác tặng nhà trường 16 chiếc huy hiệu để trao cho 15 học viên đỗ xuất sắc và học viên đỗ cuối cùng trong kỳ thi tốt nghiệp.

Ngày 8-12-1946, Võ bị khoá 1 làm lễ tốt nghiệp. Toàn bộ học viên tốt nghiệp được điều động về ngay các đơn vị, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp sẽ nổ ra vào ngày 19-12-1946.

Khóa 2 : Theo thầy Nguyễn Sơn hành quân vào khu IV

Ngày 16-2-1947, Võ bị khóa 2 với 340 học viên được khai giảng tại thị xã Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Sơn – nguyên Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Miền Nam, người đã chiến đấu trong Bát Lộ Quân và tham gia “Vạn lý trường chinh” ở Trung Quốc – được chỉ định làm Hiệu trưởng.Sau đó, đồng chí lại được giao nhiệm vụ Khu trưởng Khu IV nên khóa 2 theo thầy hành quân vào Khu IV. Học viên được biên chế thành các đại đội chuyên sâu: C1 quân sự, C2 chính trị, C3 dân quân. Ngày 28-7-1947, nhà trường làm lễ mãn khóa 2 và ngày 8-8-1947 hành quân ra Bắc.

Khóa 2 + 3 và 4 chữ vàng “Trung dũng, Quyết thắng”.

Giữa tháng 4-1947, khóa 3 được khai giảng tại Bắc Cạn. Thầy Hoàng Đạo Thuý lại được chỉ định làm Hiệu trưởng. Là một nhà giáo, nhà sử học, xã hội học, có kinh nghiệm trong công tác hướng đạo sinh và đã kinh qua đào tạo khóa 1, thầy Thuý giảng về Binh pháp Tôn Tử, về lịch sử ông cha giữ nước, về chiến thuật, chiến lược quân sự, về cả thông tin “moóc-xơ”… Trong khóa học, ngày 1-5-1947, thầy Thuý được vinh dự kết nạp vào Đảng.

Để thống nhất trong đào tạo và bổ sung kiến thức chiến thuật cấp trung đoàn, các khóa 2 và 3 được hợp nhất. Trong buổi lễ, Tổng bí thư Trường Chinh đến thăm.
Sau đó, khóa 2 tiến hành trao cờ “Trung với nước, Hiếu với dân” cho khóa 3. Đây là lá cờ truyền thống mà khóa 1 đã trao cho khóa 2 trước khi hành quân vào Khu IV. Hai đồng chí Vũ Khổng Tước (khóa 2) và Nguyễn Đôn Tự (khóa 3) vinh dự thay mặt 2 khóa trao và nhận lá cờ.

Khi chương trình huấn luyện gần kết thúc, ngày 7-10-1947, giặc Pháp nhảy dù xuống khu vực gần trường. Nhà trường biên chế thành trung đoàn E79 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Hoàng Đạo Thuý và Chính trị viên Lê Đình đã đánh thắng trận Đầm Hồng và trận tập kích Yên Thịnh, phá vỡ kế hoạch hợp điểm của địch ở Bản Thi.

Ngày 28-10-1947, lễ bế giảng được tổ chức tại đình Nghĩa Tá. Khóa 2 và 3 của nhà trường vinh dự đón nhận 4 chữ vàng của Bác “Trung dũng, Quyết thắng”.

Tô thắm thêm những chữ vàng

65 năm trôi qua, các cựu giáo viên, học viên khoá 1-2-3 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, nhiều đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT (nhà tình báo chiến lược Phạm Ngọc Thảo, thiếu tướng Kim Tuấn – Tư lệnh Quân đoàn 3, đại đội trưởng trinh sát Nguyễn Ngọc Bảo…), nhiều đồng chí được phong hàm cấp tướng…

Kế thừa truyền thống vẻ vang của thế hệ cha anh là Trường Sĩ quan Lục quân 1 – Đại học Trần Quốc Tuấn, đơn vị AHLLVTND. Với những chiến công hiển hách trong sự nghiệp giải phóng chống Mỹ cứu nứớc và bảo vệ Tổ quốc, họ đã góp phần tô đẹp thêm những chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã trao tặng.

Trần Kiến Quốc
bee.net.vn

Tư tưởng đoàn kết quân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Congannghean.vn) – Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ quân dân là mối quan hệ đặc biệt, “quan hệ cá nước”. Trong đó, “nhân dân là nền tảng, là cha là mẹ của bộ đội” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5).

Quân đội muốn hoàn thành được nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó thì phải gắn bó mật thiết máu thịt với nhân dân. Bởi vì, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng mọi sức mạnh đều ở nhân dân, từ cơm ăn, áo mặc, xe cộ đi lại đến vũ khí đánh giặc đều do mồ hôi công sức nhân dân mà có.

Trước ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trong một lần trò chuyện với đồng chí Võ Nguyên Giáp ở Pắc Bó (Cao Bằng), Bác nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng: “Phải biết dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được”.

Đó chính là nền tảng ban đầu cho vấn đề đoàn kết quân – dân. Ngay trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Bác cũng đã nêu rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”.

Những ngày đầu thành lập, những người đứng đầu Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân hỏi Bác: Đội tuyên truyền hoạt động theo kế hoạch của liên tỉnh, khi tới địa phương thì quan hệ thế nào? Bác nói: “Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực và địa phương. Ba lực lượng ấy đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với nhau…”. Đó cũng chính là phương châm mà quân đội ta đã thực hiện trong suốt hai cuộc kháng chiến lâu dài.

Trong hồi ký “Một lòng theo Bác”, Thượng tướng Chu Văn Tấn có viết: Bác căn dặn rằng: “Cán bộ không được tự kiêu, tự mãn như ông tướng, mà phải khiêm tốn… Phải lấy dân làm gốc như cá dựa vào nước tùy theo lực lượng của quần chúng mà nâng dần lên; Phải gương mẫu, chịu hi sinh gian khổ, đi đầu trong mọi khó khăn…”. Bộ đội về Bắc Sơn, Vũ Nhai đánh giặc, tới Đông – Ngàn, thấy quần chúng đông nghịt như hội, hát si, hát lượn… Hỏi ra thì biết, nhân dân tổ chức si lượn để che mắt địch, đón bộ đội.

Trong điều kiện hiện nay của đất nước ta, nhắc lại tư tưởng của Bác về vấn đề đoàn kết quân dân vẫn là điều vô cùng cần thiết và quan trọng. Để thực hiện tốt tư tưởng trên của Người và không ngừng tăng cường, củng cố, phát triển mối quan hệ máu thịt này, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đang ra sức thi đua và thực hiện tốt những vấn đề lớn theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quân dân.

Người khẳng định: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do nhân dân đẻ ra, vì nhân dân mà chiến đấu” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5). Người luôn nhắc nhở, giáo dục cán bộ, chiến sĩ phải hiểu rõ: nhân dân là nền tảng, là gốc rễ sinh ra quân đội. Muốn quân đội vững mạnh thì phải dựa vào cái gốc, cái nền tảng ấy: “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 2, Bác đã có thư gửi đồng bào, chiến sĩ và nêu rõ: “… Chúng gây nên chiến tranh… muốn chia rẽ dân ta… Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc, nhờ tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường đó, mà hai năm kháng chiến… lực lượng của địch thì ngày càng hao mòn, ta thì càng đánh càng hăng, càng mạnh… Hãy tin tưởng vào vận mệnh lớn lao của Tổ quốc, tin tưởng vào sức đoàn kết, chiến đấu của ta… Tướng sĩ ở mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ… thì cuộc trường kì kháng chiến của ta nhất định thành công” (Hồ Chí Minh toàn tập, T4).

Bác dạy: “Mình đánh giặc là vì dân, nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân mà mình phải có trách nhiệm phụng sự nhân dân” (HCM toàn tập.T6). “Phải giúp đỡ nhân dân bất kì việc to, việc nhỏ” … Đó là điều “Thương dân, trọng dân, tốt với dân”. Có vậy, mới gắn bó chặt chẽ được với nhân dân, mới được dân tin, dân phục, dân yêu.

Quán triệt, thấm nhuần và tiếp thu tư tưởng đoàn kết quân dân của Hồ Chủ tịch, 67 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, mối quan hệ quân dân cá nước, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó.

Nguyễn Thanh
congannghean.vn

Tham luận tại Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội đỏ (1924) (40)

Thưa các đồng chí, tôi xin thông báo với các đồng chí về tình hình giai cấp công nhân ở Đông Dương, một trong những thuộc địa quan trọng nhất của Pháp.

Theo những số liệu thống kê gần đây, ở Đông Dương hiện có 63 xí nghiệp khai mỏ sản xuất 70 vạn tấn than đá, 5 vạn tấn kẽm, 15 vạn tấn chì, 2.500 tấn sắt, 1.500 tấn các kim loại khác, 3.500 cara (1) đá quý và 100 kilôgam vàng.

Còn về những ngành công nghiệp khác thì nên lưu ý rằng ở Đông Dương còn có 140 đồn điền cao su với diện tích chung 3.500 hécta và sản xuất 5.000 tấn. Công nghiệp thực phẩm cũng đáng kể – sản xuất 250 tấn thịt hộp.

100 xí nghiệp tơ lụa sản xuất 100 tấn hàng tơ lụa.

Nếu như kể thêm rằng ở Đông Dương còn có 355 trạm điện báo, 2.100 kilômét đường sắt và 3 cảng lớn mà mỗi nǎm bốc dỡ 7-8 triệu tấn hàng khác nhau thì điều đó sẽ cho một quan niệm chung về những lĩnh vực sản xuất mà vô sản Đông Dương đang bỏ sức lao động vào đó.

ở Đông Dương còn có những xí nghiệp tương đối lớn: nhà máy ximǎng Poóclan (2) có 30.000 công nhân làm thuê, khu mỏ vịnh Hạ

Long có 4.000 công nhân, nhà máy dệt Bắc Kỳ (1) – 3.000 công nhân, đường sắt – 8.000 công nhân.

Ngày làm việc 12-13 tiếng. Trong nông nghiệp ngày làm việc còn dài hơn. Những ngày lễ – và nhiều khi cả những ngày chủ nhật – đều không được đếm xỉa tới. Không có bảo hiểm xã hội cho tuổi già, không có trợ cấp cho lúc bị thương tật hoặc đau ốm. Tiền lương của công nhân không lành nghề không quá 50 phrǎng một tháng, còn của công nhân lành nghề – 250 phrǎng. Công nhân nhiều khi phải ký những giao kèo một phía, bắt buộc họ phải làm việc cho bọn chủ trong một số nǎm nhất định. Theo giao kèo, bọn chủ nhà máy có thể sa thải họ bất kỳ lúc nào, nhưng người công nhân lại không thể bỏ việc trước lúc hết thời hạn như đã quy định trong giao kèo. Trong nông nghiệp, nhiều khi ngay cả thủ tục hình thức đó cũng không được dùng, và cố nông trở thành hầu như nô lệ, như sở hữu riêng của bọn chủ. Đối với những người không phục tùng, có sẵn cả một hệ thống bắt bớ và đánh đập.

Tất nhiên, không thể nói tới tự do bãi công. Một vài cuộc nổi dậy lớn mang tính chất bãi công, không phải là do vận động tuyên truyền gây ra mà là do bị đói, đã bị đàn áp bằng mọi cách tàn ác nhất.

Với sự giúp đỡ hào hiệp của chủ nghĩa đế quốc Pháp, ở Đông Dương thật ra là đã phục hồi chế độ nô lệ. Nô lệ có ba loại: 1) tù khổ sai, mà chính quyền cai trị đã cho bọn chủ các nhà máy sử dụng, sau cả một ngày lao động cho bọn tư bản thì tối đến họ lại trở về các nhà tù có biển đề hứa hươu hứa vượn “tự do, bình đẳng và bác ái”; 2) nông nô, có thể bao gồm tất cả người An Nam từ 18 đến 60 tuổi, hằng nǎm buộc phải đi phu một số ngày nhất định. Vả lại, số lượng những ngày đó chỉ là quy định ước chừng, còn trên thực tế hầu như không có hạn định. Một phần lớn dân cư đã bị huy động vào việc làm đường, đào kênh và không có bất kỳ một thứ công sá nào hết. Số người dân bản xứ chết vì những công việc ấy thật rất lớn; 3) nô lệ, đúng theo nghĩa đầy đủ của từ, họ bị bán và bị mua. Trong việc mua bán này, chính quyền thực dân đã trở thành bọn chủ kinh doanh. Giống như thời chiến tranh, chính quyền thực dân đã tuyển dân bản xứ làm lính – tình nguyện, thì bây giờ chúng lại mộ công nhân – tình nguyện đi các thuộc địa Pháp khác, chủ yếu cho các đảo ở Thái Bình Dương. Những người An Nam này đến đó bị bán cho bọn chủ đồn điền và chủ nhà máy người châu Âu.

Có một bức thư, đã đǎng khắp Đông Dương và đề ngày 17 tháng 3 nǎm 1924, nói về những tai hoạ khủng khiếp do bệnh sốt rét gây ra trong số những người nô lệ đã bị đưa tới đảo Êbrít (1) , bức thư yêu yêu cầu phải chấm dứt cái hệ thống bóc lột vô liêm sỉ đối với tình trạng tǎm tối của người dân bản xứ.

Giai cấp vô sản không thể làm gì để chống lại cái hệ thống bóc lột đó, chưa có một tổ chức công nhân nào cả. Bộ luật thuộc địa do những nhà khai hoá Pháp soạn ra chính là để đàn áp bất kỳ một biểu hiện nào có tính tự chủ của người dân bản xứ nói chung và tầng lớp vô sản nói riêng. Theo bộ luật đó, người An Nam không có quyền xuất bản báo chí bằng tiếng mẹ đẻ, không có tự do hội họp và lập hội, bị tước đoạt cả quyền tự do đi lại từ tỉnh này sang tỉnh khác. Để bảo vệ những luật pháp đó thì có toà án gồm 5-6 quan lại Pháp, chúng xử kín và tuyên án, kể cả án tử hình.

Trước chiến tranh, người An Nam có tổ chức vài hợp tác xã, nhưng chính quyền thực dân đã giải tán chúng, bắt giam những người tổ chức vì nghi là tuyên truyền cách mạng.

Thưa các đồng chí, tình cảnh công nhân An Nam là như thế. Đó là một tình cảnh khủng khiếp, nhưng không phải là không có lối thoát. Tình hình không phải là không có lối thoát, bởi vì với sự giúp đỡ của các tổ chức cách mạng gần gũi với Quốc tế Công hội đỏ,

chúng tôi quyết đập tan lực lượng của chủ nghĩa đế quốc châu Âu áp bức chúng tôi. Nhưng để đạt tới kết quả đó, để thúc đẩy nhanh chóng công cuộc giải phóng của giai cấp vô sản Đông Dương thì cần thiết một điều là các đồng chí chúng ta trong các tổ chức công nhân cách mạng Pháp phải tích cực giúp đỡ chúng tôi trong cuộc đấu tranh giải phóng của chúng tôi. (Vỗ tay vang dội).

In trong sách: Đại hội lần thứ III

Quốc tế Công hội đỏ – Báo cáo, bản tốc ký, tiếng Nga, Mátxcơva, 1924, tr.297-299.
cpv.org.vn

——————————

(40) Tổ chức liên hiệp quốc tế của các công đoàn cách mạng, được thành lập ngày 3-7-1921, tồn tại đến cuối năm 1937. Nó liên kết các trung tâm công đoàn không gia nhập tổ chức công đoàn cải lương là Quốc tế Amxtécđam, và liên kết các nhóm, các khuynh hướng đối lập tiến bộ trong nội bộ các tổ chức công đoàn cải lương ở các nước. Quốc tế Công hội đỏ đấu tranh để thiết lập sự thống nhất trong phong trào công đoàn trên cơ sở đấu tranh cách mạng nhằm bảo vệ những yêu sách của giai cấp công nhân, chống nguy cơ chiến tranh đế quốc, và đoàn kết với giai cấp công nhân nước Nga Xôviết.

Tại phiên họp 15, ngày 21-7-1924, Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội đỏ, với tư cách là đại biểu Đông Dương, Nguyễn ái Quốc đã đọc tham luận. Tr.290.

Tư tưởng Hồ Chí Minh quy tụ mọi lực lượng để dựng nước và giữ nước

Nếu nghe ai ca tụng cái vĩ đại của Bác thì được Bác trả lời: một mình tôi thì làm được cái gì? Thiên tài của Bác chính là biết tập hợp lực lượng, biết quy tụ mọi sức mạnh có thể quy tụ được để dựng nước và giữ nước.

“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” – Ảnh tư liệu.

Trong lịch sử dân tộc, cũng có thời kỳ chia rẽ nội bộ như “Thập nhị sứ quân”, Trịnh – Nguyễn phân tranh, “Nam Kỳ quốc” v.v… nhưng quy luật chung của sự phát triển vẫn là sự đồng tâm nhất trí, sự quy tụ lực lượng với hình tượng “bó đũa”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Nguyên lý đó dựa trên thực tế xã hội Việt Nam: sự phân hóa và đấu tranh giai cấp trong nội bộ xã hội bị chi phối và phụ thuộc vào mâu thuẫn lớn hơn: giữa dân tộc Việt Nam và giai cấp thống trị ngoại bang – mâu thuẫn đối kháng cao nhất.

Vốn mang truyền thống đại đoàn kết dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trên lộ trình tìm đường cứu nước, nắm được học thuyết Mác–Lênin, phân tích rõ thực trạng xã hội Việt Nam, giải quyết chính xác mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam.

Nếu trước kia Mác cho rằng giai cấp vô sản trước hết phải trở thành dân tộc, rằng đấu tranh để giải phóng nhân loại là tiền đề để giải phóng giai cấp vô sản thì Bác Hồ coi giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng giai cấp bị áp bức bóc lột trong xã hội Việt Nam. Nếu dân tộc không được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của giai cấp tư bản đế quốc thì muôn đời cũng không giải phóng được nhân dân lao động.

Sự sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trên hai mặt. Một mặt phải tìm mọi khả năng quy tụ nhân dân thuộc mọi tầng lớp xã hội có lòng yêu nước thương nòi vào một mặt trận rộng lớn, chống quan điểm biệt phái, quan điểm giai cấp cực đoan có hại cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Mặt khác, phải từng bước giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ xã hội Việt Nam, chủ yếu là giữa nông dân với địa chủ, bằng những biện pháp thích hợp (hiến điền, giảm tô, tức, tạm cấp ruộng đất v.v…) để tăng cường sức dân nhưng không phá vỡ mặt trận đoàn kết dân tộc. Sự quy tụ lực lượng rộng rãi đó đã tạo nên sức mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và cũng nhờ đó làm thất bại chính sách chia để trị của kẻ thù trong bất cứ giai đoạn nào.

Sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc chuyển sang xây dựng xã hội mới, phải chăng chúng ta đã coi nhẹ sự quy tụ lực lượng toàn dân tộc theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh” và quá lo sợ, đề cao việc xóa bỏ ngay mâu thuẫn giai cấp trái quy luật lịch sử – tự nhiên, đốt cháy những giai đoạn quá độ cần thiết và lâu dài. Bị ám ảnh bởi những mô hình cải tạo xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa và quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Liên Xô, chúng ta đã bỏ mất thời cơ lớn để tập hợp lực lượng, phát triển mạnh sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân, dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội.

Từ khi tiến hành đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường với sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế, quan trọng nhất là sự giải phóng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp quan hệ đến hàng chục triệu lao động cùng với sự khai thác khả năng tiềm tàng của các tầng lớp xã hội khác, bộ mặt kinh tế – xã hội của đất nước đã có nhiều thay đổi lớn.

Tuy nhiên, cũng phải từng bước giải quyết những mâu thuẫn giai cấp, đảm bảo lợi ích của nhân dân lao động nhưng không làm tổn hại đến sự quy tụ lực lượng rộng rãi. Chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước phải đồng thời giải quyết tốt nhất cả hai mặt đó. Vừa qua, về mặt kinh tế, chúng ta chậm ban bố các luật đầu tư trong nước, luật chống độc quyền, luật lao động v.v… có liên quan đến việc quy tụ lực lượng và giải quyết mâu thuẫn giai cấp.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ nguyên lý phải biết kết hợp chặt chẽ sự quy tụ lực lượng trong nước với lực lượng tiến bộ trên thế giới để đấu tranh và xây dựng Tổ quốc. Ngay từ buổi ban đầu cách mạng cho đến lúc hoàn thành giải phóng dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhất quán đề cao ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam để tranh thủ rộng rãi sự đồng tình và giúp đỡ của cả nhân loại tiến bộ. Không chỉ riêng các nước xã hội chủ nghĩa mà cả các nước dân tộc chủ nghĩa, các chính phủ tiến bộ, các tầng lớp xã hội, nhân sĩ, một số nhân vật trong giới cầm quyền không tán thành chiến tranh xâm lược v.v… đã đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam.

Bước vào thời kỳ xây dựng đất nước, chúng ta đã đánh mất một phần sự ủng hộ quốc tế đó, mà đáng ra phải được tăng cường hơn trước. Cũng giống như tình trạng quy tụ lực lượng trong nước, chúng ta đã muốn làm trong sạch ngay các quan hệ kinh tế đối ngoại, quá lo sợ về sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân mới trong khi đã nắm vững chính quyền cả nước.

Từ một nước chậm phát triển, chúng ta bị cô lập với thế giới tư bản đang nắm khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất cùng với vốn đầu tư và thị trường rộng lớn. Điều kiện quốc tế của sự phát triển đất nước bị hạn hẹp và chịu chung số phận khủng hoảng cùng với các nước xã hội chủ nghĩa trước những cú sốc của thế giới và nội địa.

Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, chúng ta đã điều chỉnh lại quan hệ đối ngoại, “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”, nhất là các nước trong khu vực.

Muốn quy tụ lực lượng trong điều kiện quốc tế ngày nay, phải tìm được những mục tiêu chung với các đối tác, tạm gác những nét khác biệt, thậm chí cần phải bắt tay với những kẻ thù cũ đã biết tôn trọng lợi ích đôi bên. Cửa phải mở rộng nhưng phải thường xuyên quét sạch rác rưởi, vi trùng, đảm bảo môi trường trong sạch. Yếu tố quyết định thắng lợi của sự quy tụ lực lượng trên thế giới vẫn là sự lớn mạnh, trưởng thành của bản thân nhân dân ta.

Những thành tựu đạt được trong mấy năm qua là kết quả tổng hợp của sự quy tụ lực lượng trong nước và trên thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục soi sáng cho chúng ta trong một thời kỳ phát triển mới: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo lời dặn của Bác:

Dân ta nên nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

TRẦN BẠCH ĐẰNG
5-1994
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ, 2-2007)
Tuổi trẻ Online

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tìm kiếm và trọng dụng nhân tài khoa học

Một trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đề cao vai trò của nhân tài, tích cực tìm kiếm và trọng dụng nhân tài là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử chứng tỏ ông cha sớm định hình một tư tưởng có ý nghĩa chiến lược: Hiền tài là nguyên khí quốc gia và rất đề cao vai trò của nhân tài trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Năm 1484 và năm 1487, Thân Nhân Trung thừa lệnh nhà vua thảo bài văn bia, trong đó nêu rõ quan điểm cơ bản của nhà nước về hiền tài: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước càng mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu và càng xuống thấp. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp nguyên khí”[1].

Những thế kỷ sau đó truyền thống trên được tiếp tục giữ gìn và phát triển. Người anh hùng áo vải, cờ đào Nguyễn Huệ, thế kỷ XVIII cũng có “chiếu cầu hiền”. Ông viết: “Trẫm thường mong mỏi, lắng nghe và liên tục hỏi những người tài cao, học rộng sao chưa thấy đến? Phải chăng trẫm kém tài, ít đức chẳng đáng phò tá hay sao? Trẫm luôn lo lắng và nghĩ rằng cái nhà to sức một cây cột làm sao chống nổi, sự nghiệp dân an quốc thái sức một người sao có thể đảm đương”[2]. Đặc biệt những lời Nguyễn Huệ nói với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp rất đáng để đời sau suy nghĩ: “Quả đức sinh ra ở chốn binh đao, sự học hỏi chỉ ở sự nghe trông, nên trong đạo trị dân đã có nhiều điều thô lậu, phiền nhiễu, đó là cái tội bởi Quả đức chưa biết cầu hiền. Mong Phu tử nghĩ đến dân sinh, gắng sức giúp đời, cứu nước, để Quả đức có thầy mà thờ, cho đời này có người mà cậy, khỏi phụ ý trời sinh ra người tài giỏi cho dân. Quả đức xin nghe theo lời dạy bảo”.

Dân nhân văn hoá Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển truyền thống trên đây của cha ông lên một tầm cao mới. Điều này thể hiện đặc biệt rõ từ khi Người sáng lập Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, 1945.

Lịch sử cho thấy đến ngày 1-3-1428 bóng dáng cuối cùng của quân xâm lược nhà Minh bị quét khỏi nước ta. Hơn một năm sau, 1429 Lê Lợi mới lệnh cho quan các nơi phải tiến cử người tài đức. Hồ Chí Minh đề xuất chủ trương tìm kiếm nhân tài sớm hơn rất nhiều. Hơn hai tháng sau Tuyên ngôn độc lập, ngày 14-11-1925, Hồ Chí Minh viết bài “Nhân tài và kiến quốc”. Tư tưởng nổi bật của bài viết là “kiến quốc cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Điều đặc biệt là một năm sau đó, 11-1946, Hồ Chí Minh lại viết “Tìm người tài đức”. Trong bài viết này, Hồ Chí Minh khẳng định trong số 20 triệu người Việt Nam “chắc không thiếu người có tài, có đức” nhưng vì Chính phủ “nghe không đến, thấy không khắp” nên những người tài đức chưa xuất hiện. Trên tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”[3]. Để sửa chữa khuyết điểm, tỏ rõ quyết tâm của chính quyền cách mạng trọng dụng nhân tài, Hồ Chí Minh chỉ thị cho các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức và phải báo cáo đầy đủ, rõ ràng lên chính phủ tên, tuổi, nghề nghiệp, tài năng, chỗ ở, nguyện vọng của người đó.

Có thể coi những văn kiện nêu trên là “chiếu cầu hiền, tài” đầu tiên của chính quyền cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, việc sử dụng con người, nhất là những người tài không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật – nghệ thuật của người lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hoá tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hoá ra tài nhỏ”[4].

Phát hiện nhân tài đã khó nhưng việc khó hơn là làm thế nào để đức tài của họ được phát huy cao nhất trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính sự quan tâm sâu sắc và trọng dụng nhân tài của Hồ Chí Minh là động lực mạnh mẽ thôi thúc nhân tài cống hiến hết minh.

Một trong những minh chứng tiêu biểu cho vấn đề này là sự quan tâm sâu sắc, có thể nói đến mức tỷ mỉ của Hồ Chí Minh đối với Tôn Thất Tùng. Ngay sau Cách mạng tháng Tám Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tôn Thất Tùng. Bước ngoặt căn bản trong cuộc đời Tôn Thất Tùng xảy ra khi tổ chức bố trí ông “đến chữa bệnh cho một lão đồng chí”, người gầy xanh xao nhưng “có đôi mắt sáng”. Sau này, trong hồi ký của mình, Giáo sư Tôn Thất Tùng viết: “Từ cuộc gặp đầu tiên đó, tâm hồn tôi đã chuyển biến theo cách mạng Việt Nam, theo ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”. Hồ Chí Minh rất quan tâm tới cuộc sống của các chuyên gia, nhân tài. Đầu năm 1946, khi biết Tôn Thất Tùng mới sinh con trai, Hồ Chí Minh đề nghị với Tôn Thất Tùng: Chú để tôi đặt tên cho cháu. Người nói: Tên chú có bộ mộc nên đặt tên cho cháu là Bách. Điều kỳ lạ là đến năm 1968, Hồ Chí Minh vẫn hỏi thăm Tôn Thất Tùng về Tôn Thất Bách mà hơn 20 năm trước Người đã đặt tên.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc tạo điều kiện trang cấp thiết bị hiện đại cho các nhân tài hoạt động khoa học. Một lần Tôn Thất Tùng trực tiếp gặp Hồ Chí Minh đề đạt nguyện vọng cần vài trăm nghìn Phrăng Pháp để mua tài liệu và thiết bị mới. Hồ Chí Minh hỏi sao không nhờ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em giúp đỡ. Sau khi được biết những thiết bị đó các nước xã hội chủ nghĩa chưa có, Hồ Chí Minh nói: Nước ta còn nghèo nhưng việc cứu sống con người là quan trọng, không thể dè xẻn. Sau đó, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho các cơ quan chức năng đáp ứng yêu cầu của chuyên gia hàng đầu ngành y tế Việt Nam[5]. Chính sự quan tâm, chăm sóc đó của Hồ Chí Minh là nhân tố quan trọng nhất để không chỉ nhân dân Việt Nam mà cả thế giới biết đến Giáo sư Tôn Thất Tùng. Sự quan tâm đó quả thực có tác dụng lâu dài, sâu sắc. Bởi vì, không chỉ có Giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Tùng mà cả người con trai của ông, Phó Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân Tôn Thất Bách đã trọn đời đi theo “ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”. Nỗi tiếc thương vô hạn của đồng bào, đồng chí, đồng nghiệp và người bệnh trước sự ra đi của hai cha con ông đã nói lên điều đó.

Trong việc tìm kiếm và trọng dụng nhân tài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hồ Chí Minh không chỉ chú ý đến nhân tài ở trong nước mà còn rất quan tâm tìm kiếm những cán bộ khoa học kỹ thuật là người Việt Nam định cư ở nước ngoài mời gọi, khuyến khích họ mang đức, mang tài phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Từ những năm 40. 50 thế kỷ XX những nhân tài Việt kiều sống tại Pháp, nơi cuộc sống vật chất và điều kiện cho hoạt động nghiên cứu khoa học thuận lợi hơn Việt Nam rất nhiều nhưng khâm phục đức độ, tài năng của Hồ Chí Minh và theo tiếng gọi của Tổ quốc nhiều người đã từ bỏ Pari hoa lệ phồn vinh theo Hồ Chí Minh lội suối, trèo đèo lên Việt Bắc mà không đòi hỏi một sự đãi ngộ đặc biệt nào cho riêng mình. Nhiều người trong số đó sau này đảm nhận những cương vị chủ chốt về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật của đất nước và được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về những đóng góp khoa học cho đất nước ngay từ đợt đầu tiên.

Trước hết đó là Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ. Khi Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, ông đã là kỹ sư với mức lương hàng tháng quy ra vàng có thể tính bằng cây nhưng ông đã từ bỏ tất cả tình nguyện theo Hồ Chí Minh về nước. Ông là kỹ sư quân giới đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù đất nước còn rất nhiều khó khăn nhưng với tình yêu quê hương, đất nước và tài năng của mình ông là người có công đầu trong việc nghiên cứu, thiết kế và tổ chức sản xuất thành công nhiều loại vũ khí như lựu đạn, mìn đặc biệt là súng BaZôka, SKZ, những vũ khí này là nỗi kinh hoàng đối với thực dân Pháp trong kháng chiến. Trần Đại Nghĩa được tặng danh hiệu anh hùng lao động 1952, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên xô 1966, Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam 1975 – 1983, giải thưởng Hồ Chí Minh 1996.

Có thể kể thêm một trí thức lơn mà cũng trở về từ Pháp tình nguyện theo kháng chiến, theo Hồ Chí Minh và cũng có những cống hiến xuất sắc đối với cách mạng. Đó là giáo sư Hồ Đắc Di. Năm 1918, tròn 18 tuổi Hồ Đắc Di sang Pháp học tại trường Đại học y khoa Pari. Tác động mạnh mẽ nhất đối với người sinh viên y khoa ngay từ năm đàu tiên ở Pháp năm 1919, nhân danh những người Việt Nam yêu nước ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đến Hội nghị Véc-xây đưa yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam, trong đó yêu sách thứ 6 là “Tự do học tập, thành lập trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ”[6]. Kể từ đó anh sinh viên Hồ Đắc Di cố gắng tìm đọc những tác phẩm, bài viết của Hồ Chí Minh đăng trên báo Người cùng khổ và hết lòng cổ vũ cho báo này. Một buổi sáng chủ nhật, tại câu lạc bộ của sinh viên Việt Nam ở số nhà 15 phố Xonmơra, phố Latinh Pari, Hồ Đắc Di nhận thấy ba thanh niên Việt Nam đang chụm đầu trao đổi với nhau. Trong số này Hồ Đắc Di chỉ biết người có chòm râu đen là Phan Châu Trinh – Người bạn đi cùng giải thích cho Hồ Đắc Di biết thêm: Người béo béo là luật sư Phan Văn Trường, còn người thanh niên trẻ tuổi, nước da hơi xanh, đôi mắt rực sáng, mảnh khảnh, gày gò chính là Nguyễn ái Quốc. Ba tiếng Nguyễn ái Quốc thực sự gây xúc động mạnh mẽ đối với Hồ Đắc Di, anh ngưỡng mộ và tình nguyện theo Nguyễn ái Quốc từ đấy mặc dù lúc đó người thanh niên này chưa có những ý niệm đầy đủ rõ ràng về cách mạng, về chủ nghĩa xã hội.

Sau khi tôi nghiệp Hồ Đắc Di về nước. Qua tìm hiểu ông biết thêm Việt minh do Nguyễn ái Quốc sáng lập, Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 do Nguyễn ái Quốc viết. Đặc biệt khi ông biết người thanh niên mảnh khảnh, gày gò hay lui tới câu lạc bộ sinh viên Việt Nam tại Pari năm nào thì ngày 2-9-1945 lại xuất hiện trên trên quảng trường Ba Đình đọc Tuyên ngôn độc lập. Sự kiện đó giúp Hồ Đắc Di khẳng định chính nghĩa là đây, độc lập tự do, hạnh phúc là đây. Trong lĩnh vực y khoa Hồ Đắc Di là người sáng lập ngành ngoại khoa Việt Nam. Ông là giáo sư hiệu trưởng Trường đại học Y dược Hà Nội, Chủ tịch tổng hội Y học Việt Nam. Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về y học năm 1996.

Trong số những trí thức lớn từ Pháp trở về nước phục vụ cách mạng có thể kể thêm Phan Huy Thông. Ông là người nhận 2 bằng tiến sĩ ở Pháp, tiến sĩ luật học, tiến sĩ văn chương. Khi Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, ông là thư ký riêng của Người. Về nước ông không chỉ hoạt động trong lĩnh vực khoa học mà còn tham gia nhiều hoạt động chính trị xã hội như Phó Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Chủ tịch Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam, đại biểu quốc hội khoá II và III. ông là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học cộng hòa dân chủ Đức, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội năm 2000.

Trình bày vắn tắt một vài nhân vật và sự kiện liên quan đến việc Hồ Chí Minh tìm kiếm và trọng dụng nhân tài trong những nghành khoa học từ những người Việt Nam học tập và thành đạt ở nước ngoài, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng dưới thời Hồ Chí Minh số người thành danh ở nước ngoài không nhiều nhưng Người vẫn tìm mọi cách để tranh thủ sự đóng góp của họ đối với đất nước. Ngày nay chúng ta có hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở hàng chục nước trên thế giới trong đó nhiều người sinh sống và làm việc ở những nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức. Trong số họ có nhiều người thành đạt về khoa học, một số khác có vốn và kinh nghiệm của các nước tiên tiến. Vấn đề đặt ra cho Đảng và Nhà nước hiện nay là trên cơ sở quan điểm Hồ Chí Minh, chúng ta cần có chủ trương, giải pháp thông thoáng để thu hút ngày càng nhiều nhân tài người Việt định cư ở nước ngoài phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới.

Càng cuối đời Hồ Chí Minh càng lo lắng đến công việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài. Hồ Chí Minh viết trong Di chúc: Đảng và Nhà nước cần lựa chọn những người ưu tú nhất trong bộ đội, thanh niên xung phong đào tạo họ thành những cán bộ, công nhân kỹ thuật giỏi, những người vừa “hồng” vừa “chuyên” đó là “đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[7]. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là công việc rất quan trọng rất cần thiết”.

Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thời đại khoa học công nghệ, kinh tế tri thức trong sự nghiệp đổi mới Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, Đảng và Chính phủ đã đề ra chủ trương, biện pháp đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài. Trên một số lĩnh vực đã xuất hiện những nhân tài. Sự nghiệp đổi mới đang đòi hỏi ngày càng có nhiều nhân tài hơn nữa. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới, Văn kiện Đại hội X viết: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài”[8]. Việc thu hút trọng dụng nhân tài là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Văn kiện Đại hội X nhấn mạnh: “Có chính sách thu hút các nhà khoa học công nghệ giỏi trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.

Hiện nay, hơn lúc nào hết đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần phải trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, quan điểm của Người về tìm kiếm, trọng dụng nhân tài nói riêng./.

PGS.TS Nguyễn Khánh Bật
Ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

____________________

Chú thích:
[1] Kỷ niệm 500 năm ngày mất Thân Nhân Trung: Hiền tài là nguyên khí quốc gia, Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử văn hoá Việt Nam và Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, 1999, tr.10.
[2] Trần Thế Linh: Gương sáng người xưa, Nxb Thanh niên, H, 2003, tr.15.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H 1995, tập 4, tr. 452.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 280.
[5] Bộ Y tế – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khoẻ, Nxb CTQG, H, 1997, tr. 215.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 1, tr 435.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr. 504.
[8] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr. 96.

Việt Nam sau ngày tiếp quản Hà Nội

Năm 1969, NXB Phrê-đê-rích A-prây-gơ (Frederick A. Praeger Publishers) phát hành cuốn sách General Giap Politician and Strategist (Tướng Giáp – Chính trị gia và chiến lược gia) của Tiến sĩ sử học  Rô-bớc Ô-neo (Robert O’Neill). Đây được xem là tác phẩm đầu tiên của phương Tây viết chuyên về một lãnh đạo quân sự của “phía bên kia” trong tiến trình chiến tranh ở Việt Nam…

Dưới đây là phần đầu chương 9, nói về thời kỳ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ.

… Trong mấy tháng đàm phán tại Giơ-ne-vơ, người Việt đã tránh tạo những điều kiện để Pháp thực thi một mưu đồ tuyệt vọng cuối cùng là tìm cách bắt giữ Ban lãnh đạo Việt Minh. Chính phủ Việt Nam đã ở lại Việt Bắc gian lao nhưng an toàn cho đến ngày quân Pháp phải rời Hà Nội theo Hiệp định Giơ-ne-vơ quy định. Nhóm đầu tiên của lãnh đạo Việt Minh về đến Hà Nội ngày 3-10-1954 để xúc tiến nhận bàn giao chính quyền thành phố này từ tay người Pháp. Ngày 9-10, khi những lính Pháp cuối cùng rời Hà Nội, bộ đội Sư đoàn 308 đã vào thành phố để tổ chức cuộc duyệt binh vào ngày hôm sau…

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một đơn vị bộ đội miền Nam tập kết (1957). Ảnh tư liệu

Mấy ngày sau, các lãnh tụ cấp cao mới về Hà Nội. Được phái đi trước Hồ Chí Minh, vào ngày 12-10, Võ Nguyên Giáp mới xuất hiện lần đầu. Ông tới thanh tra bộ đội cảnh vệ Thành Hà Nội, khu vực vừa tiếp quản từ tay quân Pháp. Đây hẳn là một thời điểm mà Tướng Giáp đã hằng mơ ước khi chịu đựng những gian khó của cuộc sống và chiến đấu trong rừng suốt 8 năm vừa rồi. Nhưng bản chất của những chức trách mới mà Tướng Giáp phải đảm nhiệm đã buộc ông phải vội vã tới Nhà máy điện Yên Phụ, để thẩm định những điều khoản Hợp đồng ký với các kĩ sư Pháp tại đây, những người Pháp này đồng ý ở lại làm việc cho tới cuối năm. Các công việc quân sự sẽ trở thành phần nhỏ hơn trong công việc của Tướng Giáp trong 4 năm tới, vì các nền móng của một chế độ Cộng sản cần được thiết lập để đủ sức đương đầu với những căng thẳng chiến tranh sẽ xảy đến. Hồ Chí Minh ở Hà Nội từ ngày 17-10, tại lễ đón vị nguyên thủ nước ngoài đầu tiên thăm chính thức Việt Nam, Thủ tướng Ấn Độ Nê-ru, đang trên đường sang Bắc Kinh hội đàm với Ban lãnh đạo Trung Hoa.

Các hoạt động kỷ niệm chiến thắng đã được hoãn đến đầu năm sau. Ngày 1-1-1955, trước sự hiện diện của công chúng gồm khoảng 200 nghìn người, Hồ Chí Minh đã chào mừng cuộc diễu hành trọng thể, được tổ chức công phu, kéo dài tới 5 tiếng rưỡi đồng hồ. Các nhà lãnh đạo tề tựu trên một lễ đài cao hơn 6 phít, trang hoàng bởi một chân dung lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Diễu qua trước lễ đài là một lực lượng đông đảo các đơn vị quân đội và các khối dân chính, đi đều và vẫy cờ hoa, giương cao chân dung của Mác, Lê-nin, Sta-lin, Mao và các vị lãnh đạo khác của khối Cộng sản, cùng các biểu ngữ. Tướng Giáp, cùng với Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, xuất hiện thường xuyên, và đọc những diễn văn chủ yếu trong ngày lễ trọng đại này của lịch sử nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Theo tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết giữa đại diện tối cao của Việt Minh và Pháp, quân đội của hai phía sẽ tập kết về miền Bắc và miền Nam, trong thời hạn 100 ngày. Đây không phải là luồng chuyển dịch lớn của quân Việt Minh, giống như cuộc triệt thoái quân Pháp, vì chiến sự phần lớn diễn ra ở miền Bắc. Nhưng Tướng Giáp không định mất chân đứng của mình tại miền Nam-những nơi từng phải tranh đấu vô cùng gian lao mới giành được, nên những chỉ thị đã được phát đi cho những cán bộ còn ở lại vùng do đối phương kiểm soát, yêu cầu họ đi vào bí mật trong một vài năm, cho đến khi họ lại được cấp trên gọi ra. Vì vậy, mặc dù các trung đoàn chủ lực đã tập kết ra Bắc, bộ phận quan trọng nhất của hạ tầng cơ sở cách mạng vẫn được duy trì nguyên dạng về thực chất ở miền Nam. Các đơn vị chính quy Việt Minh, thường giấu quân trong các căn cứ xa khu vực dân cư đông đúc, rồi xuất hiện bất ngờ ở những khoảng cách khó xác định từ khu căn cứ, để thực hiện những cuộc đột kích và phục kích. Bộ đội thường không được sử dụng vào các sứ mạng chính trị chuyên trách như các cán bộ dân chính cơ sở. Nhưng dường như Tướng Giáp cũng hài lòng khi bộ đội được tập trung tại miền Bắc, để tiến hành huấn luyện các phương thức tác chiến mới, phù hợp hơn với nhiệm vụ đánh đổ chính quyền thân Mỹ ở miền Nam.

Tình trạng lộn xộn ở miền Nam phát sinh sau khi Ngô Đình Diệm về cầm đầu chính phủ, cùng những chống đối do các giáo phái, nhất là Bình Xuyên, đã giúp các cán bộ Việt Minh ở lại miền Nam “điều lắng” khá thành công. Các căn cứ chính của Việt Minh, như các chiến khu C và Đ, nằm ở phía bắc và phía đông bắc Sài Gòn, rồi Phước Tuy ở phía đông nam, và chiến khu miền Tây Nam Bộ chạy từ sông Hậu ra phía vịnh Thái Lan tại vùng cực Nam của Việt Nam, hiện vẫn chưa bị quân đội Sài Gòn làm khó dễ, do đó còn có thể lén vận chuyển vào những nơi đó một lượng vừa phải các hàng cung cấp gồm vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ và điện đài vô tuyến, để sử dụng trong tương lai. Các hầm hào, địa đạo vẫn được bảo trì ở mức tương đối, cho dù không được phát triển thêm, và sự tò mò của quân đội Quốc gia (Sài Gòn) bị hạn chế bởi số lượng lớn hầm chông, cạm bẫy tại các chiến khu này, nay đã vắng bóng người…

Lê Đỗ Huy (lược dịch)
qdnd.vn

Cái mới và dấu ấn Trần Công Mân

Bây giờ thì Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân đã khang trang hơn trước rất nhiều. Một tòa nhà 8 tầng bề thế, kiến trúc khá đẹp, mọc lên ở nơi trước kia là hội trường kiểu thời bao cấp, tường gạch, mái ngói, trước hiên là sân cầu lông, xung quanh có mấy dãy ghế đá núp dưới bóng cây phượng, đỏ rực hoa mỗi khi hè về. Phía trước tòa nhà 8 tầng này, ngôi biệt thự Pháp 3 tầng tại số 7 Phan Đình Phùng nhìn bên ngoài vẫn giữ được nét xưa, nhưng bên trong đã thay đổi cấu trúc và tiện nghi. Sự đổi thay theo hướng đi lên là tất yếu, nhưng khó cắt nghĩa nổi là làm sao tôi cứ nhớ da diết cảnh cũ, người xưa. Bao nhiêu người đã ra đi từ ngôi nhà này, trong đó có không ít người ra đi mãi như các bác, các anh: Dân Hồng, Nghiêm Túc, Bùi Biên Thùy, Huỳnh Mai, Vũ Linh, Phan Hiền, Hồ Sĩ Thoại, Trần Khôi, Trần Hoàn, Văn Quýnh, Quang Khánh, Phan Huỳnh, Hải Đức…

Bản thân tôi, sau gần 30 năm phục vụ trong quân đội và cũng ngần ấy năm công tác tại Báo Quân đội nhân dân, tới đầu năm 2008, được cấp trên điều động đi nhận nhiệm vụ Tổng biên tập Báo Hànộimới và hiện nay đảm đương nhiệm vụ Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội. Nhà tôi ở gần Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân, nên dường như không có ngày nào tôi không đi ngang qua tòa soạn, và lúc nào cũng vậy, như có một sức hút vô hình, tôi lại hướng mắt vào nơi đó. Trong những căn phòng thấp thoáng ánh điện dưới những lùm cây, các đồng nghiệp mặc áo lính thân yêu của tôi ngày đêm vẫn miệt mài làm việc vì chất lượng từng số báo một.

Những ngày này, khi Báo Quân đội nhân dân kỷ niệm 60 năm ngày ra số báo đầu tiên (20-10-1950/20-10-2010), tên tuổi, tính cách của bao con người đã từng coi ngôi nhà số 7 Phan Đình Phùng như nhà của mình, coi nghề báo như lẽ sống của mình lại được trìu mến nhắc đến. Trong mỗi câu chuyện như vậy trong tiết thu heo may Hà Nội, nhà báo Trần Công Mân luôn được những người cầm bút từ mọi miền đất nước hội tụ về tưởng nhớ với vẹn nguyên một lòng cảm phục và kính trọng.

Tổng biên tập Trần Công Mân tiếp các nhà báo quốc tế năm 1987. Ảnh do tác giả cung cấp

Ông ra đi mãi mãi đã hơn 12 năm rồi (25-3-1998), thế mà mỗi lần nhớ đến ông, lòng tôi vẫn nhói lên một nỗi đau mất mát ấy, trào lên một nỗi nuối tiếc ấy – tiếc nuối một con người đức độ, một trí tuệ uyên thâm, một ngòi bút sắc sảo, một phong thái lịch lãm…

Tôi như vẫn thấy bóng ông khoan thai đi ngang qua đường Lý Nam Đế, mái tóc bạc như mây dưới tán lá xanh rì của những cây sấu già quen thuộc, như vẫn thấy dưới bóng đèn khuya, ngọn bút của ông lao đi gấp gáp như bay trên những trang bản thảo, đuổi bắt cho được những ý tưởng lóe sáng, như vẫn nghe giọng nói ấm áp, trầm tĩnh của ông trong những câu chuyện bình dị về cuộc đời, về nghề nghiệp. Như vẫn còn đây dáng ông nhẹ nhàng lên xuống cầu thang bằng gỗ đã mòn vẹt qua năm tháng, tay cầm tập bản thảo, vẻ mặt trầm tư như đang nghĩ ngợi điều gì.

Phòng làm việc của ông kê hai chiếc bàn rộng ghép vào nhau, xung quanh là hàng chục chiếc ghế mây giống nhau. Đây vừa là nơi ông xử lý công việc hằng ngày, vừa là nơi hội họp của lãnh đạo cơ quan. Từ ngày tôi khoác ba lô về tòa soạn, được anh Cù Ngọc Đức đưa lên “gặp cụ” – như lời của anh Đức – cho đến ngày ông rời tòa soạn về hưu, rồi chuyển sang công tác bên Hội Nhà báo Việt Nam, hầu như mọi đồ dùng trong phòng làm việc của ông vẫn vậy, không mua sắm thêm thứ gì. Tất cả đều giản dị, thanh đạm. Sau này, khi tòa soạn “nâng cấp trang bị”, thay thế loạt ghế mây kia bằng ghế giả da, thật tình, tôi không khỏi cảm thấy tiếc nuối khi tòa soạn không giữ được chiếc ghế mây ông đã ngồi bao nhiêu năm tháng trong ngôi nhà số 7 thân thương.

Trong một phần tư thế kỷ công tác ở Báo Quân đội nhân dân với cương vị Phó tổng biên tập rồi Tổng biên tập, nhà báo Trần Công Mân đã để lại một dấu đậm nét trong việc tạo ra một bản sắc và phong cách riêng cho tờ báo được toàn quân và toàn dân yêu mến, tin cậy. Ông thường tâm sự với chúng tôi: Làm báo mà chỉ để không sai thì không khó, nhưng làm sao cho tờ báo vừa đúng vừa hay, vừa hấp dẫn, thiết thực, thật sự có ích cho cuộc sống; nói trúng, nói đúng những vấn đề bạn đọc đang mong chờ, có sức lay động và thuyết phục, tạo ra một sức mạnh mới trong nhận thức và hành động vì những giá trị tốt đẹp mới là một bài toán khó, đòi hỏi người làm báo phải lao tâm khổ tứ, cực nhọc và gian nan lắm. Càng trưởng thành về nghề nghiệp, qua bao nhiêu lần cọ xát, va chạm, thấm trải cay đắng, ngọt bùi của nghề cầm bút, chúng tôi càng thấm thía lời ông.

Là người rất kiệm lời, không thích hô hào, ghét thói khoa trương, ông lặng lẽ hiến mình cho công việc làm báo, từng ngày, từng ngày một, từng bài báo, từng số báo một. Và một phong cách làm báo Trần Công Mân đã lặng lẽ hình thành trong lòng bạn đọc! Nó không chói lòa gây choáng ngợp, nhưng sức thuyết phục thì rất ngọt, rất sâu. Thuyết phục trước hết vì tinh thần trách nhiệm với nhân dân và đất nước; thuyết phục vì tình đời, tình người; thuyết phục vì sự sắc sảo mà cẩn trọng; thuyết phục vì tính chính xác, sự giản dị trong cách thể hiện nhưng lại vẫn ánh lên sự sang trọng của ngôn từ.

Làm báo chuyên nghiệp là một nghề, hẳn như vậy rồi. Nhưng đối với ông, Tổng biên tập càng phải là một nghề. Ông không ưa, hay nói đúng hơn là không chấp nhận, kiểu làm báo “chính trị chay”, nghĩa là một kiểu làm báo xơ cứng, giáo điều, nặng về “tầm chương trích cú”, lúc nào cũng lên lớp dạy dỗ, xa rời thực tế, không có tính phát hiện, thiếu tinh thần chiến đấu…

Trong ông ẩn chứa một năng lực trí tuệ, một năng lực ứng phó đầy bản lĩnh mà đôi khi trong phức tạp, cam go, rối rắm của tình thế, được ông chỉ bảo bằng những lời ngắn gọn và bình dị, bỗng thấy mở ra một lối đi sáng rõ. Trong ông cũng ẩn chứa một khả năng thuyết phục, lôi cuốn người khác bằng phong thái điềm tĩnh, tư chất trầm sâu của một người đã đạt tới một độ chín của tư duy, độ vững vàng của bản lĩnh. Khả năng thuyết phục đó thường không tạo ra một thứ lửa hừng hực mà là một sức cảm hóa len lỏi, lan tỏa, hòa quyện với tốc độ nhiều khi không ý thức được, nhưng cứ bồi đắp lâu dần thành một khát vọng vươn tới.

Những người dưới quyền ông tự coi mình là học trò của ông, bao giờ cũng cảm thấy bổn phận phải cố gắng hơn, phải tiến bộ hơn thì mới đáp ứng được điều mà ông chờ đợi ở từng người, mặc dù hầu như không thấy ông bộc lộ đòi hỏi đó bằng lời. Bài viết nào được vị tướng này phê một chữ “được” nho nhỏ ở góc bài thì tác giả của nó có thể tự coi như một lời khen sâu sắc và có thể lặng lẽ tự bằng lòng về công sức của mình. Hầu như ai đưa bài nào cho ông duyệt cũng đều thấp thỏm chờ đợi ý kiến của ông. Có những đồng nghiệp cao niên tâm sự với tôi rằng, thường nộp bài cho “cụ” xong là lén nhòm qua khe cửa xem “cụ” có đọc ngay không, hễ thấy “cụ” cầm bút lên chữa bài là ổn, nếu thấy “cụ” đọc nhanh rồi đặt sang một bên thì coi như “đứt”, chắc chắn phải viết lại, hoặc bỏ hẳn.

Đó là gì nếu không phải là một thứ uy lực trí tuệ nơi ông? Làm việc với ông dần theo năm tháng, ai cũng thấy mình lớn lên.

Trí tuệ và bản lĩnh là hai phẩm chất cần thiết hàng đầu đối với một nhà báo, đặc biệt đối với cương vị Tổng biên tập một tờ báo chính trị lớn. Ở vị tướng – nhà báo Trần Công Mân, hai phẩm chất này rất sáng, rất nổi trội, xoắn quyện lấy nhau – điều khiến ông trở thành một cây bút lớn, một Tổng biên tập tài năng.

Các nhà báo thường có thói quen như một cái “tật” là ít khi đủ kiên nhẫn để chịu ngồi yên từ đầu đến cuối ở các hội nghị, nhất là những hội nghị nặng về hình thức, đậm lễ nghi, nhạt thông tin. Nhưng ở Báo Quân đội nhân dân, mỗi lần được thông báo có buổi nói chuyện của Tổng biên tập Trần Công Mân thì ai cũng háo hức đến nghe và lúc nào thời gian dường như cũng quá ngắn đối với những điều muốn được nghe từ con người điềm tĩnh, sắc sảo và uyên bác ấy.

Đội ngũ làm Báo Quân đội nhân dân dưới sự dẫn dắt của ông đã kế tục và phát huy được truyền thống vẻ vang của những người đi trước. Tờ báo trong nhiều năm ánh lên được vẻ đẹp của cốt cách tinh thần người chiến sĩ quân đội nhân dân, đạt tới tầm vóc một tờ báo chính trị quan trọng của quốc gia, có ảnh hưởng rộng rãi đối với dư luận trong nước và quốc tế. Nhiều vị khách nước ngoài khi tới thăm tòa soạn đã nói rằng không nước nào có một tờ báo quân đội có ảnh hưởng tới xã hội và vị trí đặc biệt như tờ Báo Quân đội nhân dân của Việt Nam.

Cuối những năm 80, đất nước ta sống trong cơn lốc của những thay đổi lớn lao trên bình diện toàn cầu. Đây là thời điểm mà nếu ngồi yên với tư duy ứ đọng thì các nhà tư tưởng sẽ bị tụt hậu, các nhà chính trị sẽ bị đo ván, các nhà kinh doanh sẽ bị mất thị trường và thậm chí cha cố cũng sẽ mất hết con chiên. Một cuộc biến động xã hội-chính trị toàn cầu diễn ra song song với những bước tiến như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật trong xu thế toàn cầu hóa, khi toàn thế giới bước vào nền văn minh thứ ba. Cả hai xung lực này đẩy thế giới chuyển động theo những quỹ đạo không còn giống như trước, tác động mạnh đến vận mệnh của mọi quốc gia, đời sống của mọi gia đình.

Điều mà các đồng nghiệp đánh giá cao nhất ở ông là sự mẫn cảm nhạy bén với những tình thế mới đang ló rạng, nhưng lại đón nhận và xử lý chúng một cách điềm tĩnh, chủ động và đầy bản lĩnh. Tôi còn nhớ vào giữa những năm đầy bão tố đó, khi ở bên Liên Xô và Đông Âu bắt đầu tiến hành cải cách, cải tổ, ông thường hạn chế đăng những bài ca ngợi quá mức M.X. Goóc-ba-chốp và những biện pháp cải tổ “để có nhiều CNXH hơn nữa” như ông ta vẫn hô hào. Một buổi chiều cuối thu năm 1989, khi những hàng cây trên đường Phan Đình Phùng xao xác lá vàng bay trong tiết heo may, ông cho gọi nhóm viết chuyên luận gồm Đại tá Phan Hiền, Đại tá Tạ Duy Đức, anh Trần Nhung và tôi lên hội ý. Tôi cảm thấy giọng của ông trầm xuống vì một nỗi lo lắng về thời cuộc. Hình như ngay từ hôm đó, ông đã linh cảm thấy một biến động ghê gớm sẽ diễn ra trong nền chính trị thế giới. Theo lệnh của ông, mỗi chúng tôi viết một bài chuyên luận nhằm phân tích, dự báo và định hướng tư tưởng trước nguy cơ một cuộc đảo lộn lớn. Loạt bài chuyên luận đó của Báo Quân đội nhân dân đã gây một tiếng vang lớn trong dư luận xã hội. Lần đầu tiên trên báo chí ta, có những bài chính luận phân tích sâu sắc chiến lược “diễn biến hòa bình”. Tôi hiểu Tổng biên tập Trần Công Mân là linh hồn của bài chính luận “Cuộc chiến tranh có tên gọi hòa bình” của tôi. Bài viết đó, tôi phải viết đi viết lại nhiều lần mới được ông cho đăng. Đó là bài viết đầu tiên đánh dấu sự trưởng thành bước đầu của bản thân tôi trong công việc viết bình luận. Báo Quân đội nhân dân dưới sự chỉ đạo của ông những ngày đó đã trở thành ngọn lửa ấm áp, tin cậy trong lòng bạn đọc khi cơn lốc thế sự toàn cầu gây choáng cho không ít người.

Trong 10 năm liền, tôi may mắn được dự nhiều cuộc ông tiếp khách nước ngoài, từ các nhà ngoại giao, các nhà nghiên cứu, các học giả đến các nhà văn, phóng viên báo chí. Những nhà báo, nhà văn phương Tây nổi tiếng như: Clốt Pô-mông-ti của Báo Thế giới (Pháp); nhà văn nữ Ma-đơ-len Si-phô thân thiết với nhân dân Việt Nam; phóng viên tự do Giăng Clốt La-bê có vợ là một phụ nữ Pháp gốc Việt, cháu của giáo sư Hoàng Xuân Hãn; nhà văn Mỹ lừng danh Nin Si-hân, tác giả cuốn sách chấn động nước Mỹ Lời nói dối choáng lộn viết về chiến tranh Việt Nam; phóng viên các tờ báo lớn, các hãng tin lớn như TASS, Tân Hoa xã, AFP, AP, Roi-tơ… cứ mỗi lần tới Việt Nam là tìm tới thăm ông. Sự thông tuệ, từng trải của ông tạo cho họ lòng tin cậy, mến phục; sự sắc sảo cởi mở của ông gây cho họ bất ngờ, hứng thú. Đoán biết được nhu cầu cũng như tâm lý của người đối thoại, ông không bao giờ tỏ ra là người lên lớp hay áp đặt. Lâu dần tôi mới phát hiện ra một biệt tài ở ông: đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính chặt chẽ và nguyên tắc trong định hướng chính trị và sự uyển chuyển khoáng đạt trong lý giải và cung cấp thông tin. Biệt tài này làm cho các vị khách nước ngoài cảm thấy rất thoải mái khi đối thoại với ông, tin ở những điều ông nói. Tôi đã đọc nhiều bài báo của các phóng viên nước ngoài viết về Việt Nam, trong đó tác giả trích dẫn ý kiến của ông hay chia sẻ hoặc chịu ảnh hưởng quan điểm của ông-cũng có nghĩa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta-về những vấn đề quốc tế phức tạp liên quan tới Việt Nam thời đó như: cuộc xung đột ở Cam-pu-chia và quân tình nguyện Việt Nam, quan hệ Việt-Mỹ, vấn đề POW-MIA, quan hệ Việt-Trung, vấn đề Biển Đông…

Một ngày cuối thu 1989, khi tiếp vợ chồng nhà văn Mỹ Nin Si-hân, Tổng biên tập Trần Công Mân đã phân tích rất hay về vai trò của QĐND Việt Nam trong chiến tranh và trong thời bình. Hôm sau, ông cử tôi đưa vợ chồng nhà văn Mỹ lên Sơn Tây. Đứng trên bờ một thửa ruộng ngay gần nơi đã xảy ra cuộc đột kích bất thành của Mỹ để giải cứu các phi công, Nin Si-hân đứng lặng ngắm nhìn một người nông dân nhỏ bé đang miệt mài đánh trâu bừa dưới ruộng như để cố tìm một mối liên hệ giữa cuộc đột kích động trời đó với những con người cần mẫn trên mảnh đất bình yên này. Sau khi đi thăm Nông trường trồng dứa 1A của quân đội, tâm đắc với những phân tích của tướng Mân chiều hôm trước, Nin Si-hân nói rằng: “Quân đội Mỹ chỉ biết tiêu phí tiền của, còn quân đội Việt Nam lại biết làm ra tiền. Đó là điều rất khác biệt”.

Nhiều người không giấu nổi sự ngưỡng mộ đối với tầm cao và sự uyên bác trí tuệ của ông, lại càng cảm phục hơn khi biết ông đã từng là Chính ủy Trung đoàn công binh đào đường hầm đặt khối thuốc nổ nghìn cân trong lòng đồi A1 ở Chiến dịch Điện Biên Phủ lẫy lừng năm xưa. Có phóng viên Mỹ, sau khi được ông tiếp, đã hỏi tôi: Nguồn lấy vào sĩ quan quân đội là từ đâu, trong quân đội Việt Nam có nhiều người như tướng Mân không? Người phương Tây, nhất là người Mỹ thường thiếu thông tin về đất nước Việt Nam, con người Việt Nam. Trước mắt họ là một vị tướng Việt Nam bằng xương bằng thịt. Vị tướng dáng cao gầy này nói tiếng Pháp thông thạo, cách diễn đạt, dùng thuật ngữ rất Pháp làm cho nhiều người Pháp phải ngạc nhiên. Ông thông kim bác cổ, nhất là các vấn đề chiến lược trong quan hệ quốc tế. Các đồng chí ở cơ quan đối ngoại của ta đã nhiều lần nói với tôi rằng khi phải đón những vị khách nào hơi “hóc” một chút là thường phải “cậy nhờ tới bác Mân”.

Tự học, tự rèn trong trường học lớn quân đội đã tạo nên những phẩm cách đáng quý đó ở ông. Ông vừa là nhà quân sự, vừa là nhà báo lại có dáng dấp một chính khách.

Mỗi lần cấp dưới nộp bài, ông thường hỏi: “Có gì mới không?”. Đã lăn lộn với nghề báo, không ai không hiểu rằng, có được cái mới trong bài viết đâu phải dễ. Nhưng đây lại chính là tiêu chuẩn hàng đầu để kiểm định chất lượng một bài báo, chưa nói đến chuyện hay mà trước hết để xem có “đứng” được hay không. Lấy đâu ra mà đòi hỏi “mới” nhiều thế! Như thông hiểu được khó khăn lúng túng của người viết, ông ôn tồn giải thích: “Mới” đối với báo chí là mới về thông tin, mới về cách đề cập, mới về vấn đề phát hiện, mới về cách lập luận, mới về cách diễn đạt… Cái mới luôn nằm ở vị trí trung tâm trong lao động báo chí của ông. Đọc các bài viết của ông, từ những bài chính luận lớn dưới bút danh Tuấn Minh cho đến những bài báo ngắn, vài ba trăm chữ, đôi khi là một thư góp ý, bao giờ người đọc cũng thấy ánh lên một bút pháp sắc sảo, một cái nhìn mới mẻ, đầy trách nhiệm với xã hội, đất nước, dân tộc.

73 năm trên cõi đời này, ông đã có hơn 50 năm hoạt động cách mạng, ngót 50 năm viết báo miệt mài, trong đó có hơn 30 năm làm báo chuyên nghiệp. Càng hiểu nghề cầm bút, thấm thía nỗi cực nhọc của nó, tôi càng cảm thấy may mắn khi được làm việc dưới quyền một tổng biên tập như tướng Trần Công Mân, gặp được một người thầy như ông. Các giải báo chí của thế hệ làm báo chúng tôi, trong đó có 9 giải báo chí toàn quốc và quốc gia về thể tài chính luận mà tôi vinh dự được nhận từ năm 1991 đến năm 2009 đều có công lao của Tổng biên tập Trần Công Mân, đều có bóng dáng của ông trong cách đặt vấn đề, trong những lập luận, trong bút pháp.

Chúng tôi thường nói với nhau: được làm việc dưới quyền ông là một may mắn lớn. May mắn lớn không phải chỉ ở chỗ học hỏi được nhiều điều ở ông. Lao động báo chí là một loại lao động cực nhọc, đầy thách đố, đôi lúc hiểm nguy. Được ông giao nhiệm vụ, cảm thấy yên tâm, yên tâm trước hết ở sự xác đáng trong quyết định của ông. Lúc gặp khó khăn, rắc rối luôn tìm thấy ở nơi ông một chỗ dựa tin cậy. Nhắc tới điều này, chúng tôi dường như thấy tái hiện lại không khí sôi nổi của thời kỳ Báo Quân đội nhân dân là một trong những tờ báo tiên phong trên mặt trận chống tiêu cực với những bài viết thực sự gây chấn động dư luận xã hội lúc đó liên quan đến một số cán bộ cao cấp có chức, có quyền. Có bạn đọc viết thư đến nói rằng Báo Quân đội nhân dân đã nổ những phát đại bác công phá vào dinh lũy của chủ nghĩa quan liêu, đặc quyền đặc lợi, tạo được niềm tin to lớn đối với bạn đọc trong cuộc chiến đấu gay go chống hiểm họa này.

Cái khó nhất của nghề báo là phải biết trước, phải nói trước thiên hạ, nhưng lại phải nói đúng, đầy tinh thần trách nhiệm để định hướng dư luận xã hội. “Có gì mới không?”, trong tôi lại vang lên câu hỏi quen thuộc đó của Tổng biên tập Trần Công Mân. Cực nhọc, cam go cũng vì cái mới, vinh quang cũng nhờ cái mới! Trong giới hạn mỏng manh, điểm chạm nhạy cảm đó là ẩn chứa những đặc thù của lao động báo chí. Nhìn ở phương diện nào, cả những người viết báo cũng như người quản lý chỉ đạo báo chí, vị tướng làm báo Trần Công Mân luôn là tấm gương tiêu biểu.

Hồ Quang Lợi (Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, nguyên Phó TBT Báo Quân đội nhân dân)
qdnd.vn

Sầm Nưa ngày ấy…

Nhà báo Khắc Tiếp (bên phải) phỏng vấn Đại úy Coong-le, chỉ huy quân nổi dậy chống Mỹ ở Cánh Đồng Chum năm 1960. Ảnh do tác giả cung cấp

Trong hai cuộc kháng chiến lâu dài, trong mấy chục năm làm Báo Quân đội nhân dân, tôi hình như có duyên với đất Phật Triệu Voi. Lúc ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Cánh Đồng Chum, lúc ở đường số 9 Sê-pôn. Lúc đi cùng quân tình nguyện ở Lào, lúc đi với quân Pa-thét Lào. Có lần còn đi với quân “trung lập” của lực lượng nổi dậy. Lúc bám sát diễn biến hội nghị 3 phái (yêu nước-trung lập-thân Mỹ) ở thung lũng Văng Viêng, lúc giúp Báo Quân đội nhân dân Lào ở Thủ đô Viêng Chăn… Biết bao kỷ niệm đẹp về mối duyên Lào-Việt, mà năm tháng trôi qua không dễ làm cho phai mờ.

Tôi nhớ nhất những ngày đại quân Lào-Việt xuất trận xuân hè 1953. Lần đầu tiên, những đại đoàn thiện chiến của Việt Nam đồng loạt lên đường sang phối hợp cùng quân đội bạn. Hoàng thân, Chủ tịch Xu-pha-nu-vông, Bộ trưởng Quốc phòng Cay-xỏn Phôm-vi-hản (sau này là Tổng bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào), Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đã thân chinh ra trận, đi cùng đại quân; có đêm tôi còn thấy các vị cưỡi ngựa đội mưa đi qua hàng quân đang xốc tới chiến trường. Đường qua Tây Bắc sang Lào dài hơn 300 cây số. Núi cao đèo dốc hiểm trở. Quân chiến đấu mang vác nặng đã đành, báo chí, điện ảnh đi theo cũng vất vả không kém. 11 ngày gạo tẻ, 2 ngày gạo nếp, vũ khí nhẹ… ngót nghét hơn 20kg trên vai. Không ai biết đi đâu và đánh ở đâu trên Tây Bắc mênh mông bí hiểm này. Đến Mộc Châu mới biết chiến trường là Sầm Nưa trên đất bạn. Vùng biên cương hai nước, chiều chưa đến, sương mù đã dày đặc. Có đêm mệt quá tôi bước hụt, tụt xuống một hố khá sâu gần ngập đầu (chắc là hố tránh phi pháo của các đơn vị đi trước), và cứ nguyên ở đó, ngủ thiếp đi một giấc dài, tỉnh dậy phải vắt chân lên cổ để đuổi kịp đoàn quân đã đi xa.

Đề phòng địch có thể đánh bài chuồn nếu phát hiện đại quân ta đang tiến sát, bộ chỉ huy chiến dịch đã ra lệnh cho các cánh quân tăng hết tốc độ hành quân, để kịp bao vây tiêu diệt. Thế mà vẫn không kịp. Khi đơn vị đi đầu đến sát Sầm Nưa thì đã thấy lửa bốc cao ngùn ngụt trong các cứ điểm địch. Thì ra toán địch đầu tiên bỏ chạy đã được 19 giờ, toán cuối cùng cũng đã được 8 giờ, trước khi đại quân ta đến.

Thế là cuộc tiến công Sầm Nưa lập tức biến thành cuộc truy kích đường dài, lớn chưa từng có của quân đội ta. “Đuổi địch đến cùng, nó chạy xa 200, 300 cây số cũng đuổi, hết lương thực cũng đuổi, có máy bay địch cũng đuổi”. Đó là quyết tâm của đại quân ta suốt 7 ngày 7 đêm liên tục, bất chấp đèo cao dốc đứng, thủy thổ xa lạ, mưa nắng thất thường, thiếu cơm thiếu nước. Chưa đầy một tháng trên đất bạn, chiến dịch Thượng Lào kết thúc đại thắng. Gần 3.000 tên địch, bằng 1/5 tổng số binh lực địch ở Lào bị tiêu diệt. Toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và Phông Sa Lỳ bằng 1/5 diện tích nước Lào với 30 vạn dân được giải phóng. Và điều quan trọng nhất là sinh lực của ta hầu như còn nguyên vẹn, đầy sức chiến đấu. Từ đây, Việt Bắc-Tây Bắc của Việt Nam và Thượng Lào đã được nối liền một dải, hậu phương kháng chiến của hai dân tộc được mở rộng.

Tại cầu Hỉn Hợp chia đôi hai miền Lào trong chiến tranh năm 1961: Bên trái là chiến sĩ cảnh giới Pa-thét (Lào), bên phải là phóng viên Báo Quân đội nhân dân. Ảnh do tác giả cung cấp

Sầm Nưa là một thị trấn xinh đẹp, hầu như còn nguyên vẹn. Những căn nhà cổ kính, những hàng cây xanh tươi, những vườn hoa đầy hương sắc. Lễ chiến thắng được tổ chức tại một tòa nhà giữa thị trấn. Hoàng thân Xu-pha-nu-vông nói trong buổi lễ: Sầm Nưa giải phóng là kết quả của tình đoàn kết Việt-Lào, của giúp đỡ không điều kiện của nhân dân và quân đội Việt Nam tiêu diệt kẻ thù chung. Ông có kể lại là trước khi triển khai chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh có gửi tặng ông hai món quà làm kỷ niệm: một tấm lụa và một thanh gươm. Tấm lụa là tượng trưng cho tình nghĩa bền chặt đoàn kết keo sơn. Thanh gươm là tiêu biểu của tinh thần chiến đấu kiên cường chống kẻ thù chung của hai dân tộc.

Gọi là tiệc cho đúng chữ nghĩa. Thực sự là một buổi vui gia đình-đại gia đình Lào-Việt. Bà Xu-pha-nu-vông – cô gái xứ Thanh xinh đẹp-tự tay chuẩn bị bữa ăn cho các bạn Việt Nam: món xôi được nấu theo kiểu của Hoàng gia. Mọi người hát dân ca Lào, múa lăm-vông đến khuya. Tôi được đồng nghiệp Hoàng Thái giao cầm đuốc soi sáng cho anh quay phim. Nhà văn Vũ Cao còn nhắc tôi “cẩn thận không cháy râu của cụ Xu” (trong kháng chiến, Chủ tịch Xu-pha-nu-vông thường để râu rất dài).

Đại quân ta chiến thắng lần lượt trở về nước. Chỉ để lại mấy trung đoàn, tiểu đoàn giúp bạn bảo vệ, củng cố vùng giải phóng. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân cùng nhà quay phim Hoàng Thái được lệnh ở lại, tiếp tục công việc của mình. Đi vào các bản làng, ghi hình ảnh và lấy tài liệu. Về lịch sử các dân tộc Lào, về phong cảnh đất nước, lòng dân, về tình gắn bó keo sơn Lào-Việt. Gặp gỡ các tình nguyện quân Việt Nam đã nằm gai nếm mật ở đây hàng năm; các chiến sĩ Pa-thét Lào đã bám dân, bám đất bất chấp sự dụ dỗ mua chuộc, khủng bố của kẻ thù; các chị, các mẹ Lào đã nuôi dưỡng che chở Bộ đội Cụ Hồ như con cháu ruột thịt… Những thước phim nhựa của anh Hoàng Thái là vô cùng quý giá, có một không hai. Những tài liệu tôi thu thập được đã giúp tôi viết được một số bài và ra được một cuốn sách nhỏ “trên đất nước Triệu Voi” sau đó.

Một tháng “du ngoạn” của hai phóng viên trên vùng Xiềng Khọ tuyệt đẹp. Lạ nước, lạ dân, vùng giải phóng chưa được mấy ngày, nhưng chúng tôi không gặp một nguy hiểm nào, không một lúc nào bị đói. Số là sau buổi liên hoan chiến thắng, trước khi lui về căn cứ, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đã gặp các phóng viên ở lại xem có yêu cầu gì không, có khó khăn gì không? Chúng tôi bộc bạch tấm lòng: gian khổ không ngại, khó khăn không sờn, ở bao lâu cũng được, chỉ lo… đói thôi. Vì chúng tôi hoạt động đơn độc, không chốn ở cố định, trên không có thủ trưởng, dưới không có hậu cần. Hoàng thân cười tươi: “Có gì đâu, dễ thôi”. Và tự tay ông viết giấy giới thiệu, nội dung rất đặc biệt: “Các huyện trưởng, xã trưởng có nhiệm vụ dẫn đường, cung cấp thức ăn, bố trí nơi ở, bảo vệ an toàn cho các phóng viên Việt Nam”. Dĩ nhiên, các huyện trưởng, xã trưởng nói đây đều là của chính quyền cũ-số đông họ đều được giữ lại làm việc, vì vùng mới giải phóng quá rộng lớn, quá mới mẻ, nên cách mạng chưa có đủ cán bộ phụ trách. Nhờ lá bùa hộ mệnh đó, chúng tôi ung dung làm việc, hoàn thành nhiệm vụ trên giao, không những không đói giữa rừng thiêng mà còn nhiều lần được “ăn cơm Tây”, ngủ giường nệm tại nhà các chức sắc chính quyền cũ vốn có nhiều kinh nghiệm tiếp đãi các quan Tây đóng đồn hay các phìa tạo đi tuần tra. Càng thấy thấm thía uy tín của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, của cách mạng Lào lớn đến thế nào.

Mấy tuần lễ trôi qua, thước phim cuối cùng của Hoàng Thái đã hết. Giấy bút tôi mang theo cũng đã cạn. Chúng tôi tự đánh giá là đã hoàn thành “xuất sắc” nhiệm vụ và tự quyết định cho phép mình về nước. Lễ buộc chỉ cổ tay kết nghĩa đầy lưu luyến. Những giỏ xôi thơm phức trao tay. Những ánh mắt yêu thương như muốn nhìn nhau mãi. Chúng tôi vượt qua biên giới hai nước lúc nào cũng không biết (vì làm gì có mốc như bây giờ). Sông núi, cảnh vật, con người hai nước sao mà hòa quyện với nhau đến thế.

Khắc Tiếp
qdnd.vn

Ia Đrăng trận đánh làm chấn động nước Mỹ

LTS: Trận Ia Đrăng là trận đánh then chốt quyết định nhất của chiến dịch Plây-me, là cuộc đụng độ quy mô lớn lần đầu của chủ lực ta với quân đội Mỹ. Trận đánh đã đi vào lịch sử, đánh dấu sự thất bại đầu tiên của Mỹ trên chiến trường miền Nam. Chúng tôi xin trích đăng bài viết của cố Thượng tướng Nguyễn Hữu An, nguyên Phó tư lệnh chiến dịch Plây-me, người chỉ huy trực tiếp trận đánh tại thung lũng Ia Đrăng 45 năm trước…

Mắt tôi vẫn dõi theo những đám khói xám đang tan để lại một vệt dài dọc theo sườn núi những cây cối đổ ngang ngửa. Từ hồi còn ở ngoài miền Bắc tôi đã đọc nhiều tài liệu tham khảo về nền quân sự Hoa Kỳ, bây giờ tận mắt nhìn thấy và đang đụng đầu với nó. Một chiếc B52 chở được 25 tấn bom, riêng ngày hôm nay chúng dùng 24 chiếc nối đuôi nhau quần xung quanh khu vực Chư Pông này. Tôi suy nghĩ về đối tượng tác chiến mới là một đội quân được trang bị rất mạnh, rất hiện đại mà đứng trước đối thủ là một đội quân “đói ăn” trang bị lạc hậu như vậy thì sự chủ quan “trong một thời gian ngắn sẽ đánh gẫy xương sống Việt Cộng” và việc đổ bộ ào ạt hiện nay để “cất vó” chủ lực của Tây Nguyên là điều dễ hiểu. Tôi ra lệnh dừng lại khu vực địch vừa ném bom B52 xong để nắm địch, nắm ta và chỉ huy trận đánh.

Tháng 10-1993, tại Ia Đrăng, Thượng tướng Nguyễn Hữu An (giữa) gặp tướng H. Mua-rơ (bên trái), nguyên trung tá chỉ huy lực lượng kỵ binh bay của Mỹ trong trận đánh ở thung lũng này vào tháng 11-1965. (Ảnh chụp lại)

Mãi tới chiều hôm ấy tôi mới gặp cán bộ chỉ huy Trung đoàn 66 – anh Lã Ngọc Châu, Chính ủy Trung đoàn. Châu cho biết đội hình trung đoàn bị địch chia cắt chưa liên lạc được, anh chỉ nắm được Tiểu đoàn 7 và tình hình địch ở gần Tiểu đoàn 7.

Nắm được tình hình qua Chính ủy Châu và báo cáo của trinh sát, chúng tôi biết bọn địch đứng sát Tiểu đoàn 7 là Tiểu đoàn 1 (thiếu) thuộc Lữ 3 kỵ binh bay. Tôi và anh Đặng Vũ Hiệp, Chính ủy Sở chỉ huy tiền phương hội ý chớp nhoáng quyết định dùng Tiểu đoàn 7 cơ động nhanh đánh vào Tiểu đoàn 1 Mỹ…

Tiểu đoàn 7 đã nổ súng tập kích địch từ 5 giờ rưỡi sáng 15-11. Khoảng 15 phút đầu, địch hỗn loạn nhưng sau đó chống trả quyết liệt. Chúng tôi nghe khá rõ tiếng súng liên thanh, lựu đạn nổ dữ dội. Trên bầu trời kể cả ngày lẫn đêm không phút nào vắng sự gào thét của các loại máy bay, đây đó tiếng bom lấn át mọi âm thanh khác.

Những quả pháo sáng soi rõ từng ngọn cỏ lối đi. Không gian chiến trường tưởng như trong nồi hơi, khí nén đã quá mức, lại còn tiếp tục dồn nén. Đầu óc, cơ thể mọi người dù chỉ là ngồi một chỗ cũng thấy căng thẳng như sợi dây đàn.

Tiểu đoàn 7 tiếp tục tiến công địch. Khoảng 12 giờ máy bay địch tới bắn phá, thả bom na-pan trùm cả lên đội hình của quân Mỹ. Tiểu đoàn 7 để lại một đại đội làm nhiệm vụ bao vây khống chế không cho địch rút chạy hoặc cơ động đi nơi khác. Số còn lại tạm rời trận địa lui lại phía sau để chấn chỉnh đội hình.

Sau một hồi lâu bắn phá, địch đổ bộ thêm một đại đội còn lại của Tiểu đoàn 1.

Ở Sở chỉ huy tiền phương chúng tôi lúc này nắm được tình hình chắc hơn. Dưới Trung đoàn 66 cho biết: Tiểu đoàn 9 đã liên lạc được với Tiểu đoàn 7. Như vậy tương quan lực lượng trong khu vực nhỏ này, mỗi bên có hai tiểu đoàn, nếu tính số lượng quân Mỹ trội hơn, chưa kể hai đại đội pháo và không quân chi viện.

Tối 15 tôi lệnh cho Chính ủy Lã Ngọc Châu (trung đoàn trưởng đi lạc chưa về) nhanh chóng củng cố lực lượng, cố gắng tập kích ở tọa độ X vào sáng ngày 16. Cùng thời điểm đó tôi cử Đồng Thoại, trợ lý tác chiến đi bắt liên lạc với Trung đoàn 33, gặp được tiểu đoàn nào thì giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn ấy tập kích vào hai trận địa pháo ở Quynh-co-la để phối hợp với Trung đoàn 66.

Tôi cho một tốp trinh sát đem lệnh cho Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) nhanh chóng quay về đường cũ, sẵn sàng đánh địch đang hành quân ngược về phía Tiểu đoàn 8.

Tiểu đoàn 7 đã nổ súng khoảng 3 giờ sáng 17-11. Sau ít phút chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 7 đã đánh trúng tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng hai đại đội quân Mỹ. Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 33 bị lạc đường không thực hiện được ý định đánh vào trận địa pháo.

Thấy Tiểu đoàn 1 có nguy cơ bị tiêu diệt, Lữ 3 kỵ binh bay hạ lệnh cho số còn lại hành quân bộ chạy về phía tây Ia Mơ co cụm ở gần trận địa pháo chờ lệnh.

Tôi ra lệnh cho các đơn vị (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 33) để khỏi bị lạc đường phải liên tục đánh địch cả ban ngày và ban đêm; gặp địch là khẩn trương tổ chức đánh ngay, bám thắt lưng địch mà đánh.

Trưa ngày 17, Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) nhận được lệnh hành quân quay lại, đang nghỉ ăn cơm dọc sông Ia Đrăng thì có tin của trinh sát báo cáo: “Quân Mỹ đang tới gần”. Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi bình tĩnh đôn đốc tiểu đoàn nhanh chóng triển khai đội hình chiếm trận địa có lợi trước mặt và hai bên, hình thành thế bao vây ép địch vào giữa hai gọng kìm của tiểu đoàn. Sau khi dùng hỏa lực súng cối chế áp ngắm vào đội hình địch, quân ta dũng cảm đồng loạt xung phong chia cắt đội hình và đánh giáp lá cà với địch. Cả đôi bên lúc này đội hình xen kẽ nhau đến độ chỉ cho phép dùng tiểu liên bắn găm, dùng lưỡi lê, lựu đạn mà chiến đấu.

Nhà báo Gan-lau Uây đã miêu tả trận đánh: “…Khi các khẩu súng cối của họ phát hỏa, quân chính quy Bắc Việt Nam đang vận động dọc theo đội hình quân Mỹ, lập tức quay vòng lại và tiến công. Ở trung tâm của đội hình, đại đội Sác-li phải chịu hậu quả tồi tệ nhất, bị chết 20 và bị thương một số còn đông hơn thế ngay từ phút đầu tiên. Một số quân ta bắn như điên như dại về tứ phía và có đại đội khác đã phàn nàn là họ đã bị bắn bởi chính hỏa lực của quân mình.

Mãi đến lúc này, khi quân Bắc Việt Nam đang tăng cường sức ép tiến công mà Mắc Đết, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Lữ 3 Mỹ vẫn còn ngộ nhận tin rằng sự việc đang diễn ra chính là do quân Mỹ bắn loạn xạ vào nhau… Trung úy Slau-ren Guyn kể lại là Mắc Đết đã gọi điện đài lệnh cho các đơn vị ngừng bắn. Tình hình đã xấu lại trở nên xấu hơn. Đến bây giờ quân Bắc Việt Nam đã có mặt ngay trong hàng ngũ quân Mỹ và trên các ngọn cây cao. Bất cứ ai vận động lên đều bị bắn chết. Thiếu tá Hen-ry và trắc thủ pháo binh đã cố gắng dùng điện đài của họ để gọi pháo binh và không quân chi viện. Điều này đã làm giảm bớt sự chết chóc, nhưng với đội hình kéo dài giữa bãi cỏ cao rậm thì các quả đạn pháo và na-pan sát thương quân Bắc Việt Nam đồng thời cũng sát thương cả người Mỹ. Đơn vị đi đầu, đại đội An-pha phân tán rải ra khắp đoạn rìa của khu vực phát quang trước khi bị tiến công đã mất đúng hai trung đội, 50 người trong những phút đầu. Đến lúc rút ra khỏi khu vực này, nó chỉ còn lại 20 người trong tổng số 160 người. Đại đội Sác-li lúc tập hợp ở khu vực “tia X” để hành quân có 110 người thì lúc này đã bị chết 50 và bị thương 50”…

Mỹ đổ quân xuống thung lũng Ia Đrăng tháng 11-1965. Ảnh tư liệu

Nhận được lệnh của tôi, Trung đoàn 33 đã cho một tiểu đoàn hành quân cấp tốc ngược về phía Chư Pông. Trên đường hành quân Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 33) nghe thấy tiếng súng nổ phía trước mặt, biết chắc chắn quân ta đang chặn đánh địch, không ai bảo ai họ cố gắng vượt lên nhanh. Tới gần sát địch, một đại đội của Tiểu đoàn 1 gặp địch đang chạy lui về phía Chư Pông. Thế là hai đơn vị phối hợp đánh mạnh vào sau lưng tiểu đoàn Mỹ. Sự hiệp đồng tuyệt đẹp của cả hai tiểu đoàn, khiến đội hình quân Mỹ đang rối ren, nhanh chóng bị quân ta tiêu diệt.

Trận đánh kéo dài suốt từ 14 giờ ngày 17 đến 20 giờ ngày 18 mới kết thúc. Theo nhà báo Gan-lâu Uây đi theo hai tiểu đoàn 1 và 2, Lữ đoàn 3 quân Mỹ thì Tiểu đoàn 2 bị chết 155 người, 125 người bị thương và 5 bị mất tích. Như vậy trong 3 tiếng đồng hồ Tiểu đoàn 2 quân Mỹ đã mất 285 người trong tổng số 400, mặc dầu con số này còn xa sự thật. Ngay Đại tướng Oét-mo-len cũng phải thừa nhận đây là một tổn thất rất nghiêm trọng.

Trong ngày 18 địch vội vã điều động lực lượng tới nhiều nơi hy vọng sự giảm nhẹ nguy kịch của Tiểu đoàn 2 kỵ binh bay đang có nguy cơ bị tiêu diệt.

Ở Quynh-co-la địch đổ thêm Tiểu đoàn 3 và 2 đại đội pháo.

Hai trung đoàn dù ngụy nằm trong lực lượng tổng dự bị tức tốc được điều từ Sài Gòn tới cùng với một tiểu đoàn Mỹ hành quân bằng ô tô rồi tiến vào hướng đông nam Đức Cơ, bắc dãy núi Chư Pông để yểm trợ phía sau, đồng thời cố tạo ra một áp lực giả tạo làm thuốc an thần cho quân Mỹ. Rất tiếc Trung đoàn 320 ở hướng đó chỉ đánh tiêu hao, không diệt gọn được tiểu đoàn Mỹ nào.

Ngày 19, hàng chục máy bay tới ném bom bắn phá hồi lâu xung quanh Quynh-co-la, rồi cho trực thăng xuống bốc toàn bộ số quân còn lại về Bầu Cạn. Cuộc hành quân lần đầu tiên của quân Mỹ vào Tây Nguyên đã kết thúc bi thảm.

Kết quả cuối cùng ta đã giành được thắng lợi to lớn vượt xa dự kiến ban đầu, khoảng 1.200 tên Mỹ bị thương vong, ta tiêu diệt Tiểu đoàn 1 và 2 của Lữ đoàn 3 kỵ binh bay, tiêu hao nặng Tiểu đoàn 3 và một số đại đội, bắn rơi 26 máy bay và thu nhiều súng đạn.

Trận đánh ở Ia Đrăng đã làm chấn động đến toàn nước Mỹ, báo hiệu sự thất bại không thể tránh được của quân đội viễn chinh Mỹ. Tôi xin mượn câu nói của nhà báo Mỹ Gan-lâu Uây viết cho Tuần tin tức Mỹ sau đây: “Trận chiến đấu ở thung lũng Ia Đrăng đã làm cho nước Mỹ suy thoái vào một thập kỷ sa lầy đẫm máu, đã dẫn 58.000 người Mỹ vào những chiếc quan tài bằng nhôm sáng bóng do quân đội sản xuất, đã làm hỏng một đời tổng thống, đã mang lại vết nhơ sâu sắc cho các đời tổng thống khác và đẩy cả dân tộc đến chỗ đối lập với chính bản thân mình”.

Cố Thượng tướng Nguyễn Hữu An
qdnd.vn