Cái mới và dấu ấn Trần Công Mân

Bây giờ thì Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân đã khang trang hơn trước rất nhiều. Một tòa nhà 8 tầng bề thế, kiến trúc khá đẹp, mọc lên ở nơi trước kia là hội trường kiểu thời bao cấp, tường gạch, mái ngói, trước hiên là sân cầu lông, xung quanh có mấy dãy ghế đá núp dưới bóng cây phượng, đỏ rực hoa mỗi khi hè về. Phía trước tòa nhà 8 tầng này, ngôi biệt thự Pháp 3 tầng tại số 7 Phan Đình Phùng nhìn bên ngoài vẫn giữ được nét xưa, nhưng bên trong đã thay đổi cấu trúc và tiện nghi. Sự đổi thay theo hướng đi lên là tất yếu, nhưng khó cắt nghĩa nổi là làm sao tôi cứ nhớ da diết cảnh cũ, người xưa. Bao nhiêu người đã ra đi từ ngôi nhà này, trong đó có không ít người ra đi mãi như các bác, các anh: Dân Hồng, Nghiêm Túc, Bùi Biên Thùy, Huỳnh Mai, Vũ Linh, Phan Hiền, Hồ Sĩ Thoại, Trần Khôi, Trần Hoàn, Văn Quýnh, Quang Khánh, Phan Huỳnh, Hải Đức…

Bản thân tôi, sau gần 30 năm phục vụ trong quân đội và cũng ngần ấy năm công tác tại Báo Quân đội nhân dân, tới đầu năm 2008, được cấp trên điều động đi nhận nhiệm vụ Tổng biên tập Báo Hànộimới và hiện nay đảm đương nhiệm vụ Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội. Nhà tôi ở gần Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân, nên dường như không có ngày nào tôi không đi ngang qua tòa soạn, và lúc nào cũng vậy, như có một sức hút vô hình, tôi lại hướng mắt vào nơi đó. Trong những căn phòng thấp thoáng ánh điện dưới những lùm cây, các đồng nghiệp mặc áo lính thân yêu của tôi ngày đêm vẫn miệt mài làm việc vì chất lượng từng số báo một.

Những ngày này, khi Báo Quân đội nhân dân kỷ niệm 60 năm ngày ra số báo đầu tiên (20-10-1950/20-10-2010), tên tuổi, tính cách của bao con người đã từng coi ngôi nhà số 7 Phan Đình Phùng như nhà của mình, coi nghề báo như lẽ sống của mình lại được trìu mến nhắc đến. Trong mỗi câu chuyện như vậy trong tiết thu heo may Hà Nội, nhà báo Trần Công Mân luôn được những người cầm bút từ mọi miền đất nước hội tụ về tưởng nhớ với vẹn nguyên một lòng cảm phục và kính trọng.

Tổng biên tập Trần Công Mân tiếp các nhà báo quốc tế năm 1987. Ảnh do tác giả cung cấp

Ông ra đi mãi mãi đã hơn 12 năm rồi (25-3-1998), thế mà mỗi lần nhớ đến ông, lòng tôi vẫn nhói lên một nỗi đau mất mát ấy, trào lên một nỗi nuối tiếc ấy – tiếc nuối một con người đức độ, một trí tuệ uyên thâm, một ngòi bút sắc sảo, một phong thái lịch lãm…

Tôi như vẫn thấy bóng ông khoan thai đi ngang qua đường Lý Nam Đế, mái tóc bạc như mây dưới tán lá xanh rì của những cây sấu già quen thuộc, như vẫn thấy dưới bóng đèn khuya, ngọn bút của ông lao đi gấp gáp như bay trên những trang bản thảo, đuổi bắt cho được những ý tưởng lóe sáng, như vẫn nghe giọng nói ấm áp, trầm tĩnh của ông trong những câu chuyện bình dị về cuộc đời, về nghề nghiệp. Như vẫn còn đây dáng ông nhẹ nhàng lên xuống cầu thang bằng gỗ đã mòn vẹt qua năm tháng, tay cầm tập bản thảo, vẻ mặt trầm tư như đang nghĩ ngợi điều gì.

Phòng làm việc của ông kê hai chiếc bàn rộng ghép vào nhau, xung quanh là hàng chục chiếc ghế mây giống nhau. Đây vừa là nơi ông xử lý công việc hằng ngày, vừa là nơi hội họp của lãnh đạo cơ quan. Từ ngày tôi khoác ba lô về tòa soạn, được anh Cù Ngọc Đức đưa lên “gặp cụ” – như lời của anh Đức – cho đến ngày ông rời tòa soạn về hưu, rồi chuyển sang công tác bên Hội Nhà báo Việt Nam, hầu như mọi đồ dùng trong phòng làm việc của ông vẫn vậy, không mua sắm thêm thứ gì. Tất cả đều giản dị, thanh đạm. Sau này, khi tòa soạn “nâng cấp trang bị”, thay thế loạt ghế mây kia bằng ghế giả da, thật tình, tôi không khỏi cảm thấy tiếc nuối khi tòa soạn không giữ được chiếc ghế mây ông đã ngồi bao nhiêu năm tháng trong ngôi nhà số 7 thân thương.

Trong một phần tư thế kỷ công tác ở Báo Quân đội nhân dân với cương vị Phó tổng biên tập rồi Tổng biên tập, nhà báo Trần Công Mân đã để lại một dấu đậm nét trong việc tạo ra một bản sắc và phong cách riêng cho tờ báo được toàn quân và toàn dân yêu mến, tin cậy. Ông thường tâm sự với chúng tôi: Làm báo mà chỉ để không sai thì không khó, nhưng làm sao cho tờ báo vừa đúng vừa hay, vừa hấp dẫn, thiết thực, thật sự có ích cho cuộc sống; nói trúng, nói đúng những vấn đề bạn đọc đang mong chờ, có sức lay động và thuyết phục, tạo ra một sức mạnh mới trong nhận thức và hành động vì những giá trị tốt đẹp mới là một bài toán khó, đòi hỏi người làm báo phải lao tâm khổ tứ, cực nhọc và gian nan lắm. Càng trưởng thành về nghề nghiệp, qua bao nhiêu lần cọ xát, va chạm, thấm trải cay đắng, ngọt bùi của nghề cầm bút, chúng tôi càng thấm thía lời ông.

Là người rất kiệm lời, không thích hô hào, ghét thói khoa trương, ông lặng lẽ hiến mình cho công việc làm báo, từng ngày, từng ngày một, từng bài báo, từng số báo một. Và một phong cách làm báo Trần Công Mân đã lặng lẽ hình thành trong lòng bạn đọc! Nó không chói lòa gây choáng ngợp, nhưng sức thuyết phục thì rất ngọt, rất sâu. Thuyết phục trước hết vì tinh thần trách nhiệm với nhân dân và đất nước; thuyết phục vì tình đời, tình người; thuyết phục vì sự sắc sảo mà cẩn trọng; thuyết phục vì tính chính xác, sự giản dị trong cách thể hiện nhưng lại vẫn ánh lên sự sang trọng của ngôn từ.

Làm báo chuyên nghiệp là một nghề, hẳn như vậy rồi. Nhưng đối với ông, Tổng biên tập càng phải là một nghề. Ông không ưa, hay nói đúng hơn là không chấp nhận, kiểu làm báo “chính trị chay”, nghĩa là một kiểu làm báo xơ cứng, giáo điều, nặng về “tầm chương trích cú”, lúc nào cũng lên lớp dạy dỗ, xa rời thực tế, không có tính phát hiện, thiếu tinh thần chiến đấu…

Trong ông ẩn chứa một năng lực trí tuệ, một năng lực ứng phó đầy bản lĩnh mà đôi khi trong phức tạp, cam go, rối rắm của tình thế, được ông chỉ bảo bằng những lời ngắn gọn và bình dị, bỗng thấy mở ra một lối đi sáng rõ. Trong ông cũng ẩn chứa một khả năng thuyết phục, lôi cuốn người khác bằng phong thái điềm tĩnh, tư chất trầm sâu của một người đã đạt tới một độ chín của tư duy, độ vững vàng của bản lĩnh. Khả năng thuyết phục đó thường không tạo ra một thứ lửa hừng hực mà là một sức cảm hóa len lỏi, lan tỏa, hòa quyện với tốc độ nhiều khi không ý thức được, nhưng cứ bồi đắp lâu dần thành một khát vọng vươn tới.

Những người dưới quyền ông tự coi mình là học trò của ông, bao giờ cũng cảm thấy bổn phận phải cố gắng hơn, phải tiến bộ hơn thì mới đáp ứng được điều mà ông chờ đợi ở từng người, mặc dù hầu như không thấy ông bộc lộ đòi hỏi đó bằng lời. Bài viết nào được vị tướng này phê một chữ “được” nho nhỏ ở góc bài thì tác giả của nó có thể tự coi như một lời khen sâu sắc và có thể lặng lẽ tự bằng lòng về công sức của mình. Hầu như ai đưa bài nào cho ông duyệt cũng đều thấp thỏm chờ đợi ý kiến của ông. Có những đồng nghiệp cao niên tâm sự với tôi rằng, thường nộp bài cho “cụ” xong là lén nhòm qua khe cửa xem “cụ” có đọc ngay không, hễ thấy “cụ” cầm bút lên chữa bài là ổn, nếu thấy “cụ” đọc nhanh rồi đặt sang một bên thì coi như “đứt”, chắc chắn phải viết lại, hoặc bỏ hẳn.

Đó là gì nếu không phải là một thứ uy lực trí tuệ nơi ông? Làm việc với ông dần theo năm tháng, ai cũng thấy mình lớn lên.

Trí tuệ và bản lĩnh là hai phẩm chất cần thiết hàng đầu đối với một nhà báo, đặc biệt đối với cương vị Tổng biên tập một tờ báo chính trị lớn. Ở vị tướng – nhà báo Trần Công Mân, hai phẩm chất này rất sáng, rất nổi trội, xoắn quyện lấy nhau – điều khiến ông trở thành một cây bút lớn, một Tổng biên tập tài năng.

Các nhà báo thường có thói quen như một cái “tật” là ít khi đủ kiên nhẫn để chịu ngồi yên từ đầu đến cuối ở các hội nghị, nhất là những hội nghị nặng về hình thức, đậm lễ nghi, nhạt thông tin. Nhưng ở Báo Quân đội nhân dân, mỗi lần được thông báo có buổi nói chuyện của Tổng biên tập Trần Công Mân thì ai cũng háo hức đến nghe và lúc nào thời gian dường như cũng quá ngắn đối với những điều muốn được nghe từ con người điềm tĩnh, sắc sảo và uyên bác ấy.

Đội ngũ làm Báo Quân đội nhân dân dưới sự dẫn dắt của ông đã kế tục và phát huy được truyền thống vẻ vang của những người đi trước. Tờ báo trong nhiều năm ánh lên được vẻ đẹp của cốt cách tinh thần người chiến sĩ quân đội nhân dân, đạt tới tầm vóc một tờ báo chính trị quan trọng của quốc gia, có ảnh hưởng rộng rãi đối với dư luận trong nước và quốc tế. Nhiều vị khách nước ngoài khi tới thăm tòa soạn đã nói rằng không nước nào có một tờ báo quân đội có ảnh hưởng tới xã hội và vị trí đặc biệt như tờ Báo Quân đội nhân dân của Việt Nam.

Cuối những năm 80, đất nước ta sống trong cơn lốc của những thay đổi lớn lao trên bình diện toàn cầu. Đây là thời điểm mà nếu ngồi yên với tư duy ứ đọng thì các nhà tư tưởng sẽ bị tụt hậu, các nhà chính trị sẽ bị đo ván, các nhà kinh doanh sẽ bị mất thị trường và thậm chí cha cố cũng sẽ mất hết con chiên. Một cuộc biến động xã hội-chính trị toàn cầu diễn ra song song với những bước tiến như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật trong xu thế toàn cầu hóa, khi toàn thế giới bước vào nền văn minh thứ ba. Cả hai xung lực này đẩy thế giới chuyển động theo những quỹ đạo không còn giống như trước, tác động mạnh đến vận mệnh của mọi quốc gia, đời sống của mọi gia đình.

Điều mà các đồng nghiệp đánh giá cao nhất ở ông là sự mẫn cảm nhạy bén với những tình thế mới đang ló rạng, nhưng lại đón nhận và xử lý chúng một cách điềm tĩnh, chủ động và đầy bản lĩnh. Tôi còn nhớ vào giữa những năm đầy bão tố đó, khi ở bên Liên Xô và Đông Âu bắt đầu tiến hành cải cách, cải tổ, ông thường hạn chế đăng những bài ca ngợi quá mức M.X. Goóc-ba-chốp và những biện pháp cải tổ “để có nhiều CNXH hơn nữa” như ông ta vẫn hô hào. Một buổi chiều cuối thu năm 1989, khi những hàng cây trên đường Phan Đình Phùng xao xác lá vàng bay trong tiết heo may, ông cho gọi nhóm viết chuyên luận gồm Đại tá Phan Hiền, Đại tá Tạ Duy Đức, anh Trần Nhung và tôi lên hội ý. Tôi cảm thấy giọng của ông trầm xuống vì một nỗi lo lắng về thời cuộc. Hình như ngay từ hôm đó, ông đã linh cảm thấy một biến động ghê gớm sẽ diễn ra trong nền chính trị thế giới. Theo lệnh của ông, mỗi chúng tôi viết một bài chuyên luận nhằm phân tích, dự báo và định hướng tư tưởng trước nguy cơ một cuộc đảo lộn lớn. Loạt bài chuyên luận đó của Báo Quân đội nhân dân đã gây một tiếng vang lớn trong dư luận xã hội. Lần đầu tiên trên báo chí ta, có những bài chính luận phân tích sâu sắc chiến lược “diễn biến hòa bình”. Tôi hiểu Tổng biên tập Trần Công Mân là linh hồn của bài chính luận “Cuộc chiến tranh có tên gọi hòa bình” của tôi. Bài viết đó, tôi phải viết đi viết lại nhiều lần mới được ông cho đăng. Đó là bài viết đầu tiên đánh dấu sự trưởng thành bước đầu của bản thân tôi trong công việc viết bình luận. Báo Quân đội nhân dân dưới sự chỉ đạo của ông những ngày đó đã trở thành ngọn lửa ấm áp, tin cậy trong lòng bạn đọc khi cơn lốc thế sự toàn cầu gây choáng cho không ít người.

Trong 10 năm liền, tôi may mắn được dự nhiều cuộc ông tiếp khách nước ngoài, từ các nhà ngoại giao, các nhà nghiên cứu, các học giả đến các nhà văn, phóng viên báo chí. Những nhà báo, nhà văn phương Tây nổi tiếng như: Clốt Pô-mông-ti của Báo Thế giới (Pháp); nhà văn nữ Ma-đơ-len Si-phô thân thiết với nhân dân Việt Nam; phóng viên tự do Giăng Clốt La-bê có vợ là một phụ nữ Pháp gốc Việt, cháu của giáo sư Hoàng Xuân Hãn; nhà văn Mỹ lừng danh Nin Si-hân, tác giả cuốn sách chấn động nước Mỹ Lời nói dối choáng lộn viết về chiến tranh Việt Nam; phóng viên các tờ báo lớn, các hãng tin lớn như TASS, Tân Hoa xã, AFP, AP, Roi-tơ… cứ mỗi lần tới Việt Nam là tìm tới thăm ông. Sự thông tuệ, từng trải của ông tạo cho họ lòng tin cậy, mến phục; sự sắc sảo cởi mở của ông gây cho họ bất ngờ, hứng thú. Đoán biết được nhu cầu cũng như tâm lý của người đối thoại, ông không bao giờ tỏ ra là người lên lớp hay áp đặt. Lâu dần tôi mới phát hiện ra một biệt tài ở ông: đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính chặt chẽ và nguyên tắc trong định hướng chính trị và sự uyển chuyển khoáng đạt trong lý giải và cung cấp thông tin. Biệt tài này làm cho các vị khách nước ngoài cảm thấy rất thoải mái khi đối thoại với ông, tin ở những điều ông nói. Tôi đã đọc nhiều bài báo của các phóng viên nước ngoài viết về Việt Nam, trong đó tác giả trích dẫn ý kiến của ông hay chia sẻ hoặc chịu ảnh hưởng quan điểm của ông-cũng có nghĩa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta-về những vấn đề quốc tế phức tạp liên quan tới Việt Nam thời đó như: cuộc xung đột ở Cam-pu-chia và quân tình nguyện Việt Nam, quan hệ Việt-Mỹ, vấn đề POW-MIA, quan hệ Việt-Trung, vấn đề Biển Đông…

Một ngày cuối thu 1989, khi tiếp vợ chồng nhà văn Mỹ Nin Si-hân, Tổng biên tập Trần Công Mân đã phân tích rất hay về vai trò của QĐND Việt Nam trong chiến tranh và trong thời bình. Hôm sau, ông cử tôi đưa vợ chồng nhà văn Mỹ lên Sơn Tây. Đứng trên bờ một thửa ruộng ngay gần nơi đã xảy ra cuộc đột kích bất thành của Mỹ để giải cứu các phi công, Nin Si-hân đứng lặng ngắm nhìn một người nông dân nhỏ bé đang miệt mài đánh trâu bừa dưới ruộng như để cố tìm một mối liên hệ giữa cuộc đột kích động trời đó với những con người cần mẫn trên mảnh đất bình yên này. Sau khi đi thăm Nông trường trồng dứa 1A của quân đội, tâm đắc với những phân tích của tướng Mân chiều hôm trước, Nin Si-hân nói rằng: “Quân đội Mỹ chỉ biết tiêu phí tiền của, còn quân đội Việt Nam lại biết làm ra tiền. Đó là điều rất khác biệt”.

Nhiều người không giấu nổi sự ngưỡng mộ đối với tầm cao và sự uyên bác trí tuệ của ông, lại càng cảm phục hơn khi biết ông đã từng là Chính ủy Trung đoàn công binh đào đường hầm đặt khối thuốc nổ nghìn cân trong lòng đồi A1 ở Chiến dịch Điện Biên Phủ lẫy lừng năm xưa. Có phóng viên Mỹ, sau khi được ông tiếp, đã hỏi tôi: Nguồn lấy vào sĩ quan quân đội là từ đâu, trong quân đội Việt Nam có nhiều người như tướng Mân không? Người phương Tây, nhất là người Mỹ thường thiếu thông tin về đất nước Việt Nam, con người Việt Nam. Trước mắt họ là một vị tướng Việt Nam bằng xương bằng thịt. Vị tướng dáng cao gầy này nói tiếng Pháp thông thạo, cách diễn đạt, dùng thuật ngữ rất Pháp làm cho nhiều người Pháp phải ngạc nhiên. Ông thông kim bác cổ, nhất là các vấn đề chiến lược trong quan hệ quốc tế. Các đồng chí ở cơ quan đối ngoại của ta đã nhiều lần nói với tôi rằng khi phải đón những vị khách nào hơi “hóc” một chút là thường phải “cậy nhờ tới bác Mân”.

Tự học, tự rèn trong trường học lớn quân đội đã tạo nên những phẩm cách đáng quý đó ở ông. Ông vừa là nhà quân sự, vừa là nhà báo lại có dáng dấp một chính khách.

Mỗi lần cấp dưới nộp bài, ông thường hỏi: “Có gì mới không?”. Đã lăn lộn với nghề báo, không ai không hiểu rằng, có được cái mới trong bài viết đâu phải dễ. Nhưng đây lại chính là tiêu chuẩn hàng đầu để kiểm định chất lượng một bài báo, chưa nói đến chuyện hay mà trước hết để xem có “đứng” được hay không. Lấy đâu ra mà đòi hỏi “mới” nhiều thế! Như thông hiểu được khó khăn lúng túng của người viết, ông ôn tồn giải thích: “Mới” đối với báo chí là mới về thông tin, mới về cách đề cập, mới về vấn đề phát hiện, mới về cách lập luận, mới về cách diễn đạt… Cái mới luôn nằm ở vị trí trung tâm trong lao động báo chí của ông. Đọc các bài viết của ông, từ những bài chính luận lớn dưới bút danh Tuấn Minh cho đến những bài báo ngắn, vài ba trăm chữ, đôi khi là một thư góp ý, bao giờ người đọc cũng thấy ánh lên một bút pháp sắc sảo, một cái nhìn mới mẻ, đầy trách nhiệm với xã hội, đất nước, dân tộc.

73 năm trên cõi đời này, ông đã có hơn 50 năm hoạt động cách mạng, ngót 50 năm viết báo miệt mài, trong đó có hơn 30 năm làm báo chuyên nghiệp. Càng hiểu nghề cầm bút, thấm thía nỗi cực nhọc của nó, tôi càng cảm thấy may mắn khi được làm việc dưới quyền một tổng biên tập như tướng Trần Công Mân, gặp được một người thầy như ông. Các giải báo chí của thế hệ làm báo chúng tôi, trong đó có 9 giải báo chí toàn quốc và quốc gia về thể tài chính luận mà tôi vinh dự được nhận từ năm 1991 đến năm 2009 đều có công lao của Tổng biên tập Trần Công Mân, đều có bóng dáng của ông trong cách đặt vấn đề, trong những lập luận, trong bút pháp.

Chúng tôi thường nói với nhau: được làm việc dưới quyền ông là một may mắn lớn. May mắn lớn không phải chỉ ở chỗ học hỏi được nhiều điều ở ông. Lao động báo chí là một loại lao động cực nhọc, đầy thách đố, đôi lúc hiểm nguy. Được ông giao nhiệm vụ, cảm thấy yên tâm, yên tâm trước hết ở sự xác đáng trong quyết định của ông. Lúc gặp khó khăn, rắc rối luôn tìm thấy ở nơi ông một chỗ dựa tin cậy. Nhắc tới điều này, chúng tôi dường như thấy tái hiện lại không khí sôi nổi của thời kỳ Báo Quân đội nhân dân là một trong những tờ báo tiên phong trên mặt trận chống tiêu cực với những bài viết thực sự gây chấn động dư luận xã hội lúc đó liên quan đến một số cán bộ cao cấp có chức, có quyền. Có bạn đọc viết thư đến nói rằng Báo Quân đội nhân dân đã nổ những phát đại bác công phá vào dinh lũy của chủ nghĩa quan liêu, đặc quyền đặc lợi, tạo được niềm tin to lớn đối với bạn đọc trong cuộc chiến đấu gay go chống hiểm họa này.

Cái khó nhất của nghề báo là phải biết trước, phải nói trước thiên hạ, nhưng lại phải nói đúng, đầy tinh thần trách nhiệm để định hướng dư luận xã hội. “Có gì mới không?”, trong tôi lại vang lên câu hỏi quen thuộc đó của Tổng biên tập Trần Công Mân. Cực nhọc, cam go cũng vì cái mới, vinh quang cũng nhờ cái mới! Trong giới hạn mỏng manh, điểm chạm nhạy cảm đó là ẩn chứa những đặc thù của lao động báo chí. Nhìn ở phương diện nào, cả những người viết báo cũng như người quản lý chỉ đạo báo chí, vị tướng làm báo Trần Công Mân luôn là tấm gương tiêu biểu.

Hồ Quang Lợi (Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, nguyên Phó TBT Báo Quân đội nhân dân)
qdnd.vn