Sầm Nưa ngày ấy…

Nhà báo Khắc Tiếp (bên phải) phỏng vấn Đại úy Coong-le, chỉ huy quân nổi dậy chống Mỹ ở Cánh Đồng Chum năm 1960. Ảnh do tác giả cung cấp

Trong hai cuộc kháng chiến lâu dài, trong mấy chục năm làm Báo Quân đội nhân dân, tôi hình như có duyên với đất Phật Triệu Voi. Lúc ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Cánh Đồng Chum, lúc ở đường số 9 Sê-pôn. Lúc đi cùng quân tình nguyện ở Lào, lúc đi với quân Pa-thét Lào. Có lần còn đi với quân “trung lập” của lực lượng nổi dậy. Lúc bám sát diễn biến hội nghị 3 phái (yêu nước-trung lập-thân Mỹ) ở thung lũng Văng Viêng, lúc giúp Báo Quân đội nhân dân Lào ở Thủ đô Viêng Chăn… Biết bao kỷ niệm đẹp về mối duyên Lào-Việt, mà năm tháng trôi qua không dễ làm cho phai mờ.

Tôi nhớ nhất những ngày đại quân Lào-Việt xuất trận xuân hè 1953. Lần đầu tiên, những đại đoàn thiện chiến của Việt Nam đồng loạt lên đường sang phối hợp cùng quân đội bạn. Hoàng thân, Chủ tịch Xu-pha-nu-vông, Bộ trưởng Quốc phòng Cay-xỏn Phôm-vi-hản (sau này là Tổng bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào), Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đã thân chinh ra trận, đi cùng đại quân; có đêm tôi còn thấy các vị cưỡi ngựa đội mưa đi qua hàng quân đang xốc tới chiến trường. Đường qua Tây Bắc sang Lào dài hơn 300 cây số. Núi cao đèo dốc hiểm trở. Quân chiến đấu mang vác nặng đã đành, báo chí, điện ảnh đi theo cũng vất vả không kém. 11 ngày gạo tẻ, 2 ngày gạo nếp, vũ khí nhẹ… ngót nghét hơn 20kg trên vai. Không ai biết đi đâu và đánh ở đâu trên Tây Bắc mênh mông bí hiểm này. Đến Mộc Châu mới biết chiến trường là Sầm Nưa trên đất bạn. Vùng biên cương hai nước, chiều chưa đến, sương mù đã dày đặc. Có đêm mệt quá tôi bước hụt, tụt xuống một hố khá sâu gần ngập đầu (chắc là hố tránh phi pháo của các đơn vị đi trước), và cứ nguyên ở đó, ngủ thiếp đi một giấc dài, tỉnh dậy phải vắt chân lên cổ để đuổi kịp đoàn quân đã đi xa.

Đề phòng địch có thể đánh bài chuồn nếu phát hiện đại quân ta đang tiến sát, bộ chỉ huy chiến dịch đã ra lệnh cho các cánh quân tăng hết tốc độ hành quân, để kịp bao vây tiêu diệt. Thế mà vẫn không kịp. Khi đơn vị đi đầu đến sát Sầm Nưa thì đã thấy lửa bốc cao ngùn ngụt trong các cứ điểm địch. Thì ra toán địch đầu tiên bỏ chạy đã được 19 giờ, toán cuối cùng cũng đã được 8 giờ, trước khi đại quân ta đến.

Thế là cuộc tiến công Sầm Nưa lập tức biến thành cuộc truy kích đường dài, lớn chưa từng có của quân đội ta. “Đuổi địch đến cùng, nó chạy xa 200, 300 cây số cũng đuổi, hết lương thực cũng đuổi, có máy bay địch cũng đuổi”. Đó là quyết tâm của đại quân ta suốt 7 ngày 7 đêm liên tục, bất chấp đèo cao dốc đứng, thủy thổ xa lạ, mưa nắng thất thường, thiếu cơm thiếu nước. Chưa đầy một tháng trên đất bạn, chiến dịch Thượng Lào kết thúc đại thắng. Gần 3.000 tên địch, bằng 1/5 tổng số binh lực địch ở Lào bị tiêu diệt. Toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và Phông Sa Lỳ bằng 1/5 diện tích nước Lào với 30 vạn dân được giải phóng. Và điều quan trọng nhất là sinh lực của ta hầu như còn nguyên vẹn, đầy sức chiến đấu. Từ đây, Việt Bắc-Tây Bắc của Việt Nam và Thượng Lào đã được nối liền một dải, hậu phương kháng chiến của hai dân tộc được mở rộng.

Tại cầu Hỉn Hợp chia đôi hai miền Lào trong chiến tranh năm 1961: Bên trái là chiến sĩ cảnh giới Pa-thét (Lào), bên phải là phóng viên Báo Quân đội nhân dân. Ảnh do tác giả cung cấp

Sầm Nưa là một thị trấn xinh đẹp, hầu như còn nguyên vẹn. Những căn nhà cổ kính, những hàng cây xanh tươi, những vườn hoa đầy hương sắc. Lễ chiến thắng được tổ chức tại một tòa nhà giữa thị trấn. Hoàng thân Xu-pha-nu-vông nói trong buổi lễ: Sầm Nưa giải phóng là kết quả của tình đoàn kết Việt-Lào, của giúp đỡ không điều kiện của nhân dân và quân đội Việt Nam tiêu diệt kẻ thù chung. Ông có kể lại là trước khi triển khai chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh có gửi tặng ông hai món quà làm kỷ niệm: một tấm lụa và một thanh gươm. Tấm lụa là tượng trưng cho tình nghĩa bền chặt đoàn kết keo sơn. Thanh gươm là tiêu biểu của tinh thần chiến đấu kiên cường chống kẻ thù chung của hai dân tộc.

Gọi là tiệc cho đúng chữ nghĩa. Thực sự là một buổi vui gia đình-đại gia đình Lào-Việt. Bà Xu-pha-nu-vông – cô gái xứ Thanh xinh đẹp-tự tay chuẩn bị bữa ăn cho các bạn Việt Nam: món xôi được nấu theo kiểu của Hoàng gia. Mọi người hát dân ca Lào, múa lăm-vông đến khuya. Tôi được đồng nghiệp Hoàng Thái giao cầm đuốc soi sáng cho anh quay phim. Nhà văn Vũ Cao còn nhắc tôi “cẩn thận không cháy râu của cụ Xu” (trong kháng chiến, Chủ tịch Xu-pha-nu-vông thường để râu rất dài).

Đại quân ta chiến thắng lần lượt trở về nước. Chỉ để lại mấy trung đoàn, tiểu đoàn giúp bạn bảo vệ, củng cố vùng giải phóng. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân cùng nhà quay phim Hoàng Thái được lệnh ở lại, tiếp tục công việc của mình. Đi vào các bản làng, ghi hình ảnh và lấy tài liệu. Về lịch sử các dân tộc Lào, về phong cảnh đất nước, lòng dân, về tình gắn bó keo sơn Lào-Việt. Gặp gỡ các tình nguyện quân Việt Nam đã nằm gai nếm mật ở đây hàng năm; các chiến sĩ Pa-thét Lào đã bám dân, bám đất bất chấp sự dụ dỗ mua chuộc, khủng bố của kẻ thù; các chị, các mẹ Lào đã nuôi dưỡng che chở Bộ đội Cụ Hồ như con cháu ruột thịt… Những thước phim nhựa của anh Hoàng Thái là vô cùng quý giá, có một không hai. Những tài liệu tôi thu thập được đã giúp tôi viết được một số bài và ra được một cuốn sách nhỏ “trên đất nước Triệu Voi” sau đó.

Một tháng “du ngoạn” của hai phóng viên trên vùng Xiềng Khọ tuyệt đẹp. Lạ nước, lạ dân, vùng giải phóng chưa được mấy ngày, nhưng chúng tôi không gặp một nguy hiểm nào, không một lúc nào bị đói. Số là sau buổi liên hoan chiến thắng, trước khi lui về căn cứ, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đã gặp các phóng viên ở lại xem có yêu cầu gì không, có khó khăn gì không? Chúng tôi bộc bạch tấm lòng: gian khổ không ngại, khó khăn không sờn, ở bao lâu cũng được, chỉ lo… đói thôi. Vì chúng tôi hoạt động đơn độc, không chốn ở cố định, trên không có thủ trưởng, dưới không có hậu cần. Hoàng thân cười tươi: “Có gì đâu, dễ thôi”. Và tự tay ông viết giấy giới thiệu, nội dung rất đặc biệt: “Các huyện trưởng, xã trưởng có nhiệm vụ dẫn đường, cung cấp thức ăn, bố trí nơi ở, bảo vệ an toàn cho các phóng viên Việt Nam”. Dĩ nhiên, các huyện trưởng, xã trưởng nói đây đều là của chính quyền cũ-số đông họ đều được giữ lại làm việc, vì vùng mới giải phóng quá rộng lớn, quá mới mẻ, nên cách mạng chưa có đủ cán bộ phụ trách. Nhờ lá bùa hộ mệnh đó, chúng tôi ung dung làm việc, hoàn thành nhiệm vụ trên giao, không những không đói giữa rừng thiêng mà còn nhiều lần được “ăn cơm Tây”, ngủ giường nệm tại nhà các chức sắc chính quyền cũ vốn có nhiều kinh nghiệm tiếp đãi các quan Tây đóng đồn hay các phìa tạo đi tuần tra. Càng thấy thấm thía uy tín của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, của cách mạng Lào lớn đến thế nào.

Mấy tuần lễ trôi qua, thước phim cuối cùng của Hoàng Thái đã hết. Giấy bút tôi mang theo cũng đã cạn. Chúng tôi tự đánh giá là đã hoàn thành “xuất sắc” nhiệm vụ và tự quyết định cho phép mình về nước. Lễ buộc chỉ cổ tay kết nghĩa đầy lưu luyến. Những giỏ xôi thơm phức trao tay. Những ánh mắt yêu thương như muốn nhìn nhau mãi. Chúng tôi vượt qua biên giới hai nước lúc nào cũng không biết (vì làm gì có mốc như bây giờ). Sông núi, cảnh vật, con người hai nước sao mà hòa quyện với nhau đến thế.

Khắc Tiếp
qdnd.vn