Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Hiệp định Paris qua ảnh, hiện vật

Sáng 23.1, tại nhà triển lãm 29 Hàng Bài, Hà Nội đã khai mạc triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam, trưng bày 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách.

Với nhiều hiện vật quý lần đầu được trưng bày như văn bản gốc Hiệp định Paris, triển lãm đã làm rõ cuộc đấu tranh cam go trên mặt trận ngoại giao kéo dài 4 năm 8 tháng 16 ngày; làm sống lại những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh 40 năm về trước; sự phối hợp giữa ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự giúp đỡ, ủng hộ, cổ vũ của các nước anh em, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Ngoài những bức ảnh chụp các phiên đàm phán dẫn tới việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, triển lãm còn trưng bày hình ảnh chiến thắng trên chiến trường của quân dân ta, sự ủng hộ của bè bạn thế giới. Bên cạnh đó là các hiện vật như hai chiếc bút ký Định ước Paris 1973 và Hiệp định Paris về Việt Nam 1973, chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi phục vụ đoàn Việt Nam ký Hiệp định Paris…

Triển lãm kéo dài đến hết ngày 28.1.

daibieunhandan.vn

Từ hiệp định Paris đến chiến dịch Hồ Chí Minh

Chuyên đề trưng bày Từ hiệp định Paris đến chiến dịch Hồ Chí Minh qua tài liệu lưu trữ đang diễn ra tại Hội trường Thống Nhất TP Hồ Chí Minh. Trưng bày giới thiệu đến công chúng gần 300 tư liệu, hiện vật, hình ảnh liên quan đến hiệp định Paris và chiến dịch Hồ Chí Minh được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Bảo tàng lực lượng vũ trang Quân khu 7, Bảo tàng phụ nữ Nam bộ và do các nhân chứng cung cấp. Trong đó có nhiều hiện vật, tài liệu quý của cố thượng tướng Trần Văn Trà và đặc biệt là chiếc bút của bộ trưởng ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN Nguyễn Thị Bình đã sử dụng để ký hiệp định Paris tại Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber ngày 27.1.1973. Dự kiến chuyên đề trưng bày kéo dài đến ngày 5.9.

TL
daibieunhandan.vn

Trên ván cờ nước lớn: Từ Geneva đến Paris

Không thể loại bỏ lợi ích riêng của Trung Quốc trong việc thuyết phục Việt Nam chịu ký hòa ước Gieneva, nhưng tôi không tin rằng Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chịu ký, hay ít nhất không nhượng bộ về giới tuyến, chỉ vì sức ép, hay sự thuyết phục của Chu Ân Lai, TS Pierre Journoud nói.

LTS: Gần 40 năm đã trôi qua kể từ khi Hội nghị Paris về Việt Nam kết thúc. Từ Geneva đến Paris, và ngay cả trước đó và giai đoạn hiện nay, Việt Nam thường xuyên bị đặt ở tình thế đứng giữa các nước lớn, trên bàn cờ chiến lược. Tuần Việt Nam trò chuyện với TS Pierre Journoud, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Học viện Quốc phòng Pháp, với kì vọng lí giải cho vị thế đặc biệt này của Việt Nam, và tìm gợi ý chính sách cho giai đoạn hiện tại.

TS Pierre Journoud nói: Việt Nam dường như luôn bị kẹt vào thế một con cờ trong bàn cờ của các nước lớn. Đầu tiên là giữa Pháp và Trung Hoa (thời Nguyễn), rồi đến hai phái Cộng sản và Quốc dân Đảng ở Trung Quốc (1945-1946), rồi Pháp – Mỹ một bên và Liên Xô – Trung Quốc một bên tại hội nghị Geneva (1954), rồi Liên Xô và Trung Quốc từ những năm ’60 kéo dài đến hết cuộc chiến ở Campuchia. Bây giờ dường như lại kẹt giữa Mỹ và Trung Quốc trong câu chuyện liên quan đến tranh chấp Biển Đông…

Trung Quốc không muốn láng giềng mạnh

Xin phép ông trở lại thời điểm đàm phán Geneva. Lập trường của phía Chính phủ Hồ Chí Minh ban đầu là giới tuyến tạm thời sẽ là vĩ tuyến 14, thế nhưng cuối cùng họ phải chấp nhận vĩ tuyến 17. Có thông tin nói rằng đây là chủ ý của Liên Xô,  trong một sự đổi chác nào đó với phía Pháp.

Tôi nghĩ rằng người đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục Chính phủ Hồ Chí Minh nhượng bộ là Trung Quốc, chứ không phải Liên Xô.

TS Pierre Journoud nghiên cứu lịch sử thuộc Viện nghiên cứu chiến lược, Học viện Quốc phòng Pháp, chuyên nghiên cứu sự phát triển của các vấn đề chiến lược khu vực Viễn Đông kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Ông đồng thời cũng là giảng viên – nghiên cứu tại trường Đại học Paris I – Sorbonne – Panthéon.

Tôi thì lại nghe rằng người đưa ra ý tưởng là Liên Xô, còn Trung Quốc chỉ là người thực hiện thôi.

Khi bắt đầu cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, và nhất là khi những người cộng sản giành thắng lợi ở Trung Quốc vào năm 1949, Stalin đã trao vai trò ở Đông Nam Á choTrung Quốc. Bởi ông ta không muốn can dự vào Đông Nam Á.

Lý do?

Thứ nhất, bởi Stalin nghi ngại trước việc Hồ Chí Minh không chỉ là một người cộng sản mà còn là một nhà dân tộc chủ nghĩa.

Thứ hai, Stalin còn có quá nhiều mối bận tâm khác ở trong nước và châu Âu. Liên Xô đã để cho Trung Quốc đóng vai trò chủ đạo ở Đông Nam Á, cho đến giữa những năm ’60.

Về phía mình, Trung Quốc có quan điểm là không muốn có những láng giềng mạnh bằng cách chia rẽ họ, nhất là đối với Đông Dương nói chung, và Việt Nam nói riêng. Và điều này đã thể hiện rất rõ trong chính sách họ theo đuổi hiện nay ở khu vực này.

Trong nửa thứ hai của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, và trong cái tạm gọi là khoảng lặng giữa hai cuộc chiến tranh Đông Dương 1954-1964, ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng. Họ trang bị và huấn luyện cho quân chủ lực của Việt Nam để đội quân này trở nên chuyên nghiệp.

Sự hỗ trợ của Trung Quốc đối với Chính phủ Hồ Chí Minh dần chuyển từ tài chính – quân sự sang kinh tế – chính trị. Chắc anh chị còn nhớ Chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã tiến hành cải cách ruộng đất trước sức ép và với tư vấn của chuyên gia Trung Quốc thế nào.

Trung Quốc chưa bao giờ muốn láng giềng mạnh. Ảnh: Lê Anh Dũng

Vâng, chúng tôi có nhớ. Nhưng đó là sự kiện mà nhiều người muốn quên.

Sau cải cách ruộng đất, vì tư tưởng cực đoan của những người tiến hành nó, ảnh hưởng của Liên Xô mới bắt đầu tăng lên. Tức là nó đã giúp làm cân bằng hơn ảnh hưởng của Trung Quốc và Liên Xô đối với Việt Nam (Dân chủ Cộng hòa).

Thế nhưng, lúc đó, Liên Xô vẫn chưa thực sự muốn can dự vào câu chuyện Việt Nam. Có một chi tiết thú vị là năm 1957, Liên Xô đã đề nghị Liên Hợp Quốc kết nạp cả hai nước Việt Nam vào tổ chức này (trước đề nghị của Mỹ về việc kết nạp Việt Nam Cộng Hòa – TS). Bây giờ nghe lại thấy quá buồn cười, phải không? Hà Nội lúc đó cũng thấy hết sức sửng sốt.

Bước ngoặt của sự can dự của Liên Xô vào Việt Nam là sự kiện Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc vào đầu năm 1965, và sau đó đưa quân đội sang tham chiến tại miền Nam.

Mỹ vào Việt Nam vì Trung Quốc?

Theo ông, những nguyên nhân gì dẫn đến việc chính phủ Mỹ quyết định trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam?

Về mặt quốc tế, Mỹ muốn ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản xuống khu vực Đông Nam Á. Tôi nghĩ thắng lợi của những người cộng sản ở Trung Quốc là một nguyên nhân cực kỳ quan trọng buộc Mỹ phải thay đổi chính sách đối ngoại của mình. Chính vì vậy, cho dù Việt Nam không phải là một vị trí quan trọng về mặt chiến lược với Mỹ, nhà cầm quyền nước này vẫn phải có sự can thiệp mạnh mẽ về mặt quân sự.

Chắc anh chị còn nhớ cuộc Chiến tranh Triều Tiên trước đó (1950-1953). Mỹ rất lo ngại rằng cả khu vực này sẽ do người cộng sản thao túng. Bởi Mao Trạch Đông chủ trương giúp sức cho tất cả các đảng cộng sản ở tất cả các nước láng giềng, hay trong khu vực.

Và đó là cái cớ rất tốt cho người Mỹ can thiệp?

Ngoài tư duy của thời Chiến tranh lạnh, liệu còn cái cớ gì hay hơn nữa? Chính Mao Trạch Đông đã nhiều lần lên tiếng ủng hộ các đảng cộng sản trong khu vực tiến hành các cuộc chiến tranh cách mạng ở nước họ. Sự can thiệp của Mỹ có cái lý của nó, bởi lúc đó kẻ thù số một của Mỹ ở khu vực này là Trung Quốc, chứ không phải Việt Nam.

Về mặt quốc nội, trên thực tế, người Mỹ đã can dự vào Việt Nam từ năm 1950, với sự ủng hộ cả về chính trị lẫn kinh tế cho chính quyền Bảo Đại và sau này là chính quyền Ngô Đình Diệm. Các Tổng thống Mỹ, từ Eisenhower đến Johnson, đều tái khẳng định sự ủng hộ với chính quyền Nam Việt Nam, với tư cách một đồng minh quan trọng của Mỹ ở Đông Nam Á.

Trong lúc đó, ở Pháp, cũng trong năm 1954, Tướng De Gaulle lên ngôi Tổng thống. Kể từ đó, trong mọi cuộc gặp gỡ với các tổng thống Mỹ , chẳng hạn với Eisenhower năm 1959, và Kenedy năm 1961, đều ở Paris, ông đều kêu gọi Mỹ hãy “ra khỏi Việt Nam”. Anh chị có thể tìm thấy trong kho lưu trữ, và thấy rằng Tổng thống De Gaulle tỏ ra rất quyết liệt trong lập trường của mình.

Lạ nhỉ?

Ông ta đã nhận thức được sai lầm của nước Pháp trong quá khứ, và cho rằng nên tăng cường quan hệ kinh tế – văn hóa với các nước Đông Nam Á, chứ không phải chính trị, hoặc quân sự. Nhưng, như anh chị thấy, cả Tổng thống Eisenhower lẫn Tổng thống Kennedy đều phớt lờ lời kêu gọi của ông.

Theo nghiên cứu của tôi, chủ yếu ở kho tư liệu của Nam Việt Nam, sau cái chết của Ngô Đình Diệm, vai trò và ảnh hưởng của Mỹ đối với các chính quyền quân sự sau đó, từ Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ, đến Nguyễn Văn Thiệu, chủ yếu là những người Mỹ ở Sài Gòn, chứ không phải ở Washington.

Nếu anh chị có dịp đọc những báo cáo trong kho tư liệu đó, anh chị sẽ thấy chỉ có một số ít tướng lãnh ở Sài Gòn là mong muốn chiến tranh, còn phái dân sự chỉ muốn hòa bình. Và người Mỹ đã lựa chọn ủng hộ thiểu số tướng lãnh hiếu chiến đó, thay vì đa số còn lại, để quyết định trực tiếp can dự vào cuộc chiến tranh Việt Nam năm 1965.

Có một sự chuyển đổi rất thú vị trong giai đoạn ngắn ngủi từ 1963 đến 1965.

Hòa giải các “anh lớn”

Theo ông, liệu sự kiện Vịnh Con Lợn ở Cuba năm 1962 có ý nghĩa gì trong việc thúc đẩy sự can thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam?

Tôi nghĩ nếu đó là nguyên nhân, thì chỉ là nguyên nhân thứ yếu. Câu chuyện đó liên quan tới Liên Xô, chứ không phải với Trung Quốc – mối quan ngại lớn nhất của Mỹ ở khu vực châu Á.

À, tôi nhớ ra rồi. Sau đó chủ thuyết của Liên Xô là cùng tồn tại hòa bình. Cốt lõi của chủ thuyết này là các siêu cường cố gắng phân định với nhau khu vực ảnh hưởng của họ.

Cũng do chủ thuyết này mà có sự rạn nứt sâu sắc giữa hai nước lớn nhất trong phe xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc. Và Việt Nam đã vô tình rơi vào cái khe của vết rạn ngày càng lớn này.

Đúng vậy. Sự chia rẽ giữa Liên Xô và Trung Quốc bắt đầu từ năm 1960, và ông Hồ Chí Minh đã cố gắng hàn gắn sự rạn nứt này, với vai trò một trung gian hòa giải…

Bằng nỗ lực không biết mệt mỏi này, ông Hồ Chí Minh đã rất thành công trong việc tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của cả hai nước đang cực kỳ mâu thuẫn với nhau. Phải nói, về khía cạnh này, ông quá giỏi.

Chỗ đứng của Trung Quốc, từ Gieneva đến Paris

Đi với các nước lớn cũng giống như ta uống thuốc, ta luôn phải chịu tác dụng phụ của nó. Ông có nghĩ với việc cố nuốt trôi “hai viên thuốc lớn” đó, Việt Nam sau này cũng phải chịu những tác dụng phụ? Nói rõ hơn, sau năm 1975, Việt Nam lại bị kéo vào hai cuộc chiến tranh biên giới, một ở phía Bắc, một ở phía Tây Nam…

Tôi nghĩ đó lại là một câu chuyện khác, có nguyên nhân khác. Chứ còn giai đoạn những năm ’50, hay ’60, thực sự Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam với tư cách một đồng minh.

Trong lập luận của ông, tôi có cảm giác rằng mối quan hệ giữa các quốc gia quan trọng hơn là vấn đề hệ tư tưởng?

Tôi nghĩ điều này phụ thuộc vào từng giai đoạn khác nhau. Nói chung, trong quan hệ với Việt Nam, trong suốt thời kỳ từ 1950 đến 1975, mặc dù đã phạm một số sai lầm lớn mang tính chiến lược, Trung Quốc vẫn là một đồng minh lớn của Việt Nam, và đã có những sự giúp đỡ to lớn về quân sự, kinh tế – tài chính.

Nhưng cũng nhờ sự giúp đỡ to lớn để thúc đẩy cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc cũng có cơ hội để bắt tay với Mỹ, để từ đó thoát khỏi thế bị cô lập.

Vâng, cái bắt tay lịch sử giữa Mao Trạch Đông và Nixon.

Phía Mỹ dự đoán rằng Trung Quốc sẽ là một siêu cường trong tương lai, và đó là một cách tiếp cận đúng. De Gaulle đã nhận ra điều này sớm hơn nhiều, từ năm 1964. Ông đã có một quyết định quan trọng là muốn Trung Quốc can dự vào tiến trình hòa bình ở Việt Nam, một quyết định khiến Mỹ phản ứng rất dữ dội.

Nhờ sự giúp đỡ to lớn để thúc đẩy cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc cũng có cơ hội để bắt tay với Mỹ. Ảnh: Lê Anh Dũng

Cuộc gặp của hai nguyên thủ Mỹ và Trung Quốc vào năm 1972, và quan hệ xích lại gần nhau giữa họ đã làm phức tạp mối quan hệ Việt – Trung. Bởi, mặc dù Trung Quốc vẫn tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam, động thái này về chính trị được coi là quá nhạy cảm.

Trước đó, Trung Quốc đã không đồng tình với chiến dịch Mậu Thân của Việt Nam, và sau đó là tiến trình đàm phán hòa bình Paris.

Về chiến dịch Mậu Thân, việc cuộc tấn công diễn ra ngay tại những đô thị lớn ở miền Nam rõ ràng đã đi ngược lại chiến lược của Trung Quốc là lấy nông thôn bao vây thành thị. Còn tiến trình hòa bình Paris, đối với Trung Quốc, chính là một dạng của “cùng tồn tại hòa bình”.

Bước ngoặt quan trọng thứ ba trong quan hệ Việt – Trung, là giai đoạn 1973-1974. Khi đó, Trung Quốc, vì quá lo ngại sự mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô đối với bán đảo Đông Dương, đã có những động thái tăng cường quan hệ với Thái Lan, và nhất là lực lượng kháng chiến Khmer Đỏ. Quan hệ Việt – Trung đã gặp nhiều trở ngại.

Nhượng bộ Geneva không vì sức ép

Vai trò của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam trong hòa ước Geneva và Paris rõ ràng khác nhau. Ở Geneva, Chu Ân Lai đã thuyết phục Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, khi hai người này được bí mật mới sang Trung Quốc, phải có sự nhượng bộ về giới tuyến tạm thời.

Đúng là vai trò của Trung Quốc là quá lớn vào năm 1954. Và cũng không thể loại bỏ lợi ích riêng của Trung Quốc trong việc thuyết phục Việt Nam chịu ký hòa ước. Tôi nghĩ lời đe dọa của Mỹ là sẽ can thiệp quân sự vào Đông Dương thực sự có sức nặng lên bàn đàm phán, và đó là điều Trung Quốc không muốn, bởi họ đã có kinh nghiệm trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, kết thúc một năm trước đó.

Nhưng tôi không tin rằng Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chịu ký, hay ít nhất không nhượng bộ về giới tuyến, chỉ vì sức ép, hay sự thuyết phục của Chu Ân Lai. Họ thực sự hiểu rõ rằng, nếu không ký hòa ước Geneva theo cách đó, Mỹ sẽ nhảy vào Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, người được Tổng thống Dương Văn Minh cử đến trại David để thương thuyết với phía Bắc Việt Nam về ngừng bắn, đã kể rằng vào sang 30.4.1975, ông đã gặp Tướng Vanuxem ở Dinh Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa. Lúc đó, Tướng Vanuxem đã thuyết phục Tổng thống Dương Văn Minh cố giữ thêm vài ba ngày nữa, hoặc chí ít là một ngày, và sẽ có sự can thiệp của phía Trung Quốc. Tướng Vanuxem còn nói rằng đã có sắn đường dây nóng với Bắc Kinh tại tòa lãnh sự Pháp tại Sài Gòn.

Tôi thực sự chưa được nghe câu chuyện này. Tôi nghĩ nó rất thú vị, nhưng khả năng hiện thực hóa là ít.

Trung Quốc, tranh thủ lúc Mỹ bỏ rơi chế độ Sài Gòn, đã chiếm nốt phần còn lại của quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Liệu điều này có gắn với việc họ giúp đỡ Bắc Việt Nam như một đồng minh, nhưng lại không muốn Việt Nam thống nhất, để hưởng lợi, cũng như bắt tay với Mỹ để thoát khỏi thế cô lập?

Về ý đầu tôi đồng ý với anh. Chính sách nhất quán của Trung Quốc từ rất lâu là không muốn thấy những nước láng giềng mạnh, và cách tốt nhất để thực hiện điều đó là chia rẽ họ. Một Việt Nam thống nhất, lớn mạnh và được hỗ trợ bởi Liên Xô thì càng nguy hiểm hơn đối với tham vọng của họ.

Tôi nghĩ việc Trung Quốc muốn bắt tay với Mỹ không phải ngay từ đầu, mà là hệ quả của mâu thuẫn với Liên Xô lên tới đỉnh điểm trong một cuộc chiến tranh qui mô nhỏ ở khu vực biên giới vào năm 1969. Hoảng sợ trước nguy cơ bị Liên Xô chèn ép, Trung Quốc đã tìm cách bắt tay với Mỹ.

Nếu anh chị đọc những bản ghi chép những cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước, anh chị sẽ thấy lãnh đạo Trung Quốc hững hờ thế nào với triển vọng thống nhất Việt Nam, cũng như những chiến thắng về quân sự của Việt Nam ở chiến trường B (miền Nam).

Rất tiếc là chúng ta không có khả năng tiếp cận kho dữ liệu của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam để khẳng định ý đồ đằng sau của Trung Quốc trong việc ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam. Chúng ta chỉ có thể tiếp cận các tài liệu đã giải mật của phía Mỹ, Pháp và một số nước châu Âu khác thôi.

Còn nữa

Huỳnh Phan – Phương Loan
vietnamnet.vn

Hội đàm Paris: Lợi thế đầu tiên

Paris đem lại lợi thế kỹ thuật ban đầu không thể tốt hơn với đoàn đàm phán của VNDCCH và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Khi cuộc đàm phán hòa bình mở ra tại Paris nhằm tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, nhà ngoại giao Dương Văn Quảng đang là một sinh viên được nhà nước cử đi học tại Pháp. Ông chỉ được tham dự vào những ngày cuối của cuộc đàm phán với tư cách một tình nguyện viên giúp việc cho phái đoàn VNDCCH, với công việc cụ thể nhất là ngồi dán các lá thư mời của phái đoàn gửi đến các tổ chức và nhân vật có ảnh hưởng trong chính giới Pháp.

“Có những ngày cần gửi gấp giấy tờ, mà theo đường bưu điện khi đó phải 2-3 ngày mới tới nơi, chúng tôi phải làm một việc là phân chia bưu phẩm theo từng vùng, từng quận trong Paris và các tỉnh lân cận rồi mang đến tận bưu cục của vùng đó để chắc chắn rằng người nhận sẽ nhận được sớm nhất có thể” – ông kể.

Giờ đây, ngồi nhìn lại cuộc đàm phán lịch sử đó trong ngôi nhà số 2 phố Verrier quận 6 Paris, nơi hơn 40 năm trước từng là địa điểm diễn ra nhiều cuộc đàm phán nảy lửa giữa các bên, và giờ là trụ sở của phái đoàn Việt Nam bên cạnh UNESCO mà ông làm Đại sứ, ông Quảng khẳng định: “Paris là địa điểm đàm phán tốt nhất có thể có với phía Việt Nam”.

“Paris hội tụ đầy đủ những gì có lợi cho phái đoàn VNDCCH và MTDTGPMNVN. Nước Pháp chủ nhà đã đóng một vai trò trung lập tuyệt vời. Paris là một trong những trung tâm chính trị quan trọng nhất của thế giới, là nơi thu hút mọi sự quan tâm của giới truyền thông và thuận tiện cho giao thông, liên lạc. Đó cũng là nơi có đông đảo người Việt sinh sống. Chưa kể, phái đoàn VNDCCH và Mặt trận còn nhận được sự giúp đỡ rất lớn của Đảng Cộng sản Pháp, các phong trào công đoàn và đa số dân Pháp ngày đó theo tư tưởng phản chiến”.Với Mỹ, Paris không thân thiện

Thực tế, điều nhà ngoại giao Dương Văn Quảng phân tích, cũng chính là những yếu tố từng khiến chính quyền của Tổng thống Mỹ Johnson e dè khi đề cập đến Paris như là một địa điểm để mở đầu đàm phán. Chính quyền của Johnson từng công khai nhận xét về Paris là “ủng hộ Việt-cộng một cách quá đáng”.

Công kích đó từ phía Mỹ không phải không có cơ sở.

Mùa Thu năm 1966, một cuộc thăm dò dư luận Pháp cho thấy 60% người Pháp cho rằng tình hình chiến sự tại Việt Nam có nguy cơ gây ra Thế chiến 3 và 68% cho rằng người Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam.

Những năm cuối thập kỷ 60 là quãng thời gian mà các phong trào xã hội dâng cao trong lòng nước Pháp với các chủ đề nóng bỏng như chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản và đòi hỏi thay đổi những giá trị truyền thống. Cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam, vì thế, lấy được rất ít sự cảm thông từ người Pháp.

Điều Johnson ngại hơn nữa là thái độ của De Gaulle, nhân vật có tư tưởng tự cường, không phụ thuộc vào Mỹ, và bị nhiều nhà ngoại giao Mỹ đả kích là “chỉ hả hê khi nhìn Mỹ thất bại”. Johnson sợ rằng việc đàm phán ở Paris sẽ chỉ mang lại thêm hào quang cho De Gaulle. Tuy nhiên, Johnson sau này cũng xuôi tai khi được Averell Harriman thuyết phục rằng sự hiện diện của những chuyên gia Pháp am hiểu Việt Nam như Manac’h hay Sainteny  có thể giúp ích rất nhiều cho các cuộc đàm phán.

Bên cạnh đó, John Gunther Dean cũng báo cáo về Washington rằng bất chấp sự phản đối chính thức từ phía chính phủ Pháp (về các giải pháp quân sự của Mỹ), sự thù địch của cộng đồng người Việt và báo chí Pháp… Paris vẫn có nhiều lợi thế hơn bất lợi bởi đó là thành phố lớn, nơi có mặt tất cả các phái đoàn ngoại giao dễ tham vấn, dễ đi lại, dễ tổ chức các cuộc gặp chính thức hay bí mật và người Pháp có thể hữu ích trong các kế hoạch hậu chiến.

Harry McPherson, cố vấn thân cận và là người chuyên viết diễn văn cho Johnson, thì tuyên bố đầy khẳng khái rằng “là nước lớn, Mỹ không thể từ chối Paris, kể cả khi De Gaulle có ý đồ xấu”. Cuối cùng, so với Warsaw mà Hà Nội từng muốn chọn, Paris dĩ nhiên vẫn tốt hơn với người Mỹ.

Người Pháp tất nhiên hiểu rằng cũng cần có những bù đắp nhất định để người Mỹ không cảm thấy quá thiệt thòi. Việc chọn địa điểm đàm phán chính thức ở nhà số 19 đại lộ Kleber trong quận 16, Paris là theo yêu cầu của phía Mỹ. Washington muốn một “địa điểm khiêm tốn” trong Paris vì không muốn “tô điểm” cho đối thủ trong khi phía Pháp, do lo ngại các cuộc biểu tình, muốn chọn một địa điểm nằm ngoài Paris, mà dự định lại là Cung Hội nghị hoành tráng ở lâu đài Versailles. Dự định này được Hà Nội ủng hộ.

“Anh em cộng sản” & Việt kiều

Với phái đoàn VNDCCH, và sau này thêm cả Mặt trận, những lo ngại nhanh chóng được thay thế bởi các trợ giúp quý giá. Tờ báo “L’Humanité – Nhân đạo”, của đảng CS Pháp (PCF) thống kê, từ tháng 5/1968 đến tháng 1/1973, trong 203 cuộc họp của Ban Bí thư Đảng CS Pháp, chủ đề Việt Nam xuất hiện trong 125 cuộc, đàm phán Paris trực tiếp đề cập trong 29 cuộc. Ở Bộ chính trị đảng CS Pháp, trong 171 cuộc họp thì 41 cuộc nói về Việt Nam và 10 cuộc trực tiếp bàn về tình hình đàm phán. Khi những nhà ngoại giao Việt Nam đặt chân đến Paris đàm phán thì các lãnh đạo PCF cũng ra lời kêu gọi một cuộc đấu tranh “của hai đảng anh em” nhằm tìm kiếm hòa bình cho Việt Nam.

Bên cạnh nỗ lực chính trị, Đảng CS Pháp, với mạng lưới cơ sở lớn, đã trực tiếp giúp đỡ nhiều về vật chất cho phái đoàn VNDCCH và Mặt trận. Ngôi nhà mà phái đoàn miền Bắc ở tại thành phố Choisy-le-Roi, của Mặt trận tại Verriere-le-Buison, căn nhà đàm phán bí mật Lê Đức Thọ-Kissinger tại Gif-sur-Yvette… tất cả đều là cơ sở kinh tài của đảng CS Pháp. Ngay cả những nhân viên an ninh, lái xe, người phục vụ các bữa ăn… cũng được đảng CS Pháp thuê và trả lương để phục vụ phái đoàn.

Để đấu tranh dư luận, vũ khí lợi hại nhất mà những người cộng sản Pháp cung cấp cho phái đoàn Việt Nam là tờ báo “L’Humanité – Nhân đạo”, một trong những tờ báo lớn tại Pháp. Tờ báo này đăng tải hầu như hàng ngày mọi tiến triển của hội đàm, những bài viết hay thông cáo báo chí từ các phái đoàn VNDCCH và Mặt trận, đồng thời đả kích các luận điểm từ phía Mỹ.

Trong diễn văn đọc tại Marseille ngày 30/11/1969, Raymond Guyot, khi đó là Ủy viên Bộ chính trị, phụ trách ban quốc tế đảng Cộng sản Pháp, đã giao nhiệm vụ cho L’Humanité là “Thông tin, thông tin nữa, bằng mọi phương tiện”.

Huy động các phong trào xã hội khác cùng tham gia biểu tình ủng hộ hòa bình ở Việt Nam cũng là một đóng góp khác có sức nặng của đảng CS Pháp cho Hà Nội trong việc gây sức ép với Mỹ trong đàm phán. Bà Helen Luc, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt, một trong những thành viên tích cực của những cuộc vận động đó, kể: “chúng tôi đã thực hiện những chiến dịch nhân đạo lớn như chiến dịch 100 triệu. Chúng tôi cũng thường xuyên liên kết với 52 tổ chức hữu nghị với Việt Nam và Phong trào Hòa bình để tổ chức các cuộc biểu tình, mit-ting lớn nhằm chống leo thang chiến tranh ở Việt Nam hay trực tiếp là thúc đẩy cuộc đàm phán tiến lên phía trước”.

Song song với những người cộng sản Pháp, phái đoàn VNDCCH và Mặt trận còn nhận được sự giúp đỡ hầu như không suy tính từ rất đông cá nhân trong cộng đồng người Việt sinh sống tại Pháp. Ở thời điểm đó, Pháp là quốc gia có đông người gốc Việt sinh sống nhất trên thế giới và việc nhiều gia đình người Việt bao bọc, giúp đỡ thành viên phái đoàn là chuyện không hiếm. Có người phụ trách y tế, người chuyên nấu các bữa ăn Việt Nam, người phiên dịch… nói chung là tất cả những gì có thể làm được. Có những gia đình đã coi các thành viên đoàn đàm phán như người thân trong nhà và cả gia đình đó được coi là “thế hệ Hiệp định” bởi tất cả từ cha mẹ, con cái đều gắn bó với 5 năm đàm phán dài đẵng đẵng tại Paris.

(còn tiếp)

Bùi Nguyễn
vietnamnet.vn

—————————–

Tư liệu:

  • Vietnam 1968-1976: Exiting a War (Pierre Journoud & Cécile Menétrey-Monchau)
  • Le Parti communiste francais et les négociations de Paris (Sylvain Pons, 2008)
  • Le Parti communiste francais et l’action de solidarité avec le Vietnam (Goscha, C.Vaisse)
  • L’Europe et la guerre du Vietnam, 1963-1973 (Brussels, Bruylant 2003)

Hội đàm Paris đã mở ra như thế nào?

 Những ý tưởng đầu tiên về một cuộc hội đàm bắt đầu năm 1967, năm mà Bộ Chính trị ở Hà Nội cũng nhận định phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao song song với những thắng lợi quân sự trên chiến trường.

Ai phá vỡ Hiệp định Paris 1973?
Hòa đàm Paris 1968: Áp lực gia tăng
Hòa đàm Paris 1968: ‘Hãy đừng bị lừa dối’
Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn
Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson
Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?
Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?

Sau khi De Gaulle chính thức mở lại “hồ sơ Đông Dương” năm 1963, trong đó chống lại việc chia cắt Việt Nam và ủng hộ những nỗ lực trung lập hóa Đông Dương, nước chủ nhà của Hội nghị Paris đã hướng tầm nhìn đến các cuộc đàm phán mang lại giải pháp chính trị thay vì quân sự.

Các nhà ngoại giao chuyên nghiệp thuộc nằm lòng những nguyên tắc vàng trong việc lựa chọn  địa điểm đàm phán. Lý tưởng nhất, đó là cuộc đàm phán được tổ chức ngay tại nước mình, nơi đảm bảo được tất cả các điều kiện về bảo mật, thông tin, khả năng ứng biến và sự ủng hộ của công luận. Nhưng trong thông lệ đàm phán quốc tế, khả năng đó ít xảy ra do những yêu cầu tối thiểu về sự khách quan, vì thế, lợi thế kỹ thuật tốt nhất khi bước vào đàm phán là địa điểm đàm phán nằm trên một lãnh thổ không thù địch.

Khi những cuộc tiếp xúc bí mật  đầu tiên giữa phía Việt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH) và Mỹ diễn ra vào tháng 3/1968, hai phía Mỹ và Việt Nam chưa có một ý tưởng cụ thể nào về địa điểm đàm phán. Sau đó, phía Việt Nam nêu ra Phnompenh (Campuchia) và Warsaw (Ba Lan) trong khi Mỹ từng có ý định đàm phán tại Indonesia.

Nhà ngoại giao Võ Văn Sung, thành viên đoàn đàm phán bí mật Lê Đức Thọ-Kissinger và là Đại sứ đầu tiên của VNDCCH tại Pháp, có kể lại trong 2 cuốn Hồi ký “Chiến dịch Hồ Chí Minh trong lòng Paris” và “Câu chuyện trái nghề” rằng việc lựa chọn địa điểm  đàm phán ngày đó cũng không kém phần quyết liệt. Đề xuất chọn Phnompenh và Warsaw của phía Việt Nam bị Mỹ từ chối và sau đó chính quyền của Tổng thống Johnson chỉ đồng ý khi địa điểm là Paris. Trong ký ức của ông Võ Văn Sung thì ông chính là người đề xuất họp ở  Paris và trước đó Bộ Chính trị cũng có  suy nghĩ này nên khi Vụ phương Tây của ông đưa đề xuất lên đã được chấp thuận ngay. Nước Pháp chủ nhà khi đó bị đánh giá là “cũng bị động”.

Tuy nhiên, nhiều học giả và nhà ngoại giao Pháp ngày nay nhìn lại câu chuyện khởi điểm đó và có những đánh giá khác về quá trình lựa chọn Paris và vai trò của nước Pháp.

Tầm nhìn từ De Gaulle

Henri Froment Meurice từng là Vụ trưởng Vụ châu Á-châu Đại dương của Bộ Ngoại giao Pháp cuối thập niên 60, đã mô tả rất kỹ những trải nghiệm của ông trong Hồi ký “Journal d’Asie”, mà phần quan trọng nhất chính là việc nước Pháp làm thế nào để tổ chức cuộc hòa đàm Paris và tìm cách để lại ảnh hưởng của mình.

Meurice kể: “Sự hiện diện của những nhà đàm phán tại thủ đô (Paris) trao cho nước Pháp khả năng đóng một vai trò mà chắc chắn sẽ không có được nếu cuộc đàm phán diễn ra ở một nơi nào khác như Vienne hay Geneve. Ở Paris, nước Pháp có thể, thông qua các con bài của mình, tạo ra một số ảnh hưởng. Sự hiểu biết của nước Pháp với các chính trị gia ở Đông Dương, bầu không khí tốt đẹp với Washington  mà (Tổng thống) Georges Pompidou mang lại, cho phép nước Pháp nhận được sự tín nhiệm của tất cả các bên, chính thức hay không chính thức, để có thể luân chuyển các thông điệp, đôi khi là đề xuất các ý tưởng. Không cần phóng đại những việc này nhưng hiệu quả của chúng, mà như thừa nhận của các bên tham gia, là rất hữu ích”.

Thực tế thì những người Pháp không bị động, họ thậm chí còn là những người đã đoán trước tình thế tại Đông Dương. Trong giới học giả và ngoại giao Pháp, bài phát biểu của Tướng De Gaulle tại Phnompenh năm 1965 vẫn được coi là “sách Thánh”, là những lời phát biểu có tính tiên tri về diễn biến các cuộc chiến tại vùng đất từng do Pháp cai quản. Trong Tuyên bố đó, De Gaulle đã nhận định rằng cuộc chiến của Mỹ ở Đông Dương sẽ không thể có một kết cục bằng quân sự mà phải có giải pháp chính trị và Mỹ cần rút quân khỏi Đông Dương theo một lộ trình hợp lý.

Vào thời điểm đó, De Gaulle hiện diện như một nhân vật chính trị mạnh mẽ theo đường lối độc lập, không phụ thuộc vào Mỹ. Nước Pháp dưới thời De Gaulle đã rút ra khỏi Bộ chỉ huy NATO và những phát biểu của De Gaulle được mổ xẻ trong tư duy của những nhà ngoại giao Mỹ là “đáng ngờ và mang xu hướng của những kẻ hằn học”.

Bầu không khí nghi kỵ tồn tại giữa Paris và Washington và Tổng thống Johnson đã không xem xét một cách nghiêm túc cảnh báo của De Gaulle rằng về lợi ích lâu dài của phương Tây, cần trung lập hóa Đông Dương và nếu theo đuổi chiến tranh, nước Mỹ có thể bị sa lầy rồi thất bại giống như nước Pháp trước đó.

Ông Lê Đức Thọ tại buổi họp báo. Ảnh Corbis.

Kênh ngầm

Nhưng những nỗ lực ngoại giao vẫn chảy theo kênh ngầm. Dù De Gaulle công khai thể hiện sự thất vọng và chỉ trích đối với chiến lược leo thang chiến tranh chống lại miền Bắc Việt Nam của Johnson, ông vẫn bật đèn xanh cho các nhà ngoại giao Pháp thực hiện các vai trò trung gian.

Những ý tưởng đầu tiên về một cuộc hội đàm bắt đầu năm 1967, năm mà Bộ  Chính trị ở Hà Nội cũng nhận định phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao song song với những thắng lợi quân sự trên chiến trường.

Ở Quai d’Orsay (Bộ Ngoại giao Pháp), người khởi sự công việc chắp nối các đầu mối này là Etienne Manac’h, khi đó là Vụ trưởng Vụ châu Á.  Manac’h là người thân cận với De Gaulle và có tiếng nói khá độc lập, thậm chí không ngần ngại chỉ trích De Gaulle, nên được coi là một chuyên gia am hiểu, quyết đoán, độc lập và thành thật. Nhưng để tránh kéo chính phủ Pháp dính líu vào những nỗ lực chính trị còn chưa định hình, Manac’h hoạt động đơn độc với tư cách cá nhân.

Đầu tiên ông liên hệ với John Gunther Dean, tham tán chính trị Sứ quán Mỹ tại Paris, người cũng được Đại sứ Mỹ bật đèn xanh để duy trì một kênh liên lạc kín với những bên quan tâm đến một giải pháp ngoại giao. Dean sau này là một nhà ngoại giao Mỹ nổi bật, từng là Đại sứ Mỹ tại 5 quốc gia, gồm Campuchia (1974-1975), Đan Mạch (1975-1978), Liban (1978-1981), Thái Lan (1981-1985) và Ấn Độ (1985-1988).

Manac’h đã kiên trì thuyết phục Dean về những điểm lợi của việc ngừng ném bom và  nhất là việc xem xét một cách nghiêm túc phát biểu chính thức của Bộ trưởng Ngoại giao VNDCCH Nguyễn Duy Trinh rằng việc tiếp tục ném bom miền Bắc Việt Nam là trở ngại duy nhất cho việc mở ra các cuộc đàm phán.

Song song với đó, Manac’h có nhiều cuộc gặp với ông Mai Văn Bộ, Trưởng phái đoàn Ngoại giao VNDCCH tại Paris, để nắm rõ lập trường của Hà Nội, sau này thể hiện cụ thể trong tuyên bố của Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh ngày 29/12/1967: “Sau khi Mỹ ngừng ném bom vô điều kiện, VNDCCH sẽ đàm phán với Mỹ”. Manac’h đã nhận sự tái khẳng định của thông điệp này từ ông Mai Văn Bộ và lập tức chuyển tới Washington.

Cho đến đầu năm 1968, khi De Gaulle đã chắc chắn rằng việc mở ra một đàm phán giữa Mỹ  và các phe phái ở Việt Nam là không tránh khỏi, ông đã hành động chính thức bằng việc thông qua Giáo sư Andre Roussel, Chủ tịch Hiệp hội Y khoa Pháp-Việt để nhận được những phản ứng từ phía Hà Nội về một cuộc hội đàm ở Paris.

Câu trả lời phía Pháp nhận được từ Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau chuyến thăm của bác sỹ Roussel đến Hà Nội là tích cực, “VNDCCH mở cửa cho tất cả”, dù ông Phạm Văn Đồng cũng không quên cảnh báo rằng nước Pháp “không can dự vào chuyện Việt Nam”.

Ngay sau những nỗ lực đó, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân diễn ra và đã gạt bỏ  hẳn những dè dặt từ phía chính quyền Johnson về sự cần thiết phải ngừng ném bom và mở  ra đàm phán. Sau nhiều tuần do dự, ngày 31/3/1968, Johnson tuyên bố đơn phương chấm dứt ném bom một phần miền Bắc và đồng ý mở cuộc đàm phán giữa các đại diện Việt Nam và phía Mỹ. Ông cũng tuyên bố mình sẽ không ra tham dự cuộc đua trở thành ứng cử viên đảng Dân chủ tham gia cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ tháng 11 năm đó.

Ngôi nhà số 11 phố Darthe, thành phố Choisy le Roi thuộc về Đảng cộng sản Pháp, nơi diễn ra nhiều cuộc đàm phán bí mật giữa phái đoàn VNDCCH và phía Mỹ. Ảnh Bùi Nguyễn.

Hai bên quan trọng nhất của hội đàm coi như đã đồng ý trên nguyên tắc về  những cuộc thảo luận tại Paris, việc tiếp theo là thuyết phục chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ngồi vào bàn đàm phán theo phương án mà các bên muốn hướng tới. Ngay sau khi nhận được sự ủng hộ từ Hà Nội, Văn phòng Tổng thống De Gaulle cử ngay một phái viên, mà danh tính được giữ kín, đến Sài Gòn. Phái viên này bí mật đến Sài Gòn vào trung tuần tháng 4/1968 và làm một công việc gần giống với bác sỹ Andre Roussel đã làm vài tháng trước tại Hà Nội, đó là phía Pháp hứa hẹn những giúp đỡ từ Paris dựa trên trách nhiệm đạo đức mà Pháp cảm thấy phải gánh vác tại Đông Dương. Vị phái viên này còn trấn an chính quyền VNCH rằng việc Pháp xích lại gần Hà Nội là một tính toán nhằm cân bằng ảnh hưởng của Bắc Kinh đối với chính phủ VNDCCH. Cuộc du thuyết mang lại kết quả tích cực.

Ngày 23/4, trong một cuộc trả lời phỏng vấn tờ Evening Star, Ngoại trưởng chính quyền VNCH khi đó là Trần Văn Đỗ khẳng định rằng chính quyền Sài Gòn không phản đối việc lựa chọn Paris làm địa điểm cho các bên đối thoại. Nước Pháp đã biết là cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam đều không phản đối Paris. Trước đó 5 ngày, Ủy ban đối ngoại Quốc hội Pháp cũng đã phát đi tín hiệu cho biết nước Pháp sẽ không phản đối nếu chính phủ Mỹ và VNDCCH chọn Paris làm địa điểm đàm phán. Sau hơn 1 tháng của những nỗ lực ngoại giao con thoi căng thẳng, hội đàm Paris chính thức mở ra vào ngày 3/5/1968…

(còn tiếp)

Bùi Nguyễn
vietnamnet.vn

Tư liệu:

  • Vietnam 1968-1976: Exiting a War (Pierre Journoud & Cécile Menétrey-Monchau)
  • Les révolutionnaires vietnammiens et sa lutte sur les “trois front” en 1968 (Rolland, D and Faure)
  • Hanoi’s Diplomatic struggle during the American War – Pierre Asselin
  • L’Europe et la guerre du Vietnam, 1963-1973 (Brussels, Bruylant 2003)

HN Paris: Điều gì thực sự xảy ra 40 năm trước?

Giữ chức Vụ trưng Vụ châu Á- châu Đại dương Bộ Ngoại giao Pháp từ 1969-1975, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trung gian giữa các bên đàm phán Hiệp định Paris, nhà ngoại giao Pháp Henri Froment-Meurice nhìn lại những gì thực sự xảy ra từ hơn 40 năm trước.

Hoài nghi

Ông Henri Froment-Meurice: …Năm 1969, tôi nhậm chức Vụ trưởng Vụ châu Á – Bộ Ngoại giao Pháp. Khi đó thì các cuộc hội đàm đã được tiến hành ở Paris. Với nước Pháp, vai trò thể hiện ở Hiệp định Paris vừa đơn giản, vừa phức tạp. Đơn giản vì với tư cách là chủ nhà khi đó, chúng tôi có đủ các điều kiện thuận lợi. Nước Pháp có quan hệ với tất cả các bên, với hai miền Bắc và Nam Việt Nam, dù chưa phải là quan hệ cấp đại sứ nhưng chúng tôi có phái đoàn ngoại giao ở Hà Nội và Lãnh sự quán ở Sài Gòn. Về mặt kỹ thuật, nước Pháp đơn giản là tạo được những điều kiện thuận lợi nhất cho các bên đàm phán.

  • Nhưng phức tạp, vì nước Pháp cũng có thể coi là một nhân tố trong đàm phán. Chúng tôi đóng vai trung gian trong các cuộc thương lượng, đưa ý kiến bên này đến bên kia, và đôi khi đưa ra cả các cam kết và ý tưởng.
  • Trong các điều khoản của Hiệp định Paris được ký kết, có không ít đến từ các đề xuất của Pháp. Trước đàm phán, miền Bắc Việt Nam cương quyết với điều kiện Mỹ rút quân, Washington kiên quyết phải có ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam. Hiệp định Paris đã thỏa mãn được cả hai điều đó, tức vừa có ngừng bắn, vừa có một giải pháp chính trị sau khi Mỹ rút quân. Với nước Pháp, đó là điều rất đáng hài lòng.
  • Với cá nhân tôi, Hiệp định Paris mang lại cả sự hài lòng lẫn hoài nghi. Hài lòng vì chiến tranh kết thúc. Cuộc chiến Việt Nam gây ra quá nhiều mệt mỏi, tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ quốc tế và để lại những thảm họa nhân đạo. Điều tốt nhất, đó là kết thúc chiến tranh. Nhưng bên cạnh đó là sự hoài nghi là Hiệp định này sẽ không được tôn trọng. Cảm giác đó giống như sau Hiệp định Geneve năm 1954.
  • Tôi nghĩ rằng với nhiều người Việt Nam, Hiệp định Paris được coi là một thắng lợi bởi đã đuổi được người Mỹ…
  • Anh nói điều mà chính tôi lo ngại lúc nãy. Hà Nội muốn đàm phán và đã ký một Hiệp định. Hiệp định này là một giải pháp chính trị, có việc thành lập một chính quyền chung ở miền Nam, có giải pháp về lực lượng thứ 3, có việc tiến tới bầu cử một cách hòa bình và dân chủ. Nhưng thực tế nó đã chỉ được coi như là một Hiệp định đình chiến. Sự hoài nghi của tôi chính vì lẽ đó: một khi người Mỹ rời đi, sẽ có rất ít khả năng hai miền Bắc, Nam Việt Nam không tiếp tục cuộc chiến.
  • Chúng ta tạm bỏ qua tranh luận này. Tôi muốn hỏi là với tư cách là người trong cuộc, theo ông tại sao cuộc đàm phán ở Paris kéo dài đến 5 năm trong khi ban đầu người ta nghĩ nó có thể trong vài tháng, hoặc cùng lắm là 1-2 năm?
  • Các bên đàm phán có những yêu cầu kiên quyết  không nhượng bộ. Phía miền Bắc Việt Nam quyết không chịu đàm phán với chính quyền Thiệu và đòi người Mỹ phải rút nhưng với người Mỹ thì không có chuyện bỏ rơi Thiệu. Đó là điều căn bản. Ngoài ra còn có những vấn đề khác, tuy ít quan trọng hơn. Đó là phải tìm kiếm một giải pháp chính trị kiểu gì ở miền Nam Việt Nam. Trước hay sau Thiệu, có hay không có Thiệu…

Những người ở miền Nam Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc, nhưng bị gọi đơn giản là “con rối của người Mỹ”.

Bên cạnh đó, vẫn còn một cuộc chiến tranh đang diễn ra mà khi đó không ai dám nói trước rằng người Mỹ sẽ thua vì rõ ràng tương quan lực lượng lúc đó không nghiêng về phía miền Bắc Việt Nam. Có các trận đánh trên các chiến trường, nhưng người Mỹ có sự vượt trội về không quân, về các máy bay ném bom rất hiệu quả đến tận những ngày cuối cùng của chiến tranh. Ngoài ra, có một bộ phận dân chúng ở miền Nam Việt Nam hoàn toàn chưa sẵn sàng để chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, vì họ là những người “quốc gia”.

Ở đây tôi muốn đặt chủ đề này trong ngoặc kép. Ngày đó, tôi thực sự rất sốc khi một vài đồng hương của tôi trong chính phủ và Quai d’Orsay (BNG Pháp), coi Hồ Chí Minh là một người dân tộc chủ nghĩa tốt. Đúng, đó là một người dân tộc chủ nghĩa nhưng cũng là một người cộng sản.

Không thể quên hoàn cảnh quốc tế thời đó. Chúng ta đã có một cuộc chiến Triều Tiên, giữa những người cộng sản và những người dân tộc, kết thúc là sự chia cắt hai miền. Những người ở miền Nam Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc, nhưng bị gọi đơn giản là “con rối của người Mỹ”.

Đúng là chính quyền miền Nam VN được Mỹ hậu thuẫn nhưng cũng giống như miền Bắc được Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ.

Ngày đó, với người Mỹ và cả chúng tôi, cuộc chiến ở Đông Dương là một mặt trận để ngăn chủ nghĩa cộng sản lan ra toàn châu Á. Không cần phải phủ nhận điều này bởi thời kỳ đó là Chiến tranh lạnh, giữa phương Tây và một bên do Liên Xô cầm đầu. Cần phải đặt tất cả vào bối cảnh.

Ông có viết trong cuốn “Nhật ký châu Á” của mình rằng ông tin chiến thuật của người Mỹ trong đàm phán Paris giống như những gì Henry Kissinger viết trên tờ “Foreign Affairs” tháng 1/1969. Tôi xin trích lại: đàm phán, ít nhiều trực tiếp, hoặc qua các “tín hiệu”, với Hà Nội về việc đồng rút các lực lượng, đàm phán đủ lâu để dần dần tạo được đối thoại giữa Sài Gòn và Mặt trận về cấu trúc chính trị tương lai của miền Nam (Việt Nam). Thời gian là yếu tố then chốt để Sài Gòn tự củng cố thực lực”. Từ chi tiết này, thì việc kéo dài đàm phán quá lâu cũng là ý của người Mỹ?

Không phải chỉ có người Mỹ khiến đàm phán kéo dài, vì đàm phán có 4 bên chứ đâu riêng người Mỹ. Nhưng tôi nhận thấy, có những giai đoạn cứng rắn giữa các bên khiến đàm phán không tiến triển.

Trong giai đoạn cuối của đàm phán, có một sự tắc nghẽn, đặc biệt là từ tháng 10/1972 đến tháng 01/1973. Tại sao Mỹ lại ném bom với cường độ ác liệt như thế? Ở đây tôi nghĩ có sự cứng rắn quá mức từ các phía. Lúc đó tôi đã không hiểu được những gì Hà Nội đang suy tính còn Sài Gòn thì rõ ràng là không hài lòng về việc tương lai của mình chỉ được đàm phán thông qua Lê Đức Thọ và Kissinger. Nói chung là đó là sự tắc nghẽn từ nhiều phía.

Theo ông biết, có một sức ép nào không, như từ Trung Quốc chẳng hạn?

Có thể, nhưng tôi hoàn toàn không biết chắc về điều này.

Bà Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn báo chí. Ảnh tư liệu.

Trở lại với các giai đoạn đàm phán. Ban đầu người Mỹ cương quyết không chấp nhận nói chuyện với Mặt trận. Là người làm nhiệm vụ con thoi giữa các bên, ông nhận thấy sự thay đổi của phía Mỹ bắt đầu từ thời điểm nào?

Thú thực là tôi không nhớ chính xác ngày tháng, nhưng theo sự hiểu biết của tôi, mọi thay đổi đều bắt đầu từ các cuộc hội đàm giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.

Theo như tôi biết, Kissinger chưa bao giờ gặp bà Nguyễn Thị Bình và cấp phó của bà cũng không có tiếp xúc trực tiếp nào với các nhà ngoại giao Mỹ. Ban đầu, có sự từ chối giữa các bên, Mỹ không chấp nhận đối thoại với Mặt trận, Mặt trận không chấp nhận nói chuyện với Sài Gòn, nhưng cơ bản là thái độ từ phía chính quyền ông Thiệu.

Ông Thiệu không muốn có một bản Hiệp định được ký kết chỉ từ những đàm phán của Hà Nội và Washington nên phản đối và gây sức ép. Việc Mỹ chấp nhận Mặt trận và Hà Nội chấp nhận ông Thiệu vào bàn đàm phán là một sự nhượng bộ giữa các bên.

Điểm quan trọng nhất trong Hiệp định Paris là việc rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam. Điều này cũng nằm trong tầm nhìn và ý muốn của người Pháp, từ sau Tuyên bố Phnompenh của Tướng De Gaulle rằng Mỹ cần có một lộ trình rút quân và Đông Dương cần một giải pháp chính trị. Có sự thúc đẩy hay thuyết phục nào từ phía người Pháp với phía Mỹ trong chuyện này không?

Tuyên bố của tướng De Gaulle ở Phnompenh nói rằng Mỹ không thể chỉ dựa vào duy nhất giải pháp quân sự mà còn cần cả giải pháp chính trị. Đó là quan điểm cốt lõi của nước Pháp.

Các diễn biến ở Việt Nam cho thấy là rất ít có khả năng chỉ có một giải pháp quân sự đơn thuần từ bên này hay bên kia. Phía Mỹ cũng nhận ra rằng họ không thể trông cậy vào duy nhất giải pháp quân sự. Họ không thể đưa đến 300 ngàn quân vào Việt Nam để đẩy lùi quân đội miền Bắc ra khỏi miền Nam. Người Mỹ không thể hy vọng vào một chiến thắng hoàn toàn về quân sự. Tình thế đó là một ngõ cụt quân sự và Mỹ phải chấp nhận đàm phán.

Các ông Lê Đức Thọ, Xuân Thủy chắc cũng nói với người Mỹ điều chúng tôi cũng nói, tức dần dần phải tìm một giải pháp chính trị. Nhưng giải pháp chính trị kiểu gì? Cơ chế và thiết chế chính trị kiểu gì? Lịch trình ra sao? Một chính phủ hay hai chính phủ? Hai thành phần hay ba thành phần?…

Tôi tin rằng nước Mỹ khi đó có sự thay đổi lớn trong nội bộ. Có những phái diều hâu, phái ít diều hâu hơn. Nixon, tôi nghĩ, là nằm ở giữa. Cũng nên nhớ rằng năm đó (11/1969) là cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ và Nixon cần phải tái cử. Vì thế, người Mỹ cần phải có một kết quả hợp lý, một cái gì đó có thể coi là chiến thắng. Khi Hiệp định Paris được ký kết thì họ đã thắng ở điểm này, tức Thiệu vẫn ở đó trong khi Hà Nội thì muốn Thiệu phải ra đi trước đó.

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, McNamara từng nhận định rằng “số cơ hội bỏ lỡ là không thể tin được”. Qua quan sát của ông trong từng đó năm, liệu có tồn tại thực sự những thời điểm mà đàm phán có thể kết thúc sớm hơn, thay vì phải sau những chiến dịch quân sự khốc liệt?

Thật khó trả lời câu hỏi này, vì tôi, thậm chí là cả Tổng thống George Pompidou cũng không biết được là Kissinger và Lê Đức Thọ bàn nhau những gì trong các cuộc gặp bí mật. Những gì tôi biết rõ nhất đó là có rất nhiều lần đàm phán thất bại, các đoàn đến rồi đi và chúng tôi làm trung gian nối lại.

Ở đây, tôi muốn nói đến một sự thay đổi từ chính quan điểm của nước Pháp. Sau khi tướng De Gaulle ra đi và George Pompidou lên làm Tổng thống, nước Pháp có một sự thay đổi rõ rệt trong quan điểm liên quan đến Hiệp định Paris, đó là ít can dự hơn. Tổng thống Pompidou không muốn chọc giận người Mỹ nữa. Chuyện Nixon muốn kết thúc chiến tranh, muốn rút quân khỏi Việt Nam, tốt thôi, đó là chuyện của họ, không nên gây phiền phức. Thái độ của nước Pháp đã là như thế cho đến khi kết thúc đàm phán ở Paris.

Ông có thể nói rõ hơn không?

Dưới thời Pompidou, quan hệ Pháp-Mỹ được cải thiện, vì chúng tôi hiểu rằng người Mỹ hoàn toàn không thích Tuyên bố Phnompenh của De Gaulle. Cá nhân tôi cũng bị sốc với tuyên bố đó của tướng De Gaulle. Sao lại có chuyện tướng De Gaulle đòi người Mỹ phải rời khỏi Việt Nam và ấn định một thời hạn rút quân.

Đặt giả thuyết là Tổng thống Mỹ đến Tunis hay Rabat trong thời kỳ chiến tranh của Pháp ở Algeria và tuyên bố là “người Pháp cần phải biến khỏi đây”. Có sốc không? Hoàn toàn sốc.

Dĩ nhiên, tuyên bố đó của tướng De Gaulle sẽ được các phong trào dân tộc và cộng sản hoan nghênh, nhưng vấn đề là nó lại được coi như “Kinh thánh” khiến các chính phủ kế tiếp tướng De Gaulle rất khó mà ít can dự vào chuyện ở Đông Dương. Tất nhiên, điều chính xác đó là tuyên bố đó đã nói được rằng không thể chỉ có một giải pháp quân sự mà cần phải có giải pháp chính trị.

Thời gian đã qua rất lâu. Ông đã tiếp xúc với nhiều nhân vật lịch sử của cả miền Bắc lẫn miền Nam Việt Nam. Cuối cùng, ấn tượng cá nhân ông giữ lại về họ là gì?

Tôi thường xuyên xuống Choisy le Roi (nơi ở của phái đoàn VNDCCH), đã nhiều lần tiếp xúc với các ông Xuân Thủy, Mai Văn Bộ, Võ Văn Sung, Hà Văn Lâu. Tôi cũng một vài lần gặp ông Lê Đức Thọ. Tôi cũng tiếp xúc với các nhân vật lớn của miền Nam, từ người trong chính quyền Sài Gòn cho đến những trí thức thuộc lực lượng thứ 3 mà nước Pháp rất ủng hộ. Tất cả họ đều là những người thông minh và đáng mến.

Những nhân vật ở miền Bắc là những người rất chủ động, rất cách mạng. Điều đó cũng không lạ gì vì trong quá khứ, người Pháp luôn nhìn nhận miền Bắc là mảnh đất của chính trị, của những trí thức. Ở đó, nước Pháp từng đặt trường Viễn Đông bác cổ và nhiều trường Đại học, trung học lớn. Những người miền Nam cởi mở hơn, kinh tế và của cải ở đến từ miền Nam nhiều hơn. Sau tất cả, tôi luôn có sự nể trọng rất lớn dành cho người Việt Nam.

+ Xin cảm ơn ông!

Bài phỏng vấn trực tiếp thể hiện phong cách và phân tích của nhà ngoại giao Pháp Henri Froment-Meurice về cuộc đàm phán Paris và các bên đàm phán. Những phân tích này đặt trong bối cảnh quốc tế của đàm phán Hiệp định Paris hơn 40 năm trước.

Ông Henri Froment-Meurice sinh năm 1923, là nhà ngoại giao kỳ cựu của Pháp. Ông từng làm Đại sứ Pháp tại Nhật năm 1952, Vụ trưởng Vụ châu Á-châu Đại dương – Bộ Ngoại giao Pháp từ 1969-1975; Đại sứ Pháp tại Nga từ 1979-1982; Đại sứ Pháp tại Đức từ 1982-1983. Ông là người trực tiếp làm trung gian đàm phán giữa các phái đoàn VNDCCH, VNCH, Mặt trận và Mỹ trong đàm phán Hiệp định Paris, trực tiếp làm việc dưới các đời Thủ tướng và Tổng thống Pháp (De Gaulle, George Pompidou, Valery Giscard d’Estaing).


Bùi Nguyễn (từ Paris)
vietnamnet.vn

Nhân chứng hội nghị Paris ủng hộ VN bảo vệ chủ quyền

 – Sáng 27/1, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức tại TP.HCM cuộc gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, ôn lại sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong quá trình đàm phán ký Hiệp định Paris và trong kháng chiến chống Mỹ.

Vào tù vì ủng hộ Việt Nam 

Vượt qua hàng nghìn km từ nhiều đất nước trên thế giới đến Việt Nam, những người bạn quốc tế yêu chuộng hòa bình đã kể những câu chuyện, kỷ niệm và cảm xúc sâu sắc trong quá trình ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam những năm chiến tranh.

Ông Rabin Deb (Bí thư Ban thường vụ Tổ chức hòa bình và đoàn kết toàn Ấn Độ) bày tỏ niềm xúc động khi đang đứng ở Việt Nam đúng vào dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris. Ông là người đã tổ chức nhiều hoạt động trong phong trào thanh niên – sinh viên Ấn Độ phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

“Khi McNamara leo thang chiến tranh ở Việt Nam, chúng tôi đã phản đối dữ dội với thông điệp rằng, không cho phép bạo lực tại Việt Nam”, ông Rabin khẳng định.

Còn ông Renato Darsie, đảng viên đảng Những người cộng sản Italia kể rằng, do căm phẫn trước những hành động tội ác của Mỹ, ông đã cùng với nhiều người Italia khác tổ chức biểu tình phản đối.

“Khi những con tàu của Mỹ cập cảng ở đất nước tôi để lấy thêm hàng hóa chất lên tàu, chúng tôi đã tìm cách ngăn chặn. Hay khi những bệnh viện của nước bạn bị ném bom, chúng tôi đã vận động người dân ủng hộ. Và chúng tôi cũng hiến máu để gửi sang Việt Nam…”, ông Renato nói.

Bà Nguyễn Thị Bình trao đổi với các đại biểu

Cũng chính vì những việc làm đó mà ông đã 5 lần bị bắt và bị buộc tội gây rối trật tự công cộng, làm trái pháp luật.

Không chỉ có những người bạn quốc tế bày tỏ sự ủng hộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, nhiều người Việt Nam lúc đó đang làm nhiệm vụ ở nước ngoài cũng kể những câu chuyện cảm động về sự ủng hộ của bè bạn quốc tế.

Ông Võ Anh Tuấn – Phó chủ tịch Ủy ban hòa bình Việt Nam, nguyên đại sứ, đặc phái viên của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Cuba, một lần được mời dự phiên họp đặc biệt của Quốc hội Argentina chào mừng tổng thống mới.

Đang trên đường trở về khách sạn ở trung tâm thủ đô Buenos Aires (Argentina), ông bị một nhóm người chặn xe lại. Lúc đó, người lễ tân khách sạn cùng đi với ông Tuấn đã xuống xe và nói với họ rằng, người ngồi trong xe là “vị đại sứ của Việt Cộng. Vị đại sứ này đang đến đây để dự lễ đăng quang tổng thống mới”.

Ngay lập tức, nhóm người chặn xe đã tươi cười và hô to: “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”.

Thông điệp đoàn kết

Một điều đặc biệt, các đại biểu dự gặp gỡ ngày 27/1 đã ra thông điệp đoàn kết ủng hộ Việt Nam.

Thông điệp bày tỏ tinh thần đoàn kết nhiệt thành với nhân dân Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh.

“Là những người yêu chuộng hòa bình từ mọi nơi trên thế giới, chúng tôi rút ra những bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, rằng các dân tộc bị áp bức có quyền kháng cự, đấu tranh vì tự do và quyền quyết định vận mệnh của mình không có bất kỳ sự can thiệp của nước ngoài”, thông điệp nêu rõ.

Trước thông điệp này, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình – nguyên trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Paris cho biết mong muốn gửi đến hàng triệu người trên thế giới, kể cả nước Mỹ, những người đã đồng hành với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lời cảm ơn chân thành.

“Chúng tôi và nhân dân Việt Nam không bao giờ quên bạn bè đã ủng hộ Việt Nam”, bà Bình nói.

Bà Nguyễn Thị Bình cho rằng, nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi, có lẽ nguyên nhân quan trọng nhất là đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.

Bà cũng mong rằng các bạn quốc tế sẽ luôn luôn nhớ đến Việt Nam và cùng nhau đoàn kết đấu tranh cho hòa bình, tự do và công lý.

Tá Lâm
vietnamnet.vn

Chiêng có to tiếng mới lớn

– Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh tầm quan trọng của thực lực như một trong những bài học từ Hiệp định Paris (27/1/1973 – 27/1/2013), đỉnh cao thắng lợi của Việt Nam trên mặt trận ngoại giao.

>> Công bố tài liệu mật về Hiệp định Paris 1973
>> Hiệp định Paris: Ký ức sau 40 năm
>> Ai phá vỡ Hiệp định Paris 1973?

Phát biểu tại lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam hôm nay (25/1) ở Hà Nội, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ca ngợi sự kiện trọng đại này như một thành tích vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Bác Hồ dạy ‘thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to tiếng mới lớn’

“Việc ký kết Hiệp định Paris đã kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20, đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao, chống Mỹ xâm lược”, Chủ tịch nước nói.

Các cuộc chiến trên chiến trường và trên bàn đám phán đều nhằm một mục tiêu: Buộc Mỹ chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, ông Trương Tấn Sang nhấn mạnh.

Ký kết Hiệp định Paris, Mỹ đã phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”, mở ra cục diện mới, tạo tiền đề vững chắc để quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hiệp định Paris cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, dõi theo từng diễn biến trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán tại Paris.

“Hiệp định Paris là minh chứng hùng hồn cho chân lý Đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, Chủ tịch nước khẳng định thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

“Cuộc đấu tranh ngoại giao tại hội nghị Paris là cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ. Mặt trận ngoại giao đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận quân sự trong nước, tranh thủ dư luận yêu chuộng hòa bình trên thế giới phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ, ủng hộ Việt Nam”, Chủ tịch nước nói.

Ông Trương Tấn Sang cũng nêu bật những bài học từ thắng lợi này đối với bối cảnh đất nước, khu vực và thế giới hiện nay.

“Trước hết là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự, tạo sức mạnh tổng hợp”, Chủ tịch nước nói.

Thứ hai là bài học kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.

Thứ ba là bài học về tầm quan trọng của thực lực. “Bác Hồ dạy ‘thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to tiếng mới lớn’. Thắng lợi của hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng của thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến, là sức mạnh của chính nghĩa, của khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế”, Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Đó còn là bài học về xây dựng lực lượng cán bộ đối ngoại, trang bị cả về kiến thức đối ngoại và nghệ thuật đàm phán, được lựa chọn và tin tưởng giao nhiệm vụ. Chủ tịch nhắc nhở ngành ngoại giao tiếp tục phát huy trên mặt trận quan trọng này, góp phần phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Tại lễ kỷ niệm, Chủ tịch nước đã trao danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đàm phán, những người góp phần quan trọng vào thắng lợi tại hội nghị Paris.

Chủ tịch nước trao danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đàm phán

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, và ông Lưu Văn Lợi, nguyên cố vấn pháp lý của đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa, thay mặt các thành viên hai đoàn đàm phán lên nhận danh hiệu cao quý này.

Bà Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh bài học ngoại giao trong việc thuyết phục bạn bè quốc tế dù ở nhiều đảng phái, quan điểm chính trị khác nhau, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của một dân tộc nhỏ để bảo vệ quyền được sống trong độc lập, tự do, hòa bình.

Bà Hélène Luc, thượng nghị sĩ danh dự Thượng viện Pháp, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt cũng nhân dịp này chia sẻ những kỷ niệm về sự giúp đỡ của Chính phủ và nhân dân Pháp đối với hai đoàn đàm phán của Việt Nam tại Hội nghị Paris.

Chung Hoàng – Ảnh: Minh Thăng
vietnamnet.vn

Một tổng thống “bù nhìn”

Quan hệ đồng minh “lục đục”

Cố vấn Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ. Ảnh tư liệu

QĐND – Sau hơn 4 năm đàm phán, từ 15-3-1968 đến 27-1-1973, Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, đánh dấu thắng lợi hết sức quan trọng của chúng ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Cùng đó, trong quá trình diễn ra đàm phán hiệp định, sự rạn nứt, chiêu bài lợi ích, trò “lá mặt lá trái” trong cái gọi là “quan hệ đồng minh” của Mỹ với chính quyền miền Nam cũng lộ diện hẳn.

Hội nghị Pa-ri 4 bên gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), Mỹ và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) là một diễn đàn công khai để trao đổi về những vấn đề chung nhưng không đề cập giải pháp cụ thể. Vì vậy, đã có các cuộc đàm phán bí mật giữa Việt Nam và Mỹ. Đến ngày 12-10-1972, sau những tranh cãi được đánh giá là nảy lửa trong các cuộc tiếp xúc riêng, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn an ninh Mỹ Kít-xinh-giơ (H. Kissinger) đã thống nhất được bản dự thảo Hiệp định Pa-ri gồm 9 điểm với những nội dung cơ bản là các bên tham chiến ngừng bắn tại chỗ, quân đội Mỹ và đồng minh nước ngoài rút về nước, tiến hành trao trả tù binh trong vòng 60 ngày, tôn trọng quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam…

Tuy mang tiếng là đồng minh của nhau, nhưng phía Mỹ hầu như không hề thông báo cho chính quyền Thiệu biết về thái độ phải nhượng bộ của mình trong quá trình đàm phán với Chính phủ VNDCCH. Mặc dù chính quyền Thiệu nhấn mạnh cần được nắm rõ thông tin về những cuộc tiếp xúc bí mật giữa Mỹ và Chính phủ VNDCCH và nhận được sự cam kết của Mỹ, thế nhưng cách thức đàm phán của Mỹ, mà cụ thể ở đây là Kít-xinh-giơ, đã biến Thiệu thành một “bù nhìn” không hơn không kém, vai trò của Thiệu bị làm lu mờ.

“Bánh ít đi, bánh quy lại”

Ngày 4-10-1972, Thiệu gửi thư cho Tổng thống Mỹ Ních-xơn (R.Nixon) nêu rõ: “Nếu chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra một quan niệm mới về một giải pháp hòa bình thì chính phủ Việt Nam rất mong muốn được nhận những thông tin cần thiết”. Đáp lại, trong bức thư ngày 6-10-1972, Ních-xơn viết cho Thiệu đã cam kết rằng: “Sẽ không có gì nảy sinh từ các cuộc hội đàm mà không có sự hội ý toàn diện, kịp thời và đầy đủ giữa chúng ta”. Như để xây dựng thêm lòng tin, ngày 14-10, Ních-xơn gửi cho Thiệu một bức thư “không chính thức” dài một trang rưỡi về những nội dung các cuộc hội đàm giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ tại Pa-ri từ ngày 8 đến 11-10-1972. Ních-xơn khăng khăng với Thiệu rằng đây là những thông tin “chi tiết”, mặc dù thực tế không phải vậy.

Ngày 16-10-1972, Ních-xơn viết thư và giao cho Kít-xinh-giơ chuyển đến tay Thiệu với đảm bảo rằng:“Ngài sẽ được tôi ủng hộ tuyệt đối và tôi muốn Ngài hiểu rằng niềm tin vững chắc của tôi trong giai đoạn mới này, sự tiếp tục lãnh đạo số phận miền Nam Việt Nam của Ngài là không thể thiếu được”. Trong thư, Ních-xơn nói rằng Kít-xinh-giơ sẽ giải thích chi tiết những điều khoản của hiệp định mà “Tôi tin chắc rằng sự thi hành nó sẽ đem lại cho Ngài và nhân dân Ngài khả năng tự vệ và quyết định số phận chính trị của miền Nam Việt Nam”. Mặc dù vậy, Kít-xinh-giơ lại không đi vào chi tiết những gì còn cần phải giải quyết với Hà Nội cũng như không cho Thiệu biết thời gian đã thỏa thuận với Hà Nội để ký văn bản hiệp định dự kiến vào ngày 31-10-1972.

Đến khi biết được mọi chuyện, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu mới “ngớ người” ra, vội vã lên tiếng kịch liệt phản đối bản dự thảo của hiệp định. Không thể chịu nổi trò hai mặt của người đồng minh, Thiệu tuyên bố rằng bản dự thảo là sự “bán đứng” quyền lợi VNCH của Mỹ.

Tới nước này thì Mỹ cũng chơi bài ngửa với Thiệu. Trong bức thư ngày 21-10-1972 gửi cho Thiệu, Ních-xơn đã hối thúc Thiệu chấp thuận ký vào hiệp định và đe dọa sẽ cắt viện trợ nếu không tuân theo: “Tôi nghĩ rằng quyết định của Ngài sẽ gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến khả năng tiếp tục cung cấp viện trợ cho Ngài và chính phủ miền Nam Việt Nam”. Phản ứng lại, trong cuộc gặp ngày 22-10 với Kít-xinh-giơ, Thiệu tuyên bố không ký vào hiệp định. Và như “vừa đấm vừa xoa”, ngày 29-10-1972, Ních-xơn tiếp tục viết thư cho Thiệu, đánh dấu một sự thay đổi rõ rệt về giọng điệu và nội dung so với những lá thư trước. Lời kêu gọi thống nhất hành động được đề cập đến 7 lần: “Tôi muốn ông hãy duy trì sự thống nhất đặc trưng cho quan hệ giữa chúng ta trong suốt bốn năm qua, nó là yếu tố cơ bản để thành công từ trước đến nay”. Giờ đây thì không còn cuộc tranh cãi xem có còn tin tưởng nhau nữa hay không mà chỉ còn là một sự trao đổi. “Bánh ít đi, bánh quy lại”, không đồng ý thì không viện trợ: “Sự mất đoàn kết sẽ làm tôi không thể tiếp tục giúp đỡ chính phủ và nhân dân miền Nam trong những ngày sắp tới dù hiện giờ tôi quyết tâm muốn giúp đỡ”.

Tráo trở và lật lọng

Dẫu có những bất đồng sâu sắc giữa Oa-sinh-tơn với Sài Gòn về những điều khoản của hiệp định Pa-ri nhưng Kít-xinh-giơ lại công khai xem những bất đồng đó là “những vấn đề có hai nghĩa, vấn đề ngôn ngữ học” và “những gì đang cản trở thỏa ước hiện nay là những vấn đề tương đối ít quan trọng hơn những vấn đề đã được giải quyết”. Kít-xinh-giơ vẫn luôn muốn nhấn mạnh với Thiệu rằng hiệp định là một thắng lợi của Mỹ và Sài Gòn. Sáng 26-10-1972, Kít-xinh-giơ đã tổ chức một cuộc họp báo tại thủ đô Oa-sinh-tơn, tuyên bố: “Hòa bình đã nằm trong tầm tay” và nhấn mạnh rằng chỉ còn lại những vấn đề tương đối ít quan trọng phải giải quyết. Chính những tuyên bố này của Kít-xinh-giơ đã góp phần không nhỏ đưa đến nhiệm kỳ Tổng thống lần 2 cho Ních-xơn vào ngày 7-11-1972.

Như vậy, xét trong bối cảnh cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1972 mà Ních-xơn ra ứng cử nhiệm kỳ 2 cũng như cuộc đàm phán kéo dài suốt hơn 4 năm, có thể thấy rõ được chiêu bài lợi ích, “lá mặt lá trái” của chính quyền Ních-xơn. Một mặt, Ních-xơn thúc giục Thiệu đồng ý ký hiệp định vốn thực chất không hề có lợi cho VNCH để phòng khi nếu Ních-xơn không tái cử thì theo hiệp định, quân Mỹ vẫn rút đi êm thấm, bỏ rơi lại Thiệu nhưng vẫn được cái tiếng là tuân thủ những gì đã cam kết.

Mặt khác, song song với đó là việc kéo dài thời gian đàm phán với ta hòng chiếm lòng tin của nhiều cử tri Mỹ, những người mong muốn chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam lúc bấy giờ. Mọi chuyện trở nên hai năm rõ mười khi Ních-xơn, sau khi biết được kết quả bỏ phiếu mang lại cho mình thêm một nhiệm kỳ nữa trong Nhà Trắng, đã ngay lập tức tỏ thái độ lật lọng. Con người nhẫn tâm và tráo trở này đã ra lệnh cho tiến hành một đợt không kích dữ dội và đẫm máu bằng cả pháo đài bay B-52 kéo dài suốt 12 ngày đêm ở Hà Nội, nhằm buộc chúng ta phải chấp thuận những điều kiện ngặt nghèo hơn của Mỹ trên bàn hội nghị.

Thế nhưng, thất bại hoàn toàn của Nhà Trắng trong trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội đã buộc Oa-sinh-tơn phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, quay lại đàm phán và đồng ý ký kết Hiệp định Pa-ri vào ngày 27-1-1973.

VĨNH AN
qdnd.vn

Hội đàm Paris – đường tới hòa bình

TT – Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN đã được ký kết tại Paris ngày 27-1-1973 giữa bốn bên: VN Dân chủ cộng hòa, Hoa Kỳ, Cộng hòa miền Nam VN và VN Cộng hòa.

Bà Nguyễn Thị Bình (bìa trái) trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế tại Paris - Ảnh: UPI

Đó là kết quả của cả một chặng đường đấu tranh ngoại giao cam go và căng thẳng, bắt đầu từ giữa năm 1968.

Nhân kỷ niệm “40 năm Hiệp định Paris”, Tuổi Trẻ ghi lại hồi ức của một số thành viên tham gia cuộc đàm phán. Đồng thời một số tài liệu mật từ phía chính quyền Sài Gòn cũng sẽ được đăng tải trong loạt bài này.

TT – 1972 là năm quyết định của cuộc hòa đàm Paris về chiến tranh VN. Đó cũng là năm đỏ lửa ở miền Nam và cũng là năm Mỹ sử dụng B-52 rải bom Hà Nội.

“Chúng tôi hết sức lo lắng cho Hà Nội…”

Bà Nguyễn Thị Bình, lúc đó là bộ trưởng ngoại giao, trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN, nhớ lại:

“Tôi nhớ mãi… vào những ngày cuối năm 1972, tình hình so sánh lực lượng trên chiến trường phát triển có lợi cho ta, trong lúc nội bộ Mỹ mâu thuẫn gay gắt giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa và vấn đề bầu cử tổng thống ở Mỹ cận kề, Bộ Chính trị chỉ thị cho đoàn ta ở Paris đấu tranh để buộc Mỹ đi vào giải quyết thực chất vấn đề chiến tranh VN.

Các cuộc họp riêng giữa đồng chí Lê Đức Thọ và cố vấn Kissinger diễn ra dồn dập trong những ngày đầu tháng 10.

Đến 20-10, hai bên căn bản nhất trí trên văn bản dự thảo Hiệp định Paris do phía ta đưa ra.

Tổng thống Nixon gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoan nghênh thiện chí của ta và đề nghị ngày 31-10-1972 tiến hành ký kết.

Nhưng như mọi người đều biết, ngày 22-10 Tổng thống Nixon lại gửi công hàm cho ta, nêu khó khăn với Nguyễn Văn Thiệu, nên chưa có thể ký hiệp định như đã thỏa thuận.

Chúng tôi ở Paris lúc đó hiểu ngay là Mỹ lật lọng muốn kéo dài đàm phán để vượt qua bầu cử.

Quả thật, sau ngày 7-11 Tổng thống Nixon được tái đắc cử, trong cuộc họp ngày 23-11 giữa ta với Mỹ, Kissinger trắng trợn đòi sửa lại 60 điều trong văn bản thỏa thuận.

Tối 18-12, máy bay B-52 bắt đầu giội bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác.

Tại cuộc họp bốn bên thường lệ ở Trung tâm hội nghị quốc tế Kleber, đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN và đoàn VN Dân chủ cộng hòa tuyên bố ngừng họp để phản đối hành động tráo trở và leo thang chiến tranh của Mỹ.

Thực tế, cuộc tập kích bằng máy bay B-52 của Mỹ làm anh chị em chúng tôi ở hai đoàn đàm phán tại Paris hết sức lo lắng, không biết chúng ta sẽ đối phó ra sao. Nhưng khi được tin chiếc B-52 đầu tiên bị bắn hạ, chúng tôi vô cùng sung sướng đến khóc được. Sau đó, nhiều chiếc B-52 bị bắn rơi trước sự thán phục của cả thế giới.

Sau 12 ngày đêm ném bom dữ dội xuống Hà Nội và các tỉnh, rất nhiều máy bay B-52 của Mỹ bị hạ… Mỹ không những thất bại nặng nề về quân sự mà cả về chính trị ngoại giao. Cả thế giới lên án Mỹ, cả Chính phủ Anh, người đồng minh thân cận nhất của Mỹ, cũng lên tiếng phản đối.

Vài ngày sau chính quyền Nixon gửi công hàm đề nghị họp lại và cuối cùng họ cũng phải chấp nhận hoàn toàn dự thảo hiệp định đã thỏa thuận hồi tháng 10-1972”.

“Ông Thọ đã mổ xẻ tôi bằng một con dao rất nhọn…”

Ông Lưu Văn Lợi (thư ký của cố vấn Lê Đức Thọ tại hội nghị Paris) kể:

“Các phiên họp riêng giữa các anh Xuân Thủy, Lê Đức Thọ và Kissinger, cố vấn của Tổng thống Mỹ Nixon, đều là những ngày làm việc dài. Có ngày làm việc đến 13 tiếng, lấn sang cả đêm. Anh Lê Đức Thọ sinh năm 1911, lúc ấy hơn 60 tuổi, nhiều hơn Kissinger gần một giáp. Kissinger rất là mánh lới, vào đầu các cuộc họp riêng thì cứ đưa chuyện nọ chuyện kia dài lê thê và cứ nhè vào lúc chiều hay gần tối mới đưa việc chính ra tranh cãi. Đó là lúc mà ông ta nghĩ rằng ông già kia mệt mỏi rồi, chắc dễ ừ, dễ gật. Nhưng ông ta không biết anh Thọ! Đàm phán càng muộn, anh Thọ càng tỉnh và thậm chí có lúc diễn thuyết làm cho Kissinger sau này phải nói: “Ông Thọ ở Paris đã mổ xẻ tôi bằng một con dao rất nhọn, với tay nghề của một nhà phẫu thuật. Có những lúc ông ấy nói cả giờ, tôi bảo cái điều này tôi đã nghe nhiều lần rồi thì ông Thọ bảo: Ông nghe nhiều lần nhưng chưa thuộc, tôi nói lại…”.

Năm 1972 là giai đoạn đi vào thương lượng cụ thể. Hồi đó lập trường của hai bên khác nhau lắm, Mỹ muốn rút nhưng muốn giữ nguyên chế độ Thiệu – Kỳ, mà lại không công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN. Lúc bấy giờ đã đi vào thảo luận về hiệp định rồi, hôm trước vừa thỏa thuận như thế nhưng hôm sau họ lại lật lại. Mỹ luôn luôn lấy cớ rằng chính quyền Sài Gòn không chấp nhận. Ở nhà, đồng chí Lê Duẩn đã dặn đồng chí Lê Đức Thọ: Anh sang bây giờ anh sẽ là tư lệnh ở mặt trận ngoại giao, làm thế nào thì làm, nhưng anh phải đạt được là “Mỹ rút, quân ta ở lại”.

Tháng 10-1972, tưởng đàm phán xong rồi, Tổng thống Nixon đã gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nói rằng hiệp định đã có thể hoàn chỉnh, rồi Kissinger cũng huênh hoang nói rằng không còn điểm bất đồng gì lớn nữa. Đã thỏa thuận là tháng 10 Kissinger sẽ sang Hà Nội ký tắt, rồi sau đó về Paris ký chính thức. Mỹ đã nhượng bộ không đòi quân Bắc VN rút, chỉ yêu cầu có một số biểu hiện, thí dụ như hồi hương một ít, hay di chuyển quân, tượng trưng cũng được, để máy bay chụp ảnh, chứng minh cho dư luận Mỹ biết rằng cũng đòi được quân Bắc VN rút lui.

Lúc đầu ta còn trả lời vòng vo, nhưng sau nói thẳng: người VN sống trên đất VN, mà quân đội miền Bắc gồm cả những người miền Nam tham gia cuộc chiến đấu chống Mỹ và Thiệu – Kỳ, chính là những người đã tập kết ra Bắc. Hơn nữa, người VN bất cứ ở đâu đều có nghĩa vụ đánh Mỹ.

Ngày 13-1, cuộc gặp riêng cuối cùng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris, đoàn của ta đến sớm, đoàn Mỹ thì đúng giờ hẹn đến sau. Chỗ hẹn là ngôi biệt thự ở ngoài có cái sân có thể để được mấy chiếc xe hơi. Mọi lần khi còn đương đàm phán với nhau, mình là chủ, theo phong tục VN ra đón khách vào, mấy ông nhà mình đứng tận ngoài cổng, bắt tay mời vào phòng họp. Lần gặp này báo chí đứng bên ngoài chờ chụp ảnh đã sẵn sàng rồi nhưng thấy trong này có vẻ im lặng. Tôi và mấy chuyên viên trong phái đoàn miền Nam ngồi ở một phòng trên gác nhìn ra cổng biệt thự.

Đúng giờ đoàn Kissinger đến thì người gác ra mở cổng. Kissinger không thấy có người ra đón nên ngỡ ngàng, tuy nhiên họ cũng hiểu vì sao mình tỏ thái độ lạnh nhạt ấy. Vào phòng, ông Lê Đức Thọ nổ luôn một loạt câu chỉ trích bên kia túi bụi. Bọn tôi ở trên gác nghe qua loa rất sướng. 

THANH HUYỀN – ĐỨC TUỆ
tuoitre.vn

_______________

Kỳ tới: Căng thẳng Sài Gòn – Washington

Căng thẳng Sài Gòn – Washington

Hội đàm Paris – đường tới hòa bình – Kỳ 2:

TT – Bỏ qua thái độ của chính quyền Thiệu, ngày 8-10-1972 phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa trao cho Hoa Kỳ bản đề nghị được trình bày dưới hình thức một hiệp định sẵn sàng để ký kết, có tên là “Hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam”.

Tổng thống Thiệu (trái) và tổng thống Nixon vào thời điểm ấy đã không còn “mặn nồng” dù cùng nhìn về một hướng  – Ảnh: Bettmann/Corbis

Bút tích “biên  tập” của tổng thống Thiệu trên lá thư của Nixon

Từ ngày 8 đến 11-10-1972, hai phái đoàn Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hòa thảo luận kỹ lưỡng về các điều khoản của hiệp định. Đến ngày 17-10 tại Paris, hai bên duyệt lại lần cuối và đi đến thống nhất lịch trình ký kết hiệp định.

Sài Gòn công kích Washington

Việc chỉ được biết thông tin về bản dự thảo và thời gian biểu cho việc ký kết hiệp định thông qua dư luận báo chí khiến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tỏ ra “bất phục” với Hoa Kỳ. Và “lo sợ” ký kết hiệp định với điều khoản quy định về cuộc tổng tuyển cử trong thời điểm phần đông dân chúng miền Nam Việt Nam đang hướng lòng theo cách mạng, sẽ đồng nghĩa với việc bị mất “chiếc ghế” tổng thống.

Do đó, trong thời gian từ ngày 26-10 đến 7-11-1972, ông Thiệu cấp tốc cử ba đại sứ đi đến 12 quốc gia ở châu Á nhằm rêu rao lập trường đối với bản dự thảo hiệp định, gián tiếp công kích Hoa Kỳ trước dư luận. Đồng thời ông ta liên tục gửi công hàm cho Hoa Kỳ, nói rõ rằng: “Những vấn đề cần phải giải quyết trong dự thảo hiệp định là những vấn đề căn bản chứ không phải là những vấn đề chi tiết hay ngôn ngữ như ông Kissinger đã tuyên bố” và đòi hỏi “Hoa Kỳ cho biết rõ về những gì Hoa Kỳ hứa hẹn với Bắc Việt theo như họ tiết lộ”.

Trước phản ứng quá mạnh của chính quyền Sài Gòn, ngày 29-10-1972 tổng thống Nixon gửi thư cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhằm làm giảm bớt sự công kích nhưng không có hiệu quả, trong khi dư luận ngày càng tỏ ra phản ứng mạnh trước sự trì hoãn của Nixon. Hãng UPI cho rằng Việt Nam đã đưa quả bóng sang sân của Hoa Kỳ.

Hãng tin Pháp AFP nhận xét: Nixon đã bị dồn vào chân tường và buộc phải lựa chọn, hoặc ký sớm hiệp định, bỏ rơi Thiệu, hoặc tiếp tục chiến tranh. Còn các nhân vật đối lập trong Quốc hội Hoa Kỳ đòi Nixon phải có trách nhiệm ký hiệp định sớm, không thể để Thiệu muốn làm gì thì làm và họ cho rằng Nguyễn Văn Thiệu đang thách thức lòng tự trọng của nhân dân Hoa Kỳ. Vì vậy, ngày 2-11-1972, để xoa dịu dư luận, Nixon tuyên bố trên truyền hình bản dự thảo còn có những phần “mập mờ” “cần làm rõ trước khi ký kết bản hiệp định cuối cùng”. Đồng thời để tỏ chứng minh Hoa Kỳ không “bỏ rơi” chính quyền Sài Gòn và việc ký kết hiệp định hoàn toàn nằm trong kế hoạch, Nixon ra lệnh cho máy bay chiến lược B-52 ném bom phía Bắc khu phi quân sự.

Lá thư răn đe của Nixon

Ngày 7-11-1972, vượt qua các chướng ngại, Richard Nixon tái đắc cử tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 38. Ngay hôm sau, ngày 8-11-1972, Nixon gửi bức thư đầu tiên trong cương vị tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ răn đe Nguyễn Văn Thiệu và cũng để nói rõ kế hoạch của ông ta đối với việc ký kết Hiệp định Paris. Nội dung bức thư như sau:

“Hôm nay, sau cuộc tái đắc cử của tôi, tôi xin mở lại cuộc đối thoại giữa chúng ta về dự thảo hiệp định để chấm dứt chiến tranh.

Trước hết, tôi phải bày tỏ sự thất vọng sâu xa của tôi về cái mà tôi xem là một sự xa cách dần dần trong mối bang giao giữa hai quốc gia chúng ta, một khuynh hướng mà chỉ có hại cho những mục tiêu chung của chúng ta và có lợi cho kẻ thù. Việc tổng thống (Nguyễn Văn Thiệu – BT) liên tục bóp méo và công kích hiệp định là không đúng (unfair) và biểu lộ tinh thần chủ bại (self defeating). Những sự công kích này vẫn tiếp tục, mặc dù chúng tôi đã lưu ý nhiều lần, kể cả bức thư của tôi cho tổng thống vào ngày 29-10. Những sự công kích này đã làm cho tôi ngỡ ngàng và rất lúng túng.

Tuy nhiên, dù trong trường hợp nào, chúng tôi cũng quyết định đi tới trên căn bản của dự thảo hiệp định và những sự sửa đổi mà tướng Haig sẽ thảo luận với tổng thống và chúng tôi quyết định đạt được từ phía Bắc Việt.

Tôi xin tổng thống nói với đại tướng Haig liệu chúng tôi có thể xúc tiến một cách vững chắc trên căn bản này hay không. Chúng tôi đã đến chỗ mà chúng tôi cần phải biết một cách minh bạch liệu tổng thống có hợp tác với chúng tôi trong nỗ lực mà tướng Haig sẽ vạch ra những đường hướng chánh cho tổng thống, hay là chúng tôi phải nghĩ tới những phương thức hành động khác mà tôi tin rằng có thể sẽ tai hại cho quyền lợi hai quốc gia chúng ta”.

Ngày 10-11-1972, tướng Haig sang Sài Gòn, tận tay chuyển thư của Nixon, cùng bản chương trình cam kết sự hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ đối với chính quyền Sài Gòn nhằm có thể đánh thắng được quân giải phóng sau khi ký kết hiệp định. Nhưng sự đảm bảo của Hoa Kỳ chưa xoa dịu được sự “lo sợ” của Nguyễn Văn Thiệu, đáp lại những lời lẽ vỗ về của Nixon trong bức thư là những đường gạch đỏ với các dấu chấm hỏi của Nguyễn Văn Thiệu. Đặc biệt là đối với câu: “Tôi tin chắc tổng thống đã đạt được một thắng lợi to lớn mà hiệp định này sẽ phê chuẩn”, Nguyễn Văn Thiệu đã phê trực tiếp vào bức thư: “Cũng tùy có thắng thật hay là cứ nói là thắng”. Đồng thời ông ta tiếp tục từ chối bản dự thảo hiệp định.

Ngày 11-11-1972, Nguyễn Văn Thiệu gửi thư cho tổng thống Nixon.

Phản hồi của tổng thống Thiệu

Trong thư, ông Thiệu viết:

“Tôi đã nhận được thơ của tổng thống đề ngày 8-11 do tướng Haig chuyển cho tôi.

Trước hết tôi xin nhân cơ hội này chuyển tới tổng thống một lần nữa những lời ngợi khen nồng nhiệt và thành khẩn của tôi về sự thắng cử vẻ vang của tổng thống vào ngày 7-11 vừa qua.

Chúng tôi sẽ mãi mãi biết ơn sâu xa sự trợ giúp dồi dào mà Hoa Kỳ đã dành cho Việt Nam cộng hòa… và nhất là đối với sự đoàn kết anh dũng của Hoa Kỳ sát cánh với chúng tôi trong cuộc chiến đấu.

Tôi ý thức được rằng dân tộc Hoa Kỳ đã mệt mỏi vì cuộc chiến dai dẳng này…

Nếu có một giải pháp cho phép Bắc Việt duy trì lực lượng của họ tại Nam Việt Nam, cuộc chiến đấu và những hi sinh của chúng ta trong bao nhiêu năm sẽ mất hết lý do. Những đồng minh của chúng ta sẽ được coi như là kẻ gây hấn, quân đội Nam Việt Nam trong trường hợp này sẽ ở trong vị trí của những kẻ đánh mướn, chiến đấu cho một chính nghĩa sai lầm, một chính nghĩa mà chúng tôi không còn dám nói lên.

Trong bối cảnh này, tôi nghĩ thật là bất công khi tôi bị lên án đã bóp méo dự án thỏa hiệp khi tôi kêu gọi sự lưu ý đến khía cạnh quan trọng này của vấn đề…

Tôi không thể trình bày dài dòng về tất cả các điểm trong khuôn khổ thơ này. Vì vậy, tôi đã nhờ tướng Haig chuyển tới tổng thống những quan điểm của chánh phủ chúng tôi có nhiều chi tiết hơn”.

Ngày 12-11-1972, tướng Haig trở lại Washington báo cáo Nixon về chuyến công du Sài Gòn.

(Trích từ quyển Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, do NXB Chính Trị Quốc Gia phát hành tháng 12-2012)
tuoitre.vn

____________________

Kỳ tới: Hoặc hợp tác, hoặc… chấm hết!

Hoặc hợp tác, hoặc… chấm hết!

Hội đàm Paris – đường tới hòa bình – Kỳ 3:

TT – 12-11-1972, tướng Haig trở lại Washington báo cáo tổng thống Nixon về chuyến công du Sài Gòn.

Tướng Alexander Haig – Ảnh: W.hogan

Tổng thống Nixon và ngoại trưởng Kissinger bàn thảo về cuộc hội đàm Paris về chiến tranh VN năm 1972 - Ảnh: AP

Ba ngày sau, ngày 15-11-1972, tướng Haig yêu cầu một phái viên chính quyền Sài Gòn, sắp rời khỏi Washington, tới Nhà Trắng để truyền đạt “ý chỉ” của Nixon. Tường trình của phái viên VN cộng hòa này cho thấy mục đích rõ ràng của Hoa Kỳ đối với việc “thúc ép” Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận bản dự thảo hiệp định. Đồng thời Nixon bảo đảm sẽ tăng cường vũ khí, trang bị cho quân đội Sài Gòn để có khả năng thắng được quân giải phóng và giành được thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử. Và Hoa Kỳ rút ra khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự.

Tướng Haig nói gì?

Sau cuộc gặp với tướng Haig, phái viên VN cộng hòa tường trình nguyên văn như sau:

“Trước khi rời Washington, tướng Haig có mời tôi đến tòa Bạch Ốc để nhờ tôi chuyển trình tổng thống (Nguyễn Văn Thiệu – BT) các điểm sau đây mà tướng Haig cho là cực kỳ quan trọng liên quan đến tình hình và tương lai Việt Nam:

1. Sau khi sang Sài Gòn chuyến chót để trình bày các điểm về thỏa ước hòa bình với tổng thống, tướng Haig đã cố gắng trình lại tổng thống Nixon những điểm mà tổng thống (Thiệu) đã bảo tướng Haig “explorer” (thăm dò) xem ra sao. Sau khi vừa trình bày xong, tướng Haig cho biết rằng chưa bao giờ ông thấy tổng thống Nixon giận dữ như thế và cho rằng tổng thống (Thiệu) là một “obstacle” (trở ngại) cho việc tiến đến hòa bình. Và tổng thống Nixon bảo, theo lời tướng Haig: “Tôi sẽ không nhượng thêm một điều khoản nào nữa và nếu tổng thống Thiệu cương quyết giữ lập trường thì chúng tôi sẽ đi đôi (bilateral) với Bắc Việt và điều này chúng tôi sẽ tiến hành ngay trong “week-end” (cuối tuần) này bằng cách gửi ông Kissinger sang Paris gặp Bắc Việt. Chừng ấy Sài Gòn sẽ không còn mong một sự giúp đỡ cỏn con nào về phần Hoa Kỳ”.

Tướng Haig tiếp: “Hôm nay, theo tôi biết (ngày 15-11-1972) tại Sài Gòn, đại sứ Bunker được chỉ thị của tổng thống Nixon trao lại cho tổng thống một thư riêng cũng nhấn mạnh về điểm yêu cầu của Hoa Kỳ. Xin tổng thống (Thiệu) hợp tác với Hoa Kỳ để giúp họ đi sớm đến thỏa hiệp mà Hoa Kỳ cho rằng sẽ không thiệt thòi cho VN cộng hòa. Đây là bức thư thứ ba hoặc thứ tư gì rồi, nhưng vẫn chưa thấy tổng thống (Thiệu) đáp ứng”.

Tướng Haig yêu cầu tôi trình tổng thống (Thiệu) điểm này nhiều nhứt và cho ông ấy biết phản ứng của tổng thống (Thiệu) lần này ra sao. Tôi hứa sẽ trình sớm và điện thoại riêng cho tướng Haig đêm hôm qua (17-11-1972).

2. Tôi (tức tướng Haig – BT) biết tổng thống Thiệu e ngại việc có thể bị cộng sản lấn át, nhưng chúng tôi còn có đủ lực để ngăn chặn cộng sản làm điều này, với đệ thất hạm đội và không lực Mỹ tại Thái Lan.

3. Về điểm rút quân Bắc Việt, tổng thống (Thiệu) cứ quyết liệt đòi quân Bắc Việt phải rút khỏi miền Nam, điều này có bao giờ có thể họ chấp nhận, nhưng chúng tôi đã có giải pháp bớt quân hoặc giải ngũ quân hai bên trên căn bản 1-1 (một đổi một – BT). Như vậy sẽ không còn quân Bắc Việt và quân lực VN cộng hòa vẫn còn quân nhiều hơn để giữ vững lãnh thổ. Giải pháp này cũng đã khó cho họ chấp nhận rồi, làm thế nào đòi họ rút hết được. Nhưng chúng tôi hi vọng họ sẽ chấp nhận. Phía Hoa Kỳ chúng tôi đã thăm dò và có sự đồng ý của Nga Sô và Trung Cộng giúp đỡ thuyết phục Bắc Việt nhận giải pháp này để chấm dứt chiến tranh. Tóm lại, giải ngũ hoặc giảm quân trên căn bản 1-1 thực hiện trong vòng ba tháng có quốc tế kiểm soát, như vậy VN cộng hòa không phải lo ngại về sự có mặt của quân Bắc Việt tại miền Nam.

4. Vùng vĩ tuyến cũ (DMZ) sẽ được tái lập và tôn trọng là điều chúng tôi cũng sẽ thảo luận và hi vọng thành công với CSBV (Việt Nam dân chủ cộng hòa – BT).

5. Về “coalition” (liên hiệp – BT), đâu có vấn đề “coalition” mà đó chỉ là một “Advisory Committee” (hội đồng cố vấn – BT) không quyền hạn gì và chỉ đưa góp ý kiến về thể thức tuyển cử thôi. Chúng tôi luôn luôn chống đối “coalition” nên không bao giờ để thua CS (cộng sản – BT) điều này.

6. Hoa Kỳ đã cố gắng rất nhiều khi thương thuyết đi đến thỏa hiệp với Bắc Việt để giữ vững tư thế lãnh đạo của tổng thống Thiệu và chúng tôi biết tổng thống Thiệu sẽ “stay forever” (ở lại mãi mãi – BT).

7. Hoa Kỳ đã đưa trên 1 tỉ Mỹ kim “hardware” để tăng cường quân lực VN cộng hòa đủ mạnh trước khi có ngừng bắn, và chúng tôi sẽ tiếp tục giúp thêm cả viện trợ quân sự lẫn kinh tế với mức dồi dào để giúp tổng thống Thiệu giữ vững tư thế lãnh đạo của ông.

8. CSBV biết rõ Hoa Kỳ sẽ rút và quân Đại Hàn cũng sẽ rút hết đến tháng 6-1972.

9. Chúng tôi (Hoa Kỳ – BT) không muốn cho CSBV biết sự rạn nứt giữa Mỹ và VN cộng hòa, nên chúng tôi vẫn tuyên bố: việc thăm dò giữa VN cộng hòa và Hoa Kỳ rất “satisfied” (hài lòng – BT). Trong lúc đó, sáng nay (15-11-1972) tôi mở báo ra xem thì thấy ở Sài Gòn, ông Nhã, ông Lắm tuyên bố trái ngược, gây “embarras” (khó khăn – BT) cho chúng tôi không ít.

10. Việc VN cộng hòa muốn tham dự mật đàm, chúng tôi hoan nghinh (welcome) ý kiến này và sẽ thảo luận với Bắc Việt. Theo tôi biết thì tổng thống Thiệu cử đại sứ Lâm tham dự và đại sứ Lâm sẽ được chúng tôi “briefer” rõ từng điểm mỗi khi xong một buổi mật đàm, để theo dõi và góp thêm ý kiến.

11. Tóm lại chúng tôi (Hoa Kỳ – BT) khẩn khoản yêu cầu tổng thống Thiệu “collaborer” (hợp tác – BT) với chúng tôi và cần “solidaire” (đoàn kết – BT) với chúng tôi mới mong có giải pháp tốt cho VN cộng hòa nếu không “It will be the end” (nó sẽ được kết thúc – BT)”.

Nguyên tắc “sinh tử” của tổng thống Thiệu

Ngày 20-11-1972, trong khi chờ đợi hồi đáp của chính quyền Sài Gòn, tại cuộc đàm phán mật ở Paris, Hoa Kỳ đã trình bản dự thảo hiệp định với những sửa đổi theo chiều hướng quan điểm của chính quyền Sài Gòn. Nhưng sau năm ngày thảo luận, Hoa Kỳ không thể làm lay chuyển lập trường kiên định của những người cộng sản. Dư luận đánh giá cuộc gặp này là một bước thụt lùi lớn so với trước đó một tháng vì Hoa Kỳ đòi sửa đổi hầu hết các vấn đề thực chất trong tất cả các chương theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn.

Tại Sài Gòn, ngày 29-11-1972, Nguyễn Văn Thiệu cử Nguyễn Phú Đức – phụ tá đặc biệt về ngoại vụ – tới Washington hội kiến Nixon. Tại Washington, Nguyễn Phú Đức trao cho Nixon thư của Nguyễn Văn Thiệu, trong đó nói rõ yêu sách của ông ta:

“Phía cộng sản vẫn đòi hỏi chúng tôi phải đầu hàng vô điều kiện mặc dù trên bề mặt họ chỉ sửa đổi vài điểm chỉ có tính cách kỹ thuật… Và họ cũng vẫn buộc chúng tôi phải chấp nhận cái mà họ gọi là cơ cấu chính quyền lấy tên là hội đồng quốc gia hòa giải hòa hợp dân tộc với ba thành phần ngang nhau, với mục đích tổ chức tổng tuyển cử xóa bỏ chế độ tại miền Nam…

Như tôi đã vạch rõ trong giác thư ngày 18-11 vừa qua của Chính phủ VN cộng hòa và bức thư riêng của tôi gửi cho tổng thống cùng ngày, tôi quan niệm rằng đây là hai nguyên tắc chính yếu cho giải pháp chiến cuộc VN. Hơn nữa, những nguyên tắc ấy còn là những nguyên tắc sinh tử của quốc gia chúng tôi.

Về nguyên tắc thứ nhất, là sự hiện diện đương nhiên của quân Bắc Việt tại miền Nam VN sau khi hiệp định được ký kết, chúng tôi quan niệm đây là điểm then chốt, quyết định sự sống còn của miền Nam…

Về vấn đề mọi giải pháp chính trị cho nội bộ miền Nam… thành lập một hội đồng hòa giải quốc gia và dân tộc với hai thành phần đồng đều nhau để thương thuyết và giải quyết mọi vấn đề quân sự chính trị nội bộ miền Nam…

Chúng tôi không mong muốn gì hơn là chủ thuyết của tổng thống được tiếp tục cho VN cũng như cho các quốc gia nhỏ khác ở Đông Nam Á như tổng thống đã chủ trương và chương trình VN hóa quân sự lẫn kinh tế được tiếp tục để VN cộng hòa có đủ khả năng tự lực dần dần…”.

(Trích từ quyển Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973
qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, do NXB Chính Trị Quốc Gia phát hành tháng 12-2012)
tuoitre.vn

—————————————

Kỳ tới: Bước ngoặt lịch sử