Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Nghệ thuật đàm phán ngoại giao ở Pa-ri

QĐND – Cuộc đàm phán Pa-ri và Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam là thành công lớn nhất trong lịch sử ngoại giao của dân tộc thời đại Hồ Chí Minh. Là một trong số ít những nhân chứng còn lại từ cuộc đàm phán lịch sử này, nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh đã chia sẻ với chúng tôi những bài học thực tiễn quý báu về đấu tranh ngoại giao khi đó.

Nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh.

Mặt trận thứ hai

Có thể nói, cuộc đấu tranh ngoại giao trong suốt quá trình đàm phán ở Pa-ri giữ một vai trò hết sức quan trọng. Nếu nói quân sự là mặt trận thứ nhất, mặt trận quyết định, thì ngoại giao là mặt trận thứ hai, mặt trận mang ý nghĩa chiến lược. Để phát huy được ý nghĩa chiến lược này, ta cần xác định rõ ngoại giao có nhiệm vụ gì và đàm phán Pa-ri để thực hiện điều gì?

Đương nhiên, không phải đàm phán với Mỹ là có thể ký ngay hiệp định chấm dứt chiến tranh và bắt Mỹ rút quân được. Vì vậy, ta phải dùng đàm phán để tấn công, lên án Mỹ, cô lập, làm rối loạn hậu phương địch để phục vụ cuộc chiến đấu của quân đội ta, cổ vũ cho quân đội ta đánh mạnh. Mấu chốt ở đây là ngoại giao phải song song, phải bám sát với chiến trường. Khi quân đội có chiến thắng thì làm sao phát huy thắng lợi đó trên bàn ngoại giao.

Ngược lại, khi quân ta gặp khó khăn, ngoại giao phải đỡ lấy để Mỹ không lấn tới. Ví như những năm 1969, 1970 và 1971, lực lượng ta bị tổn thất: Đất mất, dân mất, quân chủ lực phải tránh sang Lào, sang Cam-pu-chia… Ba năm đó, ngoại giao cũng cầm cự, nhưng cầm cự không có nghĩa là nhân nhượng. Nghệ thuật là ở chỗ cầm cự mà vẫn phải tấn công địch, vẫn phải lên án, đòi địch rút quân. Ta đã từng đề nghị Mỹ rút quân trước 31-12-1971, rồi dăm ba bữa lại đưa ra đề nghị khác. Cả thế giới theo dõi những đề nghị đó. Nhưng trên thực tế, ta đề nghị mang tính tấn công thế thôi chứ làm sao ép nó rút quân trước ngày 31-12-1971 được. Khi ấy, ta chưa đủ mạnh để ép nó rút quân trước ngày 31-12-1971. Ta đề nghị “cò cưa” như thế để biểu thị có thiện chí và vẫn giữ vững lập trường, chủ trương, nhưng cũng đồng thời là để chờ quân ta giành chiến thắng trên chiến trường quân sự.

“Biết địch biết ta, trăm trận không thua”

Người xưa có câu: “Biết địch biết ta, trăm trận không thua”. Hiểu và đoán biết trước được ý đồ của địch cũng là một trong những nghệ thuật quan trọng của ngoại giao. Nếu đoán biết được Mỹ làm gì, đánh chỗ nào, lập luận nó thế nào thì ta sẽ tìm được cách đối phó. Với việc Mỹ đòi miền Bắc rút quân, đòi đàm phán không điều kiện, đòi ở trên thế mạnh, ngoại giao ta phải đàm phán làm sao đánh bại các thủ đoạn đó để bảo vệ lẽ phải của ta, để tranh thủ sự ủng hộ của thế giới.

Ta cũng biết chắc rằng, trên chiến trường, ta chưa thể đánh thắng Mỹ chỉ trong một ngày, một tháng, một năm. Mà chiến tranh phải kéo dài nhiều năm. Cho nên, ta chủ trương suy tính làm sao kéo dài được đàm phán mà địch lại không thể đổ lỗi cho ta được. Ta tính trước, khi nào cần kéo dài, ta kéo dài. Khi nào cần đi sâu, đi vào thực chất, ta sẽ đi vào đàm phán thực chất. Những bước đi của người đàm phán giống hoàn toàn như người đánh trận. Do vậy, thời cơ là yếu tố quyết định thắng bại. Ngoài thận trọng, khéo léo, ta cũng phải linh hoạt nắm bắt cơ hội. Biết dân Mỹ quan tâm tới 300 tù binh toàn sĩ quan cao cấp “con ông cháu cha”, ta nắm lấy thời cơ này để tranh thủ được dư luận Mỹ. Ta cân nhắc khi nào dân Mỹ “sôi sục” về vấn đề thả tù binh nhất, khi nào Quốc hội Mỹ họp bàn về vấn đề này thì đó cũng là lúc ta ấn định thời hạn thả tù binh.

Đề cao Mặt trận

Tại Pa-ri, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là một bên đàm phán chính thức, ngồi cùng đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa đàm phán song phương với Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Có một điều nổi bật, thể hiện rõ chính sách ngoại giao khôn khéo và sáng suốt của Việt Nam trong những năm đàm phán Pa-ri, đó là trong những phiên họp 4 bên, đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa thường nhường quyền phát ngôn đối với tất cả các vấn đề liên quan đến hiệp định hòa bình cho đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Kể cả thứ tự phát biểu cũng ưu tiên đoàn Mặt trận giải phóng trước.

Có thể hiểu điều này từ câu phân tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ta vừa có ngoại giao của Việt Nam dân chủ cộng hòa, vừa có ngoại giao của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Vừa là hai mà là một, vừa là một mà lại là hai. Hai khối đó phải kết hợp chặt chẽ với nhau”. Ta chủ trương, Mặt trận Dân tộc phải được coi như người phát ngôn về những đề nghị hòa bình được đưa ra. Bởi trong việc tranh thủ dư luận, đấu tranh lên án tấn công Mỹ thì phái đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam là rất quyết liệt, mạnh mẽ, rất có tác dụng. Với chính sách ngoại giao hòa bình trung lập, tiếng nói của Mặt trận Dân tộc giải phóng dễ đi vào lòng người. Thêm vào đó, khi ở diễn đàn đàm phán công khai, ta nhường quyền và sức mạnh tấn công địch cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, có nghĩa là ta tôn trọng và đề cao vị thế của Mặt trận Dân tộc giải phóng. Đó là một đặc thù, một ưu thế mà không nước nào trên thế giới có được trong cùng một hoàn cảnh đất nước bị chia cắt.

Bài và ảnh: NGỌC THƯ
qdnd.vn

Hiệp định Paris và tấm lòng bè bạn

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (27.1.1973 – 27.1.2013)

Trong gần 5 năm đấu tranh gian nan trên bàn đàm phán, ngoài nỗ lực của toàn dân tộc Việt Nam, không thể không kể đến sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Những ngày này, hàng chục vị khách quốc tế – nhân chứng của sự kiện 40 năm trước – có mặt tại Hà Nội, cùng nhân dân Việt Nam kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris.

Thị trưởng Choisy le Roi Daniel Davise: Choisy le Roi là nơi phái đoàn Việt Nam đã làm việc trong những ngày diễn ra Hội nghị Paris. Tòa nhà trường Đảng Cộng sản Pháp tại phố Maurice Thorez được dành riêng cho phái đoàn Việt Nam ở miễn phí trong gần 5 năm. Chúng tôi đã làm mọi điều có thể, từ việc cử người bảo vệ và nấu ăn cho phái đoàn Việt Nam, trong suốt thời gian đàm phán căng thẳng về lập lại hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Nhiều cán bộ của Hội đồng Thị chính Choisy le Roi và các đảng viên Đảng Cộng sản Pháp đã nhiệt tình giúp đỡ cả về tinh thần lẫn vật chất cho 2 phái đoàn Việt Nam…

Hiện nay, các tài liệu, hình ảnh, hiện vật, băng ghi hình… từ các buổi đàm phán tại Hội nghị Paris đều được lưu giữ cẩn thận. Đặc biệt chúng tôi còn có những cuốn phim tài liệu dài về phái đoàn đàm phán Việt Nam. Đến thời điểm này, tại thành phố vẫn còn rất nhiều nhân chứng sống. Căn phòng nơi diễn ra hội nghị cùng những hiện vật trong đó vẫn được giữ gìn nguyên vẹn.

Cô gái Mỹ cắm hoa vào họng súng của lính cảnh vệ Quốc gia như một biểu tượng mong muốn hòa bình ở Việt Nam

Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Ramsey Clark: Đây là lần thứ 2 sau năm 1970 chúng tôi đến Việt Nam, bởi trước đó, đến Việt Nam chúng tôi bị coi là phản bội đất nước. Nhưng cần khẳng định một điều, chúng tôi – những người yêu chuộng hòa bình đã luôn đấu tranh để ủng hộ các bạn. Khi Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, thì ở Mỹ cũng có cuộc chiến tranh của những người yêu chuộng hòa bình. Hàng ngàn người Mỹ đã bị bắt và buộc tội vì gây mất trật tự để ủng hộ Việt Nam. Hội nghị Paris kéo dài, chúng tôi đã rất lo lắng. Một số người trong nhóm chúng tôi còn sang tận Paris gặp bà Nguyễn Thị Bình để được thông tin về tình hình đàm phán. Sau khi Hiệp định Paris được ký, chúng tôi cùng các bạn cũng phải mất 2 năm đấu tranh để biến nó thành hiện thực, bao gồm điều khoản cung cấp hỗ trợ để hoàn gắn vết thương chiến tranh, chấm dứt sự hỗ trợ của chính quyền Mỹ cho Thiệu. Chúng tôi đã thông qua nhiều hiệp hội những người bạn của Mỹ đấu tranh, quyên góp ủng hộ các bạn Việt Nam thời kỳ này…

Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt Helene Luc: Trong suốt thời gian diễn ra cuộc đàm phán, rất nhiều người Pháp thuộc nhiều tôn giáo, đảng phái chính trị khác nhau, đặc biệt là những người đấu tranh cho hòa bình đã đến nơi ở của phái đoàn Việt Nam để bày tỏ sự ủng hộ. Có thể nói, Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ. Hiệp định Paris cũng củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa; đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp là một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, tiếp tục đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh, thành viên đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris: “40 năm đã trôi qua, độ dài thời gian cho phép chúng ta có thể nhìn lại rõ hơn tính chất cuộc đấu tranh tại bàn đàm phán và đánh giá sâu hơn về ý nghĩa của Hiệp định Paris đối với vận mệnh đất nước và sức mạnh ngành ngoại giao Việt Nam. Cuộc đàm phán Paris để lại rất nhiều bài học. Có người coi các bài học này có thể ghi lại thành một pho từ điển. Xin nêu 3 bài học có nhiều ý nghĩa cơ bản và thực tiễn. Thứ nhất, đề cao chính nghĩa dân tộc và ngọn cờ hòa bình, đánh mạnh vào chỗ yếu của đối phương làm chiến tranh phi nghĩa và gây tội ác. Thứ hai, kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự, gắn đàm phán với chiến trường, với tình hình nội bộ của Mỹ và tình hình quốc tế. Thứ ba, độc lập tự chủ, đoàn kết quốc tế là bảo đảm cơ bản có thành công của ngoại giao và đàm phán”.

PV ghi
daibieunhandan.vn

40 năm Hiệp định Paris: Gặp các nhân chứng lịch sử

Bà Nguyễn Thị Bình gặp gỡ các nhân chứng lịch sử. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)

Nằm trong chương trình hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris (27/1/1973-27/1/2013) do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức, ngày 27/1, tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở Thành phố Hồ Chí Minh, khoảng 50 đại biểu quốc tế cùng các nhân chứng lịch sử của Việt Nam đã tham dự hội thảo bàn tròn “Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử.”

Cùng dự có bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và đại diện lãnh đạo Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam; lãnh đạo Thành ủy, Ủy ban Nhân dân và đông đảo đại diện các tầng lớp nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Việt Nam mãi mãi không quên sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế

Tại hội thảo, các đại biểu quốc tế và trong nước đã cùng nhau ôn lại ý nghĩa lịch sử của quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris, sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế đối với nhân dân Việt Nam trong cả cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Đánh giá về những giá trị của Hiệp định Paris đối với Việt Nam, bà Hélene Luc, Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Pháp-Việt, chia sẻ: “Chiến thắng đó là nhờ lòng dũng cảm của nhân dân Việt Nam, cùng sự thống nhất, đoàn kết quốc tế và nhất là sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước. Thành phố Choisy-le-Roi có vinh hạnh đón đoàn Việt Nam, nhiệm vụ của chúng tôi là làm cho thế giới thấy rằng xung quanh phái đoàn Việt Nam là tình thương yêu, tình đoàn kết quốc tế, Việt Nam không cô đơn.”

Ở góc nhìn bao quát hơn, bà Men Sam An, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ vì hòa bình và phát triển Vương quốc Campuchia cho rằng Hiệp định Paris được ký kết không chỉ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam mà ở cả ba nước Đông Dương.

Theo bà Men Sam An, qua câu chuyện từ cha mẹ mình và những ấn tượng sâu sắc khi bộ đội Việt Nam đến giúp ngôi làng của bà có hòa bình, bà đã quyết định tham gia quân đội nhân dân Việt Nam.

Nhiều câu chuyện, kỷ niệm, cảm xúc về cuộc đàm phán, ký kết Hiệp định Paris, cũng như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, đã được bạn bè quốc tế chia sẻ tại hội thảo.

Đại biểu Rabin Deb, Bí thư Ban Thường vụ Tổ chức Hòa bình và Đoàn kết toàn Ấn; bà Hyun Soonhye, vợ nhà văn Oda Makoto (Nhật Bản); ông Ramsey Clark, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mỹ… cũng đã chia sẻ về những hoạt động, việc khởi xướng và phát động các phong trào phản đối chiến tranh tại Việt Nam, sự quyên góp về vật chất cũng như tinh thần ủng hộ nhân dân Việt Nam trong quá trình đàm phán, đấu tranh thống nhất đất nước.

Phía về Việt Nam, nhiều nhân chứng lịch sử như ông Hà Văn Lâu, Phó trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Paris, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; bà Phan Thị Quyên, vợ anh hùng, liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi… cũng đã chia sẻ những kỷ niệm, câu chuyện xúc động trong quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris và tình hình thực tế tại Việt Nam trong những năm tháng chống chiến tranh tại Việt Nam.

Thay mặt người dân Việt Nam gửi lời cám ơn đến các đại biểu quốc tế, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, bày tỏ: “Tôi muốn thông qua các bạn gửi đến hàng triệu người trên thế giới, từ châu Âu, châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và cả nước Mỹ, lời cảm ơn đã đồng hành cùng chúng tôi trong cuộc trường chinh 20 năm. Có thể nói, nhiều bạn bè trên thế giới đã đi cùng chúng tôi chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Mãi mãi nhân dân Việt Nam không bao giờ quên bạn bè đã giúp chúng tôi.”

Bà Nguyễn Thị Bình khẳng định: “Sự chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi, trong đó nhân tố quan trọng nhất là đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Việt Nam trong những năm tháng gian nan đó, cả triệu người như một và sự nghiệp của chúng tôi được phong trào thế giới với hàng triệu, hàng triệu người ủng hộ. Mong rằng các bạn luôn luôn nhớ Việt Nam và chúng ta cùng đoàn kết trên con đường đấu tranh cho hòa bình, cho tự do.”

Đoàn kết các dân tộc cho một thế giới hòa bình

Kết thúc hội thảo, bà Jeanne Ellen Mirer, Chủ tịch Hội Luật gia Dân chủ Quốc tế, đại diện cho các đại biểu quốc tế tham gia lễ kỷ niệm đã đọc Thông điệp đoàn kết của các đại biểu quốc tế.

Thông điệp nêu rõ các đại biểu quốc tế đã tập hợp tại Việt Nam để tôn vinh và chào mừng lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, mở đường cho thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam giải phóng và thống nhất đất nước sau nhiều thập niên chiến tranh xâm lược.

“Chúng tôi bày tỏ tinh thần đoàn kết nhiệt thành với nhân dân Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, bình đẳng, dân chủ, văn minh và có điều kiện để phát triển trong một môi trường hòa bình, nơi nhân dân làm chủ vận mệnh và tài nguyên của mình,” thông điệp nhấn mạnh.

Thông qua thông điệp của mình, các đại biểu quốc tế đã bày tỏ lòng tôn trọng và ngưỡng mộ đối với nhân dân Việt Nam, những người đã chiến đấu anh dũng chống ngoại xâm, đặc biệt đối với những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Các đại biểu bày tỏ tình đoàn kết, chia sẻ đối với các nạn nhân chiến tranh, đặc biệt các thế hệ đến nay vẫn phải gánh chịu hậu quả của chất độc da cam.

Thông điệp có đoạn: “Là những người yêu chuộng hòa bình từ mọi nơi trên thế giới, chúng tôi rút ra những bài học kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, rằng các dân tộc bị áp bức và chiếm đóng có quyền kháng cự và đấu tranh vì tự do và quyền quyết định vận mệnh của mình không có bất kỳ sự can thiệp nào của nước ngoài. Bảo vệ chính các giá trị và nguyên tắc mà chúng tôi từng bảo vệ trong thời gian chiến tranh Việt Nam , chúng tôi tuyên bố đoàn kết với các dân tộc đang đấu tranh cho một thế giới hòa bình và một xã hội công bằng.

Từ Việt Nam, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi bày tỏ niềm tin tưởng rằng tấm gương Việt Nam sẽ cổ vũ các dân tộc trên thế giới đến thắng lợi cuối cùng”./.

Hoàng Anh Tuấn (TTXVN)
vietnamplus.vn

Thắng lợi của Hiệp định Pari là bài học về sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại

Trong thời gian diễn ra Hội nghị Pari về Việt Nam (1968 – 1973), bà Nguyễn Thị Bình (ảnh) đại diện cho đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) tham gia đàm phán trên bàn Hội nghị. Bà cũng là người phụ nữ duy nhất ký tên trong bản Hiệp định Pari cách đây 40 năm với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sau này, bà đảm nhận cương vị Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari về Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), phóng viên báo Tin tức đã có cuộc gặp và phỏng vấn nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình về tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của Hiệp định Pari 40 năm về trước. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

´Là nữ bộ trưởng ngoại giao duy nhất trong Hội nghị Pari, xin bà cho biết cảm xúc của mình khi đảm nhận nhiệm vụ thiêng liêng nhưng cũng đầy khó khăn này?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Khi được giao nhiệm vụ đi Pari tham dự Hội nghị, tôi rất lo lắng, vì biết đây là nhiệm vụ rất quan trọng và rất khó khăn. Hơn nữa, tôi lại không phải là người được đào tạo bài bản ở trường ngoại giao, nên cũng khá lo lắng. Bởi tôi biết, tham gia một cuộc đàm phán tức là tham gia một cuộc đấu tranh chính trị là điều không đơn giản. Tuy nhiên, khi đó tôi nghĩ rằng, các đồng chí lãnh đạo đã cân nhắc khi cử tôi đi làm nhiệm vụ này, thì chắc các đồng chí nghĩ tôi có đủ điều kiện và khả năng đảm nhận công việc này nên tôi đã tự tin lao vào công việc, và thực tế là tôi cũng đã rất cố gắng.

´Trước khi Hiệp định Pari được ký kết năm 1973, thì thời gian đàm phán quyết định nhất là thời gian nào, thưa bà?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Cuộc đàm phán 4 bên ở Pari bao gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) Mỹ và Việt Nam Cộng hòa với mục đích nhằm tìm một giải pháp chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Trong suốt thời gian gần 5 năm diễn ra cuộc đàm phán, có rất nhiều lúc căng thẳng. Nhưng căng thẳng nhất là vào những tháng cuối năm 1972. Lúc đó, tình hình chiến trường cũng tạo cho ta những điều kiện thuận lợi so với đối phương. Mặt khác, lúc bấy giờ Tổng thống Mỹ Nixon cũng sắp bước vào cuộc tổng tuyển cử thứ 2, nên phía Mỹ cũng muốn tỏ ra cuộc đàm phán Pari đã đi đến kết thúc, điều mà nhân dân thế giới nói chung và nhân dân Mỹ rất mong đợi, nên hai bên ta và Mỹ đã đi vào thương lượng thực chất (trước đó không phải thương lượng mà nói cho đúng là cuộc đấu tranh về chính trị, về lý lẽ trên bàn Hội nghị và trong dư luận quốc tế) để chấm dứt chiến tranh. Hai bên đã đi đến thỏa thuận về một dự thảo Hiệp định.

Tuy nhiên, phía Mỹ chưa phải là muốn chấm dứt chiến tranh thực sự, mà đó chỉ là ý đồ của Tổng thống Nixon, muốn cho mọi người thấy có thể chấm dứt chiến tranh để tranh thủ sự ủng hộ trong cuộc tổng tuyển cử ở Mỹ, do đó hai bên đã đi đến thỏa thuận một bản Dự thảo cơ bản Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Bởi vậy, ngay khi Tổng thống Mỹ Nixon đạt được mục đích là thắng cử ngày 4/11/1972, Mỹ đã lật lọng, đặt ra vấn đề xem xét lại Dự thảo Hiệp định Pari, gây sức ép buộc ta sửa đổi một số điều không có lợi cho Mỹ trong Dự thảo Hiệp định. Đỉnh điểm của sự ép buộc đó là cuộc không kích 12 ngày đêm bằng B52 vào Hà Nội. Sau khi thất bại, buộc phải ngừng ném bom B52 xuống Hà Nội ngày 30/12/1972, Mỹ đã đặt vấn đế quay lại bàn ngoại giao để bàn về Hiệp định Pari. Tôi cho rằng đó là giai đoạn hết sức căng thẳng. Nếu chúng ta không thắng ở trận Điện Biên Phủ trên không, chắc chắn sẽ rất phức tạp. Nhưng Mỹ đã thất bại hoàn toàn trên bầu trời Hà Nội, do đó Mỹ buộc phải đi đến ký kết Hiệp định cơ bản như Dự thảo hai bên đã thỏa thuận cuối năm 1972.

´Xin bà cho biết, chúng ta đã đặt ra mục tiêu gì, đã đạt được gì từ Hiệp định Pari và đâu là nhân tố quyết định thành công trên bàn đàm phán?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Có thể nói, Hiệp định Pari là kết quả của cả một cuộc chiến đấu trường kỳ 20 năm của quân và dân ta. Từ sau chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, đến năm 1955 ta đã bắt đầu cuộc đấu tranh, nhưng đến năm 1959, chúng ta vừa đấu tranh vũ trang, đồng thời vừa kết hợp đấu tranh chính trị. Như vậy, kết quả của Hiệp định là kết quả của cả một cuộc đấu tranh kéo dài, một cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện. Thắng lợi đây là thắng lợi về quân sự, đồng thời là thắng lợi về chính trị và cũng là thắng lợi về ngoại giao. Nếu nói đâu là kết quả của thắng lợi thì phải nói về cả một cuộc đấu tranh lâu dài và thắng lợi trên các mặt trận để đi đến thúc ép Mỹ ký Hiệp định Pari.

´Theo bà, từ cuộc đàm phán đi đến ký kết Hiệp định Pari có thể rút ra những bài học quý báu nào cho công tác ngoại giao sau này?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Tôi nghĩ rằng, Hội nghị Pari trải qua hơn 4 năm, nếu nói cho đúng, trước đó chúng ta cũng đã quan tâm đến vấn đề đấu tranh trên mặt trận dư luận, ngoại giao, nhưng tập trung ở cuộc đàm phán 4 bên ở Pari. Với nhân dân ta nói chung, đặc biệt là các đồng chí làm công tác ngoại giao thì tôi nghĩ, cuộc đấu tranh ở Hội nghị cho chúng ta rất nhiều bài học quý báu, và những bài học đó vẫn có giá trị cho cả ngày nay và mai sau. Theo tôi, trước hết cuộc đấu tranh của chúng ta rất phức tạp, bởi tuy là cuộc đấu tranh giữa ta và Mỹ, nhưng cũng là mối quan tâm của nhiều nước lớn trên thế giới. Bài học đầu tiên từ Hội nghị trước hết là bài học về độc lập tự chủ. Chúng ta giữ vững nguyên tắc về độc lập tự chủ, chúng ta phải xuất phát từ lợi ích quốc gia của mình, phải biết là lực lượng mình như thế nào, đối phương như thế nào để quyết định từng bước đi và luôn luôn có sự kết hợp giữa chiến trường và trên mặt trận ngoại giao.

Bài học thứ 2 là chúng ta phải hết sức kiên định đối với lập trường nguyên tắc và mục tiêu chiến lược của chúng ta, tuy nhiên, trong sách lược phải biết mềm dẻo. Ví dụ, chúng ta đặt ra mục tiêu trong cuộc đàm phán hai yêu cầu: Yêu cầu thứ nhất là Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam. Yêu cầu thứ 2 là phải bỏ chính quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, để nhân dân Việt Nam lựa chọn chính quyền của mình. Nhưng khi tình hình đến một mức nào đó, thì chúng ta tập trung vào một mục tiêu là Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam. Vì chúng ta biết, khi Mỹ rút quân và chấm dứt sự can thiệp ở miền Nam Việt Nam, thì vấn đề miền Nam Việt Nam chúng ta sẽ có điều kiện giải quyết và giành được thắng lợi.

Một bài học lớn nữa là chúng ta biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Nghĩa là chúng ta phải trông vào sức mình, do đó về mặt chính trị, quân sự chúng ta đều hết sức cố gắng, nên chúng ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, chúng ta cũng nhận thấy, trong một cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, với một đối phương mạnh hơn chúng ta nhiều lần, thì chúng ta cũng phải biết trông vào sức mạnh đoàn kết quốc tế, và điều đó chúng ta đã làm được. Có thể nói, phong trào đoàn kết quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là phong trào đoàn kết quốc tế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Đó chính là sức mạnh to lớn góp sức thêm vào cuộc đấu tranh, vào sức mạnh dân tộc của chúng ta, do đó mà chúng ta đã đạt được thắng lợi.

´Là người đã tham gia và đóng góp nhiều công sức trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, bà có nhắn nhủ gì với thế hệ trẻ hôm nay?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Trước hết, các thế hệ trẻ ngày nay cần thấy được giá trị của độc lập, tự do mà cha ông ta đã giành được. Các bạn trẻ hãy ghi nhớ, để các bạn có cuộc sống như ngày hôm nay là nhờ sự lãnh đạo tài tình của Đảng và trí tuệ của dân tộc Việt Nam trong suốt những năm tháng đấu tranh gian khổ. Đã có nhiều thế hệ cha, ông đã phải hy sinh, đổ xương máu trong mấy chục năm chiến tranh rất ác liệt để gìn giữ đất nước. Cũng chính từ những cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc ta mà thế giới đã biết đến, khâm phục và rất trọng thị đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam.

Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta chưa phát triển được theo cách như chúng ta mong muốn nên cần phải cố gắng rất nhiều. Thế hệ trẻ cần biết suy nghĩ và vươn lên. Bây giờ chưa phải là lúc mình hưởng thụ, mà phải tiếp tục sự nghiệp này như Bác Hồ đã nói: Mình có độc lập, có hòa bình, nhưng đất nước chưa phát triển, nhân dân chưa hạnh phúc, thì độc lập đó chưa có ý nghĩa đầy đủ. Nên bây giờ chúng ta phải tiếp tục một cuộc đấu tranh mới, cuộc đấu tranh này tuy không gian khổ, không chết chóc như trước, nhưng nó cũng đòi hỏi một sự phấn đấu, nỗ lực không phải chỉ của một số người, mà của cả nhân dân, cả dân tộc.

Xin cảm ơn nguyên Phó Chủ tịch nước vì cuộc trò chuyện này!

Phương Lan (thực hiện)
baotintuc.vn

Gặp gỡ nhân chứng Hiệp định Paris

Ngày 27/1, tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh (TP Hồ Chí Minh), Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam tổ chức Hội thảo bàn tròn “Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử”, nhân kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013).

Toàn cảnh hội thảo.

Bà Men Som Ol, Thượng nghị sĩ, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ vì hòa bình và phát triển Vương quốc Campuchia, người đã từng tham gia lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, phát biểu tại hội thảo.

Bà Nguyễn Thị Bình (bên trái), Trưởng Phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, người đã đặt bút ký vào Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973, gặp gỡ các chứng nhân lịch sử trong nước và quốc tế.

Bà Võ Thị Thắng, người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu với “Nụ cười chiến thắng” trong tấm ảnh lịch sử thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phát biểu tại hội thảo.

Ông Andre Menras (tên Việt Nam là Hồ Cương Quyết), hiện là Ủy viên Ủy ban toàn quốc Hội Hữu nghị Pháp – Việt, Chủ tịch Hội Hữu nghị vì sự phát triển và trao đổi giáo dục Pháp – Việt, người đã công khai lao lên đầu tượng đài 2 lính thủy đánh bộ trước trụ sở Quốc hội chính quyền Sài Gòn để phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và tung truyền đơn đòi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Ông Ramsey Clark, cựu Bộ trưởng Tư pháp Mỹ (1967-1969) dưới thời Tổng thống L.B.Johnson, người đã lên tiếng phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và có nhiều đóng góp trong các hoạt động đoàn kết ủng hộ Việt Nam.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp – Việt (chồng là cố Thị trưởng Paris, ông Choisy le Roi, đã có nhiều đóng góp cho các hoạt động đoàn kết hữu nghị với Việt Nam), giới thiệu bức ảnh tư liệu lịch sử của gia đình bà, trong ảnh là bà Nguyễn Thị Bình phát biểu trước hội nghị đàm phán 4 bên ở Paris; với mong muốn tặng lại bức ảnh này cho Bảo tàng Chứng tích chiến tranh Thành phố.

Chùm ảnh: Thế Anh – TTXVN
baotintuc.vn

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Pari – Nhân tố góp phần tạo nên thắng lợi

Họ là những nhân tố không thể thiếu góp phần tạo nên thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và là sự cổ vũ lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới vì tự do và hòa bình.

Bà Raymond Dien.

Tại cuộc mít tinh kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari (27/1/1973 – 27/1/2013) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam diễn ra ngày 24/1 tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, nhiều cô bác Việt kiều và bạn bè Pháp yêu mến Việt Nam tham dự mít tinh đã chia sẻ với phóng viên TTXVN những tình cảm đoàn kết, hữu nghị và kỷ niệm gắn bó với nhân dân Việt Nam.

Nhân dịp này, ông Pierre Laurent, Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp (PCF), đã bảy tỏ sự biết ơn và sự cám ơn đối với những đảng viên có nhiều đóng góp trong cuộc đấu tranh chống thực dân, những người bạn Pháp luôn bên cạnh nhân dân Việt Nam như: Henri Martin, Raymond Dien, Madeleine Rifaud, Charles Fourniau, Raymon Aubarac…

Ông nói không chỉ rất tự hào về điều đó, mà càng tự hào hơn khi các cuộc đàm phán diễn ra tại Pari và các văn kiện lịch sử đã được ký tại đây, tạo tiền đề cho Việt Nam kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thống nhất đất nước.

Đánh giá về sự giúp đỡ và ủng hộ của thành viên PCF, nhân dân tiến bộ vì hòa bình trên toàn thế giới cũng như của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, Đại sứ Dương Chí Dũng khẳng định hỗ trợ của họ cho các đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam là “những tình cảm tốt đẹp, sự giúp đỡ quý báu” – là “chất kết dính” để bà con tiếp tục tăng cường đoàn kết, gắn bó hơn nữa, giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng cộng đồng ngày càng phát triển thịnh vượng.

Bác Lâm Bá Châu – người tham gia lãnh đạo phong trào Việt kiều tại Pháp thời đó.

Nhìn lại 40 năm qua, ông Jean Joel Lemarchand, Phó Thị trưởng thứ nhất Choisy-Le-Roi, cho biết ông không thể quên những tình cảm gắn bó ông với Việt Nam khi đó ông là thư ký đặc biệt của nghị sỹ, Thị trưởng thành phố Choisy-Le-Roi, ông Fernand Dupuy, lúc bấy giờ. Những cuộc tiếp đón và làm việc của Thị trưởng thành phố Fernand Dupuy với đoàn đại biểu miền Bắc – Việt Nam đến lưu trú trường của PCF, nơi ông cũng từng học trong vòng 4 tháng, luôn “trở về đầy ắp trong ông”.

Khi đó, ông là một sinh viên triết học, ông nhớ như in những cuộc biểu tình lớn ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa vì hòa bình của nhân dân Việt Nam diễn ra tại Choisy-Le-Roi và Pari, khi ông tham gia và hô lớn tên của bà Bình, hô vang khẩu hiệu “Việt Nam sẽ chiến thắng”. Theo ông, đây là “ngôi trường của hòa bình, tình hữu nghị và sự thân quen”, nó thể hiện tình cảm của thành phố Choisy-Le-Roi đối với bạn bè Việt Nam.

Cũng như ông Jean Joel Lemarchand, bà Raymond Dien, tuy đang phải ngồi xe đẩy nhưng rất sôi nổi và hào hứng khi được hỏi về những tình cảm của mình dành cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Ngoài việc tham gia các cuộc biểu tình phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam, bà là người nằm ngang đường ray ngăn cản các đoàn tàu chở vũ khí đạn dược sang Việt Nam và đã bị cảnh sát bắt giam. Ngày nay, bà vẫn tiếp tục chia sẻ, ủng hộ nạn nhân và giúp đỡ những đứa trẻ tàn tật bẩm sinh do tác hại của chất độc da cam, những khó khăn của gia đình họ.

Bà Nicole Trampoglieri, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt tại Choisy-Le-Roi cho biết, cách đây 40 năm, khi mới 18 tuổi bà đã tham gia biểu tình ủng hộ Việt Nam. Sau đó, khi là sinh viên bà vẫn biểu tình để ủng hộ, bảo vệ Việt Nam, bảo vệ hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa hai nước.

Thật cảm động khi bà kể lại, bà không thể nào quên khi cô con gái đầu lòng ra đời đúng vào tháng 1/1972 và bà lấy tên “Lan” (tên Việt Nam) đặt cho con, dạy những từ “Hô Chí Minh …chiến thắng”….! (Ho Chi Minh Vaincra) khi con bắt đầu bi bô tập nói.

Bà chia sẻ : “Tôi thực sự cảm động vì cuộc kháng chiến vì hòa bình của các bạn”. Theo bà, Việt Nam đối với bà đó là “Việt Nam của thế hệ trẻ” – “Việt Nam của sự giác ngộ về chính trị”. Với bà đây thật sự là một tình cảm mãnh liệt và bà luôn “giơ cao ngọn cờ tình hữu nghị Pháp – Việt”.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, bác Lâm Bá Châu, người tham gia lãnh đạo phong trào Việt kiều thực hiện các nhiệm vụ của đoàn giao cách đây 40 năm cho biết thế hệ của bác ai cũng nhớ kỷ niệm sâu sắc nhất là khi các bạn sinh viên quốc tế hết lòng ủng hộ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên Mỹ.

Ngoài việc tham gia các cuộc biểu tình của sinh viên ủng hộ Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, các bạn sinh viên Mỹ không bao giờ ủng hộ cho phái đoàn Mỹ hay chính quyền Sài Gòn. Những sinh viên Mỹ, Pháp hay sinh viên quốc tế khác họ đều phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam.

Bác Đào Thị Hoàng Anh, 76 tuổi, cho biết, hồi đó bà được giao việc lo hậu cần, trang trí nhà, tham gia may hơn trăm chiếc màn gió (rideau) cho đoàn đại biểu Việt Nam và lo chỉnh trang trang phục cho bà Nguyễn Thị Bình, bà Dung… ở Verrière-le-Buisson khi đến tham gia đàm phán.

Trước khi đi dự hội nghị, ông Xuân Thủy nói rằng: “Cô Hoàng Anh cố gắng lo trang phục thật đẹp cho các chị, vì sẽ có hàng triệu cặp mắt chăm chú dõi cho nên phải mặc cho phù hợp”.

Bà Hoàng Anh cho biết từ những việc nhỏ nhất, nếu có thể, bà đều sẵn sàng và cố gắng giúp cho đoàn đàm phán.

Làm sao có thể kể hết sự ủng hộ và giúp đỡ của bà con cộng đồng người Việt tại Pháp khi đó. Có những sự ủng hộ công khai, có những sự giúp đỡ thầm lặng, có những điều chỉ có thể cảm nhận, nhưng tất cả đều là những đóng góp vô giá tạo thành quả hôm nay.

Nhóm phóng viên TTXVN tại Pháp
baotintuc.vn

Hiệp định Paris – Dấu son của ngành ngoại giao Việt Nam

Đúng 40 năm trước, ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết là kết quả thắng lợi hết sức quan trọng của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Bốn thập kỷ đã trôi qua nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán vẫn luôn in đậm trong ký ức những nhân chứng lịch sử, đồng thời đây cũng là một dấu son không bao giờ phai mờ được ghi vào lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh nói riêng.

Thắng lợi ngoại giao to lớn

Sau thất bại Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ buộc phải ngừng ném bom từ Ninh Bình trở ra phía Bắc và ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại Paris. Cuộc đàm phán giữa đoàn đại biểu Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức bắt đầu ngày 13-5-1968 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở đường Kleber, Paris đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh Việt Nam, đọ sức trên mặt trận ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm”.

Nhớ lại những ngày tháng đấu trí cam go, quyết liệt ấy, ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ, nguyên thành viên Đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chia sẻ, đó là một trong những hoạt động ngoại giao to lớn, quan trọng của Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, thu hút sự chú ý của dư luận thế giới.

Quang cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Ảnh tư liệu.

Cuộc đàm phán thể hiện sự đối đầu toàn diện về chiến lược và chiến thuật, bản lĩnh và trí tuệ, đạo lý và pháp lý giữa Việt Nam và Mỹ. Sự kết hợp khôn khéo chiến lược “vừa đánh vừa đàm” của Việt Nam buộc Mỹ phải ra lệnh chấm dứt mọi hành động ném bom đánh phá miền Bắc để đi tới đàm phán bốn bên.

Ông Huỳnh bồi hồi kể lại, mãi đến ngày 27-10-1968, hai bên mới thỏa thuận được tất cả các vấn đề và đến 31-10-1968, Johnson mới ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc. Lúc đó Hà Nội chỉ thị sang cuộc họp bốn bên sẽ không tiến hành trước ngày 6-11-1968.

Do đó, hai đoàn (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) chuẩn bị hai bản tuyên bố ngắn.

Theo thông lệ, vào phiên họp, đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ưu tiên phát biểu trước. Nhưng lần này, bắt đầu vào phiên họp Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy đã đứng lên tuyên bố bỏ phiên họp.

Ngay sau đó, không một phút chần chừ, Trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam là bà Nguyễn Thị Bình cũng đứng lên đồng tình ủng hộ ý kiến hủy bỏ phiên họp. Hai đoàn ra về nhanh chóng, điều đó làm cho đoàn Mỹ hoàn toàn bất ngờ không kịp phản ứng.

Đây có lẽ cuộc họp ngoại giao ngắn nhất trong lịch sử, ông Huỳnh cho biết.

Ngày đó, chỉ là một cán bộ bình thường tham gia thành viên của đoàn đàm phán nhưng mỗi khi nhớ lại, ông Nguyễn Khắc Huỳnh vẫn cảm thấy tự hào đã được đóng góp công sức cho thời khắc lịch sử ấy, Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi ngoại giao sáng chói, mở ra một chương mới cho nền ngoại giao Việt Nam và cả vận mệnh đất nước.

Qua đàm phán Paris, ngoại giao Việt Nam tiếp thu thêm những ý tưởng mới, hiểu thêm thế giới và các quan hệ quốc tế, tạo thuận lợi cho công tác ngoại giao sau này.

Bằng chất giọng trầm ấm, tuy hơi chậm do tuổi tác nhưng vẫn toát lên khí chất của một cán bộ ngoại giao kỳ cựu, như đang sống lại những thời khắc lịch sử ấy, ông bộc bạch: “Đến ngày 20-10-1972, hai bên đạt thỏa thuận cuối cùng, dự định ký Hiệp định ngày 31-10-1972. Với văn bản Hiệp định hai bên đã thỏa thuận, Việt Nam đã đạt được các mục tiêu đề ra đó là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Tôi và các thành viên trong đoàn đều không thể nào ngủ được vì vui sướng, bởi điều mình chờ đợi rất lâu, nay đã đến. Lúc đó, chỉ muốn báo tin ngay về cho người thân để thốt lên: Việt Nam sắp hòa bình rồi”.

“Tù binh” trong vấn đề tù binh tại đàm phán Paris

Trong văn bản Hiệp định Paris, vấn đề tù binh, nhất là tù binh chính trị trở thành một trong các vấn đề đấu tranh gay gắt nhất. Các quy định chính của Hiệp định Paris năm 1973 đã đáp ứng đúng những yêu cầu cơ bản nhất của nhân dân Việt Nam. Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược ở cả hai miền Việt Nam và rút hết quân đội về nước, song song với việc Việt Nam thả hết tù binh Mỹ.

Với tư cách là người được giao nhiệm vụ phụ trách vấn đề quản lý tù binh Mỹ, ông Trần Tuấn Anh, nguyên Đại sứ, nguyên thành viên Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris, kể lại: “Khi Hiệp định Paris diễn ra, tôi không phải là người đầu tiên đi theo đoàn mà ở lại nhận nhiệm vụ phụ trách vấn đề tù binh ở Hà Nội. Tháng 9-1969, tôi mới sang Paris để nhập vào đoàn đàm phán theo dõi tình hình tù binh.

Sau thời gian 9 tháng, đoàn Việt Nam nhận định hội nghị còn có thể kéo dài, ít chuyển biến, thêm nữa vấn đề tài chính của đoàn lúc này có khó khăn nên tôi đã trở về nước. Đến tháng 11-1972 tôi trở lại Paris và trực tiếp tham gia vào vấn đề đấu tranh trao trả tù binh”.

40 năm đã qua đi, nhưng ký ức xưa vẫn mãi mãi khắc ghi trong tâm khảm của những nhân chứng lịch sử như ông Trần Tuấn Anh. Những lý luận đấu tranh cứng rắn, chắc chắn và quyết liệt, chặt chẽ của Việt Nam về vấn đề tù binh trở thành một trong những giải pháp buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh.

Chính sách nhân đạo đối với tù binh Mỹ của Việt Nam đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, nhất là từ tháng 5-1969, khi chính quyền Nixon khuấy lên rất mạnh vấn đề này. Những hoạt động chủ yếu của chính quyền Nixon dựa vào xuyên tạc và vu cáo.

Nhưng thời gian đầu, họ đã lợi dụng hệ thống thông tin rộng lớn và hiện đại, nhất là vào sự ít hiểu biết về Việt Nam của nhân dân và dư luận Mỹ và đánh lừa được khá nhiều người. Do đó, cuộc đấu tranh của Việt Nam về vấn đề tù binh diễn ra rất gay gắt.

Mục tiêu đấu tranh của Việt Nam là làm thất bại âm mưu thủ đoạn của Mỹ, đề cao chính sách nhân đạo của Việt Nam đối với tù binh Mỹ, làm nổi bật tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.

Điều đó đã làm cho những luận điệu xuyên tạc của Nixon ngày càng mất tác dụng, đồng thời tạo thuận lợi cho lĩnh vực đấu tranh của Việt Nam trong vấn đề tù binh. Chính vì vậy, ở thời điểm đó, các hãng thông tin của Mỹ và dư luận báo chí nhận xét: “Chưa bao giờ Mỹ lại có vẻ bất lực, trơ trụi như bây giờ”, “chính quyền này tự đào hố chôn mình”, “Nixon đã trở thành tù binh của vấn đề tù binh”… ông Trần Tuấn Anh kể.

Khi Hiệp định Paris 1973 bắt đầu có hiệu lực, Việt Nam trao trả tất cả tù binh Mỹ bị bắt vào đúng các thời điểm mà các bên thỏa thuận. Điều đó đã trở thành sức mạnh, tạo sức ép lớn chống lại ý đồ của phía Mỹ tìm cách dây dưa việc rút hết quân đội ra khỏi Việt Nam, nhất là chống lại âm mưu của chính quyền Sài Gòn gây ra những khó khăn, trục trặc để không trao trả hết tù binh của Việt Nam.

Ngày 29-3-1973, diễn ra đợt cuối cùng Việt Nam trao trả tù binh cho Mỹ, đồng thời cùng diễn ra đợt cuối cùng quân đội Mỹ rút hết khỏi miền Nam, đánh dấu việc hoàn thành điều khoản quan trọng nhất của Hiệp định Paris.

Nhờ khéo vận dụng nhiều chính sách và sách lược phù hợp với tình thế ta-địch, với tình hình và luật pháp quốc tế nên Việt Nam đã có những thành công lớn trong việc dùng vấn đề tù binh, trước hết là vấn đề phi công Mỹ bị bắt, trong đấu tranh chính trị và đàm phán với Mỹ, góp phần làm phân hóa nội bộ Mỹ, tạo sức ép trong dư luận và chính giới Mỹ, tạo thế mạnh khi đàm phán kết thúc chiến tranh, buộc Mỹ chấp nhận ký kết Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh và gắn thời hạn rút hết quân Mỹ với thời hạn thả hết tù binh.

Vấn đề tù binh chỉ là một vấn đề cụ thể, một bộ phận của giải pháp. Tuy nhiên đấu tranh thắng lợi trên vấn đề này cũng thể hiện trí tuệ và nghệ thuật đàm phán của Việt Nam , ông Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Trận chiến phối hợp giữa quân sự và ngoại giao

Những ngày này, thành công của Hiệp định Paris 40 năm về trước, một lần nữa lại bừng lên, vẹn nguyên trong ký ức của nguyên Đại sứ, nguyên Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trần Viết Tân.

Ông nhớ lại: “Vào khoảng đầu tháng 12-1969, ông Nguyễn Ngọc Sơn, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Ngoại giao gọi tôi đến phòng làm việc để giao nhiệm vụ mới: Thư ký phái đoàn Chính phủ (phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Tôi nghĩ đây là niềm vinh dự lớn nhưng là một nhiệm vụ rất quan trọng và nặng nề. Sau đó ít ngày, tôi theo đoàn cố vấn Lê Đức Thọ đến Paris.

Đây là chuyến đi nước ngoài đầu tiên đầy ấn tượng, mọi việc đều mới lạ và bỡ ngỡ. Tôi đã nỗ lực cao, đồng thời học hỏi kinh nghiệm của những cán bộ ngoại giao đi trước nên sớm thích nghi với công việc.

Tôi được bố trí vào tổ ngoại giao do đồng chí Phan Hiền, Ủy viên Phái đoàn phụ trách (sau là Bộ trưởng Bộ Tư pháp) với nhiệm vụ hàng ngày là theo dõi và tập hợp các phát biểu của những nhân vật chính quyền, Quốc hội Mỹ cả hai phái “diều hâu” và “bồ câu” cùng những vị đứng đầu các nước thuộc phe Mỹ liên quan đến giải pháp cuộc chiến tranh Việt Nam. Những tư liệu này để cung cấp cho nghiên cứu giải pháp đàm phán với Mỹ”…

Thời gian làm Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Paris, có một sự kiện ấn tượng mà ông Tân nhớ như in: “Đó là đầu năm 1971, Mỹ Ngụy mở chiến dịch lấy tên Lam Sơn 719 tại Đường 9 Nam Lào nhằm đánh chặn sự chi viện từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam. Quân Việt Nam đánh trả quyết liệt, giành thắng lợi lớn.

Lúc này tại Paris, Trưởng phái đoàn Việt Nam nhận định địch thua nặng ở chiến trường, tại phiên họp bốn bên ngày hôm sau sẽ có phản ứng, có thể phía Mỹ sẽ chuyển văn bản, xuyên tạc tình hình, vu cáo Việt Nam và chuyển qua đường thư ký. Trưởng Đoàn Việt Nam chủ trương không nhận văn bản của phía Mỹ.

Đúng như dự đoán, ngày hôm sau, vào hội nghị, trước lúc Trưởng đoàn Mỹ phát biểu, Thư ký Mỹ David Angel ngồi đối diện đẩy văn bản sang phía tôi. Như một phản ứng tự nhiên, tôi lập tức đẩy trả lại. Việc “đẩy-trả” diễn ra 2-3 lần. Nhận thấy cách đó không xong, David Angel đã phát biểu phê phán thư ký đoàn Việt Nam không nhận văn bản.

Sự việc trên cho thấy phía Việt Nam đã phán đoán rất đúng âm mưu của đối phương. Điều đó cũng thể hiện cách xử lý linh hoạt nhưng kiên quyết của phái đoàn Việt Nam trong đấu tranh giành từng chút thắng lợi, để đạt được thắng lợi cuối cùng trên bàn đàm phán. Ông Trần Viết Tân tâm đắc: “Đây là trận chiến phối hợp đẹp mắt giữa quân sự và ngoại giao, giữa chiến trường và bàn hội nghị!”.

TTXVN
qdnd.vn

Từ thắng lợi chiến trường đến thắng lợi ngoại giao (Tiếp theo và hết)

Kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973 / 27-1-2013)

Kỳ 2: Mỹ lật lọng và hành động của chúng ta

Nhận định chính xác

QĐND – Tháng 2-1971, sau khi đánh giá những thắng lợi của cả hai miền đã đạt được, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 19 khóa III đã phân tích tình hình và dự báo âm mưu, thủ đoạn sắp tới của đế quốc Mỹ trên cả hai miền Nam-Bắc: “Trên chiến trường miền Nam, chúng sẽ ráo riết “bình định” giành giật quyết liệt với nhân dân ta và phá hoại các vùng giải phóng; đồng thời, chúng sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới, tìm cách liều lĩnh mở những cuộc phản công cục bộ, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam”. Hội nghị khẳng định: “Chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta lúc này. Phải động viên sự cố gắng cao nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trên cả hai miền nước ta, ra sức thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn…”.

Năm 1972, cả Việt Nam và Mỹ đều nhận định là năm quyết định cho cuộc chiến tranh. Vì vậy, các cuộc đàm phán dần đi vào thực chất, càng về cuối càng có những chuyển biến quan trọng. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm, hai bên vẫn chưa thực sự đi vào đàm phán, vẫn nỗ lực trên chiến trường và thăm dò nhau trên bàn hội nghị. Cuộc gặp riêng từ ngày 8 đến 12-10-1972 là mốc đánh dấu bước chuyển căn bản của cuộc đàm phán. Trong đó, phía Việt Nam đưa ra Văn bản Dự thảo hiệp định hoàn chỉnh và đề nghị Mỹ ký ngay hiệp định đó. Hai bên thỏa thuận ngày 31-10-1972, sẽ ký hiệp định chính thức tại Pa-ri. Hiệp định Pa-ri đã có thể được ký kết theo đúng lịch trình nếu không có sự lật lọng từ phía Mỹ. Ngày 22 và 23-10-1972, Mỹ đòi hoãn ngày ký để thảo luận thêm.

Toàn cảnh Lễ ký kết Hiệp định Pa-ri, ngày 27-1-1973. Ảnh tư liệu.

Ngay sau khi Mỹ lật lọng, tráo trở, trì hoãn việc ký hiệp định, đòi Việt Nam nhân nhượng thêm, ta quyết định công bố dự thảo hiệp định đã thỏa thuận giữa hai bên và tuyên bố không gặp lại trước ngày tuyển cử như Mỹ đề nghị. Đảng ta nhận định: Mỹ muốn tiếp tục kéo dài chiến tranh trong một thời gian nữa để giành thắng lợi về quân sự, nhằm kết thúc chiến tranh trên thế mạnh.

Trước những diễn biến mới của tình hình, Quân ủy Trung ương nhận định: Mỹ sẽ tập trung đánh phá ác liệt từ Thanh Hóa trở vào, đồng thời chúng có thể sẽ đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả dùng B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác trước nguy cơ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” sắp hoàn toàn thất bại.

Đúng như dự kiến, sau ngày 23-10-1972, đặc biệt là sau khi trúng cử tổng thống (8-11-1972), Tổng thống Mỹ Ních-xơn ráo riết chuẩn bị bước phiêu lưu quân sự mới. Mỹ trở giọng đe dọa, phá ngang làm cho cuộc đàm phán tại Hội nghị Pa-ri bị gián đoạn. Đồng thời, Mỹ tập trung lực lượng không quân ở mức cao nhất để đánh phá ngăn chặn các tuyến giao thông từ nam vĩ tuyến 20 trở vào, trọng điểm đánh phá là các tuyến vận chuyển hàng hóa vào chiến trường miền Nam.

Ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định mở cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” chủ yếu bằng các “siêu pháo đài bay B-52” đánh phá ác liệt Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc từ ngày 18 đến 30 tháng 12-1972. Tổng thống Mỹ Ních-xơn hy vọng rằng, với sức mạnh của không lực Hoa Kỳ, Mỹ sẽ đạt được mục đích. Nhà sử học người Mỹ Giơ-lin-gơ-rin-út tiết lộ: “Tổng thống Ních-xơn, Cố vấn Kít-xinh-giơ và 1.700 nhân viên đội bay B-52 thực hiện cú đấm chiến lược này đều có niềm tin mãnh liệt ban đầu về kết quả chiến đấu. Với cả guồng máy đồng bộ và tính năng vũ khí như thế, Mỹ cho rằng, hệ thống ra-đa trinh sát phòng không và tên lửa SAM-2 của Bắc Việt Nam cũng không thể nào “với tới” được.

“Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” và thắng lợi ở Pa-ri

Nhưng với ý chí và trí tuệ của con người Việt Nam, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, để giành thắng lợi về quân sự và chính trị, quân dân miền Bắc đã kịp thời giáng trả đế quốc Mỹ những đòn đích đáng. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972 được ví là trận “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Trong 12 ngày đêm chiến đấu, quân dân ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn của đế quốc Mỹ, bắn cháy 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay ném bom chiến lược B-52, 5 máy bay F.111, nhiều B-52 bị bắn rơi ngay tại thủ đô Hà Nội, hàng chục phi công bị bắt sống, trong đó có nhiều phi công lái B-52.

Thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam và thất bại trong cuộc tập kích đường không chiến lược vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc Việt Nam, ý chí đàm phán trên thế mạnh của Nhà Trắng đã bị đè bẹp. Thất bại nặng nề về quân sự và chính trị trên cả hai chiến trường buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngừng ném bom bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở ra, kể từ ngày 30-12-1972. Ngày 6-1-1973, Tổng thống Mỹ Ních-xơn chỉ thị cho Cố vấn đặc biệt Kít-xinh-giơ cần đạt được một giải pháp dù đối phương đưa ra những điều kiện khắt khe và nhấn mạnh là sẵn sàng chấp nhận văn bản đã thỏa thuận tháng 10-1972, buộc phải chấp nhận kết quả đàm phán ngoài mong muốn. Ngày 8-1-1973, Mỹ phải tiếp tục nối lại cuộc đàm phán trên thế yếu tại Hội nghị Pa-ri.

Thất bại của Mỹ trên chiến trường miền Nam cùng với thất bại của không quân chiến lược B-52 trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đẩy Mỹ vào thế thua không thể gượng nổi, buộc chúng phải chấp nhận thất bại, nối lại đàm phán tại Pa-ri. Trên tư thế bên chiến thắng, phái đoàn của Chính phủ VNDCCH tại cuộc đàm phán đã kiên quyết đấu tranh giữ vững nội dung của dự thảo Hiệp định đã thỏa thuận.

Ngày 23-1-1973, Hiệp định và các nghị định thư được Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn Kít-xinh-giơ ký tắt. Thất bại nặng nề về quân sự của Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc-những cố gắng quân sự cuối cùng – buộc Mỹ phải ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” ngày 27-1-1973.

Trong thời gian gần 5 năm, Hiệp định Pa-ri đã trải qua 201 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1000 cuộc phỏng vấn và đã có hàng nghìn cuộc mít tinh chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam. Trong các phiên họp chung công khai cũng như các cuộc tiếp xúc riêng, phía Việt Nam không bỏ qua bất cứ vấn đề quan trọng nào có liên quan đến cuộc chiến tranh ở Đông Dương, nhưng tập trung mũi nhọn đấu tranh vào hai vấn đề mấu chốt nhất là đòi rút hết quân Mỹ và quân 5 nước đồng minh của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương khỏi miền Nam, đòi họ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Phía Mỹ, trước sau vẫn nêu quan điểm “có đi có lại”, đòi hai bên (cả quân đội miền Bắc có tại miền Nam) “cùng rút quân”.

Với thắng lợi của Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, tạo tiền đề tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975. Hiệp định Pa-ri 1973 phản ánh được ở mức cao thắng lợi về quân sự và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng cũng phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”.

Hiệp định Pa-ri về Việt Nam là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước. Đây là thắng lợi về quân sự và chính trị có ý nghĩa lịch sử, đã tạo ra bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Pa-ri là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam là văn bản pháp lý quốc tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Là đỉnh cao và là kết quả của quá trình đấu tranh kiên cường, bền bỉ, cuộc đấu trí hết sức gay go, quyết liệt nhưng cũng rất hào hùng của nhân dân ta, quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và của Bác Hồ. Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri mãi mãi là trang sử vàng chói lọi, phát huy cao độ bản lĩnh, tinh thần, trí tuệ của con người và nền văn hóa Việt Nam kết tinh từ lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau những bài học vô giá.

———

Kỳ 1: Làm lung lay ý chí xâm lược

Thượng tướng LÊ HỮU ĐỨC, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

Từ thắng lợi chiến trường đến thắng lợi ngoại giao

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973 / 27-1-2013)

Kỳ 1: Làm lung lay ý chí xâm lược

QĐND – Thắng lợi của Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri 40 năm về trước có ý nghĩa về quân sự, chính trị và đối ngoại to lớn. Thắng lợi lịch sử này là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự thất bại của quân đội Mỹ và quân đội ngụy Sài Gòn; tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến cứu nước, giải phóng dân tộc của ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đi đến thắng lợi hoàn toàn…

Nêu cao chính nghĩa

Cuối năm 1964 đầu năm 1965, trước những đòn tiến công mãnh liệt của quân và dân miền Nam, ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Ðể cứu vãn tình thế, Mỹ thay đổi chiến lược, từ “chiến tranh đặc biệt” chuyển thành “chiến tranh cục bộ”, thực chất là “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh. Một mặt, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền Nam, mặt khác, tiến hành leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam.

Về phía ta, ngay từ đầu, Ðảng ta đã nhận định rằng, Mỹ buộc phải “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh là vì chúng đang ở trong thế bị động về chiến lược. Mặc dù Mỹ đưa vào miền Nam mấy chục vạn quân và đánh phá ác liệt miền Bắc, nhưng so sánh lực lượng giữa ta và địch không có thay đổi lớn. Ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường, đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch. Trên thực tế, Mỹ càng leo thang chiến tranh thì càng vấp phải những đòn giáng trả mãnh liệt của ta. Về mặt chính trị, ta nêu cao chính nghĩa của cuộc chiến đấu, bóc trần bộ mặt xâm lược và tính chất nguy hiểm của các hành động leo thang chiến tranh cùng thủ đoạn đàm phán hòa bình giả hiệu của Mỹ. Ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt xâm lược, rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt vô điều kiện mọi hành động chiến tranh chống miền Bắc.

Quân giải phóng trên đường vào Huế trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam trong Xuân Mậu Thân 1968 cùng với thắng lợi của quân và dân miền Bắc đánh bại chiến tranh phá hoại đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Ðêm ngày 31-3-1968, phát biểu ý kiến trên đài truyền hình Mỹ, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thừa nhận thất bại trong Xuân Mậu Thân và thông báo, đã ra lệnh chấm dứt mọi cuộc tiến công bằng máy bay và tàu chiến chống miền Bắc Việt Nam, trừ khu vực phía bắc khu phi quân sự. Ông ta còn cam kết “sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường xuống thang” và không ra tranh cử Tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa.

Trước tình thế đã thay đổi có lợi cho ta, bằng một đòn tiến công ngoại giao mới, ta chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ. Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và Mỹ bắt đầu tại Pa-ri. Gần sáu tháng sau đó, hai bên đi đến thỏa thuận về việc Mỹ chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống nước VNDCCH từ ngày 31-10-1968, đồng thời thỏa thuận về việc triệu tập tại Pa-ri một hội nghị để bàn việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm các bên: VNDCCH, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (sau này là Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam), Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

“Vừa đánh, vừa đàm”

Ngày 25-1-1969, Hội nghị Pa-ri về Việt Nam họp phiên đầu tiên, mở ra giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm”. Hội nghị Pa-ri về Việt Nam là cuộc đàm phán dài nhất để chấm dứt một cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20, cuộc chiến tranh diễn ra trên phạm vi một nước nhưng lại là tiêu điểm của những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại: Giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động; giữa hòa bình với chiến tranh. Ðó là cuộc đối thoại giữa hai lực lượng đối đầu trên chiến trường, một bên là lực lượng xâm lược có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế yếu về chính trị, tinh thần; một bên là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, tuy có điểm yếu tương đối về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế mạnh tuyệt đối về chính trị-tinh thần, chính nghĩa. Ðó còn là cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường; một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Ở Pa-ri đã diễn ra một cuộc đấu quyết liệt giữa hai ý chí, hai trí tuệ, hai loại pháp lý và đạo lý, hai thứ mưu lược khác nhau.

Cả ta và đối phương đều đến hội nghị với những mục đích và đòi hỏi đối lập nhau. Ta đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ cũng nói muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng lại đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân; đòi khôi phục lại khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Có nghĩa là Mỹ tiếp tục thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, điều Mỹ không làm được trên chiến trường.

Lập trường bốn bên, mà thực chất là của hai bên, Việt Nam và Mỹ, giai đoạn đầu rất xa nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cho các cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên bàn hội nghị, đến mức nhiều lúc phải gián đoạn thương lượng. Trong thời gian này, trên chiến trường, cả hai bên Việt Nam và Mỹ đều tìm mọi cách giành thắng lợi quyết định về quân sự để thay đổi cục diện chiến trường, lấy đó làm áp lực cho mọi giải pháp chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh mà cả hai phía đang giành giật trên bàn đàm phán nhưng chưa đạt kết quả. Phía ta, coi Hội nghị Pa-ri không chỉ là các cuộc đàm phán ngoại giao thông thường mà còn là một mặt trận. Mặt trận ấy không chỉ có ý nghĩa tuyên truyền cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam, mà còn đem lại sự xác nhận những kết quả của các cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

Theo đánh giá của phía VNDCCH thì: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là yếu tố quyết định để giành thắng lợi trên chiến trường và là cơ sở của đấu tranh ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được thắng lợi trên bàn đàm phán những gì mà chúng ta giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không đơn thuần chỉ là phản ánh của tình hình chiến trường, mà trong bối cảnh quốc tế và do tính chất của cuộc chiến tranh, đấu tranh ngoại giao còn đóng một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.

Những thắng lợi quân sự của ta trong các chiến dịch Đường 9-Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Cam-pu-chia trong năm 1971; các chiến dịch tiến công Trị-Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu 8 Nam Bộ… trong năm 1972 đã làm quân Mỹ – ngụy bị thiệt hại nặng nề, từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán.

Ngày 8-10-1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” và đề nghị thảo luận để đi đến ký kết. Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày 22-10-1972, phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo. Trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định thực hiện chủ trương có ý nghĩa chiến lược vượt ra khỏi khuôn khổ của “Việt Nam hóa chiến tranh”, nghĩa là “Mỹ hóa” trở lại một phần cuộc chiến tranh. Ngày 6-4-1972, Mỹ huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân ồ ạt tham chiến ở miền Nam và trở lại đánh phá miền Bắc.

Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần này, Mỹ thực hiện leo thang nhanh, đánh phá với cường độ cao trên cả hai miền Nam, Bắc và coi đó là một biện pháp quyết định. Theo đó, từ đầu tháng 4 đến tháng 5-1972, Mỹ đã huy động tới hơn 40% lực lượng không quân chiến thuật (1300 chiếc), 45% máy bay ném bom chiến lược B-52 (150 chiếc), 60 tàu chiến, trong đó có 5 tàu sân bay và 5 tàu tuần dương. Chỉ tính riêng lực lượng không quân Mỹ đánh Việt Nam gần bằng lực lượng không quân của ba nước mạnh nhất Tây Âu lúc đó là Anh, Pháp và Tây Đức cộng lại. Với quyết định quay trở lại đánh phá miền Bắc, Tổng thống Mỹ Ních-xơn hy vọng sẽ bóp nghẹt miền Bắc, cắt đứt nguồn tiếp tế từ bên ngoài vào miền Nam Việt Nam, làm cho miền Bắc suy yếu, buộc phải thương lượng với Mỹ trên thế thua.

Đánh giá đúng tình hình, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã chỉ đạo tập trung đập tan những cố gắng quân sự cuối cùng của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri. Đảng ta nhận định: Mỹ trắng trợn gây trở lại chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân trên quy mô lớn, nhằm hạn chế thắng lợi của quân dân miền Nam, hòng cứu vãn tình thế suy sụp của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, cố giữ cho cục diện chiến trường miền Nam không xấu hơn nữa đối với chúng. Từ kinh nghiệm của cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, Đảng chỉ đạo miền Bắc nhanh chóng chuyển từ thời bình sang thời chiến. Lực lượng phòng không kiên quyết giáng trả không quân Mỹ những đòn đích đáng.

———-

(còn nữa)

Thượng tướng LÊ HỮU ĐỨC, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

Paris địa điểm đàm phán tốt nhất

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (27.1.1973 – 27.1.2013)

Việc chọn Paris để tổ chức hội nghị đàm phán với Mỹ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã đem lại cho chúng ta nhiều thuận lợi, góp phần không nhỏ vào thắng lợi cuối cùng.

Hội nghị Paris là cuộc đấu tranh ngoại giao gian khổ, dài nhất và khó khăn nhất của nhân dân Việt Nam. Ngay từ việc tìm địa điểm họp hội nghị cũng mất thời gian. Mỹ đề nghị Vientiane, Tokyo, sau đó Bangkok… Việt Nam thì chọn Phnompenh, Warsaw… nhưng không thống nhất được với nhau. Cuối cùng chúng ta đề xuất Paris và Mỹ đã chấp thuận. Paris có vị trí đặc biệt, là trung tâm về chính trị, văn hóa, kinh tế của phương Tây. Khi ta chọn Paris, Pháp rất hoan nghênh, hứa sẽ tạo mọi điều kiện để Hội nghị diễn ra tốt đẹp, đặc biệt là bảo đảm an ninh cho các đoàn. Theo ông Võ Văn Sung, nguyên Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp trong thời gian đàm phán Paris, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp, nhìn tổng quát, có thể nói Paris là địa điểm có môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận, tranh thủ quốc tế vào loại tốt nhất cho hai đoàn đàm phán của ta.

Hai chiếc bút dùng để ký kết Hiệp định Paris năm 1973

Paris hội tụ những điều kiện mà không thể tìm thấy ở các thủ đô khác. Thứ nhất, Paris là trung tâm báo chí không chỉ của châu Âu mà của cả thế giới. Không ở đâu có khả năng tập hợp dư luận và thông tin một cách nhạy bén như ở Paris, nơi có thể ví là đầu não của thông tin thế giới lúc bấy giờ. Pháp có nền báo chí lớn, trong đó nhiều báo chí có cảm tình với Việt Nam. Thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris, ông Lưu Văn Lợi kể: người ta tường thuật rằng, chưa có hội nghị quốc tế nào tại Paris mà buổi khai mạc, riêng phóng viên đã lên tới… 3.000 người. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam luôn chiếm gần như một nửa thời lượng thông tin thời sự thế giới, đặc biệt là giai đoạn cuối của tiến trình đàm phán Hiệp định Paris. Báo L’Humanité (Nhân đạo) đã tạo ra một diễn đàn thực sự cho các nhà đàm phán Việt Nam là Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình… Các tuyên bố của họ được đăng hàng tuần. Thực tế, Việt Nam đã tận dụng được Paris như là một đầu não thông tin quốc tế để tuyên truyền tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, tranh thủ dư luận của nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình trả lời báo chí tại Paris

Báo Nhân Dân số ra ngày Chủ nhật, 28.1.1973 đã in trên trang nhất những dòng chữ to, nét đậm, in hai màu đỏ và đen nổi bật:

“Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã giành được thắng lợi vĩ đại.

Hiệp định Paris đã được ký chính thức.

Từ 7 giờ sáng nay, chiến tranh chấm dứt ở cả hai miền nước ta”.

Thế là “Chính nghĩa đã thắng phi nghĩa! Ý chí bất khuất đã thắng bạo tàn! Việc đạt một hiệp định như vậy là một thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam” – như tuyên bố của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại cuộc họp báo lớn chiều 24.1.1973 ở Thủ đô Paris, Pháp.

Thứ hai, không thể không nhắc đến vai trò của Đảng Cộng sản Pháp (PCF) – một lực lượng chính trị rất mạnh ở Pháp lúc bấy giờ. PCF đã dành cho chúng ta sự giúp đỡ vô điều kiện, sự ủng hộ của tình đồng chí, tình anh em. Ngoài Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở phố Kleber, nằm cách Khải hoàn môn vài trăm thước, được dành làm nơi họp, PCF còn nhường hẳn trường Đảng (nằm ở quận “đỏ”, cực kỳ an toàn) cho đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo ông Lý Văn Sáu – người phát ngôn Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tại Hội nghị Paris 40 năm trước, có lẽ họ nghĩ Hội nghị này cũng nhanh thôi, không ngờ nó kéo dài gần 5 năm. Trong lịch sử của Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Kleber, chưa có cuộc thương lượng quốc tế nào chiếm dụng phòng họp của Trung tâm liên tục gần 5 năm như cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ. Ngoài sự giúp đỡ vật chất to lớn mà PCF dành cho hai đoàn Việt Nam tham gia đàm phán, PCF có vai trò tích cực trong việc tập hợp các lực lượng chính trị và nhân dân Pháp ủng hộ các cuộc kháng chiến của ta và phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. “Cảm động và tuyệt vời nhất là nhiều đảng viên PCF còn xin nghỉ một tháng phép để đến phục vụ hai đoàn Việt Nam” – ông Lưu Văn Lợi nhớ lại.

Thứ ba, Hội Việt kiều yêu nước tại Paris rất mạnh, từ thời Nguyễn Ái Quốc, sau này tiếp tục được củng cố để trở thành một lực lượng hùng mạnh, hậu thuẫn tích cực cho hai đoàn đàm phán của Việt Nam. Chính những Việt kiều yêu nước đã ủng hộ không chỉ tinh thần mà cả vật chất cho hai đoàn, từ cung cấp người phiên dịch, lái xe, bác sỹ, đến hỗ trợ tổ chức họp báo, tuyên truyền… Họ đồng thời cũng trở thành những “vệ tinh” tuyên truyền, phổ biến rộng rãi những quan điểm của phái đoàn ta, những thông tin về cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra, ở Paris, ta có điều kiện đi hàng chục nước xung quanh, các nước châu Âu và sang cả châu Phi, châu Mỹ… để tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế.

Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO tại Pháp nhìn nhận: Paris có lợi thế mà các nơi khác không thể có được cho việc tổ chức một hội nghị quốc tế dài hơi như vậy. Nếu thiếu các điều kiện khách quan như vậy, Hội nghị Paris khó có thể đi đến kết cục tốt đẹp như ta đã chứng kiến.

PV tổng hợp
daibieunhandan.vn

Cách ký Hiệp định Paris

Cách ký Hiệp định Paris là một vấn đề kỹ thuật nhưng thật ra lại là vấn đề chính trị mà cả bốn bên đều quan tâm. Nó cũng không chỉ có cách ký mà cả việc nêu tên các bên ký kết và chức vụ người ký kết.

Cố vấn Lê Đức Thọ, Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Xuân Thủy và Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình trước khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam, tháng 1.1973

Đây là Hội nghị gồm bốn bên thuộc hai phe, các bên khác phe không ai công nhận ai, riêng Mỹ không công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về ngoại giao nhưng công nhận là một bên đàm phán có giá trị và đã nhận sẽ cùng ký. Và làm sao có thể khác được khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là địch thủ chính của Mỹ? Ý của Mỹ và Nguyễn Văn Thiệu là không công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẵn sàng ký với Chính phủ Việt Nam Cộng hòa nhưng kiên quyết không chấp nhận việc gạt bỏ tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong các văn kiện và cách nêu tên người ký kết. Như vậy không chỉ có vấn đề cách ký mà cả vấn đề nêu tên các bên ký kết và chức vụ người ký kết.

Trong đợt đàm phán lại tháng 12.1972, lúc đầu cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ Richard Nixon Henry Kissinger đề nghị: Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời (ba bên) ký chung một văn bản có lời mở đầu ghi đủ tên bốn chính phủ và Bộ trưởng Ngoại giao ký: Chính phủ Cộng hòa Việt Nam ký riêng một bản với Lời mở đầu “Việt Nam Cộng hòa hành động phối hợp với các bên tham gia Hội nghị Paris…”. Năm ngày sau, Kissinger lại đề nghị: Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký một văn bản với Lời mở đầu và điều 23 đầy đủ (điều 23 quy định Hiệp định do Bộ trưởng Ngoại giao ký); Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa mỗi bên ký dưới hình thức công hàm gia nhập (adherence).

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ không đồng ý cả hai cách và ngày 11.12 đề nghị ký ba văn bản: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ ký một văn bản, Chính phủ Cộng hòa Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời mỗi bên ký một văn bản Hiệp định cùng một nội dung, nhưng ngày 13.12 lại rút lại. Trong đợt đàm phán lại tháng 1.1973, Lê Đức Thọ đòi hai bên ký và bốn bên ký. Kissinger không đồng ý và đề ra ba cách ký để chọn một:

Các tầng lớp nhân dân mừng Hiệp định Paris được ký kết

– Chỉ có hai bên Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký như đã thỏa thuận tháng 10.1972.

– Ký bốn bên nhưng không có tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Việt Nam Cộng hòa trong Lời mở đầu, không có chức vụ người ký.

– Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký một văn bản, Lời mở đầu và điều 23 đầy đủ; Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời ký hai văn bản riêng, nội dung Hiệp định đầy đủ nhưng Lời mở đầu không có tên bốn Chính phủ, ký tên nhưng không có chức vụ.

Cả ba cách giống nhau ở một điểm: không có tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời và chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

Ngày 9.1, Lê Đức Thọ đề nghị công thức mới: Mỹ – Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ ký tắt, bốn bên ký chính thức với Lời mở đầu có tên bốn Chính phủ, người ký có nêu chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao. Phía Mỹ không chấp nhận. Sau khi văn bản Hiệp định hoàn thành, Lê Đức Thọ đưa một công thức mới, mềm dẻo hơn:

– Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Lời mở đầu và điều 23 đầy đủ.

– Bốn bên ký với Lời mở đầu “Các bên tham gia Hội nghị Paris” (không nêu tên bốn Chính phủ), Hiệp định sẽ do bốn Ngoại trưởng ký đồng thời.

Ngày 11.1, hai bên tập trung giải quyết vấn đề cách ký. Dựa vào đề nghị trên của Lê Đức Thọ, Kissinger đề nghị: hai bên ký, bốn bên ký nhưng trong bản bốn bên thì mỗi bên ký một tờ riêng biệt và cả bốn tờ đó gộp chung vào Hiệp định; người ký đều có ghi chức vụ. Đến đây coi như đã thỏa thuận sẽ ký hai bên và bốn bên.

Về văn bản hai bên ký, Lê Đức Thọ đề nghị: Lời mở đầu ghi đủ tên bốn Chính phủ, điều 23 ghi: “Văn bản này do Bộ trưởãng Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Hoa Kỳ ký, và văn bản Hiệp định cùng nội dung và lời văn do Bộ trưởng Ngoại giao (kể đủ bốn Chính phủ) ký cùng ngày hôm nay hợp thành một Hiệp định quốc tế lấy tên là Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Kissinger chỉ thêm bớt câu chữ và cuối cùng chấp nhận.

Về văn bản bốn bên ký, Lê Đức Thọ đề nghị về Lời mở đầu: “Các bên tham gia Hội nghị Paris (không ghi tên bốn Chính phủ) đã thỏa thuận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây…”. Về điều 23, ông đề nghị công thức: “Hiệp định này do Bộ trưởng Ngoại giao của các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam ký và Hiệp định có cùng nội dung và lời văn như Hiệp định này do Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Hoa Kỳ ký cùng ngày hôm nay hợp thành một Hiệp định quốc tế lấy tên là…”.

Kissinger đồng ý nhưng cho rằng trong văn bản, điều 23 không cần và không nên ghi Bộ trưởng Ngoại giao mà chỉ nên ghi: “Đại diện của các bên”. Tất nhiên ông Thọ không chịu. Cuối cùng, Kissinger cam kết rằng Mỹ, dù không ghi Bộ trưởng Ngoại giao, sẽ dùng ảnh hưởng của mình để Bộ trưởng Ngoại giao Sài Gòn ký và các bên ghi rõ chức vụ. Lê Đức Thọ chấp nhận ghi điều 23: “Hiệp định sẽ có hiệu lực khi đại diện toàn quyền của các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam ký…”.

Về số trang dành để ký, Lê Đức Thọ đề nghị bốn bên cùng ký tên trên một trang, Kissinger đề nghị bốn bên ký bốn trang riêng, cuối cùng hai bên thỏa thuận ký trên hai trang, một trang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời ký, một trang Mỹ và Chính phủ Cách mạng Lâm thời ký. Các trang này đều đánh số thứ tự trong Hiệp định. Có hai lễ ký riêng biệt nhưng cùng trong một ngày: buổi sáng bốn bên ký, buổi chiều Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ ký. Địa điểm ký: Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở đại lộ Kléber.

Hòa bình trở lại

19h ngày 13.1.1973, cuộc đàm phán kết thúc, trừ vài vấn đề sẽ giải quyết sau. Trưa hôm đó, trong một không khí cởi mở và niềm vui chung, hai đoàn ăn bữa cơm chung.

Lê Đức Thọ nâng cốc nói với Kissinger:

– Như vậy là hôm nay chúng ta kết thúc cuộc hội đàm. Tuy đây là kết quả bước đầu nhưng bước đầu rất quan trọng và cơ bản để lập lại hòa bình ở Việt Nam… Tôi đồng ý với ông là sẽ không thay đổi một tý gì trong văn bản và thời điểm. Chúng tôi sẽ làm đúng như thế. Đó là lời hứa của chúng tôi. Và chúng tôi tin là không mấy ngày nữa hòa bình sẽ được lập lại ở Việt Nam.

– Tôi coi Hiệp định, các hiểu biết và Nghị định thư đã hoàn thành – Kissinger đáp – Tôi cam kết là phía chúng tôi sẽ không có gì thay đổi… và tôi chắc rằng đến lúc này thì hòa bình sẽ trở lại Đông Dương, sẽ trở lại với hai dân tộc chúng ta vào ngày 27.1 – ngày ký Hiệp định, chúng tôi sẽ tôn trọng Hiệp định ấy. Hiệp định này phải là một Hiệp định đánh dấu sự bắt đầu của một nền hòa bình thật sự. Cái bảo đảm tốt nhất cho nền hòa bình thật sự này là cải thiện quan hệ giữa nhân dân hai nước chúng ta. Chúng ta đã qua nhiều năm đau khổ, tôi muốn nói với ông là chúng tôi quyết tâm hết sức mình để cải thiện quan hệ giữa hai nước.

– Chúng ta sẽ không quên ngày hôm nay.

– Cả hai chúng ta đều không ai quên được.

Theo Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris
daibieunhandan.vn

Bí mật tuyệt đối

Quá trình đàm phán Hiệp định Paris

Theo ông Lý Văn Sáu – người phát ngôn Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tại Hội nghị Paris 40 năm trước, trong cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài gần 5 năm như vậy, điều quan trọng nhất là giữ bí mật, việc ai người ấy biết.

Paris là nơi dư luận chú ý, cũng là nơi gián điệp chú ý. Thời đó, tuy chưa có điện thoại di động, chưa có phương tiện ghi âm như bây giờ, nhưng gián điệp cũng có đủ phương tiện để hành nghề. Gần 5 năm ở Paris, chúng ta giữ được bí mật về đường lối, chính sách, về chủ trương, lập trường, phải nói đấy là một thành công rất lớn. Ta có hai đoàn: đoàn miền Bắc, tức là Nước VNDCCH do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ làm Cố vấn, thay mặt Bộ Chính trị; đoàn miền Nam, tức Chính phủ lâm thời CHMNVN, trước đó là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, hồi đầu do đồng chí Trần Bửu Kiếm làm Trưởng đoàn, về sau, từ tháng 6.1969, do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao, làm Trưởng đoàn. Hai đoàn tuy hai là một, một mà là hai, vừa giữ được độc lập của từng đoàn, đồng thời giữ được sự kết hợp, thống nhất làm việc.

Một cuộc họp nội bộ của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Tôi nói một chuyện đơn giản là bàn với nhau chuyện ra Hội nghị có bắt tay hay không. Mình có bắt tay Mỹ không, có bắt tay đại diện Chính quyền Sài Gòn không? Cuối cùng quyết định không bắt tay, vì hai bên còn là đối thủ của nhau, trên mặt trận thì đánh nhau, ở đây thì đấu tranh ngoại giao. Các đoàn tham dự đàm phán vào phòng họp bằng nhiều cửa, ta có cửa vào của ta, Sài Gòn và Mỹ có cửa vào của họ, chào nhau từ xa nên chuyện bắt tay không lo nữa. Nhưng xưng hô với nhau như thế nào? Gọi là Ngài, Ông, Bà, Vị hay là gì? Đồng chí Xuân Thủy nghĩ ra, không gọi là “Quý vị” mà gọi là “Các vị”. “Chúng tôi thưa Các vị”, dịch ra tiếng Pháp là “Mesdames, Messieurs”, tiếng Anh là “Ladies, Gentlements”. Lệ nó thế, mình nói “Thưa các vị” thì “Thưa” cũng là lễ phép rồi, nhưng “Các vị” chứ không phải là “Quý vị”, không có chuyện gì mà “Quý” với tôi cả. Từ việc nhỏ đến việc lớn đều ẩn giấu sự đấu tranh, tốn hàng tháng để bàn mới thảo luận ra những vấn đề đó.

Giữ bí mật thì việc ai người ấy biết. Đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời CHMNVN có chừng 40 người, chia làm mấy Ban. Ban Nghiên cứu, bàn và tham mưu; Ban Tiếp xúc, đi gặp gỡ bạn bè Pháp và quốc tế, gặp gỡ kiều bào; Ban Báo chí và Ban Hậu cần, bộ phận nào biết việc của bộ phận ấy. Tôi làm ở Ban Báo chí. Hội nghị Paris có hai hình thức họp, họp công khai 4 bên và họp riêng giữa Xuân Thủy và Harriman, hay về sau là giữa Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và Kissinger. Nội dung các cuộc gặp riêng đó chỉ những người dự họp và phiên dịch biết, không ai bên ngoài được biết. Ngay cả những cuộc họp công khai cũng giữ bí mật đến cuối cùng. Ví dụ, những lúc chúng ta sắp đưa ra một lập trường thương lượng, bản thân tôi làm báo chí cũng đến trước Hội nghị mới biết. Thường mình họp sáng thứ sáu, chiều thứ năm tôi mới có bài phát biểu cho ngày hôm sau. Tôi là người sửa chữa, góp ý cuối cùng, sau đó bài phát biểu được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tôi cũng là người duyệt cuối cùng. Nếu mà để đối phương biết trước, sáng hôm sau họ sẽ có bài nói chống mình ngay. Nói như thế để biết được rằng người nào biết việc người ấy. Sau này, tôi cũng phải đọc lại các tài liệu liên quan đến Hội nghị thì mới biết được một số việc. Việc phổ biến những chủ trương lớn, ở nhà cho người qua nói miệng chứ không được đem giấy tờ gì cả.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhân dân Hà Nội chào đón Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký kết Hiệp định Paris thắng lợi, về nước

Tại Paris, mỗi đoàn có một phòng hội nghị, có một nguyên tắc là không trao đổi với nhau. Phòng họp của từng đoàn thiết kế rất đặc biệt, làm tường hai lớp, có một loạt loa phóng thanh ở xung quanh. Ta vào trong, đóng cửa lại rồi phát nhạc. Trong này mình nói chuyện với nhau, bên ngoài chỉ nghe thấy nhạc. Cũng chỉ người nào có trách nhiệm mới vào, bàn việc gì thì người liên quan việc đó vào…

Ngày ký Hiệp định Paris, tôi vừa vui vừa phấn khởi vừa buồn. Vui vì cuộc chiến đấu ngoại giao lâu dài như vậy đã kết thúc và kết thúc thắng lợi với nội dung Hiệp định, nhưng buồn vì biết bao đồng chí anh em, đồng bào đã hy sinh trong thời gian Hội nghị… Đến phiên họp báo sau khi ký Hiệp định Paris, có mấy nhà báo nói như thế này: “Bây giờ, qua mấy năm đấu tranh, chúng ta đã quen biết nhau, ông muốn nhắc nhở chúng tôi điều gì?” Tôi nói bằng tiếng Anh: Remember Vietnam, đừng quên Việt Nam, nhớ Việt Nam để lần sau đừng phạm sai lầm một lần nữa ở Việt Nam.

Theo Đối mặt với B52
daibieunhandan.vn