Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Thơ chúc Tết của Bác – quà quý đầu xuân

(Chinhphu.vn) – Đã từ lâu, lặng đi trong thời khắc Giao thừa để lắng nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ đã trở thành tục lệ của đồng bào ta. Từ các cụ già râu tóc bạc phơ đến bầy em nhỏ, tất cả đều cảm thấy lòng lắng dịu khi nghe giọng nói ấm áp, thiết tha của Người đọc thơ chúc Tết.

Ảnh tư liệu

Và cả khi Người không còn nữa, Tết đến mọi nhà vẫn ước mong:

Bác ơi!
Tết đến. Giao thừa đó
Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần
Ríu rít đàn em vui pháo nổ
Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân …
(Tố Hữu)

Đúng vậy, có một món quà luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tặng đồng bào mình vào mỗi dịp Tết cổ truyền, đó là những bài thơ chúc Tết giản dị nhưng rất đỗi thân thương của Người. Có lẽ Người là vị lãnh tụ của một đất nước duy nhất trên thế giới thường xuyên có thơ Xuân, thơ chúc Tết vào mỗi dịp Tết cổ truyền của dân tộc.

Kể từ bài thơ chúc Tết đầu tiên khi Người trở về nước sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước năm 1942 cho đến lúc ra đi, Người đã viết hơn 20 bài thơ chúc Tết. Dễ nhớ, dễ thuộc là điều dễ nhận thấy trong các bài thơ chúc Tết của Người, nhưng điều khiến cho mỗi bài thơ Tết của Bác trở nên đặc biệt hơn những lời chúc Tết thông thường là bởi đó không chỉ là tấm lòng của Bác với nhân dân, đất nước mà còn là lời hiệu triệu, cổ vũ, động viên và cả sự tiên đoán thần kỳ tiền đồ tươi sáng của cách mạng. Mỗi bài thơ không chỉ là sự tổng kết thành quả của cách mạng trong năm cũ mà còn là chỉ dẫn cho những chặng đường tiếp theo của cách mạng.

Một nhà cách mạng Cuba đã từng nói: Bác Hồ lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chính bằng thơ.

Trong 24 năm làm Chủ tịch nước, thường trước Tết 3 tháng, Bác đã nhắc nhở các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng chuẩn bị từ rất sớm: tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới. Những bản thảo còn lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh cho thấy, viết mỗi bài thơ Người cũng dày công và kỹ lưỡng như thế nào. Có thể vì thế, những bài thơ chúc Tết của Người luôn vượt qua khuôn khổ những bài thơ chúc Tết đơn thuần.

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên… một loạt các sự kiện ghi dấu son lịch sử đã mang đến cho nhân dân cả nước một mùa xuân đầy hào khí của bài ca thắng lợi. Trong cái Tết đặc biệt này, Bác Hồ đã viết 3 bài thơ Xuân chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước, đó là các bài: Chúc Tết Bính Tuất – 1946,Mừng báo Quốc gia và Gửi chị em phụ nữ xuân Bính Tuất.

Lần đầu tiên nhân dân cả nước được hưởng một mùa xuân mới sau bao nhiêu năm đất nước chìm trong đêm trường nô lệ. Bác khẳng định:

Tết này mới thực Tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia
Độc lập đầy vơi ba chén rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa
Mọi nhà vui đón Xuân Dân chủ
Cả nước hoan nghênh phúc Cộng hòa.

Từ năm 1945 đến năm 1954, thời kỳ “Toàn quốc kháng chiến – toàn diện kháng chiến”, trong mỗi bài thơ chúc Tết của Bác, chúng ta đều như nhìn thấy, nghe thấy diễn biến của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ, tràn đầy hào khí của dân tộc. Điều này có thể nhận thấy được ở thơ chúc Tết xuân Đinh Hợi – 1947:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Tháng 12/1967, Bác Hồ chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị, phân tích tình hình, quyết định mở đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968, để giành thắng lợi quyết định.

Ảnh tư liệu

Năm 1968, Bác Hồ viết nhiều thơ xuân nhất. Điều đặc biệt là chùm thơ xuân gồm 6 bài được viết ở những thời khắc khác nhau, với những nội dung và cách biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ niềm tin và niềm vui chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là nguồn thi hứng dạt dào với Người. Giữa mùa Xuân chiến thắng ấy, Người mượn cớ đã lâu không làm thơ, đọc cho đồng chí Vũ Kỳ, là thư ký của Người, chép bài thơ Không đề gửi một đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào
Đến nay thử làm xem ra sao
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao.

Chỉ một vần “thắng”, mãnh liệt và truyền cảm, câu thơ đã đem đến niềm xúc động cho bao người, những người chiến sĩ, những đồng bào đang một lòng hướng tới miền Nam thân yêu, ruột thịt.

Vần “thắng” của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Năm 1969, sức khỏe Bác giảm sút nhiều nhưng Bác vẫn làm thơ chúc Tết và cũng là bài thơ chúc Tết Bác tự đọc – món quà cuối cùng cũng là lời tiên đoán thần kỳ về con đường giải phóng đất nước trước lúc Bác đi xa.

Hơn 6 năm sau bài thơ Chúc Tết năm 1969, ngày 30/4/1975, những lời tiên đoán của Bác về một mùa Xuân đại thắng đã trở thành sự thật. Thành quả cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc đã không nằm ngoài sự tiên đoán trong bài thơ chúc Tết cuối cùng của Người, đó là khi Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!

Nguyễn Chiến
chinhphu.vn

Thơ Bác gọi xuân sang

Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ đã viết: “Từ ngày đất nước có Cụ Hồ làm Chủ tịch, dân tộc Việt Nam có thêm một phong tục mới, mỗi lần Xuân đến. Đó là giao thừa đón nghe lời Bác đọc Thơ Xuân!”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội.Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội.

Từ xưa, trong truyền thống văn hoá của dân tộc mình, mỗi dịp tiễn đưa năm cũ, đón chào năm mới, các cụ ta thường làm thơ khai bút, hoặc viết những bài thơ, những câu đối để mừng Xuân, đón Tết!

Việt Nam là một dân tộc yêu thơ ca. Những đỉnh cao văn hoá của chúng ta cũng là những tác phẩm của các nhà thơ nổi tiếng: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu… Nhà thơ Huy Cận đã viết: “Tháng ngày con mẹ lớn khôn. Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha”. Thơ ca là tâm hồn dân tộc, và Bác Hồ kính yêu của chúng ta là người đã phát huy truyền thống văn hoá ấy, sáng tạo ra một loại thơ Chúc Tết, sáng tạo ra một phong tục mới đầy thi vị, gắn bó cả dân tộc trong giờ phút đón chào năm mới!

Chúc mừng năm mới, có lẽ là phong tục tập quán của nhiều dân tộc. Nhưng chúc mừng năm mới bằng một bài thơ, đó là nét độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong giờ phút giao thừa thiêng liêng, năm cũ đã qua, năm mới đang đến, đất trời giao cảm, muôn vật như ngưng đọng lại trong giây phút, trong lòng mỗi người như cũng đang chờ đón những điều tốt lành, những ước mơ, hy vọng. Ai cũng mong muốn cho gia đình mình, cho đất nước mình, năm mới cố gắng mới, thắng lợi mới, mong muốn cho xuân này hơn hẳn những xuân qua. Thì chính trong cái giờ phút rạo rực, thiêng liêng ấy, nhân dân cả nước ta lại hồi hộp đón chờ và sung sướng lắng nghe lời thơ của Bác chúc Tết đồng bào.

Thơ Chúc Tết của Bác Hồ thường ngắn gọn, súc tích, mang phong vị của thể thơ truyền thống. Bác tổng kết những thắng lợi của năm cũ và nêu lên nhiệm vụ của năm mới, tuy vậy những bài thơ Chúc Tết thường cũng chỉ có từ 4 đến 10 dòng. Bác viết bằng một thứ ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, song vẫn chan chứa những ý thơ và tràn đầy những cảm hứng lớn lao của lịch sử.

Mùa xuân 1941, Bác Hồ trở về Pác Bó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và bài thơ “Mừng Xuân 1942” chính là bài thơ mở đầu cho những bài thơ Chúc Tết của Bác Hồ. Dấu ấn lịch sử của một thời còn ghi lại trong những vần thơ, hình ảnh cờ đỏ sao vàng và Việt Minh lần đầu xuất hiện trong thơ Bác: “… Chúc đồng bào ta đoàn kết mau. Chúc Việt Minh ta càng tiến tới. Chúc toàn quốc ta trong năm nay. Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới”.

Đến nay, Bác còn để lại cho chúng ta tất cả 22 bài thơ Chúc Tết. Bài nào Bác cũng chỉ viết từ 4 đến 10 câu. Nhân đón Xuân Quý Tỵ năm 2013, chúng ta cùng nhau đọc lại hai bài thơ Chúc Tết Năm Tỵ của Bác.

 Thơ Chúc Tết  Xuân Quý Tỵ 1953

Mừng năm Thìn vừa qua
Mừng Xuân Tỵ đã tới
Mừng phát động nông dân
Mừng hậu phương phấn khởi
Mừng tiền tuyến toàn quân
Thi đua chiến thắng mới
Mừng toàn dân kết đoàn
Mừng kháng chiến thắng lợi
Mừng năm mới nhiệm vụ mới
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào
Mừng phe dân chủ hoà bình thế giới  

                                         Hồ Chí Minh

Thơ Chúc Tết Xuân Ất Tỵ 1965

Chào mừng Ất Tỵ Xuân năm mới
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi
Đấu tranh anh dũng cả nước một lòng
Chủ nghĩa xã hội ngày càng thắng lợi
Hoà bình Thống nhất ắt hẳn thành công

                                                   Hồ Chí Minh

Những bài thơ Chúc Tết của Bác là tình cảm của Người gửi đến toàn dân. Đây cũng là những lời dặn dò, những ước mong của Bác trong không khí thiêng liêng của một năm mới đang đến. Và đó cũng chính là phong cách Hồ Chí Minh giản dị mà gần gũi, yêu dân và trọng dân. Người luôn đến với chúng ta trong mỗi căn nhà, trong mỗi trái tim Việt Nam.

Ăng-ghen đã nói: “Lịch sử là một nhà thơ lớn nhất”. Và nếu chúng ta đem xếp thứ tự những bài thơ Chúc Tết của Bác Hồ lại, thì đó cũng chính là một biên niên sử quan trọng nhất của Cách mạng Việt Nam.

Trong bài “Việt Nam mãi mãi có Người”, một nhà báo nước ngoài đã viết: “Tình yêu của nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu xa vô tận, và chúng ta có thể cảm thấy điều đó ở từng người Việt Nam”.

Mối liên hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với đất nước và đồng bào của mình là một mối liên hệ đặc biệt. Đó chính là niềm tin tưởng sắt đá, lòng biết ơn vô hạn, là sự kính trọng… nhưng trên tất cả, Bác Hồ là người Bác, người Ông thân thiết nhất của tất cả chúng ta!.

Nhà thơ Vũ Cao đã viết:

“Cho con ước tự bây giờ
Mỗi năm vào buổi giao thừa mỗi năm
Bác về cùng với nhân dân
Đọc Thơ Tết lấy một lần, hãy đi!”
Giờ phút Giao thừa đã đến!
Mừng năm Thìn vừa qua
Mừng Xuân Tỵ đã tới…

Chúng ta cảm thấy như Bác đang đọc Thơ Chúc mừng Năm Mới của Mùa Xuân này và Người lại đang cùng với nhân dân đi trồng cây làm cho đất nước càng ngày càng Xuân!

Bùi Công Bính
baonamdinh.com.vn

Những đêm giao thừa Bác đến với người nghèo

Xuân Tân Tỵ, năm 1941, Bác mới được đặt chân trở về giữa lòng Tổ quốc thân yêu sau đúng 30 năm trời ra đi tìm đường cứu nước (1911-1941). Hành trang theo Bác trở về vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ và tập tài liệu Con đường giải phóng tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm.

Tấm thiệp chúc tết cuối cùng của Bác Hồ

Mùa Xuân năm ấy, từ hang Pác Bó đã ra đời một bài thơ xuân tuyệt đẹp của Bác Hồ:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”

Chỉ hơn bốn năm sau, ngày 2-9-1945, sơn hà của Tổ quốc đã được thu về một mối, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Hồ Chí Minh trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 đã trở về trên toàn cõi đất nước với một sắc màu khác lạ làm gợi nhớ đến một thời Nghiêu Thuấn xa xưa. Vào thời khắc mọi gia đình quây quần bên nhau chuẩn bị đón giao thừa thì vị Chủ tịch nước xắn quần, bước thấp bước cao đến các ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, phố Hàng Lọng… để được chính mắt nhìn thấy cảnh Tết vừa, Tết nghèo của bà con lao động Hà Nội mới vừa thoát khỏi ách thực dân phong kiến.

Chính trong cuộc “vi hành” đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên đó, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết.

Cũng đêm Ba mươi Tết Bính Tuất đó, đúng giờ giao thừa, khi Đài Tiếng nói Việt Nam truyền khi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui Xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.

Lần đầu tiên nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước, được hưởng một mùa Xuân mới mẻ, giao thừa nghe đọc thư chúc Tết của Bác Hồ:

“Hỡi đồng bào cả nước!

Hôm nay là mùng một Tết năm Bính Tuất, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi thay mặt Chính phủ chúc đồng bào năm mới muôn sự tốt lành” .

Cuối thư là một bài thơ ngắn:

“Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới
Kiến quốc chóng thành công
Kháng chiến mau thắng lợi”

Kể từ mùa Xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, mỗi lần Tết đến, Xuân về, Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc. Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc. Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc Mừng Năm Mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài.

Và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội. Chiều mùng hai Tết năm 1961, Bác đến Văn Miếu dự buổi bình thơ Xuân của các cụ. Mùng hai Tết năm 1962, Bác đến thăm các cháu học sinh miền Nam ở Hải Phòng. Chiều 29 Tết năm 1963, Bác cải trang thành một cụ già theo cháu đi chợ hoa và chợ Đồng Xuân… Tất cả đều bí mật bất ngờ và do đó bao giờ cũng tạo hiệu quả lớn.

Như Tết năm 1960, nếu Bác chỉ đến thăm các gia đình theo chương trình của các cơ quan đã bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Tín vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai mùng một Tết có cơm ăn cho bốn đưa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay của Bác:

– Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm…

Chỉ nói được vậy, chị đã oà lên khóc nức nở.

Vị Chủ tịch nước đã an ủi chị:

– Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

Và Bác đã vào nhà thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như một túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi Tết mà không có Tết”. Cách đây 15 năm, Tết độc lập đầu tiên, Bác đã đau lòng chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có Tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ. Đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ, kháng chiến đã thắng lợi, hoà bình đã sáu năm, mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ở ngay Thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng là no ấm, tươi vui…

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ. Vẻ đăm chiêu thoáng hiện trên gương mặt của Người. Bác đã từng tâm sự với các đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”.

Về đến nhà, các đồng chí Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Mọi người băn khoăn khi thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh gia đình chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện Bác nói “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số lãnh đạo các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng, nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta.

Vũ Kỳ – Thư ký Bác Hồ kể chuyện.
Việt Nam – Hồ Chí Minh

Ngày xuân, đọc thơ xuân của Bác

(Dân trí) – Tính đến mùa xuân này là tròn 44 mùa xuân Bác Hồ mãi mãi ra đi. Và cũng có nghĩa là 44 giao thừa không còn có được sự hồi hộp chờ đợi giây phút thiêng liêng: Bác Hồ đọc thơ chúc Tết trên Đài tiếng nói Việt Nam.

(Niềm vui ngày Bắc - Nam sum họp)(Niềm vui ngày Bắc – Nam sum họp)

Ngày xuân, đọc thơ xuân của Bác

“Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc- Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”.

                                                  Chủ tịch Hồ Chí Minh

BLOG Người yêu thơ:

Nhớ ngày Bác chưa đi xa, cứ đúng thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới, tất cả đất trời đang rộn rã tiếng pháo bỗng dưng im bặt. Trong mỗi căn nhà, mọi người như nín thở chờ đợi từ chiếc đài đường dây sau một hồi rẹt rẹt chợt lặng đi rồi bỗng cất lên tiếng cô phát thanh viên: Nhân dịp năm mới, mời đồng bào, chiến sĩ trong cả nước và kiều bào ở nước ngoài lắng nghe thơ chúc Tết của Hồ Chủ tịch. Sau đó là lời đầm ấm của Bác vang lên: Đồng bào, chiến sĩ và kiều bào ở nước ngoài thân mến! Các cháu thanh thiếu niên yêu quý…

Trong suốt cuộc đời mình, Bác đã làm tất cả 22 bài thơ chúc Tết. Có năm Bác đọc thơ sau lời chúc Tết nhưng cũng có năm Bác chúc Tết bằng thơ. Bài thơ đầu tiên là Thơ chúc Tết Xuân Nhâm Ngọ (1942), Bác đã viết: “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau/Chúc Việt Minh ta càng tấn tới/Chúc toàn quốc ta trong năm này/Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!”.

Bài thơ cuối cùng Bác viết vào năm Kỷ Dậu (1969), trước lúc Người đi xa.

Nhà thơ Bùi Hoàng Tám tuyển chọn và giới thiệu.
dantri.com.vn

Bác Hồ chúc Tết những người con Đà Nẵng

Sinh thời, cứ mỗi độ Xuân về, Bác Hồ thường lặng lẽ đi thăm hoặc gửi quà Tết, thiệp Xuân đến nhiều cán bộ, nhân dân. Từng lá thư, từng cánh thiệp Xuân, từng câu đối… được Người gửi đi, như một lời động viên, khích lệ, cầu mong bao điều tốt đẹp cho mỗi người, dẫu họ là Bộ trưởng hay một thường dân. Nhân dịp Tết đến, Xuân về, chúng tôi xin giới thiệu một số thiệp chúc Tết của Bác dành cho những người con Đà Nẵng mà ít người được biết…

Chính phủ Cụ Hồ - ông Hiến (áo trắng ngồi ngoài cùng bên phải). 				Ảnh tư liệuChính phủ Cụ Hồ – ông Hiến (áo trắng ngồi ngoài cùng bên phải). Ảnh tư liệu

1. “Thân gửi ông Lê Văn Hiến!”

Tôi nhiều lần được gặp và làm việc cùng ông Phan Vịnh, anh trai ông Phan Diễn – nguyên Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, mỗi lần gặp, ông thường nhắc đến “bố tôi” và “ba tôi”. Ông gọi “ba tôi” là để chỉ ông Phan Thanh – dân biểu danh giá nhất Trung kỳ, là cha ruột của ông và ông Diễn; “bố tôi” là để chỉ ông Lê Văn Hiến – vị Bộ trưởng Bộ Tài chính lừng danh của cách mạng Việt Nam, người chưa từng qua một trường đại học nào. Và, ông Vịnh đã cho tôi xem nhiều di vật của “bố tôi” lẫn “ba tôi”, trong đó tôi chú ý đến tấm thiệp chúc Tết của Bác Hồ dành cho Bộ trưởng Hiến vào năm 1951.

Có lần, trong một bữa ăn tối sau phiên họp Hội đồng Chính phủ, Hồ Chủ tịch có ra một câu đối vui: “Giáp phải giải Pháp”. Ông Tôn Quang Phiệt liền đối lại “Hiến tài hái tiền”. Cái hay của câu đối không chỉ ở vần, ở chữ, hai chữ đầu nói lái sẽ ra hai chữ cuối, mà còn ở chỗ nói được hai nhiệm vụ quan trọng của cách mạng lúc đó là: Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp phải “giải giáp” quân Pháp; Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến phải “hái ra tiền” cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc! Trong suốt 12 năm liền (1946-1958), với cương vị là Bộ trưởng Tài chính, Lê Văn Hiến quả thật đã đạt được những thành quả đáng kinh ngạc cho nền tài chính non trẻ Việt Nam. Ông đã tổ chức phát hành “Giấy bạc cụ Hồ”, phát hành công phiếu kháng chiến, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hiện tiết kiệm gạo để nuôi quân… Chính ông là người có sáng kiến phát hành “Giấy bạc cụ Hồ”, đúc đồng bạc bằng vàng ròng, nhất là nêu danh bộ đội nào có chiến công oanh liệt vào serie giấy bạc đặc biệt, để phát hành trong toàn quốc… Vì vậy, nhân dịp Tết năm 1950, cụ Hồ đã gửi thiệp chúc mừng ông Hiến với nội dung sau: “Thân gửi ông Lê Văn Hiến – Bộ trưởng bộ Tài chánh. Chúc năm mới kháng chiến Thắng lợi, Tài chánh phát đạt”… Và, ông Hiến đã giữ nó như một báu vật của riêng mình. Hiện nay, Bảo tàng Hồ Chí Minh đang lưu giữ, trưng bày tấm thiệp này.

2. Thân tặng chú Lang!

Tôi có may mắn được ông Nguyễn Văn Lang (tức Lang Đen) giao phó việc viết cuốn hồi ký “Một người Việt da đen” cho ông. Chàng “trung phong của đội bóng đá Đà Nẵng” và là “danh thủ bóng đá Trung kỳ” ngày ấy, sau này tập kết ra Bắc, được Đảng giao nhiều nhiệm vụ quan trọng: Giám đốc mỏ Apatite Lào Cai, Giám đốc mỏ than Hòn Gai… Nhiều lần được gặp Bác Hồ và rất được Người yêu mến!

Về lá thư và tấm thiệp Tết mà ông Lang được Bác Hồ tặng, được ông kể lại như sau: “Ngày 23-9-1958, Bác Hồ đến thăm mỏ Apatite Lào Cai. Sau khi thăm mỏ một vòng, Bác quay sang hỏi tôi: “Sau khi Bác thăm mỏ về, cháu sẽ làm những gì?”. “Thưa Bác, hôm nay Bác sẽ gặp cán bộ, công nhân viên khu mỏ và nhân dân các dân tộc xã Cam Đường, Bác sẽ có những lời chỉ bảo, từ lời dạy của Bác, cháu sẽ phát động phong trào thi đua làm theo lời Bác để hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 1958 này ạ!”. “Thế là tốt!”. “Đến lúc nào thì các cháu không cần mời chuyên gia nước ngoài nữa?”. “Thưa Bác, đến hết năm 1962, chúng cháu sẽ tự lực được!”. Thực hiện lời hứa với Bác, năm đó, chúng tôi vượt gấp hai lần kế hoạch được giao so với năm 1957. Tin vui đó đến với Bác, vì vậy, Tết năm 1959, Bác gửi cho chúng tôi một lá thư do Người tự tay viết: “Thân ái gửi công nhân và cán bộ Mỏ Apatite Lào Cai! Bác vui lòng khen các cô, các chú đã làm đúng lời hứa, đã thi đua hoàn thành vượt mức kế hoạch 100%. Mong các cô, các chú tiếp tục cố gắng hơn nữa, để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch năm nay. Bác hỏi thăm các đồng chí chuyên gia. Chúc các cô, các chú đoàn kết chặt chẽ và tiến bộ nhiều!”. Riêng tôi, Bác gửi tặng một tấm thiệp Xuân trên đó in hình một cành mai và ghi rõ “Thân tặng chú Lang! Bác Hồ”, tiếc thay tấm thiệp bị lạc mất cách đây vài năm. Đó là kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên được!”.

Một số thiệp chúc Tết của Bác Hồ. 							     Ảnh tư liệuMột số thiệp chúc Tết của Bác Hồ. Ảnh tư liệu

3. “Tặng cháu Lý!”

Còn nhớ, sắp Tết năm 1958, một cuộc chiến truyền thông vô tiền khoáng hậu đã nổ ra giữa chính quyền Hà Nội và chính quyền Ngô Đình Diệm, xung quanh việc chính quyền Diệm sử dụng những nhục hình thời trung cổ “điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung” đối với Trần Thị Lý.

Từ khi được giải thoát và đưa ra Hà Nội, Trần Thị Lý rất nhiều lần được gặp Bác Hồ. Tình cảm của Bác dành cho nữ Anh hùng Trần Thị Lý thì nhiều người đã biết song qua từng tấm thiệp Xuân mà Người “gửi cháu Lý”, được chị nâng niu như báu vật thì ít người biết đến. Trước khi qua đời tại Đà Nẵng, một lần chị Lý đã xúc động kể cho chúng tôi: “Tôi còn nhớ chiều Xuân 1968, tôi được vào thăm Bác. Các chú cho tôi đến trước giờ hẹn, Bác đang làm việc trên một chiếc bàn đơn sơ. Tôi rón rén lại, Bác bảo: “Lý đó à? Cháu chờ Bác làm việc xong, một lát thôi!”. Tôi thưa với Bác: “Thưa Bác, Bác làm việc nhiều quá. Tuổi Bác ngày càng cao, Bác giữ gìn sức khỏe để vào thăm đồng bào miền Nam!”. Bác xúc động nói: “Bác phải làm việc nhiều thì miền Nam mới mau thống nhất, Bác sẽ vui nhiều, khỏe nhiều!”. Lần gặp đó, tôi lại được Bác tặng chiếc thiệp Xuân này!”. Đó là tấm thiệp Xuân năm 1968 có in bài thơ “Xuân này, hơn hẳn mấy Xuân qua…”. Hiện nay, tại nhà riêng của chị Lý, còn lưu giữ 3 tấm thiệp chúc Tết của Bác Hồ dành cho chị vào các Tết 1967, 1968 và 1969.

Từ hiện thực cuộc sống hôm nay, từ những cánh thiệp Xuân, cùng phong cách bình dị, xuất phát từ trái tim và nhân cách lớn như Bác Hồ tặng cho những người con Đà Nẵng, mới hay rằng: Có một cách chúc Tết vừa đậm đà tính dân tộc, vừa thể hiện trọn vẹn tình yêu thương, sự giản dị, nghĩa tình sâu sắc của một nguyên thủ quốc gia dành cho mọi người.

LƯU ANH RÔ
baodanang.vn

Kỷ niệm đi chợ Tết cùng Bác Hồ của người cận vệ già

Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”.

Ông là Lê Minh Thưởng (SN 1940), ở xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Với ông, 10 năm được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ là quãng thời gian hạnh phúcvà thấy mình sống có ích nhất. Ông nói mình đã học được rất nhiều điều hay tốt đẹp từ vị cha già của dân tộc. Ông vẫn luôn tự hào khi kể cho con cháu nghe về công việc một thời gắn bó.

Hạnh phúc cả đời vì được bảo vệ Bác

Ấn tượng đầu tiên khi gặp ông là sự nhanh nhẹn, giọng nói to rõ ràng, phong thái khoẻ khoắn, dù đã vào tuổi “xưa nay hiếm”.

Ông Lê Minh Thưởng, người có quãng thời gian 10 năm làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có bố là đảng viên, anh trai là liệt sĩ từ thờikháng chiến chống Pháp, học xong cấp 2, năm 1958, chàng thanh niên Lê Minh Thưởng xin đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự nhưng không trúng. Năm 1959 ông được tuyển vào đội công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Tháng 4/1959 ông được triệu tập về học ở trường C500.

Tháng 4/1960 ra trường, ông nhận được quyết định về công tác ở Cục cảnh vệ (Cục cảnh vệ lúc đó có mật danh là K10) với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và công tác ở đó cho đến ngày Bác qua đời.

Khi được hỏi về thời gian tham gia bảo vệ Bác Hồ, ông Thưởng xua tay bảo: “Công lao gì đâu, tôi là người may mắn và hạnh phúc khi được Đảng và Nhà nước giao cho nhiệm vụ đó. Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước. Được làm công việc đó là hạnh phúc cả đời đối với tôi mà không có gì so sánh được”.

Bức hình ông Thưởng chụp lưu niệm với Bác và các các cán bộ lãnh đạo trung ương nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ mà ông xem là kỷ vật vô giá.

Vừa nói ông vừa dẫn chúng tôi vào gian phòng lưu niệm để giới thiệu về những kỷ vật vô giá mà ông còn cất giữ được. Trên gian tường là tấm hình ông chụp lưu niệm với Bác và các các cán bộ lãnh đạo trung ương nhân dịp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra báo cáo tình hình với Bộ Chính trị và Bác Hồ.

Ông chỉ tay giới thiệu tên từng người trong bức hình, Bác Hồ và Bác Tôn ngồi ở giữa, ông Thưởng bế một cháu bé trong lòng ngồi bên phải Bác Hồ, rồi lần lượt xung quanh là các ông Nguyễn Chí Thanh, Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng, Tố Hữu, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Xuân Thuỷ, Vũ Kỳ, Trần Quốc Hoàn…

Vừa giới thiệu ông Thưởng vừa lấy tấm khăn bông lau tấm hình và nói: “Với tôi tấm hình này là vô giá. Dù có nghèo đói nhưng giả sử có người trả mua cả chục cây vàng tôi cũng không bán đâu”. Rồi ông rưng rưng hai hàng nước mắt như đang được sống lại giây phút được ngồi cạnh Bác để chụp hình.

Miền ký ức ùa về, ông Thưởng nhớ lại quãng thời gian 10 năm làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Năm 1960 ông được đưa về cục cảnh vệ, bảo vệ Đại hội Đảng lần thứ 3. Đến tháng 9/1960 ông được điều về bảo vệ Bác Hồ, ban đầu mới chỉ bảo vệ vòng ngoài, dần dần mới được tiếp xúc với Bác nhiều hơn.

Ông Thưởng đang chỉ vị trí mình ngồi trong tấm hình chụp cùng Bác và các vị lãnh đạo Trung ương thời ông còn làm nhiệm vụ bảo vệ Bác.

Ông nói: “Vào làm công việc ở đây không dễ, phải cần cù khiêm tốn, chịu khó và kỷ luật tốt. Bác đã từng nói với tôi rằng biết thì nói, không biết thì hỏi, đừng im lặng giấu dốt. Im lặng có thể là giấu dốt hoặc tự cao tự đại”.

Quãng thời gian 10 năm bảo vệ Bác, ông Thưởng đã có hàng trăm nghìn kỷ niệmvà câu chuyện về Bác. Ông nhớ lại, Tết năm 1964 đưa Bác đi chợ  Đồng Xuân, Bác gọi ông Hoàng Quốc Thịnh, Bộ trưởng Bộ nội thương đến báo cáo tình hình chuẩn bị nhân dân ăn tết và tình hình kinh tế-lương thực-thực phẩm của cả nước. Sau đó Bác gọi ông Trần Duy Hưng lúc đó là Chủ tịch UBND TP Hà Nội và hỏi “Các chú chuẩn bị ăn tết cho nhân dân thủ đô như thế nào?”.

Công việc xong xuôi, Bác nói mọi người cùng đi chợ Đồng Xuân sắm tết. Để không bị phát hiện, mọi người phải hóa trang cho Bác, và một người nữa giống như Bác, phòng trường hợp xấu có thể xảy ra. Ông Thưởng có nhiệm vụ đi xem đường trước. Hôm đó trời mưa, lúc vào chợ, Bác đi xem quầy lương thực, thực phẩm.

“Lại hàng thực phẩm tự do, Bác hỏi cô bán thịt 1 cân bao nhiêu tiền nhưng lại nói giọng Nghệ An. Cô bán thịt cứ nhìn chằm chằm vào mặt Bác vì nghe giọng nói trầm ấm quen quen. Nếu không có sự nhanh trí của đồng chí Phạm Lệ Ninh (Trưởng phòng bảo vệ Bác) thì chắc chắn Bác sẽ bị lộ, mà nếu biết Bác có mặt ở chợ thì khu chợ sẽ xôn xao lên mất. Lúc đó nhanh như chớp, đồng chí Ninh nhảy vào đứng che mặt Bác, đẩy Bác ra và vào hỏi lại bằng giọng Bắc. Thế là cô bán thịt không để ý nữa, thật là may”.

Đặc biệt là lần về Thanh Hoá. Lúc đầu Bác ngồi xe có kính đàng hoàng, nhưng sau Bác lại sang xe CTAL 69 (không có kính) ngồi. Lúc đó dân có mặt rất đông, người dân ùa vào mong được gặp Bác. Các chiến sĩ cảnh vệ có nhiệm vụ bảo vệBác phải nỗ lực giải quyết mãi mới được.

Đến khi Bác vào thăm xưởng sản xuất nông cụ Thanh Hoá, những công nhân làm việc tại đây khi biết Bác vào thăm, mặc dù quần áo đang bụi bẩn nhưng vì muốn được tận mắt thấy Bác, được nắm tay Bác nên đã bỏ dụng cụ làm việc chạy ào về phía Bác.

Những người đi theo bảo vệ Bác như ông Thưởng phải vô cùng vất vả mới đưa được Bác ra khỏi nơi ấy. Ông Thưởng còn vinh dự hàng chục lần được đi cùng Bác về các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An … công tác, rồi đi về các vùng nông thôn, cùng bà con tuốt lúa, cấy cày.

Niềm vui cuối đời của ông Thưởng là đọc báo…

Học tập tấm gương của Bác suốt đời

Trong thời gian 10 năm được gần gũi, bảo vệ Bác, những chuyện “quốc gia đại sự” ông không được biết. Nhưng trong đời thường ông đã được Bác dạy nhiều điều hay lẽ phải. Lần đầu tiên được bảo vệ Bác đi bộ, ông Thưởng được Bác dạy rằng: “Cùng đi thì phải nói chuyện, làm như vậy quãng đường sẽ ngắn lại. Việc gì biết thì nói, không biết thì phải hỏi, đừng giấu, im lặng làm thinh. Hiểu cái gì nói cho mọi người nghe. Im lặng có thể là dốt hoặc tự kiêu…”.

Sau khi Bác Hồ mất, ông Thưởng còn ở lại sửa sang mọi thứ ở phủ Chủ Tịch một năm. Sau đó ông được điều về công tác ở Cục Cảnh sát hình sự. Năm 1980, ông chuyển về phòng cảnh sát hình sự Nghệ Tĩnh với chức vụ Đội trưởng đội săn bắt cướp (SBC).

Công tác tại đơn vị này, ông Thưởng đã cùng đồng đội lập rất nhiều chiến công hiển hách, phá nhiều vụ án lớn, bắt những tên cướp nổi tiếng cả trong Nam ngoài Bắc như Phương trọc; Toọng (Trương Hiền), một tội phạm nổi tiếng ở thành Vinh nhiều lần qua mặt được các cơ quan công an; Nguyễn Đức Lợi, Đậu Kim Sơn, hai tên giang hồ khét tiếng; Sáu côi (tên thật là Thành), tên ăn cướp trên tàu hoả; Công Minh (trú tại Nghi Phú), chuyên ăn cướp đường dài, hoạt động rộng khắp cả nước… .

… và chăm sóc cây cảnh trong vườn nhà.

Năm 1990, ông Thưởng về nghỉ hưu với hàm Trung tá. Suốt cuộc đời hoạt động ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân huy chương cao quý như Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến công hạng nhất. Đặc biệt quý giá hơn cả là tấm Huy hiệu Bác Hồ ông được chính tay Bác tặng năm 1968.

Nhưng phần thưởng cao quý nhất đối với ông chính là những bài học mà ông học được ở Bác trong 10 năm được gần Bác. Ông Thưởng cũng nhận ra nhiều thói quen của Bác, ví như trong tiệc tùng Bác không bao giờ uống bia rượu, những lúc tiếp khách Bác cũng nâng ly nhưng không uống. Những lúc đi công tác làm việc ở đâu, Bác không bao giờ cho phép tổ chức tiệc tùng đình đám, tránh lãng phí tiền của nhân dân.

Ông tâm sự: “Người là lãnh tụ, là kho tàng vĩ đại của dân tộc ta. Dù có học suốt đời cũng không thể thấm nhuần hết đạo đức của người”. Chính vì vậy mà dù trong lúc đang công tác hay lúc đã về hưu ông luôn định hướng cho thế hệ trẻ phải luônhọc tập và làm theo tấm gương của Bác.

Ngay ở trong gia đình mình, ông cũng luôn định hướng cho các con, cháu học tậpnhững công việc của Bác từ nhỏ. Thời gian rảnh rỗi, ông Thưởng lại gọi con cháu tụ họp lại để kể những câu chuyện những việc làm bình dị của Bác để các con các cháu học tập.

Ông Thưởng bên người vợ yêu quý của mình.

Giờ đây, khi đã tuổi cao sức yếu nhưng ông Thưởng vẫn chăm chỉ làm việc. Thú vui tuổi già của ông là chăm sóc những cây cảnh, đọc báo xem tin tức hàng ngày. Nhìn vườn nhà ông, nhiều người không khỏi trầm trồ khen ngợi, dưới bàn tay của ông, cây cảnh đâm chồi nảy lộc mơn mởn. Đặc biệt là gia đình ông đang sở hữu 5 cây thị di sản được xem là đồ gia bảo của dòng họ.

Tính đến tết Quý Tỵ này, ông Lê Minh Thưởng đã bước qua 73 mùa xuân. Trong quãng thời gian đó, ông có quyền tự hào về mình vì đã cống hiến rất nhiều cho xã hội, đất nước.

PHẠM HÒA
Theo Infonet

news.zing.vn

Nơi Bác Hồ đến chúc Tết Độc lập đầu tiên

Năm 1946, Hà Nội, Tết Độc lập đầu tiên, vừa qua 80 năm nô lệ, tủi nhục, đói nghèo….Lại cùng mới thoát khỏi nạn đói, lụt năm rồi. Lại còn nạn “Tàu Vàng” quân Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch, xác xơ rách nát, ăn vạ, ăn cắp định chây lỳ…Và tiếng súng “Nam bộ kháng chiến” đã nổ, báo cho một tình huấn khó có thể tránh được, cả nước phải đi vào cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ.

noi

Là người cầm lái con thuyền cách mạng,  là Chủ tịch nước, Bác muốn thông qua Hà Nội, tiếp xúc với những người dân chân thật nhất – không phải ai đó bố trí, giới thiệu – để hiểu dân “ăn Tết” thế nào? Đối với Chính phủ ra sao? Bác mời Chủ tịch thành phố Hà Nội là bác sĩ Trần Duy Hưng, mà không yêu cầu cán bộ Thành ủy cùng đi. Bác sĩ Trần Duy Hưng, một thầy thuốc, huynh trưởng hướng đạo sinh, người đã kề cận bên Bác nhiều năm, đã được Bác gọi đùa là “Bác gái HỒ CHÍ MINH”…

Đêm 30 ấy, Hà Nội mưa lất phất và rét, cái rét cuối Đông, đầu Xuân rất Hà Nội… đồng chí lái xe và bảo vệ đưa “Bác gái” và Chủ tịch nước đến phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến),  một phố “ văn hóa ca trù”,  nôm na dân gọi là phố “cô đào hát”, “cô đầu”, với tên gọi thời Pháp thuộc là phố Khâm Thiên ….Bác xuống xe bảo tắt đèn đi rồi tìm đường đi vào ngõ Hàng Đũa. Ngõ này, nay vẫn còn. Năm ấy, mặt đường nhấp nhô, không được sạch, đèn đường công cộng không tới, đồng chí bảo vệ phải bật đèn pin….

Đến một ngôi nhà lụp xụp sâu trong ngõ, Bác Hồ bảo Chủ tịch thành phố Hà Nội “ta vào đây”…

Người nhà chẳng biết khách là ai. Hỏi thăm ông chủ nhà đang ốm nằm trên chõng tre, đắp chiếu rách, Bác được biết ông làm nghề kéo xe tay…Khi biết khách là Chủ tịch nước, một phụ nữ lay lay người ốm: “Cụ Hồ đến thăm gia đình đấy…” Chủ nhà lật chiếc chiếu, ho sù sụ, định ngồi dậy. Bác ra hiệu cho đồng chí bảo vệ kéo chiếc chiếu lên, che kín cho ông chủ. Nhìn quanh ngôi nhà một lát, Bác kéo tay Chủ tịch Trần Duy Hưng đi ra ngoài. Hai người yên lặng cho đến khi lên xe…

Trước khi xe nổ máy, Bác nói với mọi người mà như nói với riêng mình “ba mươi Tết mà chẳng có Tết”….Chủ tịch Trần Duy Hưng ngồi im lặng, bỏ cặp kính xuống, lau mấy giọt nước mắt….Hối hận không kịp mang theo quà gì, dù biết “món quà quí” Bác Hồ đã tặng gia đình rồi.

Tiện đường xe, Bác đến số nhà 51 phố Găm BetTa, nay là Trần Hưng Đạo. Bấm chuông, người nhà ra thưa: “Dạ, Cố vấn Thụy đang ốm”. Bác bảo đồng chí bảo vệ đưa một bọc giấy hồng,  trong đó có một lọ mắm quí gửi biếu cố vấn. “Để Cố vấn nghỉ ta đi thôi”.

Xe chạy từ từ qua các phố, chỗ sáng, chỗ tối, phố nhỏ, phố lớn. Bác “chỉ huy” rẽ vào đâu, dừng lại đâu là theo ý Bác. Loanh quanh một lúc, xe đến phố Hàng Vải, dừng lại trước một ngôi nhà lớn. Nghe tiếng có người đến, vào giữa đêm 30, chủ nhà bật đèn cổng, thấy có xe ô tô, lố nhố, lo sợ. Khách vào nhà, đèn trong nhà được bật sáng chiếu rõ bàn thờ khói hương nghi ngút, chậu quất, chậu cúc, lọ cắm cành đào, bộ sa lông, tủ, bàn ghé gỗ quí…..Chủ nhà nhận ra khách, quá bất ngờ, hốt hoảng xen lẫn mừng vui, chắp tay, quì xuống đất “lạy Cụ! Thưa Cụ Hồ! Con có tội gì xin Cụ thương cho, Cụ dạy bảo cho …” Chủ tịch Thành phố Trần Duy Hưng đỡ chủ nhà đứng dậy. Bác nói “nghe nói ông là viên chức nhà băng, nhưng thanh liêm, lại có lòng tốt, tôi và bác sĩ Trần Duy Hưng đến chúc Tết gia đình. Bây giờ, nước nhà được độc lập rồi, làm việc cho Chính phủ là làm việc cho dân, cho nước, đã thanh liêm, phải thanh liêm hơn…..”. “Dạ, dạ, con xin nghe lời Cụ”. Bác đứng lên, nhìn căn phòng sang trọng, gật gật đầu với các thành viên trong đình, nắm chặt hai bàn tay mình giơ lên, tạm biệt…Và tiếp tục cuộc “vi hành”, “xuất hành” đầu năm….

Cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ có thể đã “đưa” số phận những con người được gặp Bác, được Bác đến chúc Tết, tặng quà năm ấy đi những con đường khác nhau, chìm trong dĩ vãng….Nhưng câu chuyện về Bác năm ấy được bác sĩ Trần Duy Hưng kể lại, chúng ta thật “ thấm thía”, học được một gì đó ở Bác….

Ngày nay, thực hiện di chúc thiêng liêng của Bác. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân, đặc biệt một bộ phận dân nghèo. Tuy điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng với mong muốn “đêm 30 có Tết cho người nghèo”, Chính phủ đã chi ra hàng ngàn tỷ đồng . Thế nhưng…..Một bộ phận “công bộc” của dân, đã cắt, xén  hoặc chìa tay ra để chia phần với người nghèo…

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhưng một bộ phận “công bộc” lại đi ngược với chủ trương lớn này. Thật đáng xấu hổ… cần phải được xử lý một cách nghiêm minh.

(Theo tư liệu của Ban lịch sử Hà Nội và Viện HỒ CHÍ MINH)

http://thanhtra.quangnam.gov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và những ngày Tết đáng nhớ tại Hà Nội

Sinh thời, Bác Hồ kính yêu đã nhiều lần đón Xuân cùng nhân dân Hà Nội. Trong những ngày Tết cổ truyền, hòa trong dòng người đi hái lộc, du Xuân, Bác đến xông nhà, chúc phúc đầu Xuân, mang may mắn đến cho các gia đình, nhất là những gia đình nghèo còn gặp nhiều khó khăn.

4. BH va những
Bác Hồ đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sỹ cảnh vệ Xuân Quý Mão 1963

Tết Bính Tuất năm 1946

Trong cái Tết độc lập đầu tiên, vào đêm giao thừa, Bác đến thăm một số gia đình lao động nghèo và một số nhân sỹ trí thức ở Hà Nội. Sau đó, Bác cải trang như người dân thường đến thăm đền Ngọc Sơn, hòa trong niềm hân hoan của nhân dân đón khoảnh khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới.

Tết Bính Thân năm 1956

Ngày mồng 1 Tết, Bác đến thăm anh em miền Nam tập kết xa nhà và thăm Trường Cán bộ dân tộc thiểu số. Sau đó, Bác đi chúc Tết đại biểu nhân dân của Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội.

Tết Đinh Dậu năm 1957

Sáng mồng 1 Tết, Bác về thăm và chúc Tết một số gia đình cơ sở cách mạng cũ ở thôn Phù Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm (nay là quận Tây Hồ, Hà Nội) như gia đình cụ Công Ngọc Phan, các gia đình ông Môn, bà Kinh, bà Phó Ái.

Nói chuyện với nhân dân trong thôn, Bác chúc đồng bào đoàn kết, đoàn kết quân và dân, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Sau đó Bác đến thăm và chúc Tết một đơn vị bộ đội bảo vệ Thủ đô, căn dặn cán bộ, chiến sỹ phải thực hiện đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân, luôn cảnh giác giữ gìn ý chí chiến đấu, tác phong và kỷ luật quân đội, tiết kiệm, giúp đỡ nhân dân, cố gắng học tập và rèn luyện.

Tết Mậu Tuất năm 1958

Những ngày đầu Xuân năm 1958, Bác đến thăm và chúc Tết một số cơ quan, đơn vị bộ đội tại Hà Nội. Tại Nhà máy cơ khí Hà Nội (nay là Nhà máy chế tạo công cụ số 1), sau khi đi thăm khu tập thể công nhân, Người yêu cầu các chi bộ Đảng, công đoàn và đoàn thanh niên cần phải quan tâm cải thiện nhiều hơn nữa đời sống người lao động, phối hợp chặt chẽ vận động công nhân thi đua thực hiện tốt kế hoạch nhà nước năm 1958.

Đến thăm Khu Việt Nam học xá (nay là Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), Bác nói với các sinh viên “Học để mà hành, học để phục vụ nhân dân, không phải để làm quan, mà phải trau dồi cả đức, cả tài, không có đức thì vô dụng, không có tài thì làm gì cũng khó.”

Tết Canh Tý năm 1960

Bác thăm công viên Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất) và trồng cây đa tại công viên mở đầu phong trào “Tết trồng cây” do Bác phát động.

Từ đó “Tết trồng cây” đã trở thành truyền thống tốt đẹp của nhân dân Hà Nội và cả nước trong những ngày đón Xuân.

Tết Tân Sửu năm 1961

Đêm giao thừa, Bác đi thăm và chúc Tết gia đình một công nhân Nhà máy gỗ Cầu Đuống; gia đình một cán bộ công đoàn Nhà máy cơ khí Hà Nội; gia đình một Việt kiều mới về nước; gia đình một xã viên hợp tác xã thủ công nghiệp người Hoa; gia đình bác sỹ Hồ Đắc Di và gia đình giáo sư Tôn Thất Tùng.

Ngày mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ ở một đơn vị công an vũ trang và một đơn vị bảo vệ Thủ đô; cán bộ công nhân Nhà máy dệt kim Đông Xuân, Nhà máy rượu Hà Nội, Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà…

Tết Nhâm Dần năm 1962

Tối 30 Tết, Bác cùng đồng chí Nguyễn Lam – Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, Nguyễn Khai – Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Trần Duy Hưng-  Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội, đến thăm Câu lạc bộ thiếu nhi và vui Tết với các cháu.

Sau đó, Bác cùng đoàn đi chúc Tết gia đình công nhân Nguyễn Văn Mộc – Chiến sỹ thi đua 5 năm liền của Nhà máy cao su Sao Vàng; cụ Đỗ Văn Điện – Ủy viên Ban đại diện phụ lão khu phố Hai Bà Trưng; giáo sư, thạc sỹ Đặng Văn Chung – Phó Giám đốc Trường đại học y dược; gia đình ông Dương Kỳ Nghiệp – cán bộ miền Nam tập kết; ông Vương Tước Cường – công nhân; Hoa kiều, nhà tư sản Nguyễn Chương Hồng – Giám đốc Xưởng cơ khí Công ty hợp doanh Đồng Tháp và một số gia đình lao động ở phố Lý Thái Tổ.

Tiếp đó, Bác đến thăm cán bộ, công nhân Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đang chuẩn bị cho buổi phát thanh đặc biệt đón giao thừa.

Tết Quý Mão năm 1963

Sáng 29 Tết, Bác thăm chợ Tết Đồng Xuân. Bác đi theo đường Nguyễn Thiệp vào cổng sau của chợ. Người chăm chú quan sát cảnh mua bán tấp nập, dừng chân xem ông đồ viết câu đối Tết, có lúc hỏi giá hàng…

Khi đến thăm chợ hoa, Bác định mua một bó hoa huệ nhưng đồng chí cảnh vệ sợ lộ bí mật nên trả giá rất rẻ để rút lui. Bác nói vui: “Trả giá như chú, cả ngày đi chợ cũng chả mua được gì.”

Tối giao thừa, Bác đi thăm và chúc Tết một số gia đình, đơn vị bộ đội ở Hà Nội; thăm gia đình Anh hùng Lao động ngành công nghiệp Mai Đình Cường; gia đình cụ Võ Thị Xuân, 72 tuổi; ông Phạm Công – Việt kiều mới về nước; nhà tư sản dân tộc Nguyễn Văn Thức và gia đình ông Hồ Đắc Điềm – nhân sỹ trí thức.

Mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân Nhà máy ôtô Hòa Bình; bà con xã viên hợp tác xã Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp (huyện Thanh Trì), một đơn vị bảo vệ Thủ đô, một đơn vị Cảnh sát Nhân dân quận Hoàn Kiếm và Cục cảnh vệ-Bộ Công an.

Tết Giáp Thìn năm 1964

Tối 30 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết cán bộ công nhân tại Khu tập thể Nhà máy cao su, Nhà máy xà phòng, Nhà máy thuốc lá; Khu tập thể cán bộ miền Nam tập kết ở phố Phan Đình Phùng và một số gia đình ở Hà Nội; gia đình công nhân Nhà máy nước Phan Huy Nhật; Trưởng ban bảo vệ khu phố Nguyễn Văn Tố; nhà khoa học Nguyễn Xiển; giáo sư bác sỹ Trần Hữu Tước; Việt kiều Phan Văn Chúc.

Sáng mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết Huyện ủy, Ủy ban hành chính huyện Đông Anh; thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân trạm biến thế điện và hợp tác xã nông nghiệp Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, là đơn vị có nhiều thành tích trong phong trào sản xuất và tiết kiệm.

Nói chuyện với bà con nông dân hợp tác xã Lỗ Khê, Bác căn dặn phải chú ý phát triển hoa màu, chăn nuôi, trồng nhiều cây và chăm sóc cây tốt, đẩy mạnh vệ sinh phòng bệnh.

Bác khen câu khẩu hiện bằng thơ ở trên đình làng: “Đón Xuân mở hội làm giàu/ Mừng Xuân cần kiệm lúa màu tốt tươi.”

Sau đó, Bác thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Sở Công an Hà Nội.

Tết Ất Tỵ năm 1965

Bác tham gia Tết trồng cây với nhân dân hợp tác xã Phú Diễn, xã Trần Phú, huyện Từ Liêm. Bác chúc Tết bà con xã viên, nghe đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã báo cáo tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương.

Bác nhắc nhở hợp tác xã cần phải đẩy mạnh sản xuất hơn nữa và chỉ dẫn tỷ mỉ cách đào giếng nước, xây dựng công trình vệ sinh cho bà con nông dân.

Tết Bính Ngọ năm 1966

Mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Đại đội 27, bộ đội công binh Quân khu 3. Bác khen ngợi đơn vị năm qua đã đạt được nhiều thành tích trong phục vụ chiến đấu, xây dựng các công trình quốc phòng, bắn rơi máy bay Mỹ, góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân và toàn quân ta, và căn dặn bộ đội phải dũng cảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn để giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, đoàn kết tốt, giữ gìn vũ khí trang bị tốt, thực hành tiết kiệm.

Tết Đinh Mùi năm 1967

Sáng mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết một số đơn vị bộ đội phòng không và không quân bảo vệ Thủ đô. Sau khi nói chuyện với cán bộ chiến sĩ, Bác đến thăm Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Đoàn Sao Đỏ). Bác khen ngợi thành tích của cán bộ chiến sỹ và căn dặn: “Các chú phải học tập rèn luyện hơn nữa. Càng học tập, càng tiến bộ thì đánh địch càng giành thắng lợi.”

Bác tặng quà Tết cho cán bộ chiến sỹ và chúc Không quân nhân dân “Đoàn kết, học tập tiến bộ, đánh giỏi, đạt nhiều thắng lợi mới.”

Tết Kỷ Dậu năm 1969

Đây là cái Tết cuối cùng nhân dân Hà Nội được đón Tết với Bác Hồ kính yêu. Ngày 30 Tết, Bác gửi tặng lẵng hoa cho một số cơ quan, đơn vị ở Hà Nội như khối 30 khu phố Đống Đa, Phân đội 5 Đoàn công an vũ trang bảo vệ Thủ đô.

Sáng mồng 1 Tết, Bác đến sân bay Bạch Mai thăm Quân chủng Phòng không- Không quân. Buổi trưa, Bác đến xã Vật Lại (huyện Ba Vì) khai Xuân, trồng cây trên đồi của xã, để lại màu xanh tươi và mùa xuân xanh mãi bất diệt./.

Theo TTXVN/Vietnam+
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ người cha thân yêu

Nho nguoi cha

Tiếp quản Thủ đô ngày 10 tháng 10 năm 1954, ngày 11-10-1954 anh em chúng tôi trong trang phục gọn gàng, súng đạn sẵn sàng tiến quân vào Hà Nội nhận nhiệm vụ cao quí mới. Những ngày đầu, cơ quan Trung ương đóng tại nhà thương Đồn Thủy (nay là Quân y viện 108), về sau chuyển về khu Ba Đình.

Năm đó Bác rất khỏe và đi đứng nhanh nhẹn, ánh mắt Bác thật ấm áp trìu mến. Thường ngày Bác hay mặc bộ bà ba màu nâu và đi dép cao su. Lúc rảnh rỗi, Bác tập trung anh em cảnh vệ lại, bằng giọng nói rõ ràng và ấm áp, Bác chỉ bảo cho chúng tôi biết phong tục tập quán riêng của đồng bào Hà Nội, cách đi đứng và những việc thông thường rất cần thiết như vào nhà tắm, nhà vệ sinh, uốn nắn chúng tôi từng lời ăn tiếng nói…Với tấm lòng yêu mến lãnh tụ, nhân dân trong nước và kiều bào nước ngoài thường hay tặng Bác những món quà đặc biệt quí hiếm. Một lần, có người dân chài lặn lội từ miền biển lên, biếu Bác mấy cân bong bóng cá. Bác giao cho đồng chí Cẩn mang đến tặng đơn vị chúng tôi. Bác còn cẩn thận nhờ đồng chí Cẩn, là người lo cơm nước cho Bác chế biến để anh em chúng tôi được thưởng thức đặc sản. Một lần khác, có tiền nhuận bút từ Liên Xô (cũ) gởi về, Bác đem đến tặng đại đội chúng tôi trước lễ Quốc Khánh 2-9 khoảng hai, ba tháng. Bác dặn: “Nhiều no ít đủ, Bác không có nhiều tiền cho các chú. Số tiền này, các chú mua con giống tăng gia thêm để đến ngày Quốc Khánh các chú có đủ thịt, cá, rau mà liên hoan cùng nhau”.

Ngày lễ lớn những năm đầu tiếp quản Thủ đô, nhân dân Hà Nội và các cơ quan đoàn thể tham dự mit tinh thả bồ câu trắng tung bay rợp trời, tượng trưng cho khát vọng hòa bình. Hàng đàn bồ câu trắng ở lại quanh lễ đài, quanh nhà khách Chủ tịch và quanh nhà Bác ở. Đất lành chim đậu, Bác rất vui. Những lúc rảnh rỗi, Bác thường cho bồ câu ăn. Vậy mà có một vài đồng chí bộ đội vô ý thức bắt bồ câu làm thịt. Bác không vui, phê bình thật nhẹ nhàng, thấm thía: “Nhân dân thả bồ câu để cầu nguyện hòa bình, sao các chú nỡ giết thịt?”.

Nhớ một ngày hè, Bác dạo quanh vườn bắt gặp tổ 3 người chúng tôi là anh Hạnh, anh Thái và tôi đang trèo cây hái nhãn. Sợ quá, tưởng Bác sẽ quở trách, ai ngờ Bác vui vẻ dặn dò: “Hái nhãn ăn cũng được nhưng phải hết sức cẩn thận, kẻo ngã thì khốn”. Những việc làm của Bác, những lời của Bác dạy bảo chúng tôi chỉ là những chuyện thông thường, rất giản dị nhưng đã làm chúng tôi nhớ mãi như những điều thiêng liêng, bởi những điều đó xuất phát từ tình thương bao la của Bác, thắm đượm tình cảm của Bác – như tình cảm một người cha dành cho những đứa con thân yêu của mình.

Những lần đại tiệc, tiếp khách nước ngoài, Bác đều dặn dò bộ phân giao tế nhớ để phần cho bộ đội bảo vệ. Những hôm có đoàn ca kịch hoặc chiếu phim, ngoài những người đang làm nhiệm vụ còn tất cả chúng tôi đều được quây quần quanh Bác cùng xem. Một lần đoàn kinh kịch của Trung Quốc biểu diễn tích xưa có vai các tướng đấu kiếm với nhau, buổi biểu diễn kết thúc, các đại sứ nước ngoài đua nhau tặng hoa cho vị tướng đóng vai thắng trận. Riêng Bác, Bác tặng hoa cho viên tướng đóng vai thua trận. Bác cười vui: “Ăn cho đều, kêu cho khắp, phải động viên họ để lần sau đánh thắng chứ”. Có lần Đoàn tuồng Ái Liên biểu diễn phục vụ cơ quan Chính phủ vở Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, diễn viên trình diễn xuất sắc làm rung động lòng người, khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Xong buổi diễn Bác có vẻ không được vui, Người bước lên sân khấu và đọc mấy vần thơ:

“Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài
Chữ tình nên trọng, chữ tài nên thương
Lão già dở dở ương ương.
Làm đôi anh chị dở duyên không thành
Đánh cho phong kiến tan tành,
Cho trăm ngàn Sơn Bá – Anh Đài thành đôi”.

Bác dạy chúng tôi những bài học thật tế nhị, trong lúc chờ phim, chúng tôi quây quần bên Bác vui văn nghệ, một cô gái xung phong hát bằng tiếng nước ngoài, Bác đề nghị: “Người mình nên hát tiếng mình thì Bác và các chú ở đây mới hiểu, mới hay chứ”. Lại một đồng chí bộ đội xung phong: “Tôi ra đây hát mừng Cụ Hồ sống lâu muôn tuổi”, Bác bảo: “Chú hát bài khác, bài này cũ lắm rồi!”. Có một đêm chiếu phim ở Liên Xô (cũ) không có người thuyết minh chính, một cán bộ học ở Nga về có lẽ chưa quen nên dịch nghe không được rõ. Bác cười bảo để Bác thuyết minh cho. Chúng tôi lắng nghe từng đoạn, từng ý, Bác dịch thật mạch lạc, gãy gọn, dễ hiểu… Ở Bác, điều gì cũng thật giản dị, và hình như điều gì Bác cũng có thể làm được!…

Theo Hoàng Văn Hiển/ Báo Tuổi trẻ online
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Câu chuyện: Người Pháp, Người Mỹ nói về Bác

Việt Nam - Hồ Chí MinhTuần báo Đây Paris ra ngày 18-6-1946 là một trong những bài viết sớm nhất, tương đối đầy đủ nhất về phong cách của Bác Hồ.

“Chủ tịch nước Việt Nam là một người giản dị quá đỗi. Quanh năm ông chỉ mặc một bộ áo kaki xoàng xĩnh và khi những người cộng tác quanh ông để ý, nói với ông rằng với địa vị ông ngày nay, nhiều khi cần phải mặc cho được trang trọng, thì ông chỉ mỉm cười trả lời:

“Chúng ta tưởng rằng chúng ta được quí trọng vì có áo đẹp mặc, trong khi bao nhiêu đồng bào mình trần đang rét run trong thành phố và các vùng quê”?

Sự ăn ở giản dị đến cực độ, như một nhà ẩn sĩ, đó là một đức tính rõ rệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tuần lễ ông nhịn ăn một bữa, không phải là để hành hạ mình cho khổ sở mà là để nêu một tấm gương dè xẻn gạo cho đồng bào đặng làm giảm bớt nạn đói trong nước. Hết thảy mọi người xung quanh đều bắt chước hành động đó của ông.

Trong những ngày thường, ông dùng cơm ở Bắc Bộ phủ, ngồi chung với hết thảy mọi người. Người ta thấy quây quần xung quanh bàn ăn: các bộ trưởng, những thư ký và cả những cậu thiếu niên phục vụ bàn giấy. Nhờ có đức tính giản dị của ông mà khi ngồi ăn với mọi người ông không làm ai phải giữ kẽ nhiều quá, mà trái lại, không khí chung lộ ra, lúc nào cũng thân mật, cũng vui vẻ, gây cho bữa ăn một vẻ gia đình.

Tính giản dị và thân mật của ông còn biểu lộ ra trong những bài diễn văn. Không bao giờ ông tỏ vẻ thông thái, vốn rất rộng của ông. Ông thông thạo nhiều thứ tiếng khác nhau và nói được rất nhiều tiếng thổ âm, trái lại ông chỉ dùng những câu nôm na, khiến cho một người dù quê mùa, chất phác nghe cũng hiểu ngay được. Ngày ông viết xã luận cho báo Cứu Quốc, trước khi đem bài cho nhà in, bao giờ ông cũng đem đọc cho một số người không biết chữ, ông già, bà già cùng nghe. Nếu ông thấy thính giả tỏ vẻ không hiểu mấy những ý tưởng trong bài viết lập tức ông viết lại ngay bài khác. Tất cả đức tính Hồ Chí Minh bao gồm trong một cử chỉ bé nhỏ đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất ghét lối nói khoa trương, văn vẻ. Mỗi bài diễn văn của ông là một bài học nhỏ kết luận bằng một ý kiến đạo đức. Bởi những ý tưởng hết sức giản đơn ấy mà bài diễn văn của ông có một tiếng vang lớn trong giới trí thức và dân chúng”.

Hai mươi lăm năm sau bài viết trên, năm 1971 – sau khi Bác Hồ đã mất, một người Mỹ – nhà báo, nhà văn Đâyvít Hanbơcstơn trong cuốn sách Hồ của mình, do Nhà xuất bản Răngđôm Haosơ ở New York ấn hành đã viết:

“… Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này – hơi giống Găngđi, hơi giống Lênin, hoàn toàn Việt Nam. Có lẽ hơn bất kỳ một người nào khác của thế kỷ này, đối với dân tộc của ông, và đối với cả thế giới ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Thế nhưng đối với hầu hết nông dân Việt Nam, ông là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi của họ. Ông là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, nói năng hòa nhã, không màng địa vị, luôn luôn mặc quần áo đơn giản nhất – cách ăn mặc của ông không khác mấy người nông dân nghèo nhất – một phong cách mà Phương Tây đã chế giễu ông trong nhiều năm, cười ông thiếu nghi thức quyền lực, không có đồng phục, không theo thời trang. Cho đến một ngày họ mới tỉnh ngộ và nhận thấy chính cái tính giản dị ấy, cái sùng bái sự giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông.

Trong một nước khi mà dân chúng đã thấy những người cầm đầu đạt tới một địa vị nào đó rồi trở thành “Tây” hơn là “Việt Nam”, bị quyền lực, tiền bạc và lối sống phương Tây làm thối nát; trong một nước khi những người đó đã ngoi lên khá cao thì không làm gì cho dân chúng cả, lập tức bị bán mình cho người nước ngoài, tính giản dị của ông Hồ là một sức mạnh. Địa vị càng cao sang, ông càng giản dị và trong sạch. Hình như ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh cửu của người Việt Nam: kính già, yêu trẻ, ghét tiền của. Ông Hồ không cố tìm kiếm cho mình những cái trang sức quyền lực vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với nhân dân, với lịch sử, đến nỗi không cần những pho tượng, những cái cầu, những pho sách, những tấm ảnh để chứng tỏ điều đó cho mình và cho thiên hạ biết. Việc ông từ chối sự sùng bái cá nhân là đặc biệt đáng chú ý trong cái xã hội kém phát triển…”.

Theo cuốn: Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh  do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương phát hành năm 2007
Thu Hiền (st)/ http://tuyengiao.haiduong.org.vn

bqllang.gov.vn

Hiệu lệnh mang tầm lịch sử

Cách đây 45 năm, thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị: Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, giáng cho địch một đòn thật mạnh, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, tạo ra sự thay đổi cơ bản cục diện chiến trường, chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới – thời kỳ giành thắng lợi quyết định, quân và dân ta ở miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đồng loạt tiến công địch ở 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn, đánh vào hầu hết các cơ quan đầu não trung ương và địa phương của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa, đặc biệt trong đó có Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn… trong bối cảnh đế quốc Mỹ đã leo đến nấc thang tột cùng: Quân Mỹ và đồng minh lên tới hơn 50 vạn, quân đội Sài Gòn hơn 70 vạn. Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này, chúng ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực cấp cao của địch, phá hủy một số lượng quan trọng vũ khí, phương tiện chiến tranh, cơ sở hậu cần, kỹ thuật của chúng.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã gây một cú “sốc đột ngột”, làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến của Mỹ trên toàn bộ chiến trường miền Nam; gây chấn động mạnh tới Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và toàn nước Mỹ; đưa hình ảnh chiến tranh Việt Nam vào từng gia đình, đến tận phòng họp của Thượng viện và Hạ viện chính phủ Hoa Kỳ. Những thủ đoạn dối trá, xảo quyệt của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đưa ra để đánh lừa nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới lâu nay nhanh chóng bị bóc trần. Làn sóng chống chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, liên tục trên toàn nước Mỹ và khắp các châu lục.

Với thắng lợi mang ý nghĩa chiến lược to lớn của cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân, quân và dân ta đã làm lay chuyển tận gốc rễ ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Tổng thống Giôn-xơn phải cách chức Mắc Na-ma-ra – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ và Đại tướng Oét-mo-len – Tổng chỉ huy quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam Việt Nam, đồng thời xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Pa-ri. Về cá nhân, Giôn-xơn tuyên bố không tham gia ứng cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ 2. Vậy là, chúng ta đã thực hiện thắng lợi mục đích đề ra của cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân là đánh đòn quyết định làm thay đổi cục diện chiến tranh theo chiều hướng có lợi cho ta.Hieu lenhQuân giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968 (Ảnh tư liệu)

Thắng lợi Xuân Mậu Thân (1968) là minh chứng cho tài trí trong nghệ thuật điều hành chiến tranh đặc biệt độc đáo Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Một trong số đó là vấn đề chọn thời điểm, hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Về thời điểm Tổng tiến công, chúng ta chọn Tết Nguyên đán năm Mậu Thân – đúng thời khắc đêm Giao thừa(*). Theo phong tục truyền thống ngàn đời của người Việt Nam, Tết Nguyên đán (Tết Âm lịch) là thời điểm hội ngộ của những người thân trong gia đình, dòng tộc; thời điểm mà hầu như tất cả mọi người con xa gia đình, quê hương bản quán đều mong ước trở về. Và, thông lệ từ xa xưa, các thành phần xã hội dù làm việc gì, ở đâu cũng đều được nghỉ Tết, đón Xuân. Kể cả với những người lính trong quân ngũ (thậm chí ngay khi đang có chiến tranh), dù dưới chế độ nào cũng hầu như rất ít khi nằm ngoại lệ. Đó là chưa kể, ngày Tết thường gắn chặt với việc tổ chức tiệc ăn uống (rượu chè) và những hoạt động đón Tết, mừng Xuân khác nữa – kể cả đối với những bộ phận được phân công ứng trực theo phiên. Vì thế, dù cho có “cấm trại” bảo toàn quân số đi chăng nữa thì yếu tố cảnh giác, sức ứng phó với những tình huống bất thường xảy ra cũng ít nhiều hạn chế. Điều tra, nghiên cứu và tính toán rất cụ thể từng chi tiết phong tục tập quán ăn Tết – vui Xuân cổ truyền ở các vùng miền đất phương Nam, đặc biệt là việc “điều binh khiển tướng” của Quân lực Việt Nam cộng hòa từ nhiều năm trước đó, chúng ta mới đi đến quyết định chọn thời điểm Giao thừa để khai mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Với sự tính toán mưu lược chu tất như vậy, nên khi ta phát hỏa tiến công, địch hoàn toàn bất ngờ, không thể trở tay kịp. Chính phóng viên chiến trường nhiều tờ báo lớn của Mỹ cũng phản ánh rằng: Vào những ngày Tết Mậu Thân, các đơn vị của quân đội Sài Gòn chỉ có một nửa quân số, khiến cho Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ vô cùng lúng túng trong việc ứng phó… Như vậy, việc chọn thời khắc Giao thừa để mở cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân thực sự là một quyết sách đầy mưu lược của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo nên bất ngờ rất lớn đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, góp phần làm nên thắng lợi lớn của quân và dân ta.

Mặt khác, để bảo đảm cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) diễn ra đồng loạt trên khắp các thành phố, thị xã, thị trấn toàn miền Nam trong điều kiện địch đang tạm thời nắm quyền kiểm soát thực sự là vô cùng khó khăn. Làm thế nào để “giờ G” được thống nhất trên toàn miền mà vẫn giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ tuyệt đối với địch trong điều kiện lịch miền Bắc và lịch miền Nam chênh lệch nhau một ngày là một bài toán khó. Sau nhiều phiên thảo luận, Bộ chỉ huy tối cao quyết định chọn phương án lấy thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc Tết đồng bào cả nước đêm Giao thừa theo lịch miền Bắc – thời khắc chuyển giao năm Đinh Mùi sang năm Mậu Thân làm hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công. Đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ trên Đài Tiếng nói Việt Nam là việc làm thường niên, đều đặn mỗi năm khi mùa Xuân đến. Mặt khác, chỉ có làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam mới có thể phủ khắp được các vùng miền trên toàn miền Nam, mà không có một phương tiện nào lúc bấy giờ có thể thực hiện được. Tính quy luật của lời chúc Tết của Bác và làn sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam đã gây sự bất ngờ lớn đối với quân địch. Tuy trên thực tế diễn biến cụ thể cũng còn có những hiện tượng chưa đồng nhất về thời điểm nổ súng tiến công ở một số đơn vị và địa phương, nhưng sau đó đã được khắc phục kịp thời, bởi trong nghệ thuật quân sự Việt Nam thời chống Mỹ, có một nguyên tắc rất độc đáo là “lấy tiếng súng làm tín hiệu hiệp đồng”. Theo đó, tiếng súng tiến công của các đơn vị, địa phương này trở thành hiệu lệnh cho đơn vị, địa phương liền kề tiến công địch như một lẽ đương nhiên. Có thể khẳng định rằng, hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) cũng thực sự là một hiện tượng đặc sắc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của quân và dân ta ở miền Nam.

Tóm lại, vấn đề chọn thời điểm và hiệu lệnh khởi phát cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) thực sự là những nét độc đáo thuộc về nghệ thuật chỉ đạo và điều hành chiến tranh của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là một trong những chiến công thể hiện tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Từ thực tế lịch sử, thành tựu và bài học kinh nghiệm về nghệ thuật quân sự đúc rút từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968) nói riêng và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung vẫn sẽ còn nguyên vẹn giá trị để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc hôm nay và tương lai.

Theo TS. Nguyễn Huy Thục/ Báo quân đội nhân dân
 Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânSuốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh phấn đấu không mệt mỏi cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.

Sớm nhận thức sâu sắc được vai trò của quần chúng, sau khi tìm thấy con đường cứu nước trong thời đại mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở về nước, đi vào quần chúng, vận động, tập hợp, tổ chức quần chúng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng giành lại độc lập, tự do. Đến khi trở thành lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, cũng vẫn là một Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì thực hiện mối liên hệ với quần chúng, gắn bó máu thịt với quần chúng.

Vai trò của quần chúng nhân dân

Là người hiểu rất rõ: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”, và “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của học thuyết Mác-Lênin về công tác vận động quần chúng kiểu mới, trang bị cho lớp cán bộ cốt cán đầu tiên của cách mạng Việt Nam một phương pháp vận động quần chúng khoa học. Sau đó, đội ngũ cán bộ ấy đã trở về nước, hoạt động cách mạng trong lòng nhân dân, tổ chức quần chúng, “nếm mật nằm gai” cùng quần chúng đấu tranh, tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng một đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thấm nhuần lời của cổ nhân “chở thuyền cũng là dân”, “lật thuyền cũng là dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng sự nghiệp cách mạng là của dân, do dân và “không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thành công”. Cũng theo lời Người, giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền, xây dựng một đất nước Việt Nam mới còn khó khăn, phức tạp hơn gấp nhiều lần: “Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn”, vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của một đôi giai tầng trong nước. Hơn nữa, Người đã nói: “Chúng ta phải thật thà thừa nhận rằng kinh nghiệm chúng ta còn ít, tài năng chúng ta còn kém, mà công việc thì nhiều”, nên để “thuyết phục quần chúng một cách có lý, có tình, làm cho họ hiểu để… việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”, thì không thể không làm tốt công tác dân vận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra vị trí “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân chính là người cán bộ, đảng viên, bởi chính họ là người đem đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ đến với nhân dân, đồng thời cũng là người lãnh đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nên nhấn mạnh: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công và thất bại của chính sách đó là do cách tổ chức công việc, do nơi lựa chọn cán bộ, do nơi kiểm tra. Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Vì vậy, muốn tổ chức công việc tốt, người cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối trung thành với Đảng, phải có năng lực lãnh đạo, khả năng tổ chức thục hiện và nhất định phải quán triệt những nguyên tắc của công tác dân vận – liên hệ mật thiết với nhân dân, luôn gần dân, hiểu tâm tư nguyện vọng của dân… Tuy nhiên, dường như cùng với thời gian, những điều Người cảnh báo về những hiện tượng chưa thực sự “vì dân”, “ngày càng xa dân”, “coi khinh công tác dân vận” của cán bộ, đảng viên từng được nêu trong các tác phẩm: Thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (năm 1945), Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (năm 1947),  Thư gửi các đồng chí Trung Bộ, Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Cần kiệm liêm chính (năm 1949)… đã không được khắc phục kịp thời, mà những vấn nạn đó ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Thực tế là, khi Đảng cầm quyền, dù đa số cán bộ, đảng viên tại các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể vẫn thực sự là những “công bộc”, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân, thì cũng đã có không ít người “lên mặt làm quan cách mạng, miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối quan chủ, miệng nói phụng sự quần chúng, khi làm thì trái ngược với lợi ích của quần chúng”. Họ đã không lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đã tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh, không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu khó học tập để tiến bộ, và thường thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, dần càng rời xa nhân dân… Họ đã làm trái ngược nguyên tắc “phải gắn bó máu thịt với nhân dân”, làm cho nhân dân hoang mang, oán Chính phủ và Đảng.

Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nói rằng: “Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc, dân là chủ” nên mọi công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mọi người. Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải lấy dân làm gốc, coi dân là chủ, đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy: Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh, mà còn yêu cầu cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân trên tinh thần: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”…

Phong cách quần chúng

Trước những thiếu sót, sai lầm “rất to, rất có hại” của các địa phương, của đội ngũ cán bộ, đảng viên về công tác dân vận, để “đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”, nhằm chỉnh đốn lại nội bộ Đảng và thông qua chỉnh đốn Đảng để tăng cường xây dựng Đảng, ngày 15-10-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh (bút danh X.Y.Z) đã kịp thời cảnh báo và nêu rõ những nội dung cốt lõi về tư tưởng dân vận qua tác phẩm Dân vận đăng trên Báo Sự thật  ngày 15-10-1949. Trong đó

Người khẳng định:

“Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Vì “lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” nên người cán bộ, đảng viên phải luôn gần dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, để cổ vũ, động viên nhân dân và phát huy được nguồn sức mạnh nội lực của lực lượng “dời non, lấp bể” này trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Muốn vậy, phải làm tốt công tác dân vận, phải “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”.

Người đã từng nhiều lần nhấn mạnh rằng: Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước dù đúng đắn, nhưng nếu không được sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân thì rất khó đi vào hiện thực cuộc sống. Nhưng muốn được nhân dân ủng hộ, thì không chỉ dùng cách tuyên truyền bằng sách, báo, mít tinh, nghị quyết hay khẩu hiệu, mà “phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Nghĩa là:

Thứ nhất: Phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi người dân hiểu được rõ ràng những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chính là đem lại “lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”.

Thứ hai: Bất cứ công việc gì cũng phải bàn bạc và hỏi ý kiến, kinh nghiệm của quần chúng; giáo dục, động viên quần chúng, “khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hoá nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng”.

Thứ ba: Trong lúc thi hành, phải theo dõi, đôn đốc, khuyến khích quần chúng thực hiện tốt chủ trương, đường lối đó.

Thứ tư: Cùng quần chúng bàn bạc, rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, để có phê bình và khen thưởng kịp thời.

Cho nên, để khắc phục suy nghĩ: Việc gì cũng từ “trên dội xuống”, dùng mệnh lệnh, chỉ thị để lãnh đạo, “thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều. Ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống địa phương kiểm tra công tác… Những chỉ thị, nghị quyết cấp trên gửi xuống các địa phương có thực hiện được hay không, các đồng chí cũng không biết đến” – “Cái lối làm việc như vậy rất có hại. Nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ được tình hình bên dưới cho nên phần nhiều chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi, đến chốn”, thì bất cứ việc to, việc nhỏ gì cũng đều phải thực hiện theo nguyên tắc “từ trong quần chúng ra. Về sâu nơi quần chúng” và “phải thật thà nhúng tay vào việc”. Điều đó nghĩa là: Trong bất cứ hoàn cảnh nào, cán bộ, đảng viên cũng phải chú trọng xem: người dân đang nghĩ gì? cần gì?… để đưa mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tế cuộc sống; để người dân được thụ hưởng những kết quả của các chủ trương, nghị quyết ấy. Muốn vậy, phải thực hiện lời Người: rất cần và nhất thiết phải khắc phục “khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử những cán bộ kém rồi bỏ mặc họ. Vận được thì tốt, vận không được cũng mặc. Những cán bộ khác không trông nom, giúp đỡ, tự cho mình không có trách nhiệm dân vận. Đó là sai lầm rất to, rất có hại”.

Để làm dân vận tốt, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”. Đó phải là những người luôn “tự mình phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm chính, để nhân dân noi theo”, vì quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức, những người luôn lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ… Đồng thời, cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Dân vận không phải là việc riêng của một hai người, một hai ban, ngành, đó phải là công việc của cả hệ thống chính trị, là “tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh…) đều phải phụ trách dân vận”.

Tấm gương của Bác về phong cách quần chúng

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ luôn hết lòng yêu thương nhân dân, vì nhân dân phục vụ: “Người luôn luôn ở giữa quần chúng nhân dân, mang lại muôn vàn tình thân yêu cho con người”. Bởi vậy, từ cách mạng thành công Người đã nói: “Trong nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân” và “nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Nhất quán nguyên tắc đó, trong 24 năm ở vị thế một nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh là “một vị lãnh tụ thực sự liên hệ sâu sắc với quần chúng, mà nói như vậy cũng không đủ, phải nói là một vị lãnh tụ kiệt xuất đã hòa sâu trong nhân dân Việt Nam, thực sự trở thành một thể thống nhất với nhân dân Việt Nam”. Khó mà kể hết được những dòng ký ức của mỗi người về hình ảnh một Chủ tịch Hồ Chí Minh – mẫu mực về công tác dân vận… và thật sinh động, cụ thể, ngày 18-1-1967, khi nói chuyện với Lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện, Người đã căn dặn: “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được… Dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong”.

Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận, từ tấm gương làm dân vận mẫu mực của Người và bài học quý giá Người căn dặn: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”, trong hơn 26 năm đổi mới, đã có nhiều nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước… về tăng cường công tác dân vận được ban hành. Và trên thực tế, các cấp chính quyền đã chú trọng, tăng cường công tác quần chúng; có những chính sách kịp thời khuyến khích, vận động người dân tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước, tham gia phát triển kinh tế, xã hội… Đồng thời, việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, việc chính quyền phối hợp ngày càng chặt chẽ, thường xuyên với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên cùng làm công tác dân vận, đã góp phần làm cho quyền làm chủ của người dân ngày càng được phát huy, tôn trọng./.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn