Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Nhờ thế trận lòng dân

QĐND – Sau khi tiêu diệt cứ điểm Tà Mây, Đại đội tăng 3 (Tiểu đoàn 198) được lệnh quay về tập kết ở vị trí cũ, tại khu vực Cha-ki Phìn. Cả 11 xe tăng của đại đội về vị trí tập kết an toàn, chuẩn bị bước vào trận đánh cứ điểm Làng Vây, một trong những cứ điểm mạnh trong hệ thống phòng thủ Đường 9 của Mỹ và ngụy quân Sài Gòn, đồng thời là cửa ngõ bảo vệ Tà Cơn, án ngữ một vùng biên giới Việt-Lào.

Cùng thời gian này, Đại đội tăng 9 (Tiểu đoàn 198) đã vào tới vị trí tập kết tại Pê-sai bằng đường sông Sê-pôn, nhưng trận đánh bị hoãn lại so với kế hoạch. Toàn đội hình xe tăng nằm cách căn cứ Làng Vây của địch khoảng 3km, nên việc giữ gìn bí mật được đặt ra hết sức nghiêm ngặt. Quá trình chuẩn bị chiến đấu và hành quân vào chiếm lĩnh trận địa, các đơn vị xe tăng và bộ đội ta được đồng bào các dân tộc huyện Hướng Hóa giúp đỡ, che chở. Bà con góp lương thực, thực phẩm giúp bộ đội và còn tham gia ngụy trang, xóa dấu vết xích xe tăng trên đoạn đường hàng chục cây số; tham gia gùi đạn, vật tư kỹ thuật để bảo đảm sửa chữa xe tăng…

Trong số bà con các dân tộc Hướng Hóa, có một cán bộ tên là Khăm-tày Xi-vy-lây thường xuyên đi theo để giúp đỡ bộ đội. Anh thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình địch, thông thuộc địa hình, nên đã chỉ dẫn cho bộ đội xe tăng những nơi cần phải tránh địch và giúp bộ đội nắm được phong tục, tập quán của đồng bào, vận động người dân tham gia giúp đỡ, giữ bí mật cho bộ đội. Nhờ lòng dân đùm bọc, chở che đã góp phần giúp bộ đội ta, đặc biệt là lực lượng xe tăng giữ bí mật, an toàn, hoàn thành tốt nhiệm vụ, lập nên chiến thắng trận Làng Vây ngày 7-2-1968.

ĐỨC GIANG
qdnd.vn

Tìm đánh máy bay trong sào huyệt của địch

QĐND – Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta, nhằm giành lại ưu thế, địch truy xét gắt gao các cơ sở của ta và đàn áp nhân dân. Để mở rộng vùng giải phóng trên đất bạn Lào, giúp đỡ xây dựng lực lượng vũ trang cho bạn và tập kết, bảo vệ an toàn cho lực lượng của ta, Quân khu Nam Lào quyết định mở mặt trận A – Nam Lào.

Nhằm tăng cường bảo vệ phòng không cho mặt trận, Đoàn 559 điều động Đại đội phòng không 18 cho Quân khu Nam Lào. Đại đội 18 trang bị chủ yếu súng máy phòng không 12,7mm. Nhiệm vụ của đại đội là phải bắn rơi máy bay địch tại sân bay A-ta-pơ nhằm xây dựng niềm tin cho nhân dân các bộ tộc Lào và tạo điều kiện thuận lợi khi làm công tác dân vận.

Sau khi tiến hành trinh sát thực địa tại sân bay, đại đội nhận thấy đây là một sân bay do quân ngụy Lào nắm giữ, nhưng chủ yếu là máy bay của Mỹ với các loại như L19, OV10, AD6, DC4, C47 có nhiệm vụ là vận chuyển hàng hóa, vũ khí, lương thực thực phẩm cho ngụy Lào, cũng như chiến trường Đông Dương của Mỹ. Sân bay được bảo vệ bằng trận địa hỏa lực pháo cối, ĐKZ… Đại đội xác định, vị trí để bắn máy bay là đầu đường băng, nơi địch ít chú ý hơn. Tuy nhiên lực lượng tiếp cận để đánh không thể đông người vì dễ bị lộ. Do vậy đơn vị quyết định sử dụng lực lượng nhỏ đánh nhanh rồi rút, mục tiêu là máy bay vận tải. Điểm ngắm được xác định là bắn theo vật chuẩn chứ không theo cách thông thường của súng 12,7mm.

Cuối tháng 2-1968, Tổ phòng không tầm thấp của đại đội với 2 khẩu đội 12,7mm vào chiếm lĩnh trận địa. Súng được ngụy trang bằng vải dù, cành cây; người ban ngày chỉ có cách nằm im, ban đêm lực lượng tiếp tế của ta mới đưa lương thực vào. Sau hai ngày nằm tại vị trí mà chưa có cơ hội nổ súng vì máy bay chủ yếu là các loại máy bay trinh sát chưa đúng ý định của cấp trên, cơ hội thành công là không cao. Đến ngày thứ ba, khoảng 8 giờ, một chiếc máy bay DC4 hạ cánh xuống và lúc 10 giờ chuẩn bị cất cánh. Toàn tổ được lệnh nổ súng. Khi chiếc máy bay cất cánh bay lên ở độ cao khoảng 50m với vật chuẩn là ngọn cây, cả 2 khẩu đội cùng khai hỏa. Chiếc máy bay DC4 bị trúng đạn chao đảo, phụt khói đen và rơi xuống. Cả 2 khẩu đội khẩn trương rút khỏi trận địa ẩn nấp tại hầm ếch ở khe một con suối cạn.

Bị tiến công bất ngờ, một lúc sau, địch mới dùng hỏa lực bắn dồn dập về vị trí có tiếng súng nhằm tiêu diệt lực lượng của ta. Song chúng đã bắn vào trận địa trống, toàn tổ phòng không đã rút về đơn vị an toàn. Trận đánh táo bạo, vào tận nơi để tiêu diệt máy bay địch đã tạo niềm tin cho nhân dân.

LÊ HỒNG PHI

Ông cha ta đánh giặc

* Liên lạc viên “đặc biệt”

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ở mặt trận Thừa Thiên-Huế, cơ quan thông tin Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức một phân đội thông tin liên lạc cơ động làm nhiệm vụ triển khai hệ thống thông tin ở Sở chỉ huy tiền phương. Ngoài tổ chức sử dụng hệ thống vô tuyến điện sóng ngắn, hữu tuyến điện và thông tin truyền đạt, để giữ liên lạc với Trung đoàn 6 và các lực lượng của ta tiến công vào thành phố Huế, cơ quan thông tin còn đặt một máy thông tin vô tuyến điện sóng ngắn loại PRC-25 làm nhiệm vụ canh và tiếp chuyển thông tin liên lạc từ Sở chỉ huy chiến dịch đến các đơn vị.

Tuy nhiên, sau khi tiến hành tổng tiến công và nổi dậy ở Thừa Thiên và thành phố Huế, tình hình chiến sự phát triển rất nhanh. Lực lượng thông tin liên lạc phải chia thành nhiều tổ, đội bảo đảm, song chưa đáp ứng yêu cầu khẩn trương của chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch trên mặt trận Thừa Thiên-Huế lúc này phải sử dụng lực lượng liên lạc viên là những cơ sở cách mạng, cán bộ Đảng, kể cả Bí thư Huyện ủy dẫn đường cho bộ đội vào tác chiến ở thành phố Huế, các huyện và xã, phường, thị trấn. Nhờ lực lượng liên lạc viên “đặc biệt”, sự giúp đỡ tích cực của cán bộ địa phương, hệ thống giao liên của Đảng, nên Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ huy được thông suốt, các đơn vị chiến đấu giành thắng lợi, làm chủ thành phố Huế gần một tháng.

QUANG PHÁT

“Tương kế, tựu kế” phá thủ đoạn phục lót

Sau cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, lợi dụng khó khăn tạm thời của ta, quân đội chính quyền Sài Gòn và chư hầu sử dụng thủ đoạn phục kích, lót sẵn (bộ đội ta gọi là phục lót) rất lì lợm và nham hiểm nhằm đánh phá, ngăn chặn tiếp xúc giữa cán bộ với quần chúng; chặt đứt hành lang giao thông, đảm bảo hậu cần từ đồng bằng lên các căn cứ, thực hiện bao vây, cô lập “tát nước, bắt cá”… gây cho ta một số tổn thất nhất định.

Quyết tâm phá tan âm mưu, thủ đoạn của địch, Huyện ủy Tuy Hòa (Phú Yên) tập trung lãnh đạo đấu tranh bằng nhiều biện pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân. Tổ chức Đảng các cấp, các đảng viên trung kiên kiên trì bám trụ, bám quần chúng và lãnh đạo các đoàn thể; bộ đội địa phương, du kích tập trung nghiên cứu thủ đoạn và quy luật “phục lót” của địch để đề ra biện pháp khắc chế; trinh sát vũ trang, du kích trừng trị những tên ác ôn có nhiều nợ máu để răn đe… Qua trinh sát, phân tích, ta phát hiện quy luật: Khi phát hiện lực lượng ta, địch sử dụng toán phục kích nhỏ, mỗi tên bí mật cõng một tên; bố trí trận địa phục kích nhiều vòng có chiều sâu nhằm nghi binh và đánh lạc hướng ta…

Đêm 12-8-1969, ta phát hiện 20 tên địch cõng nhau, phủ tăng che kín tổ chức hành quân đi phục lót. “Tương kế, tựu kế”, Huyện đội Tuy Hòa cơ động Đại đội 377 bộ đội địa phương bí mật, bố trí trận địa sẵn tại các địa điểm mà địch thường phục lót. Đúng như dự kiến của ta, tốp địch vừa lọt vào trận địa Bến Sách (Hòa Tân), đại đội bộ đội địa phương Tuy Hòa nổ súng, tiêu diệt tại chỗ 12 tên, 8 tên còn lại lợi dụng đêm tối tháo chạy. Sau trận này, địch hoang mang, không dám sử dụng thủ đoạn phục lót. Trận đánh phản phục lót thể hiện quyết tâm chiến đấu cao, nghiên cứu, nắm chắc tình hình địch; mưu trí, sáng tạo trong sử dụng lực lượng, bố trí trận địa và cách đánh, phá tan thủ đoạn của địch, thúc đẩy tiến trình cách mạng phát triển trong toàn huyện.

TRẦN VĂN
qdnd.vn

Biểu tượng của khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo

Xã luận

QĐND – Hòa chung khí thế thi đua sôi nổi, hào hứng lập thành tích kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đón chào năm mới Quý Tỵ 2013, hôm nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn khởi, tự hào kỷ niệm 45 năm mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Nhìn lại cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 45 năm trước chúng ta càng thấy rõ ý nghĩa và tầm vóc to lớn của nó trong lịch sử dân tộc.

Sau những thắng lợi lớn trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và mùa khô 1966-1967, quân và dân ta đã đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ trên cả hai miền Nam – Bắc. Mỹ và tay sai đã thất bại trong mục tiêu “tìm diệt” và “bình định”, quân và dân ta đã có những chuyển biến vượt bậc, mở ra nhiều khả năng tiến công trên nhiều mặt trận. Đặc biệt ta đang ở thế chủ động cho phép có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang một thời kỳ mới, giành những thắng lợi quyết định.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nổ ra và giành thắng lợi là sự kiện có ý nghĩa và tầm vóc to lớn, là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Thời gian càng lùi xa, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ngày càng được khẳng định, trở thành biểu tượng của ý chí quyết chiến quyết thắng, khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Có nhiều yếu tố tạo nên chiến thắng, nhưng không thể không nói tới một mẫu mực tuyệt vời về nghệ thuật chỉ đạo tác chiến chiến lược, chiến dịch của Đảng ta. Không chỉ tạo ra sự bất ngờ về thời gian tiến hành cuộc tổng tiến công, ta còn tạo ra sự bất ngờ lớn đối với quân địch khi đưa cuộc kháng chiến vào đô thị – sào huyệt cuối cùng, làm cho chúng trở tay không kịp. Quân và dân ta cũng thành công trong nghệ thuật nghi binh, lừa địch. Bằng việc mở chiến dịch Khe Sanh vào ngày 20-1-1968, chúng ta đã thành công trong chiến thuật “điệu hổ ly sơn” khi thu hút hơn 90% lực lượng tinh nhuệ nhất của Mỹ lên vùng rừng núi, rồi sau đó tập trung binh hỏa lực đánh vào những nơi chúng không ngờ tới… Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là chiến thắng tiêu biểu của nghệ thuật vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm, đường lối quân sự của Đảng. Với đòn tiến công chiến lược ấy, chúng ta đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng. Tác động sâu rộng, mãnh liệt của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã buộc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải đơn phương tuyên bố chấm dứt vai trò trực tiếp của quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, ngừng mọi hoạt động trên không, trên biển chống phá nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chấm dứt ném bom miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam. Có thể nói thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã tạo ra một bước ngoặt chiến lược, có ý nghĩa quyết định tới toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu. Đặc biệt là bài học vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối quân sự của Đảng trong chỉ đạo tác chiến chiến lược, chiến dịch. Trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, công tác chỉ đạo chiến lược, chiến dịch phải quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đảng, nhất là đường lối quân sự trong giai đoạn mới, đó là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân… Để vận dụng linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả các quan điểm đó trong từng nhiệm vụ chúng ta phải chủ động nắm chắc tình hình, bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn để đề ra các chủ trương, giải pháp phù hợp. Trong khi chú trọng phát triển kinh tế, xã hội chúng ta không được chủ quan, lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phải luôn luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đánh thắng mọi loại hình chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Cùng với đó phải đánh giá đúng đối tượng chiến lược của cách mạng Việt Nam và đối tượng tác chiến chiến lược của các lực lượng vũ trang nhân dân ta, để từ đó, tích cực chuẩn bị các tiềm lực: Chính trị, tinh thần; kinh tế; quân sự, quốc phòng và an ninh; chuẩn bị hậu phương và căn cứ của cả nước; hậu phương, căn cứ trên từng chiến trường, từng khu vực phòng thủ trên từng hướng chiến lược; củng cố và chấn chỉnh lực lượng vũ trang… Với vai trò nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam phải được xây dựng vững mạnh cả về chất lượng chính trị và trình độ và khả năng SSCĐ, đặc biệt là khả năng làm chủ các loại vũ khí trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải nhận thức rõ trọng trách của mình để không ngừng rèn luyện, phấn đấu nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật. Đi đôi với xây dựng bộ đội thường trực, chúng ta cần quan tâm đúng mức đến xây dựng, huấn luyện lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ… Các lực lượng vũ trang phải luôn đoàn kết xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Phía trước dẫu còn nhiều chông gai, thử thách nhưng chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 mãi mãi xứng đáng với tầm vóc lịch sử của dân tộc.

QĐND
qdnd.vn

Phối hợp chặt chẽ giữa tiến công với nổi dậy giành chính quyền của nhân dân

Cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968 ở Tây Nguyên

QĐND – Cuối tháng 12-1967, Tây Nguyên được phổ biến quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân 1968. Quán triệt chủ trương chiến lược của Trung ương, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã thống nhất quyết tâm: Động viên toàn thể lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc nỗ lực vượt bậc, tiến công liên tục, toàn diện và triệt để vào quân địch, thực hiện bằng được quyết tâm chiến lược của Đảng, đồng thời phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường và sẵn sàng ứng phó một cách chủ động, mạnh mẽ nếu chiến tranh kéo dài.

Để thống nhất chỉ đạo và chỉ huy, phối hợp giữa hai lực lượng và ba thứ quân trên chiến trường, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận mở hội nghị liên tịch với lãnh đạo các địa phương, bàn bạc biện pháp phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng. Mục tiêu chính được xác định là 3 thị xã: Buôn Ma Thuột, Plei-cu và Kon Tum. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận cũng thành lập Bộ chỉ huy tiền phương ở Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, có sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo địa phương.

Sau hội nghị, Bộ tư lệnh Mặt trận triển khai, điều động lực lượng trên các hướng, thành lập thêm một số đơn vị cần thiết để đảm bảo yêu cầu chiến đấu, bổ sung cho mỗi thị xã đủ một tiểu đoàn đặc công, một đại đội hỏa lực hỗn hợp, tăng cường cho Buôn Ma Thuột hai tiểu đoàn bộ binh, Plei-cu một tiểu đoàn, đưa sang Tân Cảnh một tiểu đoàn, củng cố và mở rộng các tuyến hành lang Đông Tây, đồng thời mở thêm Binh trạm 4 ở Đắc Lắc. Ngoài lực lượng bộ đội địa phương và các phân đội mũi nhọn của Mặt trận tăng cường, lúc này Kon Tum có Trung đoàn 24, Gia Lai có Trung đoàn 95, Đắc Lắc có Trung đoàn 33. Sư đoàn 1 (gồm các Trung đoàn 66, 174, 320) lực lượng cơ động của Mặt trận được tập trung trên hướng đường 18-Plei-cần để đón lõng quân Mỹ ra phản kích và sẵn sàng chuyển sang đánh Đắc Tô – Tân Cảnh.

Các địa phương cũng khẩn trương tiến hành các mặt chuẩn bị để phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực. Cả ba tỉnh đều nhanh chóng tổ chức các đội công tác và phát động nhân dân chuẩn bị vùng lên giành chính quyền. Chiều 29-1-1968, hàng trăm cán bộ đảng và đội viên biệt động của ba tỉnh đã ém sẵn trong các thị xã, bí mật tổ chức quần chúng sẵn sàng nổi dậy đấu tranh chính trị, phối hợp cùng bộ đội chiến đấu. Tỉnh ủy Gia Lai còn huy động hàng nghìn quần chúng vào thị xã Plei-cu sắm hàng Tết rồi ở lại trong thị xã sẵn sàng chờ lệnh hành động.

Bộ đội ta hành quân vào chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị cho Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu

Giữa lúc cả Tây Nguyên đang bừng bừng khí thế cách mạng, chờ lệnh tiến công thì Bộ tư lệnh Mặt trận nhận được lệnh của trên hoãn thời gian nổ súng lại một ngày để phối hợp với toàn Miền. Tin đó được phổ biến xuống. Cả ba tỉnh đều nhất loạt báo về: Bộ đội đã sẵn sàng, quần chúng đã sẵn sàng, không còn cách nào hoãn được, đề nghị cho nổ súng như đã chuẩn bị. Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận kịp thời báo cáo xin cấp trên cho Tây Nguyên được nổ súng theo kế hoạch vào đêm 29 rạng sáng 30-1-1968. Ý kiến đề nghị đó được cấp trên đồng ý.

Đúng 0 giờ 30 phút ngày 30-1-1968 (tức đêm 29 rạng ngày 30 Tết Nguyên đán Mậu Thân), Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên phát lệnh nổ súng. Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 174, Sư đoàn 1 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương nhanh chóng đánh chiếm và làm chủ hoàn toàn thị trấn Tân Cảnh. Tiếng súng ở Tân Cảnh được ghi vào lịch sử như tiếng súng khởi đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân trên toàn chiến trường miền Nam.

Trên hướng Đắc Lắc, ta đã đánh chiếm được một số mục tiêu quan trọng trong thị xã Buôn Ma Thuột như Đài phát thanh, trụ sở Sư đoàn 23 Quân đội Sài Gòn, Tòa hành chính, Ty cảnh sát và bắn pháo dồn dập vào Trung đoàn 45, sân bay của địch. Sau đó, phát triển đánh chiếm khu cư xá Mỹ, khu cơ giới và pháo binh. Cùng với Quân Giải phóng, bà con trong các khu phố, “ấp chiến lược” cũng nổi mõ, gõ trống nổi dậy chặt rào, phá bốt, diệt ác ôn; học sinh, sinh viên chia nhau ra dẫn đường cho bộ đội chiến đấu. Hàng vạn đồng bào Kinh, Thượng từ các ngả kéo vào thị xã vây chặt căn cứ Trung đoàn 45 của địch, kêu gọi binh lính quay súng trở về với nhân dân. Ở hướng Gia Lai, các đơn vị đồng loạt tiến công các mục tiêu chủ yếu của địch khu vực thị xã Plei-cu. Bộ đội Đặc công cùng với các đơn vị bộ đội địa phương dũng cảm đánh địch. Mặc dù bị địch phản công ác liệt, quân ta vẫn bám trụ chiến đấu. Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội, hơn 11.000 đồng bào ở thị xã và các huyện xung quanh xuống đường đấu tranh chính trị, dẫn đường, tiếp tế cơm nước cho bộ đội, cứu chữa, vận chuyển thương binh. Ở Kon Tum, các lực lượng của ta đánh vào các vị trí đã xác định, giải phóng một loạt 7 “ấp chiến lược” với hàng nghìn đồng bào được trở về làng cũ sinh sống…

Bằng sự chủ động, phối hợp chặt chẽ giữa tiến công với nổi dậy giành chính quyền của nhân dân, quân và dân Tây Nguyên đã đồng loạt đánh vào hầu hết cơ quan đầu não và căn cứ quan trọng của địch ở khắp ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, làm chủ nhiều vị trí quan trọng trong nhiều ngày, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận lớn lực lượng, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Chiến thắng đó đã đánh dấu bước chuyển biến nhảy vọt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường Tây Nguyên, để lại nhiều bài học quý báu về phát huy sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đại tá NGUYỄN HÙNG TẤN
qdnd.vn

Không có chuyện “thắng về chiến thuật, thua về chiến lược”

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968:

QĐND Online – Sau sự kiện Tết Mậu Thân, một số nhà quân sự của Mỹ, điển hình là Đại tá Ha-ry G. Săm-mơ Jr (Harry G.Summers Jr), thuộc Viện nghiên cứu chiến lược, Trường chiến tranh quân đội Mỹ tự thừa nhận: Mỹ đã “thắng về chiến thuật, thua về chiến lược”. Nhân dịp kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, phóng viên Báo QĐND Online đã có cuộc phỏng vấn Trung tướng Nguyễn Trung Thu, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh quân khu 5, một trong những nhân chứng tham gia trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, Tết Mậu Thân 1968 là một sự kiện lịch sử đặc biệt; vậy đồng chí cho biết sự kiện lịch sử ấy đặc biệt như thế nào?

Trung tướng Nguyễn Trung Thu: Đồng chí nói đúng, Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là một sự kiện đặc biệt trong suốt chiều dài 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Đặc biệt là bởi vì đã tạo ra được một bước ngoặt, mở ra một hướng mới trong cuộc chiến tranh. Sự kiện ấy đã gây cho địch những đòn choáng váng, làm cho bộ máy cơ quan tham mưu, tình báo chỉ đạo, theo dõi và vận hành chiến tranh khổng lồ của Mỹ tại Nam Việt Nam bị dư luận đánh giá thấp về khả năng. Những bất ngờ về lực lượng, cách đánh, thời điểm tác chiến, phạm vi, mức độ của cuộc Tổng tấn công… đặc biệt là tinh thần chiến đấu ngoan cường của quân và dân ta trước một đối thủ có hỏa lực mạnh, sức cơ động cao đã làm bùng nổ phong trào phản chiến ở Mỹ, làm đau đầu giới quân sự Nhà Trắng. Nói về cái đặc biệt của Mậu Thân 1968 thì nhiều lắm, nhưng tôi chỉ khái quát những nét cơ bản như vậy thôi. Tôi chỉ nói thêm là, thời điểm đó mọi người hồ hởi lắm, khí thế lắm; chỗ nào cũng hừng hực, rộn ràng ra trận; bộ đội địa phương và quân chủ lực đều hăng hái làm công tác chuẩn bị vũ khí đạn dược, bổ sung quân số, huấn luyện chiến thuật… sẵn sàng cho trận đánh lớn. Lúc ấy tôi thấy mọi người đọc thơ: “Hãy xông lên với khí thế rời non lấp biển, với tinh thần quyết tử để Tổ quốc quyết sinh! Trút căm thù lên đầu lê mũi súng, trả thù nhà, đền nợ nước, kiên quyết diệt địch đến cùng… hay câu “Năm nay ăn Tết rừng xanh, sang năm ăn Tết đô thành Quảng Nam mà nhớ mãi đến tận bây giờ.

Trung tướng Nguyễn Trung Thu

PV: Xin đồng chí cho biết những nét chính về kế hoạch tiến công trên chiến trường Khu 5 trong Tết Mậu Thân 1968?

Trung tướng Nguyễn Trung Thu: Kế hoạch mà Quân khu 5 chuẩn bị lúc đó rất tỉ mỉ và chu đáo, bao gồm kế hoạch tiến công trên hướng chính, kế hoạch khởi nghĩa ở các thành thị… Chủ trương của Quân khu 5 lúc đó là: Phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, đồng loạt Tổng tiến công và nổi dậy từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa, từ đồng bằng ven biển lên miền núi, phối hợp nhịp nhàng với quân và dân toàn Miền giành thắng lợi quyết định. Trong kế hoạch tiến công quân sự, Quân khu 5 chia chiến trường ra làm 4 khu vực: Quảng Đà – Quảng Nam; Bình Định (An Khê, Gia Lai); Phú Yên, Khánh Hòa; Tây Nguyên. Mỗi khu vực có một nhiệm vụ khác nhau, trong đó coi chiến trường tại TP Đà Nẵng (gồm cả bắc Quảng Ngãi) là trọng điểm. Tại đây, dự kiến các đơn vị đặc công và bộ binh sẽ đánh chiếm hai khu vực điểm cao là núi Phước Tường và Non Nước, khống chế thành phố từ hướng Tây và Đông Nam, thọc sâu đánh thẳng vào sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy; pháo kích vào sân bay; biệt động Lê Độ và các cơ sở vũ trang trong thành phố, đánh chiếm các mục tiêu như Đài phát thanh, Tòa thị chính…; hỗ trợ cho quần chúng nhân dân trong thành phố và vùng ven tràn vào thành phố khởi nghĩa giành chính quyền. Các khu vực còn lại đều được giao tiêu diệt các mục tiêu cụ thể, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền và sẵn sàng ngăn chặn, đánh địch tiếp viện. Ttôi chỉ xin khái quát một số nét như vậy về kế hoạch của Quân khu 5 chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân thôi. Cụ thể thế nào đã có sử sách ghi chép cả và cũng có nhiều phương tiện thông tin đăng tải rồi.

PV: Vậy diễn biến và kết quả của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở các khu vực trên chiến trường Khu 5 như thế nào, thưa đồng chí?

Trung tướng Nguyễn Trung Thu: Diễn biến dài lắm, tôi chỉ tóm tắt những thời điểm và các sự kiện chính cùng kết quả của nó thôi. Về diễn biến, tôi phải nói trước thế này, do thông tin liên lạc chậm nên việc phổ biến lại giờ đồng loạt nổ súng theo lệnh của trên không kịp, một số đơn vị vẫn nổ súng theo giờ quy định cũ, do vậy cuộc Tổng tiến công và nội dậy Tết Mậu Thân 1968 tại Quân khu 5 diễn ra không đồng loạt như ý định ban đầu. Vào lúc 23 giờ ngày 29-1-1968, lực lượng vũ trang tỉnh Khánh Hòa đã nổ súng đánh vào sân bay Nha Trang, mở đầu cho các đơn vị của Quân khu 5. Sau đó các lực lượng nhanh chóng đánh Đài phát thanh, tiểu khu, tỉnh đường, sở chỉ huy tiếp vận 5… Tiếp đó, rạng sáng ngày 30-1, quân và dân ta ở đồng bằng ven biển và Tây Nguyên đồng loạt tiến công và nổi dậy diệt địch, giành chính quyền. Rạng sáng ngày 31-1-1968, vào lúc 1 giờ 30 phút ta tiến công thị xã Tam Kỳ; 2 giờ 30 phút ta đánh thị xã Quảng Ngãi. Đòn tiến công táo bạo, bất ngờ và với quy mô rộng đã giáng cho địch những đòn chí mạng. Nhưng khi phát hiện ra ý đồ của ta thì địch dùng mọi cách, huy động mọi lực lượng, sử dụng hỏa lực cường độ mạnh và tàn khốc nhất để ngăn chặn. Đã có nhiều trận chiến đấu ác liệt giữa ta và địch diễn ra ở nhiều địa phương. Quân ta dựa vào các loại vật cản sẵn ở phố phường và các làng mạc để chiến đấu chống lại bom đạn Mỹ, ngụy và đẩy lùi nhiều cuộc phản kích của đối phương. Ta và địch giành nhau từng con phố, từng góc làng, từng vị trí. Ta đã gây cho địch nhiều tổn thấn, song cũng bị thiệt hại đáng kể. Từ tháng 3-1968, sức chiến đấu của quân và dân ta giảm dần, trước tình hình đó thì Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chủ trương chỉ để lại một lực lượng nhỏ đặc công và biệt động trong thành thị để tiếp tục đánh địch, đại bộ phận lực lượng còn lại lui ra vùng nông thôn đồng bằng để giữ vững thế trận.

Về kết quả, tính đến hết tháng 3-1968, trên chiến trường Quân khu 5 ta đã tiêu diệt trên 30.000 quân địch, phá hủy hơn 600 máy bay, hàng trăm đại bác và xe cơ giới; làm nổ tung 49 kho đạn, cắt đứt và làm tê liệt hầu hết các đường giao thông chiến lược. Ta đã phát triển được thế tiến công chiến lược áp đảo kẻ thù trên toàn Khu 5, làm sụp đổ phần lớn bộ máy kìm kẹp của địch ở nông thôn, đưa chiến tranh đến tận dinh lũy cuối cùng của địch.

PV: Sau sự kiện Tết Mậu Thân, một số nhà quân sự Mỹ mà điển hình là Đại tá Ha-ry G. Săm-mơ Jr (Harry G.Summers Jr), thuộc Viện nghiên cứu chiến lược, Trường chiến tranh quân đội Mỹ viết: Mỹ đã “thắng về chiến thuật, thua về chiến lược”, đồng chí có đồng tình với luận điểm này không?

Trung tướng Nguyễn Trung Thu: Đó là quan điểm riêng của họ và là cách nhìn của họ về cuộc chiến. Muốn xem xét thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 thì phải đặt nó trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước 21 năm của dân tộc ta thì mới thấy ý nghĩa, tầm vóc và giá trị lịch sử to lớn. Trong quan điểm của Ha-ry G. Săm-mơ Jr, tôi đồng ý với vế sau, Mỹ đã hoàn toàn tất bại về chiến lược. Bởi không thế thì làm sao sau Tết Mậu Thân 1968, chính quyền Giôn-xơn phải xuống thang chiến tranh, chịu ngồi đàm phán với ta ở Paris, đặc biệt là việc thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mắc-ra-na-ma, thay Tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam Oét-mo-len, đồng thời không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ hai. Còn nếu nói thắng về chiến thuật thì tôi không nhất trí đâu. Đồng chí biết đấy, bất kể một cuộc chiến nào cũng phục vụ mục đích chính trị. Muốn thắng về chính trị thì phải thắng về quân sự trước. Trong quân sự có một nguyên tắc là: chỉ khi nào thắng về chiến thuật mới thắng được về chiến dịch và đi tới thắng về chiến lược. Thực tế đã chứng minh, nếu ta không thắng được ở Điện Biên Phủ thì quân Pháp đâu dễ gì chịu thua. Hay từ khi Mỹ sử dụng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” đến trước khi xảy ra Tổng tiến công Mậu Thân 1968, lực lượng vũ trang của ta từng đánh thắng quân Mỹ, như các trận: Tháng 3-1965, một đại đội bộ đội địa phương Quân giải phóng đã tập kích đánh tan một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ ở Núi Thành (Quảng Nam). Tháng 8-1965, một trung đoàn chủ lực của Quân giải phóng đã tiến công và giành thắng lợi trước lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ với quân số lớn hơn tại Vạn Tường. Tháng 11-1965, ta chủ động mở chiến dịch Plây Me trên miền rừng núi Tây Nguyên, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn kỵ binh không vận số 1 của Mỹ. Còn trong lịch sử chiến tranh thế giới thì nhiều lắm, dẫn chứng không xuể đâu.

Nói về chiến thuật, trong tác chiến có thể có trận thắng, có thể có trận chưa đạt được mục đích, thậm chí phải lùi… Như vậy, tiến lùi để tạo thế, để tận dụng thời cơ, để phục vụ mục đích tác chiến lâu dài, phù hợp với cách đánh và nghệ thuật chiến tranh truyền thống của dân tộc là chuyện hết sức bình thường. Còn trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nói ta thua về mặt chiến thuật là chẳng đúng chút nào. Tất cả các thành phố, đô thị, những nơi chính quyền và các vị trí trú quân của Mỹ, ngụy ở miền Nam Việt Nam đều bị đánh, có nơi bị đánh thiệt hại rất nặng, việc đó làm cho tinh thần binh lính địch suy sụp, rệu rã. Vậy thử hỏi, nếu không có những trận chiến đấu ấy thì làm sao có được kết quả thay đổi sau này. Như vậy, thì việc cho rằng ta thua về chiến thuật trong Tết Mậu Thân 1968 là phi lý và mang tính chất bảo thủ, không dám thừa nhận thất bại mà thôi.

PV: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí

MẠNH THẰNG – DUY ĐÔNG (thực hiện)
qdnd.vn

Bác là Mùa xuân hay Mùa xuân là Bác?

Bác là Mùa xuân hay Mùa xuân là Bác?

Bác Hồ thăm Nhà máy Diêm Thống Nhất (8/1956)

Tính đến mùa xuân này là tròn 44 mùa xuân Bác Hồ mãi mãi ra đi. Và cũng có nghĩa là 44 giao thừa không còn có được sự hồi hộp chờ đợi giây phút thiêng liêng: Bác Hồ đọc thơ chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ở nước ngoài trên Đài tiếng nói Việt Nam.

CôngThương – Nhớ ngày Bác còn sống, cứ đúng thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới, tất cả đất trời đang rộn rã tiếng pháo bỗng dưng im bặt. Trong mỗi căn nhà, mọi người như nín thở chờ đợi từ chiếc đài đường dây sau một hồi rẹt rẹt chợt lặng đi rồi bỗng cất lên tiếng cô phát thanh viên: Nhân dịp năm mới, mời đồng bào, chiến sĩ trong cả nước và kiều bào ở nước ngoài lắng nghe thơ chúc Tết của Hồ Chủ tịch. Sau đó là lời đầm ấm của Bác vang lên: Đồng bào, chiến sĩ và kiều bào ở nước ngoài thân mến! Các cháu thanh thiếu niên yêu quý…

Trong suốt cuộc đời mình, Bác đã làm tất cả 22 bài thơ chúc Tết. Có năm Bác đọc thơ sau lời chúc Tết nhưng cũng có năm Bác chúc Tết bằng thơ. Bài thơ đầu tiên là Thơ chúc Tết Xuân Nhâm Ngọ (1942), Bác đã viết: “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau/Chúc Việt Minh ta càng tấn tới/Chúc toàn quốc ta trong năm này/Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!”. Bài cuối cùng Bác viết là vào năm Kỷ Dậu (1969): “Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/Vì độc lập, vì tự do/Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/Tiến lên chiến sĩ đồng bào/Bắc- Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”.

Những bài thơ chúc Tết của Bác thường mộc mạc đã gửi gắm tình cảm của vị lãnh tụ kính yêu tới đồng bào cả nước cùng với những lời hiệu triệu và chiến lược hành động của đất nước.

Trong bài Thơ chúc Tết 1969, nếu hai câu đầu là tổng kết năm cũ: Năm qua thắng lợi vẻ vang – vạch ra mục tiêu cho năm mới: Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to, câu thứ ba: Vì độc lập, vì tự do, và câu thứ năm: Tiến lên chiến sĩ đồng bào – là lời hiệu triệu thì câu thứ tư không những là phương châm hành động mà còn là lời khẳng định: Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

Sau này, lịch sử thống nhất đất nước đã diễn ra đúng như lời thơ của Bác. Đế quốc Mỹ rút quân về nước một thời gian đến lượt chế độ Việt Nam cộng hòa sụp đổ hoàn toàn. Và Mùa xuân 1975 là mùa xuân cả nước vỡ òa trong niềm vui thống nhất: “Bắc- Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”.

Thêm một mùa xuân mới đã về và cũng là thêm một mùa xuân vắng Bác nhưng lý tưởng của Bác, tình cảm của Bác vẫn còn mãi với non sông, đất nước. Bác không chỉ “nằm trong lăng giấc ngủ bình yên” mà Bác đã, đang và mãi mãi đồng hành cùng dân tộc. Mỗi người dân không chỉ thấy hình bóng Bác trong cuộc vận động Học tập tấm gương đạo đức của Người mà còn như thấy Người đang cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4.

Mỗi mùa xuân đến, có lẽ trong tâm tưởng của rất nhiều người Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài đều nhớ về Bác, và tôi tin nhiều người cũng như tôi đều bâng khuâng tự hỏi: Bác là Mùa xuân hay Mùa xuân là Bác?

Nguyễn Thiệu Hưng
laodong.com.vn

Từ tư tưởng, đạo đức của Bác Hồ – nghĩ về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânĐể học và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì trước hết mỗi chúng ta cần hiểu được cái gốc, cái cốt lõi trong đạo đức của Bác. Như vậy việc học Bác mới thiết thực, mới sâu, mới bền. Cũng nhờ vậy, việc thực hiện Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo tấm gương tư tưởng, đạo đức của Bác của mỗi cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp mới trở nên tự giác, nhuần nhị, tự nhiên như một điều thiết yếu cần phải có trong cuộc sống của mỗi chúng ta; là yêu cầu tự thân để hoàn thiện mình, tự làm cho mình trở lên tốt đẹp, hoàn thiện hơn, công tác hiệu quả hơn, từ đó xác định cho bản thân ý thức tự giác thực hiện, tự phấn đấu, vươn lên.

Bác Hồ của chúng ta là một nhà tư tưởng thiên tài, nhưng trước hết và trên hết Người là hiện thân của khát vọng giải phóng con người cần lao, của đạo đức sống, đấu tranh để đem lại hạnh phúc cho con người, vì con người.

Đạo đức của Bác xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân, từ khát vọng cứu nước, giải phóng dân tộc. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, Bác đi từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa cộng sản. Trong đạo đức của Người, Bác đi từ đạo đức của người yêu nước đến đạo đức của người cộng sản.  Phẩm chất đạo đức trong con người của Bác là phẩm hạnh, tác phong, quy phạm cao đẹp, là phương hướng, phương thức đúng đắn nhất để Người thực hiện tư tưởng vì dân, vì nước, vì hạnh phúc của con người. Đạo đức của Bác là sự kết tụ, tỏa sáng cao nhất, tinh túy nhất tư tưởng của Bác. Ở Người, phẩm chất tư tưởng và phẩm chất đạo đức hòa quyện, thống nhất làm một và luôn được thể hiện mãnh liệt và nhất  quán – đó là phẩm chất người cộng sản.

Phẩm chất người cộng sản Hồ Chí Minh dựa trên nền tảng văn hoá dân tộc Việt: Đó là văn hoá vì nghĩa vì tình, văn hoá yêu nước thương nòi; đó là sự hiếu hoà, khoan dung, tâm công theo tinh thần nhân văn truyền thống ngàn năm của dân tộc. Cuộc đời của người cách mạng Hồ Chí Minh là cuộc đời của một nhân cách luận cách mạng mẫu mực, trong đường lối chính trị lấy đoàn kết làm nền tảng sách lược, cho nên, để quy tụ, dẫn dắt quần chúng không thuần túy bằng con đường kinh tế, con đường bạo lực dựa trên kỷ luật mà còn theo chính con đường nhân cách luận cách mạng – con đường nêu gương.

Vậy nên, cái gốc đạo đức, cốt lõi đạo đức của Bác là tấm lòng yêu nước, thương dân nồng nàn, sâu sắc, là tư tưởng suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, luôn luôn quên mình, hy sinh bản thân mình, không hề vướng bận mưu cầu danh lợi cá nhân. Khi ở vào đỉnh cao quyền lực, Người nói:“Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận vậy.

Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi sẽ làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” 

Bác dạy :

Gốc có vững, cây mới bền
Xây lầu Cách mạng trên nền nhân dân.

Trong tư tưởng của Bác, nhân dân là lực lượng đồng thời cũng là gốc của sự nghiệp Cách mạng, quyết định đến sự thành bại của Cách mạng. Do đó, mọi chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và mọi thái độ, việc làm của cán bộ, đảng viên khi tham gia thực hiện các công việc của Đảng và Nhà nước đều phải xuất phát từ nhân dân và vì nhân dân. Bác luôn yêu cầu cán bộ đảng viên phải đặc biệt ý thức được mình là “người đầy tớ”, là công bộc của dân để làm tốt vai trò là người phục vụ nhân dân, bởi vì chỉ có làm tốt vai trò người đầy tớ, công bộc của dân thì mới có thể lãnh đạo được nhân dân – Đây chính là điểm then chốt, là hạt nhân để tạo nên phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Là những người đứng trong bộ máy của Đảng, của Nhà nước, càng trải nghiệm thực tế, càng nghĩ ta càng thấm thía lời dạy của Bác rằng: “Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”.

Nói đến tính Liêm, Chính của người cán bộ cách mạng, Bác nêu một định nghĩa như là một điểm tựa cho phẩm giá của mỗi chúng ta: “ Liêm nghĩa là trong sạch, là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công, của dân, không tham địa vị, không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Vì vậy mà quang minh chính đại” Như vậy theo Bác, cần có “liêm” là để có “chính”.

Là người đề ra và xây dựng nên những giá trị chuẩn mực đạo đức cao đẹp cho cán bộ, đảng viên hướng tới, rèn luyện, phấn đấu, đồng thời Bác Hồ với tư cách là một lãnh tụ tối cao của dân tộc luôn là người nêu gương thực hành, là tấm gương vô cùng trong sáng, mẫu mực về đạo đức suốt đời. Giá trị thực tiễn cao đẹp của tư tưởng của Bác là ở chỗ gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, nói đi đôi với làm. Bác dạy : “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, “ Một tấm gương sống còn hơn vạn bài diễn thuyết” – Có như vậy cán bộ, đảng viên mới được nhân dân tin yêu, quý trọng.

Là con người vô cùng lỗi lạc, vĩ đại về tư tưởng, trí tuệ, nhân cách, sự nghiệp, đồng thời Bác cũng là con người hết sức bình dân, giản dị, hòa mình với muôn triệu người dân, luôn quên bản thân mình để yêu thương, quan tâm đến từng thân phận con người, từng gốc cây, ngọn lúa, bờ tre. Và càng bình dân, giản dị, quên mình, nên Bác càng trở nên vĩ đại và càng được mọi người kính yêu, ngưỡng mộ.

Trí tuệ thiên tài và tấm lòng bao la vì dân vì nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn có sức lay động tình cảm, con tim của bất kể những ai có dịp được gặp Bác, được ở gần bên Bác. Nhà thơ Tố Hữu đã nói giúp mỗi chúng ta sự cảm nhận kỳ diệu rằng: Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta/Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”. Từ đạo làm người, Bác truyền cho chúng ta nguồn cảm hứng, tinh thần, khí thế để vươn tới những giá trị cao quý, vẻ vang của đạo làm cán bộ, bất kể những rào cản khó khăn, thử thách, chông gai trong cuộc sống. Có thể nói, học tư tưởng, đạo đức của Bác là học nhân cách luận, là học về cách làm người. Đó là: Phẩm chất hy sinh, quên mình vì nhân dân, vì tập thể, vì cái chung; là tính nhân văn, nhân ái, tình đồng chí yêu thương lẫn nhau trên cơ sở tình thương và lẽ phải; là sự đi đầu thực hiện để nêu gương cho mọi người.

 Trải qua các giai đoạn cách mạng của Đảng, của đất nước, dù chức năng, nhiệm vụ có sự thay đổi, nhưng với đặc trưng công tác của Bộ, của Ngành Tư pháp, có thể nói mỗi một cán bộ, công chức, viên chức của Ngành ở những vị trí công tác khác nhau, ở những góc độ, mức độ biểu hiện khác nhau đều là những nhà chính trị, nhà cách mạng có vai trò tham gia cải tạo xã hội, xây dựng những giá trị tiến bộ của xã hội. Vậy nên, trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc tháng 2/1948, Bác xác định với cán bộ của Ngành rằng: “Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc”

Tư tưởng tất cả vì nhân dân, vì con người, ở bình diện hẹp hơn, gần gũi hơn, đó chính là cơ sở có tính nền tảng thiết yếu để tạo nên và bảo đảm cho vị thế, uy tín, danh dự, hạnh phúc, hiện tại và tiền đồ của Bộ, Ngành Tư pháp, cụ thể hơn là của những cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp.

Tư tưởng tất cả vì nhân dân, vì con người càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi Đảng, Nhà nước ta đang sửa đổi Hiến pháp 1992, mà trong đó Bộ Tư pháp, Ngành Tư pháp đang đóng một vai trò nòng cốt.

 Với những ý nghĩa nêu trên, việc xây dựng và ban hành “Chuẩn mực đạo của cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp” là một sự kiện đặc biệt trong lịch sử xây dựng và phát triển của Ngành, đánh dấu một bước chuyển lớn của Ngành trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là lần đầu tiên Ngành ta có một bản Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung, toàn diện, thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức của toàn Ngành, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi Đảng ta đang quyết tâm thực hiện đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ để tăng cường phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân; chức năng, nhiệm vụ của Bộ, Ngành Tư pháp đang không ngừng được mở rộng, tăng cường, đảm đương nhiều nhiệm vụ quan trọng, nặng nề trong công tác quản lý nhà nước. Vượt lên khỏi một văn bản hành chính, bản Chuẩn mực với sự thể hiện cô đọng, nổi bật, khái quát cao những lời dạy của Bác đối với Ngành – như là món quà tinh thần thiêng liêng mang tâm nguyện, tinh thần của toàn Ngành dâng lên Bác, báo cáo với Bác và hứa đinh ninh với Bác. Qua đó chúng ta như thấy Bác vẫn như dõi theo từng bước đi lên của Ngành, nhắc nhở mỗi cán bộ công chúc, viên chức của Ngành tự soi mình hàng ngày để xứng đáng với mong mỏi của Người.

5 chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của Ngành đều có một trục, một điểm hướng tâm, một tọa độ quy chiếu, đó là ý thức, là phẩm chất vì nước, vì dân của cán bộ, công chức, viên chức của Ngành. Lòng yêu nước, yêu nhân dân được thể hiện tiêu biểu, nhất quán bằng những việc làm cụ thể gắn bó mật thiết với công việc của Ngành. Chúng ta tuân thủ nguyên tắc, phương pháp thực hiện công tác tư pháp “Trách nhiệm, tận tụy, sáng tạo, kỷ cương, phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” hay thực hiện phẩm chất đạo đức đối với đồng nghiệp “Đoàn kết, thân ái,hợp tác, cùng tiến bộ”; thực hiện yêu cầu nêu gương đối với bản thân là “ Cần, kiệm, liêm, chính, thượng tôn pháp luật” thì trước hết và trên hết cũng là vì đất nước, vì nhân dân, cho nhân dân.

Hơn ai hết, mỗi cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp, đặc biệt là những đảng viên – những người đang đứng trong đội ngũ hành động vì công  lý, công bằng, dân chủ của con người, của  tiến bộ xã hội ý thức sâu sắc rằng, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác là niềm vinh dự, vẻ vang, là nguồn sức mạnh tinh thần vô địch giúp chúng ta luôn đứng vững trước mọi thử thách, gian nan để vươn tới trước.

Học nhân cách luận, học về cách làm người nhân văn, nhân ái trong tư tưởng, đạo đức của Bác, chúng ta ý thức sâu sắc rằng: Một trong những giải pháp quan trọng để có thể thực hiện tốt Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của Ngành là đồng thời với việc đề cao tính nêu gương, đi đầu thực hiện  của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và sự cố gắng tự thân của mỗi người, rất cần sự quan tâm, hỗ trợ, nâng đỡ của tập thể để mỗi người tự vươn lên; tập thể phải là chỗ dựa, điểm tựa cho mỗi thành viên của mình; phải có tình đồng chí, đồng nghiệp yêu thương, đoàn kết.

 Phát biểu về định hướng, yêu cầu quán triệt và triển khai thực hiện “Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức viên chức Ngành Tư pháp” tại Hội nghị của Ngành vào ngày 08/12/2012, Thứ trưởng Lê Hồng Sơn nhấn mạnh: “Việc đưa Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của Ngành đi vào cuộc sống là thể hiện của sự tiếp nối, phát huy truyền thống quý báu của Ngành, là biểu hiện sinh động, sâu sắc nhất của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một trong những yếu tố có tính quyết định quan trọng đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của Ngành Tư pháp trong thời gian tới”.  Điều đó cũng là để góp phần thực hiện lời hứa thiêng liêng của toàn Ngành đã được khắc ghi trang trọng trên bia tưởng niệm tại Di tích lịch sử trụ sở cơ quan Bộ Tư pháp tại Tuyên Quang: “Cán bộ Tư pháp Việt Nam tri ân, ghi sâu công lao của các thế hệ đi trước, phát huy truyền thống của Ngành, trung thành, sáng tạo, tận tụy, đoàn kết phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

Hoàng Hà – Văn phòng Bộ
moj.gov.vn

Phong cách Hồ Chí Minh

Ngày 14/5/2011, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó Bộ Chính trị chỉ đạo các cấp ủy Đảng phải tập trung lãnh đạo việc làm theo phong cách Hồ Chí Minh.

Vậy phong cách Hồ Chí Minh là gì? Trong phạm vi bài viết này tôi xin giới thiệu đến các đồng chí, các bạn những nội dung cơ bản của phong cách Hồ Chí Minh, với mong muốn trang bị thêm cho các đồng chí, các bạn những thông tin cụ thể về phong cách của Bác. Từ đó, đẩy mạnh việc làm theo phong cách của Bác, góp phần thực hiện tốt Chỉ thị trên.

Phong cách Hồ Chí Minh là phong cách của một con người với cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp, cái trí minh mẫn, cái hành mực thước, phong cách của một lãnh tụ, một chiến sĩ công sản chân chính. Phong cách Hồ Chí Minh không chỉ để cho mọi người ca ngợi, chiêm ngưỡng, mà là tấm gương để mọi người học tập, làm theo. Không phải chỉ để người Việt nam, từ lao động chân tay đến trí óc, từ già đến trẻ, từ miền xuôi đến miền ngược, từ người tu hành đến các chính khách, thương gia đều tìm thấy ở Hồ Chí Minh phong cách của chính mình, mà cả người nước ngoài ở phương Đông hay phương Tây cảm thấy gần gũi, không xa lạ với phong cách Hồ Chí minh.

Phong cách Hồ Chí Minh là một hệ thống, một chỉnh thể, gắn bó chặt chẽ với nhau, phát triển theo lôgic đi từ suy nghĩ (phong cách tư duy) đến nói, viết (phong cách diễn đạt) và biểu hiện qua phong cách làm việc, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt hàng ngày.

1. Trước hết nói về phong cách tư duy: với Bác đó là tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đó là tư duy không lệ thuộc, không phụ thuộc, không bắt chước, theo đuôi, giáo điều. Tự chủ là chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ của mình, tự chịu trách nhiệm trước dân, trước nước, biết làm chủ bản thân và công việc. Sáng tạo là vận dụng đúng quy luật chung cho phù hợp với cái riêng, cái đặc thù. Đồng thời sáng tạo cũng là tìm tòi, đề xuất những cái mới để có thể trả lời được những đòi hòi của cuộc sống đặt ra. Cái mới, cái sáng tạo của Bác là phù hợp với quy luật khách quan của cách mạng Việt Nam, đồng thời phù hợp với quy luật phát triển chung của xã hội loài người. Cái mới có thể bao hàm cả cái cũ và vượt lên trên và bổ sung giá trị mới. Cái mới cũng là cái chưa từng có trong tiền lệ lịch sử.

Phong cách tư duy của Bác hình thành trên cơ sở thực tiễn của Việt Nam, do nắm vững thực tế tình hình đất nước, Bác đã phát hiện ra những quy luật vận động của đất nước, dân tộc để hoạch định đường lối, chủ trương đúng và tổ chức thực hiện thành công đường lối, chủ trương đó. Tư duy của Bác cũng trên cơ sở nghiên cứu những học thuyết như: Nho học, Phật giáo học, Lão giáo, Thiên chúa giáo, Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn (Trung quốc), Thuyết bất bạo động của Găngdi (Ấn Độ) và Học thuyết Mác-Lênin. Tư duy của người luôn hướng tới cái mới, cái tiến bộ và mở rộng tầm nhìn ra thế giới để tư duy.
2. Thứ hai, về phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh: đó là sự kết hợp hài hòa cái dân gian với cái bác học, cái cổ điển truyền thống với cái hiện đại, giữ phong cách phương Đông và phong cách phương tây và thực hiện nguyên tắc nhất quán trong diễn đạt. Bác luôn xác định rõ chủ đề, đối tượng và mục đích cần diễn đạt, Bác cũng đặt ra cho mình và yêu cầu mọi người thực hiện 4 vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau khi diễn đạt đó là: Nói, viết cái gì? Nói, viết cho ai? Nói, viết để làm gì? Nói, viết như thế nào?

Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh là diễn đạt chân thật để cung cấp cho người nghe lượng thông tin ngắn gọn, chính xác. Yêu cầu đầu tiên mà Bác đặt ra đối với cán bộ, đảng viên khi nói và viết; Người yêu cầu “điều gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, không nên nói ẩu”, viết “phải đúng sự thật, không được bịa ra”, “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ chớ nói, chớ viết”, “khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói chớ viết càn”.

Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh còn là diễn đạt ngắn gọn, theo Hồ Chí Minh ngắn gọn là gọn gàng, có đầu có đuôi, “có nội dung”, “thiết thực”, “thấm thía, chắc chắn”.

Một đặc điểm nổi bật trong phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh là giản dị, trong sáng, dễ hiểu. Người cho rằng “cách nói của dân chúng rất đầy, rất hoạt bát, rất thiiết thực, mà lại rất giản đơn”; do đó trước hết phải học cách nói của quần chúng, mới lọt tai quần chúng.

3. Thứ ba, phong cách làm việc Hồ Chí Minh: phải kể đến phong cách quần chúng, đây là nội dung quan trọng hàng đầu của phong cách làm việc Hồ Chí Minh đó là sâu sát quần chúng, chú ý tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng quan tâm đến mọi mặt đời sống của quần chúng; tin dân, tôn trọng dân lắng nghe và giải quyết những kiến nghị chính đáng của dân, tiếp thu ý kiến, sửa chữa khuyết điểm; giáo dục, lãnh đạo quần chúng, đồng thời không ngừng học hỏi quần chúng, tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng v.v…

Phong cách làm việc tập thể và dân chủ, người luôn gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể là phương châm chỉ đạo suy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh. Bác luôn trân trọng ý kiến của mọi người, không phân biệt chức vụ, cấp bậc, đẳng cấp, với những bài viết trước khi công bố Bác đã chuyển cho các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đọc và góp ý; thậm chí Người còn trao đổi với các đồng chí phục vụ những bài báo ngắn để sửa chữa những chỗ viết còn khó hiểu trước khi đăng.

Phong cách làm việc Hồ Chí Minh còn là phong cách làm việc khoa học, “đi sâu, đi sát, điều tra, nghiên cứu” nắm việc, nắm người, nắm tình hình cụ thể. Làm việc phải có mục đích rõ ràng, tập trung; chương trình, kế hoạch đặt ra phải phù hợp. Hồ Chí Minh giải thích “đích nghĩa là nhắm vào đó mà bắn. Nhiều đích quá thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào”. Phải kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới và quần chúng. Lãnh đạo phải cụ thể, kịp thời, thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm, nắm điển hình, cần phải lãnh đạo toàn diện và cụ thể. Người lãnh đạo phải óc nghĩ, mắt thấy, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm; phải cẩn thận mà nhanh nhẹn, kịp thời, làm đến nơi đến chốn. Phải thường xuyên rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn, cả kinh nghiệm thất bại và kinh nghiệm thành công.

4. Thứ tư, là phong cách ứng xử Hồ Chí Minh: đặc trưng cơ bản của phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là phong cách ứng xử văn hóa đó được thể hiện ở ngôn từ, cử chỉ thích hợp và đúng đối tượng giao tiếp. Phong cách ứng xử của Người chứa đựng những giá trị nhân bản của con người. Yêu thương, quý mến, trân trọng con người, hướng con người đến chân, thiện, mỹ. Khi cần nhắc nhở, Người không quên chỉ vẽ tận tình. Khi cần phê bình, Người rất nghiêm khắc, nhưng rất độ lượng, bao dung, không bao giờ bao che, nhằm nâng con người lên chứ không hạ thấp, vùi dập.

Cử chỉ của Người ân cần, niềm nở làm cho mọi người ngỡ ngàng trước sự hòa đồng giữa lãnh tụ và thường dân, giữa chủ với khách. Đó là thái độ bình dị, khiêm nhường không tự đặt mình cao hơn người khác.

Với nhân dân, anh em, bạn bè, đồng chí, đồng bào, phong cách ứng xử của Bác là tự nhiên, cởi mở, chân tình, vừa ân cần vừa bình dị, khiêm nhường. Với kẻ thù của cách mạng hay những người phía bên kia, phong cách ứng xử của Hồ Chí Minh là tự chủ và lịch lãm, bình tĩnh và đỉnh đạc, chủ động và tỉnh táo để vượt qua mọi cạm bẫy, đẩy lùi mọi đòn tấn công hiểm độc và mọi thủ đoạn xảo trá của đối phương.

5. Thứ năm là phong cách sinh hoạt: đó là sự giản dị, trong sạch thanh cao, cách sống chừng mực, điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian. Dù sống trong hòan cảnh nào, phong cách sinh hoạt Hồ Chí Minh vẫn giữ đúng nguyên tắc: lấy khiêm tốn, giản dị làm nền, lấy chừng mực, điều độ làm chuẩn, lấy trong sạch, thanh cao làm vui, lấy gắn bó với con người, với thiên nhiên làm niềm say mê vô tận.

Với phong cách Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải hết sức nỗ lực mới có thể làm theo. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi chúng ta không chỉ quan tâm nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn phải chú ý nhiều hơn đến làm theo phong cách Hồ Chí Minh.

Lê Văn Thu
ubmttq.gialai.gov.vn

Tấm gương Bác Hồ về cần kiệm liêm chính chí công vô tư

Rèn luyện và tu dưỡng đạo đức là vấn đề quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa, thì không thành trời,
Thiếu một phương, thì không thành đất.
Thiếu một đức, thì không thành người” 1

Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người trình bày sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó có vấn đề thứ tư cần phải giải quyết lúc bấy giờ là “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. Để làm được những điều đó, Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH” 2

Để giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều tác phẩm viết về vấn đề này, Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, chương đầu tiên của cuốn sách là Tư cách một người cách mệnh và tiêu chuẩn đầu tiên trong tư cách một người cách mệnh chính là: cần kiệm. Sau này là các tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), “ Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu” (1952). “Đạo đức cách mạng” (12-1958) và các bài báo như “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn”, “Cần kiệm liêm chính”, “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách chủ  nghĩa cá nhân”… Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Người nhắc “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…” và “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”.

Về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói một cách ngắn gọn, giản dị, cụ thể, dễ hiểu và dễ làm  theo.

CẦN tức là “Siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai” và nếu đã cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được.

Người chỉ ra cách thực hiện CẦN sao cho có kết quả. Đó là làm việc phải có kế hoạch, dù công việc gì, to hay nhỏ, lớn hay bé, đều phải sắp xếp khoa học và tính toán cẩn thận. Phân công công việc theo năng lực của từng người, như vậy sẽ không bị mất thời gian và hiệu quả công việc cao.

Cần phải đi đối với chuyên. Nếu không chuyên thì cũng vô ích. Cần không phải là xổi. Phải biết nuôi dưỡng sức khoẻ, tinh thần và lực lượng để làm việc lâu dài. Một người lười biếng sẽ làm chậm và ảnh hưởng đến công việc của rất nhiều người khác. Cần là nâng cao năng suất lao động.

KIỆM là “tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Cần với kiệm đi đối với nhau như hai chân của một người. Cần mà không kiệm “thì làm chừng nào xào chừng ấy”, cũng như một cái thùng không đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không. Kiệm mà không cần, thì không tăng thêm, không phát triển được.

Bác cho rằng cần phải tiết kiệm cả của cải, thời gian và sức lực, bởi của cải nếu hết còn có thể làm ra được, còn thời gian đã qua đi, không bao giờ quay trở lại. Muốn tiết kiệm thời gian, bất kỳ việc gì, nghề cũng phải chăm chỉ, làm nhanh, không nên lần nữa. Không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ của người khác. Theo Bác “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn”.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm” 3

Để thực hành tiết kiệm phải kiên quyết với những việc làm xa xỉ, như kéo dài thời gian lao động không cần thiết, làm hao phí vật liệu trong sản xuất, luôn tìm cách ăn ngon, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn khó khăn, thiếu thốn, v.v… Phải biết cách tổ chức thì tiết kiệm mới có hiệu quả.

LIÊM là “trong sạch, không tham lam”; “không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ” 4

Liêm phải đi đối với kiệm, bởi có kiệm mới liêm được. Tham lam là một điều rất xấu hổ. Những hành động bất liêm đều phải dùng pháp luật để trừng trị, dù đó là người nào, giữ cương vị gì, làm nghề gì. “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”5. Và như cụ Mạnh Tử đã nói “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”6
Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. CHÍNH “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn”.

Một người phải cần, kiệm, liêm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. Chính đối với mình là không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, phát triển điều hay và sửa chữa khuyết điểm của mình. Đối với người, phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới. Phải để việc nước, việc công lên trên việc tư, việc nhà. Công việc dù to hay nhỏ đều phải cố gắng hoàn thành. Phải luôn luôn nhớ “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh” 7

Về CHÍ CÔNG VÔ TƯ, Bác nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc”, “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “Phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người giải thích “…Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp là ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư” 8 .

Vụ án Trần Dụ Châu những năm 50 là một bài học đắt giá cho những cán bộ, đảng viên không thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, không thực hành cần kiệm liêm chính, dẫn đến hành động tham ô, hủ hoá, suy thoái về đạo đức.

Lời nói phải đi đôi với việc làm, nói được, làm được sẽ mang lại thành công, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết thì không được. Nếu nói rắng phải cần kiệm liêm chính, mà bản thân mình lại cười lao động, lười học tập, không hoàn thành những công việc được giao, không tiết kiệm, sống hoang phí, xa hoa, luôn tìm cách tham ô, bòn rút tiền của Nhà nước và nhân dân, tâm không trong sáng… thì sẽ không hiệu quả và không có tính thuyết phục. Thực hành tốt cần kiệm liêm chính, chí công vô tư sẽ rèn luyện, làm cho con người có những phẩm chất tốt, như “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

Chính nhờ thực hành cần kiệm liêm chính mà trong những năm đầu mới giành được độc lập nhân dân ta đã thu được nhiều thắng lợi, chiến thắng giặc lụt, giặc đói và giặc ngoại xâm. Trong những năm hoà bình xây dựng đất nước, từng bước đời sống nhân dân đã được nâng cao cả về vật chất và tinh thần.

Trong đạo đức thì việc nêu gương là vô cùng cần thiết, vì “…Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” 9.

Bác rất quan tâm đến việc rèn luyện tư cách đạo đức, tác phong cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, từ lời nói đến việc làm. Bản thân Bác là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân, về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để chúng ta học tập và noi theo.

Sinh thời, Bác sống rất giản dị, từ lời nói đến việc làm, phong cách làm việc, từ cách ăn mặc cho đến những sinh hoạt hàng ngày, ngay cả khi Người đã là Chủ tịch nước. Tác phong giản dị ấy mang lại một sự gần gũi, một ấn tượng khó quên với những ai đã được gặp Bác dù chỉ một lần.  Bác ăn mặc rất giản dị và tiết kiệm. Quần áo Bác mặc chỉ có vài bộ, may cùng kiểu. Có cái áo của Bác rách, vá đi vá lại, thay cổ mà Bác vẫn không cho đổi. Có lần Bác nói với một đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng một cách chân tình: “Này chú! Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”10.  Đôi dép cao su của Bác, bộ quần áo ka-ki sờn Bác vẫn dùng hàng ngày, khi biết các đồng chí phục vụ định thay, Bác không đồng ý. Chiếc bút chì mòn vẹt Bác dùng để theo dõi tin tức trên báo. Những trang bản thảo được Bác viết ở mặt sau của những tờ tin tham khảo của Việt Nam Thông tấn xã. Chiếc ô tô Bác đi công tác hay đi thăm đồng bào và chiến sĩ trong cả nước cũng chỉ là loại xe bình thường. Bác không dùng chiếc điều hoà nhiệt độ do các đồng chí cán bộ ngoại giao đang công tác ở nước ngoài biếu, mà đề nghị chuyển chiếc điều hoà ấy cho các đồng chí thương bệnh binh đang điều trị tại trại điều dưỡng hoặc quân y viện, mặc dù lúc đó Bác đang ở trong ngôi nhà của người thợ điện (nhà 54) rất nóng. Những bữa ăn thanh đạm của Người “thường là dưa cà, đôi khi có thịt”. Những lần đi thăm các địa phương, Bác thường không báo trước và mang theo cơm nắm để tránh sự đón rước linh đình, gây phiền hà và tốn kém tiền của nhân dân.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên chiến khu Việt Bắc, Bác ở trong ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị thì đến khi cách mạng thành công, trở về Thủ đô, Bác cũng chỉ ở trong ngôi nhà nhỏ của người thợ điện, sau đó chuyển sang nhà sàn, chứ không ở ngôi nhà to, sang trọng của Toàn quyền Đông Dương. Bác dành ngôi nhà sang trọng đó làm nơi đón tiếp khách của Đảng và Nhà nước ta.

Sự tiết kiệm của Bác còn thể hiện trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ. Là Chủ tịch Chủ tịch nước, nhưng những năm tháng sống trên chiến khu Việt Bắc, đi theo Bác chỉ là tổ công tác ít người kiêm nhiều việc. Cách mạng Tháng Tám thành công, trở về Thủ đô, các đồng chí phục vụ Bác ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Những lần đi công tác xa, không cần nhiều cán bộ cùng đi, Bác cho những anh em còn lại về thăm gia đình. Bác dặn “Các chú tranh thủ về thăm nhà, nhưng nhớ đúng hẹn lên đón Bác”. Điều đó thể hiện sự quan tâm của Bác đối với con người và cũng là một hình thức tiết kiệm thời gian.

Những lời nói của Bác về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt là tấm gương của Bác về thực hành cần kiệm liêm chính vẫn mãi mãi để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta noi theo. Trong kháng chiến cũng như trong xây dựng đất nước đã có nhiều tấm gương tiêu biểu về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Họ là những người luôn luôn gương mẫu, đi đầu trong lao động sản xuất, chiến đấu và học tập. Tuy nhiên còn có một số không ít cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa làm đúng những lời dạy của Bác. Nạn tham ô, tham nhũng, hối lộ, lãng phí, xa xỉ, quan liêu, công thần, cửa quyền… ngày càng nhiều. Các vụ án PM18 ở Bộ Giao thông vận tải, vụ chạy cô-ta ở Bộ thương mại hay vụ án Mạc Kim Tôn ở Thái Bình, v.v… cho thấy đó là những cán bộ, đảng viên bị sa sút về tư tưởng, chính trị, đạo đức và tha hoá về lối sống. Họ đã làm giản sút lòng tin, uy tín của Đảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Thực hành tốt những lời dạy của Bác về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là chúng ta đã góp phần làm giàu cho đất nước, làm tăng lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền. Như vậy là chúng ta cũng đã góp phần thực hiện tốt cuộc vận động: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

————————————

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5; tr631
2. Sdd, t.4, tr.8-9
3. Sdd, t.5, tr.637
4. Sdd, t.5, tr.252
5. Sdd, t.5, tr.642
6. Sdd, t.5, tr.641
7. Sdd, t.5, tr.645
8. Sdd, t.5, tr.641
9. Sdd, t.1, tr.263
10. Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ, Nxb. Thông tấn H, 2003, tr.115

ubmttq.gialai.gov.vn

Tìm hiểu một số nội dung tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đầu năm 1969, nhân dịp toàn Đảng, toàn dân ta chuẩn bị kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng, lần kỷ niệm đầu tiên sau mấy năm chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc, nhận rõ tính cấp thiết của công tác tư tưởng chính trị ở thời điểm có ý nghĩa bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, xác định đây là nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Hồ Chí Minh khẳng định, đối lập với đạo đức cách mạng là chủ nghĩa cá nhân, do đó, nâng cao đạo đức cách mạng không thể tách rời với chống chủ nghĩa cá nhân, luôn luôn gắn xây với chống. Xây là để nâng cao đạo đức cách mạng, chống là hướng tới mục tiêu quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh chủ trương “Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” và nâng cao đạo đức cách mạng để tăng sức mạnh chống chủ nghĩa cá nhân. Những giải pháp chủ yếu đó là:

* Giải pháp từ phía Đảng:

Cán bộ, đảng viên là những người của tổ chức. Để nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên, Đảng phải:

Thứ nhất, tăng cường giáo dục trong toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh, để làm tròn sứ mệnh của mình, mỗi đảng viên phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, củng cố lập trường giai cấp vô sản, cố gắng nắm vững những quy luật của cách mạng Việt Nam, phải luôn luôn nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể của giai cấp vô sản, cần kiệm xây dựng nước nhà; một lòng, một dạ phấn đấu vì lợi ích tối cao của cách mạng và Tổ quốc.

Thứ hai, thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng.

Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nghiêm túc trong tự phê bình và phê bình. Tự phê bình và phê bình phải có tình đồng chí thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, thấu lý, đạt tình, phải ráo riết, triệt để, không nể nang, không thêm, không bớt, không dùng những lời mỉa mai, cay độc, châm chọc, phải vạch rõ cả ưu điểm lẫn khuyết điểm, phê bình căn cứ vào việc làm, không suy diễn, quy kết.

Thứ ba, chế độ sinh hoạt và kỷ luật đảng phải nghiêm minh. Người cho rằng: “Chi bộ tốt thì mọi việc đều tốt” [1]. Với người cộng sản, sự nghiêm minh, chặt chẽ không tách rời tinh thần tự nguyện, tự giác, muốn nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân “công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”.

* Giải pháp từ phía cán bộ, đảng viên:

Thứ nhất, “mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, số đông cán bộ, đảng viên là những người có chức, có quyền; gắn liền với chức, quyền là danh và lợi. “Đảng viên là người thay mặt Đảng, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, lợi ích của người đảng viên phải ở trong chứ không thể ở ngoài lợi ích của Đảng, của giai cấp, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Nếu khi lợi ích của Đảng và lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với nhau, thì lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích của Đảng” [2].

Thứ hai, “phải đi sâu, đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”.

Mối quan hệ Đảng – Dân luôn là một nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, “Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng” [3].

Chiều ngày 15-5-2012, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã bế mạc. Thông báo Hội Nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ “phải kiên trì và đẩy mạnh nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay;” tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và các nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường công tác tổ chức, cán bộ; tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế-xã hội để phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí; mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội; Hội đồng Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, nhân dân và công luận”.

Để thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng về công tác xây dựng Đảng, những giải pháp, từ phía các cơ quan đảng đến cán bộ, đảng viên được Hồ Chí Minh nêu ra trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” vẫn còn nguyên giá trị. Phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong hệ thống chính trị, trước hết là trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, công chức nhà nước phải bắt đầu từ phòng, chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr 532.
[2] Hồ Chí Minh: toàn tập, Sđd, tập 9, tr 289.
[3] Hồ Chí Minh: toàn tập, Sđd, tập 9, tr 290.

ubmttq.gialai.gov.vn

Tấm gương đạo đức của Bác Hồ: Lời nói đi đôi với việc làm

Lời nói đi đôi với việc làm, đây là một trong những đạo lý làm người, mà Bác Hồ là một tấm gương sáng cho mọi thế hệ người học tập và làm theo.

Bác Hồ nhắc nhở: “Nói cái gì phải cho tin – nói và làm cho nhất trí – làm thế nào cho dân tin”(1). Trong suốt cuộc đời mình, Người đã giáo dục mọi người và chính bản thân Người đã thực hiện điều đó một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất. ở Bác Hồ, lời nói đi đôi với hành động, lý luận đi đôi với thực tiễn, nói là để mà làm, làm phải đúng như điều đã nghĩ, đã nói. Hơn nữa, Người nói ít, nhưng làm nhiều, có những vấn đề đạo đức Người không nói mà chỉ làm. Phải đi sâu vào hành vi đạo đức của Người, chúng ta mới khám phá ra được những tầng bản chất sâu xa, cao đẹp của việc thống nhất giữa lời nói và việc làm là nguyên tắc đạo đức của Bác Hồ, bởi đó là sự thể hiện ở tấm gương đạo đức của bản thân Người và những lời Người răn về đạo đức.

Sức thuyết phục mạnh mẽ trong tấm gương đạo đức của Bác Hồ là ở chỗ, dù việc lớn hay nhỏ, đối với Người bao giờ cũng là lời nói đi đôi với việc làm. Bác nêu cho cán bộ đảng viên một luận điểm quan trọng: “Trước mặt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán chữ cộng sản mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”… “Tự mình phải chính trước, mới giúp người khác chính. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý”(2). “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”… Vậy là, Bác Hồ đã dạy chúng ta rằng nói và làm là tự bản thân mỗi người, bản thân người được nói để người khác nghe theo thì phải là con người lòng dạ trong sáng, phải chính tâm, phải thật sự là tấm gương.

Người đề xuất toàn dân tiết kiệm gạo để giúp đồng bào bị đói, thì Người thực hiện: “Lúc chúng ta nâng bát cơm ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước, cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(3). Những năm Bác sống và làm việc tại Khu Phủ Chủ tịch, khi kinh tế khó khăn, đời sống của nhân dân còn nghèo khó, mọi người ăn cơm độn ngô, khoai, sắn, Bác bảo cán bộ, nhân dân ăn độn bao nhiêu phần trăm, độn cho Bác từng ấy giống như cán bộ, nhân dân. Khi về thăm các địa phương, Bác mang cơm nắm với muối vừng để tiết kiệm gạo, tiền của nhân dân, Bác nói: “Người ta dọn ra một bữa cơm sang, có khi Bác chẳng ăn đâu, nhưng rồi để lại cái tiếng đấy: Bác Hồ đến thăm cũng làm một bữa cơm sang, cũng điều người này, người khác từ giao tế sang, chuẩn bị cả buổi. Thế là tự Bác bao che cho cái chuyện xôi thịt. Như thế nắm cơm theo ăn cho tiện, ăn no rồi đến làm việc”. Khi ăn cơm không bao giờ Bác để rơi một hạt cơm, Bác bảo một hạt cơm là một giọt mồ hôi của người nông dân. Đúng như đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói: ăn cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm. Bởi vì Cụ quý và tiết kiệm công sức của người làm ra lúa gạo. Chuyện nhỏ đức lớn hài hoà ở một con người.

Người khuyên cán bộ phải cần, kiệm, liêm, chính, phải thật sự là người đầy tớ của nhân dân, và chính Bác làm gương trước sống giản dị, thanh bạch, khiêm tốn để làm đúng điều Người dạy: “Cán bộ Đảng, chính quyền ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy tớ của nhân dân, phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm, chính”. Bởi thế, việc Người làm là khước từ ở ngôi nhà sang trọng thuộc thời Toàn quyền Đông Dương, mà chỉ ở ngôi nhà của người công nhân phục vụ Toàn quyền Pháp thời đó; đi dép lốp, mặc áo vá vai, dùng loại ô tô xoàng nhất, cũ nhất, chính là “cái phúc của dân, đừng bỏ cái phúc đó đi”. Mùa hè nóng bức, Bác dùng chiếc quạt lá cọ, Bác bảo: Bác làm như thế để dành điện phục vụ cho sản xuất, dành điện phục vụ sinh hoạt cho nhân dân…

Bác Hồ làm những việc như thế, để thực hiện điều Người nói: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân. Muốn làm được như vậy, chúng ta phải cố gắng thực hiện, cần, kiệm, liêm, chính” và “Ai chẳng muốn no cơm, ấm áo, nhưng cuộc sống vật chất hết đời người là hết. Còn tiếng tăm tốt xấu truyền đến ngàn đời sau”(4). Cán bộ, đảng viên nếu làm theo được những việc như trên sẽ thật sự quan liêm – mà quan liêm thì dân hạnh phúc và sẽ đẩy thuyền đi; và sẽ chẳng có những loại quan tham – mà quan tham nhiều thì dân khổ, nước nguy.

Người dạy mọi người chống chủ nghĩa cá nhân, thì Người đã nêu gương chống sùng bái cá nhân. Trong suốt thời kỳ đi tìm đường cứu nguy cho dân tộc, đến cả thời kỳ đứng đầu Nhà nước, và cho đến lúc ra đi “gặp Cụ Các Mác, Cụ Lênin”, cũng như những con người thật sự vĩ đại khác, Bác Hồ không bao giờ nghĩ mình là bậc vĩ nhân, không bao giờ đặt cái tôi cao hơn dân tộc và sự nghiệp của dân tộc, cho dù Bác là con người tiêu biểu nhất của dân tộc. Người chỉ ôm ấp một ước nguyện “làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Và cả cuộc đời Người đã phấn đấu cho ước nguyện đó, cho mục tiêu cao cả đó.

Bác Hồ dạy chúng ta: “Đem lòng chí công mà đối với người, với việc”, “Làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước”, “Không ham người tâng bốc mình”, thì Người nêu tấm gương sáng sống chân thành khiêm tốn, sống cho dân, vì dân, sống cho đời chứ không sống cho mình. Vào dịp kỷ niệm ngày sinh của mình, Người thường tìm cách vắng nhà để tránh việc mọi người đến chúc thọ, tặng quà. Bác làm việc này để thực hiện điều Người dặn các cơ quan, các địa phương là đến ngày sinh của Người không tổ chức kỷ niệm chúc thọ Người để tránh lãng phí thời giờ, tiền bạc. Khi đi vào cõi trường sinh, Người dặn không tổ chức điếu phúng linh đình để tiết kiệm tiền bạc của nhân dân…

Bác khuyên mọi người sống trong sạch, không tham lam, không tham tiền tài danh vọng, không cậy quyền thế mà ăn của đút, đục khoét, thì Bác đã làm những việc quang minh chính đại, để cán bộ, đảng viên nhất là những người có chức, có quyền bây giờ phải làm theo gương Bác, mà xem mình để khỏi phạm vào vòng tội lỗi. Đồng bào Thái Bình gửi biếu Bác 2 chai nước mắm, Bác san sẻ quà đó với người khác cùng hưởng: “Hôm chủ nhật đồng bào Thái Bình có cho tôi 2 chai nước mắm làm bằng tôm. “Vật khinh tình trọng”, từ chối không được, tôi phải nhận lấy cho bằng lòng anh em. Nay tôi xin gửi biếu Cụ 1 chai, và xin chúc Cụ mạnh khoẻ”(5); Lần Bác tới thăm xí nghiệp May X (nay là Công ty May X), xí nghiệp có gửi biếu Bác bộ quần áo ka ki, Bác nhận và sau đó Bác gửi thư và quà cảm ơn: “Bác cảm ơn các cô, các chú biếu Bác bộ quần áo, Bác đã nhận rồi, nay Bác xin gửi lại để làm phần thưởng thi đua”(6); Trong dịp Bác sang thăm Liên Xô, Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô gửi cho Bác 4000 rúp, đồng chí thư ký của Bác 1000 rúp. Trước khi rời Mạc Tư Khoa, Bác đã gửi lại Uỷ ban Trung ương Đảng Liên Xô 5000 rúp đó…

Nói đi đôi với làm mà Bác Hồ dạy chúng ta, và những việc Bác làm để làm “mực thước” cho mỗi chúng ta, đó chính là lẽ sống “Thật” và “Thật sự”. Vì “Thật” đối lập với giả, với dối. “Thật sự” đối lập với qua loa, nửa vời. Đó là thứ thuốc: “Thuốc hay đắng miệng chữa được bệnh; lời thẳng trái tai lợi cho việc làm” (Khổng Tử) – làm thứ vũ khí hữu hiệu để chống lại những kẻ gian giảo, xảo quyệt nói không đúng với làm, nói một đằng làm một nẻo, dùng lời nói để giấu diếm tội lỗi làm trắng đen lẫn lộn, chính tà bất nhất. Như Bác đã chỉ cho chúng ta rõ: “Có những kẻ miệng thì nói phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, nhưng bị vật chất dỗ dành mà phạm vào tham ô, lãng phí, hại đến Tổ quốc, nhân dân”.

Sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức từ nhiều năm nay ở một bộ phận người có chức có quyền đã biến chất nhưng vẫn giữ vai trò lãnh đạo, quản lý, đang làm băng hoại nền tảng đạo đức xã hội, băng hoại truyền thống nhân văn của dân tộc, đang là thách thức lớn nhất của công cuộc đổi mới đất nước, là nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ ta, đang làm mất thanh danh uy tín của Đảng, Nhà nước, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ. Đồng chí Tổng Bí thư của Đảng Nguyễn Phú Trọng đã nói tại Hội nghị Trung ương lần thứ tư khoá XI: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí hư hỏng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, kể cả cấp cao chưa được đẩy lùi mà thậm chí ngày càng có chiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn lòng tin đối với Đảng”. Đảng ta phát động phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ”. Hội nghị Trung ương lần thứ tư khoá XI đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đáp ứng đúng ý Đảng, lòng dân và thực chất đây đúng là phong trào của đạo lý làm người, thành người, trong đó có nguyên tắc “Nói đi đôi với làm” – một nguyên tắc mà Bác Hồ đặc biệt chú ý nêu gương để cán bô,å đảng viên noi theo, tu dưỡng. Bác đã nói: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương, gắng làm gương trong anh em và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được ta phải: quyết tâm, trí tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất cả các đồng chí phải thành công”(7).

Theo lời Bác dạy và việc Bác đã làm, lúc này cần lắm ở mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt những người lãnh đạo nhất là những lãnh đạo cấp cao hãy làm những việc gương mẫu dù là nhỏ còn gấp ngàn lần những lời nói suông./.

TS. Trần Viết Hoàn
Theo tuyengiao.vn

ubmttq.gialai.gov.vn

Chiếc thang tre Bác Hồ

TP – Đó chiếc thang tre Bác Hồ dùng ở Lán Khuổi Nặm (Pác Bó – Cao Bằng) từ năm 1941 (tức là đã được 71 năm). Chiếc thang đơn sơ nhưng thật vĩ đại.

Bác Hồ với thanh thiếu nhiBác Hồ với thanh thiếu nhi.

Đại bản doanh của Bác Hồ ở Pác Bó

Lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh về nước, lập căn cứ địa cách mạng tại Pác Bó từ năm 1941 đến năm 1945. Trong khoảng thời gian 5 năm ấy Người không chỉ ở Pác Bó mà còn xuống căn cứ địa Lam Sơn (Hòa An – năm 1942); Sang Trung Quốc (năm 1942, 1943).

Thời gian Người ở Pác Bó lâu nhất là hơn một năm (từ tháng 1-1941 đến tháng 3-1942). Trong thời gian đó theo sử sách thì Người chỉ ở hang Cốc Bó và hang Lũng Lạn hơn một tháng. Vậy còn hơn một năm Người sống và làm việc ở đâu?

Kể cũng lạ! Hơn một năm sống ở Pác Bó, Bác Hồ chỉ “ghi lại” có 2 bài thơ (Bài Pác Bó hùng vĩ và bài Tức cảnh Pác Bó). “Một người viết nhiều và hay làm thơ như Bác Hồ, sao chỉ “để lại”có vậy?” .

Nghĩ thế tôi lọ mọ đi tìm kiếm và thật may mắn, tôi “sưu tầm” thêm được 2 bài thơ nữa của Bác (bài Cảnh rừng Pác Bó và bài Tức cảnh hang Lũng Lạn).

Đặc biệt tôi tìm được một bài viết dài của Bác mà đoạn trích dưới đây chỉ rõ hơn một năm ở Pác Bó, Bác đặt đại bản doanh ở đâu: “Lần này dời vào một cái suối. Hai bên là núi cao, lội suối một đoạn khá xa thì có một cái thác cao độ ba thước, nước từ trên ào ào chảy xuống như một tấm lụa trắng. Lội suối một đoạn nữa, lại có một cái thác cũng cao như vậy. Đi qua ba đoạn suối và trèo lên ba cái thác thì chúng tôi đóng “đại bản doanh”.

Bắc tre từ bờ này đến bờ kia suối như một nhịp cầu, rồi làm lán trên cầu, dưới lán, nước chảy róc rách như tiếng ru con”. (Hồ Chí Minh – Chuyện kể dọc đường Cách mạng – Trang 492).

Con suối đó là Khuổi Nặm. Xin nói ngay một điều ít ai biết là trên Khuổi Nặm có tới 3 chiếc lán, chứ không phải chỉ có 1 (chiếc lán ở cửa rừng, nơi họp hội nghị Trung ương 8 là lán 1).

Bác Hồ ở lán 3, trên cùng, chỉ cách mốc 109 vài bước chân. Rõ ràng, khu di tích Pác Bó đã “bỏ quên” “đại bản doanh” của Bác Hồ. Cần sớm khôi phục, tôn tạo lại (Bài này không bàn tới chuyện đó).

Không chỉ có duy nhất một tài liệu nói tới lán Bác Hồ ở như đã dẫn mà còn có rất nhiều hồi ký nói tới lán Bác Hồ của các đồng chí Lê Quảng Ba, Dương Đại Long, Dương Đại Lâm, Nông Thị Trưng… Đây là một đoạn trong hồi ký Những ngày sống gần Bác của Nông Thị Trưng, cháu gái nuôi của Bác Hồ ở Pác Bó.

“Đi ngược con suối nước chảy khá mạnh, thỉnh thoảng lại có những mô đá cao, đi rất chật vật mới trèo qua được hai mô đá cao, đến cái thứ ba, cao gần như thác, tôi nhìn thấy khá cao và rùng rợn. Lúc này anh Đại Lâm ra hiệu bằng tiếng còi, tôi nhìn lên thấy đồng chí Vũ Anh đưa cái thang xuống (H.Q.U nhấn mạnh), anh Đại Lâm và tôi cùng leo lên hết thang thấy một cái lán nhỏ dựng trên suối nước. Vừa bước chân đến cửa lán, tôi chợt thấy một ông cụ mặc bộ quần áo Nùng màu chàm phai. Thoáng nhìn tôi thấy ông cụ có vầng trán cao, có chòm râu dài, trông rất quắc thước, đang ngồi xem sách” (trang 31, 32).

Đi tìm chiếc thang tre

Thang tre Bác Hồ ở Lán Khuổi Nặm 1941Thang tre Bác Hồ ở Lán Khuổi Nặm 1941.

Điều tôi đặc biệt lưu ý trong hồi ký của bà Nông Thị Trưng là chiếc thang tre bắc lên lán 3 (lán Bác Hồ ở).

Là dân miền núi, nhưng tôi không thể tưởng tượng ra chiếc thang tre đặc biệt này, tôi đem điều đó “phàn nàn” với nhà nghiên cứu Vương Hùng, người thầy, người anh, người bạn của tôi, một thời là Phó Ty Văn hóa Cao Bằng. Ông Vương Hùng bảo: “Trong Bảo tàng Cao Bằng có lưu giữ chiếc thang tre của Bác Hồ ở lán Khuổi Nặm từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, sau đó Bảo tàng Việt Bắc lên lấy về Thái Nguyên cùng 2 chiếc trống đồng to”.

Thông tin của ông Vương Hùng làm tôi thật sự phấn khích. Tôi xuống ngay Thái Nguyên tìm. Bạn bè Thái Nguyên mách nên về Hà Nội tìm ở chỗ anh Chu Đức Tính.

Tôi xuống Bảo tàng Hồ Chí Minh, xin vào “tìm chiếc thang” ở kho tư liệu nhưng việc không thành. Quay ngược trở lại Thái Nguyên, tôi cậy nhờ chị Nguyễn Thị Lệ Thu, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch cùng anh Hưng làm ở phòng di sản, giúp lần tìm “manh mối”. Một tuần sau anh Hưng điện bảo “Cái thang ấy trả về Cao Bằng lâu rồi!”.

Tôi lại trở về Cao Bằng, bắt đầu lại từ điểm xuất phát, hỏi bảo tàng Cao Bằng, hỏi khu di tích Pác Bó… Chẳng ai biết chiếc thang tre từ thời “xa xưa” cả. Đột nhiên giữa tháng 8-2012, anh Phùng Chí Kiên, Giám đốc Bảo tàng Cao Bằng điện thoại bảo tôi “thấy rồi, thấy rồi!”.

Tôi lao vội đến chỗ anh Kiên, anh liền dẫn tôi vào một căn nhà xây 2 tầng, chỉ tay lên phía trên cầu thang: “Thang ở trên đầu chúng ta”.

Tôi ngước nhìn, thấy một chiếc thang tre cũ kỹ gác áp vào trần nhà. Phùng Chí Kiên cho người đem cái thang xuống, đưa ra sân rộng của bảo tàng, gác lên gốc cây để tôi chụp ảnh.

Đó là một chiếc thang được làm bằng một cây tre gai bổ đôi, dài 3,3m, đầu dưới rộng 45 cm; đầu trên rộng 29cm, có 8 bậc. Phùng Chí Kiên khẳng định: “Đây là chiếc thang tre Bác Hồ dùng ở lán Khuổi Nặm năm 1941”.

Đầu tháng 11-2012, trong buổi tiếp đoàn học giả Trung Quốc do giáo sư Hoàng Tranh dẫn đầu lên khảo cứu Pác Bó, ông Đinh Ngọc Hải, nguyên Giám đốc khu di tích Pác Bó thêm một lần khẳng định với tôi: “Cái thang tre ấy do tôi xuống Thái Nguyên lấy về. Hồ sơ có ghi rõ: Thang tre Bác Hồ dùng ở Khuổi Nặm!”.

Vàng đấy, chẳng phải thau đâu…

Nơi từng là đại bản doanh của Bác Hồ tại Pác Bó Nơi từng là đại bản doanh của Bác Hồ tại Pác Bó .

Hóa ra, việc “truy tìm” chiếc thang tre Bác Hồ lại đơn giản và ngẫu nhiên đến thế, chứ chẳng có gì là ly kỳ, lắt léo. Đó chỉ là sự may mắn! Ấy là việc thứ nhất, coi như xong, nhưng việc tiếp theo sau khi “phát hiện lại” thì sẽ làm gì với hiện vật quí đó?

Chẳng làm gì cả! Chiếc thang tre ấy vẫn nằm khuất vì những người có trách nhiệm chưa có thời gian xác minh và thẩm định lại, và dù có xác minh lại thì chưa biết đem trưng bày như thế nào? Giới thiệu ra làm sao? Thật không đơn giản!

Riêng tôi, tôi nghĩ chiếc thang tre đó là hiện vật rất quí, cần có chế độ bảo quản thật tốt chứ không thể để như bây giờ.

Tháng 11-2012, tôi cộng tác với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng bộ phim tài liệu về Pác Bó, quay nhiều hình ảnh về chiếc thang tre và lên ghi hình tại nơi ngày xưa Bác Hồ đặt đại bản doanh trên dòng Khuổi Nặm. Bộ phim được giới thiệu trên sóng VTV.

Còn bây giờ, tôi mơ một ngày sẽ được trèo lên chiếc thang tre, như các ông Dương Đại Lâm, bà Nông Thị Trưng đã từng trèo lên gặp Bác Hồ.

Thành phố Cao Bằng tháng 12-2012

Hoàng Quảng Uyên
tienphong.vn