Tag Archive | Báo tin tức

Chuyện Tết của Bác Hồ

Báo tin tức – Bác Hồ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam đi vào cõi vĩnh hằng cách đây đã hơn 40 năm. Nhớ đến Bác, mỗi người dân Việt Nam lại nhớ đến những bài thơ chúc Tết của Người mang những tư tưởng lớn, hoài bão lớn và tình cảm sâu nặng đối với đồng bào, chiến sỹ trong thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Tuy nhiên, còn những chuyện vô cùng cảm động về đời sống của Bác trong những ngày Tết đoàn tụ của mọi gia đình Việt Nam thì rất ít người biết đến.

Bác Hồ nói chuyện với các cháu thiếu nhi trong dịp Người về thăm và chúc Tết đồng bào tỉnh Hà Bắc (Xuân Đinh Mùi, 9/2/1967). Ảnh: Tư liệu

Xin hãy bắt đầu bằng Tết kháng chiến chống Pháp đầu tiên – Tết Đinh Hợi năm 1947. Năm 1946, mặc dù là một năm được mô tả như ngàn cân treo sợi tóc, nhưng nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác, toàn dân ta đã vượt qua khó khăn, thử thách và vững bước đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ để rồi đi tới “9 năm làm một Điện Biên…” như lịch sử đã khẳng định. Theo quyết định của TW, Bác rời Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến và đêm 13/1/1947, Người đã tới thôn Phú Đa, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. Kể từ ngày rời Hà Nội, đây là điểm dừng chân thứ tư của Bác trên đường trường kỳ kháng chiến. Bác ở đây tổng cộng 21 ngày và cũng tại đây, cùng với việc viết thư, điện gửi những người đứng đầu nhà nước và Chính phủ Pháp vừa thuyết phục, vừa đấu tranh nhằm không để cuộc chiến tranh Pháp- Việt xảy ra, Người đã làm bài thơ chúc Tết lần đầu tiên đọc trên sóng phát thanh đêm giao thừa năm ấy.

Ở đây, trong điều kiện khó khăn và thiếu thốn không thể kể hết, hàng ngày Bác vẫn làm việc và sinh hoạt theo một nếp rất khoa học và chính xác về thời gian đối với từng việc, từng giờ mà Người đã định trước. Chiều 21/1 tức 30 Tết, từ Cần Kiệm, Bác đi Phủ Quốc Oai dự phiên họp tất niên của Chính phủ, sau đó đến Đài Tiếng nói Việt Nam hiện sơ tán ở Chùa Trầm (Chương Mỹ) để đọc thơ chúc Tết. Trời bắt đầu đổ mưa từ trước giờ Ngọ nên đường rất trơn, xe chở Bác chỉ đi được một đoạn thì bị tụt một bánh xuống ruộng. Mấy người phục vụ phải chia nhau vào xóm tìm người ra khênh xe giúp. Kéo được xe lên và đến được địa điểm họp dự họp xong, lúc 22 giờ rưỡi Bác đi đến Đài phát thanh. Lúc này trời càng mưa to, đường lầy và trơn hơn đoạn đến Phủ Quốc Oai. Nhưng xe vẫn lăn bánh trong màn mưa và gió lạnh hun hút thổi. Đọc thơ chúc Tết xong, Bác rời Đài ra về lúc 0 giờ 45 phút. Trời vẫn tiếp tục mưa và mưa ngày càng xối xả. Xe lại sa lầy, anh em phải xuống đẩy. Về cách nhà chừng 2 km, xe tụt cả hai bánh xuống ruộng. Không mượn được người khênh xe vì đang là giao thừa, Bác nói lái xe ngủ lại trông xe, còn mấy Bác cháu cùng xắn quần đội mưa cuốc bộ về nhà “xông đất”. Về đến nhà trời đã gần sáng rõ. Sau khi nghe đồng chí Vũ Kỳ đọc 2 bài báo của Butbiên, Bác mới đi nghỉ. Nhưng chưa đầy 7 giờ, Bác đã ngồi khai bút bằng việc sửa cuốn “Vấn đề du kích” Người đã soạn trước đó.

Việc ăn ở của Bác từ ngày sơ tán về đây rất khó khăn. Bác ở tại ngôi nhà của một nông dân nằm chơi vơi giữa sườn đồi. Nhà mới dựng cách đó chưa lâu, vách đất, mái lợp lá mía, gió mùa đông bắc hun hút thổi. Giữa cái lạnh đến ghê người, nhất là mỗi khi cơn gió lùa vào trong nhà, Bác vẫn thanh thản ngồi nghiên cứu và sửa tài liệu theo đúng kế hoạch Người tự đặt ra cho mình trong ngày mồng Một Tết. Bữa cơm của Bác trưa mồng Một Tết cũng giống như những ngày bình thường khác. Chưa đầy 2 bát cơm được đựng trong một âu nhỏ và được ủ nóng. Cơm độn với sắn khô được thái thành những lát nhỏ trộn với gạo và người nấu phải khéo lắm mới bảo đảm cả sắn, gạo cùng chín và dẻo. Thức ăn chỉ có 2 món, gồm mấy miếng thịt nạc rim và bát canh rau cải được mua ở chợ quê gần đấy. Đây là những món ăn rất quen thuộc đối với Bác khi còn ở Hà Nội. Với khẩu phần ăn quá đạm bạc ấy, anh em rất lo cho sức khỏe của Bác. Nhưng với Bác thì như Người nói: “Khó khăn, vất vả của Bác so với nhân dân và chiến sỹ là không đáng kể”.

Từ Tết kháng chiến chống Pháp đầu tiên, gần 20 năm sau Bác lại có một cái Tết chống Mỹ đầu tiên, tuy điều kiện có khác nhiều so với trước vì một nửa nước đã có hòa bình.

Đó là Tết Ất Tỵ năm 1965, Bác đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sỹ và công nhân sản xuất than tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh chỉ trước đó mấy tháng, vào ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và đây là điểm máy bay Mỹ đã đánh phá. Không ngăn được ý định về cuộc đi thăm Tết này của Bác, nên tỉnh Quảng Ninh và các ngành có liên quan đã chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để đón Người. Hiểu điều đó, Bác đã nói với Bí thư Tỉnh ủy ngay lúc mới gặp: “Cố gắng kết thúc mít tinh sớm để mọi người về gia đình đón năm mới và tránh tình huống xấu có thể xảy ra”. Ở đây, Bác muốn nói đến khả năng máy bay Mỹ xâm nhập.

Chiều 1/2/1965, tức 30 Tết Ất Tỵ, Bác về tới Bãi Cháy và khách sạn mà tỉnh bố trí để Người nghỉ lại chỉ cách địa điểm máy bay Mỹ đã đánh phá ngày 5/8/1964 vài trăm mét. Buổi tối hôm đó, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh có ý định mời Bác dự bữa cơm tất niên với cán bộ chủ chốt của tỉnh và đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhờ đồng chí Vũ Kỳ xin ý kiến Bác. Nghe xong, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ: “Chú cảm ơn tỉnh và nói Bác đã có cơm mang theo rồi. Bí thư và Chủ tịch muốn ăn cơm cùng Bác thì Bác mời”. Việc mang cơm theo mỗi khi đi làm việc với các địa phương từ lâu đã trở thành nếp quen vì Bác không muốn gây phiền hà và tốn kém cho địa phương. Tuy nhiên, bữa cơm chiều 30 Tết đó vì nể các đồng chí lãnh đạo tỉnh, Bác vẫn ngồi dự, nhưng Người vẫn ăn cơm và thức ăn mang theo từ Hà Nội. Bác còn vui vẻ gắp thức ăn của mình mời Bí thư Tỉnh ủy cùng “thưởng thức hương vị Hà Nội”.

Hơn 11 giờ đêm sau khi dự đón giao thừa với cán bộ chủ chốt của tỉnh, Bác về phòng nghỉ và cùng đồng chí Vũ Kỳ rà lại chương trình hoạt động của ngày mai. Xong công việc, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ: “Hôm nay, các chú lại không mang cà dầm tương cho Bác”. Cà dầm tương mang đậm hương vị quê hương Nam Đàn là một trong bốn món ăn mặn không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của Bác. Và đã có lần khi nhận được một lọ cà dầm tương từ quê gửi ra biếu, Bác đã dặn anh em phục vụ: “Các chú ăn thịt, ăn cá, còn cà thì để phần Bác”. Hương vị “cà dầm tương” đã theo Bác cả khi Người nằm trên giường bệnh. Đó là sáng sớm 2/2/1969, Bác yêu cầu: “Sáng nay, các chú cho Bác một bát con cơm và mấy quả cà”.

Nói chuyện xong với đồng chí Vũ Kỳ, Bác lại ngồi chữa bài nói chuyện ở buổi mít tinh sáng mùng Một Tết cho tới 1 giờ sáng, Người mới đi nằm. Sáng mùng Một Tết, đồng chí Vũ Kỳ mời Bác ăn sáng, Người từ chối và chỉ uống một tách cà phê. Kết thúc cuộc mít tinh, Bác về lại khách sạn, đồng chí Vũ Kỳ mời Bác ăn điểm tâm với lý do chương trình đi thăm của Bác còn dài, Bác phải ăn một chút mới có sức làm việc hết buổi sáng. Bác không những không ăn, mà còn giục đồng chí Vũ Kỳ đi cho kịp thời gian. Bác rời Hòn Gai và về Uông Bí thăm các chuyên gia Liên Xô đang giúp ta xây dựng Nhà máy điện Uông Bí, thăm Đoàn địa chất số 3 đang thăm dò than ở khu vực này, thăm một gia đình nông dân ở HTX Khe Cát, nói chuyện với công nhân mỏ than Vàng Danh và nhân dân thị xã Uông Bí.

Kết thúc buổi sáng mùng Một Tết với một chương trình làm việc dầy đặc cho tới quá trưa Bác mới rời Uông Bí. Biết Bác đói và mệt vì cả buổi sáng chưa ăn gì, trong khi cường độ làm việc rất cao nên lúc chuẩn bị lên xe rời Uông Bí, đồng chí Vũ Kỳ nói nhỏ với đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi cùng: “Chắc giờ này Bác đã đói và mệt. Đến chỗ nào thích hợp anh chủ động dừng và mời Bác ăn cơm”. Xe ra khỏi địa phận Quảng Ninh, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy xin phép Bác dừng lại ăn cơm và Người đồng ý. Bữa cơm trưa mùng Một Tết của mấy Bác cháu tại một trường học trên đường đi cũng vẫn là những món ăn mà Người thích được chuẩn bị từ khách sạn. Ngoài ra, còn có thêm hai món tôm, cá tươi do HTX nghề cá Hùng Thắng mới đánh được đêm qua gửi biếu Bác và được các đầu bếp ở khách sạn chế biến khá công phu. Người ăn rất ngon miệng và còn vui vẻ gắp thức ăn cho vợ và con đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi cùng.

***

Bác đã đi vào cõi vĩnh hằng. Đón xuân Nhâm Thìn nhắc lại câu chuyện về Tết trên đây của Bác giúp mỗi người chúng ta hiểu thêm tình thương bao la và sự hy sinh lớn lao của Người đối với đồng bào, chiến sỹ thiêng liêng và cao quý đến nhường nào. Bác vĩ đại chính là từ những việc làm như thế.

Nguyễn Tử Nên

———————-

Ghi chú: Theo tư liệu của đồng chí Vũ Kỳ, nguyên Thư ký của Bác và có tham khảo thêm tư liệu từ hai cuốn sách: “Chuyện kể về Bác Hồ-Những chặng đường trường kỳ kháng chiến” của Huyền Tím và Tử Nên-NXB Chính trị Quốc gia năm 2000 và “Phong cách Bác Hồ” của Nguyễn Tử Nên – NXB Quân đội Nhân dân năm 2010.

bqllang.gov.vn

Báo Pháp viết về sự kiện Bác Hồ đến Marseille

Báo tin tức – Nhân kỷ niệm 100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pháp, báo La Marseillaise, nhật báo của vùng Provence ở miền nam nước Pháp, đã dành trọn một trang khổ A3 và dòng tiêu đề chữ lớn ngay trang nhất của báo để giới thiệu sự kiện này, qua bài viết “Cách đây 100 năm, Hồ Chí Minh khám phá Marseille”.

Con tàu Đô đốc Latouche Tréville đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến Pháp.

Báo đăng toàn văn bài phỏng vấn ông Nguyễn Văn Bổn, Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp về những hoạt động của Bác khi tới thành phố Marseille của Pháp trên hành trình tìm đường cứu nước và sử dụng bức tranh minh họa vẽ Bác Hồ trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville trên đường tới Pháp.

Trả lời các câu hỏi của phóng viên Leo Purguette, ông Nguyễn Văn Bổn đã giới thiệu với độc giả thành phố biển Marseille về sự kiện người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đặt chân tới thành phố này cách đây 1 thế kỷ, cũng như những nhận thức của Bác về các vấn đề “giai cấp,” “thuộc địa,” “chủ nghĩa xã hội”… trước khi Bác đi tìm đường cứu nước. Ông đã giúp độc giả Pháp tìm hiểu vì sao Bác Hồ lại tìm đường tới nước Pháp, thấy được ý nghĩa của những chuyến khám phá đầu tiên này đối với cả sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tình cảm của kiều bào Việt Nam tại Pháp đối với Bác Hồ.

Báo La Marseillaise đăng bài viết đúng dịp triển lãm “Bác Hồ với nước Pháp” diễn ra tại thành phố Marseille.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt, nhấn mạnh, cuộc triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp tăng cường và phát triển những giá trị của tình đoàn kết Pháp – Việt.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nỗ lực phát triển tình đoàn kết giữa hai nước Việt Nam và Pháp. Những người cộng sản Pháp đầu tiên đã đón nhận người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc vào hàng ngũ của mình tại Đại hội Tours năm 1920. Sau đó, những nhà cách mạng Pháp như Henri Barbusse, Romain Roland đã hết lòng ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và vận động công luận Pháp phản đối Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam. Ngày nay, Hội hữu nghị Pháp – Việt sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đưa ra nhiều sáng kiến ủng hộ cuộc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.

Lê Hà (P/v TTXVN tại Pháp)

baotintuc.vn

Những kỷ niệm của nhà báo nước ngoài cuối cùng phỏng vấn Bác Hồ

Báo tin tức – Chắc rất nhiều người khi nghĩ đến những người bạn Cuba thân thiết của nhân dân Việt Nam, đều nói đến nữ nhà báo Marta Rojas. Bà đã từng nhiều năm lặn lội trên đất nước Việt Nam trong thời gian chiến tranh, từ các tỉnh đồng bằng Bắc bộ cho tới những khu rừng bạt ngàn ở chiến trường miền Nam, và những bài báo của bà đã giúp cho nhân dân Cuba và Mỹ Latinh hiểu rõ thêm về cuộc đấu tranh chính nghĩa vì độc lập dân tộc của Việt Nam. Nhưng kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời làm báo của bà Marta Rojas chính là cuộc phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 7/1969, chỉ hai tháng trước khi Người mãi mãi đi xa. Đó cũng chính là cuộc phỏng vấn cuối cùng của một nhà báo nước ngoài với vị lãnh tụ vô vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Nhà báo Marta Rojas và bức ảnh mà Bác Hồ ký tặng bà sau cuộc phỏng vấn vào tháng 7/1969. Ảnh: Hoài Nam

Chúng tôi đến gặp nhà báo Marta Rojas tại nhà riêng vào một ngày giữa tháng 8 với mong muốn được bà thuật lại kỷ niệm về những chuyến đi thực tế ở chiến trường Việt Nam, và đặc biệt là cuộc phỏng vấn lịch sử với Bác Hồ. Khi biết được ý định của chúng tôi, cảm xúc của bà Marta Rojas dường như dâng trào. Những hoài niệm về một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết ngay lập tức trở lại trong tâm trí của Marta Rojas. Với một trí nhớ tuyệt vời, một giọng kể ấm áp và đầy cuốn hút, câu chuyện của bà khiến chúng tôi cảm tưởng như tất cả vừa mới diễn ra hôm qua…

Marta Rojas và chị Phan Thị Quyên, vợ của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi trong rừng Tây Ninh. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas

Đó là vào năm 1965. Marta Rojas, một phóng viên trẻ của báo Revolucion (Cách mạng), nhận được chỉ thị trực tiếp của Tổng tư lệnh Fidel Castro với yêu cầu phải sớm sang Việt Nam để tìm hiểu và thông tin một cách sống động và chân thực nhất về cuộc chiến đấu anh dũng, quả cảm của nhân dân Việt Nam vì độc lập dân tộc. Ngay khi chuẩn bị lên đường, bà Marta Rojas đã ấp ủ ý định phải bằng mọi cách phỏng vấn được Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện lúc bấy giờ không cho phép nên bà đành phải gác lại “ước muốn cháy bỏng” đó với niềm tin sẽ có một ngày được gặp Bác Hồ. Năm đó bà Marta Rojas được đưa tới Campuchia và từ đó vượt rừng vào căn cứ địa của cách mạng miền Nam Việt Nam ở Tây Ninh. Trong thời gian ở cùng với các chiến sỹ cách mạng Việt Nam, bà đã viết hàng loạt bài báo để gửi về nước và nhờ đó nhân dân Cuba ở bên kia địa cầu càng hiểu thêm về cuộc kháng chiến trường kỳ đầy vất vả gian lao nhưng cũng vô cùng vẻ vang của nhân dân Việt Nam.

Nhà báo Marta Rojas (thứ tư từ phải sang) đang được các chiến sỹ quân giải phóng hướng dẫn cách lắp súng trong rừng Tây Ninh. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas

Liên tiếp những năm sau đó bà Marta Rojas đều dành thời gian để đến với đất nước Việt Nam. Cũng vì tình yêu với đất nước hình chữ S mà bà đã tham gia tích cực vào các phong trào đoàn kết với Việt Nam và từng có mặt tại một số diễn đàn quốc tế với tư cách là một nhân chứng sống để tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam. Và rồi tới năm 1969, trong một chuyến đi như bao chuyến đi khác mà bà thực hiện tới Việt Nam, Marta Rojas tiếp tục bày tỏ nguyện vọng được phỏng vấn Bác Hồ với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam. Một ngày giữa tháng 7/1969 khi đang trọ tại khách sạn Thống Nhất, bà Marta Rojas bất ngờ nhận được một cuộc điện thoại của Tổng Biên tập báo Nhân Dân Hoàng Tùng với lời nhắn: “Sáng mai đúng 6 giờ 30 tôi sẽ đón đồng chí vào gặp Bác Hồ”.

Bà Marta Rojas bồi hồi nhớ lại: “Sáng hôm đó khi cùng với đồng chí Hoàng Tùng và một đồng chí phiên dịch vừa bước vào khuôn viên Phủ Chủ tịch thì tôi đã thấy từ xa một cụ già tươi cười tiến lại gần và chủ động chào tôi bằng tiếng Tây Ban Nha “Buenos días, Marta” (Chào buổi sáng đồng chí Marta). Sau một thoáng bất ngờ tôi nhận ra đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu mà tôi luôn ước ao được gặp mặt. Đã được đọc và nghe nhiều về Bác Hồ nhưng được gặp trực tiếp tôi mới cảm nhận hết được sự giản dị, gần gũi và lịch thiệp trong con người vĩ đại đó. Lúc đó Bác cũng hỏi thăm tôi về sức khỏe của đồng chí Fidel Castro và nói rằng bác rất thích đọc các bài diễn thuyết của vị Tổng tư lệnh đáng kính của nhân dân Cuba”.

Bà Marta Rojas (đội khăn rằn), nhà báo Raul Valdez Vivo (ngồi bên cạnh) đang được các chiến sỹ Quân giải phóng đưa qua sông. Ảnh: tư liệu của bà Marta Rojas.

Bà Marta Rojas kể rằng trong gần 30 phút đầu tiên của cuộc gặp gỡ đó, dường như bà trở thành người “bị phỏng vấn” khi Bác hỏi thăm về chuyến đi vào miền Nam đầu tiên của bà năm 1965. Bác cũng muốn biết về những cảm nhận của một nhà báo nước ngoài khi được tận mắt chứng kiến cuộc sống và tinh thần chiến đấu của các chiến sỹ ở miền Nam. Bà Marta Rojas vô cùng xúc động khi nhắc lại câu nói của Bác Hồ sau khi nghe bà tường thuật lại những trải nghiệm của mình rằng: “Nỗi đau và sự chịu đựng của nhân dân miền Nam cũng chính là nỗi khổ tâm của tôi. Tình yêu tôi dành cho nhân dân ở miền Nam cũng giống như nhân dân ở miền Bắc. Tôi luôn dành cả cuộc đời vì hạnh phúc của nhân dân mình”.

Bác Hồ cũng đề nghị bà Marta Rojas kể lại chuyến đi mà bà vừa thực hiện trước đó ít ngày vào khu vực vĩ tuyến 17 và hỏi thăm về lá cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía Bắc sông Bến Hải. “Bác nói rằng ngay ở những thời điểm khốc liệt nhất, hứng chịu nhiều nhất các đợt ném bom của kẻ thù thì lá cờ đó cũng không bao giờ ngừng tung bay. Quân và dân Việt Nam ở vùng đất lửa đó đã làm tất cả để bảo vệ lá cờ. Đó là biểu tượng của một nước Việt Nam thống nhất. Những tấm gương đó đã tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi trong cuộc chiến đấu trường kỳ”, nhà báo Marta Rojas hồi tưởng lại và cho biết thêm lúc đó bà nhận thấy trong ánh mắt của Bác Hồ một niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam.

Bà Marta Rojas cũng chia sẻ với Bác về tình hình của Cuba, cũng như tình cảm mà lãnh đạo và nhân dân Cuba anh em dành cho đất nước Việt Nam anh hùng. Bác Hồ đã gửi lời thăm hỏi tới các đồng chí lãnh đạo và nhân dân Cuba và kết luận bằng câu nói ví von: “Việt Nam và Cuba là hai người anh em ở hai nửa địa cầu. Khi Cuba ngủ thì Việt Nam thức để canh gác và khi Việt Nam ngủ thì Cuba thức để bảo vệ”.

Nhà báo Marta Rojas cũng nhớ lại một chi tiết vô cùng thú vị trước khi chia tay với Bác: “Với ước ao được phỏng vấn Bác Hồ nên trước mỗi chuyến đi tôi đều chuẩn bị một món quà để nếu có dịp gặp Người tôi sẽ tặng làm kỷ niệm. Trước chuyến đi năm 1969 đó, khi tôi đang còn đang loay hoay suy nghĩ xem chuẩn bị đồ lưu niệm gì thì đồng chí Celia Sanchez (thư ký của Tổng tư lệnh Fidel Castro) nói với tôi rằng nên mang một chiếc gạt tàn vì Bác Hồ có thói quen hút thuốc. Và đó là món quà tôi đã mang sang Việt Nam. Khi kết thúc cuộc phỏng vấn tôi đã đưa chiếc gạt tàn tặng Người. Bác Hồ rất vui vẻ nhận món quà của tôi và nói rằng Người đã bỏ thuốc rồi tuy nhiên chiếc gạt tàn đó vẫn rất có tác dụng. Vừa nói Bác vừa với tay lên bàn làm việc lấy những chiếc ghim giấy đặt vào chiếc gạt tàn”.

Bà Marta Rojas thổ lộ, điều đọng lại lớn nhất trong tâm trí của bà sau cuộc gặp gỡ đó chính là sự giản dị, chân thành và gần gũi trong con người vĩ đại của Bác Hồ. Sau này bà cũng đã có nhiều dịp thăm lại Việt Nam và mỗi lần trở lại bà đều nhận thấy những sự “thay da đổi thịt” của mảnh đất Việt Nam anh hùng đúng với mong muốn “xây dựng đất nước mười lần tươi đẹp hơn” của Bác.

Hoài Nam (P/v TTXVN tại Cuba)

baotintuc.vn

Người dành trọn đời viết sách về Bác Hồ

Báo tin tức -Ít ai biết tại tỉnh Hà Nam có một kỹ sư nông học đã cần mẫn bao năm sưu tầm, lưu giữ và rất tâm huyết với việc viết về Bác. Đó là ông Nguyễn Thế Nữu, ở xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên.

Ông Nữu năm nay đã 80 tuổi, nhưng vẫn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Ông tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng chừng 30 m2 được bài trí đơn giản. Ngoại trừ một bộ bàn ghế uống nước, một chiếc tivi, một chiếc máy vi tính, còn lại là sách được xếp cao đến tận nóc nhà. Phòng sách của ông có nhiều sách quý, hiếm trong và ngoài nước.

Ông Nữu bên tủ sách dày công sưu tập. Ảnh: Nguyễn Loan

Ông Nữu tự hào khoe, để có được bộ sưu tập với hơn chục ngàn cuốn sách này, ông đã phải lặn lội sưu tầm từ khi còn là sinh viên. Năm 1953, khi được cử sang Trung Quốc học chuyên ngành Nông học tại Viện Nông học Hoa Nam (Quảng Châu), ngoài thời gian học tập chuyên ngành, ông lặn lội khắp Quảng Châu để tìm các loại sách về chữ Hán và về Hồ Chủ tịch. Có bao nhiêu tiền ông bỏ hết vào việc mua sách. Ông kể: “Sau khi về nước nhận công tác ở Bộ Nông nghiệp, rồi làm việc tại Công ty Giống cây trồng Hà Nam Ninh, mặc dù bận công tác nhưng hễ có thời gian rảnh là tôi lại mày mò khắp các bảo tàng, thư viện ở Hà Nội, Hà Nam Ninh (cũ), rồi vào thư viện của các trường học để sưu tầm sách về Bác. Năm 1991, tôi có dịp quay lại Trung Quốc để học tập kinh nghiệm trồng giống lúa lai, tôi tranh thủ thời gian đi khắp các tỉnh như Hồ Nam, Quảng Châu… để tìm kiếm sách”.

Sưu tầm và viết sách về Bác Hồ là niềm đam mê cả đời của ông Nữu. Trong thời gian công tác, mặc dù bận nhiều việc, phải đi nhiều nơi nhưng không khi nào ông xa rời niềm đam mê này. Sẵn có vốn tiếng Hán trong tay, mỗi khi có thời gian rảnh là ông lại đem các quyển sách chữ Hán mà ông sưu tầm được ra dịch. Ông tâm sự: “Ngay khi về Ty Nông nghiệp của tỉnh Nam Định (sau là Sở Nông nghiệp Hà Nam Ninh), tôi đã xác định mình sẽ sống chết cùng cây lúa với vùng đất này. Sự nghiệp nghiên cứu khoa học và sưu tầm sách sẽ là động lực chính để mình thực hiện quyết tâm”. Năm 1991, ông nghỉ công tác. Lúc này ông dành trọn tâm trí mình vào công việc viết sách. Cuốn sách đầu tay ông cho ra mắt là cuốn “Thưởng thức thơ Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký” dài 643 trang do NXB Khoa học Xã hội phát hành năm 2005.

Nhắc đến cuốn sách đầu tay, mắt ông lại sáng lên: “Đây là cuốn sách về Bác Hồ mà tôi phải mất hơn 20 năm sưu tầm và dịch ra. Cuốn sách chủ yếu là thơ chữ Hán đã được tôi dịch ra tiếng Việt có bình luận”. Ông khoe: “Lúc đó tôi nhớ là mình được trả 5,5 triệu đồng tiền nhuận bút. Tôi dùng luôn số tiền này mua được 110 quyển sách vừa in ra đem đi tặng bạn bè”.

Cầm cuốn sách trên tay, chúng tôi lật trang đầu thấy ngay dòng chữ do Giáo sư Phong Lê, nguyên Viện trưởng Viện Văn học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) viết: “Đọc ông Nữu, tôi không thấy có sự khập khiễng nào so với bất kỳ các tác gia nghiên cứu văn học cả về vốn tri thức và năng lực phân tích cảm thụ”. Tôi vừa đọc đến đây, ông Nữu cười vui: “Tôi nghiên cứu sách là do niềm đam mê của mình. Còn viết sách là phần lớn để “trả nợ”. Số là, trong một dịp gặp Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, sau khi nói chuyện, giáo sư đã khuyên tôi nên dịch và tổng hợp lại thành sách để thế hệ sau có thêm một tài liệu đầy đủ về thơ Hồ Chí Minh. Thế là kế hoạch 25 cuốn sách về Bác, trong đó có 13 quyển về thơ ca, 12 quyển kể chuyện về Người ra đời. Ngay khi cuốn đầu tay còn đang trong dạng bản thảo, rất nhiều người đã động viên và nhận lời viết “Lời giới thiệu” cho sách như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS Phong Lê, GS Nguyễn Lân Dũng, PGS.TS Trần Đức Cường… Trước sự tin tưởng của mọi người, tôi như thấy mình phải cố gắng hoàn thành để trả nợ”.

Hiện tại, ngoài cuốn “Thưởng thức thơ Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký”, ông đã cho ra mắt thêm 2 cuốn sách nữa là “Từ điển Ngục trung nhật ký” dài 620 trang do NXB Nghệ An phát hành, và cuốn “Bác Hồ – Người trồng cây vĩ đại” dài 260 trang do NXB Nông nghiệp phát hành.

Hưng Phương

baotintuc.vn

Người đóng vai Bác Hồ thành công nhất

Báo tin tức – Với khoảng 35 vai diễn về Bác Hồ trong các thể loại sân khấu, điện ảnh, phim truyền hình… đến nay, nghệ sỹ Tiến Hợi (Nhà hát Kịch Hà Nội) “giữ kỷ lục” là người được đóng vai Bác Hồ nhiều nhất. Được “trời phú” cho đôi mắt sáng, cùng ngoại hình tương đối giống Bác, cộng thêm việc chịu khó nghiên cứu, tập luyện nên Tiến Hợi đã rất thành công khi thể hiện hình tượng Bác Hồ.

Người đóng Bác Hồ thành công nhất

Cơ duyên đưa Tiến Hợi đến với vai Bác Hồ bắt đầu từ năm 1987, lúc anh đang công tác tại đoàn kịch Trường Sơn. Khi ấy, đạo diễn Doãn Hoàng Giang dựng vở kịch “Đêm trắng”, vở kịch đầu tiên về Bác Hồ với việc chống tham nhũng. Trong vở diễn, Bác đã thức trắng đêm với bao trăn trở, đau đớn khi đưa ra quyết định xử tử Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu vì tội tham ô, biển thủ công quỹ. Trong số các diễn viên được thử vai Bác Hồ, Tiến Hợi là người có ngoại hình giống Bác nhất. Vậy là anh được đạo diễn giao đóng vai Bác Hồ. Nghệ sỹ Tiến Hợi tâm sự: “Lúc ấy, tôi vừa bất ngờ, vừa lo lắng. Bất ngờ vì mình còn trẻ nhưng lại được giao vai diễn lớn, nhưng tôi rất lo lắng vì không biết sức mình có đảm nhiệm được vai diễn quá tầm như vậy không…”.

Nghệ sĩ Tiến Hợi vào vai Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Được anh em trong đoàn động viên, Tiến Hợi dành rất nhiều công sức tìm tòi, nghiên cứu vai diễn của mình. Anh đề nghị được xem các phim tư liệu về Bác để bắt chước phong cách, thần thái, động tác của Bác trong khi làm việc, trong đời sống thường ngày… thu lại giọng nói của Bác vào băng ghi âm để về nghe… Ròng rã 3 tháng trời với một lịch trình gần như cố định: Sáng lên sàn diễn luyện tập, chiều xem phim tư liệu về Bác, tối về lại nghe băng ghi âm để luyện giọng sao cho giống giọng nói của Bác…

Đến tận bây giờ, nghệ sỹ Tiến Hợi vẫn nhớ như in cảm giác hồi hộp và vui mừng trong đêm đầu tiên công diễn vở “Đêm trắng” ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Anh kể lại: “Sau buổi diễn, có khán giả đã vào tận phòng hóa trang xin gặp diễn viên đóng vai Bác Hồ, rồi họ rất ngạc nhiên vì thấy diễn viên đóng vai Bác Hồ còn trẻ quá. Sau này, vở kịch “Đêm trắng” được diễn gần 300 đêm ở các tỉnh, thành phía Bắc. Đi đến đâu, đoàn cũng được nhân dân nhiệt tình đón nhận, cổ vũ.

Sau thành công của vai Bác Hồ trong vở kịch “Đêm trắng”, Tiến Hợi đã được nhiều đạo diễn “để mắt” đến mỗi khi có một tác phẩn sân khấu, điện ảnh nào có sự xuất hiện của Bác Hồ. Khi quyết định bấm máy bộ phim truyện “Hẹn gặp lại Sài Gòn”, bộ phim kể về cuộc đời Hồ Chí Minh khi Người còn trẻ, đang nung nấu ước nguyện ra đi tìm đường cứu nước, đạo diễn Long Vân đã không ngần ngại chọn Tiến Hợi vào vai Nguyễn Tất Thành. Để thể hiện thành công vai diễn, Tiến Hợi đã vào Huế, tìm gặp các cụ già sống cùng thời với Bác để tìm hiểu xem thanh niên thời đó nghĩ gì, làm gì và sống như thế nào…? Từ đó, anh luyện tập và thể hiện vai diễn về một thanh niên trong sáng, giàu nghị lực, sống mộc mạc, chân chất… nhưng đầy lý tưởng và hoài bão. Đến năm 1997, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã mời anh vào vai Hồ Chủ tịch lịch lãm, kiên định, trong phim “Hà Nội, mùa đông năm 46”. Và sau này, trong nhiều bộ phim, vở kịch sân khấu khác, nhiều đạo diễn đã tín nhiệm mời anh đóng vai Bác Hồ.

Kỷ niệm khó quên

Mỗi lần đóng vai Bác Hồ đều để lại những kỷ niệm đáng nhớ đối với nghệ sỹ Tiến Hợi. Nhưng có lẽ ấn tượng sâu sắc nhất đối với anh là khi anh đi diễn vở “Đêm trắng” ở Việt Trì (Phú Thọ). Khi ấy, mọi người đang chăm chú xem kịch, đến đoạn Bác trăn trở về việc quyết định xử tử vị cán bộ tham nhũng, có một cụ già đứng lên giơ tay: “Thưa Bác, cho cháu được phát biểu ý kiến”, khiến khán giả cười ồ. Nhưng cụ già vẫn nhất quyết đòi được “có ý kiến với Bác”, vậy là anh em trong đoàn đành đưa cụ vào sau cánh gà đợi. Khi nghệ sỹ Tiến Hợi từ sân khấu bước vào sau cánh gà, cụ già đã sụp xuống lạy, anh vội vàng đỡ cụ dậy và nói: “Cụ ơi, cháu chỉ là diễn viên đóng vai Bác Hồ thôi”, nhưng cụ bảo: “Tôi biết, nhưng giống quá, giống quá, tôi xem như thấy Bác đang đứng cạnh tôi…”. Hỏi ra mới biết, xưa cụ già có tham gia kháng chiến chống Pháp, đơn vị của cụ được đón Bác đến thăm, cụ đã được gặp và nói chuyện với Bác. Nay thấy anh đóng giống Bác quá nên không kiềm chế được cảm xúc của mình.

Nghệ sỹ Tiến Hợi tâm sự, khó khăn nhất trong việc đóng vai Bác là làm thế nào thể hiện được thần thái, cốt cách của Bác: Trước kẻ thù, Người sang trọng, lịch lãm, nhưng ánh mắt phải đanh thép. Trước đồng bào, nhân dân, chiến sỹ, Người lại hết sức trìu mến, yêu thương. Hay việc thể hiện cảm xúc của Bác như vui mừng, trăn trở, nóng giận… Suốt một thời gian dài nghiên cứu, tìm hiểu để đóng vai Bác Hồ, hình ảnh Bác Hồ đã in đậm trong anh, đến nỗi nhắm mắt lại là anh có thể hình dung được hình ảnh, giọng nói Bác Hồ trong từng giai đoạn lịch sử. “Được hóa thân vào một nhân vật nổi tiếng, một anh hùng dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh là niềm tự hào song áp lực cũng rất lớn, bởi hình tượng Bác Hồ đã ăn sâu vào tâm tưởng mỗi người dân Việt Nam. Để thuyết phục được khán giả, tôi đã phải cố gắng rất nhiều, sao cho từng cử chỉ, hành động, lời nói giống Bác nhất”, nghệ sĩ Tiến Hợi bộc bạch.

Phương Lan

baotintuc.vn

Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và bước ngoặt của Cách mạng Việt Nam

Báo tin tức – Ngày 28 tháng 1 năm 1941 (mùng 2 Tết Tân Tỵ), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), nơi tổ chức lớp huấn luyện cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam đã trở về Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Bên cột mốc 108 trên biên giới Việt – Trung thuộc địa phận xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng lặng hồi lâu xúc động.

Với sự nhạy cảm chính trị đặc biệt của một lãnh tụ thiên tài, Nguyễn Ái Quốc đã tìm cách ra đi, để rồi tìm cách trở về Tổ quốc, trở về trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam trước những bước ngoặt của tình thế đã được Người dự đoán.

Người dân thuộc địa hiếm hoi trở thành thành viên của Đảng Xã hội Pháp

Khi rời bến Nhà Rồng ra đi tìm một con đuờng mới cho cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, ủng hộ luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (12/1920). Ảnh tư liệu: TTXVN

Khi nhiều người đang ngoảnh nhìn về phương Đông với sự ngưỡng mộ “người anh cả da vàng” Nhật Bản – một đế quốc mới ở châu Á – đã chiến thắng nước Nga Sa hoàng năm 1905, hay ngưỡng vọng bác sĩ Tôn Dật Tiên với chủ nghĩa Tam dân nổi tiếng và cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Quốc thì Nguyễn Tất Thành tìm đường sang phương Tây, đến nước Pháp, đến nơi sản sinh ra những lời đẹp đẽ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã từng làm rung động lòng mình khi còn ở tuổi thiếu niên.

Nguyễn Tất Thành muốn đến tận nơi sinh ra những lý tưởng cao đẹp đó để tìm hiểu xem làm sao người Pháp có được Tự do – Bình đẳng – Bác ái… Nguyễn Tất Thành đã chọn hướng Tây với mong muốn thiết thực: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”.

Tư liệu của Alain Ruscio, một nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh người Pháp: Khoảng cuối năm 1918 hoặc đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đoàn thanh niên xã hội và sau đó là Đảng Xã hội Pháp, vì nhận thấy có mối liên hệ giữa những hoạt động của đảng với khát vọng giải phóng dân tộc của mình. Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đã trở thành đảng viên Xã hội Pháp “vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại Cách mạng Pháp: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” – như sau này tác giả Trần Dân Tiên đã thuật lại.

Nguyễn Ái Quốc là một trong số rất hiếm hoi thành viên của Đảng Xã hội Pháp khi đó là người dân của một xứ thuộc địa. Trong mùa hè năm 1919, người ta thấy Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trong các cuộc họp của Đảng Xã hội, trong các cuộc họp của Tổng công hội, Hội Nhân quyền…

Tìm thấy nguồn sáng tương lai

Cho đến khi nổ ra những cuộc tranh luận trong Đảng Xã hội Pháp về vấn đề nên là thành viên của Quốc tế nào, Nguyễn Ái Quốc chưa hề đọc tác phẩm nào của V.I.Lênin. Anh ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là theo cảm tính, mà chưa hiểu hết tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạng vĩ đại này. Anh tỏ ra lúng túng trước những cuộc tranh luận.

Điều làm Nguyễn Ái Quốc lúng túng chính là “trong cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn kết với các dân tộc thuộc địa. Nhưng đó lại là vấn đề tôi quan tâm hơn hết”. Điều mà Nguyễn Ái Quốc muốn biết nhất – vì đối với Người nó quan trọng nhất – là Quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa, thì lại không thấy bàn đến trong các cuộc tranh luận đó.

Trong hai số liên tiếp ngày 16 và ngày 17/6/1920, báo L’Humanité (Nhân đạo) đăng “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin. Luận cương này được V.I.Lênin trình bày tại Đại hội II Quốc tế cộng sản họp từ ngày 19/7 đến 10/8/1920.

Luận cương của V.I.Lênin đã gây cho Nguyễn Ái Quốc một cảm xúc mạnh mẽ. Sau này Người kể lại: “Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên”.

Qua Luận cương, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy sự ủng hộ, tìm thấy chỗ dựa, tìm thấy nguồn sức mạnh để vươn tới cái đích của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc – đã được chỉ rõ là sự chiến thắng của Chính quyền Xô viết với chủ nghĩa đế quốc thế giới.

Những điều này đã giải đáp những băn khoăn thắc mắc của Nguyễn Ái Quốc trước câu hỏi: Đứng về Quốc tế nào trong các cuộc tranh luận diễn ra ở các cuộc họp của Đảng Xã hội Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã có câu trả lời rõ ràng: Đứng về Quốc tế III của Lênin, bởi vì “Chúng tôi thấy rằng việc Đảng Xã hội gia nhập Quốc tế III có nghĩa là Đảng hứa một cách cụ thể rằng từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa”.

Ngày 30/12/1920, tại Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng cộng sản Pháp và bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III. Nguyễn Ái Quốc đã chính thức trở thành một chiến sĩ cộng sản đấu tranh cho lý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Sự gặp gỡ tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Lênin này phản ánh những nhu cầu đang đặt ra của lịch sử là xác định một con đường đúng đắn cho cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam nói riêng và các dân tộc thuộc địa nói chung.

Nguyễn Ái Quốc chính là người đảm nhận nhiệm vụ lịch sử đó. Ánh sáng của tư tưởng Lênin đã soi rọi cho Nguyễn Ái Quốc con đường đấu tranh giải phóng, không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn cho tất cả các dân tộc còn đang bị áp bức. Luận cương của V.I.Lênin chính là tia sáng đầu tiên của dòng ánh sáng đó.

Mặt trận Việt Minh – khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ

Ngay sau khi Bác về nước, ngày 19/5/1941, giữa vùng núi rừng Pắc Bó, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời giữa lúc nhân dân Việt Nam đang rên xiết trong cảnh một cổ hai tròng, vận mệnh dân tộc đang trong cảnh nước sôi lửa nóng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác, Tuyên Quang năm 1951. Ảnh tư liệu: TTXVN

Với một quyết tâm được xác định rõ trong chương trình của mình “làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”, Mặt trận Việt Minh đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Các tầng lớp quần chúng đông đảo được tổ chức trong những Hội cứu quốc là thành viên của Mặt trận Việt Minh: Nông dân cứu quốc; Công nhân cứu quốc; Thanh niên cứu quốc; Phụ nữ cứu quốc; Phụ lão cứu quốc; Văn hóa cứu quốc… đã làm cho Mặt trận ngày càng phát triển rộng rãi. Sự phát triển của các tổ chức cứu quốc lan rộng trên khắp các địa bàn nông thôn, thành thị, miền núi, từ Bắc vào Nam, đã làm thành một Phong trào Việt Minh sôi nổi, tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trong phong trào cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa.

Mặt trận Việt Minh chính là sợi dây nối liền chặt chẽ Dân – Đảng, Đảng – Dân, để ý Đảng thấm tới lòng dân, tạo ra khả năng cho Đảng có thể phát động một cuộc Tổng khởi nghĩa toàn dân trên địa bàn cả nước.

Thông qua Mặt trận Việt Minh, Đảng ta đã xây dựng được một khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ, được rèn luyện qua những phong trào cách mạng. Cũng do sự phát triển rộng khắp của phong trào Việt Minh, Đảng đã có điều kiện để duy trì các đội du kích, xây dựng những khu căn cứ địa cách mạng, hình thành lực lượng vũ trang cách mạng.

Tại Việt Bắc, trong cao trào tiến tới Tổng khởi nghĩa, đã xuất hiện những xã hoàn toàn, châu hoàn toàn. Tại những nơi đó, Việt Minh nắm chính quyền, bước đầu thử nghiệm mô hình chính quyền nhân dân, xây dựng cuộc sống mới.

Mặt trận Việt Minh ra đời là sự kế tục sự nghiệp đấu tranh của các tổ chức mặt trận đã được Đảng ta tổ chức trước đó: Hội phản đế đồng minh (11/1930); Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (7/1936); Mặt trận Dân chủ Đông Dương (3/1938); Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11/1939).

Mặt trận Việt Minh ra đời là kết quả của quá trình vận động cách mạng, là sản phẩm của sự điều chỉnh chiến lược cách mạng Việt Nam đúng đắn sáng suốt của Đảng ta từ Hội nghị Trung ương 6 (11/1939) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì và sau đó được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh hoàn thiện tại Hội nghị trung ương 8 (5/1941).

Mặt trận Việt Minh còn là sự hiện thực hóa kết quả thắng lợi của sự phát triển đường lối, chủ trương chiến lược đoàn kết dân tộc, tập hợp đoàn kết quần chúng trong một tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất, đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa cách mạng đến thắng lợi.

Sự thành lập và hoạt động của Việt Minh đã trở thành nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Sự ra đời và hoạt động của Mặt trận Việt Minh là kết quả của một tư tưởng cách mạng khoa học, sáng tạo. Đây cũng là một bài học thành công của Đảng ta và Hồ Chí Minh về công tác mặt trận và chiến lược đoàn kết dân tộc trong Cách mạng Việt Nam.

Trong suốt một thập kỷ, mọi thắng lợi của dân tộc, nhân dân ta đều gắn với hai chữ Việt Minh. Đồng chí Hoàng Quốc Việt trong tập hồi ký “Ánh sáng mới từ Pắc Bó – Đầu nguồn” viết: “Hai chữ Việt Minh trong một thời kỳ dài làm nức lòng đồng bào cả nước. Hai chữ Việt Minh còn mãi trong lịch sử chói lọi nét vàng son”.

Bạo lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng, giành chính quyền và bảo vệ chính quyền

Từ những chặng đầu tiên trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại của mình, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ con đường tiến lên của Cách mạng Việt Nam là con đường bạo lực cách mạng vô sản. Bởi, độc lập tự do không thể cầu xin mà có… Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cần phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. Quan điểm đó xuyên suốt trong cả quá trình Hồ Chí Minh lãnh đạo Cách mạng Việt Nam.

Hội nghị Trung ương lần thứ 8 cũng là mốc lịch sử đánh dấu bước phát triển hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh về vũ trang khởi nghĩa ở Việt Nam. Đó là cuộc khởi nghĩa vũ trang giành độc lập dân tộc do toàn thể dân tộc tiến hành “Đó là một cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự”.

Phương thức tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa đã được Hồ Chí Minh nêu lên từ sớm: “Ở các nước Âu Mỹ, cuộc khởi nghĩa thường bắt đầu từ các cuộc đấu tranh chính trị rồi mới tiếp đến các cuộc vũ trang bạo động. Ở Đông Dương ta, khởi nghĩa có thể bùng ra ở một vài nơi rồi lan dần khắp nước. Khởi nghĩa có thể bùng ra ở nơi nhiều núi rừng tiện cho việc đánh du kích”.

Sau khi Bác về nước, trong những năm 1941 – 1944, những đội du kích, đội tự vệ được xây dựng ở nhiều xã, nhiều huyện thuộc tỉnh Cao Bằng. Những trung đội cứu quốc quân 1, 2, 3 – lực lượng vũ trang cách mạng được duy trì sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tiếp tục được củng cố. Đây là lực lượng nòng cốt hỗ trợ cho phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng đang dâng cao, đặc biệt trong các tỉnh thuộc khu giải phóng Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên.

Trong khí thế đang lên của phong trào cách mạng, tháng 5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị: “Về sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 10/1944, Trung ương Đảng lại ra lời kêu gọi: “Sắm vũ khí đuổi thù chung”. Các địa phương ra sức củng cố xây dựng lực lượng vũ trang, tìm kiếm vũ khí, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền… Phong trào chuẩn bị khởi nghĩa sôi nổi lan rộng.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những bước phát triển của lực lượng vũ trang và việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa phải phù hợp với sự phát triển của tình thế cách mạng. Vấn đề quan trọng nhất là phải có đường lối chiến lược và sách lược cách mạng đúng đắn, phải chuẩn bị lực lượng đầy đủ, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, để khi thời cơ đến có thể nhanh chóng huy động lực lượng chớp thời cơ giành thắng lợi.

Đến tháng 7/1945, phát xít Đức, Italia đã bại trận trên chiến trường châu Âu, ở châu Á, phát xít Nhật đang trên đường thất bại và sụp đổ. Dù đang ốm nặng giữa rừng Tân Trào, Hồ Chí Minh vẫn chỉ thị cho các đồng chí: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa phát triển phong trào quần chúng, xây dựng căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị lực lượng chính trị và nhạy bén chớp thời cơ phát động toàn dân đứng dậy tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Mở cửa để Cách mạng Việt Nam thành một phần của cách mạng thế giới

Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo Cách mạng Việt Nam cũng mang về những nhận định mới về tình hình thế giới và đề ra sách lược đối ngoại cho Cách mạng Việt Nam.

Là chiến sĩ cách mạng có kinh nghiệm hoạt động quốc tế lâu năm, luôn luôn theo dõi sát những diễn biến của tình hình, Nguyễn Ái Quốc có những nhận định quan trọng về tình hình thế giới cũng như đề ra những quyết sách cho Cách mạng Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh Thế giới thứ II đang lan rộng.

“Cuộc chiến tranh này gây ra nhiều tai họa cho nhân loại nhưng nó sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, do đó mà cách mạng nhiều nước sẽ thành công”, Nguyễn Ái Quốc nhận định, khi các kẻ thù của dân tộc lao vào cuộc chiến tranh sẽ tạo những cơ hội quý báu cho công cuộc giải phóng của nhân dân Việt Nam.

Người cũng truyền đạt và bồi dưỡng những nhận thức về tình hình quốc tế cho nhiều cán bộ trong các lớp bồi dưỡng chính trị cấp tốc, truyền cho họ sự tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng Việt Nam, thắng lợi của cách mạng các nước thuộc địa và cách mạng thế giới nói chung.

Bến Nhà Rồng TP Hồ Chí Minh, nơi cách đây tròn 100 năm, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: Thanh Vũ-TTXVN

Nguyễn Ái Quốc đã đặt Cách mạng Việt Nam trong bối cảnh chung của cuộc đấu tranh của toàn nhân loại chống chủ nghĩa phát xít. Nguyễn Ái Quốc tìm cách đặt mối liên hệ với đồng minh cho Cách mạng Việt Nam, để cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam hòa nhập trong cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại.

Người cũng là đầu mối trực tíếp trong nhiều mối quan hệ với các nước đồng minh, để Cách mạng Việt Nam có cơ hội nhận được những sự giúp đỡ trực tiếp bằng vật chất cho cuộc kháng Nhật cứu nước nhưng điều quan trọng hơn là tạo ra những tiền đề cho việc xác lập vị thế của nước Việt Nam độc lập trên trường quốc tế sau này.

Hồ Chí Minh đã thiết lập được những mối quan hệ với các lực lượng chống Nhật ở Trùng Khánh, với các cơ quan quân sự và tình báo Mỹ ở Côn Minh… Các đội du kích cách mạng ở Cao Bằng cũng đã nhận được những sự hỗ trợ về vũ khí, về phương tiện thông tin liên lạc và sự huấn luyện của một số chuyên gia quân sự đồng minh.

Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến việc mở rộng cánh cửa để Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, để cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và những giá trị nhân đạo.

*  *  *

Nhiều nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã thống nhất trong nhận định rằng: Hồ Chí Minh là một lãnh tụ luôn xuất hiện đúng lúc tại những thời điểm lịch sử mang tính bước ngoặt. Sự kiện Người trở về Việt Nam trực tiếp lãnh đạo cách mạng vào mùa xuân năm 1941, sau những năm dài tìm đường cứu nước, cũng là một sự kiện như vậy.

Ngô Vương Anh

baotintuc.vn