Tag Archive | Bác Hồ

Tấm lòng của Bác Hồ với đồng bào công giáo

Bác Hồ luôn quan tâm đến mọi người và thường xuyên vun đắp cho khối đại đòan kết tòan dân tộc. Đồng bào công giáo là một bộ phận trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đã được Bác Hồ dành cho những tình cảm, sự quan tâm sâu sắc và sự động viên kịp thời, cụ thể.

Bác Hồ nói chuyện với đồng bào Công giáo Thạch Bích

Ngay từ những ngày sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, trong hòan cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, với bao công việc bộn bề phải giải quyết, nhưng mỗi dịp Nô-en, Bác đều dành thời gian viết thư gửi cho đồng bào công giáo cả nước.

Trong thư gửi các linh mục và đồng bào công giáo ngày Nô-en đầu tiên sau cách mạng thành công (1946) Bác Hồ viết: “Trong lịch sử Việt Nam lần này là lần đầu tiên đồng bào công giáo ta làm lễ Thiên chúa giáng sinh một cách hoàn toàn vui vẻ trong một nước Việt Nam độc lập.

Tôi chắc chắn rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của các vị giáo mục Việt Nam , đồng bào công giáo sẽ cùng tòan thể đồng bào trong nước cương quyết chiến đấu để giữ vững quyền tự do, độc lập cho Tổ quốc”.

Niềm tin đó của Bác Hồ đã được các giáo dân, các vị linh mục, giám mục trên khắp mọi niềm từ Bắc đến Nam đáp lại với những việc làm cụ thể, thiết thực bằng tấm lòng “kính chúa, yêu nước” của mình. Nhiều linh mục đã hăng hái tham gia đóng góp sức mình vào cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi năm 1954. Trong đó, có những người đã được Bác Hồ nêu gương, khen thưởng. Chẳng hạn như anh Vũ Hạnh, một thanh niên công giáo ở Hải Phòng đã mưu trí, dũng cảm lập được thành tích trong kháng chiến và sau đó được cử làm tỉnh đội Hải Kiến (Hải Phòng – Kiến An). Hay như Linh mục Lê Văn Yên ở tỉnh Bắc Ninh đã nêu cao tinh thần gương mẫu, chăm lo xây dựng khối đại đòan kết dân tộc đã được Bác viết thư khen ngợi. Trong thư có đoạn: “Tôi rất vui là được Ủy ban kháng chiến khu III báo cáo rằng ngòai sự làm tròn nhiệm vụ một ủy viên trong Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bắc Ninh, ngài đã luôn luôn ra sức củng cố tinh thần đại đòan kết giữa đồng bào lương và giáo. Ngài luôn luôn tận tâm săn sóc anh em thương binh. Ngài lại không nhận lương phụ cấp. Như thế là ngài đã nêu cao cái gương cần, kiệm, liêm, chính cho mọi người…

Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ khen ngợi ngài. Tôi chắc rằng với những người đại biểu hy sinh kiên nhẫn như ngài thì trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập nhất định thành công”.

Sau kháng chiến thắng lợi, miền Bắc hòan toàn giải phóng, Bác Hồ và Trung ương Đảng, Chính phủ về làm việc ở Hà Nội. Mỗi lần có đòan đại biểu các đòan thể, tôn giáo, các địa phương về Hà Nội họp, Bác Hồ đều giành thời gian gặp gỡ, hỏi thăm tình hình mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần, tín ngưỡng của đồng bào các tôn giáo. Bác còn giành thời gian đến thăm hỏi các linh mục, giáo dân ở nhiều nơi như Ninh Bình , Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tây…

Bác rất vui khi thấy đồng bào lương giáo đoàn kết cùng nhau lao động, sản xuất chăm lo xây dựng cuộc sống mới, thấy con em giáo dân được cắp sách đến trường, bà con giáo dân được chính quyền tạo điều kiện để cải thiện đời sống và bảo đảm tự do tín ngưỡng. Năm 1964, Bác Hồ trong thư gửi hội nghị đại biểu công giáo yêu nước đã viết: “Tôi rất vui lòng thấy đồng bào công giáo các giới hăng hái tham gia mọi công việc xây dựng Tổ quốc. Các cháu công giáo đi học ngày càng đông và tiến bộ. Con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hòan toàn đúng. Tôi mong các cụ phụ lão, các vị giám mục, các linh mục khuyến khích tín đồ trong mọi công việc ích nước lợi dân”.

Bác Hồ rất đau lòng khi được biết có những kẻ lợi dụng tự do tín ngưỡng của Nhà nước ta để chống phá cách mạng, chia rẽ khối đoàn kết lương giáo, làm ảnh hưởng đến lòng yêu nước, kính chúa của giáo dân nước ta. Bác rất căm giận khi được tin kẻ thù xâm phạm tự do tín ngưỡng của đồng bào công giáo, bắn phá nhà thờ ở các nơi như: Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh , Nam Định… và giết hại bà con giáo dân.

Trong một bức thư gửi đồng bào công giáo dịp Nô-en Bác Hồ viết: “Chúng ta ăn tết Nô-en trong sự đau thương vì giặc Pháp tấn công Phát Diệm đã xâm phạm đến đất thánh ta, vì đồng bào công giáo Phát Diệm, Bùi Chu và nhiều nơi khác đang đau khổ dưới gót sắt của giặc Pháp dã man.

Vậy trong tết Nô-en này, chúng ta phải nhớ đến đồng bào trong những nơi ấy. Chúng ta phải đòan kết hơn nữa, kiên quyết hơn nữa để giải phóng đất Thánh của chúng ta và giải phóng tất cả đất nước của chúng ta”.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam , được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta, đồng bào công giáo đã tích cực tham gia cùng đồng bào cả nước làm nên những thành tựu to lớn và những thắng lợi vẻ vang. Nhiều tấm gương của các cá nhân, tập thể địa phương, thuộc nhiều thành phần, lứa tuổi khác nhau trong đồng bào giáo dân đã xuất hiện và được giới thiệu tên các sách, báo. Bác Hồ luôn theo dõi sát sao những thành tích của mỗi người và Bác đã kịp thời biểu dương, khen thưởng tặng huy hiệu cho bà con. Chẳng hạn như cụ Nguyễn Hữu Tiến, 61 tuổi, giáo dân ở xã Ngọc Liễu, huyện Hiệp Hòa, Hà Bắc, hay như mẹ Hoạch – người công giáo ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, chị Thường, giáo dân ở Hợp tác xã Minh Khai, tỉnh Thanh Hóa, ông Vinh – giáo dân ở xã Quảng Phú, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Kể cả tấm gương của cụ Hộ ở vùng họ đạo sông Cấm (Nghệ An) thay chồng chở bộ đội qua sông giữa lúc máy bay Mỹ đánh phá; chị Vũ Thị Mến, 19 tuổi giáo dân ở Yên Văn, Ninh Bình cõng học sinh đến lớp học trong hòan cảnh chiến tranh ác liệt cũng đã được Bác Hồ quan tâm và gửi tặng huy hiệu của Người.

Những ngày tháng trước lúc “đi xa”, Bác Hồ vẫn dành thời gian đọc báo “Chính nghĩa” – một tờ báo của đồng bào công giáo để biết những việc làm và thành tích cũng như đời sống của giáo dân ở khắp mọi miền. Những bài viết về thành tích như chị Trần Thị Khoa ở Hưng Nhân (Thái Bình), gia đình cụ Vũ Thế Kỷ ở Hải Thịnh, Hà Nam, hay vợ chồng giáo dân Trần Văn Đức làm việc ở bệnh viện Phát Diệm (Ninh Bình)… đều đã được Bác Hồ đánh dấu đề nghị thưởng huy hiệu của Người.

Có thể nói tình cảm và sự quan tâm của Bác Hồ đối với những người có đạo nói chung, đồng bào công giáo nói riêng rất to lớn. Đó cũng là sự thể hiện cụ thể, nhất quán chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta từ trước đến nay./.

Quảng Thành Danh
danang.gov.vn

Những giờ phút cuối đời của Bác Hồ

Suốt 45 năm say mê theo đuổi sự nghiệp điện ảnh, hai tác phẩm mà đạo diễn Phạm Quốc Vinh mãn nguyện nhất và mãi mãi không thể quên là “Những giờ phút cuối đời Bác Hồ” và “Bác đi chiến dịch”.

Năm 1989, khi UNESCO chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới, ông Vinh đang chuẩn bị nghỉ hưu thì được Điện ảnh Quân đội và Bảo tàng Hồ Chí Minh giao một trách nhiệm trọng đại trong đời làm điện ảnh: Hoàn thành bộ phim về những giây phút cuối cùng của Bác Hồ ở thời điểm sau 20 năm kể từ ngày Bác ra đi.

Suốt 20 năm trước đó, những thước phim tư liệu do 2 nhà quay phim quân đội Nguyễn Thanh Xuân và Trần Anh Trà thực hiện về những ngày cuối cùng của Bác cho đến khi các chuyên gia Liên Xô (cũ) thực hiện kỹ thuật gìn giữ, bảo quản thi thể của Người đã được cất giữ, bảo quản cẩn mật, và lúc này cần phải dựng lại thành phim hoàn chỉnh để lần đầu tiên công bố trước nhân dân.

Trước khi bắt tay làm phim, ông Vinh đã tìm gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Vũ Kỳ – Thư ký của Bác, để tìm thêm tư liệu cần thiết. Và từng dòng ký ức dần hiện ra…

Bác bắt đầu lâm bệnh ngày 12/8/1969. Hôm ấy, trời Hà Nội đã vào thu, se lạnh. Hay tin phái đoàn nước ta từ cuộc đàm phán Paris về, Bác chủ động đến thăm, làm việc.

Đến ngày 28/8, sức khỏe của Bác bắt đầu suy giảm nghiêm trọng, từ nhà sàn Người phải chuyển xuống tầng trệt. Tuy vậy Người vẫn không ngừng lo toan cho vận mệnh quốc gia, cho cuộc sống của nhân dân…

Đương khi nước sông Hồng dâng cao, sợ cơn lũ có đột biến, các đồng chí gần gũi chăm sóc ngỏ ý muốn đưa Bác tới nơi an toàn, nhưng Bác nói: “Tôi không thể xa dân”.

Các vị lãnh đạo Đảng lúc ấy hằng ngày túc trực bên giường Bác. Đại tướng Võ Nguyên Giáp mỗi ngày vào thăm Bác ba lần. Trong cuốn sổ tay, đại tướng ghi rõ từng ngày:

– 24/8/1969 trở đi Bác mệt nặng.

– 26/8/1969: Khi vào thăm, giơ tay chào, Bác chào lại rồi bảo: “Chú về nghỉ”.

– 28/8/1969: Buổi chiều Bác hỏi việc chuẩn bị Quốc khánh 2/9 và dặn đồng chí Phạm Văn Đồng tổ chức lễ kỷ niệm cho thật vui, thật tốt. Tối có bắn pháo hoa nữa.

Dù cuộc sống chỉ còn gang tấc, Bác vẫn muốn ra dự lễ để gặp đồng bào năm, mười phút.

Bác đã trao đổi với đồng chí Lê Văn Lương và đồng chí Vũ Kỳ rất cụ thể: “Bác sẽ buộc khăn che cổ, Bác ra ngồi sẵn trong đoàn chủ tịch rồi mới kéo màn che của hội trường và bắt đầu cuộc mittinh. Bác sẽ nói sao cho đồng bào không biết là Bác đau”.

Thế nhưng, trên lễ đài kỷ niệm Quốc khánh ngày 2/9/1969 Người đã không thể có mặt! Bác Hồ đã trút hơi thở cuối cùng lúc 9 giờ 47 ngày 2/9/1969, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho tất cả nhân dân VN đến tận hôm nay.

Đến sáng 1/9/1969, Bác đã rất mệt. Phải đến 16 giờ cùng ngày 2 quay phim Nguyễn Thanh Xuân, Trần Anh Trà mới lần đầu tiên được vào hẳn phòng bệnh để ghi hình Bác trong những giờ phút cuối cùng quanh sự vây bọc, canh nom, lặng im, thương xót, cảm động của các vị lãnh đạo trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương…

Cho đến sáng 2/9/1969, khi tất cả các đồng chí cách mạng, học trò, người thân cận… sờ lên ngực, lên trán Bác và… cùng bật khóc!

Đạo diễn Phạm Quốc Vinh.
Ông Vinh kể lại: “Thanh Xuân giơ máy lên mà nước mắt cứ giàn giụa làm ướt cả thước ngắm của máy quay. Trong giây phút đó anh ấy chỉ còn biết để ống kính góc rộng và cứ thế giơ lên bấm máy”.

Tất cả đã lùi xa 20 năm nhưng ông Vinh vẫn ngỡ như giây phút lịch sử ấy mới vừa xảy ra hôm qua. Trong vai trò một đạo diễn, ông cùng các đồng sự phải chọn lọc những tư liệu, cảnh quay súc tích, đắt giá nhất của 2 nhà quay phim Thanh Xuân, Anh Trà và của chính ông quay được hình ảnh Bác trong những năm trước đó để làm một bộ phim để đời.

Từ những tư liệu cũ, ông Vinh thổi vào sự sáng tạo và với niềm rung cảm chân thành trong tim ông.

Với những cảnh Bác nằm bên dưới ngôi nhà sàn, đôi mắt nhìn đăm đăm ra xa, khi miền Bắc đương mùa nước lụt, ông Vinh liên tưởng ngay những thước phim tư liệu cũ ông quay những năm trước khi Bác còn khỏe, trong cảnh nước lụt mênh mang Người xắn quần, chân thấp chân cao bước lên cầu Long Biên để cùng bà con chống lụt.

Rồi ông chợt nghĩ đến những gì đã mãi mãi trở thành lần cuối cùng của đời Bác: bài viết cuối cùng về “người tốt việc tốt” Bác còn để lại, cây đa cuối cùng Bác trồng ở xã Vật Lại (Ba Vì, Hà Tây), buổi sinh hoạt vui cuối cùng với các cháu thiếu nhi… Cảnh ngôi nhà sàn đã buông rèm, căn phòng với giường chiếu đơn sơ của Người giờ trở nên trống lạnh với những kỷ vật nằm im, lưu giữ lại một phần lịch sử…

Kết thúc phim, ông Vinh muốn nhấn mạnh sự sống mãi của Hồ Chủ tịch trong lòng nhân dân VN bằng hình ảnh cuộc sống bình dị, thường ngày của Bác quanh ngôi nhà sàn thân yêu khi bài hát Bác Hồ, một tình yêu bao la cất lên.

“Những giờ phút cuối đời Bác Hồ” của đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã được Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trực tiếp duyệt ngày 17/4/1989; sau đó phim được tặng các bạn bè quốc tế và từ đó đến nay được chiếu thường xuyên tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Thủ đô.

Năm 1990, chỉ với hơn 20 bức ảnh tư liệu của nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp tại chiến dịch biên giới năm 1950 cộng với một vài cảnh tài liệu do Phan Nghiêm quay được cùng năm đó, đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã sử dụng lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để dựng nên những cảnh phim rất sinh động trong Bác Hồ đi chiến dịch Biên giới.

Một số nhà phê bình đánh giá đây là bộ phim tài liệu vào loại đặc biệt nhất trong các phim tài liệu VN do đạo diễn đã tìm được cách làm phim rất sáng tạo trong bối cảnh nguồn tư liệu có được quá ít ỏi.

Từ năm 1960 đến nay, đạo diễn Phạm Quốc Vinh đã thực hiện tổng cộng 101 bộ phim, trong đó có 71 phim nhựa 35mm; năm phim nhựa 16mm.

Những tác phẩm mà ông trong vai trò biên kịch và đạo diễn đến nay vẫn còn nguyên giá trị như: Tiếng hát những người chiến thắng (1974), Ngọn cờ chiến thắng, Phía nam sông Hậu (1975), Chiến thắng Tà Xanh (1979), Lính Mỹ lại đến Hà Nội (1989), Bác nhớ miền Nam (1992), Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1993), Chiếu văn chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2004)…

Hiện đã ở tuổi 79, nhưng ông vẫn còn hợp tác với Điện ảnh Quân đội làm phim tài liệu về đề tài chiến tranh cách mạng…

Những cuốn phim tư liệu nay xếp chật trong ngôi nhà đạm bạc của ông ở phố Đội Cấn (Ba Đình, Hà Nội) và được bảo quản bằng cách cứ 2 – 3 tháng lại một lần rang gạo bỏ vào các túi để chống ẩm!

Theo Đoài Sơn
Tuổi trẻ Chủ nhật
dantri.com.vn

Gặp em bé được Bác Hồ đặt tên

Ảnh minh họa

(Dân trí) – Sinh thời Bác Hồ luôn dành tình cảm đặc biệt cho các cháu thiếu nhi. Có một em bé may mắn được Người đặt tên nay đã là Phó phòng quan hệ Quốc tế – Trường ĐH Xây Dựng Hà Nội.

Nhà văn Đào Vũ (tác giả “Cái sân gạch”, “Vụ lúa chiêm” được giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật) sinh con gái đầu lòng năm 1958, nhưng chưa biết đặt tên con là gì. Mấy hôm sau, nhà văn chợt loé lên rồi bàn với vợ: Xin Bác Hồ đặt tên cho con. Nghĩ là làm, ông bèn viết thư gửi Bác. Thư gửi đi rồi vợ chồng nhà văn hồi hộp chờ đợi.

Họ không ngờ rằng, tuy bận trăm công nghìn việc, nhưng ngay hôm sau người cần vụ của Bác đã chuyển đến gia đình một bức thư, ngoài phong bì ghi rõ “đưa đến tận nhà”. Vợ chồng nhà văn rưng rưng xúc động đọc thư Bác. Trong thư có đoạn: Cả nước đang chuyên tâm tăng gia sản xuất và thực hiện tiết kiệm, bác đặt tên cho cháu là Tăng Kiệm – Đào Tăng Kiệm.

Để cảm ơn tấm thịnh tình của Bác Hồ, nhà thơ đã viết bài thơ “Bác đặt tên cho cháu là Tăng Kiệm”: “…Chính người đã âu lo suốt đời cho núi sông. Hai vai người gánh giang sơn trời biển. Người vẫn còn chăm chút từng cháu sơ sinh… Xin Bác an tâm. Nôi cháu đã buông mùng.”

Bé Tăng Kiệm hay ăn chóng lớn, và rất ngoan. Năm học lớp 1, Kiệm viết thư báo cáo với Bác về thành tích học tập, hứa sẽ học thật giỏi để xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ. Hình ảnh Bác luôn hiện lên trong giấc mơ của Tăng Kiệm, bé mơ ước sẽ có ngày được gặp Bác.

Ngày 1/6/1969, Kiệm cùng các Bạn học sinh vinh dự được gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. May mắn, em được xếp ngồi ngay sau Bác. Kiệm rất muốn khoe với Bác: “Cháu là Đào Tăng Kiệm. Tên cháu chính là do Bác đặt cho đấy ạ”. Miệng mấp máy nhưng không sao thốt lên được. Khi tất cả các bạn hát bài “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên, nhi đồng” của nhạc sĩ Phong Nhã, mắt Kiệm long lanh, ao ước được xà vào lòng Bác. Cái khoảng khắc ấy đến nhưng Kiệm không sao nói được nên lời để rồi Bác chỉ còn trong tâm tưởng mình.

Ngày muôn triệu người tiễn biệt vị cha già kính yêu của dân tộc, hai chị em Kiệm được bố đưa vào viếng Bác. Trước anh linh Người, Tăng Kiệm nguyện sẽ học thật giỏi để góp sức nhỏ của mình đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc trên thế giới như niềm mong mỏi của Bác.

7 năm học piano ở trường Âm nhạc Việt Nam, cùng lớp với nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn, tưởng chừng tiếng đàn hút hồn cô bé sải chân bước vào con đường nghệ thuật của gia đình. Nhưng Kiệm tự thấy âm nhạc không phải là con đường đi của đời mình. Kiệm đã rời Nhạc viện để theo nghề xây dựng. Tại thời điểm đó, đây là một quyết định táo bạo với phận nữ nhi. Sau khi tốt nghiệp, cô đã được nhà trường giữ lại làm giảng viên.

Ở đó cô được phân công giảng dạy bộ môn tin học – ngành còn khá mới khi ấy ở Việt Nam. Cùng đồng nghiệp, cô đã xóa mù tin học cho nhiều thế hệ sinh viên, viết giáo trình và đi dạy ở các công ty xây dựng…

Hiện nay, cô là Phó phòng đối ngoại trường ĐH Xây Dựng. Cô hồ hởi khoe mới đưa về cho trường 3 dự án do EU tài trợ, mỗi dự án trị giá khoảng 300.000 euro. Dự án được thực hiện với hi vọng đưa Đại học xây dựng Việt Nam đứng đầu khu vực Đông Nam Á về lĩnh vực công nghệ thông tin.

Trần Gia Bảo
dantri.com.vn

Người đúc tượng Bác Hồ nhiều nhất Việt Nam

(Dân trí) – Dân trong làng Ngũ Xã, Ba Đình (Hà Nội), nói nhiều đến ông Nguyễn Văn Ứng vì cái tài đúc tượng danh nhân bằng đồng, đặc biệt là tượng Bác Hồ. Ông đã táo bạo giữ lửa cho làng nghề ấy bằng cách thế chấp nhà để lấy tiền đầu tư vào việc đúc các sản phẩm bằng đồng.

Vực dậy một làng nghề

Nghề đúc đồng làng Ngũ Xã đã có từ hơn bốn trăm năm về trước (ngày 1/11 âm lịch hàng năm là ngày giỗ tổ của làng). Ông tổ nghề đúc đồng là Quốc sư Nguyễn Minh Không, do tài cao đức trọng, giỏi về đúc đồng và tinh thông nghề thuốc để cứu dân độ thế nên đã được vua Lý Thái Tổ phong là Lý Triều Quốc Sư.

Thời gian qua đi cùng với bao thăng trầm biến cố, làng Ngũ Xã đã ít dần đi những người đúc đồng. Ngày nay, chỉ còn lại vài hộ giữ nghề bằng cách đúc những đồ thờ cúng như tượng phật, chuông, lư hương, đỉnh, nến, lọ… sự mai một ấy như một tổn thất lớn của làng những năm gần đây. Ông Ứng lớn lên đã nghe ông bà cha mẹ kể về nghề. Thời gian qua đi cùng với bao binh biến loạn lạc nhưng cái nghề ấy đã thấm vào ông lúc nào không hay và ông chỉ biết đón nhận nó như một cơ duyên vậy.

Còn nhớ năm 1968 khi trận Mậu Thân đang diễn ra ác liệt, những lúc tạm ngưng tiếng súng, anh bộ đội Nguyễn Văn Ứng lại nhớ về Hà Nội, nhớ về cái nghề đúc đồng truyền thống của làng mình. Anh mang chuyện ấy kể cho các bạn cùng nghe một cách rành rọt, có đồng đội thấy thú vị liền nói vui rằng bao giờ đất nước thống nhất cho mình về Hà Nội học nghề này nhé. Sau khi rời quân ngũ ông trở về làng với mong muốn bằng chính đôi tay của mình sẽ tạo ra những sản phẩm có giá trị đích thực.

Ông vào nghề với hai bàn tay trắng, khó khăn cứ thế nối tiếp nhau, ông phải quay sang đúc nhôm để lấy vài chục ngàn nuôi gia đình sống qua ngày. Mặt bằng nhà xưởng chỉ có 40m2. Nhưng rồi trong cái khó ló cái khôn, ông đã tính chuyện “giật gấu vá vai” bằng cách nhận những hợp đồng nhỏ như đúc lư hương, tiền đồng, đỉnh đồng, tượng Phật cỡ nhỏ… lấy tiền trang trải trước mắt, bên cạnh đó ông có thời gian đào tạo đội ngũ thợ trở thành những đôi tay tài hoa sau này. Đó là công tác chuẩn bị cho một kế hoạch lâu dài.

Ông mạnh dạn tham gia các triển lãm, hội thảo… để giới thiệu các tác phẩm của mình. Minh chứng cho thành công đó là việc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tặng giải thưởng “kỹ năng thủ công tinh xảo” với tác phẩm lọ củ tỏi đúc đồng khảm tam khí do cơ sở đúc đồng Hoa Mai của ông làm. Như được tiếp thêm sức mạnh, lần lượt những tác phẩm quy mô ra đời tại xưởng của ông. Số tiền vay được do thế chấp nhà, ông đầu tư thêm vào việc thuê 1000m2 đất ở Yên Phụ, Tây Hồ, đầu tư máy mài, máy tiện, xây lò nung, mua vật liệu… và bắt đầu nhận những hợp đồng lớn với trị giá hàng trăm triệu đồng.

Cái thần, cái hồn ở mỗi chi tiết

Ông lẳng lặng bước về phía những người thợ đang hoàn thiện những pho tượng Bác Hồ với vẻ mặt không hài lòng khi thấy thợ hơi mạnh tay ở chi tiết chòm râu. Đối với những bức tượng danh nhân mà đặc biệt là tượng Bác Hồ thì không được cẩu thả, phân tán tư tưởng. Cần phải tập trung cao độ, sao cho phải toát lên vẻ uy nghi, phong thái mà lại gần gũi từ chòm râu, ánh mắt. Mẫu mang đến mà xấu thì ông không làm dẫu công có cao đến mấy. Cẩu thả, ẩu là mang tiếng cả đời.

Nghề này làm hết đời cũng không thấy mình giỏi, có thợ theo nhà ông làm nghề gần 20 năm vậy mà cũng đành giải nghệ. Còn Long, người con nuôi của ông thì từng nghiện ma tuý, đến với ông đã cai nghiện thành công, giờ đây Long trở thành thợ giỏi.

Khi nhận được yêu cầu đúc tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh cao 1,7m lần đầu tiên dát vàng để Đảng bộ và nhân dân Thủ đô kính dâng lên kỳ đại hội Đảng ông vừa thấy vinh dự vừa lo lắng nhiều, đêm nhưng cuối cùng đã hoàn thành tốt đẹp. Năm 2003, tiếp tục hoàn thành và kính dâng tượng Bác tại Khu di tích lịch sử Ba Đình. Năm 2004, Ban Giám đốc khu di tích tiếp tục đặt hàng 200 pho tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh để kính biếu các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các vị khách quốc tế nhân dịp 35 năm ngày Bác đi xa… Ông không nhớ nổi mình đã đúc bao nhiêu tượng Bác Hồ nữa, chỉ biết rằng nhiều lắm nhưng lần nào đúc ông cũng thấy niềm vinh dự và cứ hồi hộp như mình đúc pho tượng đầu tiên.

Cơ sở của ông vừa hoàn thiện 2 đơn hàng của chùa Đông và chùa Phố tỉnh Hưng Yên, tác phẩm tượng Phật có khối lượng 2 tấn với giá 300 triệu đồng. Trong năm nay, ông đã mang hai quả chuông nặng 30kg/quả sang Australia để trưng bày, mọi người kể cả người Việt định cư tại đây cũng lấy làm thích thú gửi thư về khen ông và mong muốn được mua những chiếc chuông đó làm quà tặng cho các nhà chùa. “Tôi mong sản phẩm của mình ra nước ngoài, sẽ tạo đà cho làng nghề vươn vai sau kỳ nghỉ dài” – Đó là mong muốn của ông.

Tiến tới 1000 năm Thăng Long Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội đã cấp cho gia đình ông 82,4m2 đất để xây dựng phòng trưng bày các sản phẩm làng nghề. Dự kiến đầu xuân này sẽ trưng bày những sản phẩm làng nghề để giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước. Tiền thế chấp nhà ông chủ yếu dồn vào việc xây dựng phòng trưng bày. Khó khăn cũng đã qua, 15 thợ luôn có việc làm ổn định với mức lương từ 1 triệu đến 1,5 triệu đồng một tháng, tay nghề họ ngày càng vững chắc.

Nguyễn Đông Hà
dantri.com.vn

Mỗi ngày viết một câu chuyện về Người

(Dân trí) – Ở thôn Nhan Biều 3 (Triệu Thượng, TriệuPhong, Quảng Trị) có một ông đại tá già ngày nào cũng đọc một câu chuyện, viết một bài viết về Bác Hồ. Tài sản vô giá của ông hiện là cuốn sách dày 200 trang dày đặc những câu chuyện về vị Cha già của dân tộc.

Ông đại tá già đó là ông Nguyễn Đức Vũ, 85 tuổi, người được người dân Nhan Biều coi là “cuốn sách sống về Bác Hồ”.

Ban thờ Bác được ông Vũ lập trang trọng trong một căn phòng riêng.

Bốn mươi năm khôn nguôi nhớ Bác

Bốn mươi năm trước, ngày Bác mất, triệu triệu người Việt Nam đã khóc, đã đau nỗi đau của dân tộc. Ngày đó, có một người lính đặc công cũng òa khóc nức nở như mất đi một người thân ruột thịt. Người lính đặc công ấy là ông Nguyễn Đức Vũ, người ôm nỗi nhớ khôn nguôi về Bác từ đó đến nay.

Vốn là bộ đội trinh sát, rồi được chọn vào đội ngũ của binh chủng đặc công, ông Vũ đã đi qua hai cuộc chiến ác liệt nhất của đất nước, dân tộc. Quãng đời lính xem cái chết nhẹ tựa lông hồng của ông Vũ đầy những chiến tích hào hùng, oai lẫm. Nhưng niềm tự hào lớn nhất của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Đức Vũ chính là hai lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Kỷ niệm quý giá ấy đã ăn sâu vào máu thịt, tuôn chảy trong từng mạch máu luân chuyển khắp cơ thể, chảy tràn qua tim ông Vũ.

“Đời lính của tôi vào sống ra chết, trở về với hai bàn tay trắng và một khối tài sản vô hình, vô giá. Đó chính là hai lần tôi vinh dự được cùng anh em đồng chí trong đơn vị gặp mặt Bác Hồ, nghe Bác kể chuyện, nhìn tận mắt gương mặt, đôi mắt sáng và nụ cười hiền từ ấm áp của Bác. Tôi vẫn nhớ mãi những kỷ niệm đó” – ông Vũ xúc động kể.

Đau đáu một nỗi nhớ Bác, khắc ghi hình ảnh của Người trong tim, khi đối mặt với quân thù, người lính Nguyễn Đức Vũ luôn tự nhủ “phải chiến đấu hết mình để giữ mảnh đất mà Bác Hồ và cả dân tộc đã đổ máu để gìn giữ”. Ông đã đi qua chiến tranh với niềm tin, nhiệt huyết ấy.

Cho đến lúc về nghỉ hưu, ông Vũ vẫn không ngừng học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, giữ mãi hình ảnh Bác trong tim.

Lập bàn thờ, xây phòng thờ Bác

Lòng kính yêu đối với Bác Hồ của ông đại tá già “đặc biệt” hơn rất nhiều người. Ông dành hẳn một gian phòng để làm nơi thờ Bác Hồ, đó cũng là nơi ông đọc truyện, viết sách về Bác.

Năm 1990, ông Vũ về nghỉ hưu với quân hàm đại tá, cái biệt danh thân mật “Vũ đại tá” bắt đầu được người dân Nhan Biều tặng cho ông từ đó. Ngay sau khi về hưu, việc đầu tiên ông Vũ nghĩ đến là lập bàn thờ và xây phòng thờ Bác Hồ.

“Hồi đó, tôi mới về phải sửa sang lại căn nhà cũ nên tạm thời tôi thờ Bác chung với bàn thờ tổ tiên, cha mẹ tôi. Năm 2006, tôi mới ổn định ổn định cuộc sống và cho xây phòng thờ Bác ngay. Sau đó, tôi chuyển tấm ảnh Bác đem về từ chiến trường, phóng to lên và đặt lên bàn thờ Bác để ngày ngày tôi thắp hương riêng cho Người” – ông Vũ kể lại.

Xây xong phòng, lập xong bàn thờ Bác, ông Vũ bắt đầu đọc những câu chuyện về Bác và viết lại thành sách. Tài sản mà ông Vũ gom góp đến bây giờ là đống sách vở, tài liệu, tranh ảnh về Bác mà ông đặt mua, sưu tầm. Đặc biệt là tập sách dày 200 trang do ông viết ra. Tập sách do chính tay ông Vũ viết với những dòng chữ rất rõ ràng, rất đẹp được ông đóng bìa rất cẩn thận mà ông đang có ý định đặt tựa đề “Bốn mươi năm nhớ Bác”.

Cuốn sách vô giá của vị đại tá già.

“Tôi viết tập tài liệu này mới có mấy năm nhưng bốn mươi năm nay tôi luôn nhớ đến Người nên tôi muốn đặt tựa đề như vậy”, vị đại tá kể. Giở tập tài liệu ấy ra đọc, bất kỳ một người đọc khó tính nào cũng không khỏi ngạc nhiên, hết lời khen ngợi bởi những câu chuyện, những bài học do ông Vũ viết đều rất hay và hấp dẫn lòng người. Tập sách là tâm huyết, tình cảm quý giá của một người lính luôn hướng lòng mình theo tư tưởng của Bác, nhớ về Bác.

Căn phòng ông Vũ cho xây làm phòng thờ, đặt bàn thờ Bác rộng chừng hơn 15 mét vuông đặt một bộ bàn ghế để ông làm việc, đọc viết sách và để tiếp những ai muốn nghe ông kể chuyện về Bác. Căn phòng chỉ rộng chừng hơn 15 mét vuông. Ngay chính giữa gian nhà, ông Vũ trịnh trọng đặt tượng Bác Hồ (thay cho bức ảnh đã cũ nát), bên trên là lá cờ Tổ quốc có sao vàng năm cánh và hình ảnh búa liền cùng dòng chữ Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm. Hai bên phải trái là hai câu đối “Suốt đời hy sinh cho lý tưởng cộng sản” và “Ra sức học tâp, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Chiếc lư hương luôn đầy ắp những đuôi nhang bởi ngày nào ông cung thắp hương khấn nguyện cho Bác và được ông thay cát mỗi tháng một lần. Trong căn phòng này, rất nhiều người đã được ông Vũ kể cho nghe hàng trăm, hàng ngàn câu chuyện hấp dẫn và cảm động về Bác Hồ. Nhiều Đảng viên ở Nhan Biều đã được kết nạp tại đây, đứng đọc lời tuyên thệ dưới bàn thờ nghi ngút khói hương của Bác. Cả những cô cậu sinh viên ở Nhan Biều trước khi nhập học cũng đến đây đọc lời thề, thắp hương trước bàn thờ Bác.

Mỗi lần kỷ niệm ngày sinh hay ngày mất của Bác là ngôi nhà của ông Vũ luôn có rất đông người do ông mời đến hoặc tự đến để cùng ông tổ chức hát những bài hát, kể những câu chuyện về Bác Hồ. “Những dịp ấy, ông Vũ kể chuyện suốt ngày. Cứ nhắc đến chuyện về Bác, nói về Đảng là ông ấy nói cả ngày cũng không hết. Những lúc ấy ông vui vẻ, phấn khởi lắm chẳng thiết ăn, thiết uống gì cả chỉ nói chuyện đó cũng đủ… no rồi” -bà Lan, em gái ông Vũ kể.

Ông Vũ sẽ còn viết, còn kể mãi những câu chuyện, bài học về Bác Hồ đến khi nào không còn đủ sức nữa mới thôi. Nhưng có một điều mà ông luôn chắc chắn “Bác luôn sống mãi trong tôi, trong trái tim tôi”.

Văn Được
dantri.com.vn

Những lão nông say mê vẽ Bác Hồ

(Dân trí) – Vẽ với các ông là cái duyên, cái nghiệp; nhưng vẽ về Bác lại là nghĩa vụ, là niềm say mê, là sự thôi thúc phải làm gì đó để tỏ lòng tôn kính Bác, để thế hệ mai sau hiểu về cuộc đời cách mạng cao quý của Người…

“Vẽ về Bác là nghĩa vụ đối với tôi”

Năm nay vừa tròn 70 tuổi, ông sống “ẩn dật” trong một ngôi nhà nhỏ trên lưng chừng đồi ở xóm vắng thôn Thạch Nham Đông (xã Hòa Nhơn, Hòa Vang, TP Đà Nẵng). Ngoài những lúc làm vườn, thời gian còn lại ông chỉ chuyên tâm vẽ tranh. Tranh của ông mang nhiều nội dung, thể loại, từ tranh cổ động, tranh về hai cuộc chiến tranh, tranh về cuộc sống… nhưng nhiều nhất và đẹp nhất là tranh về đề tài Bác Hồ. Ông lý giải đơn giản: “Vẽ về Bác là một nghĩa vụ đối với tôi”.

Ông Hạnh giới thiệu tập tranh và ký họa “Uống nước nhớ nguồn” tập hợp hàng trăm bức tranh mà ông đã vẽ trong cuộc đời sáng tác của mình. (Ảnh: Công Bính)

Đó là lão nông-họa sĩ Nguyễn Đức Hạnh. Trong căn nhà cấp 4 tuềnh toàng, ông dành riêng một phòng để làm “phòng triển lãm” khoảng 200 tác phẩm của mình, trong đó những bức tranh về Bác được ông trân trọng nhất. Những bức tranh ấy ông không bao giờ bán.

Ông từng tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội năm 1967, sau đó ông vào Nam vẽ tranh ghi lại các hoạt động, công tác chiến đấu của bộ đội, dân quân du kích… ở chiến trường khu V thuộc đơn vị đặc khu tuyên huấn Quảng Đà.

Nhìn những bức tranh về Bác bày khắp nơi trong phòng triển lãm, tôi hỏi: “Ông đã gặp Bác mấy lần rồi?”. Ông bảo: “Hồi nhỏ làm gì được gặp Bác, chỉ đọc tài liệu rồi tưởng tượng ra vẽ thôi. Nhưng vẽ rất chuẩn đấy nhé”.

Để vẽ được tranh về cuộc đời cách mạng của Bác, ông nói mình đã phải đọc rất nhiều tài liệu, bài báo và chiêm nghiệm con người Bác rồi từ đó phóng tác ra tranh. Và cuộc đời Bác đã ngấm vào máu của ông, sau ông cứ thế mà vẽ ra.

Trong “không gian tranh” của mình, ông trưng bày nhiều bức về Bác như “Lòng Bác”, “Đêm nay Bác không ngủ”, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “Bác Hồ với đất Quảng”, “Bác Hồ với Thủ tướng Phạm Văn Đồng”, “Bác Hồ hoạt động cách mạng ở Thái Lan”, “Cho Bác thêm hai quả cà muối”…

Hiện trong “phòng trưng bày” tại gia của ông có 15 bức tranh rất đẹp về của Bác Hồ trong hai cuộc kháng chiến được đưa vào khung và treo trang trọng. Khi có khách đến chơi, điều đầu tiên ông khoe với khách chính là 15 bức tranh đó; đồng thời thuyết minh tường tận ý nghĩa của từng bức.

Một số bức tranh về Bác Hồ trong phòng trưng bày tại gia của ông Hạnh. (Ảnh: Công Bính)

Đối với ông, vẽ là để thư giãn nhưng vẽ về Bác Hồ là nghĩa vụ, là việc phải làm. “Nếu tôi không vẽ có nghĩa là tôi đã chết”, ông khẳng khái. Càng về sau này đề tài về Bác Hồ được ông quan tâm, do đó trí lực của ông dồn hết vào những bức tranh về Bác.

Trong tập tranh và ký họa với chủ đề “Uống nước nhớ nguồn” tập hợp hàng trăm bức tranh của ông sáng tác từ xưa đến nay, ngay trang đầu tiên có ghi lời nói của Bác Hồ về Mỹ thuật trong một cuộc triển lãm tranh năm 1958 mà ông đã chép lại cẩn thận. Và ông lấy đó làm kim chỉ nam cho hoạt động sáng tác nghệ thuật của mình.

Ông tâm sự: “Bây giờ có mạnh thường quân nào tài trợ là tôi mở một cuộc triển lãm hoành tráng về Bác Hồ tại Quảng Nam hoặc Đà Nẵng”. Ông bảo đó là giấc mơ cuối đời của mình và “nếu thực hiện xong ý nguyện này có nhắm mắt tôi cũng yên lòng”.

Hơn 40 năm miệt mài vẽ Bác

Ông là Võ Đức Thuận (SN 1948), quê xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Hơn 40 năm qua ông miệt mài đi đó đây để sưu tập tranh ảnh của Bác Hồ để phác thảo nên chân dung Người theo cách rất riêng của mình. Giờ đây phòng tranh vẽ chân dung Bác Hồ của ông đã trở thành nơi tham quan lý tưởng và miễn phí cho các em học sinh khắp nơi mỗi khi muốn hiểu về Bác Hồ.

Khi chúng tôi đến nhà thăm, ông Thuận đang vẽ dở bức “Bác Hồ với lá cờ quyết thắng”. Ông “hòa hoãn”: “Các chú chờ tôi chút. Tôi đang thổi hồn vào bức tranh này, có gì lát nữa nói chuyện”. Nói đoạn ông như nhập hồn vào bức tranh, quên bẵng có chúng tôi bên cạnh.

Ông Thuận đang phác họa bức chân dung Bác Hồ với lá cờ quyết thắng. (Ảnh: Duy Thái)

Ông bảo: “Việc làm của tôi chỉ là để mai này con cháu biết để tôn thờ vị cha chung của dân tộc thôi. Tôi vẽ chân dung Bác Hồ mấy hơn 40 năm nay rồi. Tôi làm việc này cho các thế hệ học sinh noi gương Bác Hồ kính yêu…”.

Ông Thuận sinh ra ở cố đô Huế, năm lên 4 tuổi ông theo gia đình ra Nghệ An và sinh sống tại Nam Đàn – quê hương của Bác Hồ. Năm 1957, khi mới tròn 9 tuổi, trong một lần Bác Hồ về thăm quê, ông Thuận được mẹ dẫn đi cùng với nhân dân Nam Đàn đón Bác. Vì còn quá nhỏ, ông không chen lên để nhìn Bác được, ông tiếc lắm, quyết tâm sẽ học tập thật tốt, đạt nhiều thành tích để sau này được gặp Bác Hồ.

Một tác phẩm xúc động về phút lâm chung của Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Duy Thái)

“Đề tài về Bác Hồ được rất nhiều văn nghệ sĩ sáng tác nhưng với tôi vẽ chân dung của Bác là một niềm hạnh phúc nhất cuộc đời này. Thứ đến, là tuổi già như tôi phải làm một cái gì đó để truyền dạy cho con cháu sau này hiểu hơn về Bác Hồ”, ông Thuận tâm sự.

Thầy Nguyễn Văn Sơn, phụ trách đoàn đội trường THCS Quỳnh Lập tâm sự: “Hàng năm, vào các dịp lễ lớn như Quốc khánh 2/9, hay như sinh nhật Bác 19/5… nhà trường thường hay tổ chức các em học sinh vào nhà bác Thuận để chiêm ngưỡng những bức chân dung về Bác Hồ. Chính từ phòng tranh về Bác Hồ của bác Thuận đã cho thầy và trò nhà trường chúng tôi nhiều tư liệu quý báu. Đặc biệt, là để các em học sinh rõ hơn về cuộc đời của Bác”.

Bác Hồ về thăm quê (Ảnh: Duy Thái)

Đến nay, trong phòng trưng bày tranh về đề tài Hồ Chí của ông Thuận đã lên đến hàng trăm bức. Mỗi tác phẩm là một nét chấm phá thể hiện phong cách sống của Hồ Chủ Tịch.

Công Bính – Duy Thái

dantri.com.vn

Kỷ niệm lần được đón Bác từ Fontainebleau về nước

(Dân trí) – Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Bác Hồ sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau. Người về nước tại cảng Hải Phòng tháng 10/1946. Thiếu tá Cao Phong – người nhận nhiệm vụ đón Bác Hồ – không bao giờ quên giây phút lịch sử ấy.

Bài viết dưới đây được ghi lại theo tư liệu của ông Nguyễn Thế Vinh, con trai cố Thiếu tá Cao Phong, Nguyên Trưởng Ty liên kiểm Việt – Pháp miền duyên hải Bắc bộ năm 1946.

“Trong những năm hoạt động cách mạng, có biết bao nhiêu sự kiện đến với tôi. Song được đón Bác Hồ từ Fontainebleau trở về là một kỷ niệm mà cho đến nay tôi vẫn không sao quên được.

Sau khi tham gia trận đánh lớn tiễu phỉ ngày 08 tháng 12 năm 1945 giải phóng thành Hà Giang, tôi được Bộ Quốc Phòng điều về Trường Cán bộ Việt Nam Trần Quốc Tuấn do đồng chí Trần Tử Bình làm Giám đốc.

Từ trái sang: Hoàng Hữu Nam – Trưởng ban Liên kiểm TW; Chủ tịch Hồ Chí Minh; Thiếu tá Cao Phong; Bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên – Chủ tịch uỷ ban hành chính Hải Phòng (Ảnh do ông Nguyễn Thế Vinh, con trai Thiếu tá Cao Phong cung cấp)

Đến ngày 15 tháng 3 năm 1946, tôi lại được Bộ giao nhiệm vụ Trưởng Ty Liên kiểm Việt – Pháp Hải Phòng với quân hàm thiếu tá. Trước khi đi nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái có gọi tôi lên căn dặn nhiêm vụ quan trọng của Liên kiểm trong tình hình đang có sư đoàn thuỷ quân lục chiến Pháp ở Hải Phòng. Trước khi trao cho tôi quyết định nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái mở ngăn kéo lấy ra năm mét vải kaki đưa cho tôi và bảo: “Liên kiểm hàng ngày phải giáp mặt với quân Pháp, nên phải ăn mặc cho đàng hoàng. Anh cầm vải đi may ngay một bộ quân phục và phải có mặt ở Hải Phòng đúng ngày 15 tháng 3 năm 1946 để nhận nhiệm vụ”.

Ở Hải Phòng đến ngày 12 tháng 8 năm 1946 tôi lại nhận được quyết định của cấp trên giao cho chức vụ Trưởng Ty Liên kiểm Việt – Pháp miền duyên hải Bắc Bộ, quản lý một vùng đất từ Hải Phòng đến Móng Cái.

Bác Hồ trở về nước là một sự kiện quan trọng. Với tư cách là chỉ huy Liên kiểm miền duyên hải Bắc Bộ, tôi cũng được cấp trên cho biết trước. Phía Pháp, Đại tá Đép, Tổng chỉ huy sư đoàn thuỷ quân lục chiến ở Hải Phòng, gặp tôi, đề nghị cho binh sỹ Pháp được tham gia lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi báo cáo ngay với đồng chí Hoàng Văn Thái về yêu cầu của phía Pháp và nhận được sự đồng ý với điều kiện phía Pháp phải đón Bác Hồ theo nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp.

Tôi trở lại làm việc với Đại tá Đép. Lần này tôi nói rõ từng chi tiết phía Pháp phải làm trong nghi lễ đón rước Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi yêu cầu của ta phía Pháp đều đồng ý. Riêng phần quân kỳ danh dự của nước Pháp chào Hồ Chủ tịch như thế nào thì cứ bàn đi bàn lại mãi. Cuối cùng phía Pháp phải đồng ý cử hành nghi lễ như đón chào Tổng thống của chính nước họ. Nghĩa là khi Hồ Chủ tịch đi qua quân kỳ của nước Pháp thì quân kỳ danh dự của nước Pháp phải hạ xuống chấm đất để chào Người. Đó là nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp

Chân dung Thiếu tá Cao Phong

Ngày 21 tháng 10 năm 1946, thông báo hạm Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ của hải quân Pháp đưa Bác cập bến Ngự, Hải Phòng. Hàng quân danh dự đứng đón Bác, một bên là Vệ quốc đoàn của ta, còn một bên là hàng quân danh dự của Sư đoàn thuỷ quân lục chiến Pháp, có quân kỳ trung đoàn, có cả quân nhạc.

Nhân dân Hải Phòng đứng đón Bác chật ních cả hai bên đường. Vì có quân đội Pháp tham gia nghi lễ đón Bác và phải chịu sự chỉ huy chung của tôi nên khẩu lệnh tôi sẽ phải hô bằng tiếng Pháp. Hôm ấy, đứng ngay dưới cầu tàu đón Bác, tôi thấy có đông đảo quan khách trong đó có cụ Nguyễn Văn Tố; Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội Võ Nguyên Giáp; ông Nghiêm Kế Tố; ông Trần Huy Liệu; ông Phạm Văn Bạch. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp gọi tôi lại gần, chỉ thị: “Anh là chỉ huy cuộc duyệt binh, anh phải lên tàu rước mời Bác xuống duyệt đội danh dự”.

Nhận lệnh của Bộ trưởng, tôi bước lên tàu Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ trong bộ quân phục chỉnh tề, bên mình đeo kiếm chỉ huy danh dự. Khi tới nơi, tôi thấy Bác Hồ chỉ có một mình, hai tay chắp ra phía sau, đi đi lại lại trên sàn tàu như Người đang suy nghĩ điều gì. Tôi mừng quá sững người lại trong tư thế đứng nghiêm, đưa tay lên vành mũ kính cẩn chào Bác và thưa: “Kính thưa Bác, Quân uỷ Trung ương uỷ nhiệm cháu lên đón Bác, kính mời Bác xuống duyệt đội danh dự ạ”.

Là chỉ huy cuộc duyệt binh, tôi hiểu trọng trách và vinh dự lớn của mình. Tôi đi chếch về phía bên phải Bác, theo đúng nghi thức một sỹ quan cận vệ bên cạnh một nguyên thủ quốc gia. Khi còn cách hàng quân danh dự chừng mười thước, tôi hô to khẩu lệnh để nghi lễ đón Bác được bắt đầu.

Sau lời hô của tôi, hai bên hàng quân danh dự nghiêm lệnh bồng súng chào. Quân nhạc phía Pháp long trọng cử Quốc ca. Khi Bác qua hàng quân danh dự, Quân kỳ danh dự của nước Pháp đã hạ xuống chấm đất để chào Người theo đúng nghi thức trọng thể nhất. Lúc ấy, tôi thấy một nhà quay phim nước ngoài đã quỳ xuống sát đất rất lâu để quay cảnh ấy. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui sướng.

Đi qua hàng quân, Bác tiếp cận đông đảo nhân dân Hải Phòng đứng chật hai bên đường. Bác giơ tay vẫy chào đồng bào rồi lên xe về nhà khách của Ủy ban thành phố. Còn tôi, cả cuộc đời đi theo cách mạng, đã có biết bao nhiêu kỷ niệm. Song lần được đón Bác là kỷ niệm sâu sắc nhất của một người lính đã đi suốt hai cuộc trường chinh.

Quốc Cường (trích ghi)

cpv.org.vn

Người lính già xây nhà thờ Bác Hồ giữa đại ngàn rừng núi

QĐND Online – Lặn lộn với đời binh nghiệp hơn nửa đời người và 3 lần may mắn được gặp Bác Hồ. Trở lại với thời bình, ông lấy toàn bộ tiền lương hưu, vay mượn xóm giềng và xây một ngôi nhà thờ Bác để không chỉ ông mà những người dân ở vùng sơn cước Bắc Trà My (tỉnh Quảng Nam) có một nơi đàng hoàng để thờ phụng Bác. Ông là người mang biệt danh “tử vì dân” – tên thật là Võ Như Thông (thị trấn Trà My, huyện miền núi Bắc Trà My).

Lời khấn cho dân tộc

Nếu có dịp đi trên tỉnh lộ DT616 từ Bắc Trà My lên Nam Trà My sẽ nhìn thấy một ngôi nhà thờ với bức tượng Bác Hồ cao hơn 3m hướng nhìn về phía dòng sông, xung quanh là những cây kiểng xanh tươi. Đó là nhà thờ mà ông “tử vì dân” đã xây dựng bằng những đồng lương hưu được tích cóp từ hơn nửa đời người.

Gần 80 tuổi, nhưng ngày nào ông cũng tất bật chăm chút cho ngôi nhà thờ Bác. Điều dễ nhận ra nhất của người cựu binh già này là giọng nói rất hào sảng, ánh mắt trìu mến, như tuổi thanh niên.

Bước chân vào đời quân ngũ từ thời 13 tuổi ở chiến trường khu V, ông được đưa ra Bắc tập kết, xong lại vào Nam đánh giặc, “trước khi lên đường về Nam, chúng tôi phải lấy cho mình những cái tên mới để nếu có bị địch bắt cũng không lộ, không bị ảnh hưởng đến gia đình. Đồng đội có người lấy tên là Quảng Nam, Nguyễn Mít hay lấy tên vợ…còn tôi lần lựa mãi và mang tên “tử vì dân”. Không ngờ rằng cái tên đó lại thành “thương hiệu” – ông Thông nói. “Thương hiệu” bởi giờ đây ở vùng miền núi này từ người Ca Dong, M’nông cho đến những cán bộ thôn, xã chỉ biết biệt danh “tử vì dân” mà ít ai biết tên thật của ông. “Tôi cũng như nhiều đồng đội chỉ nghĩ một lẽ đơn giản là đã ra chiến trường thì xác định là hy sinh, nhưng hy sinh là vì ai?. Tất nhiên đó là dân, là nước rồi” – ông lý giải.

Ngôi nhà thờ Bác Hồ khang trang giữa núi rừng Bắc Trà My

Năm 2007, ông gọi vợ lại thổ lộ: “Tôi muốn làm một ngôi nhà thờ Bác. Mà sợ tuổi đã cao không biết có được toại nguyện không?”. Bà Huỳnh Thị Thuyền (vợ ông) không những không can ngăn mà còn trấn an: “Bao nhiêu năm ông đương đầu với chết chóc tôi có bao giờ can ngăn. Chừ ông thấy việc mình ưng thì cứ làm, nếu ông chết, còn tôi, còn các con”. Vậy là 2 vợ chồng ông cùng gật đầu làm “dự án”…

Rồi xóm giềng thắc mắc không hiểu vì sao 2 vợ chồng già này thường xuyên “hạ sơn” đi về vùng đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng). Cho đến một ngày, họ thấy xe chở về một bức tượng Bác Hồ bằng đá nhìn vừa giản dị lại rất thân thương. Rồi ông lấy toàn bộ phía mặt tiền “đắc địa” nhất của miếng đất để đặt tượng Bác, phía sau là khu nhà với gần 100 cuốn sách, báo, tranh ảnh các tư liệu về Bác và gia đình, trước cổng ông làm hai cây cột lớn với 2 câu đối ca tụng vị lãnh tụ …cả khu nhà thờ rộng hơn 100m2 với số tiền đầu tư gần 200 triệu đồng. Sau bao nhiêu năm ấp ủ, đúng dịp kỷ niệm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 5-6-2009, ông đã thắp nén hương thành kính xin Bác được lập nhà thờ để người dân miền núi có nơi hương khói cho Bác.

Từ đó, cứ đến ngày Bác mất là ông lại chuẩn bị hương nhang, hoa quả…rồi kêu tất cả con trai, gái, cháu, chắt về nhà. Đốt hương, đứng trước Bác, ông khấn: “….Bác phù hộ, độ trì cho con cháu Việt Nam luôn được hoà bình, ấm no, hạnh phúc”. Ông nói chưa bao giờ ông khấn gì cho gia đình, ông chỉ khấn cho đồng bào được hạnh phúc. Nhiều người thấy ông khấn lạ như vậy cũng thắc mắc lắm. Ông tâm sự: “Tôi làm nhà thờ Bác để mọi người cùng thể hiện lòng thành kính. Lời khấn với lãnh tụ như Bác là khấn cho cả dân tộc trong đó có cả gia đình tôi đó thôi” .

Dự án cuối đời của người lính

Từ ngày ông “tử vì dân” có nhà thờ Bác cũng là lúc người dân ở tổ Đồng Trường 2 (thị trấn Trà My) cùng xum họp với nhau về đây để làm ngày giỗ chung. Thỏa lòng mong mỏi của ông và người dân dành tặng cho Bác. “Nhà nào cũng có bàn thờ Bác, nhưng họ vẫn muốn đến đây để thể hiện tấm lòng của cả một cộng đồng luôn dạt dào với Bác” – ông Thông chia sẻ.

Thời gian đầu, có người hỏi ông sao không bảo họ cũng đến làm giỗ Bác. Ông ngắn gọn rằng: “Giỗ cha tôi thì tôi mời liền. Còn giỗ Bác thì nhà nào cũng có vì thế đâu cần phải mời”. Và không chỉ có người dân ở Đồng Trường 2, mà giờ đây số người đến nhà thờ Bác vào những ngày giỗ đã mở rộng đến các bản, các xã xa xôi. Không chỉ vậy, trong số những người đến đây còn có rất nhiều cụ đã ngoài 80 tuổi, lại có những gia đình cả 2 – 3 người cùng đi đến nhà thờ Bác. Và đến nay thì danh sách đã hơn 40 hộ dân tham gia làm giỗ chung ở đây.

Người cựu binh mái tóc đã bạc trắng, “mê mẩn” kể về kỷ niệm của anh lính khi được gặp Bác lần đầu ở Nghệ An thời chiến tranh. Ông say sưa kể, khi đó Bác về thăm đơn vị, cứ 15 phút lại điện hỏi xem xe của Bác đã đến đâu, cho tới khi còn cách Vinh 7 km thì cả đơn vị đã đứng nghiêm để đón Bác. “Lúc đó theo kế hoạch Bác chỉ nói chuyện được 15 phút thôi. Nhưng một số đồng chí quyết định mắc lỗi với Bác là cúp điện loa máy, để Bác ở lại với anh được lâu hơn. Và lính tráng chúng tôi đã được gặp Bác, được bắt tay Bác bằng xương bằng thịt chứ không còn trên hình ảnh. Đó là kỷ niệm không bao giờ quên trong đời lính của tôi” – ông xúc động kể. Sau này, khi ra Hà Nội công tác, ông còn có may mắn được gặp Bác 2 lần nữa.

Sau lần đầu tư cho nhà thờ Bác, hiện ông “tử vì dân” đang ấp ủ thực hiện thêm một nhà thờ bên cạnh Bác, đó là thờ luật sư Lô-Giơ-Bai, ân nhân giúp Bác trong vụ án Hồng Kông năm xưa. “Tôi đang sưu tầm các tư liệu về luật sư, có lẽ sẽ tốn nhiều thời gian, công sức…và có thể tôi không còn đủ sức lực để làm. Nhưng sẽ có vợ, con tôi tiếp tục công việc này’ – ông chia sẻ.

Đoàn Văn Cường
qdnd.vn

Bác Hồ và “quê hương nghĩa trọng tình cao”

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Mỗi lần nói những lời trìu mến, thành kính về Bác Hồ kính yêu, chúng ta, bạn bè ta, nhất là các nhà khoa học, thường nêu câu hỏi: Những gì đã tạo dựng, hun đúc nên thiên tài Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất? Quê hương, gia thế của Hồ Chí Minh có vai trò thế nào trong việc hình thành nhân cách, trí tuệ, bản lĩnh của Người?.

Quê Bác nằm ở hạ lưu sông Lam của xứ Nghệ, nơi hội tụ của các trung tâm văn hóa vùng Bắc Trung bộ, nơi phát tích nhiều nền văn hóa cổ, một vùng văn hóa dân tộc học đặc sắc. Bác sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước, ở một vùng quê giàu truyền thống văn hiến và cách mạng.

Vùng quê ấy, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, thường xuyên đương đầu với muôn vàn giặc giã, thiên tai, trong khổ đau vẫn gan góc, trong mất mát vẫn kiên cường. Truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương đã ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến tuổi ấu thơ của Bác, đến việc hình thành nhân cách, tư tưởng của Người.

Người yêu quý, giữ gìn, nhập tâm nhiều làn điệu hát ví, hát dặm, hát phường vải của quê nhà. Người ưa lẩy Kiều và đã vận dụng nghệ thuật dân gian này đến độ sáng tạo, tinh tế. Người sử dụng rộng rãi, linh hoạt các thể loại văn học truyền thống, các hình thức sinh hoạt văn hóa dân dã như:Tập Kiều, lẩy Kiều, tập cổ, thơ lục bát, thơ tự vịnh, thơ cổ điển, thơ mừng tuổi, thơ chúc Tết. Trong thơ văn, Người hay dùng tục ngữ, ca dao, dân ca, lối nói ví von, so sánh sinh động, dễ hiểu của nhân dân lao động.

Trên con đường hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân lên hầu khắp các châu lục, nhiều quốc gia, nhiều nền văn hóa, thông thuộc nhiều thứ tiếng nước ngoài. Vậy mà một đêm ở Thái Lan xa xôi, Người thốt lên:

“Xa nhà chốc mấy mươi niên
Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”.

Người vẫn giữ cho mình giọng Nghệ nằng nặng, trầm ấm, vang vọng của quê nhà. Sau hàng chục năm xa quê, ngày trở lại, Người xúc động nói:

“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Người không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa, cây bưởi trước nhà, cây mít, hàng cau phía sau, chiếc võng tuổi thơ, chiếc rương gỗ nhỏ – của hồi môn ít ỏi của mẹ, khung cửi của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha, những câu chuyện kể của bà…

Người nhớ và ghi sâu công đức người thầy khai tâm của mình, những kỷ niệm với người bạn câu cá, nhà ông thợ rèn, những buổi trưa thả diều, chăn trâu, đánh trận giả…

Người nhớ và nhắc giúp ca sĩ quê nhà hai câu cuối của một bài hát dân ca, về cách phát âm, cách luyến láy một số từ giọng Nghệ khi hát xướng. Trong bữa ăn thường nhật, Người ưa món tương, nhút, quả cà giòn tan, mằn mặn của quê xa.

Quê hương Người có rất nhiều truyền thống quý báu, mang đặc trưng văn hóa xứ Nghệ khó lẫn. Tuy nhiên, con người và vùng đất ấy cũng có những hạn chế khó tránh khỏi. Để khắc phục những hạn chế ấy, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, nhân dân tỉnh nhà rằng: Phải biết phát huy lòng yêu nước, tinh thần bất khuất trước địch họa, thiên tai, cần cù trong lao động, thủy chung trong nghĩa tình, giản dị, mộc mạc, ngay thẳng trong điều ăn lẽ ở.

Đồng thời cũng phải biết khắc phục tâm lý nông dân sản xuất nhỏ, manh mún, hẹp hòi; tiết kiệm quá thành hà tiện; ít giao tiếp nên dễ kém năng động; chỉ ham cái lợi nhỏ trước mắt mà không lo cái lợi to lớn, lâu dài; kiên định không đúng cách dễ trở thành bảo thủ, quan liêu, duy ý chí.
Hồ Chí Minh là tấm gương thanh cao về nếp sống giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, dĩ công vi thượng. Nếp sống đó không chỉ có ở Người khi hoạt động cách mạng bí mật, gian khổ, hiểm nguy mà giữ nguyên vẹn khi Người đã là Chủ tịch nước yêu kính của dân tộc.

NGUYỄN THẾ KỶ
Theo tuoitre.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ bốn lần học võ

TP – Bác Hồ luôn chú ý việc phát triển thanh niên nói riêng và con người Việt Nam nói chung một cách toàn diện. Bản thân Bác rất gương mẫu rèn luyện, trong đó có rèn luyện sức khỏe. Sinh thời, Bác bốn lần học võ…

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng anh chị em trong cơ quan tập võ dân tộc trong giờ nghỉ – Ảnh: TTXVN

Năm 1913, tại London

Anh quốc là quê hương của phong trào hướng đạo thế giới (phong trào do Huân tước Baden Powell sáng lập năm 1907).

Trong thời gian ngắn ở London, nhận thấy tổ chức này có thể có ích về sau để tập hợp thanh thiếu niên vào tổ chức giáo dục, rèn luyện nhiều mặt, khơi dậy lòng yêu nước, yêu thiên nhiên, gắn bó trong cộng đồng bình đẳng…, Bác Hồ đã tham gia, là hướng đạo sinh đầu tiên của Việt Nam.

Ngày 31/5/1946, Người gửi thư nhận lời làm Chủ tịch danh dự của Hội Hướng đạo Việt Nam.

Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục đầu tiên của nước ta Vũ Đình Hòe trong hồi ký có kể năm 1948, một lần sau cuộc họp Hội đồng Chính phủ có đốt lửa trại. Trại trưởng Hoàng Đạo Thúy giới thiệu Chủ tịch danh dự khai lửa. Mọi người hết sức ngạc nhiên khi thấy Bác bước ra vừa đi vừa múa hát bài “Hướng đạo ca”: Anh là anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu, dấy binh lấy lau làm cờ….

Ông Vũ Kỳ (1921 – 2005), thư ký riêng của Bác, có lần nói vui:  “Bác Hồ có võ đấy! Võ Tây thì học từ năm 1913 ở bên Anh, võ Tàu năm 1925, còn võ ta thì…”.

Năm 1925, ở Quảng Châu

Sau nhiều lần đề nghị được về gần Tổ quốc để hoạt động gắn với phong trào trong nước, ngày 25/9/1924, Bác nhận được quyết định của Quốc tế Cộng sản cho phép rời Mátxcơva về Quảng Châu – Trung Quốc.

Trên danh nghĩa công khai Người lấy tên Lý Thụỵ dân địa phương làm phiên dịch cho Trưởng phái bộ Liên Xô M.M. Bôrôđin, cố vấn chính trị bên cạnh Tổng thống Trung Sơn và là phóng viên của hãng Rosta Cục Thông tin Liên Xô. Trong tổ chức mang bí danh Đồng chí Vương.

Khoảng mươi năm trước đây có một bài báo Tết viết về Bác Hồ học võ. Cố Thiếu tướng Cục trưởng Cục Cảnh Vệ Bộ Công an Hoàng Hữu Kháng nhắc lời Bác: “Ngày trước ở nước ngoài Bác cũng tập võ để luyện sức khỏe…”.

Được hỏi, ông Vũ Kỳ cho biết, đây là thời gian thuận lợi nhất Bác đã tranh thủ nghiên cứu lịch sử, văn hóa Trung Quốc,học thêm tiếng Hoa, và học võ thuật rất bài bản. Điều này giải thích lý do sau này Bác tập võ rất nhanh và mọi động tác tiến thủ đều rất điêu luyện.

Đó là do Người hết sức tận dụng hoàn cảnh thuận lợi trong Trường Quân chính Hoàng Phố có các đồng chí sinh hoạt cùng chi bộ trong Đảng Pháp ở Paris từ năm 1921 như Chu Ân Lai, Bành Bái, rồi Trương Thái Lôi đi cùng chuyến từ Mátxcơva về đây với Bác, và các chuyên gia Liên Xô giúp đỡ, nhận người của ta vào học từ lớp đầu như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn…Chính số anh em này đi học về dạy lại cho Bác.

Năm 1945, trên nóc Bắc Bộ Phủ

Tình hình tại Hà Nội từ sau ngày 9/9/1945 càng hết sức căng thẳng vì có thêm đội quân ô hợp của Trung Hoa Quốc dân đảng sang nước ta để giải giáp quân đội Nhật hoàng.

Chúng còn mưu đồ “Hoa quân nhập Việt cầm Hồ”, đem theo lũ Việt gian trong hai đảng Việt quốc, Việt cách nhằm lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh. Những vụ bắt cóc, ám sát cán bộ xảy ra ngày ngày.

Tòa khâm sứ cũ, 12 Ngô Quyền là điểm ngắm số một của đủ loại gián điệp các nước. Việc bảo vệ tuyệt đối an toàn cho lãnh tụ được Trung ương đặc biệt chú ý…

Riêng Bác, đã lâu chỉ quen tập thể dục thể thao, để “quân tử phòng thân”, Người đề nghị anh Kháng, tức Lý, xem có bài quyền nào dễ hướng dẫn cho Bác cùng tập. Anh Lý lĩnh ý, Bác cháu sẽ tập bài Bát bộ liên hoa quyền.

Anh nghĩ tuổi Bác đã 55, tập nhanh cũng phải mất một tuần. Nhưng không ngờ, Bác cháu trên sân thượng, sáng từ 5 giờ, tối lúc trăng lên, chỉ 3 ngày Bác đã lắp ráp, lướt những đường quyền mềm mại, nhanh nhẹn, rồi lại đột nhiên trụ vững các thế: Thái Sơn áp đỉnh, Độc cước phi thân…

Những năm trên chiến khu Việt Bắc, sáng, tối, sau bài tập thể dục, Bác vẫn luyện các bài quyền, và động viên, hướng dẫn cả các vị bộ, thứ trưởng cùng tập. Khó có ai không tập theo lời Bác.

Năm 1955, trong Phủ Chủ tịch

Ở Hà Nội điều kiện đã tốt hơn nhưng tuổi Bác đã 65. Trung ương đề nghị Bác, mời một chuyên gia Trung Quốc sang hướng dẫn môn tập hiện đại, phù hợp.

Vậy là tối tối, 8 giờ, trong Phủ Chủ tịch, trên bãi cỏ khuất sau vườn cây, Giáo sư Cố Lưu Hinh từ ngoài phố Phan Đình Phùng đi vào đã thấy có mặt Bác. Người trong bộ đồ lụa nâu đứng chắp tay chào sư phụ đúng luật nhà võ.

Bác học rất nhanh, chỉ nhìn thầy hướng dẫn một lượt là tập theo chuẩn xác. Cố giáo sư hết lời khen ngợi: Hiếm thấy!, Hiếm thấy!…

Hôm chia tay sư phụ, Bác mời cơm cảm tạ. Trước khi vào bữa, Bác chủ động đề nghị được “biểu diễn thu hoạch” đợt học để sư phụ phê bình. Giáo sư cúi đầu, chắp tay: “không dám!”, “không dám”, chỉ xin Chủ tịch, nếu được, cho xem bài Thái cực quyền do chính Người tự biên cho phù hợp với mình.

Bác đi bài quyền nhẹ nhàng, uyển chuyển hết sức điêu luyện. Khi vào thế kết thúc thu thân vái chào, vị giáo sư vội đứng lên chắp tay: Hấn hảo! Chuẩy hảo! Chinh phục Chủ xị! (Rất tốt! Cực tốt! Kính phục Chủ tịch!)…

Ông Vũ Kỳ cho biết, khi làm bất cứ việc gì, dù nhỏ hay lớn, Bác đều có kế hoạch và chủ trương 1- biện pháp 10. Như tập võ, Bác luôn nhớ các động tác rồi vẽ ra, dán lên chỗ dễ thấy, càng thuộc nhanh và nhớ lâu.

Ông còn “tiết lộ”: chỉ các vị công phụ tập luyện các môn pháp ở trình độ cao mới biết các thế võ điêu luyện thể hiện cái thần của từng tư thế chính là sự nhuần nhuyễn của pháp thiền động trong bất kỳ trường phái dưỡng sinh hay võ thuật nào mà Bác Hồ đã đạt tới trình độ đó do Người kiên trì rèn tập lâu năm phối hợp giữa luyện Khí – Tâm – Hình – Thở theo thuyết lý Thiên Địa Nhân nhất thể của phương Đông.

Vì vậy, Bác mới được tổ chức Khoa học giáo dục và Văn hóa thế giới UNESCO tôn vinh là Nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại – một vĩ nhân uyên thâm văn hóa Đông Tây kim cổ.

Trịnh Tố Long

tienphong.vn

Hành trang giản dị

Tư trang của một vị Chủ tịch nước như ở Bác Hồ thật đặc biệt, bởi nó quá giản dị. Có lẽ những thế hệ mai sau khi nghe kể có thể tin được đó là huyền thoại. Đôi dép cao su làm từ lốp cũ xe hơi, Bác dùng đến mòn vẹt phải đóng đinh bao lần mà Bác vẫn dùng, đôi tất vá đến hai, ba lần, cổ áo sờn rách đã mấy lượt lộn lại trong ra ngoài…

Nếp sinh hoạt, cách ǎn mặc của Bác đã thành thói quen, Người luôn có ý thức trước những việc làm đó. Từ những nǎm tháng hoạt động cách mạng ở nước ngoài, lúc ở Thái Lan, khi về Trung Quốc, về nước thời kỳ bí mật ở Cao Bằng hay khi làm Chủ tịch nước. Những nǎm tháng đi kháng chiến, lúc về thǎm nông dân gặt hái hay làm thượng khách ở nước ngoài, Bác luôn luôn với một tư thế giản dị, ung dung, tự tại, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh. Dù ở đâu lúc nào Bác cũng để lại ấn tượng tốt đẹp, một phong cách mẫu mực của một lãnh tụ. Hành trang Bác mang theo tự nói lên một điều chân thực: Làm chức càng cao càng phải giản dị. Làm Chủ tịch nước Bác nhận lấy cho mình được cái quyền sống giản dị, bằng mức sống bình thường của người dân. Các đồng chí được giao việc phục vụ Bác, tìm mọi cách lo cho Bác được chu tất về mọi mặt. Nhưng Bác luôn có cái lý của Bác, thời kỳ chiến khu gian khổ Bác bảo chưa cần thiết, khi làm Chủ tịch nước Bác bảo dân còn nghèo.

Nhớ thời kỳ về nước ở hang Cốc Bó, Bác thường vào các bản làng thǎm đồng bào, với bộ quần áo Chàm, chân đi giày vải, trông như một ông Ké thực thụ. Khi về Thủ đô Hà Nội đọc Tuyên ngôn độc lập, các đồng chí Trung ương may cho Bác bộ quần áo bằng vải Kaki. Thời kỳ kháng chiến, Bác có thêm bộ “quân phục màu xanh” Bác thường mặc lúc hành quân đi lẫn trong đoàn quân ra trận. Bác còn có thêm chiếc áo len cho ấm về mùa đông, chiếc áo khoác tránh mưa là chiến lợi phẩm của một đơn vị bộ đội tặng Bác. Trời nắng Bác thường dùng bộ “gụ Hà Đông”.
Đồ dùng của Bác có chiếc va ly nhỏ đựng sách, tài liệu và cái máy chữ, quần áo tư trang cho vào một túi nhỏ. Các đoàn thể tặng Bác nhiều tư trang, đồ dùng. Bác thường đem làm tặng phẩm cho cá nhân, tập thể có thành tích, hoặc đem bán đấu giá lấy tiền cho cách mạng.

Tư trang của Bác bao giờ cững ở mức cần thiết cho sinh hoạt, nhưng Bác lại luôn luôn lo cho sự thiếu đủ của từng người. Bác đến thǎm thương binh, Bác lo từng chiếc áo ấm cho họ lúc vào trại tù binh thấy tù binh thiếu áo, Bác cũng lo áo cho họ, cử nghĩa đó làm bớt đi sự cǎng thẳng hận thù của con người với con người, của hai dân tộc. Trong gian khổ kháng chiến, Bác cùng chịu đựng đói, no, giá lạnh như người chiến sỹ. Không để lại gì cho riêng mình mà lo cho chiến sỹ trước. Bác là người khởi xướng phong trào “mùa đông binh sỹ”, vận động nhân dân không những lo cái ǎn mà còn lo cái mặc cho chiến sỹ. ở hậu phương ai có thành tích lo cho chiến sỹ mặc ấm Bác đều gửi thư khen ngợi.

Kháng chiến thắng lợi Bác trở về Thủ đô, ǎn mặc của Bác cũng không thay đổi lắm. Bác thường dặn các đồng chí phục vụ khi giặt áo cho Bác thấy chỗ nào rách thì vá lại cho Bác dùng, cho nên việc khâu vá quần áo cho Bác các đồng chí phục vụ cũng tự làm lấy. Khi cần lắm các đồng chí không làm được mới xuống nhà máy nhờ làm giúp. Bác mặc số lượng ít nên phải thay đổi luôn. Bác đi nhiều nơi. Khi xuống đồng ruộng gặt lúa, chống hạn với bà con nông dân, quần áo thường vấy bùn. Khi thǎm nhà máy Bác thường xuống tận nơi làm việc của công nhân nên dầu mỡ, chất xút thường vấy vào quần áo Bác, những chỗ đó dẫu giặt sạch ít lâu sau cũng bị bủng. Thay cái mới Bác không chịu, Bác bảo khâu vá lại cho Bác để Bác dùng. ở những bộ quần áo đó những vết mạng, những miếng vá đều gắn với những kỷ niệm. thời kỳ Bác đi kháng chiến, trong bộ quần áo xanh, trên đường hành quân, Bác như một người lính, vai thắt bao gạo ngang lưng, mũ cài lá nguỵ trang, khǎn vắt ngang vai hoà vào nhịp bước hành quân của bộ đội, dân công đi chiến dịch. Trên đường gặp một ông cụ trong đoàn dân công. Hai người chuyện trò tâm đầu hợp ý. Bác khen ông cụ “Cụ già còn phục vụ tiền tuyền làm gương cho con cháu noi theo”. Cụ kia khen Bác: “Tôi làm sao bì được với Cụ, Cụ râu tóc đã bạc mà vẫn “chiến sỹ Bạch đầu quân”. Hai Cụ vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ. Khi lội qua suối, cụ dân công trượt chân, Bác vội đỡ kịp thời nên cụ không bị ngã, nhưng chiếc đinh ở đầu đòn gánh đã vướng làm rách áo Bác. Cụ dân công vội cảm ơn “thật là em ngã anh nâng”. Cả hai cụ cùng cười vui vẻ. Còn vết mạng ở đầu gối là kỷ niệm ở Ngòi Thia, gần Tân Trào. Hôm đó Bác đi ngựa, khi đến chỗ vòng ngoặt gấp có cây tre chắn ngang lối đi, ngựa phi nhanh Bác chưa kịp ghìm cương, ngựa dừng đột ngột Bác mất đà bị ngã, nhưng may Bác phản xạ nhanh nên chỉ xước đầu gối, vết xước làm rách vải và chảy máu. Khi mọi người chưa kịp đến thì Bác đã đứng dậy, chân đi cà nhắc. Còn vết khâu ở gần gấu áo là lần Bác về chống hạn. Bác cùng đồng chí Tỉnh ủy tát nước gàu dai, nhưng đồng chí Tỉnh uỷ không biết tát nước, cứ lóng ngóng chân tay, làm dây gàu vướng vào làm gấu áo Bác bị rách, sau phải vá lại, Bác bảo: “Làm cán bộ lãnh đạo nông nghiệp thì phải biết cách lao động của nông dân”, rồi Bác tập cho đồng chí tát nước. Có lần Bác đi thǎm một nhà máy, Bác xuống tận tổ công nhân đang cho chạy máy, Bác đến hỏi han công việc: chất xút bắn vào áo, tạo thành nhiều vết khác màu áo, Bác bảo đồng chí phục vụ khắc phục làm cho máu áo và màu vết xút gần giống nhau, và áo lại dùng được bình thường. Tất cả những áo quần đó vì đã mang vết nên không thể giấu Bác để thay cái mới được, thay cái khác lá Bác biết, Bác phê bình ngay.

Đồng chí Cần, chuyên lo ǎn uống, quần áo cho Bác thời kỳ ở Hà Nội. Đồng chí tầm cỡ người như Bác, nên khi may quần áo cho Bác đồng chí mặc vừa là Bác mặc vừa. Quần áo thường ngày Bác thích màu gụ, nên khi may xong đồng chí mang sang xí nghiệp Tô Châu nhuộm gụ. Bộ nào hơi cũ là đồng chí thay bộ khác cùng kiểu cùng màu nên lúc đầu Bác không biết. Một thời gian sau Bác thấy quần áo vẫn mới, Bác bèn đánh dấu rất kín và phát hlện ra là đồng chí đã đổi quần áo của Bác. Bác liền phê bình, từ đó rất khó thay đổi quần áo của Bác. A’o Bác dùng lâu giặt đi giặt lại nhiều lần nên cổ áo bị sờn và rách dần, khi mọi người đề nghị Bác cho thay cái khác~ Bác bảo: “Cả cái áo chỉ sờn chỗ cổ, mà vứt đi thì không được, chú chịu khó tháo rồi lộn trong ra ngoài, may lại vẫn lành “như mới”. Làm theo ý Bác được mấy lần, sau không thể “khắc phục” được nữa Bác mới cho thay cái mới. Đôi bít tất Bác đi cũng vậy, bị thủng ở đầu ngón chân Bác bảo khâu lại cho Bác dùng, vì không biết làm nên phải xuống xí nghiệp may mặc của Bộ Nội vụ nhờ các cô giúp. Các cô đề nghị thay đôi khác cho Bác, nhưng Bác đã dặn là bít tất của Bác chỉ hỏng mũi, còn mọi chỗ vẫn lành nguyên, chỉ nhờ các cô khâu lại, nếu đem đổi đôi khác là Bác không dùng đâu. Khi Bác dùng lại đôi tất, khen các cô khéo tay, Bác nói: “Chú xem, chỉ chịu khó một tý là có đôi bít tất như mới”. Lần sau đôi bít tất đó thủng hai lỗ trước và sau, rồi lại lần nữa, các cô phải khâu vá đôi bít tất đến ba lần. Bác thường dùng khǎn mặt vuông, vì dùng khǎn mặt vuông tiết kiệm hơn khǎn mặt chữ nhật, mỗi khi dùng xong Bác có thói quen phơi lên dây, luôn giữ hai mép dưới bằng nhau. Bác tìm mấy hòn cuội nhỏ xếp vào trong hộp đựng xà phòng, khi dùng xong Bác để xà phòng lên những hòn cuội, xà phòng mau khô, nên tiết kiệm.

Chị Liên là người được đồng chí Cần nhờ may vá giúp Bác. Chị kể lại, khi làm việc này mới thực sự hiểu Bác giản dị và tiết kiệm đến chừng nào. Bác có chiếc áo gối vải màu xanh hoà bình, miếng vá này chồng lên miếng vá kia, mỗi lần cầm chiếc áo gối vá lại cho Bác mà chị không cầm nổi nước mắt, không cầm kim vững để khâu lại được chị nói với đồng chí Cần: “Anh đừng bắt tôi vá áo gối cho Bác nữa. Tôi thương Bác lắm, anh có cách nào thay áo gối khác cho Bác”. Đồng chí Cần nói: “Tôi đã nhiều lần đề nghị Bác cho thay cái khác, nhưng Bác chưa đồng ý Chị chịu khó vá giúp tôi”. Cầm kim mà lòng chị không cầm nổi nước mắt. Những lúc đó chị hình dung Bác như thấu hiểu nỗi lòng người mẹ hiền thôn quê tần tảo lo cho đàn con nhỏ miếng ǎn, manh áo trong cảnh túng thiếu. Bác hiện thân của Người mẹ Việt Nam, đối với ai đó dẫu ở cương vị công tác nào Bác cũng giáo dục tinh thần biết quý trọng con người là ở thái độ đối với tiết kiệm, đó là thước đo đạo đức của cán bộ. Đối với anh em phục vụ Bác chân tình mà nghiêm khắc khi giáo dục tiết kiệm.

Đôi dép cao su của Bác đã đi vào thơ ca nhạc hoạ, hiện thân trong đời sống nhân dân như một huyền thoại, gắn liền với cuộc đời vĩ đại, đức tính giản dị, ý chí kiên cường, bền bỉ cùng với dân tộc trên dặm đường trường chinh vạn dặm vì độc lập tự do của Tổ quốc. Đôi dép của Bác được cắt từ chiếc lốp ôtô quân sự, chiến lợi phẩm của trận phục kích địch tại Việt Bắc, đôi dép được cắt vừa chân Bác, hai quai trước to bản kiểu quai vắt chéo, vừa êm vừa chắc chắn cho khi lội suối, trèo đèo, vượt đường trơn, dốc cao. Thấy tiện, dễ sử dụng lại hiệu quả, Bác cho phổ biến trong toàn mặt trận, thay thế dần giày vải, dép rơm, dép mo cau… Nhân chuyến hành quân đi chiến dịch, Bác thấy ai cũng đi đôi dép cao su vượt suối bǎng đèo thoǎn thoắt, Bác nói vui: “Như vậy Bác cháu chúng ta có đôi hài cao su vạn dặm, chúng ta muốn đi đâu cũng được”.

Về Hà Nội, Bác vẫn dùng dép cao su. Đôi dép Bác dùng lâu ngày vẹt cả đế, quai bị tuột luôn, đóng đinh gǎm quai nhiều lần mà vẫn tuột, có kiên trì và khéo tay mới làm lại được, khi sửa xong thấy vẫn dùng được là Bác cứ dùng. Thấy dép Bác cũ, hỏng nhiều, các đồng chí phục vụ đề nghị thay đôi khác, Bác không chịu. Anh em bàn “kế hoạch” làm một đôi khác thật giống đôi dép Bác đang đi chỉ có khác là chắc, bền hơn, lợi dùng thời cơ thay vào. Hôm đầu Bác đi Bác không nói gì, anh em tưởng việc đã êm, nào ngờ sáng hôm sau Bác hỏi sao lại đổi dép của Bác, anh em đành thưa thật với Bác, Bác ôn tồn bảo:

“Các chú biết lỗi nhận lỗi là tốt, đôi dép cũ của Bác nếu chịu khó sửa vẫn còn dùng được, lần sau mua sắm cái gì cho Bác, các chú phải báo cho Bác biết”. Anh em tưởng Bác nói thế là đã chấp nhận đổi dép, nhưng Bác vẫn giữ đôi dép đó mặc dầu đã sửa nhiều lần, vì nó là kỷ niệm bên Bác từ những ngày gian khổ. Bác còn có một ước mơ duy nhất nữa là cùng đôi dép đó vào thǎm đồng bào miền Nam là Bác thoả mãn ước nguyện. Bác nói thật cảm động. Một lần Bác đến thǎm một đơn vị hải quân, các chiến sĩ lần đầu gặp Bác, ai cũng muốn được gần Bác nên chen chúc nhau làm tuột quai dép của Bác. Bác bảo chú nào khéo tay sửa lại cho Bác. Ai cũng muốn giành lấy để giúp Bác, thế rồi đôi dép được chuyền tay nhau, nhưng không ai sửa được vì dép đã quá vẹt mòn, đã đóng đinh mấy lần rồi, xâu vào nó lại tuột ra. Có người nhanh chân kịp lấy búa và đinh sửa lại giúp Bác, Có người yêu cầu Bác đổi dép khác. Bác bảo: “Dép đã sửa xong khi nào không sửa được hẵng hay, giờ mua chiếc khác không cần thiết, vẫn dùng được sao vứt nó đi, dân ta còn nghèo, mỗi người kể cả Chủ tịch nước cũng phải tiết kiệm”.

Có mẩu chuyện vui về đôi dép của Bác, lần đó xem phim, tất cả đều ngồi bệt xuống nền nhà gỗ, Bác để dép bên cạnh phía trước để khi về cho tiện lấy và không nhầm lẫn. Xem phim xong, Bác cùng mọi người chụp ảnh, cô gái ngồi cạnh Bác, thấy đôi dép đã quá cũ, không biết dép Bác, sợ làm xấu mất ảnh, cô vươn người với tay định cất đi, Bác nhanh tay hơn với trước, vội cất ra sau và nói vui, ờ đúng rồi, phải giấu nó đi, chứ vào ảnh hỏng mất ảnh.

Bác có thói quen, khi đã đi dép là cúi xuống kéo quai hậu cẩn thận, vừa dễ đi, chắc chắn, dép không kêu lẹt bẹt, làm mất tác phong của người đứng đắn, và dép mòn cũng mòn đều, không mòn vẹt một bên, hai quai trước cũng đỡ hỏng. ở Bác đi dép cũng là một nét vǎn hoá.

Đầu nǎm 1958, Bác đi thǎm Â’n Độ, Bác vẫn đi đôi dép thường ngày. Mọi người trong đoàn thấy thế, rất ái ngại nên bàn nhau mang theo một đôi giày vải. Lên máy bay nhân lúc Bác ngủ, thay đôi dép bằng đôi giày vải, khi thức giấc Bác hỏi dép, anh em trả lời Bác là đôi dép đã để dưới khoang máy bay. Khi xuống sân bay, Bác yêu cầu lấy dép để Bác đi. Bác bảo đừng lo gì cả, đất nước Â’n Độ cũng nghèo như mình, mới có độc lập nên nhiều vất vả. Bác đi dép có bít tất thế là tốt, họ không chê mình đâu. Nhân dịp này Bác muốn gần gũi với nhân dân lao động Â’n Độ. Hôm sau trên các trang báo lớn Â’n Độ đều hết lời ca ngợi Bác là vị Chủ tịch nước dân chủ nhất thế giới. Ca ngợi đôi dép Bác Hồ là một huyền thoại của một con người huyền thoại. Hôm Bác đến thǎm một ngôi chùa, Bác vừa cởi dép ở ngoài để vào nhà chùa, các phóng viên được dịp tha hồ quay phim, chụp ảnh đôi dép huyền thoại đó.

Bác lo cho dân không chỉ ngồi ở bàn giấy rồi nghe báo cáo, mà Bác trực tiếp xuống tận cơ sở, đến với từng người lao động để hiểu hơn tình hình thực tế. Đi đâu Bác chỉ dùng một chiếc xe “Pabêđa” do nhân dân Liên Xô gửi tặng. Xe dùng đã lâu ngày nên cũ và hay hỏng vặt, vǎn phòng đề nghị Bác cho đổi xe khác tốt hơn, Bác không đồng ý Bác bảo: “Ai thích đi nhanh, thích êm thì đổi. Còn Bác thì không”. Có hôm đến giờ đi công tác, xe không nổ máy được, Bác ôn tồn bảo đồng chí lái xe: “Máy móc có lúc trục trặc. Chú cứ bình tĩnh sửa, sửa xong Bác cháu đi cũng kịp” mấy phút sau xe mới nổ máy được, Bác cười vui và nói: “Thế là xe vẫn còn tốt”.

ở Bác, tiết kiệm là hành trang trong cuộc đời. Thật cảm động khi biết rằng bản di chúc của Bác đã đi vào lịch sử dân tộc được Bác viết, ở mặt sau tờ tin hàng ngày của Việt Nam Thông tấn xã. Hành trang của Bác – của một vị lãnh tụ, giản dị như hành trang của một người dân bình thường, bởi Bác sống không chỉ cho riêng mình.

quangbinh.gov.vn

Người kĩ sư ở Pháp theo Bác Hồ về nước kháng chiến

Sáu mươi lăm năm đã qua, còn nhiều bí mật phía sau số phận của một trong 4 trí thức người Việt từ Pháp cùng Bác Hồ về nước tham gia kháng chiến, đó là kỹ sư Võ Quí Huân.

Mùa hè năm 1946, trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác Hồ đã thực hiện chuyến thăm lịch sử tới nước Pháp nhằm hậu thuẫn cho Hội nghị Fontainebleau mưu cầu nền độc lập, thống nhất bền vững cho Việt Nam. Tuy nhiên, do tư tưởng thực dân của giới cầm quyền Pháp, Hội nghị đã thất bại; Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Việt Nam chuẩn bị cuộc trường kỳ kháng chiến. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, 4 trí thức người Việt đã thành danh ở Pháp gồm: Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Võ Quí Huân và Võ Đình Quỳnh, đã cùng Bác Hồ về nước tham gia kháng chiến…

Chân dung người kĩ sư Việt kiều yêu nước

Ông Võ Quí Huân sinh năm 1912 trong một gia đình giáo học huyện Thanh Chương (Nghệ An). Lớn lên trên quê hương giàu truyền thống yêu nước, năm 1935-1937, Võ Quí Huân tham gia phong trào Bình dân, làm Chủ nhiệm Báo Đông Dương hoạt động (L’activité Indochinoise) xuất bản song ngữ Việt – Pháp. Đây là một tờ báo tiến bộ đương thời, nên bị thực dân Pháp đóng cửa; Võ Quí Huân phải trốn sang Pháp và đi học. Ông đã giành được 3 bằng kĩ sư các ngành: cơ điện, đúc và kỹ nghệ chuyên nghiệp. Sau đó, ông làm việc cho hãng tàu thủy Compagnie Translatique (Pháp) và một số nhà máy lớn. Ông cũng là kỹ sư trưởng tại nhà máy nghiên cứu sản xuất động cơ máy bay Potef… Ông tham gia Tổng Công đoàn Pháp (CGT), trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1939.

Giữa năm 1946, ông Võ Quí Huân đã tham gia tổ chức các hoạt động nghênh đón, phục vụ Hồ Chủ tịch và phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong cuộc hoà đàm với nước Pháp… Trung tuần tháng 9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký kết bản Tạm ước 14-9 với đại diện Chính phủ Pháp, nhằm kéo dài thời gian hoà bình cho Việt Nam, rồi trở về Tổ quốc. Trước lúc rời nước Pháp, Hồ Chủ tịch đã mời một số trí thức tiêu biểu đến gặp. Người ôn tồn nói: “Bác sắp về nước. Các chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Các chú đã sẵn sàng chưa?”.

Trong số 4 trí thức cùng Hồ Chủ tịch về nước, ông Võ Quí Huân có vợ và con gái mới tròn 2 tuổi. Vợ ông Huân là bà Vo Qui Irenè, gốc Nga. Bà là Tiến sĩ Ngôn ngữ học, nói và viết thành thạo 7 ngoại ngữ. Cô con gái có tên là Vo Qui Viet Nga (Võ Quí Việt Nga), mới tròn 2 tuổi; nhưng trước nghĩa vụ với Tổ quốc, ông đã nén tình cảm riêng, quyết tâm trở về Việt Nam phục vụ đất nước. Lúc chia tay lên đường vội vã, ông Huân ôm cô con gái cưng vào lòng và trân trọng hứa: “Moumou yêu quý của ba, ba đi công việc vài ba tháng sẽ trở lại!”. Bé Việt Nga mếu máo rồi oà khóc níu áo ba, hai cha con nghẹn ngào giây phút biệt ly…

Bác Hồ bế con gái kĩ sư Võ Quí Huân (Paris, tháng 7/1946), người theo Bác về nước.

Dấn thân vào cuộc trường kì kháng chiến của dân tộc, 4 trí thức Việt kiều được giao những trọng trách để phục vụ đất nước. Ông Võ Quí Huân đảm trách Giám đốc Sở Khoáng chất kĩ nghệ Trung Bộ. Với sự chủ trì của ông, chiều 15/11/1948, mẻ gang đầu tiên từ quặng sắt đã được luyện, chảy vào khuôn trong sự reo hò của cán bộ, công nhân nhà máy… Từ thành công này, những quả lựu đạn, trái mìn và nhiều loại vũ khí “Made in Vietnam” đã được xuất xưởng đại trà bởi nhà thiết kế Trần Đại Nghĩa và gang của kĩ sư Võ Quí Huân, góp phần vào những thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kì 9 năm.

Cuộc trùng phùng sau 6 thập kỷ

Như đã đề cập ở phần trước, sau khi về nước, ông Võ Quí Huân đã dồn hết tâm sức phụng sự Tổ quốc. Cuộc kháng chiến ngày càng khốc liệt và cơ hội của ông Huân trở lại nước Pháp đón vợ con về Việt Nam là điều không thể… Một thời gian sau, ông Võ Quí Huân lập gia đình với bà Tạ Kim Khanh và sinh được 4 người con. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, kĩ sư Võ Quí Huân tiếp tục được giao nhiều trọng trách… Năm 1967, ông Võ Quí Huân lâm trọng bệnh…

Trong một buổi chiều Hà Nội dầm dề mưa lạnh, tôi đã rất xúc động khi chị Võ Quí Hoà Bình, con gái của ông Võ Quí Huân với người vợ sau, cho tôi xem đoạn clip và những bức ảnh gặp lại người chị gái cùng cha khác mẹ Võ Quí Việt Nga tại một ngôi làng nhỏ ở Pháp. Chị Võ Quí Hoà Bình nhớ lại: “Khoảng tháng 8/1967, sức khoẻ ba tôi giảm sút nghiêm trọng. Nằm trên giường bệnh, ông thường lấy ra một số bức ảnh, tần ngần ngắm kĩ rồi thở dài; trong đó có bức ảnh anh trai tôi đang du học ở CHDC Đức và bức ảnh cỡ 9x12cm, là một đứa trẻ con Tây. Tôi hỏi thì ba tôi nói: “Đây là cháu ngoại của ba!”… Thì ra, sau khi về tiếp quản Thủ đô năm 1954, ông Huân đã âm thầm viết thư nối lại quan hệ với bà Irenè và con gái Việt Nga. Việt Nga lúc này đã lập gia đình và sinh được một cậu con trai đầu lòng. Bà Irenè đã hồi âm và gửi kèm tấm ảnh đứa cháu ngoại của ông bà.

Những ngày cuối đời, nằm trên giường bệnh, ông Huân nắm tay con gái Hoà Bình, nói: “Khi ba theo Bác Hồ về nước kháng chiến, ba có hứa với bà Irenè và chị Việt Nga là chỉ vài tháng sau sẽ quay lại. Con biết đấy, với một đứa trẻ hai tuổi, lời hứa đó rất quan trọng. Vậy mà ba đã không thực hiện được, ba rất ân hận. Cũng vì chờ đợi một cách vô vọng mà bà Irenè không lập gia đình; chị gái con cũng rất vất vả vì thiếu cha, chỉ học hết tú tài, cuộc sống sau đó rất khó khăn”. Ông Huân căn dặn: “Ba chết không nhắm mắt vì nỗi ân hận với bà Irenè và không chăm sóc được chị gái con. Các con nhất định phải tìm lại bà ấy và Việt Nga, thì ba mới an lòng nơi chín suối”. Sau khi trải hết lòng mình với vợ và con gái, cuối tháng 9/1967, người kĩ sư trí thức Việt kiều Võ Quí Huân đi vào cõi vĩnh hằng ở tuổi 56, khi mà trí tuệ và lòng yêu nước của ông vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu được gặp Bác Hồ.

Từ đó, Võ Quí Hoà Bình luôn tâm niệm phải tìm được bà Irenè và chị Việt Nga, nối lại sợi dây tình cảm đã bị gián đoạn. Trở lại những manh mối đầu tiên để đi tìm người chị gái nơi trời Tây, chị Hoà Bình kể: Năm 1975, khi lục tìm những tư liệu cũ, tôi phát hiện một lá thư của ba tôi ghi địa chỉ bà Vo Qui Irenè. Tôi bèn nhờ thầy giáo dạy tiếng Pháp viết hộ bức thư gửi kèm những bức ảnh về Việt Nga (để làm tin) mà cha tôi còn giữ được, cùng các bức ảnh anh em tôi ở Việt Nam. Chị Việt Nga có hồi âm, nhưng giữ một thái độ khá xa cách: “Với chị, hai từ Việt Nam gợi lên nỗi đau mất cha. Chị không dễ vượt qua nỗi đau của quá khứ để có thể gặp mặt các em”…

Con tạo xoay vần, sau khi con gái, rồi con trai của chị Hoà Bình lần lượt sang Pháp du học, họ tiếp tục viết thư thăm hỏi bác Việt Nga. Song, một cuộc gặp gỡ như ước nguyện của người cha Võ Quí Huân vẫn chưa thể thực hiện; mọi bức thư chỉ dừng lại ở mức xã giao.

Trong một lá thư hồi âm cho cháu gái Thuỳ Dương, chị Việt Nga tái khẳng định: “… Sẽ rất đau đớn cho bác nếu phải kết giao lại với gia đình ở Việt Nam. Bác không thể làm được điều này vì nó làm bác quá đau lòng. Bác rất muốn trao đổi thư từ thỉnh thoảng với cháu. Thế thôi!”.

Trước thực tế này, những người thân trong gia đình và ngay cả hai người con của chị Hoà Bình đều khuyên: Bác Việt Nga tuy mang dòng máu của ông, nhưng là người Pháp hoàn toàn. Nếu người Pháp đã không muốn, thì rất khó lay chuyển; họ rất cần được tôn trọng sự riêng tư… Tuy nhiên, càng khó khăn thì chị Hoà Bình càng quyết tâm phải gặp bằng được người chị gái của mình.

Chị Võ Quí Hoà Bình (thứ tư từ trái qua) và gia đình chị Võ Quí Việt Nga (thứ hai từ trái qua).

Tháng 10/2007, chị Hoà Bình sang Pháp lần thứ tư. Cả 3 lần trước, dù đã liên hệ qua điện thoại nhưng chị Việt Nga đều khước từ việc gặp gỡ. Chị Hoà Bình kể lại: Con trai tôi đã ở Pháp nhiều năm, nên mày mò tìm kiếm được địa chỉ của bác Việt Nga. Đó là một ngôi làng gần thành phố nhỏ có tên là Autun, cách Paris khoảng 500km. Chúng tôi được một người lái taxi nhiệt tình chở đi và hỏi thăm đường tới làng Moux en Morvan… Nghe chúng tôi kể về người chị gái bị thất lạc đã nhiều lần khước từ không gặp người thân, ông lái xe tỏ ra xúc động và nói: “Kì lạ thật. Lát nữa gặp nhau có cần tôi vào nói giúp không?”… Xe dừng lại trước một ngôi nhà ở cuối làng, cháu Quân xuống xe bấm chuông, tôi vẫn ngồi lại và nói với người lái taxi: “Nếu lần này chị ấy vẫn từ chối, thì chúng tôi sẽ về luôn”.

Chị Việt Nga, khi ra mở cổng, đã sững sờ đứng lặng hồi lâu mới mời khách vào nhà. Quân hỏi: “Cháu có thể mời mẹ cháu vào được không?”. Bác Việt Nga lúc này đã không thể từ chối tình cảm ruột thịt, chị Hoà Bình bước vào khu vườn và ôm lấy người chị gái của mình… Chị Việt Nga chỉ im lặng lắng nghe những lời tâm sự của người em gái… Mãi sau, chị mới thốt lên: “Cha đã làm việc vất vả lắm phải không?”. Trong nước mắt, chị Hoà Bình đã nói: “Ba rất nhớ bà Irenè và yêu chị. Ba rất ân hận vì đã không trở lại với hai mẹ con chị. Trước lúc mất, ba dặn chúng em phải tìm được bà Irenè và chị… Hai mẹ con chị Hoà Bình được anh Michel (chồng chị Việt Nga) dẫn lên căn gác nhỏ đầy ắp những hình ảnh, kỉ niệm về người cha Võ Quí Huân và mẹ Vo Qui Irenè, còn có một thùng gỗ đầy ắp những bức thư và ảnh từ Việt Nam gửi sang. Chị Việt Nga khi ấy mới thổ lộ: “Có điềm gì đó, khoảng 2 tuần nay, ông ấy (anh Michel) cứ tẩn mẩn tìm lại những kỉ niệm, những bức ảnh, và sắp xếp theo trình tự thời gian, như là chờ ai tới thăm!”.

Sau cuộc gặp gỡ này, chị Hoà Bình đã thêm 2 lần sang nước Pháp thăm chị gái Việt Nga và anh rể. Chị cho tôi xem một bức thư mà chị Việt Nga vừa gửi ngày 6/8/2010, có đoạn: “Em gái thân yêu của chị! Chị gửi cho em ba tấm hình để chúng ta có thể biết được nhau nhiều hơn. Chiều nay chị đã đến Autun và chị đã nghĩ về em rất nhiều, vì đó là lần đầu tiên chúng ta gặp nhau và cũng là nơi chị đã chở em và Quân về khách sạn. Chị cảm ơn em từ tận sâu đáy lòng đã đến để tìm chị và để chúng ta có thể biết được nhau và lấy lại khoảng thời gian đã mất… Ký tên: Moumou”.

Khi tôi đang viết những dòng này, thì nhận được điện thoại của chị Hoà Bình. Chị khoe: “Sáng nay (13/12/2010), bác Việt Nga đã gọi điện chúc mừng sinh nhật chị. Chị mừng quá. Giờ chị cũng đang chuẩn bị thiếp và quà để gửi mừng bác Việt Nga và gia đình nhân dịp Noel”

Trần Duy Hiển

cand.com.vn