Thư viện

Tự phê bình, phê bình, sửa chữa (26-7-1956)

Tự phê bình là cá nhân, (cơ quan hoặc đoàn thể) thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã phạm.

Phê bình là thấy ai (cá nhân, cơ quan, đoàn thể) có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ.

Mục đích tự phê bình và phê bình đều nhằm giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, cùng nhau tiến bộ.

Từ xưa đến nay, có bao giờ bọn phong kiến, tư bản, đế quốc, thực dân tự phê bình và để người khác phê bình chúng không? Không! Bởi vì chúng không muốn mà cũng không thể sửa chữa khuyết điểm căn bản của chúng là chế độ người bóc lột người. Hơn nữa, ai phê bình thì bị chúng khủng bố. Chỉ có nhân dân dám phê bình chúng bằng cách mạng đánh đổ chúng.

Dưới chế độ dân chủ, thì mọi người, trước hết là mọi cán bộ, mọi cơ quan và đoàn thể cần phải thật thà tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình; có như vậy mới tiến bộ được.

Phê bình là cốt để giúp nhau tiến bộ. Cho nên phê bình phải có thái độ thành khẩn, tính chất xây dựng. Không nên phê bình ẩu, phê bình suông. Khi phê bình cần phải xét nguyên nhân của khuyết điểm, phải cân nhắc đến ưu điểm, phải đề ra cách sửa chữa. Thí dụ: Nhân dân ta mạnh dạn phê bình. Đó là một điều rất tốt. Thế là dân chủ thật sự. Nhưng khi phê bình, chúng ta cần phải:

– Xét rõ nguyên nhân của những khuyết điểm, những khó khăn. Như: nước ta bị phong kiến thống trị hàng nghìn năm, bị thực dân áp bức bóc lột gần 100 năm, chiến tranh tàn phá suốt 15 năm, miền Bắc giải phóng chưa đầy hai năm, hạn lụt liên tiếp, v.v..

– Kiểm điểm thành tích – Cải cách ruộng đất căn bản thắng lợi, gần 8 triệu nông dân có ruộng cày, hơn 386 vạn nông dân đã vào nông hội, 14 nông giang lớn và 3.600 cây số đê đã được xây đắp, tu bổ. Chúng ta đã khôi phục nhiều xí nghiệp cũ và xây dựng một số nhà máy mới, đã đắp lại hơn 500 cây số đường xe lửa. Nhiều trường học được mở thêm, chỉ trong mấy tháng đã hơn 2 triệu đồng bào thanh toán nạn mù chữ…

– So với thời gian non hai năm thì những thắng lợi căn bản ấy không phải là ít; nhưng khuyết điểm chắc cũng có nhiều. (Có khi khuyết điểm là cái bóng của thành tích).

Đảng và Chính phủ ta rất sẵn sàng nhận những lời phê bình của nhân dân và có quyết tâm sửa chữa. Cho nên khi phê bình, chúng ta cần phê bình một cách thiết thực và đề nghị phương pháp sửa chữa hợp lý. Phê bình và giúp đỡ sửa chữa, đó là quyền lợi và nghĩa vụ dân chủ của nhân dân ta.

Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình, và kiên quyết sửa chữa. Do tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên – mà chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ, càng đồng tâm nhất trí, càng tiến bộ không ngừng, càng chắc chắn thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

C.B.

—————————-

Báo Nhân dân, số 874, ngày 26-7-1956.
cpv.org.vn

Bác phê phán thói công thần của một số chính trị phạm

 – 100 ngày sau khi chiến tranh lan rộng ra cả nước, nhận thức rằng cuộc kháng chiến sẽ phải trường kỳ và vô cùng gian khổ cần đến một đội ngũ những cán bộ và chiến sĩ có đủ phẩm chất để vượt qua những thử thách, ngày 1/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”.

Bức thư viết: “Trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi đồng chí và toàn cả đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm vào một mục đích đánh đuổi thực dân Pháp làm cho nước nhà thống nhất và độc lập. Vì vậy mỗi đồng chí và toàn Đoàn thể phải: sáng suốt, khôn khéo, cẩn thận, kiên quyết, siêng năng, nhất trí”.

Tháng 3/1956, Bác thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, Hà NộiTháng 3/1956, Bác thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, Hà Nội.

Cuộc trường kỳ kháng chiến này, tức là dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao. Trong lúc này, tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm”.

Thư còn yêu cầu “chúng ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm” và nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến vạch rõ những khuyết điểm đó là: “địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quân phiệt quan liêu, óc hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ hủ hoá” với những phân tích rất sâu sắc .

Ví như khi đề cập tới “óc bè phái”, Bác viết: “Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe…”; với “óc quân phiệt quan liêu thì “Khi phụ trách ở vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh hoẹ”.

Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới thì cậy quyền lấn át. Đối với quần chúng thì ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi”. Với “óc hẹp hòi”, Bác viết: “Chúng ta phải nhớ rằng: người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi. Người mà hẹp hòi ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi thì không thể phát triển”.

Khi nói đến khuyến điểm “ích kỷ hủ hoá”, Bác viết phê phán thói công thần của một bộ phận lãnh đạo xuất thân từ chính trị phạm: “Vẫn biết nhà pha đế quốc là nơi huấn luyện, vẫn biết Việt Minh là đoàn thể gồm những người yêu nước, chăm lo việc cứu nước. Nhưng hẳn ngoài Việt Minh còn biết bao nhiêu người hay người giỏi mà Việt Minh chưa tổ chức được.

Vả lại nếu chính trị phạm, nếu người của Mặt trận giỏi hơn ai hết  thì những người không có hân hạnh ở tù, những người chưa vào Mặt trận vô tài, vô dụng cả sao? Mỗi đồng chí chúng ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cựu, càng giỏi, càng phải khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ, phải nhớ câu nói của ông thầy chúng ta “Phải học, Học thêm, Học mãi” (đó là câu của Lênin).

Bức thư còn nêu lên những biện pháp để thực hiện được vai trò của đội ngũ cán bộ trong đó nhấn mạnh đến công tác giao thông: “Giao thông là mạch máu của mọi việc, giao thông tắc thì việc gì cũng khó. Giao thông tốt, thì việc gì cũng dễ dàng”. Cũng với nội dung căn bản như bức thư này, Bác còn viết “gửi các đồng chí Trung Bộ”. Đây cũng có thể coi là những phác thảo chuẩn bị cho cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” biên soạn một cách hệ thống được xuất bản tháng 10 năm đó (1947).

X&N
bee.net.vn

Phê bình và tự phê bình theo tấm gương Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí”, “cũng như người có bệnh nếu giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh lâu ngày nặng thêm, nguy hiểm đến tính mạng”. Cho nên, “một đảng mà giấu khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh mẽ, chắc chắn, chân chính” .

Chủ tịch Hồ Chí Minh

…Nếu Đảng ta không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ, thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên. Vì vậy, lần này Trung ương quyết định phải tiếp tục tiến hành củng cố xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết hơn, mạnh mẽ hơn, nhằm tạo ra một bước chuyển biến mới trên các mặt, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động; củng cố tổ chức chặt chẽ, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng ta, chế độ ta…

Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, muốn có được sức mạnh và uy tín thì Đảng phải tự rèn luyện, tự củng cố, đổi mới, chỉnh đốn; không ai có thể làm thay được. Từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình hiện nay, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác làm. Từng cán bộ, đảng viên từ cấp cao đến cơ sở cùng làm. Nếu mỗi người tự chỉnh đốn bản thân mình trước thì cả tổ chức sẽ chuyển động. Ở đây, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư tự giác, gương mẫu làm trước; tự phê bình, kiểm điểm, nhìn lại mình; cái gì tốt thì phát huy, cái gì xấu thì tự gột rửa; tránh xa mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài; tránh rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ tệ hại…

Nhân đây, tôi muốn nói sâu thêm một chút về tự phê bình và phê bình. Đây là khâu mấu chốt nhất nhưng thực hiện cũng có nhiều khó khăn nhất. Bởi vì, nó đòi hỏi mỗi người phải tự phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác. Nếu không thật tự giác, chân thành, công tâm thì rất dễ chủ quan, thường chỉ thấy ưu điểm, mặt mạnh của mình nhiều hơn người khác; trong khi chỉ thấy khuyết điểm, mặt yếu của người khác nhiều hơn mình. Nếu không hết lòng vì sự nghiệp chung, không có dũng khí, không thật sự cầu thị thì không dám nói hết khuyết điểm của mình và không dám phê bình người khác, nhất là phê bình cấp trên. Thái độ nể nang, hữu khuynh, “im lặng là vàng”, hoặc thái độ cực đoan, muốn lợi dụng phê bình để đả kích người khác, gây rối nội bộ, đều là không đúng. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi mỗi người phải có tinh thần tự giác rất cao, có tình thương yêu đồng chí thật sự và phải có dũng khí đấu tranh thẳng thắn, chân tình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí”, “cũng như người có bệnh nếu giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh lâu ngày nặng thêm, nguy hiểm đến tính mạng”. Cho nên, “một đảng mà giấu khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh mẽ, chắc chắn, chân chính” . Bác không chỉ kêu gọi, nhắc nhở, mà bản thân Bác luôn luôn gương mẫu tự phê bình và yêu cầu mọi người phải thẳng thắn góp ý phê bình Bác. Có lần Bác nói: “Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa, tức là hại người ta” . Những lời dạy ấy thật là chí tình, chí lý. Chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ thì tự mỗi người hãy học và làm theo ngay việc này đi, không tốn tiền tốn của gì cả, càng không phải chờ cơ chế, chính sách nào hết; chỉ miễn sao trong lòng chúng ta trong sáng; thật lòng vì nước, vì dân, vì Đảng; thật sự là người cộng sản…

Lâu nay chúng ta vẫn nói, tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén để xây dựng Đảng, để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Thực tế cũng có không ít tập thể và cá nhân làm tốt việc này. Nhưng nhìn chung, do chỉ đạo không tốt, do ý thức tự giác của một số cán bộ, đảng viên không cao, cho nên kết quả còn hạn chế. Lần này, theo tinh thần của Trung ương, chúng ta cần rút kinh nghiệm, chuẩn bị thật chu đáo; chỉ đạo tỉ mỉ, chặt chẽ; tiến hành nghiêm túc, thận trọng; làm đến đâu, chắc đến đó, đạt kết quả cụ thể, thực chất. Hết sức tránh làm lướt, làm qua loa, hình thức, chiếu lệ. Khắc phục tình trạng xuê xoa, nể nang, thậm chí biến cuộc họp tự phê bình và phê bình thành nơi vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; cũng như tình trạng lợi dụng dịp này để “đấu đá”, “hạ bệ” nhau với những động cơ không trong sáng. Nghiêm khắc xử lý những trường hợp trù dập phê bình và vu cáo người khác. Kinh nghiệm cho thấy, muốn tự phê bình và phê bình có kết quả tốt, điều quan trọng là phải thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, người đứng đầu phải gương mẫu và phải có các hình thức dân chủ để quần chúng đóng góp phê bình cán bộ, đảng viên, và phải nghiêm túc tiếp thu những ý kiến phê bình đúng đắn. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là để làm cho Đảng mạnh hơn; cán bộ, đảng viên gương mẫu hơn; tổ chức đảng có sức chiến đấu cao hơn; đoàn kết nội bộ tốt hơn; gắn bó với nhân dân mật thiết hơn; thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị đạt kết quả cao hơn; chứ không phải ngược lại…

(Trích phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khoá XI. Tựa đề do toà soạn đặt)

vanhien.vn

Quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong giảng dạy môn học Xây dựng Đảng hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta. Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết xây dựng Đảng của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác – Lê nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để giải quyết đúng đắn những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng Đảng ta, đảm bảo cho Đảng ta luôn thể hiện được bản chất cách mạng và khoa học – thuộc tính căn bản nhất của một Đảng Mác-Lê nin.

Với nhận thức sáng suốt và sâu sắc rằng: Chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công, Hồ Chủ Tịch đã nổ lực phấn đấu để sáng lập Đảng ta và suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Người luôn luôn chăm lo xây dựng Đảng ta lớn mạnh về mọi mặt.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đổi mới tư duy lý luận là một yêu cầu rất quan trọng. Với bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với những nguyên lý xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền Nhà nước đã được cuộc sống kiểm nghiệm và đã trở thành chân lý, Đảng ta khẳng định: Chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Chúng ta không những phải nắm vững những nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí minh, nắm vững những quan điểm cơ bản về xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước mà còn phải tiếp tục phát sáng tạo trong điều kiện lịch sử mới.

Vì vậy, việc nghiên cứu, quán triệt chủ nghĩa Mác – Lê nin và nhất là tư tưởng Hồ Chí Minh một cách thật sự nghiêm túc và sâu sắc là một yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với người giáo viên ở các Trường chính trị nói chung và trường chính trị Nghệ An nói riêng.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo đến công tác xây dựng Đảng, trước lúc vĩnh biệt thế giới này, trong Bản di chúc để lại cho các thế hệ mai sau, điều trước hết Người cũng nói về Đảng. Người căn dặn: “Việc cần làm đầu tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mọi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.

Trong công tác xây dựng Đảng, Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục lập trường và bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng và niềm tin cộng sản, lòng yêu nước thương dân cho cán bộ, đảng viên.

Trong bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, mãi mãi còn in sâu trong tâm hồn các thế hệ đảng viên, Bác viết:

“Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hàng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang…

Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức phẩm chất còn thấp kém.

Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.

Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do chủ nghĩa cá nhân mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm.

Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn đảng về lý tưởng cộng  sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên… Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết “quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”.

Đối với công tác xây dựng Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập rất nhiều nội dung từ việc khẳng định Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và không ngừng phấn đấu nâng cao tính chất giai cấp công nhân của Đảng; và đã là Đảng của giai cấp công nhân thì phải lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, nhưng dân chủ phải đi đôi với kỷ luật. Để giữ vững kỷ luật của Đảng Người căn dặn: cán bộ, đảng viên phải thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình được Người đặc biệt quan tâm, Người coi đó là quy luật phát triển của Đảng, là biện pháp để củng cố và phát triển sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, giữ vững và phát huy sức mạnh của Đảng ta.

Phê bình và sữa chữa, tự phê bình và phê bình được Người đề cập ở rất nhiều bài nói bài viết của mình; Người coi “Tự phê bình và phê bình” cũng như cơm ăn, nước uống, như không khí để thở của người cách mạng. “Ngày nào cũng phải ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn, thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm”.

Nghĩa là tự phê bình phải thường xuyên, chứ không phải chờ khi khai hội mới tự phê bình, không phải khi làm khi không. Bác Hồ cặn dặn chúng ta:

“Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sữa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

“Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ nó mà chúng ta sữa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng”. “Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”.

Để “Tự phê bình và phê bình” có hiệu quả, Người căn dặn rất cụ thể:

“Tự phê bình phải thật thà. Khi tự mình kiểm điểm cũng như khi tự phê bình trước mọi người, có khuyết điểm gì nói hết, không dấu giếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao mà sai lầm. Sai lầm ấy sẽ thế nào. Dùng cách gì mà sữa chữa.

Tự phê bình và sữa chữa khuyết điểm có khi dễ , nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn, vì tự ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh. Tự mình, không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng được kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý. Vì vậy người cách mạng nhất định phải thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm”.

Chúng ta  vì dân, vì nước mà làm cách mạng.Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sữa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình.

Mục đích phê bình là cốt lợi cho công việc chung. Nguyên tắc phê bình là phải nhằm vào tư tưởng và công tác. Tư tưởng không đúng đắn thì công việc ắt sai lầm. Phê bình là cốt đẻ giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang, đúng mực. Phải vạch rõ vì sao có khuyết điểm ấy, nó sẽ có kết quả xấu thế nào, dùng phương pháp gì để sửa chữa. Thuốc phải nhằm đúng bệnh. Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù, không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng”.

Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ. Cấp dưới có quyền phê bình cấp trên. Nhân dân có quyền phê bình cán bộ, phê bình chính quyền, Đảng và đoàn thể. Mọi người có quyền phê bình nhau để cùng nhau tiến bộ.

Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình. Song phê bình phải đường hoàng, chính đáng, quyết không nên thầm thì, thầm thụt “viết thư dấu tên”, như một vài cán bộ ở trung ương đã làm.

Đảng viên và cán bộ, Đảng, các đoàn thể nhân dân và chính quyền cần phải hoan nghênh và khuyến khích nhân dân phê bình. Nếu phê bình sai thì phải giải thích. Phê bình đúng thì phải công khai thừa nhận và sửa chữa.
Dìm phê bình hoặc phớt phê bình  là khinh rẻ ý kiến nhân dân, là trái với dân chủ và rất có hại, cũng như có bệnh mà từ chối uống thuốc.

Phê bình và tự phê bình là công việc thường xuyên. Ngừng phê bình và tự phê bình tức là ngừng tiến bộ, tức là thoái bộ.

Người ta luôn luôn cần không khí để sống. Người cách mạng và đoàn thể cách mạng cần phê bình và tự phê bình thiết tha như người ta cần không khí.

Cách mạng sở dĩ phát triển mãi, tiến bộ mãi, càng gặp nhiều gian khổ càng mạnh mẽ thêm là nhờ có phê bình và tự phê bình.  Cho nên toàn thể đảng viên và cán bộ cần làm gương mẫu, thật thà và tự phê bình để tự giáo dục mình và giáo dục nhân dân, để làm tròn sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ cho chúng ta thấy rõ một số biểu hiện không lành mành của một số cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện tự phê bình :

“Vẫn có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài đảng. Họ không biết rằng: có hoạt động thì khó hoàn toàn tránh khỏi sai lầm. Chúng ta không sợ sai lầm; chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân”.

Tự phê bình và phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng và sự lớn mạnh của Đảng.

Để thực hiện lời dạy của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Người Đảng ta đã ra Nghị quyết TW 6(lần 2) trong đó có nội dung: mở cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng từ 19-5-1999 đến 19-5-2001 và những năm tiếp theo. Năm 2001, Đảng ta đã tổng kết việc thực hiện Nghị quyết TW 6 (lần 2); TW Đảng đã nêu rõ những ưu điểm qua quá trình thực hiện Nghị quyết trên là đã tạo ra được một sự chuyển biến tiến bộ trong sinh hoạt của các tổ chức Đảng đã thể hiện được bầu không khí dân chủ rộng rãi hơn. Tuy nhiên, TW cũng  thẳng thắn nêu rõ mặt còn tồn tại khuyết điểm là kết quả việc thực hiện Nghị quyết TW6( lần 2) chưa đạt được như mong muốn. Những tồn tại trên có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân quan trọng là do nhiều cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng theo tư tưởng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, việc quán triệt nội dung trên trong các bài giảng của môn học Xây dựng Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, đó là một trong những nội dung để xây dựng Đảng ta mãi mãi trong sạch vững mạnh./.

Tác giả : Hồ Sỹ Quế – Trưởng khoa Xây dựng Đảng

truongchinhtrina.gov.vn

Tự phê bình và phê bình, vũ khí sắc bén để xây dựng, chỉnh đốn Ðảng

(Chinhphu.vn) – Giá trị đích thực của nguyên tắc tự phê bình và phê bình Ðảng ta thường nói: Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Ðảng, là vũ khí sắc bén để xây dựng, chỉnh đốn Ðảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết, mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ

Sự khẳng định ấy là đúng đắn, cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Nhìn lại hoạt động của Ðảng trong hơn 80 năm qua, chúng ta thấy rõ: Trong công tác xây dựng Ðảng, Ðảng ta luôn nhất quán lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, lấy tự phê bình và phê bình làm phương pháp chính yếu để kiểm điểm công việc, đánh giá đúng sai, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, làm cho Ðảng luôn tiên phong, tiến bộ.

Không phải ngẫu nhiên, trong “Sửa đổi lối làm việc” (1947) một tác phẩm mẫu mực về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, Bác Hồ đã mở đầu bằng chương I “Phê bình và sửa chữa”.

Bác viết:

“Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

“Ðảng ta hy sinh tranh đấu, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, tranh lại thống nhất và độc lập. Công việc đã có kết quả vẻ vang.

Nhưng nếu mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, thì thành tích của Ðảng còn to tát hơn nữa.

Cán bộ và đảng viên làm việc không đúng, không khéo, thì còn nhiều khuyết điểm. Khuyết điểm nhiều thì thành tích ít. Khuyết điểm ít thì thành tích nhiều”.

Bác ví khuyết điểm như bệnh tật, phê bình như uống thuốc. “Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy hiểm đến tính mệnh”. “Một Ðảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Ðảng hỏng. Một Ðảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra những khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Ðảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. (Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, 2011, Tập 5, tr 273 và tr 301).

Những lời chỉ dạy của Bác Hồ trong “Sửa đổi lối làm việc” cũng như trong nhiều bài nói và bài viết sau này đã thật sự đặt nền móng cho việc xây dựng một chế độ tự phê bình và phê bình có nền nếp trong Ðảng ta. Và nhờ sử dụng tự phê bình và phê bình như một vũ khí, Ðảng ta đã gặt hái được nhiều kết quả trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Qua đó, góp phần làm cho Ðảng ta làm tròn sứ mệnh của một Ðảng tiên phong, lãnh đạo nhân dân giành những thắng lợi vĩ đại. Tuy nhiên, trong cuộc sống, không phải mọi việc đều suôn sẻ. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng nói chung, tự phê bình và phê bình nói riêng, nhiều lúc, nhiều nơi còn bị buông lỏng hoặc làm một cách hình thức, qua loa, chiếu lệ. Sinh hoạt tự phê bình và phê bình bị biến dạng dưới nhiều kiểu, nhiều cách. Phổ biến nhất là tình trạng nể nang, xuề xòa, né tránh, không dám nói thẳng, nói thật, “nói tốt trước mặt, hục hặc sau lưng”. Lợi dụng tự phê bình và phê bình để đề cao cá nhân, bơm thổi những việc mình làm được, bào chữa những việc mình làm hỏng; che giấu khuyết điểm cho nhau; vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; hoặc ngược lại; bới móc và đả kích nhau, biến những cuộc họp kiểm điểm thành nơi “đấu đá” và “hạ bệ” nhau.

Những lệch lạc nêu trên cần được kịp thời chấn chỉnh. Trả lại giá trị đích thực cho nguyên tắc tự phê bình và phê bình, đồng thời lành mạnh hóa sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong Ðảng là một yêu cầu bức thiết.

Mài sắc hơn nữa vũ khí tự phê bình và phê bình

Với quyết tâm tạo nên một chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, Hội nghị Trung ương 4 đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay”, coi tự phê bình và phê bình là “khâu mấu chốt nhất” để kiểm điểm, đánh giá tình hình, đề ra quyết sách và tổ chức việc thực hiện.

Chính với tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc, Trung ương không chỉ khẳng định những kết quả tích cực đạt được mà còn thẳng thắn chỉ ra rằng: “Công tác xây dựng Ðảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự tồn vong của chế độ”. Trong ba loại yếu kém nổi bật nhất, nổi lên hàng đầu là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp. Suy thoái có những biểu hiện khác nhau: phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc. Vì lẽ đó, “kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái…” được coi là vấn đề cấp bách nhất trong ba vấn đề cấp bách được xác định.

Về hệ thống giải pháp cho ba vấn đề cấp bách, cũng trên tinh thần đặc biệt coi trọng tự phê bình và phê bình, Trung ương đã đặt lên hàng đầu nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cấp trên.

Thông qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, chúng ta có thể tìm lời giải đáp cho một số câu hỏi lâu nay vẫn thường được đặt ra.

Về mối quan hệ  giữa tự phê bình và phê bình.

Tự phê bình và phê bình không phải hai chuyện khác nhau mà là hai mặt của cùng một vấn đề. Chỉ khác nhau ở chỗ: phê bình là kiểm điểm người khác, còn tự phê bình là mình kiểm điểm mình. Nói mình và người là nói đến chủ thể. Chủ thể có thể là một cán bộ, đảng viên, một cấp ủy hay một tổ chức đảng. Với bất cứ chủ thể nào, tự phê bình vẫn là mặt chính yếu nhất. Bởi chủ thể là người biết rõ công việc của mình hơn ai hết, biết mình đã làm gì và làm như thế nào; tự phê bình thể hiện tính tự giác và tinh thần trách nhiệm trước công việc, trước Ðảng và trước nhân dân. Nhưng tự phê bình cũng có mặt hạn chế khi chủ thể có sự chủ quan trong nhận thức: sai tưởng đúng, xấu tưởng tốt, trái tưởng phải. Vì vậy, cần có phê bình. Phê bình là chỉ ra khuyết điểm (hay ưu điểm) của chủ thể tự kiểm điểm. Phê bình đúng sẽ giúp cho người mắc sai lầm, khuyết điểm thấy sự cần thiết phải sửa chữa. Người phê bình thường có thái độ khách quan hơn người tự phê bình. Về mặt này, phê bình có ý nghĩa rất quan trọng, có khi quan trọng hơn tự phê bình. Tự phê bình và phê bình giống như hai cánh của cùng một con chim. Chim không thể bay nếu hai cánh không cùng vỗ. Sẽ là không đúng nếu đánh giá kết quả một cuộc họp kiểm điểm, nhất là kiểm điểm một tập thể, một cấp ủy, một tổ chức đảng mà chỉ căn cứ vào tiếng nói của một chiều phê bình hay tự phê bình. Ðó là chưa nói đến những trường hợp có biểu hiện sai trái làma biến dạng tự phê bình và phê bình như đã nói ở phần trên.

Về mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới trong tự phê bình và phê bình.

Trước nay, ta vẫn chủ trương, tự phê bình và phê bình phải tiến hành đồng bộ, từ trên xuống và từ dưới lên, mà thường là từ dưới lên. Lần này, cũng như trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần hai) khóa VIII (1998), Trung ương chủ trương làm từ trên xuống.

Trước hết, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương tập trung kiểm điểm, đánh giá làm rõ tại sao những hạn chế, khuyết điểm đã chỉ ra nhiều năm nhưng chậm được khắc phục, có mặt còn yếu kém, phức tạp thêm, làm rõ nguyên nhân trở ngại trong việc lãnh đạo thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng Ðảng. Tiếp đó, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương tiến hành kiểm điểm, đánh giá, liên hệ bản thân về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao liên quan đến một số vấn đề cấp bách nêu trong nghị quyết này, đề ra biện pháp giải quyết. Sau nữa, các đồng chí ủy viên ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các ban của Trung ương Ðảng, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy các cấp nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nêu gương bằng hành động thực tế.

Trung ương cũng nhấn mạnh: Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy đảng, cán bộ chủ chốt, nhất là cấp Trung ương, người đứng đầu làm trước và phải thật sự gương mẫu để cho các cấp noi theo.

Về mối quan hệ giữa kiểm điểm, tự phê bình và phê bình với xử lý theo kỷ luật Ðảng và theo pháp luật của Nhà nước.

Tự phê bình và phê bình có mục đích giúp các chủ thể (cá nhân và tập thể) thấy rõ ưu điểm để phát huy, nhận rõ khuyết điểm để sửa chữa, coi trọng sự giáo dục, sự giúp đỡ chân thành của các đồng chí, đồng nghiệp, học tập lẫn nhau, “trị bệnh cứu người”. Những trường hợp sai phạm nghiêm trọng mà không thành khẩn, không tự giác, không tiếp thu sự giúp đỡ của tập thể thì phải xử lý thích đáng.

Ðó là nói trong phạm vi tự phê bình và phê bình. Còn xử lý như thế nào, theo kỷ luật Ðảng hay theo pháp luật của Nhà nước là tùy thuộc vào tính chất và mức độ của các sai phạm.

Kỷ luật Ðảng bao gồm nhiều hình thức. Ðối với tổ chức đảng, đó là khiển trách, cảnh cáo, giải tán. Ðối với cá nhân đảng viên, đó là khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ.

Pháp luật của Nhà nước cũng quy định nhiều khung hình phạt khác nhau, tùy theo từng loại tội phạm.

Việc thi hành kỷ luật trong Ðảng hoàn toàn không thay thế cho việc xử lý theo pháp luật. Có những trường hợp chỉ thi hành kỷ luật trong Ðảng là đủ. Nhưng có những trường hợp sai phạm nghiêm trọng, gây tổn hại cho Ðảng, Nhà nước và nhân dân, thậm chí vi phạm pháp luật rõ ràng thì nhất thiết phải truy tố trước pháp luật và chịu sự phán xử nghiêm minh của pháp luật.

Ðiều cần nói thêm

Ðể đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, giải quyết các vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, tự phê bình và phê bình được coi là nhóm giải pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhưng đó không phải là giải pháp duy nhất. Còn có các nhóm giải pháp khác nhau: nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng; nhóm giải pháp về tổ chức về cơ chế, chính sách và nhóm giải pháp về công tác chính trị, tư tưởng. Mỗi nhóm giải pháp ấy đều chứa đựng những nội dung mới, những việc làm cụ thể và thiết thực.

Tiếc rằng, để tập trung vào chủ đề tự phê bình và phê bình, bài viết này không thể đề cập tới những nội dung và việc làm ấy.

Dẫu sao, tôi vẫn tin, chỉ có thực hiện đầy đủ và đồng bộ các nhóm giải pháp đã đề ra, với tinh thần tích cực, khẩn trương, chắc chắn, có lộ trình và bước đi hợp lý, đã nói là làm, thì việc đưa Nghị quyết Hội  nghị Trung ương 4 vào cuộc sống mới thật sự trở thành hiện thực.

Hà Đăng
(Báo Nhân dân)

baodientu.chinhphu.vn

Nguyên tắc Phê bình và tự phê bình trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng cả về tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức, cán bộ. Sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử vẻ vang đó vì Đảng luôn luôn được xây dựng, tự đổi mới và tự chỉnh đốn theo tư tưởng Hồ Chí Minh để Đảng thật sự là một Đảng cách mạng chân chính như mong muốn của Người.

Một trong những tư tưởng có tính nguyên tắc trong xây dựng Đảng của Bác là Tự phê bình và phê bình được thể hiện rõ trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”. Theo Hồ Chí Minh đây là vũ khí sắc bén nhất để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh và là quy luật phát triển của Đảng. Người nhận thức sâu sắc rằng, tuy Đảng ta gồm những người có tài, có đức, phần đông là những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất …, nhưng “không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”. Người nói: “Đảng ta không phải ông thánh và cũng không phải từ trên trời rơi xuống, nó ở trong xã hội mà ra”. Từ đó, Người khẳng định: “Người đời ai cũng có khuyết điểm, có làm việc thì có sai lầm”, do vậy trong Đảng phải luôn luôn tự phê bình và phê bình, mà phê bình và tự phê bình “phải ráo riết”, “ triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt”. Cách phê bình cũng phải thành thật, giàu lòng nhân ái, khách quan. Thái độ phê bình phải có văn hoá, mang tính chất xây dựng chứ không phải nói xấu nhau. Những người bị phê bình thì phải vui vẻ nhìn nhận để sửa chữa. Được như vậy thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ khoẻ mạnh vô cùng.

Bản chất của “tự phê bình và phê bình” là hoạt động đấu tranh trong nội bộ Đảng để khắc phục sửa chữa những mặt, những khuynh hướng, những yếu tố tiêu cực lạc hậu trong tổ chức đảng và đảng viên; tìm ra những ưu điểm, những mặt tích cực để khuyến khích, biểu dương, phát triển. Nếu ví Đảng ta như một cơ thể sống, thì những khuyết nhược điểm là bệnh tật trong người và tự phê bình và phê bình là hoạt động “khám bệnh” và trị bệnh cho con người. Nhưng đấu tranh giải quyết những mâu thuẫn trong Đảng, như C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng chỉ rõ, tuyệt đối không được dùng biện pháp bạo lực thanh trừng lẫn nhau, loại bỏ lẫn nhau, mà phải đấu tranh bằng phê bình và tự phê bình.

Tự phê bình theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là “cá nhân thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa và để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã vi phạm. Phê bình là thấy ai có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ”.

Theo Người, có thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm thì mới phê bình người khác được chân thực và thẳng thắn. Mặt khác, trong thực tế, tự phê bình thường khó khăn hơn phê bình. Cần tự phê bình tốt để có thể phê bình tốt. Vì thế, Người thường đặt tự phê bình trước phê bình. Người nói: “Tự phê bình phải thật thà. Khi tự mình kiểm điểm cũng như khi tự phê bình trước mọi người, có khuyết điểm gì nói hết, không giấu diếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao sai lầm? Sai lầm ấy sẽ thế nào? Dùng cách nào mà sửa chữa? Và phải kiên quyết sửa chữa”. Bác cũng nói: “Tự phê bình và sửa chữa có khi dễ, nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn vì tự ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh. Tự mình không đánh thắng được khuyết điểm của mình mà muốn đánh thắng kẻ địch; tự mình không cải tạo được mình mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý. Vì vậy, người cách mạng nhất định phải thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm tự phê bình và phê bình trong xây dựng Đảng là “luật”, là “quy luật”, là “vũ khí sắc bén” làm cho Đảng trong sạch vững mạnh. Trước hết, tự phê bình và phê bình là “luật” – ở chỗ, đó là một trong những nguyên tắc không thể thiếu trong sinh hoạt Đảng nhằm không ngừng nâng cao tinh thần đoàn kết trong Đảng. Mọi tổ chức Đảng, đảng viên phải thấy đó là trách nhiệm của mình. Tự phê bình và phê bình là “quy luật” tồn tại và phát triển của Đảng; vì thông qua tự phê bình và phê bình, cán bộ, đảng viên mới thấy rõ yếu kém để khắc phục sửa chữa, thấy ưu điểm để phát huy. Tự phê bình và phê bình là “vũ khí sắc bén” vì qua đấu tranh phê phán những việc làm sai trái để làm trong sạch nội bộ Đảng. Mác, Ăngghen cho rằng tự phê bình và phê bình là quy luật bất di bất dịch về sự phát triển của Đảng cách mạng. Lênin tại Đại hội IX Đảng Cộng sản Nga, đã nói: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay đều bị tiêu vong do tự cao tự đại vì không biết cái gì đã tạo nên sức mạnh của mình và vì sợ không dám nói lên nhược điểm của mình. Chúng ta không sợ nói lên nhược điểm của chúng ta; những nhược điểm đó chúng ta sẽ học được cách khắc phục…”.

Về mục đích của “tự phê bình và phê bình”, Bác Hồ viết: “Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ, thì ai cũng cần tự phê bình cho tư tưởng và hành động được đúng đắn. Những người cách mạng cần phải kiên quyết thực hành tự phê bình, không thực hành tự phê bình thì không xứng đáng là người cách mạng. Cách mạng sở dĩ phát triển mãi, càng gặp nhiều gian khổ càng mạnh mẽ thêm là nhờ có phê bình và tự phê bình”. Tự phê bình và phê bình cũng theo Bác Hồ, là cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn; mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày phải kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết, như Bác nói: “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết. Ðoàn kết, phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa”.

Đối tượng của “tự phê bình và phê bình” theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cái cũ, cái tiêu cực, lỗi thời, cái không phù hợp với thời đại, cái sai trái trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ đảng viên.

Về phương pháp của “tự phê bình và phê bình”, Người chỉ rõ: “Tự phê bình là cá nhân cơ quan hoặc đoàn thể thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết để tránh những khuyết điểm mình đã phạm. Yêu cầu các tổ chức Đảng và đảng viên phải nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, cấp trên phải tự phê bình trước cấp dưới và tổ chức tốt phê bình, tự phê bình từ dưới lên. Tự phê bình phải thẳng thắn, thật thà, trung thực trên tình đồng chí thương yêu nhau. Đồng thời cần phải tránh việc lợi dụng phê bình để đả kích, vu cáo gây bè phái hay trù dập người phê bình thẳng thắn. Phê bình là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người, là thực hành dân chủ, do vậy người phê bình phải thành khẩn nghiêm trang đúng mực, phê bình phải đúng với thực tiễn khách quan, không được đem ý chủ quan của mình để áp đặt cho người khác”.

Trước những ý kiến cho rằng, tiến hành tự phê bình và phê bình là vô hình trung vạch rõ khuyết điểm của Đảng, của Chính phủ, của mình cũng như đồng chí mình, và như vậy kẻ địch sẽ lợi dụng để phá hoại Đảng, Hồ Chí Minh lập luận: làm người khó ai tránh khỏi lỗi lầm, thiếu sót. Đảng ta là một tổ chức chính trị tiên phong của giai cấp công nhân, tập hợp những chiến sĩ trung kiên, thông minh, dũng cảm…, nhưng Đảng cũng từ trong xã hội mà ra, không phải “trên trời rơi xuống” nên không tránh khỏi khuyết điểm, thiếu sót. Người chỉ ra nhiều lý do khách quan, chủ quan dẫn tới nhiều thiếu sót, khuyết điểm, thậm chí sai lầm của cán bộ, đảng viên. Điều đó là lẽ bình thường, quan trọng là thái độ của những người cộng sản ra sao trước những lỗi lầm mắc phải. Nếu “sợ mất oai tín và thể diện”, không quyết tâm sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, đó là điều bất bình thường. Người khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Hồ Chí Minh cho rằng: khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình thì giống như uống thuốc. Nếu sợ phê bình thì cũng khác nào là có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Như vậy thì bệnh tình lại càng nặng thêm, không chết “cũng la lết quả dưa ”. Do vậy, đối với đảng viên, cán bộ mà “nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình”.

Đặt vấn đề như vậy, rõ ràng Hồ Chí Minh không “siêu nhân hoá” con người cán bộ, đảng viên mà xét họ trong môi trường sống cụ thể và nêu quan điểm tự phê bình và phê bình chính là thang thuốc “xổ bệnh” rất có hiệu nghiệm để tẩy trừ những khuyết điểm, thiếu sót của cán bộ đảng viên, nhằm làm cho họ sống cao đẹp hơn, phục vụ cho nhân dân được nhiều hơn.

Để phê bình và tự phê bình đạt được kết quả mong muốn, theo Bác điều có ý nghĩa then chốt là phải “phê bình cho đúng”. Phê bình cho đúng chẳng những không làm giảm thể diện, uy tín của người bị phê bình, trái lại, còn làm cho sức mạnh, uy tín của Đảng và cán bộ đảng viên tăng lên. Muốn phê bình cho đúng, trước hết phải xác định đúng mục đích và đối tượng phê bình. Phê bình cốt là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, làm việc cho tốt hơn, tạo ra sự đoàn kết, thống nhất nội bộ. Phê bình mình cũng như phê bình người khác không phải là dịp để công kích lẫn nhau, nói xấu và bôi nhọ danh dự của nhau. Bản thân mình khi phê bình người khác không phải là soi mói, “bới lông tìm vết” của đồng chí mình để tìm cơ hội “hạ bệ” lẫn nhau. Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, cần phải tránh triệt để hiện tượng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí”. Người xác định đối tượng cần phê bình là công việc chứ không phải phê người. Những việc làm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm, khuyết điểm dù đó là của cá nhân hay của tổ chức, dù đó là đảng viên bình thường hay là cán bộ cấp cao đều phải được phê bình một cách kiên quyết và “phải lập tức sửa chữa”. Người nhấn mạnh: Đối với cơ quan lãnh đạo cũng như đảng viên giữ cương vị lãnh đạo trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể phải hết sức gương mẫu trong việc thực hiện tự phê bình và phê bình, tuyệt đối không được “phùng mang trợn mắt” làm thui chột tinh thần của đảng viên, quần chúng nhân dân trong đấu tranh phê bình, tự phê bình.

Theo Bác, có thái độ đúng với những khuyết điểm, thiếu sót và tìm ra phương pháp phê bình thích hợp là điểm có ý nghĩa mấu chốt trong nâng cao hiệu quả của tự phê bình và phê bình trong Đảng. Người cũng nghiêm khắc lên án thái độ, cách xử lý không đúng đắn trước những khuyết điểm, thiếu sót của tổ chức đảng hay cán bộ, đảng viên. Khi có người mắc phải sai lầm, khuyết điểm, thái độ đúng của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng là không “đao to búa lớn”, vội vàng chụp mũ cho họ là “cơ hội chủ nghĩa” rồi đi đến cảnh cáo “khai trừ” một cách áp đặt. Muốn cho họ thành tâm sửa chữa, phải tiến hành giải thích rõ ràng, làm cho họ tự nhận thấy sai sót của mình để vui lòng sửa chữa. Để làm được điều đó, “phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”. Phê bình “khôn khéo” ở đây, theo Hồ Chí Minh, là phải đồng thời vạch rõ ưu điểm và khuyết điểm, tránh dùng những lời mỉa mai, chua cay đâm thọc, không được hữu khuynh “a dua”, “tâng bốc” mà phải phê, tự phê một cách “ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang thêm bớt”.

Sự “khôn khéo” còn thể hiện ở chỗ tiến trình tự phê bình và phê bình phải được đặt trong khuôn khổ của tổ chức, có sự lãnh đạo chặt chẽ. Lãnh đạo, chỉ huy phải khơi dậy được tinh thần dân chủ không chỉ trong Đảng mà cả trong quần chúng nhân dân. Làm như thế mới tránh được hiện tượng đảng viên, cán bộ và quần chúng nhân dân dù có ý kiến cũng không dám nói, không dám đấu tranh phê bình. Hồ Chí Minh cho rằng: Họ không dám nói không phải họ không có ý kiến, nhưng vì họ nghĩ: nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị “trù” là đằng khác. Do không dám nói ra nên họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản, sinh thói không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng, “ trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm” sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác. Người nêu bật kinh nghiệm: “cơ quan nào mà trong lúc khai hội, cấp trên để cho mọi người có gì nói hết, cái đúng thì nghe, cái không đúng thì giải thích, sửa chữa, ở những cơ quan đó mọi người đều hoạt bát mà bệnh “thì thầm thì thào” cũng hết”.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh, phê bình phải được tiến hành một cách thường xuyên liên tục. Làm được như vậy, theo Người: các sai lầm khuyết điểm sẽ được rửa sạch ngay khi nó mới phôi thai. Còn “nếu để sai lầm, khuyết điểm trở nên to tát rồi mới đem ra “chỉnh” một lần, thế là “đập” cán bộ. Cán bộ bị “đập”, mất cả lòng tự tin, người hăng hái cũng hoá thành nản chí, từ nản chí đi đến vô dụng”, như thế là không thực hiện đúng mục đích của tự phê bình, phê bình, không vì sự tiến bộ mà còn mất dần đảng viên, cán bộ.

Những ý kiến về phê bình cho đúng của Hồ Chí Minh vừa nói lên tính Đảng, vừa nói lên tính nhân văn, văn hoá của người phê bình. Muốn sửa chữa sai lầm khuyết điểm đi đến sự tiến bộ thì phải dựa vào lòng tự giác của đảng viên, cán bộ và dùng biện pháp giải thích, thuyết phục. Điều đó là hết sức cần thiết nhưng như thế không có nghĩa là không giải quyết bằng con đường tổ chức. Người chỉ ra lỗi lầm cũng có “việc nhỏ, việc to”, nếu không dùng biện pháp xử phạt thì kỷ luật của Đảng cũng trở nên lỏng lẻo, và điều đó cũng là sự mở đường cho bọn cố ý dễ dàng phá hoại Đảng ta. Do vậy, để tự phê bình và phê bình được tăng thêm hiệu quả thì phải kết hợp chặt chẽ với biện pháp tổ chức, soi xét kỹ lưỡng từng trường hợp để có hình thức xử lý thích hợp.

Là một chiến sĩ cộng sản đã từng trải, dày dạn kinh nghiệm, với nhãn quan chính trị hết sức nhạy bén, Hồ Chí Minh sớm nhìn thấu được nguy cơ của một đảng cầm quyền là dễ vấp phải những sai lầm, khuyết điểm. Người đã chỉ ra một cách cụ thể và đồng thời bốc trúng thang thuốc “xổ bệnh” có hiệu quả cao là tiến hành phê bình trong Đảng. Phê bình cho đúng được Hồ Chí Minh luận giải trong tất cả các đề mục của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đều toát lên tư tưởng của Người về tình yêu thương con người, vì sự tiến bộ của mỗi đảng viên, cán bộ. Người cỗ vũ và chỉ rõ cho mỗi đảng viên, cán bộ con đường tự giải thoát và giúp nhau giải thoát khỏi mọi chứng bệnh, vượt lên mọi cám dỗ thấp hèn, thực sự là con người mới xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang thực hiện cuộc vận động lớn: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để cuộc vận động đạt được mục tiêu đề ra thì giải pháp hàng đầu là tiến hành phê bình, tự phê bình mà điểm then chốt của nó là phải phê bình cho đúng như Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách đây hơn 60 năm ở trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Phê bình cho đúng cũng chính là một biểu hiện của sự thấm sâu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong mỗi chúng ta.

Trong thực tế hiện nay, một số tổ chức Đảng xuất hiện những biểu hiện lệch lạc trong phương pháp tự phê bình và phê bình, như sau: Tự phê bình thì ít hoặc không chịu tự phê bình nhưng phê bình thì nhiều, làm ra vẻ ta đây hăng hái đấu tranh chống tiêu cực; phê bình vu vơ, phê bình không có địa chỉ rõ ràng; phê bình theo cách đặt điều, theo kiểu lợi dụng phê bình để bôi xấu nhau, để hạ bệ người mình không ưa, nhất là biết người đó sẽ được đề bạt. Trong các đợt sinh hoạt Ðảng tự phê bình và phê bình, thường có thái độ “giữ mình”, ngồi im, nếu thấy đồng chí phê bình mình thì giả vờ thành khẩn nhận cho qua chuyện; giả vờ thành khẩn nhận và hứa sửa chữa khuyết điểm khi được tập thể phê bình, nhưng thực chất nhận và hứa cho qua chuyện. Hiện tượng hữu khuynh, né tránh, kém tính chiến đấu của không ít cán bộ, đảng viên, cá biệt có tình trạng tranh thủ phê bình để tâng bốc, nịnh bợ cấp trên… đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tự phê bình và phê bình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi hiện tượng đó là sự giấu diếm khuyết điểm, giống như người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc, trong khi những người khác biết rõ nhưng cũng làm ngơ. Hữu khuynh né tránh, thực chất là một biến tướng của chủ nghĩa cá nhân và tư tưởng cơ hội trong tình hình mới và là nguyên nhân của hiện tượng độc đoán, chuyên quyền, định kiến, trù dập người phê bình của những cán bộ có chức, có quyền… làm cho cấp dưới và quần chúng “Dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình”. Tự phê bình và phê bình vốn đã mang tính chiến đấu, ngày nay tính chiến đấu đó càng đòi hỏi cao hơn. Không thể dung nạp hiện tượng độc đoán, gia trưởng, hữu khuynh, né tránh của cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình. Người nói: “Cán bộ nào không dám công khai nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”.

Mỗi thời kỳ phát triển của cách mạng đặt ra những nhiệm vụ chính trị cụ thể và cũng đặt ra những yêu cầu mới trong nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu và nhiệm vụ lãnh đạo công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội hiện nay là một sự nghiệp to lớn nhằm củng cố vững chắc độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đảng không thể hoàn thành sự nghiệp lãnh đạo đầy khó khăn đó nếu không chú trọng xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về mọi mặt, nếu Đảng không thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, cùng với những thành công và ưu điểm, Đảng cũng còn bộc bạch những khuyết điểm, yếu kém, những biểu hiện chưa ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng. Vì vậy, đổi mới và chỉnh đốn Đảng là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng và cũng là đòi hỏi tự thân của Đảng. Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, trong đó đặc biệt là coi trọng nguyên tắc Tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ thường xuyên và tất yếu trong công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh./.

AD

soctrang.gov.vn

Tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Bác Hồ 12Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, trước khi đi xa đã căn dặn “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình được xem là nguyên tắc, quy luật phát triển Đảng, là biện pháp tốt nhất để củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là để làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, làm cho mỗi một tổ chức tốt lên, phần xấu bị mất dần đi.

Trong từng hoàn cảnh cụ thể, Hồ Chí Minh có cách nói khác nhau để đạt được mục đích song Người thường đặt lên trước tự phê bình, sau đó mới đến phê bình. Người cho rằng mỗi cán bộ, đảng viên trước hết tự mình phải thấy rõ mình, để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, cũng như phải tự soi gương, rửa mặt hằng ngày. Hơn nữa, nếu biết tự phê bình tốt thì mới phê bình người khác tốt được. Người luôn nhắc nhở, yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải “Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình”. Người coi tự phê bình và phê bình là công cụ đắc lực để rèn luyện cán bộ, đảng viên nhằm làm cho mỗi người tốt hơn, tiến bộ hơn và tăng cường đoàn kết nội bộ hơn. Người thẳng thắn chỉ rõ “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Tuy nhiên, Người cũng lưu ý để làm được việc đó thì không dễ, “vì người ta hay có lòng tự ái. Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị”. Người lưu ý cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng từ trên xuống dưới không những phải “luôn luôn dùng” mà còn “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”. Để tự phê bình và phê bình có kết quả thì mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thực, chân thành với bản thân mình cũng như với người khác, phải tiến hành thường xuyên, nghiêm túc, không nể nang, qua loa đại khái, hình thức, không giấu giếm và cũng không thêm bớt khuyết điểm, đặc biệt “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, “phải học tập chủ nghĩa Mác- Lênin và thấm nhuần chính sách của Đảng”. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng mạnh mẽ lên án, phê phán những ai giấu khuyết điểm, không dám thẳng thắn nhận khuyết điểm “Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm càng ngày càng to, đến khi to quá, không sửa chữa được, thì mọi việc đều hỏng”. Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh thẳng thắn thừa nhận có lúc Đảng cũng mắc sai lầm song khẳng định rõ: “Đảng ta dũng cảm nhận sai lầm và quyết tâm sửa chữa”. Hồ Chí Minh và Đảng ta thừa nhận cái sai trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc thời kỳ 1954 – 1956 và quyết tâm sửa chữa, đã đem lại kết quả tốt đẹp. Nông thôn dần dần ổn định, nội bộ Đảng đoàn kết, lòng tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, chính quyền dân chủ nhân dân được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường. Những kết quả đó là cơ sở, tiền đề vững chắc đưa miền Bắc nhanh chóng bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Thực tế một lần nữa chứng minh tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật và làm theo sự thật” đã tạo ra một cuộc cách mạng to lớn. Cuộc cách mạng ấy đã đem đến sự đổi mới toàn diện, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là đổi mới về tư duy kinh tế. Chính quyết tâm đổi mới ấy của Đảng và cả dân tộc đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Đến nay, sau hơn 20 năm nhìn lại, đất nước đã và đang có sự chuyển mình to lớn, kinh tế tăng trưởng nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy mạnh, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị- xã hội ổn định. Quốc phòng an ninh được giữ vững. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao.

40 năm đã qua đi, song Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là cẩm nang thần kỳ giúp cho Đảng hoạch định đường lối chiến lược để xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tự phê bình và phê bình vẫn là nguyên tắc cơ bản, không thể thiếu trong xây dựng và phát triển Đảng ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Thạch Văn Chung
(Văn phòng Tỉnh uỷ)

tinhdoanbg.gov.vn

Giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình

Nếu tính từ tác phẩm “Đường Kách mệnh” viết năm 1927, lần đầu tiên Hồ Chí Minh bàn về vấn đề tự phê bình và phê bình của người cách mạng cho đến tác phẩm cuối cùng là “Di chúc”, Người đã công bố khoảng 200 bài nói, viết về xây dựng Đảng, trong đó sử dụng 90 lần thuật ngữ tự phê bình và phê bình, 67 lần thuật ngữ phê bình và tự phê bình. Ở Người, tự phê bình và phê bình đã trở thành một phẩm chất trong nhân cách và là một đặc trưng trong phong cách lãnh đạo. Dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất, Người vẫn thực hành tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, nêu tấm gương sáng về đức tính trung thực, thẳng thắn cho cán bộ, đảng viên noi theo.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới tự phê bình và phê bình. Người coi tự phê bình và phê bình là “vũ khí rất cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”[1], là “thang thuốc” tốt nhất để chữa trị các “chứng bệnh” do chủ nghĩa cá nhân gây ra.

Qua nghiên cứu những tác phẩm của Hồ Chí Minh, vấn đề tự phê bình và phê bình là một cống hiến quan trọng của Người trong bảo vệ và phát triển lý luận Mác-Lênin; là nét đặc sắc trong tư tưởng của Người về xây dựng Đảng mác-xít; là vũ khí lý luận sắc bén đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các tiêu cực trong xã hội; với văn phong giản dị, trong sáng chúng ta thấy toát lên bản chất nhân văn mác-xít, “chủ nghĩa nhân đạo hiện thực”.

Thực chất của tự phê bình và phê bình là xây dựng, là vươn tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ, là thúc đẩy sự tiến bộ, là cách mạng và khoa học trong cấu trúc nhân cách của mỗi con người. Hồ Chí Minh luôn xem xét con người trong tính đa dạng của các quan hệ xã hội, trong tính cách, khát vọng, phẩm chất, khả năng; trong hoàn cảnh xuất thân, điều kiện sống, làm việc,… Theo Người trong hoạt động thực tiễn, ai cũng có ưu điểm và khuyết điểm, chỉ khác nhau ở mức độ, trạng thái biểu hiện mà thôi: “Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không kiên quyết sửa nó đi”[2].
Hồ Chí Minh không trừu tượng hoá con người, mà xét họ trong môi trường sống cụ thể và tự phê bình và phê bình được ví như “thang thuốc” thần diệu, có tác dụng chữa khỏi bệnh, đồng thời bồi bổ để người ta sống cao đẹp hơn. Thông qua tự phê bình và phê bình mà mỗi cá nhân, mỗi tổ chức ngày càng hoàn thiện, tạo ra sự biến đổi về chất, tạo ra sức mạnh nội sinh trong mỗi tổ chức, mỗi con người; mọi sự kìm nén, ức chế được giải toả, luồng sinh khí mới sẽ sưởi ấm “cái tâm” của mỗi người, để họ không ngừng phấn đấu, vươn lên.

Vì vậy, về bản chất, tự phê bình và phê bình là cách mạng và khoa học; là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tình cảm và lý trí, giữa cái riêng và cái chung; là sự đấu tranh giữa mặt tốt và mặt xấu, đúng và sai, cao cả và thấp hèn,… trong mỗi con người, mỗi tổ chức cho đến toàn xã hội, qua đó đi đến những giá trị chân, thiện, mỹ .

Đối tượng trực tiếp của tự phê bình và phê bình là “Phê bình việc làm (nhận thức, hành vi và việc làm không đúng), chứ không phải phê bình người”[3]. Người chỉ rõ cần tránh hiện tượng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù tiểu khí”[4]. Những việc làm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm khuyết điểm của cá nhân hay tổ chức đều phải được phê bình nghiêm túc và “phải lập tức sửa chữa”.

Tự phê bình và phê bình những nhận thức, hành vi và việc làm không đúng trong tư tưởng tự Hồ Chí Minh khác về bản chất với tư tưởng phê phán và trừng trị, lợi dụng phê bình để thổi phồng hoặc bóp méo sự thật, định kiến, ghen ghét, ganh tỵ, trù dập, hạ thấp con người, phê bình theo kiểu “chụp mũ”, quy kết hay “bới lông, tìm vết”. Theo Người, tự phê bình và phê bình là sự mổ xẻ một căn bệnh mang ý nghĩa như là sự khởi nguyên của một quy trình chữa lành con bệnh, làm cho con người tồn tại và phát triển khoẻ mạnh; khi mà tìm ra nguyên nhân vì sao mắc sai lầm, khuyết điểm? ảnh hưởng đến công việc như thế nào, làm thế nào để sửa chữa. Người nói: Tự phê bình và phê bình cốt để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, để tư tưởng và hành động được đúng hơn, và tốt hơn, để làm việc có hiệu quả hơn, để gần nhau hơn, để đoàn kết và thống nhất nội bộ. Tự phê bình và phê bình thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người, tránh cho con người không rơi vào cái “tôi” vị kỷ, thấp hèn, đố kị, nhỏ nhen.

Tự phê bình và phê bình là một nghệ thuật về phép ứng xử giữa người với người. Hồ Chí Minh sử dụng thuật ngữ “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”[5] hàm chứa phương pháp, nghệ thuật khi phê bình. Theo Người, “Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”[6].
Tư tưởng “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình” của Hồ Chí Minh do quan điểm dân chủ và nhân đạo chi phối. Tư tưởng đó thể hiện quan điểm biện chứng trong đánh giá con người, biết phối hợp hài hòa giữa tình-lý trong hành vi và thái độ ứng xử giữa con người với nhau. “Khéo” trước hết phải được thể hiện trong ngôn ngữ nói: là sự chuẩn mực và mô phạm, sự thẳng thắn và chân thành của người phê bình. Người căn dặn: “phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc….”[7]. “Khéo” là sự kết hợp giữa các biện pháp giáo dục từ trên xuống và từ dưới lên, từ nội bộ Đảng đến ngoài xã hội. Nhưng trên hết là sự giúp đỡ, cảm hóa, thức tỉnh lương tâm để mọi người vươn lên tự khẳng định mình. “Khéo” là sự kết hợp giữa lý trí và tình cảm, phải hiểu cặn kẽ các nhân tố khách quan, chủ quan, “phải nghiêm chỉnh, chắc chắn, phụ trách nói có sách, mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn xây dựng “trị bệnh cứu người ” chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm”[8].

“Khéo” sử dụng vũ khí tự phê bình và phê bình thì tác dụng cảm hóa, lan tỏa rất lớn. Tính hiệu quả của phê bình được khẳng định khi đối tượng của phê bình trở thành đồng chủ thể tự phê bình, tự kiểm tra. Ngược lại, tự phê bình và phê bình không “khéo” sẽ gây hiệu ứng tiêu cực, thậm chí là có hại.

Hiện nay, nhận thức về tự phê bình và phê bình còn những lệch lạc, tác động nguy hại đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đoàn kết trong đơn vị, ảnh hưởng xấu đến sự tiến bộ của cá nhân cũng như tập thể. Như: Một là, nể nang, né tránh, ngại va chạm, làm qua loa đại khái, trông trước, ngó sau, hùa theo số đông hoặc đón ý cấp trên, dĩ hoà vi quý. Hai là, cơ hội, lợi dụng phê bình để công kích những người mình không ưa, kéo bè, kết cánh, gây mất đoàn kết nội bộ. Cả hai khuynh hướng này đều làm mất đi tính nhân văn trong tự phê bình và phê bình. Điều đó giải thích tại sao thời gian qua hoạt động tự phê bình và phê bình ít hiệu quả, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng tổng kết: “Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đặt ra, chưa tạo được chuyển biến cơ bản, chưa góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu ”[9].

Thiết nghĩ, để nâng cao chất lượng, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đòi hỏi mỗi cán, bộ đảng viên phải thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình. Nhận thức rõ vai trò, mục đích, nội dung, phương pháp tự phê bình và phê bình; mở rộng thông tin, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật. Đặc biệt, việc tìm hiểu và quán triệt giá trị nhân văn trong tự phê bình và phê bình gắn với nội dung Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là thiết thực góp phần hoàn thiện nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị ngày càng vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 10, tr.614
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 4, tr.166
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr. 323
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.258
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.265
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.244
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 5, tr.232
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 10 tr.614
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn qốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr 267.

Ths. Đàm Trọng Tùng
Học viện Kỹ thuật quân sự

xaydungdang.org.vn

Gắn kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình (TPB và PB) cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau: Thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình. Củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm. Coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB.

Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Bên cạnh sự tự giác thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra. Công tác này nhất thiết phải gắn bó mật thiết với TPB và PB một cách nghiêm túc. Lề lối làm việc phải dân chủ, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. TPB và PB nhau theo tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác kiểm tra là bộ phận cấu thành quan trọng của công tác xây dựng đảng, được tiến hành dựa trên các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng nhưng đồng thời phải làm tốt công tác TPB và PB. Trên cơ sở các nguyên tắc, Điều lệ Đảng về xử lý kỷ luật trong Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: phải gắn kết chặt chẽ, phát huy cao độ vai trò công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng theo Điều lệ Đảng trên cơ sở TPB và PB, lấy giáo dục thuyết phục, cảm hóa là chính, giúp đồng chí mình tiến bộ, giúp tổ chức đảng lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

Trong giai đoạn cách mạng mới, trước những yêu cầu đặt ra từ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm không ngừng kiện toàn và nâng cao sức lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, đấu tranh thắng lợi trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị tư tưởng, đòi hỏi công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng càng phải gắn bó mật thiết với công tác TPB và PB. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra giám sát trong Đảng với công tác TPB và PB sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng đảng, xây dựng ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức lối sống cho mỗi cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu; nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB, cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

Một là, thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình.

Đối với đảng viên, cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ phụ trách công tác kiểm tra, giám sát, các tổ chức đảng và các cấp ủy cần phải có nhận thức đúng về sự kết hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB. Đây còn là một trong những nguyên tắc trong công tác lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo ở đâu, lĩnh vực gì, nhiệm vụ nào đều phải gắn liền công tác kiểm tra giám sát ở lĩnh vực, nhiệm vụ đó.

Công tác kiểm tra, giám sát ở các tổ chức cơ sở đảng phải được tiến hành theo nguyên tắc Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên. Quá trình kiểm tra, giám sát phải gắn với TPB và PB để giáo dục, thuyết phục, uốn nắn đảng viên, cán bộ, định hướng công tác lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng, tạo điều kiện phát huy dân chủ trong Đảng, giữ vững nguyên tắc và chế độ sinh hoạt đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh, đủ sức lãnh đạo hoàn thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Công tác kiểm tra, giám sát gắn với TPB và PB là nhằm làm cho tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững định hướng chính trị, nhận thức tư tưởng, trau dồi phẩm chất đạo đức trong sáng. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách dân chủ, đúng nguyên tắc, gắn với tự trọng, tự giác trong TPB và PB.

Hai là, củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong công tác kiểm tra, giám sát đòi hỏi phải làm tốt công tác củng cố kiện toàn cơ cấu ủy ban kiểm tra các cấp, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát đủ về số lượng và có năng lực và trình độ hoàn thành nhiệm vụ chức trách được giao.

Trước khi bắt đầu cho một nhiệm kỳ mới, các tổ chức đảng từ Trung ương tới cơ sở phải làm tốt công tác củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp. Chức năng, nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra phải được xác định phù hợp với tính chất nhiệm vụ lãnh đạo của từng tổ chức đảng cụ thể. Điều đó cũng có nghĩa, ủy ban kiểm tra các cấp và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải được kiện toàn đồng bộ, ngang tầm với tính chất nhiệm vụ được giao. Yêu cầu đặt ra là: Đối với người cán bộ làm công tác kiểm tra phải tận tụy, công tâm, trung thực, liêm khiết, khách quan, dân chủ, có lý có tình, kiên quyết và khôn khéo; đối với ủy ban kiểm tra các cấp là sự dân chủ, đoàn kết, thống nhất, kỷ cương trên cơ sở các nguyên tắc được quy định trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Người cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát cũng như uỷ ban kiểm tra cần chủ động, đồng bộ, sâu sát, tỉ mỉ, khách quan, thận trọng trong mọi khâu, mọi bước của công việc kiểm tra, giám sát, đảm bảo tính công minh, chính xác, kịp thời.

Ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải đóng vai trò nòng cốt trong công tác tham mưu nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra được lựa chọn phải thường xuyên học tập, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, tự kiểm tra, giám sát mình và chịu sự giám sát, phê bình của cấp ủy, chi bộ và quần chúng; ra sức nâng cao trình độ mọi mặt, mẫn cán, nhạy cảm, tinh thông nghiệp vụ.

Ba là, coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB .

Công tác kiểm tra được tiến hành theo phân cấp, cấp trên kiểm tra cấp dưới, ủy ban kiểm tra cấp ủy cùng cấp kiểm tra đảng viên thuộc quyền về chấp hành nguyên tắc, chế độ, phục tùng kỷ luật Đảng và thực hiện nghị quyết các cấp. Công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Trong đó, TPB và PB là nguyên tắc cơ bản trong sinh hoạt đảng mà các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phải tự giác chấp hành. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB là một giải pháp khoa học nhằm tăng cường sức mạnh và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, chủ động cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm và giải quyết dứt điểm các vụ việc trên cơ sở nguyên tắc Điều lệ Đảng.

Trung tá, Thạc sĩ Nguyễn Minh Đức
Trường Đại học Nguyễn Huệ

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh “xung phong phê bình các báo”

 – Ngày 8/9/1962, Bác đến dự và nói chuyện tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam. “Bây giờ Bác lấy tư cách một đồng chí có ít nhiều kinh nghiệm về báo chí nêu ra vài kinh nghiệm sau đây… Sẵn đây, nếu các cô, các chú đồng ý, thì Bác xung phong phê bình các báo:

Bài báo thường quá dài, “dây cà ra dây muống” không hợp với trình độ và thời giờ của quần chúng. Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng thành tích mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta. Đưa tin hấp tấp nhiều khi thiếu thận trọng. Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn lại viết dài; nên để sau lại để trước, nên trước lại để sau. Lộ bí mật. Có khi quá lố bịch. Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không đúng… Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao.

dNgày 8/9/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội III những người viết báo VN.

Báo chí cần khéo lợi dụng vũ khi phê bình và tự phê bình. Nhưng phê bình phải nghiêm chỉnh, chắc chắn,  phụ trách, nói có sách mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn, xây dựng “trị bệnh cứu người”. Chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm. Mặt khác, cần khuyến khích quần chúng góp ý kiến và phê bình báo”.

“Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc. Khi viết xong thì nhờ anh em xem và sửa giùm. Chớ tự ái, tự cho bài của mình là “tuyệt” rồi. Tự ái tức là tự phụ là kẻ địch dữ tợn nó ngăn chặn con đường tiến bộ của chúng ta… Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn  nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần tu dưỡng đạo đức cách mạng…”. Đó là những nội dung trong bài nói của Bác tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 8/9/1962, họp tại Hà Nội.

X&N
bee.net.vn