Thư viện

Lời kêu gọi mang hồn Tổ quốc

Cầu truyền hình kỷ niệm 65 năm Ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946/19-12-2011)

QĐND Online – Những tia nắng ấm áp của phương Nam dường như hòa vào tiết trời mùa đông lạnh giá đất Bắc khiến không khí của chương trình cầu truyền hình kỷ niệm 65 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946/19-12-2011) với chủ đề “Tiếng gọi của non sông” trở nên ấp áp, thiêng liêng. Chương trình do Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh phối hợp với Quân khu 7, Báo Quân đội nhân dân, Đài Phát thanh-truyền hình Hà Nội tổ chức vào 20 giờ ngày 19-12, tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (Hà Nội), Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ (TP Hồ Chí Minh).

Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng- Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên – Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân và các đại biểu tham dự chương trình. Ảnh: Trọng Hải

Đến dự tại hai điểm cầu có: đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng- Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Phùng Khắc Đăng, Phó chủ tịch Hội CCB Việt Nam; Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên – Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân; Trung tướng Phạm Văn Dỹ- Chính uỷ Quân khu 7 và đông đảo các đại biểu, cựu chiến binh, khán giả ở hai điểm cầu và kiều bào ở nước ngoài theo dõi qua màn ảnh truyền hình.

65 năm trước, vào ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Tiếng gọi vang dậy non sông ấy đã khơi gợi mạnh mẽ truyền thống anh hùng, bất khuất, làm cho cả dân tộc ta đứng lên để bảo vệ thành quả độc lập với ý chí: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Một quyết định lịch sử đã tạo nên một trong những trang sử hào hùng trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Bài hát “Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ”, do NSND Quang Thọ và dàn hợp xướng trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật quân đội biểu diễn. Ảnh: Trọng Hải

Cầu truyền hình “Tiếng gọi của non sông” là một trong những hoạt động có ý nghĩa, tích cực góp phần vào việc tuyên truyền, động viên nhân dân, cán bộ thi đua phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam, học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng thời đây cũng là dịp để các thế hệ Việt Nam hôm nay cùng ôn lại truyền thống yêu nước của nhân dân ta.

Mở đầu chương trình, những lời ca của bài hát “Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ”, do NSND Quang Thọ và dàn hợp xướng trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật quân đội biểu diễn thể hiện không khí hào hùng của một thời chiến đấu kiên cường của quân và dân ta.

Tại điểm cầu Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam, khu vực sân khấu cột cờ Hà Nội như một “đài lửa” thiêng liêng để thế hệ ngày nay tưởng nhớ công lao hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ đã quên mình bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc.

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm – Trưởng ban liên lạc truyền thống chiến sĩ quyết tử Liên khu I Anh hùng Hà Nội – Trung đoàn thủ đô trong buổi giao lưu. Ảnh: Trọng Hải

Những thước phim tư liệu quý giá về một thời chiến đấu anh hùng của dân tộc được phát trong chương trình hoà trong từng lời ca, điệu nhạc vang lên tại hai điểm cầu đã để lại ấn tượng sâu sắc với đông đảo khán giả.

Để có được một Tổ quốc Việt Nam thống nhất, tươi đẹp hôm nay, chúng ta không thể quên công ơn của Đảng, Bác Hồ kính yêu và bao máu xương của những anh hùng liệt sĩ, những người con ưu tú của dân tộc đã chiến đấu và hy sinh trong những năm tháng kháng chiến trường kỳ, gian khổ. Ca khúc “Ngày mùa”, sáng tác: Văn Cao, do tốp nữ trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội trình diễn thể hiện bản lĩnh kiên cường của người dân đất Việt trong gian khó vẫn vững lòng tin chiến thắng dựng xây Tổ quốc.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của đấu tranh chính nghĩa: dựng nước và giữ nước. Dân tộc Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình nhưng sẵn sàng đứng lên, xả thân để bảo vệ những giá trị của độc lập, tự do.

Các đại biểu tham gia chương trình. Ảnh: Trọng Hải

Ngày 29-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ. Người  xác định: “Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập Việt Nam”.

Ngày 22-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ra Lời hiệu triệu động viên quân và dân miền Nam giữ vững và đẩy mạnh kháng chiến. Người chỉ rõ: “Kháng chiến của ta là phải toàn diện, lâu dài, triệt để vận dụng cách đánh du kích, đánh khắp nơi, “còn một tấc đất, còn một người dân thì còn chiến đấu”. Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Người đã tặng quân và dân Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng tổ quốc”.

Trong đêm đông lạnh giá của ngày 18-12-1946, bên chiếc bàn nhỏ của căn phòng gác 2 tại làng Vạn Phúc (Hà Nội), những dòng chữ đầu tiên của Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến đã được Hồ Chí Minh chấp bút, khởi đầu cho cuộc kháng chiến toàn dân lịch sử.

Trong Lời kêu gọi, Bác nhấn mạnh: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt thì phải đứng lên chống thực dân Pháp. Ai có súng cầm súng, ai có gươm cầm gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến, ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”…

Tiết mục biểu diễn thể hiện tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Ảnh: Trọng Hải

Tại buổi gặp mặt các cựu chiến binh tham gia chương trình, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, các cựu chiến binh tiếp tục phát huy truyền thống của anh bộ đội Cụ Hồ và lời Bác đã căn dặn “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Đại diện cho các chiến sĩ tự vệ quyết tử Liên khu 1 năm xưa, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm – Trưởng ban liên lạc truyền thống chiến sĩ quyết tử Liên khu I anh hùng Hà Nội – Trung đoàn thủ đô bày tỏ: “Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gần 20 em thiếu niên đã trốn gia đình không đi tản cư mà tham gia chiến đấu bảo vệ Hà Nội. Chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ 60 ngày đêm bầu trời Thủ đô. Hôm nay, vì điều kiện nên nhiều đồng chí không có mặt trong chương trình nhưng trong lòng các cựu chiến binh năm xưa luôn hướng về Hà Nội. Tôi mong muốn thế hệ trẻ ngày nay “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, xây dựng Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chi Minh là lời “Hịch cứu nước”, là “Tiếng gọi của non sông”, đã tác động mạnh mẽ đến trái tim và khối óc của mọi người Việt Nam yêu nước, khơi dây mạnh mẽ truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc.

Những lời kêu gọi của Người qua mỗi giai đoạn kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn là lời hiệu triệu toàn quân và toàn dân ta vượt qua mọi gian khổ, hy sinh để đi đến thắng lợi sau cùng. “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập,tự do!”.

Chương trình “Tiếng gọi của non sông” khép lại với những màn hát múa ca ngợi Tổ quốc, Đảng, Bác Hồ, thể hiện chí khí, tinh thần chiến đấu bất khuất của các thế hệ cha ông và góp phần thổi luồng sinh khí cho thế hệ ngày nay vững bước trên con đường xây dựng đất nước.

Khánh Huyền

qdnd.vn

Ba lần được gặp Bác Hồ

“Ba lần được gặp Bác là những kỷ niệm quý giá tôi không bao giờ quên. Những lời dạy của Bác đã thấm sâu vào trái tim, khối óc, giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ suốt chặng đường công tác và cả khi đã về hưu”, ông Trung xúc động nói.

>> Tình yêu thương làm thay đổi đời người

Năm nào cũng vậy, cứ đến dịp kỷ niệm ngày sinh Bác Hồ, ông Kiều Chí Trung lại dẫn cháu nội đến thăm bia kỷ niệm ngày Bác về thăm đập sông Đáy (Đan Phượng, Hà Nội). Ông tâm sự: “Nhờ Người mà tôi đã học được rất nhiều điều trong công tác cũng như đời sống. Tôi muốn con cháu mình được biết những câu chuyện sinh động về Người”.

Năm nay đã ngoài 80 tuổi, sức khỏe đã suy giảm nhiều nhưng kỷ niệm về những lần được gặp Bác vẫn còn nguyên vẹn trong ông Trung.

Ông Kiều Chí Trung quê gốc ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Năm 19 tuổi, ông tham gia cách mạng, hăng hái hoàn thành nhiều công tác về thanh niên, quân sự và được bổ nhiệm làm phó chủ tịch xã Cát Tài. Năm 1953 – 1954, nghe theo lời kêu gọi của Bác Hồ, ông lên đường nhập ngũ, chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên, góp phần “chia lửa với Điện Biên”. Năm 1955, ông được chọn ra Bắc tập kết.

Ông Trung dẫn cháu thăm bia tưởng niệm Bác Hồ về thăm đập sông Đáy (Đan Phượng, Hà Nội).

Tháng 6/1955, lần đầu tiên ông Trung được gặp Bác Hồ khi Bác đến thăm và nói chuyện với cán bộ miền Nam tập kết, học tập ở đoàn 301. “Người ân cần hỏi han về cuộc sống của chúng tôi, hỏi chúng tôi có gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt hay không, có nhớ nhà nhiều không…  rồi dặn dò chúng tôi cố gắng học tập tốt để giúp ích cho nước nhà. Cách nói chuyện thân tình và cởi mở của lãnh tụ làm chúng tôi xúc động vô cùng”.

Lần thứ hai ông Trung được gặp Bác khi đang làm thủy lợi tại Phủ Lý (Hà Nam). Bác về nói chuyện với nhân dân, lãnh đạo địa phương. Vừa nghe tin, ai ai cũng hồi hộp và háo hức. Dù đã được gặp Bác một lần nhưng ông Trung cũng không khỏi bồi hồi xúc động. Những câu chuyện sinh động về cách nghĩ, cách làm của Bác đã để lại cho ông những bài học sâu sắc trong việc làm thủy lợi.

Năm 1957, ông Trung được điều về làm trưởng ban quản lý công trình phân lũ đập sông Đáy, công trình bảo vệ Thủ đô. Đây là nơi ông được gặp Bác Hồ lần thứ ba và cũng là lần gặp để lại những ấn tượng sâu sắc nhất. “Sáng 17/7/1962, một tin vui lớn từ Thủ đô báo về, Bác Hồ sẽ đến thăm công trường tu bổ đập sông Đáy. Mọi người sung sướng đến bàng hoàng, tôi nghĩ đến Bác, bận trăm công nghìn việc mà vẫn thấu hiểu những khó khăn trước mùa lũ bão của chúng tôi”, ông Trung nói.

Bác Hồ về thăm đập Đáy năm 1962. (Ảnh tư liệu)

Ông Trung kể lại, Bác và các đồng chí lãnh đạo cùng đi lần lượt kiểm tra công trường đập sông Đáy rồi chỉ tay, bảo mọi người vào điếm canh đê làm việc tiếp. Bác nghe đại diện Bộ thủy lợi, UBND thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Đông, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội) báo cáo phương án phòng chống lụt bão và tiến độ thi công tu bổ đập sông Đáy. Bác yêu cầu tỉnh Sơn Tây cấp đủ đá, Hà Đông phải huy động nhân lực, Hà Nội đảm đương phần kỹ thuật.

Bác bảo: “Lụt nó không chờ các chú đâu, vì vậy các chú định làm mấy ngày nữa thì xong?”. Ông Trưởng ty Thủy lợi Hà Nội (Sở Thủy lợi Hà Nội) đáp: “Báo cáo Bác, bảy ngày xong ạ”. Bác cười nói: “Bác cho cả tám ngày. Nếu tám ngày không xong thì xấu hổ đấy”. Mọi người hứa làm thật tốt nhiệm vụ được giao. Bác vui vẻ hỏi: “Bây giờ ai phụ trách?”. Một đồng chí thưa: “Báo cáo Bác, đồng chi Kiều Chí Trung, trưởng ban công trình ạ!”. Bác nhìn ông Trung bằng cái nhìn tin tưởng. Ông Trung xúc động và hứa: ‘Cháu sẽ cố gắng làm đúng như lời Bác!”. Tan cuộc họp, Bác ra về thì dân công trên công trường và nhân dân vùng lân cận được tin đã kéo đến đông nghịt. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm” vang dậy cho tới khi Bác rời khỏi công trường.

Làm theo lời Bác, suốt 6 ngày đêm, ông Trung cùng anh em cả hai công trường tu bổ đập Đáy và đập Tràn, hoàn thành trước thời hạn hai ngày. Ông Trung lại vinh dự được giao thảo báo cáo gửi lên để Bác vui lòng.Năm 1987, ông Trung được nghỉ hưu. Tuy nhiên, nhớ lời dạy của Bác Hồ, ông  tiếp tục các công tác xã hội ở xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng như tham gia Hội đồng nhân dân xã, Mặt trận Tổ quốc và các hội đoạn khác.

Minh Nhương

baodatviet.vn

Ngày 21-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 21-5-1928, từ Thủ đô nước Đức, Nguyễn Ái Quốc gửi thư về Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, đóng góp ý kiến cho hoạt động của Ban Thuộc địa Đảng Cộng sản Pháp, nhờ chăm sóc các đồng chí Đông Dương đang học ở Nga và cho biết đã sẵn sàng lên đường tới nơi cần đến.

Cũng trong thời gian này (tháng 5-1928), tập san “Inprekorr” bản tiếng Pháp của Quốc tế Cộng sản đăng bài “Phong trào công nhân và nông dân mới đây ở Ấn Độ” khảo sát những biến đổi to lớn đang diễn ra tại quốc gia rộng lớn này và bài “Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt nòi giống bản xứ” để đi đến kết luận: “Lịch sử của nhiều chế độ thực dân đã cho thấy rằng nhiều dân tộc bản xứ bị tiêu diệt hoàn toàn khi tiếp xúc với nền văn minh của người da trắng… và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc”.

Ngày 21-5-1939, Nguyễn Ái Quốc đã có mặt tại Quế Lâm (Trung Quốc) và tìm cách liên hệ với phong trào trong nước bằng cách gửi loạt bài “Thư từ Trung Quốc” về đăng trên tờ “Notre Voix” (Tiếng nói của chúng ta) của những người cộng sản hoạt động công khai tại Hà Nội. Bài “Những khó khăn của quân đội Nhật” phản ánh những vấn đề thời sự đang diễn ra trong đạo quân Nhật tại Trung Quốc và phân tích nguy cơ của chủ nghĩa phát xít đang ở rất gần Đông Dương.

Ngày 21-5-1964, Tạp chí “Minority of One” của một nhóm nhân sĩ trí thức tiến bộ xuất bản tại Mỹ đăng bài phỏng vấn nhân ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bài trả lời, Bác bày tỏ: “Từ nước Việt Nam cách xa Hoa Kỳ hàng vạn cây số, tôi gửi đến các bạn Mỹ lời chào hữu nghị và lời kêu gọi tha thiết này. Tôi mong các bạn sẽ hiểu rõ hơn sự thật cay đắng ngày nay ở miền Nam Việt Nam, một nửa Tổ quốc chúng tôi. Ở đây đang diễn ra một cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc, một cuộc chiến tranh lớn nhất, dai dẳng nhất, đẫm máu nhất hiện nay trên trái đất này…

Nhân dân Việt Nam hiểu rõ rằng nhân dân Mỹ muốn sống hòa bình và hữu nghị với các dân tộc khác. Tôi đã đến nước Mỹ, tôi hiểu nhân dân Mỹ rất trọng chính nghĩa và có nhiều tài năng… Chính những kẻ đang phá hoại nền độc lập tự do của dân tộc chúng tôi cũng là những kẻ phản bội bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ trong đó đã nêu cao chân lý “tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng” và nêu cao những quyền bất khả xâm phạm của con người: “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”…

Chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào miền Nam chúng tôi phải gian khổ hy sinh, mà chúng tôi cũng thương xót cho những bà mẹ và các người vợ Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở miền Nam Việt Nam do bọn quân phiệt Mỹ tiến hành… Tôi mong lời kêu gọi khẩn thiết này sẽ đến tai nhân dân Mỹ”.

Tháng 5-1967, từ Quảng Châu, sau một tháng sang Trung Quốc chữa bệnh, Bác đã viết bài thơ gửi về Bộ Chính trị ở trong nước: “Thời giờ đã chóng tựa đưa thoi/Thấm thoát xa nhà một tháng rồi/Nghìn dặm vui nghe tin thắng lợi/Một mình nằm tính việc xa xôi”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 22-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 22-5-1893, ông ngoại Bác Hồ qua đời (ngày 7-4 năm Quý Tỵ). Tháng 5-1901, thân phụ của Bác là Nguyễn Sinh Sắc đỗ phó bảng. Sinh năm Nhâm Tuất (1863), Nguyễn Sinh Sắc (còn có tên là Nguyễn Sinh Huy) đỗ cử nhân năm Giáp Ngọ (1894).

Kỳ thi Hội năm Tân Sửu, Thành Thái thứ 13 (1901) có 13 người trúng “phó bảng” (trong đó có Phan Châu Trinh). Cuối tháng 5-1906, Bác cùng anh trai là Nguyễn Tất Đạt theo cha vào Huế để nhận chức thừa biện Bộ Lễ.

Ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là thành lập một “Ủy ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề sẽ đàm phán ở Paris” để chuẩn bị cho chuyến sang thăm chính thức nước Pháp của người đứng đầu nhà nước Việt Nam độc lập. Tham gia ủy ban này, ngoài Bác còn có các vị: Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tường Tam, Phan Anh, Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh.

Cũng trong ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký nhiều sắc lệnh quan trọng, trong đó có các sắc lệnh thành lập tại Bắc bộ một “Ủy ban hộ đê Trung ương”, quy định chức năng, phương thức hoạt động và các chính sách để bảo vệ đê điều, chống lũ lụt; Sắc lệnh về quân đội của nước Việt Nam là một quân đội quốc gia được chỉnh đốn theo một quy tắc được ban hành gồm 2 tiết, 6 chương với 62 điều.

Ngày 22-5-1968, Bác tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về công tác đối ngoại. Về các động thái chính trị đang diễn ra ở Đông Âu, Bác phát biểu: “Tình hình xảy ra ở Tiệp Khắc cũng có thể bùng ra ở một số nước khác. Sinh hoạt xa xỉ, những sự bất mãn, trình độ giác ngộ không nâng cao thì sinh ra chuyện. Đó cũng là bài học, không nên xem nhẹ việc giáo dục đạo đức”.

Tháng 5-1969, mặc dù sức khỏe đã yếu nhưng Bác vẫn quan tâm gửi thư cho lớp học nghiên cứu về tình hình nhiệm vụ của cán bộ trung, cao cấp toàn quân được triệu tập tại Hà Nội. Bác căn dặn: “Vấn đề số một là phải không ngừng nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ…”

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 27-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc

Ngày 27-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội đồng Chính phủ và quyết định giao quyền Chủ tịch nước trong thời gian Bác đi thăm nước Pháp cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, người cao niên nhất trong Chính phủ.

Ngày 27-5-1947, Bác viết thư “Gửi nam nữ chiến sĩ, dân quân, tự vệ và du kích toàn quốc”, khẳng định vai trò “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã. Các chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích ở Nam bộ, ở thủ đô, ở miền duyên hải và ở các nơi đã chứng tỏ sự thực đó một cách rất anh hùng. Từ đây về sau, lực lượng ta càng ngày càng vững, kinh nghiệm ta càng ngày càng nhiều thì ta càng tỏ cho quân địch biết, tỏ cho thế giới biết rằng dân quân, tự vệ và du kích Việt Nam là những người ái quốc sắt đá, là những chiến sĩ anh hùng…”.

Ngày 27-5-1959, Bác dự phiên thảo luận về Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình tại Quốc hội: “Dự Luật Hôn nhân và Gia đình gọi nôm na là dự luật lấy vợ, lấy chồng, nhằm xây dựng hạnh phúc chung, nhưng trước hết là nhằm giải phóng chị em phụ nữ. Việc nghiên cứu bổ sung cho dự luật được hoàn chỉnh là một nhiệm vụ mà Chính phủ phải làm… Nhưng vấn đề này quan hệ mật thiết đến phụ nữ, cho nên khi giải thích tuyên truyền, chị em phụ nữ phải ra sức hoạt động nhiều để tinh thần luật được thấm nhuần đến tất cả mọi tầng lớp trong xã hội, đến từng người, từng địa phương…”.

Ngày 27-5-1965, Bác gửi thư khen quân dân miền Bắc bắn rơi chiếc máy bay thứ 300, cùng lời nhắc nhở phải cảnh giác cao độ trước những bước leo thang chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ.

Ngày 27-5-1969, Bác làm việc với Phó Chủ tịch Ủy ban Thiếu niên, nhi đồng Trung ương về công tác giáo dục và bảo vệ sức khỏe cho trẻ em. Bác căn dặn: “Phải kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội để nuôi dạy và giáo dục các cháu. Tất cả mọi người, mọi đoàn thể, mọi ngành, mọi gia đình phải có trách nhiệm chăm sóc các cháu”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 25-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 25-5-1922, trên báo “L’ Humanité” (Nhân Đạo), với tinh thần cộng sản, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa”, đóng góp ý kiến cho Đảng Cộng sản Pháp về thái độ đối với vấn đề thuộc địa.

Ngày 25-5-1947, sau cuộc hội kiến với Paul Mus, phái viên của chính quyền thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước”, tố cáo thái độ của giới quân phiệt “quen thói hung tàn, bất nhân, vô lễ” và kêu gọi mọi người dân Việt Nam hãy kiên quyết hy sinh chiến đấu, đánh tan bọn quân phiệt thực dân, giành lấy thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Cùng ngày, Bác viết “Thư gửi nhân dân Pháp”, nêu rõ: “Bọn quân phiệt thực dân đã bắt buộc chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, chúng tôi lấy câu châm ngôn hiên ngang của các bạn làm châm ngôn của chúng tôi: “Thà chết không làm nô lệ”. Chúng tôi chiến đấu vì công lý. Chúng tôi sẽ tồn tại. Chúng tôi sẽ chiến thắng”.

Còn trong thư gửi “Anh em văn hóa và trí thức Nam bộ”, Bác nhắn nhủ: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến, tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Nhân dân ta sẵn lòng thân thiện với nhân dân Pháp, nhưng quyết không chịu làm nô lệ cho thực dân phản động. Anh em văn hóa với trí thức là lớp tiên tri tiên giác, càng phải quyết tâm không chịu làm nô lệ”.

Ngày 25-5-1948, Báo Cứu Quốc đăng bài Bác trả lời phỏng vấn của tờ báo Pháp “Frères d ’Armes”. “Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất? Trả lời: Điều ác / Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất? Trả lời: Điều thiện / Hỏi: Chủ tịch cầu mong gì nhất? Trả lời: Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên toàn cầu / Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ gì nhất? Trả lời: Chẳng sợ gì cả! Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì”.

Ngày 25-5-1954, Báo Nhân Dân đăng bài “Tuyên truyền”, trong đó Bác phê phán quan niệm chủ quan coi thường tuyên truyền của địch và nhấn mạnh: “Trách nhiệm của mỗi cán bộ, của mỗi người yêu nước là tìm mọi cơ hội, dùng mọi hình thức để đập tan tuyên truyền giả dối và thâm độc của địch. Chúng ta phải đánh thắng địch về mặt tuyên truyền, cũng như bộ đội ta đã đánh thắng địch về mặt quân sự!”.

Ngày 25-5-1962, dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về “Quy hoạch sông Hồng”, Bác nhắc nhở: “Việc làm phải tính toán cho tốt”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 26-5: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 26-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh và Chủ tịch Quân ủy hội Võ Nguyên Giáp dự lễ khai giảng Trường võ Trần Quốc Tuấn tại Sơn Tây.

Trong lời chào mừng, Chủ tịch nước căn dặn lớp sĩ quan của quân đội Việt Nam được đào tạo chính quy đầu tiên: “Anh em có nhiều giai cấp, tư tưởng khác nhau, trước hết phải đoàn kết, đoàn kết thật thà. Phải có kỷ luật cả về tinh thần lẫn vật chất. Phải noi gương anh dũng của anh em binh sĩ hồi khởi nghĩa để làm gương cho các lớp về sau. Mong rằng anh em ở đây, bao giờ cũng phải làm theo hai khẩu hiệu mà nó là cái mục đích của anh em: Trung với nước, hiếu với dân”.

Sau khi trao lá cờ thêu 2 khẩu hiệu trên cho Hiệu trưởng Hoàng Đạo Thúy, Bác căn dặn: “Trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, là mục đích của anh em, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Sau khi thăm hỏi các tầng lớp nhân dân Sơn Tây, Bác về dự khai mạc Đại hội Thanh niên Hà Nội.

Tháng 5-1948, đáp lại tấm lòng của các phụ lão xã Vĩnh Đồng, châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã tặng mật ong, Bác viết thư cảm ơn: “Lòng thân ái của các cụ đối với tôi, khiến tôi rất cảm động. Tôi mong rằng các cụ sẽ cố gắng đốc thúc con cháu hăng hái tham gia cuộc thi đua ái quốc, làm cho mọi người đủ ăn, đủ mặc và sẵn sàng giúp đỡ bộ đội và dân quân. Như thế là các cụ cũng trực tiếp tham gia kháng chiến”.

Tháng 5-1950, Bác đến thăm “Lớp đào tạo cán bộ mật mã Lê Lai” tại cánh rừng Bản Cọ (Định Hóa, Thái Nguyên” với lời căn dặn: “Mật mã là công tác cơ mật, quan trọng, vẻ vang… Mật mã phải bí mật, nhanh chóng, chính xác. Các chú làm mật mã phải bí mật và đoàn kết”.

Ngày 26-5-1953, trên Báo Nhân Dân, trong bài viết “18 lần rồi” (ký tên C.B), Bác phân tích sự kiện nội các của nước Pháp thay đổi 18 lần kể từ sau Thế chiến II cũng như sự kiện Chính phủ mới đổ ngày 22-5-1953. Bài báo cho thấy cuộc chiến tranh mà nước Pháp đang tiến hành ở Đông Dương ngày càng trở thành nguyên nhân gây bất ổn trên chính trường Pháp và ngày càng bị lệ thuộc vào Mỹ. Bài báo kết luận: “Chỉ điều đó cũng đủ rõ: thế địch yếu, thế ta mạnh”.

Ngày 26-5-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh (với bút danh T.L) đăng bài “Một cuộc hội nghị rất quan trọng” trên Báo Nhân Dân, bình luận kết quả của Hội nghị các vị đứng đầu các quốc gia độc lập ở châu Phi tổ chức tại Adi Abeba, thủ đô Ethiopi. Bài báo cho rằng, đó là “cuộc biến đổi long trời lở đất” và “Hội nghị này đã làm nổi bật thất bại nhục nhã và bước đường cuối cùng của chủ nghĩa thực dân. Nó làm nổi bật thắng lợi to lớn của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”. Nhân dân Việt Nam “coi thành công của nhân dân châu Phi anh em cũng như thành công của mình”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 1-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi

Ngày 1-6-1922, trên Báo “L’ Humanité” (Nhân Đạo), Nguyễn Ái Quốc viết bài “Bình đẳng”, mở đầu bằng câu: “Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột, giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, bình đẳng”.

Ngày 1-6-1946, máy bay từ Pegou (Miến Điện) chở Chủ tịch Hồ Chí Minh bay tiếp 1.093km rồi hạ cánh xuống thành phố Calcuta của Ấn Độ. Nhà cầm quyền Anh và Lãnh sự Pháp đã tiếp đón đoàn lưu lại đây trong 2 ngày.

Ngày 1-6-1947, Báo “Sự Thật” đăng bài “Cán bộ tốt và cán bộ xoàng” của Bác (ký bút danh A.G), viết về công tác cán bộ: “Kháng chiến là một lò đúc cán bộ. Nơi nào mà cán bộ cấp trên biết lựa chọn dìu dắt thì có nhiều cán bộ mới nảy nở và công việc phát triển… Kháng chiến lại là một viên đá thử vàng đối với cán bộ”. Bài báo kết luận: “Cán bộ mà lên mặt quan cách mạng thì mọi việc đều lủng củng. Cán bộ mà biết làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, thì việc gì cũng mĩ mãn. Những đồng chí cán bộ, phải gắng tiến lên mãi. Những ông cán bộ xoàng, xin mau sửa đổi”.

Ngày 1-6-1949, Báo Cứu Quốc đăng tiếp bài “Thế nào là Liêm?” của Bác (ký bút danh Lê Quyết Thắng). Bài báo phân tích: “Liêm là trong sạch, không tham lam. Ngày xưa dưới chế độ phong kiến, người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm… Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn là mọi người đều phải Liêm… Có Kiệm mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam… Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”… Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót thì “quan” dù không liêm cũng phải hóa ra Liêm… Pháp luật phải ra tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ bất liêm ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Mọi người phải nhận rằng tham lam là một điều xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước với dân… Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ…”.

Ngày 1-6-1947, lần đầu tiên Bác viết “Thư gửi thiếu nhi toàn quốc”, trong đó người lãnh đạo cuộc kháng chiến đã hứa với các cháu: “Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cũng cố gắng làm cho các cháu đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”, nên cứ đến ngày Quốc tế Thiếu nhi 1- 6 hàng năm, Bác Hồ đều có thư gửi các cháu thiếu nhi Việt Nam và thế giới. Ngày 1-6 cuối cùng trong cuộc đời (1969), Bác viết bài báo “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”, khẳng định: “Thiếu niên và nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 3-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành chính thức được nhận việc tại tàu Đô đốc Latouche Tréville của Hãng vận tải hợp nhất, với cái tên mới là Văn Ba.

Ngày 3-6-1926, từ Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo cho Quốc tế Cộng sản về những công việc đã làm kể từ khi tới đây như tổ chức một tổ bí mật, một Hội Liên hiệp nông dân của những đồng bào Việt Nam sống tại Xiêm (Thái Lan), một Tổ thiếu nhi, một Tổ phụ nữ cách mạng, một Trường huấn luyện chính trị và xuất bản tờ báo Thanh Niên.

Báo cáo cũng nhắc đến Hội Liên hiệp các thuộc địa ở Paris, về hai tờ báo “Le Paria” (Người Cùng khổ), “Việt Nam Hồn” và yêu cầu được cung cấp báo chí, tài liệu tuyên truyền.

Ngày 3-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Chandernagore, một thuộc địa của Pháp trên đất Ấn Độ, thiết tiệc Lãnh sự Pháp và gặp gỡ kiều bào. Trả lời một tờ báo lớn ở Calcuta về vấn đề “Liên bang Đông Dương” và “Liên hiệp Pháp”, Chủ tịch nước Việt Nam nói rõ quan điểm: “Thực là một sự mỉa mai nếu lại đặt cho Đông Dương một viên toàn quyền, song tôi hy vọng rằng cuộc đàm phán chính thức ở Paris sẽ có kết quả tốt…Việt Nam không có tham vọng gì về đất đai của hai nước láng giềng. Hiện giờ, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và hai nước đó chưa có”.Về cuộc xung đột Pháp – Xiêm, nhà lãnh đạo Việt Nam cho rằng“Việc đó thuộc thẩm quyền của Pháp” và bày tỏ cảm tình đối với đất nước Ấn Độ.

Cùng ngày, ở trong nước, Báo Quyết Thắng của Việt Minh Trung bộ in tại Thuận Hóa (Huế) đăng bức thư của Bác gửi Trại nhà nghèo tỉnh Quảng Ngãi để cảm ơn những bức tranh thêu và thư của các trại viên tặng. Thư viết: “Trước hết, tôi cám ơn tấm lòng thân ái của anh em đối với tôi. Hai là tôi phải khen rằng anh em thêu rất khéo. Bức thêu đó đã chứng tỏ rằng: Thủ công mỹ nghệ của nước ta mai sau chẳng những có thể tranh đua mà lại có thể tranh giải nhất của thủ công mỹ nghệ trong thế giới… Tôi ao ước rằng nhờ sự cần kiệm của anh em “Trại nhà nghèo” sẽ mau tiến bộ thành “Trại nhà khá”, rồi dần dần thành “Trại nhà giàu” làm kiểu mẫu cho anh em khác”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 6-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc đang sống ở Liên Xô, với bí danh là Lin đã gửi thư cho một đồng chí trong Quốc tế Cộng sản.

Ngày 6-6-1941, Nguyễn Ái Quốc viết thư “Kính cáo đồng bào” gửi tới các tầng lớp nhân dân cả nước nhằm triển khai nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 8: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng…”.

Bức thư thực sự là một bài hịch cứu nước: “Việc cứu nước là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài góp tài năng… Hỡi các chiến sĩ cách mạng! Giờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung. Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đương vang dội bên tai các đồng chí. Máu nóng của bậc anh hùng đương sục sôi trong lòng các đồng chí! Chí phấn đấu của quốc dân đương chờ đợi sự lãnh đạo của các đồng chí!”.

Ngày 6-6-1946, tiếp tục hành trình sang thăm nước Pháp, máy bay đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Karachi bay 2.610km để tới thành phố Habangna thuộc lãnh thổ Iraq khi đó vẫn là thuộc địa của Anh.

Ngày 6-6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh đặt ra 3 loại huân chương cao quý nhất: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Độc lập.

Ngày 6-6-1953, Báo Nhân Dân đăng bài “Phải chống bệnh quan liêu” của Bác, phân tích kết quả cuộc vận động phê bình, trong đó có vai trò của báo chí. Tác giả nhấn mạnh: “Quan liêu, tham ô, lãng phí cũng như mọi khuyết điểm khác, nguồn gốc là vì tư tưởng không đúng. Tư tưởng trong sạch, lập trường vững, hết lòng hết sức phụng sự nhân dân thì tránh được nhiều khuyết điểm… Mở rộng dân chủ phê bình trong cơ quan và ngoài quần chúng, từ trên xuống, từ dưới lên. “Trên đe dưới búa” của phê bình, thì nhất định tẩy được bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí…”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 7-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 7-6-1931, sau khi bị bắt, Nguyễn Ái Quốc bị tạm giam tại Sở Cảnh sát Hồng Công và vị luật sư người Anh H.Loseby đã đến gặp thân chủ của mình.

Ngày 7-6-1946, “Nhật ký hành trình” chép về chuyến đi thăm Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, viết: “Từ Habagna đến Le Caire (Thủ đô Ai Cập) 1.386 cây số. Khi tham quan Jérusalem, máy bay có bay một vòng trên kinh thành để mọi người được xem Lăng Chúa Jesus… Lúc đến Le Caire có đại biểu sứ thần Pháp ra đón… Nghỉ tại đây 3 hôm”.

Cùng ngày, ở trong nước, Báo Cứu Quốc đăng bài “Đặt kế hoạch tác chiến” (ký tên Q.Th) của Bác, giới thiệu binh pháp Tôn Tử nhưng trên một tinh thần thực tiễn: “Biết người, biết mình rồi lại phải so sánh mình với địch xem ai hơn, ai kém để định kế hoạch tác chiến…Chiến tranh ngày nay, đánh ở mặt sau, đánh về kinh tế, về chính trị, về tinh thần cũng không kém phần quan trọng như đánh ngoài mặt trận. Phải biết phối hợp mọi phương pháp ấy mới có thể đi đến thắng lợi hoàn toàn…”.

Ngày 7-6-1948, phản ứng trước việc thực dân Pháp dựng lên “chính phủ bù nhìn toàn quốc” tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nay thực dân Pháp đã đưa ra một chính phủ bù nhìn toàn quốc để mưu bán Tổ quốc Việt Nam cho chúng. Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ theo pháp luật nước nhà trừng trị bọn phản quốc ấy”.

Ngày 7-6-1968, Bác mời một số cán bộ đến bàn về loại sách “Người tốt việc tốt”. Bác nói: “Những chiến công và thành tích nổi bật thì ai cũng có thể thấy được. Còn những việc nhỏ, bình thường thôi nhưng ích nước lợi dân thì hay bị xem thường. Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không? Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao giọt nước nhỏ hợp lại thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc… Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…Coi chừng có nhiều người Việt Nam không hiểu rõ lịch sử, đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ngày 9-6: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 9-6-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lưu tại Le Caire đi thăm nhiều di tích lịch sử của Ai Cập, trong đó có Kim tự tháp nổi tiếng ở Sekherat.

Tháng 6-1947, Bác viết “Thư gửi đồng bào trung du và hạ du chống lụt”, động viên: “Mùa lụt đã đến gần. Nếu lụt thì đói. Lụt cũng là một thứ giặc ghê gớm. Người ta thường nói “thủy, hỏa, đạo, tặc”. Chúng ta phải ra sức ngăn giặc lụt như chống giặc ngoại xâm…Tôi tha thiết kêu gọi đồng bào, bất kỳ già trẻ, trai gái, mọi người đều phải coi việc canh đê, phòng lụt là việc thiết thân của mình: “Lụt thì lút cả làng/ Muốn cho khỏi lụt, thiếp chàng cùng lo”. Chúng ta phải thực hành câu ca dao đó. Ai cũng phải tham gia công việc sửa đê, canh đê…Chúng ta phải kiên quyết giành cho được thắng lợi trong việc chống giặc lụt. Thắng lợi sẽ giúp cho ta thắng lợi trong cuộc đánh giặc ngoại xâm. Mong toàn thể đồng bào gắng sức”.

Ngày 9-6-1953, trong bài nói chuyện tại buổi bế mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính các cơ quan trung ương, Bác phân tích: “Muốn tiến bộ mãi thì phải học tập. Học trong sách báo, học trong công tác, học với anh em, học hỏi quần chúng. Học tập để phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn đạt mục đích ấy thì phải thực hành dân chủ tự phê bình…Cán bộ bất kỳ cấp nào, cao hay thấp có quyền và có nghĩa vụ đòi hỏi thực hiện dân chủ. Học cốt để hành”.

Ngày 9-6-1954, trên Báo Cứu Quốc, Bác viết bài “Hà Nội, một thành phố bị bao vây” (ký bút danh Đ.X), phân tích thông tin từ một tờ báo Pháp cho biết: Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, giặc Pháp tại Hà Nội đang bị chiếm đóng, bị bao vây, không phải vì lực lượng của đối phương mà bởi chính lòng dân Hà Nội đang có “cảm tình với chính phủ Việt Minh”. Bài báo kết luận: “Điều đấy chứng tỏ tinh thần của địch rất hoang mang”./.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn