Thư viện

Hai mùa thu và một việc hệ trọng

QĐND – Mùa thu 67 năm trước, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời trong tình thế cách mạng “ngàn cân treo sợi tóc”, có bao việc phải lo, phải làm nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm làm trong sạch đội ngũ cán bộ. Ngày 27-9-1945, tới dự Đại hội đại biểu Thanh niên Hà Nội, Bác thẳng thắn: “Các anh em nếu đến đây để nghe một bài diễn văn bóng bẩy, hoa mỹ thì các anh em sẽ thất vọng. Tôi sẽ không khen ngợi anh em mà chủ yếu vạch ra những khuyết điểm của anh em”. Khi ông Hoàng Tùng, Bí thư Thành ủy Hà Nội hỏi Bác: “Thưa Cụ, giặc Tàu, giặc Pháp lăm le cướp nước ta, Cụ sợ giặc nào hơn…? “. Bác đã trả lời: “Bác sợ nhất các chú…”

Mùa thu này, những tín hiệu từ việc Đảng ta triển khai Nghị quyết Trung ương 4 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” như gợi nhắc câu chuyện Bác Hồ năm ấy. Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử Đảng ta, việc chỉnh đốn Đảng được làm quyết liệt, sâu sắc, kỹ càng như hiện nay. Chỉ riêng việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình 4 đồng chí lãnh đạo chủ chốt gồm Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đã diễn ra 5 ngày, mọi ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều đóng góp ý kiến. Các vụ việc nổi cộm liên quan đến Vinashin, Vinalines… và những thiếu sót, khuyết điểm trong công tác cán bộ hay một số dư luận bức xúc liên quan đến cá nhân, gia đình, vợ con… một số cán bộ cao cấp cũng được làm rõ, giao cho UBKT Trung ương thẩm tra, xác minh. Bộ Chính trị cũng đã kiến nghị việc thành lập Ban Nội chính Trung ương, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và ban hành “Hướng dẫn thực hiện việc chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương”; sửa đổi ngay cách đi công tác ở cơ sở theo hướng thiết thực, cụ thể, tránh hình thức, rườm rà… Dư luận cả nước rất đồng tình, tin tưởng và hy vọng tinh thần chỉnh đốn Đảng nghiêm túc từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ tạo một luồng gió mới cho việc triển khai Nghị quyết Trung ương 4 ở các cấp bộ Đảng.

Hơn 700 năm trước, trong khí thế ngút trời sau 3 lần đại thắng giặc Nguyên – Mông, cha ông ta từng đưa ra triết lý phải vun trồng “Đức” như một cái gốc của sự trường tồn: “Giặc tan muôn thuở thanh bình / Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”. Hai mùa thu, một việc hệ trọng cùng được triển khai cho thấy dòng chảy biện chứng trong tư duy cách mạng của Đảng ta, cũng là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp nối truyền thống dân tộc. Càng trong nguy nan, thử thách, càng phải “xốc lại đội hình” vì “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

Nguyễn Văn Minh
qdnd.vn

Thêm một tấm gương về “đạo làm quan”

QĐND – Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh vừa trao giải thưởng “Vì sự nghiệp phát triển văn hóa – giáo dục” lần thứ V – 2012 cho ông Nguyễn Sự, Bí thư thành ủy Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là một giải thưởng uy tín ở nước ta, nhằm tôn vinh các công trình văn hóa đặc sắc, tổ chức đào tạo và phổ biến các giá trị văn hóa Việt Nam và thế giới. ông Nguyễn Sự không phải là một chuyên gia văn hóa và không có các công trình nghiên cứu khoa học, nhưng việc trao giải thưởng trên đây nhận được sự đồng thuận cao của dư luận và giới chuyên môn, bởi “tác phẩm” của ông là bộ mặt phố cổ Hội An trong thời hội nhập và phát triển.

Đồng chí Nguyễn Sự, Bí thư thành ủy Hội An

Như mọi di sản lịch sử và văn hóa, phố cổ Hội An từng đứng trước nguy cơ bị tàn phá và biến dạng do thời gian, chiến tranh và những mặt trái của cơ chế thị trường thời toàn cầu hóa. ông Nguyễn Sự là một người con của Hội An, một cán bộ quản lý và lãnh đạo trưởng thành từ một người lính và cán bộ cơ sở, gần 20 năm nay ông dồn tâm huyết và công sức cho Hội An trên con đường phát triển, hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ được bản sắc của một di sản văn hóa độc đáo; để Hội An được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại, được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.

Người Hội An nói rằng, ông Nguyễn Sự không có cái kiểu “không quản được thì cấm”. ông ở nhà cấp 4, gặp gỡ trò chuyện thoải mái với nhân dân, cùng họ bàn cách làm thế nào vừa đảm bảo mưu sinh vừa góp phần làm đẹp cho thành phố. Chính ông đã truyền cảm hứng cho họ trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của phố cổ.

Người ta cũng nói rằng, ông vừa là người góp phần kiến tạo, vừa là linh hồn của những thay đổi rất thành công và đặc sắc của Hội An. ông là người có “đạo làm quan”, biết điều hành công việc bằng sự am hiểu văn hóa và lẽ đời. Như lời nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc: ông là người lãnh đạo, quản lý một cách văn hóa.

Trong diễn văn đáp từ tại lễ nhận giải thưởng, ông Nguyễn Sự phát biểu: Tôi chỉ là người thực hành, hằng ngày làm những việc cụ thể, cố gắng cho đúng và có ích… Cơn khát đất, khát tiền nóng rực có thể hút kiệt môi trường sống, san bằng mọi di sản cha ông và nốc cạn hạnh phúc của nhiều thế hệ mai sau. Chúng tôi đã phải dằn ước muốn tăng trưởng GDP để Hội An không đổ vỡ. Chúng tôi đã phải chống chọi với “tư duy nhiệm kỳ” để cùng nhân dân, vốn “vạn đại” và “phi nhiệm kỳ”, nghĩ và làm chuyện lâu dài…

Những điều ông Nguyễn Sự nói và những điều người ta bàn về ông Nguyễn Sự nêu trên không phải là mới. Đất nước ta từ xưa đến nay cũng có nhiều tấm gương như vậy. Nhưng trong không khí toàn Đảng, toàn dân đang sôi nổi thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, câu chuyện về “đạo làm quan” của ông Nguyễn Sự trên đây thật thiết thực và ý nghĩa!

Mai Nam Thắng
qdnd.vn

Vùng lên đáp lời sông núi

QĐND – Ngày 19-12-1946, khi Hồ Chủ tịch ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, họ là những người trẻ tuổi, nhiệt huyết đã đứng lên đáp lời sông núi, tham gia vào các hoạt động cách mạng ở địa phương. Giờ đây, khi đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, những nhân chứng sống ấy đã nhớ lại không khí sục sôi kháng chiến của các tầng lớp nhân dân vào ngày này, 65 năm trước…

* Đại tá Nguyễn Trọng Hàm, Trưởng ban liên lạc Chiến sĩ quyết tử Liên khu I, Trung đoàn Thủ Đô:

Tôi là người sinh ra, lớn lên ở phố Hàng Thiếc (Hà Nội) và tham gia chống Nhật, Pháp từ những ngày tiền khởi nghĩa. Thời điểm Bác Hồ phát động Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, tôi đang là Đại đội trưởng Đại đội Tự vệ phố Hàng Thiếc và trực tiếp chiến đấu cùng quân dân Thủ đô trong 60 ngày đêm quyết tử. Ngày ấy, Đại đội Tự vệ phố Hàng Thiếc gồm hơn 120 chiến sĩ đã cùng nhân dân tổ chức đào giao thông hào, rải chướng ngại vật, đục thông từ nhà nọ sang nhà kia tạo thành “trận đồ bát quái” để cản bước và đánh trả quân Pháp.

Thật cảm phục ý chí chiến đấu của người dân Hà Nội khi có nhiều tài sản, vật dụng trong gia đình như bàn, ghế, tủ, giường và cả bàn thờ đã được họ vứt xuống đường để ngăn bước quân thù. Với những vũ khí thô sơ như: súng trường, súng ngắn, mã tấu, giáo mác… nhiều công nhân, thợ thủ công từ nơi khác tới làm thuê trong các lò thủ công cũng đã tự nguyện đứng vào hàng ngũ chiến đấu cùng các hộ gia đình. Trong những trận đánh quyết tử ấy, chúng tôi đã phá hủy 2 xe tăng, diệt 20 tên địch, trận địa phố Hàng Thiếc cùng các tuyến phố: Bát Đàn, Hàng Bồ, Thuốc Bắc đã được giữ vững cho đến đêm 17-2-1947, khi chúng tôi nhận lệnh rút quân khỏi Thủ đô để bảo toàn lực lượng.

* Đại tá Kim Sơn (tức Nguyễn Hữu Văn), nguyên Đội viên Đội tuyên truyền Thiếu sinh quân Chiến khu I-Liên khu 10:

Khi tiếng súng Toàn quốc kháng chiến nổ ra, tôi mới 16 tuổi và là đội viên Đội Tuyên truyền Thiếu sinh quân Chiến khu I. Đội gồm 20 người, ngoài một số người lớn tuổi, còn lại đều trong độ tuổi thiếu niên từng tham gia làm liên lạc và tiếp tế cho cán bộ cách mạng hoạt động trong thời kỳ tiền khởi nghĩa… Tôi còn nhớ khi Đội chuyển sang đóng quân ở Việt Trì, chúng tôi đã có các cuộc diễu hành trên đường phố, hô vang các khẩu hiệu động viên, cổ vũ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.

Chúng tôi còn thâm nhập vào các gia đình thăm hỏi, nói chuyện, tổ chức mít tinh, diễn thuyết ở các phiên chợ, kẻ khẩu hiệu, vẽ chân dung Hồ Chủ tịch, vẽ tranh cổ động cỡ lớn trên các bức tường và biểu diễn văn nghệ… Trong lần hành quân lên Mường Khương, Lào Cai, chúng tôi đã đụng phải lực lượng phỉ do “lãnh chúa” Hoàng La Ú cầm đầu. Khi nhận được tin báo “có một đơn vị bộ đội Việt Minh đang tiến lên”, Hoàng La Ú đã bí mật điều hàng trăm quân xuống phục kích ở một đoạn đường hiểm trở, song khi nhìn thấy đội quân Việt Minh này phần lớn còn nhỏ tuổi, lại có rất nhiều kèn, trống, vừa đi vừa hò hát, không có vẻ gì là “hành quân chiến đấu”… nên họ đã không nổ súng. Qua nhiều cuộc đấu trí, thử thách căng thẳng, bằng thái độ khéo léo và hành động cụ thể, chúng tôi đã thuyết phục được Hoàng La Ú đoàn kết, hợp tác để cùng đánh Pháp và xây dựng chế độ mới.

* Trung tướng Nguyễn Ân, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân I (nay là Đại học Trần Quốc Tuấn):

Trước khi Hồ Chủ tịch ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến một ngày, Liên khu I chỉ thị cho tỉnh Bắc Giang và huyện Yên Thế tổ chức ngay một Đội quyết tử quân. Huyện Yên Thế đã lấy Đội tự vệ chiến đấu ở xã Bố Hạ gồm 60 đồng chí do tôi phụ trách làm nhiệm vụ này. Đội đã tập trung lên Cao Thượng – nơi cơ quan Liên khu I đóng quân và chiều 19-12-1946 chúng tôi đã xuống thị xã Bắc Giang phối hợp cùng Tiểu đoàn 517 – Trung đoàn 36 tiến công vào khu vực sân vận động của tỉnh.

Đêm hôm sau, Đội quyết tử đã đột nhập vào dãy nhà câu lạc bộ của sân vận động do quân Pháp chiếm đóng. Đúng 0 giờ 21-12-1946, chúng tôi nổ súng tiến công địch. Trận đánh diễn ra đến rạng sáng thì ta chiếm được một số căn nhà và dồn quân địch về khu đông nam. Địch phản kích liên tục và cuộc chiến đấu giằng co đến hết ngày 21-12. Ngay đêm hôm ấy, chúng tôi bàn giao khu vực phía tây bắc cho Tiểu đoàn 517 rồi rút xuống phía nam cầu Bắc Giang và tổ chức phòng ngự ở phố Đò, chặn quân địch từ Bắc Ninh lên tiếp viện cho đồng bọn.

* Trung tướng Tiêu Văn Mẫn, nguyên Phó Tư lệnh về chính trị Quân khu 5:

Thời điểm phát Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến 65 năm trước, tôi đang làm liên lạc cho xã đội Hành Minh (huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi). Vốn là những thiếu niên ở độ tuổi 12-13 từng phải đi ở cho phú nông nên chúng tôi đã sớm được giác ngộ cách mạng và tham gia vào các hoạt động như: làm liên lạc, chuyển thư tín, công văn, giấy tờ cho Việt Minh…

Hồi đó, nhà tôi chỉ có hai anh em, tôi là lao động chính trong gia đình, nhưng khí thế sục sôi của quần chúng nhân dân đã “cuốn” những cậu bé đang ở tuổi chăn trâu cắt cỏ vào tham gia phục vụ cách mạng. Không chỉ nhà tôi mà rất đông con em ở độ tuổi thiếu niên trong các gia đình cũng nhiệt tình tham gia xuống đường, giương cao biểu ngữ và hô to những khẩu hiệu: “Đả đảo thực dân Pháp”, “Quyết hy sinh tới giọt máu cuối cùng”… Đáp Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, sau những tháng ngày hoạt động cách mạng ở quê hương Hành Minh, một ngày đầu năm 1951, tôi đã rủ người bạn cùng xóm tên là Nguyễn Văn Sĩ cùng ba thanh niên trong xã cuốc bộ cả ngày lẫn đêm từ Nghĩa Hành tới Đức Phổ để xin nhập ngũ vào Trung đoàn 40. Kể từ đây, cuộc đời cách mạng của tôi đã chuyển sang bước ngoặt mới và sau đó là quãng thời gian hơn 40 năm quân ngũ…

* Họa sĩ Phan Minh Thiên, phường An Bình, Biên Hòa, Đồng Nai:

Ngày Toàn quốc kháng chiến, tôi còn là một thiếu niên và vẫn nhớ cách nhà khoảng 5km có hai đồn lính Pháp ở các huyện: Hương Sơn và Đức Thọ (Hà Tĩnh). Chừng khoảng một tháng sau Ngày Toàn quốc kháng chiến, đàn ông, trai tráng trong xã tôi đã chuẩn bị cho cuộc tiến công đánh đồn địch, cướp kho thóc ở Nầm, thuộc huyện Hương Sơn. Mọi công việc được cha tôi và người làng triển khai hết sức khẩn trương, bí mật.

Một hôm, khoảng 2 giờ sáng, tôi tỉnh giấc thì thấy cha xách một cây mác và một cái câu liêm đi ra khỏi nhà. Tôi mặc vội áo rồi chạy theo cha, cha đưa cho tôi vác cây câu liêm. Mọi người tập trung ở xóm Hầu rồi kéo nhau theo con đường men theo chân núi Mồng Gà đi lên Nầm, được một quãng thì nhập vào đoàn người đã túc trực sẵn ở xóm Pheo, bí mật “hành quân” hướng đồn Pháp thẳng tiến. Cuộc “hùng binh” này do ông Sua (dân làng ngày đó gọi là cố Sua) chỉ huy. Đoàn quân nông dân kéo đến gần đồn địch thì bị giặc Pháp dùng súng bắn xối xả làm một số người trong đoàn bị trúng đạn. Đêm hôm sau, Pháp cho một nhóm lính cưỡi ngựa chạy thẳng xuống xóm Hầu tìm đến nhà cố Sua châm lửa đốt. Bà con vừa chạy đến dập lửa, vừa hét: “Pháp đốt nhà cố Sua! Bà con ơi!” rồi tổ chức vây bắt khiến bọn giặc phải phi ngựa chạy trốn. Từ đó, ngọn lửa thiêu rụi nhà cố Sua đã thổi bùng ý chí chống giặc Pháp của người dân quê tôi.

* Má Nguyễn Thị Mười (Mười Riều), thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Năm 1945, khi “ông xã” tôi tham gia cách mạng, tôi đã đòi tham gia cùng. Chồng tôi không chịu nên tôi làm bộ giận, bảo: “Đừng tưởng tôi đàn bà con gái mà coi thường nghen, để tôi đi đánh Pháp cho ông coi”. Vậy là ổng chịu để tôi tham gia làm giao liên, xây dựng cơ sở cho Việt Minh.

Má Mười Riều (thứ hai từ trái sang) tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển tổ chức tại TP Hồ Chí Minh.

Cuối năm 1946, khi Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, chồng tôi được giao làm Xã đội trưởng xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, một thời gian sau thì kiêm thêm chức Bí thư chi bộ xã. Do bị Pháp đánh hơi, lùng sục nên Việt Minh ở Bà Rịa phải rút vào hoạt động bí mật, xây dựng căn cứ sâu trong rừng. Trong vai người đi buôn, tôi thường xuyên qua lại các căn cứ, vừa làm giao liên, vừa vận động bà con góp gạo nuôi bộ đội. Có giai đoạn mất mùa, tôi cùng nhiều người khác phải vào rừng đào củ mài lấy cái ăn và làm nguồn lương thực cho Việt Minh. Khi danh tính của chồng tôi bị lộ, Pháp truy lùng ông rất dữ. Ở nhà, tôi vừa nuôi con, vừa lo việc xây dựng cơ sở, lo hậu cần tiếp tế cho đơn vị của chồng rồi đào hầm trong nhà giấu vũ khí cho Việt Minh. Giờ tôi đã 92 tuổi rồi, nhưng những ngày đầu tham gia kháng chiến thì vẫn còn nhớ rõ vì đó là giai đoạn quyết định cuộc đời và gia đình tôi sau này.

Minh Tuệ – Tùng Sơn -Trung Nguyên (thực hiện)
qdnd.vn

Cam Ranh – thương cảng tiềm năng

Cái tên “Vịnh Cam Ranh” lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ quân sự quốc tế sau khi chiến hạm của Hải quân Nga hoàng dừng chân tại đây trong chuyến đi vòng quanh thế giới vào năm 1888. Sau đó, Hải quân Nga hoàng một lần nữa tập trung hơn 100 chiến thuyền thuộc Hạm đội Thái Bình Dương số 2 tại đây để chuẩn bị cho cuộc chiến Nga – Nhật vào năm 1905. Đó là những minh chứng đầu tiên và rõ ràng nhất cho vị trí địa chiến lược quan trọng của vịnh Cam Ranh, được chính các cường quốc quân sự thế giới khẳng định từ cách đây hơn một thế kỷ.

Vịnh Cam Ranh, thuộc tỉnh Khánh Hòa, nằm trên tọa độ 11 độ kinh Đông, 12,10 độ vĩ Bắc. Bán đảo Cam Ranh chạy từ Bắc xuống Nam, được bao quanh bởi hai nhánh đảo, ngoài cửa vịnh có các cù lao và đảo nhỏ chắn gió, biến nơi này trở thành một trong những vịnh lặng sóng nhất thế giới. Nhờ cấu tạo địa hình đặc biệt, vịnh Cam Ranh có điều kiện thủy văn, địa chất rất thuận lợi, thủy triều trong vịnh khá đều đặn, tương đối đúng giờ, đáy vịnh bằng phẳng, chủ yếu là cát pha bùn khá vững. Vịnh Cam Ranh có chiều rộng trung bình 8-10km, chiều dài ăn sâu vào đất liền từ 12-13km, có diện tích hơn 60km2, có độ sâu từ 18 đến 32m, tàu có trọng tải 100.000 tấn có thể ra vào dễ dàng. Bên cạnh đó, Cam Ranh chỉ cách đường hàng hải quốc tế khoảng một giờ tàu biển, có vị trí địa – chính trị chiến lược quan trọng trên các tuyến hàng hải quốc tế trong khu vực biển Đông như Singapore, Hong Kong, Thượng Hải, Yokohama. Với một loạt các điều kiện tự nhiên thuận lợi, Cam Ranh được đánh giá là một trong những cảng nước sâu có lợi thế hàng đầu thế giới.

Vị trí chiến lược quân sự

Từ xa xưa, các nhà quân sự đã nhận thấy vịnh Cam Ranh hội tụ đầy đủ các yếu tố thuận lợi để trở thành một quân cảng lớn trong khu vực. Chính vì vậy, ngay từ những năm 1900, hải cảng này đã nằm trong tầm ngắm của Nga hoàng, Pháp, Nhật Bản…

Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ thậm chí đã chi tới hơn 300 triệu USD để mở rộng Cam Ranh, biến nơi đây trở thành một trong những căn cứ quân sự quan trọng nhất ở nước ngoài. Năm 1965, Mỹ quyết định xây dựng Cam Ranh thành căn cứ quân sự liên hợp hải-lục-không quân và khu hậu cần lớn nhất Đông Nam Á phục vụ chiến tranh Việt Nam, đồng thời khống chế hành lang phía tây Thái Bình Dương. Năm 1968, quân số của quân đội Mỹ ở Cam Ranh lên tới 30.000 người.

Từ năm 1979, theo hiệp định ký kết giữa Việt Nam với Liên Xô, cảng Cam Ranh được dùng làm căn cứ hậu cần của Hạm đội Thái Bình Dương với diện tích khoảng 100km2 trong thời hạn 25 năm. Vào thời kỳ cao điểm năm 1986, quân số cao nhất lên tới  6.000 quân nhân và kỹ sư, công nhân Liên Xô/Nga làm việc tại đây. Có thể nói, Cam Ranh trở thành căn cứ hậu cần lớn nhất của Hải quân Liên Xô ở nước ngoài vào thời điểm đó, làm đối trọng với căn cứ hải quân ở hải ngoại lớn nhất của Mỹ tại Subic, Philippines.

Nhiều nhà quân sự phương Tây đã gọi Cam Ranh là một “pháo đài tự nhiên lý tưởng”, “một đồn phòng vệ của Thái Bình Dương”. Bên cạnh lối ra vào hẹp, Cam Ranh còn được các dãy núi cao khoảng 400m vây quanh, biến cảng này trở thành một pháo đài vô cùng lợi hại, khó công, dễ thủ, có thể khống chế cả toàn khu vực biển Đông và là khu phòng thủ trọng yếu chiến lược trấn giữ giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Nếu bố trí tên lửa phòng không ở vịnh Cam Ranh và những cao điểm xung quanh thì toàn bộ eo biển Malacca và eo biển Singapore đều nằm trong tầm khống chế của hỏa lực những tên lửa đó. Ngoài ra, vịnh Cam Ranh còn có thể cho phép triển khai hệ thống giám sát điện tử để kiểm soát toàn bộ khu vực Bắc Ấn Độ Dương, vịnh Persia, biển Hoa Đông và Biển Đông.

Với tổng diện tích mặt nước rộng 98km2 và mực nước sâu phổ biến ở mức 16 – 25m, vịnh Cam Ranh có thể tiếp nhận đồng thời khoảng 40 tầu chiến cỡ lớn cùng neo đậu, kể cả tàu sân bay. Vừa có lợi thế tự nhiên rất có lợi cho quân sự, quốc phòng lại cận kề tuyến đường vận tải biển quốc tế trọng yếu nên vịnh Cam Ranh luôn được hải quân các cường quốc coi là “trung tâm dịch vụ hậu cần” quan trọng.

Đánh giá về lợi thế của Cam Ranh, các nhà quân sự Mỹ từng nhận định “ai làm chủ được Cam Ranh, sẽ giành được lợi thế ở biển Đông”.

Lợi ích kinh tế

Năm 2001, sau khi Nga quyết định rút khỏi Cam Ranh, Việt Nam từng bước xây dựng Cam Ranh thành một trung tâm cảng dịch vụ tổng hợp, phục vụ cho tàu hải quân của Việt Nam, đồng thời làm dịch vụ hậu cần kỹ thuật cho tàu hải quân, tàu kinh tế của các nước.

Quyết định xây dựng một trung tâm dịch vụ hậu cần kỹ thuật tại Cam Ranh có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, du lịch của Cam Ranh, đồng thời thu hút sự chú ý của giới đầu tư quốc tế.

Trong xu thế toàn cầu hóa, các liên minh kinh tế khu vực ngày càng được củng cố và mở rộng, đặc biệt là ở châu Á – Thái Bình Dương, khu vực được đánh giá là có nền kinh tế năng động nhất thế giới. Hoạt động tích cực của Diễn đàn kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đang đẩy nhanh tốc độ hội nhập của các nền kinh tế thành viên, tạo ra những mạng lưới kinh tế phát triển hiệu quả nhất thế giới. Chính vì vậy, trong mạng lưới kinh tế phát triển năng động này, tận dụng lợi thế tự nhiên để biến Cam Ranh trở thành một trong những thương cảng lớn nhất khu vực sẽ đem lại nguồn lợi kinh tế vô cùng lớn. Đối với giới đầu tư nước ngoài, Cam Ranh đang sở hữu một vị trí đắc địa, là điểm hội tụ của các tuyến đường biển quan trọng trong khu vực cũng như trên thế giới. Chính vì vậy, đặt chân được vào Cam Ranh sẽ là một bước tiến vào khu vực Đông Nam Á, một thị trường với hơn 500 triệu dân, có tiềm lực phát triển lớn.

Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, Cam Ranh luôn giữ vai trò là một cảng quân sự quan trọng hàng đầu. Hội tụ đầy đủ những ưu thế mang tầm chiến lược về địa lý, hàng hải cũng như vị thế lịch sử quan trọng, Cam Ranh ngày nay hấp dẫn cả các nhà đầu tư quốc tế. Với kế hoạch đưa Cam Ranh trở thành một cảng dịch vụ tốt nhất khu vực, Chính phủ Việt Nam hy vọng sẽ khai thác có hiệu quả nhất những tiềm năng, lợi thế của Cam Ranh phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Anh Thư
daibieunhandan.vn

Lời tuyên cáo quốc dân của Chính phủ lâm thời

 – Ngay sau khi Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trên cả nước, mọi công việc được gấp rút chuẩn bị để Chính phủ mới ra mắt nhân dân. Trước ngày 27/8/1945, Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam – đã được Quốc dân đại hội Tân Trào giao cho nhiệm vụ lãnh đạo toàn thể nhân dân như một Chính phủ lâm thời – đã ra tuyên cáo khẳng định đây là Chính phủ của toàn dân, kêu gọi nhân dân ủng hộ Chính phủ, xây dựng Tổ quốc.

Lời tuyên cáo quốc dân của Chính phủ lâm thời (1)

Hỡi quốc dân đồng bào !

Toàn quốc đại biểu đại hội họp ngày 16 – 17/8/1945 đã cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức là Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam để lĩnh đạo nhân dân tranh đấu giành quyền độc lập.

Sau ngày lịch sử 19/8/1945, chính quyền toàn quốc đã vào trong tay Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam. Toàn dân tộc đúc thành một khối, ủng hộ chính quyền mới. Thể lòng dân, nhà vua cũng vui lòng thoái vị, nhường quyền cho Chính phủ nhân dân lâm thời.

Phong trào cứu quốc cao vọt. Các tầng lớp nhân dân sôi nổi một bầu nhiệt huyết. Ai nấy đều sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi của Chính phủ nhân dân lâm thời, sẵn sàng đứng dậy chống ngoại xâm, phá âm mưu khôi phục nền thống trị của Pháp.

Chính phủ lâm thời VNDCCHChính phủ lâm thời nước VNDCCH

Nhiệm vụ của Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam hết sức nặng nề. Làm sao cho Chính phủ lâm thời tiêu biểu được Mặt trận dân tộc thống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ. Bởi vậy, tuân theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã quyết định tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó cho.

Chính phủ lâm thời không phải là Chính phủ riêng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) như có người đã lầm tưởng. Cũng không phải là một chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của các chính đảng. Nó thật là một chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ dân chủ cộng hòa chính thức.

Hỡi quốc dân đồng bào !

Vận mệnh ngàn năm của dân tộc ta đang quyết định trong lúc này đây. Toàn thể quốc dân hãy khép chặt hàng ngũ, đứng dưới lá quốc kỳ, làm hậu thuẫn cho Chính phủ lâm thời, đặng nắm chắc tự do, độc lập, cải tạo Tổ quốc bấy nhiêu lâu đã bị bọn giặc nước tàn phá.

Cuộc tranh đấu cho “độc lập, tự do, hạnh phúc” của dân tộc đang tiếp tục, bước đường giải phóng dân tộc còn nhiều chông gai, hiểm trở. Quốc dân hãy sẵn sàng nghe hiệu lệnh của Chính phủ, hy sinh phấn đấu để bảo vệ nền độc lập hoàn toàn.

Khẩu hiệu của chúng ta lúc này là:

Toàn dân đoàn kết !
Tranh thủ hoàn toàn độc lập !

Một dân tộc có những trang lịch sử oanh liệt phải được quyền sống chính đáng. Một dân tộc đã góp một phần xương máu vào cuộc chiến tranh chống phát-xít xâm lược trong mấy năm nay, phải được độc lập tự do.

Đoàn kết phấn đấu, nhất định chúng ta sẽ thành công.

Ngày 27/8/1945
CHÍNH PHỦ LÂM THỜI
NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

1. Sau khi giành được chính quyền, Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt nam tự cải tổ, thâu nạp thêm một số nhân sĩ vô đảng phái vào và rút bớt người của Việt minh ra để thành lập Chính phủ lâm thời có tính chất toàn dân đoàn kết.

Bản tuyên cáo này phát ra khi Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam vừa cải tổ. Một tang chứng tỏ rõ Việt minh không giành chính quyền cho riêng mình. Việt minh lãnh đạo nhân dân giành chính quyền cho nhân dân. Sau khi chính quyền vào tay nhân dân rồi, Việt minh vui vẻ mời những bậc ái quốc, những người thật tâm yêu nước cùng mình gánh việc nước. Thái độ chân chính của Việt minh đã được đồng bào nhiệt liệt tán thưởng. Nó đã giúp một phần lớn cho mặt trận dân tộc thống nhất giành quyền độc lập ngày một rộng rãi và vững vàng thêm.

(Theo Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006).
bee.net.vn

Nhìn lại Chính phủ Liên hiệp kháng chiến VNDCCH 2/3/1946

 – Nhiệm vụ của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến vô cùng nặng nề: ứng phó với kẻ thù, thống nhất quốc dân, động viên nhân lực, tài sản quốc dân chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Ngày 6/1/1946, lần đầu tiên cuộc tổng tuyển cử tự do được tổ chức trên toàn quốc trong không khí náo nức phấn khởi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời. Ngày 2/3/1946, Quốc hội khoá I đã tiến hành  kỳ họp thứ nhất tại Thủ đô Hà Nội, bầu ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chính phủ liên hiệp kháng chiến ra mắtChính phủ liên hiệp kháng chiến ra mắt 2/3/1946

Quốc hội trao cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nhiệm vụ “thực hiện triệt để sự thống nhất các lực lượng của quốc dân về phương diện quân sự, tuyên truyền, hành chính, tư pháp”, tổng động viên nhân lực và tài  sản của quốc gia theo nhu cầu của tình thế để đưa kháng chiến đến thắng lợi và nước nhà đến độc lập hoàn toàn.

Trong thời gian hoạt động của mình, ở tình thế thù trong giặc ngoài, Chính phủ đã có những quyết sách và hành động đúng đắn, sáng tạo. Để đối phó với quân Tưởng, Chính phủ đã cử phái đoàn Việt Nam gồm 5 thành viên là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh, Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp và Phó chủ tịch Kháng chiến Ủy viên hội Vũ Hồng Khanh ký với Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 đồng ý cho 15.000 quân Pháp thay thế cho 20 vạn quân Tưởng ở miền Bắc.

Sau đó, Chính phủ thay mặt quốc dân đàm phán với Pháp tại Hội nghị Đà Lạt, Hội nghị Fontainebleau và ký với Pháp bản Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946, tạo sự hòa hoãn tạm thời để kiện toàn lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ.

Ngày 9/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố bản Hiến pháp đầu tiên của nước VNDCCH.

Danh sách thành viên

Chủ tịch: Hồ Chí Minh
Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam
Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng
Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Chu Bá Phượng
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Lê Văn Hiến
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Phan Anh
Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động: Trương Đình Tri
Bộ trưởng Bộ Giáo dục: Đặng Thai Mai
Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Đình Hoè
Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính: Trần Đăng Khoa
Bộ trưởng Bộ Canh nông: Bồ Xuân Luật (đến 4-1946)
Huỳnh Thiện Lộc  (từ 4-1946)
Đoàn Cố vấn tối cao:  Vĩnh Thụy
Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội: Võ Nguyên Giáp

(Theo Chinhphu.vn)

1. Chủ tịch: Hồ Chí Minh (xem kỳ trước)

2. Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần (xem kỳ trước)

3. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam

Nguyễn Trường Tam

Nguyễn Trường Tam (1905-1963)

Nguyễn Tường Tam (1905-1963), quê ở làng Cẩm Phổ, Hội An, Quảng Nam. Ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ 02/03/1946 đến 03/11/1946 trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Ông cũng tham gia Quốc hội khóa I đặc cách không qua bầu cử.

Ngoài ra, ông từng là chủ bút những tờ báo lớn như Phong Hóa, Ngày Nay… Ông là người thành lập nhóm văn chương Tự Lực Văn Đoàn và là cây bút chính của nhóm với bút danh Nhất Linh.

4. Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng (1876–1947) là người làng Thạnh Bình, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Năm 1926, ông đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kì. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông ra tham gia nội các Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Năm 1946, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm quyền Chủ tịch nước. Thời gian này ông còn là Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Liên Việt). Cuối năm 1946, ông là đặc phái viên của Chính phủ vào cơ quan Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

5. Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Chu Bá Phượng

Chu Bá Phượng là đại biểu Việt Nam Quốc dân đảng, được cử làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, thay Nguyễn Tường Long trong Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ngày 4/6/1946, ông được Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa cử làm phái viên trong phái đoàn Việt Nam sang Paris.

6. Bộ trưởng Bộ Tài chính: Lê Văn Hiến (xem kỳ trước)

Ông Lê Văn Hiến trong hai Chính phủ Lâm thời 2/9/1945 và Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 1/1/1946 giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động, nay chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Tài chính.

7. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Phan Anh

Phan Anh

Phan Anh (1912-1990)

Phan Anh (1912-1990) quê làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là luật sư nổi tiếng, được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngoài ra, ông được Chính phủ giao chức Tổng thư ký phái đoàn Chính phủ Việt Nam (1946), Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954) và là phái viên phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Genève (1954).

Sau năm 1954, ông liên tục giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương trong Chính phủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Từ năm 1988, ông giữ cương vị phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

8. Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động: Trương Đình Tri

Bác sĩ Trương Đình Tri làm Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động tròng Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 1/1/1946 và Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến 2/3/1946.

9. Bộ trưởng Bộ Giáo dục: Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai (1902-1984)

Đặng Thai Mai (1902-1984) quê ở làng Lương Điền (nay là Thanh Xuân), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I, Ủy viên Ban dự thảo Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là Bộ trưởng Bộ giáo dục trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

Đặng Thai Mai cũng là nhà nghiên cứu phê bình văn học. Ông là Hội trưởng Hội văn hóa Việt Nam, Giám đốc Trường dự bị đại học và Sư phạm cao cấp Liên khu IV, Giám đốc trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện trưởng Viện Văn học, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

10. Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Đình Hoè (xem kỳ trước)

Ông làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục từ tháng 2/9/1945 đến tháng 1/1/1946, rồi làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp từ 2/3/1946 đến 15 năm sau.

11. Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính: Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa (1907-1989)  quê ở ngoại ô thành phố Huế. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được giao nhiều chức vụ quan trọng: Giám đốc Công chính Trung bộ, Bộ trưởng Bộ Giao thông – Công chính (từ tháng 3/1946  đến tháng 9/1955), Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi và Kiến trúc, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi.

Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khóa VII, Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI, là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt – Xô trong nhiều năm.

12. Bộ trưởng Bộ Canh nông:

– Bồ Xuân Luật (2/3/1946 đến 4/1946)

Bồ Xuân Luật

Bồ Xuân Luật (1907-1994)

Bồ Xuân Luật (1907-1994) quê ở xã Ngô Quyền, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Sau khi Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến thành lập, Bồ Xuân Luật được Hồ Chủ Tịch giao cho giữ chức Bộ trưởng Bộ Canh nông, sau này là Bộ trưởng không Bộ, Ủy viên Thường vụ Quốc hội từ khóa I đến khóa IV, Ủy viên Ủy ban Trung ương và Ủy viên Ban thư ký Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (I, II, III).

– Huỳnh Thiện Lộc (từ 4/1946)

Huỳnh Thiện Lộc (1910-1952) sinh ra tại Rạch Giá, miền Tây Nam Bộ. Tháng 1/1946, là một trí thức, ông được Chính phủ Cách mạng chọn vào đoàn đại biểu Quốc hội. Tháng 4/1946, ông được Chính phủ bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Canh nông trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến và được chọn vào phái đoàn đi dự Hội nghị Fontainebleau ở Pháp. Năm 1947, ông được bổ nhiệm chức vụ Ủy viên Ủy ban kháng chiến Hành chính Nam Bộ, kiêm Phó Chủ tịch Hội Liên Việt Nam Bộ. Năm 1952, ông ngã bệnh và một thời gian sau ông qua đời.

13. Cố vấn Vĩnh Thụy

Vĩnh Thụy

Vĩnh Thụy (1913-1997)

Vĩnh Thụy (1913-1997) là tên húy của vua Bảo Đại – vị Hoàng đế thứ mười ba và cuối cùng của triều Nguyễn. Tháng 9 năm 1945, ông được Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mời ra Hà Nội nhận chức “Cố vấn tối cao Chính phủ Lâm thời Việt Nam”, ông là một trong 7 thành viên của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh đứng đầu.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đại diện đoàn cố vấn tối cao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

15. Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp (xem kỳ trước)

LỜI TUYÊN THỆ NHẬM CHỨC
CỦA CHÍNH PHỦ DO HỒ CHỦ TỊCH ĐỌC NGÀY 2-3-1946
Chúng tôi, Chính phủ Kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Tối cao cố vấn đoàn và Uỷ viên Kháng chiến hội, trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hoà Việt Nam, mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2002, t. 4, xuất bản lần thứ hai, tr. 195.

Ngọc Ánh (Tổng hợp từ chinhphu.vn/quochoi.vn/ các báo, tạp chí và website Việt Nam)
bee.net.vn

Chính phủ 1945 của Cụ Hồ bắt đầu từ đâu?

– Được thành lập trong “một cái nháy mắt của lịch sử”, chính quyền Việt Nam non trẻ đã đứng vững trong cuộc đối chọi được với quân Tàu Tưởng ở miền Bắc, quân Anh – Pháp ở miền Nam. Đó cũng là nhờ những tinh hoa nước Việt đã theo Cụ Hồ gánh vác những trọng trách trong thời điểm ngàn cân treo sợi tóc.

“Trí thức hoá” nội các

Điều hành guồng máy Đảng giành và giữ chính quyền trong thế “đơn thương độc mã” (essentially alone – chữ dùng của học giả David Marr – chưa nhận được ủng hộ từ khối Xô viết) là Ban thường vụ Trung ương bốn người, do Cụ Hồ đứng đầu. Ba uỷ viên Thường vụ còn lại là Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Võ Nguyên Giáp lại chính là nòng cốt của “nhóm Le Travail”, nổi tiếng thời kỳ Mặt trận bình dân 1936 – 1939 vì tờ báo cách mạng tiếng Pháp cùng tên.

Một số thành viên nữa của nhóm Le Travail, như Đặng Thai Mai, Khuất Duy Tiến, Phan Anh… dưới bàn tay dụng nhân của Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện trong thành phần nội các ở những thời điểm khác trong năm đầu của nền dân chủ cộng hoà này.

Đêm đầu tiên của ông Ké Tân Trào – Hồ Chí Minh ở Hà Nội 25 tháng 8, một danh sách nội các đã đợi Người trên bàn. Danh sách này đã đăng trên tờ Cứu quốc, ra ngày hôm trước. Nhưng, Cụ Hồ đã không ngại ngần “rút” khỏi đó năm lãnh tụ cộng sản, thay vào đó là các nhân sĩ nổi tiếng.  Thế là trong số 15 bộ trưởng, chỉ còn 6 người là đảng viên CSĐD.

Trường Thăng Long… “đào tạo” Bộ trưởng?

Trong ảnh chụp chính phủ ra mắt đầu tiên, dân chúng thấy có ba thầy giáo trường Thăng Long: Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hoè, Hoàng Minh Giám. Đây là những những đại diện nòng cốt của khối giáo viên và học sinh trường Thăng Long mà  tuyệt đại đa số đã đi theo cách mạng từ trước đó, thời tiền khởi nghĩa. Người dân sẽ nhận thấy thầy Nguyễn Dương làm Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam (từ tháng 2/1946); thầy Trịnh Văn Bính Thứ trưởng Bộ Tài chính (từ 11/1946), thầy Vũ Bội Liên (con tuần phủ thời) cán bộ Bộ Tư pháp, hy sinh ngay từ đầu kháng chiến chống Pháp…

Chính phủ lâm thời nước VNDCCHChính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Mái trường Thăng Long từng âm thầm chứng kiến sự ra đời và lớn mạnh của nhóm Le Travail trẻ (JC: Jeunese communiste), Đoàn thanh niên dân chủ, Đoàn thanh niên phản đế, Đoàn thanh niên cứu quốc… trong từng bước đi tới cách mạng tháng Tám. Nay nhiều cựu học sinh Thăng Long sẽ giúp tạo trụ cột của chính quyền mới, vào các ngành Nội vụ, Tư pháp, Cảnh sát, Thuế quan, quân đội… Báo Cứu quốc (15/10/46) báo tin Lý Chính Thắng bị Pháp giết dã man. Một cựu học sinh Thăng Long khác, Lê Trung Toản, chỉ huy Trung đoàn Thủ đô phòng thủ Hà Nội cuối 1946…

Tài đức “dành trợ dân này”

Một nhà đại trí thức gần gũi với nhóm trí thức Thăng Long là Nguyễn Văn Tố, Hội trưởng Hội truyền bá Quốc Ngữ, cũng được mời vào nội các. Đó là vị bộ trưởng đầu tiên, Chủ tịch quốc hội đầu tiên của Việt Nam, hy sinh trong kháng chiến.

Từ đầu năm 1946, chính phủ Cụ Hồ được bổ sung thêm các trí thức Việt Minh Nam Bộ, để Chính phủ có thể điều hành cả một nửa kia của “sơn hà nguy biến”. Những tên tuổi Ca Văn Thỉnh, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu… đã lập tức hoà vào guồng máy việc công ở Hà Nội, chống thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

…Một ngày giữa năm 1946, ông Võ Nguyên Giáp ghi vào kế hoạch công tác “(Nhớ) hỏi anh Bửu những người tài”.

Tạ Quang Bửu từng tu nghiệp ở các Đại học Sorbonne, Paris, Bordeaux, Oxford.

“Thanh niên tiền tuyến” thành tướng lĩnh cách mạng

Đồng Tổng Hướng đạo sinh Đông Dương Tạ Quang Bửu và Bộ trưởng Thanh niên của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Phan Anh lập ra trường Thanh niên tiền tuyến vào tháng 5/1945. Không hẹn mà nên, cùng lúc với Trường quân chính kháng Nhật huấn luyện cán bộ quân sự cách mạng.

Trưa 21 tháng 8/1945 hai học viên Trường Thanh niên tiền tuyến, trước mắt hàng ngàn dân Kinh đô Huế, đã hạ cờ quẻ ly của triều Nguyễn, treo cờ đỏ sao vàng lên Kỳ đài tại Ngọ Môn, như hồi chuông đầu “nguyện hồn” nền quân chủ một ngàn năm. Đó là các ông Đặng Văn Việt, ba năm sau sẽ khét tiếng là “Hùm xám trên đường số 4”, Cao Pha – một cán bộ quân báo đầu tiên, một anh hùng Điện Biên Phủ.

Những người lãnh đạo Thanh niên Tiền tuyến từ đầu đã để cho Việt Minh thâm nhập vào tổ chức của họ. Kết quả Cụ Hồ có thêm những chỉ huy quân sự đầu tiên xuất thân từ tầng lớp trên. Người dân đau đớn nghe tin con trai học giả Lê Thước, Lê Thiệu Huy – tham mưu trưởng liên quân Việt Lào đã hy sinh 26/3/46, khi tháp tùng Hoàng thân Souphanouvong. Nếu lực lượng học viên Iunker lập ra Bạch vệ, quyết liệt chống chính quyền xô viết, thì nhiều học sinh sĩ quan Trường “Thanh niên tiền tuyến” lại trở thành những tướng lĩnh cách mạng thông thái mà dày dạn trận mạc, như Cao Văn Khánh, Mai Xuân Tần, Đoàn Huyên, Phan Hạo, Tôn Thất Hoàng…

Một đồng Tổng Hướng đạo sinh nữa là nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý. Ngay sau Lễ tuyên ngôn Độc lập, ông được Hồ Chí Minh triệu tập để thành lập ra binh chủng đầu tiên của Quân đội Việt Nam – Thông tin Liên lạc. Một sĩ quan tham mưu đầu tiên, ông Trần Trọng Trung, nhớ mãi hình ảnh các đội mô tô đeo thẻ bài “Hoả tốc”, phóng xuống các vùng nông thôn xa chuyển phát các công văn mật, khẩn cấp của việc quân. Họ do một trí thức ngoài Đảng, ông Phạm Thành Vinh, lúc đó là Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng, chỉ huy.

Tướng tình báo do phương Tây đào tạo

Năm 1950, giới thiệu Hoàng Đạo Thuý, tư lệnh thông tin, với tướng Trần Canh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho vị cố vấn Trung quốc này “choáng”. “Đồng tử quân (Hướng đạo sinh) phục vụ thông tin cho chiến dịch ư?” Trần Canh hỏi lại, vì Đồng tử quân ở Trung Quốc là lực lượng phản cách mạng. “Nhà chú” (Trung Quốc) không hiểu nổi đâu. Đây là Đồng tử quân Việt Nam mà”, Cụ Hồ đáp.

Lãnh đạo chủ chốt của công an, tình báo, an ninh đầu tiên của Việt Nam là do… tình báo phương Tây đào tạo. Khoảng năm 1944 Lực lượng nhiệm SOE của Anh, có “sáng kiến” đào tạo các tù cộng sản Việt Nam, bị Pháp giam ở hải ngoại, để tung vào hậu phương phát xít Nhật. Một số đảng viên đã tương kế tựu kế, dùng vỏ bọc này để mang vũ khí, khí tài, và nhất là kiến thức tình báo về phục vụ cách mạng.

Đó là các ông Lê Giản, phó giám đốc Sở Liêm phóng (Công an) Bắc Bộ đầu tiên; Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), trong ảnh Chính phủ liên hiệp kháng chiến 1946 là thứ trưởng Nội vụ; Nguyễn Văn Ngọc, Giám đốc Sở Trinh sát Trung Bộ đầu tiên; Trần Hiệu, phó Giám đốc Sở CA Bắc Bộ, Hoàng Đình Rong (Vũ Đức), chỉ huy quân sự hy sinh ở Nam Bộ đầu kháng chiến. Đây là hiện tượng vô song trong lịch sử, vì các tình báo viên do phía đối phương đào tạo thường không thể trở thành lãnh đạo chủ chốt về an ninh, tình báo…

Cách dùng người như thế chỉ thấy ở Hồ Chí Minh.

Bộ trưởng không lương, nhận phụ cấp “cơm chan nước mắm”

Tri thức, tình yêu nước và biết “ăn cơm nhà vác ngà voi” có lẽ là những điều kiện cần để trí thức trở thành thành viên của chính quyền đầu tiên của nước Việt Nam DCCH. Hồi ký của các bậc lão thành cho biết “bữa ăn cơ quan” năm 1946 chỉ có cơm chan nước mắm, mà cũng không đủ.

Ông Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng Kinh tế đầu tiên, người Công giáo, nhớ lại trong những ngày nước sôi lửa bỏng 1946, Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh và Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp từng có những lần chạy ào qua nhà ông, xem “còn cơm nguội không”… Nhưng trong kế hoạch làm việc năm 1946 của lãnh đạo ngành Nội vụ và LLVT Võ Nguyên Giáp, đã đôi ba lần xuất hiện câu: “(Lo) phụ cấp cho nhân viên cơ quan”.

Lê Đỗ Huy
bee.net.vn

Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam DCCH qua ảnh

 – Ngày Độc lập huy hoàng 2/9/1945, Chính phủ Cách mạng Lâm thời nước Việt Nam DCCH ra mắt nhân dân Việt Nam trong sự chào đón nô nức. Nhưng sau độc lập là bộn bề công việc, và Chính phủ non trẻ ngay lập tức bắt tay vào xây dựng chính quyền, ổn định cuộc sống người dân, với các hoạt động sáng tạo và thiết thực như “Tuần lễ Vàng”, tổ chức đào tạo cán bộ Bình dân học vụ, phát động phong trào tiễu trừ giặc đói…

Bee.net.vn tổng hợp một số hình ảnh về Ngày Độc lập 2/9/1945, và các hoạt động khẩn trương của Chính phủ đầu tiên.

1. Ảnh Xe loa phát lệnh Tổng khởi nghĩa tại Hà Nội, tháng 8/1945. Lệnh phát ra đúng thời cơ, đúng với lòng người dân đang náo nức vùng lên. Ngày 19/8/1945, Hà Nội giành chính quyền đầu tiên trong cả nước, khuấy động làn sóng nổi dậy khắp toàn quốc.

2. 2/9/1945 – “Người đứng trên đài, lặng phút giây/ Trông đàn con đó, vẫy hai tay/ Cao cao vầng trán… Ngời đôi mắt/ Độc lập bây giờ mới thấy đây!” – Tố Hữu.

3. Những hình ảnh sáng ngày 2/9/1945 sẽ mãi đi vào lịch sử như một dấu son chói lọi cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc của dân tộc, là một phần quan trọng trong lịch sử của Việt Nam. Ảnh quang cảnh Lễ duyệt binh tại quảng trường Ba Đình, 2/9/1945.

4. Bản “Tuyên ngôn độc lập” được Hồ Chí Minh đọc trong ngày Quốc khánh của dân tộc. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

5. Chính phủ họp phiên đầu tiên, ngày 3/9/1945, bàn 6 vấn đề cấp bách: chống đói; xóa mù chữ; Tổng tuyển cử và Hiến pháp; giáo dục cần – kiệm – liêm – chính; bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo.

6. Chính phủ Việt Nam lâm thời sau phiên họp Chính phủ đầu tiên, ngày 3/9/1945.

7. Đề ra chương trình Tuần lễ Vàng 17-24/9/1945, Chính phủ đã huy động được sự ủng hộ lớn của nhân dân, nhân dân đã góp tổng cộng quyên góp được 20 triệu đồng và 370 kg vàng. Trước đó, sau khi giành chính quyền, quốc khố chỉ có 1,2 triệu đồng. Trong ảnh là những người giàu có xếp hàng trên phố Tràng Tiền đến nơi quyên góp, 16/9/1945

8. Ngày 27/9/1945 diễn ra Đại hội Thanh niên Cứu quốc. Các nhiệm vụ được đặt ra cho thanh niên là: Chuẩn bị luôn luôn: một mặt ủng hộ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, một mặt chuẩn bị chiến đấu ở Trung và Bắc Bộ; Cứu đói: mang gạo từ chỗ có đến chỗ không có; Quyên gạo, khuyến nông, không để thừa một tấc đất hoang nào; Chuẩn bị Tổng tuyển cử: tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ bổn phận của mình trong cuộc Tổng tuyển cử.

9. Hồ Chủ tịch đang trao đổi với những người tham dự khai mạc “Triển lãm Văn hóa”  tổ chức tại trụ sở cũ của hội Khai trí Tiến Đức (16 Lê Thái Tổ, Hà Nội) ngày 7/10/1945. Bộ Thông tin Tuyên truyền của Nhà nước Việt Nam trẻ tuổi đứng ra tổ chức, Hội Văn hóa Cứu quốc với những văn nghệ sĩ tên tuổi chủ trì. Triển lãm đã giới thiệu những hình ảnh, hiện vật về cuộc cách mạng nước ta, các bản nhạc, sách báo cách mạng; tranh, tượng mỹ thuật của các họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ đó.

10. Lễ khai giảng lớp đầu tiên đào tạo cán bộ phụ trách Bình dân học vụ các tỉnh Bắc Bộ tổ chức tại Hà Nội, ngày 8/10/1945. Tại buổi lễ, Hồ Chí Minh nói: “Chống nạn thất học cũng quan trọng như chống ngoại xâm”.

11. Ngày tiễu trừ giặc đói xuất phát từ Nhà hát lớn Hà Nội,11/10/1945. “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo” – Hồ Chí Minh.

12. Lễ xuất phát Đội tuyên truyền xung phong tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 20-10-1945. Đội tuyên truyền được Hồ Chủ tịch căn dặn là cần hiểu mục đích công việc và lên kế hoạch trước, nhẫn nại, không quan cách, nói năng giản dị.

13. Chính phủ gấp rút tổ chức chuẩn bị Tổng tuyển cử trong cả nước, ngày 6/1/1946, lần đầu tiên người dân Việt Nam được cầm lá phiếu để bầu ra những vị lãnh đạo của đất nước. Ảnh nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội tại Hà Nội.

Duyên Anh – Diệu Thủy (Tổng hợp)
bee.net.vn

Vị Bộ trưởng từng thay mặt Cụ Hồ điều hành việc nước

– “Con người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”- đó là lời đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng cố Bộ trưởng Nội vụ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Công hoà và Chủ tịch Hôị Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, được viết trong thư đề ngày 29/4/1947 “Gửi toàn thể đồng bào sau ngày cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng tạ thế”.

Cũng trong lá thư này, Bác Hồ còn giành những lời lẽ hết sức trân trọng để đưa ra trước toàn thể đồng bào một tấm gương sáng : “vì lòng yêu nước mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội, đầy ra Côn Đảo. Mười nấy năm trường gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết”.

Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.

Đến ngày nước Việt Nam Dân chủ Công hoà thành lập, Chính phủ ta mời cụ ra. Tuy đã hơn 71 tuổi nhưng cụ vẫn hăng hái nhận lời. Cụ nói: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, gái, trai, ai cũng phải ra phụng sự Tổ quốc”.

Kết thúc bức thư này, Chủ tịch Hồ Chi Minh còn kêu gọi đồng bào “đồng thanh thề trước tiên linh của cụ  Huỳnh rằng: Đồng bào Việt Nam cương quyết theo gương kiên quyết của cụ, tinh thần kháng chiến của cụ Huỳnh sống mãi…”

Làm Bộ trưởng tuổi “cổ lai hy”

Vậy mà, cụ Huỳnh mới thực sự cộng tác với cách mạng mới hơn một năm. Mùa Xuân 1946, đất nước đã độc lập, chính phủ cách mạng đã thành lập, nạn đói đã tạm được khắc phục nhưng cách mạng đang đứng trước vô vàn thử thách. Thực dân Pháp đã  nổ súng xâm lược và đang mở rộng chiến tranh ở Nam Bộ, thực dân Pháp đang gây sức ép tạo cớ để gây hấn ở Bắc và Trung bộ. Quân đội Tưởng Giới Thạch kéo theo những tổ chức tay sai đang tạo ảnh hưởng để giành đoạt quyền lực, thủ tiêu những thành quả cách mạng…

Hơn lúc nào hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phải củng cố sức mạnh của cách mạng và chính quyền cách mạng bằng việc mở rộng hơn nữa khối đoàn kết của toàn dân. Vì lợi ích của Tổ quốc và sự tồn vong của chế độ, vị Chủ tịch nước đồng thời cũng là người lãnh đạo cao nhất của Đảng cộng sản và Mặt trận Việt Minh đã đưa ra những quyết sách sáng suốt và dũng cảm.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (chống gậy). Ảnh Pháp luật TP.HCMCụ Huỳnh Thúc Kháng (chống gậy). Ảnh Pháp luật TP.HCM

Tháng 11/1945, Đảng Công sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán” mà thực chất là rút vào hoạt động không công khai; cuộc Tổng tuyển cử đã bầu ra Quốc hội  khoá đầu tiên nhưng giành riêng 72 ghế để những đảng phái “đối lập” đuợc tham gia không cần qua bầu cử;  bằng các giải pháp ngoại giao táo bạo để phân hoá các thế lực nước ngoài đang có mặt ở nước ta, chủ yếu là thực dân Pháp và quân phiệt Trung Hoa; tiến tới cải tổ và mở rộng Mặt trận Việt Minh thành Mặt trân Liên Hiệp Quốc dân…

Chính vào bối cảnh ấy, cụ Huiỳnh Thúc Kháng xuất hiện trên chính trường khi đã bước vào tuổi “cổ lai hy”. Quả thật, vào thời điểm ấy ít ai nghĩ rằng nhà chí sĩ đất Quảng, họ Huỳnh lừng danh một thời có thể tham chính và cộng tác với một chính quyền cách mạng mà ai cũng biết rằng hạt nhân lãnh đạo lại là những người cộng sản. Bởi lẽ, mọi nguời đều biết tới cụ Huỳnh thời trai trẻ đã là một trong những vị khoa bảng (đỗ phó bảng cùng khoa với cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh) sớm có tư tưởng canh tân và yêu nước.

Năm 1904, vừa đỗ phó bảng, Huỳnh Thúc Kháng đã từ bỏ quan trường theo 2 người đồng chí hướng nổi tiếng của mình là Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp vào tận Cam Ranh để quan sát đoàn tàu chiến của hạm đội Nga ghé qua trên đường sang tham chiến cuộc chiên tranh với nước Nhật. Chính vào thời điểm này, ba nhà nho xứ Quảng đã tuyên ngôn chí hướng :”Hỡi người trí thức kia ơi – Quăng mũ đi, vứt bút đứng lên- Đừng cam chịu tiếng ươn hèn- HơI tàn còn thở chớ quên phục thù” (Lương ngọc danh sơn phú).

Kể từ đó, cả ba bước vào con đường hoạt động chính trị mưu cầu sự giải phóng cho dân tộc. Sau cao trào Duy Tân và kháng thuế ở mền Trung, cả ba đều bị thực dân và Nam triều đàn áp. Trần Quý Cáp lên đoạn đầu đài, Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng đều bị đầy ra Côn Đảo. Kể từ đó hai người đồng chí chọn cho mình những con đường khác nhau nhưng cùng một đích là cứu nước. Và trên con đường của mình cả hai đều gặp một người. Người đó là Nguyễn Ái Quốc lại cũng chính là con của người môn sinh cùng đỗ phó bảng là Nguyễn sinh Sắc.

Năm 1911, Phan Châu Trinh qua Pháp rồi sau đó có một thời gian gần gũi với Nguyễn Ái Quốc để cuối đời gửi gấm tiền đồ đất nước vào người bạn trẻ vong niên :”Anh như cây đương lộc, tôi tin rằng cái chủ nghĩa anh tôn thờ sau này sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tính chí sĩ nước ta”  (Thư gửi Nguyễn Ái Quốc 1922).

Còn với Huỳnh Thúc Kháng, sau 13 năm lưu đầy, từ Côn Đảo trở về đất liền (1921), cụ chọn cho mình hoạt động chính trường công khai. Cụ tham gia Viện Dân biểu Trung kỳ, ra tờ báo “Tiếng Dân” với hy vọng có thể đòi hỏi cho người dân những quyền tự do trong khuôn khổ của chế độ thuộc địa. Những cố gắng của cụ có thể mang lại một vài cải cách nhỏ giọt của giới cầm quyền thực dân  nhưng tình cảnh “vạn dân nô lệ cường quyền hạ” vẫn còn nguyên.

Lại phải nói thêm rằng, cao trào cách mạng do Đảng cộng sản mới ra đời phát động vào năm 1930-1931, sôi nổi nhất cũng trên mảnh đất miền Trung vẫn không kéo nổi cụ Huỳnh ra khỏi con đường  vận động cải cách,  và tránh bạo lực của cụ Huỳnh. Cũng chính trong thời gian này, do hạn chế về nhận thức, cụ Huỳnh còn viết nhiều bài báo phản bác phương pháp đấu tranh của những người cộng sản. Trong một số văn kiện của  Đảng Cộng sản đương thời đã từng phê phán đuờng lối của Huỳnh Thúc Kháng là có hại cho cách mạng…

Vậy mà, khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh với niềm tin vào tinh thần yêu nước là động lực mạnh mẽ nhất của dân tộc luôn mở rộng khối đoàn kêt để thu hút mọi lực lượng vào hàng ngũ cách mạng. Vì vậy, vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập không quên cử người vào tận miền Trung vời cụ Huỳnh ra làm việc nước. Cụ Huỳnh ý thức được niềm hạnh phúc hơn những người đồng chí đã khuất như Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh  hay Phan Bội Châu vì đã được chứng kiến ngày đất nước độc lập. Cụ Huỳnh đã cảm khái viết: “Sướng ơi là sướng, thoát thân nô mà làm chủ nhân ông – Vui thật là vui, đổi quyền vua mà làm dân quốc mới” . Nhưng cụ vẫn tự cho mình là  lớp người đã lỗi thời  mà xa lánh chính trường.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Bộ trưỏng Nội vụ đầu tiên của Nhà nuớc Cách mạng đã thuật lại trong hồi ký của mình cái bước ngoặt đẹp đẽ trong cuộc đời của một con người gắn với một thời thời kỳ thử thách của cách mạng :

“Tôi được biết cụ Huỳnh từ hồi còn làm báo “Tiếng Dân” ở Huế. Cụ là một nhà nho có tinh thần yêu nước cao, có khí tiết nhưng chưa hoàn toàn tin tưởng ở đuờng lối cách mạng của Đảng ta. Khi chúng ta cử người tới mời, lúc đầu cụ tỏ ra ngần ngại. Một phần, vì cụ thấy tuổi đã quá cao. Một phần vì cụ chưa hiểu những người lãnh đạo mới “thuộc lớp trẻ” ra sao. Đến lúc nghe nói rõ Hồ Chủ tịch chính là đồng chí Nguyến Ái Quốc, cụ mới quyết định ra Hà Nội… Giây phút gặp gỡ đầu tiên giữa Bác và cụ Huỳnh thật cảm động. Hai người đều bước vội tới, ôm lấy nhau; cả Bác và cụ Huỳnh đã nhắc tới cụ phó bảng ngày xưa… Sau buổi gặp Bác, cụ Huỳnh đã nói với một người bạn :”Dân ta có được cụ Hồ quả là hồng phúc”…”(2)

Và trong ngày ra mắt Chính phủ Liên hiệp 2/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng “một người đạo đức danh vọng mà quốc dân ai cũng biết” làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, một vị trí rất quan trọng trong Chính phủ  Liên hiệp Kháng chiến.

Thay mặt Hồ Chủ tịch giải quyết việc nước

Ở vào cương vị ấy, Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng đã làm hết mình phụng sự cho đất nước. Đầu tháng 6/1946, khi lên đường sang Pháp trong một sư mệnh ngoại giao đầy gian khổ và bất trắc, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã gửi gấm việc nước cho cuả Huỳnh mà sau 4 tháng trở về đã đánh giá :”Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ  Huỳnh, quyền Chủ tịch, sự săn sóc của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hiệp lực của quốc dân mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ”.

Một trong những “việc khó khăn” đã được giải quyết trong thời điểm này chính là việc thẳng tay trừng trị các phần tử phản động trong các tổ chức đối lập quanh vụ án “Ôn Như Hầu”.

Về vụ việc này, hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại rằng sau khi các lực lượng an ninh cách mạng phát hiện và trừng trị những kẻ bắt cóc, tống tiền… các tổ chức đối lập lên khiếu nại chính phủ. Bộ trưởng Nội vụ đang đảm nhận quyền Chủ tịch nước đã hoàn toàn ủng hộ các hành động cứng rắn của chính phủ và tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 16/7/1946 :”Đoàn kết là cần để xây dựng nền dân chủ cộng hoà, nhưng không thể vin vào “đoàn kêt” mà làm những điều phi pháp. Tôi khuyên mọi đảng phái, mọi phần tử quốc dân đoàn kết. Nhưng cũng vì quyền lợi quốc gia, tôi phải đem ra trừng trị trước pháp luật những kẻ làm điều phi pháp…”.

Tháng 11/1946, Chính phủ lại cải tổ để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến đã đến gần trước âm mưu khởi hấn của thực dân. Một lần nữa vị  Bác Hồ lại nêu tấm gương sáng :”Kết quả có những vị có tài năng nhận lời mời tham gia chính phủ như cụ Huỳnh Thúc Kháng vì tuổi cao sưc yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy đại nghĩa mà lưu cụ, cụ cũng gắng ở lại… ai nấy đều hứa cố gắng làm việc một lòng vì nước vì dân”

Và Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã cống hiến cho Tổ quốc đến hơi thở cuối cùng.

Tháng 4 tin buồn đến

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946), với cương vị Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân cụ viết thư kêu gọi  toàn dân :”Hãy tin tưởng vào cụ Hồ Chí Minh, bậc yêu nước đại chí sĩ, kết chặt chẽ một khối quyêt sống mái với kẻ thù”…

Trên đường thay mặt Chính phủ đi kiểm tra tình hình kháng chiến ở miền Trung, đến Quảng Ngãi, cụ lâm bệnh, biết mệnh của mình khó qua khỏi, Huỳnh Thúc Kháng viết lời “vĩnh qụyết” :”kêu gọi anh em các đảng phái, tôn giáo hãy đặt hết lòng tin tưởng vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng xuất chúng, vị anh hùng của dân tộc”như trong lá thư gửi Chủ tịchHồ Chí Minh cụ đã bộc bạch:

“Bốn mươi năm ôm ấp Độc lập và Dân chủ, nay nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả”.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng từ trần ngày 21/4/1947 tại Quảng Ngãi. Nỗi thương cảm của nhân dân được Bác Hồ bày tỏ trong bài thơ điếu thống thiết, có đoạn:

“… Tháng Tư tin buồn đến – Huỳnh Bộ truởng đi đâu – Trông vào Bộ Nội vụ – Tài đức tiếc thương nhau – Đồng bào ba chục triệu – Đau đớn lệ rơi châu”.

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

Thư Phan Bội Châu gửi Nguyễn Ái Quốc

 Ngày 22/2/1925, cụ Phan Bội Châu viết thư nhờ Hồ Tùng Mậu chuyển cho Lý Thuỵ (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) lúc này đang hoạt động ở Trung Quốc.

Phan Bội Châu, bút hiệu Sào Nam là người đồng hương (Nam Đàn, Nghệ An) và là bạn đồng niên với Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Bác.

Vào đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã trở thành 2 ngọn cờ tiêu biểu cho phong trào yêu nước ở nước ta. Sau nhiều hoạt động yêu nước không thành Phan Bội Châu cũng sang Quảng Đông để tìm gặp những người Việt Nam đang hoạt động tại đây.

Tháng 2/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của ĐảngTháng 2/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng

Bức thư đề ngày “21 tháng 1âm lịch” (tức 22/2/1925) viết bằng chữ Hán, hiện được lưu trữ ở Aix-en-Provence (Pháp) và được nhà nghiên cứu Vĩnh Sính phát hiện và dịch cho thấy những tình cảm và đánh giá của Phan Bội Châu đối với người con trai của bạn mình nay đã trở thành một nhà cách mạng đã nổi tiếng lúc này vừa hoạt động trong phái đoàn cố vấn của Chính phủ Xô viết bên cạnh Chính phủ Quảng Châu của Tôn Trung Sơn lại đang xúc tiến việc thành lập tổ chức cách mạng Việt Nam, tiền thân của Đảng Cộng sản sau này là Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí.

Bức thư cho biết, trước đó cụ Phan đã nhận đuợc thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho cụ, vì thế trong thư lá thư này, nhà ái quốc lão thành đã thành tâm đưa ra những lời đánh giá khích lệ: “Người cháu rất kính yêu của bác…(đọc thư của cháu) mới biết là học vấn, trí thức của cháu nay đã tăng trưởng quá nhiều, không phải như hai mươi năm trước.

Nhớ lại hai mươi năm trước đây, khi đến nhà cháu uống rượu, gõ án ngâm thơ, anh em cháu tất thảy đều chưa thành niên, lúc đó Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này…

Nhận được liên tiếp hai bức thư của cháu bác vừa buồn lại vừa mừng. Buồn là buồn cho thân bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh ban mai…

Một đời tân khổ, gánh vác công chuyện một mình, được sức lớn của cháu giúp vào thì ắt sẽ có nhiều người hưởng ứng theo. Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai dễ nhờ uỷ thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có được niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao bác không cảm thấy vui mừng được. Cháu học vấn rộng rãi đã từng đi nhiều nơi hơn bác cả chục cả trăm lần. Tri thức và kế hoạch của cháu tất vượt sức đo lường của bác…”

Cuối thư Phan Bội Châu cũng thẳng thắn và chân thành mong Nguyễn Ái Quốc có kế hoạch mở rộng phong trào trong nước “vì nếu không có kế hoạch thì bất quá chỉ làm khách tha hương than thở không đâu cho hồn cố quốc, chả giống ông Hy Mã (tức Phan Chu Trinh) thì cũng chỉ giống Phan Bội Châu mà thôi!”.

Còn trong bức thư gửi Hồ Tùng Mậu cùng vào thời gian này, cụ Phan lại bày tỏ sự “cực lực tán thành” việc thành lập tổ chức Hội Thanh niên mà Nguyễn Ái Quốc lúc này đang tích cực vận động. Mặc dầu kể từ đó cho đến lúc bị thực dân Pháp bắt ở Trung Quốc, đưa ra toà xử án, rồi bị an trí tại Huế cho đến lúc qua đời, Phan Bội Châu chưa có dịp gặp lại Nguyễn Ái Quốc nhưng những di ngôn của cụ cho các đồng chí của mình vẫn hoàn toàn tin rằng : Nguyễn Ái Quốc sẽ là người “gây dựng lại giang sơn”.

Còn sau đó không lâu, trong một bài viết về Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc đã dành những lời tôn vinh: “Phan Bội Châu, bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng”.

X&N
bee.net.vn

Những bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân các ngày kỷ niệm thành lập Đảng ta

(TCTG) – Nhân kỷ niệm thành lập Đảng những năm 1949, 1960, 1963, 1964, 1965 Người đã có 7 bài viết và nói. Đáng kể còn có Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, và một số bài khác đề cập đến việc thành lập Đảng. Trong đó phản ánh những quan điểm, tư tưởng quan trọng cần tìm hiểu.

 1. Về sự ra đời của Đảng:

Người phác hoạ hoàn cảnh xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp; sự cấu kết của giai cấp phong kiến với đế quốc để tiếp tục nô dịch nhân dân, sự trưởng thành của giai cấp công nhân, phong trào đấu tranh của quần chúng không ngừng phát triển đều bị thất bại. Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra. Vấn đề được nhấn mạnh là cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và Quốc tế Cộng sản được thành lập. Nhờ đó chủ nghĩa Mác – Lênin và ảnh hưởng của cách mạng Tháng Mười đã chọc thủng lưới sắt của thực dân Pháp để vào Việt Nam bằng hai nhân tố. Một là, người cộng sản Đông Dương đầu tiên tham gia Đảng Cộng sản Pháp trực tiếp thực hiện – đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hai là, lúc đầu nhờ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Pháp. Từ vấn đề dân tộc và vấn đề thời đại đó Người đi đến khẳng định:

“ Ngọn đuốc Mác – Lênin và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[1].

Các sự kiện thành lập Đảng được lần lượt nhắc đến những nét chủ yếu: Năm 1925 Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên được thành lập ở Quảng Châu. Năm 1929 Đại hội được tổ chức ở Hương Cảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi vắng, Đại biểu Bắc kỳ đề nghị tổ chức Đảng Cộng sản, bị gạt đi nên bỏ hội nghị ra về. Sau đó ba nhóm cộng sản dần dần được thành lập. Cả ba nhóm ngầm hiểu một nước mà có ba Đảng Cộng sản là sai. Cả ba đều tìm cách thống nhất, nhưng do bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo nên càng muốn gần nhau lại càng xa nhau. Họ sử dụng nhiều nghị lực và thời gian để đấu tranh nội bộ và bè phái. Từ Xiêm về Trung Quốc, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, có đủ quyền quyết định mọi vấn đề của cách mạng Đông Dương, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập đại biểu 2 nhóm cộng sản là: Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đến Hương Cảng để họp, ngày 6-1-1930. Các đại biểu giả đi xem đá bóng, ngồi ở sân cỏ để bàn bạc. Sau những ý kiến sôi nổi và lời giải thích của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, các đại biểu đã đồng ý thống nhất ba nhóm thành một đảng. Đảng được thành lập. Báo cáo lên Quốc tế Cộng sản Người viết: Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên là quả trứng, từ đó nở ra con chim non cộng sản.

Những vấn đề nói trên cho thấy:

– Người sớm kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề thời đại, khai thác những nhân tố cơ bản của thời đại cho cách mạng Việt Nam, mặc dầu thời đại mới chỉ mở đầu chưa lâu, còn nhiều trở ngại.

– Hội nghị hợp nhất gồm đại biểu 2 tổ chức cộng sản nhưng đã bàn thống nhất cả 3 nhóm, đã có quá trình hiểu nhau, nên chỉ sau thời gian ngắn, ngày 24-2-1930, Trung ương lâm thời đã chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Nguyễn Ái Quốc đã chọn đúng thời gian, đúng địa điểm để tổ chức Hội nghị an toàn, ngăn chặn tình trạng các nhóm cộng sản “ngày càng xa nhau ra”, không đợi chỉ đạo của quốc tế cộng sản, cũng không tổ chức Hội nghị trong nước như Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã thành lập, cũng không ở nước nào khác, nơi nào khác ngoài Hương Cảng.

2. Tố chất của Đảng khi mới thành lập và ý nghĩa lịch sử của nó.

Theo Người, Đảng ta có những tố chất cách mạng và khoa học ngay khi mới thành lập:

– Đó là Đảng Mác – Lênin chân chính của những người yêu nước Việt Nam. Người cho biết, sau cách mạng Tháng Mười Nga những người Việt Nam yêu nước đã hấp thụ lý luận vĩ đại của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin được Người nhấn mạnh nhất, nhắc đến nhiều nhất và được coi trọng nhất. Người viết: “ngọn đuốc Mác – Lênin”, chủ nghĩa Mác – Lênin tất thắng”, “vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin” và tự hào xưng danh: “Đảng Mác – Lênin của chúng tôi” với người nước bạn…

– Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, là bộ tham mưu của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng đại diện cho lợi ích của dân tộc và giai cấp, đảng viên đều hy sinh tận tuỵ không bờ bến để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.

– Từ ngày mới ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng với đường lối chính sách đúng đắn, màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong. Đó là nhờ Đảng vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin và đi đúng đường lối quần chúng.

– Đảng đoàn kết nhất trí, được tổ chức tốt nhất và hoạt động mạnh mẽ nhất trong tất cả các lực lượng bấy giờ ở nước ta, nên vai trò lãnh đạo hoàn toàn vào tay giai cấp vô sản. Đảng đưa nhân dân ta vượt qua mọi gian khổ khó khăn để đi đến thắng lợi.

– Dù còn non trẻ, nhỏ bé nhưng Đảng ta là con nòi; vì xuất thân từ giai cấp lao động, trong đại gia đình vô sản quốc tế rực rỡ dưới ngọn cờ Mác – Lênin, có những người anh em vĩ đại như Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Pháp và các Đảng anh em khác. Vì thế Đảng kết tinh được sức mạnh tổng hợp của giống nòi ngay từ khi ra đời.

Những tố chất trên được Người đúc kết thành thơ:

“Đảng ta là đạo đức là văn minh

Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no”[2]

Những tố chất ấy cho thấy ý nghĩa to lớn về sự ra đời của Đảng. Người nêu rõ:

1. “Chu nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”[3]

2. “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”[4].

3. Đảng ta vững mạnh ngay từ khi mới thành lập. Vì nó là tất yếu của nhân tố dân tộc và nhân tố thời đại kết hợp chặt chẽ là kết quả kết hợp chủ nghĩa yêu nước và Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Những vấn đề nêu trên cho thấy:

Thành lập Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa khó khăn hơn nhiều so với ở các nước tư bản. Tạo thành Đảng Mác – Lênin chân chính và vững mạnh ngay từ đầu lại còn khó khăn hơn nữa. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời như thế. Đó là công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chí Minh, đồng thời bản chất cách mạng vốn có của dân tộc Việt Nam được “trưng bày” rõ rệt.

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta. Đây là thắng lợi của cuộc cách mạng tư tưởng lớn, lại là thắng lợi kép: thắng lợi của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thắng lợi này còn được thể hiện bằng một tổ chức cách mạng chiếm ưu thế ngay trong phong trào cứu nước của dân tộc. Những điều đó chưa hề có trong lịch sử tư tưởng Việt Nam…

3. Nhiệm vụ cơ bản sau khi ra đời.

Sau khi thành lập Đảng liền lãnh đạo giai cấp vô sản và nhân dân ta tiến hành cách mạng. Trước hết là cuộc khởi nghĩa ở Nghệ Tĩnh. 15 tuổi lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công, 17 tuổi lãnh đạo kháng chiến và 24 tuổi kháng chiến thắng lợi. Hoà bình lập lại Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềm Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.

Người khẳng định rằng cách mạng tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác do 3 nguyên nhân:

Đó là Đảng xứng đáng với danh hiệu của mình trong lãnh đạo nhân dân đấu tranh.

Có lực lượng quần chúng phấn đấu, hy sinh và phát huy trí thông minh sáng tạo, nhất là công nhân, nông dân và trí thức.

Được sự đồng tình và ủng hộ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới nhất là nhân dân các nước XHCN anh em.

Năm 1960, Người đã nêu 4 kinh nghiệm lịch sử đấu tranh của Đảng:

Một là, Đảng luôn luôn đứng vững lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, biết vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin để đề ra đường lối, chính sách đúng đắn. Đảng không ngừng đấu tranh chống các khuynh hướng sai lầm trong xã hội và trong Đảng. Nhờ đó Đảng nắm được quyền lãnh đạo trên cả nước và trên mọi lĩnh vực.

Hai là, Chủ nghĩa Mác – Lênin giúp Đảng ta thấy rõ rằng trong một nước nông nghiệp lạc hậu thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân. Đảng ta đã giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân nên củng cố được liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhờ đó cách mạng tiến mạnh không ngừng.

Ba là, Đảng ta khéo tập hợp mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Để đoàn kết dân tộc cần đấu tranh chống hai khuynh hướng: cô độc hẹp hòi và đoàn kết một chiều, nhờ đó vai trò lãnh đạo của Đảng trong Mặt trận dân tộc thống nhất mới được bảo đảm, nền tảng công nông của Mặt trận mới được vững chắc, tính chất rộng rãi của Mặt trận mới được phát huy đầy đủ.

Bốn là, chính vì biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức mà Đảng ta đã vượt qua mọi khó khăn, đưa cách mạng nước ta đến thắng lợi.

Từ những vấn đề đó Người không ngần ngại khi viết:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng, Đảng ta thật vĩ đại”[5].

Bàn đến nhiệm vụ đang thực hiện, Người nhắc nhủ chúng ta phải nhớ công ơn Đảng. Tâm niệm về điều đó, Người đã 4 lần làm thơ nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng (30 năm, 33 năm, 34 năm, 35 năm):

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng như núi cao,

Ba mươi năm phấn đấu biết bao nhiêu tình.

Đảng ta là đạo đức, là văn minh,

Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no.

Công ơn Đảng thật là to,

Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng”[6]

Người căn dặn phải nhớ ơn các liệt sỹ đã hy sinh cho Tổ quốc, cho Đảng; không được chủ quan dù thắng lợi đã to lớn, vì bên cạnh thắng lợi Đảng cũng có khuyết điểm, cách mạng cũng còn nhiều khó khăn phức tạp. Thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều. Vì vậy phải xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, đảng viên phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ và đạo đức, phải nghiêm khắc phê bình và thật thà sửa chữa khuyết điểm.

4. Mấy vấn đề thu hoạch.

– Những bài viết đã nêu thể hiện quan điểm: “nhìn lại những đoạn đường dài đã qua, rút ra những kinh nghiệm quí báu và ấn định đúng đắn những nhiệm vụ cách mạng hiện nay và sắp tới để giành lấy những thắng lợi to lớn hơn nữa, vẻ vang hơn nữa”[7]. Đó là một nhân tố quan trọng giúp Đảng rút ngắn thời gian, tiết kiệm công sức, nâng cao hiệu quả trong các công việc lãnh đạo của mình. Người cho thấy lịch sử là chuyện đã qua nhưng hình ảnh của nó luôn luôn sống cùng hiện tại và tương lai của dân tộc. Không mấy ai coi nhẹ lịch sử nhưng cũng không mấy ai học được và vận dụng tốt kinh nghiệm lịch sử. Nhận thức đúng lịch sử đã khó vận dụng thành công bài học lịch sử càng khó hơn. Vì vậy Người muốn giáo dục chúng ta điều đó nhân những ngày kỷ niệm quan trọng của lịch sử.

– Kỷ niệm ngày thành lập Đảng là cơ hội để nâng cao nhận thức tư tưởng, lý luận cho cán bộ, đảng viên. Chủ ý của Người là làm rõ những nguyên nhân thắng lợi và kinh nghiệm cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng nhằm nâng cao trình độ lý luận và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên. Sự lãnh đạo của Đảng phải bao trùm cả nước và phải gần gũi tận trong lòng mỗi người dân. Đảng phải lo tính việc lớn như biến đổi nền kinh tế và văn hoá lạc hậu thành tiên tiến đồng thời lo cả những việc nhỏ như tương cà mắm muối cho đời sống hàng ngày của dân. Đó cũng là lý luận tổng quát về vai trò và trách nhiệm của Đảng trong cách mạng XHCN bằng nêu công việc cụ thể. Nội dung và phương pháp rèn luyện của đảng viên cũng được Người quan tâm đặc biệt.

Nhìn chung, điều đọng lại trong mỗi cán bộ, đảng viên sau khi đọc những bài viết kể trên là nâng cao lòng tự hào về Đảng, về dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm bản thân và thúc đẩy năng lực tư duy về con đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

– Lịch sử Đảng ta được Người đánh giá “là cả một pho lịch sử bằng vàng”. Người đã xác định rõ những sự kiện cốt yếu và bản chất của việc thành lập Đảng. Tư tưởng và lý luận đúc kết từ lịch sử ấy có giá trị rộng lớn và trở thành kinh điển của khoa học lịch sử Đảng. Các công trình khoa học lịch sử về thời ký này của giới sử học đã làm phong phú nhiều sự kiện và hiệu quả tư tưởng của nó đều phải dựa trên cơ sở đó.

Những vấn đề Người nói và viết về sự ra đời của Đảng không chỉ với tư cách một nhân chứng lịch sử hiếm hoi mà còn với tư cách một nhà cách mạng kiệt xuất đã trực tiếp quyết định bước ngoặt lịch sử vô cùng quan trọng ấy nên không ai có thể vượt qua, càng không thể xuyên tạc được.


[1] Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ hai ,CTQG. 1996, Tập 9, Tr.314.
[2] Bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng. Hồ Chí Minh toàn tập xuất bản lấn thứ hai. CTQG. 1996, tập 10, tr.5
[3] Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Sđd, tr.8
[4] Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Sđd, tr.8
[5] Ba mươi năm hoạt động của Đảng Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ hai, CTQG. 1996, T.10, tr.2
[6] Sđd, tr.5
[7] Sđd, tr.7

PGS. Lê Thế Lạng

tuyengiao.vn

Vùng than ấm tình Bác…

Trong những năm 60, ngành than có vị trí đặc biệt quan trọng. Lúc đó, về năng lượng, nước ta chỉ có than, ngoài ra không còn nguồn năng lượng nào khác và xuất khẩu, than cũng là nguồn hàng chủ lực. Chính vì ngành than có vị trí quan trọng như vậy nên Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm và riêng Bác Hồ cũng dành cho Quảng Ninh, cho ngành than những tình cảm đặc biệt.

Năm 1946, Bác Hồ – với cương vị là người đứng đầu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – gặp đại diện của Chính phủ Pháp trên một chiến hạm của Pháp ở Vịnh Hạ Long.

Từ trên chiến hạm này, ngắm nhìn phong cảnh thơ mộng trên Vịnh, lòng đầy cảm hứng, Người nói: “Vùng mỏ nước ta thật đẹp và giàu, thợ mỏ của chúng ta thật vô cùng anh dũng”. Kháng chiến bùng nổ, hướng về vùng mỏ, Người viết thư khích lệ nhân dân nơi đây tích cực phá hoại kinh tế của địch. Hòa bình lập lại trên miền Bắc, một năm sau, Bác viết thư thăm hỏi và động viên nhân dân, công nhân Quảng Ninh. Vùng mỏ luôn chiếm một vị trí quan trọng trong trái tim Người.

ứyeyNgày 30 tháng 3 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cơ sở sản xuất vận chuyển than ở vùng mỏ Quảng Ninh.

Cuối những năm 50, mỏ Cẩm Phả đang thời kỳ khôi phục, chưa phân thành các mỏ như bây giờ. Bác Hồ đến thăm vùng mỏ ngày 30/3/1959, không quản bụi bặm, Bác leo lên tận tầng 10 công trường khai thác cơ khí mỏ Đèo Nai.

Đến từng cỗ xe goòng, Bác căn dặn công nhân: “Ngày nay khu mỏ là của nhân dân nói chung và của công nhân nói riêng. Công nhân là giai cấp lãnh đạo, là chủ khu mỏ thì phải làm sao cho xứng đáng. Để xe máy hỏng, lười biếng, lãng phí đều không xứng đáng với vai trò làm chủ. Muốn làm những người chủ xứng đáng thì phải thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.Bây giờ chúng ta làm cho mình, cho nhân dân và cho con cháu chúng ta nữa”.

Bác còn đến thăm nhà ăn tập thể phục vụ công nhân ở công trường than trụ mỏ Đèo Nai. Người ân cần hỏi chị em phục vụ, xem từng suất ăn của những người thợ mỏ và rất hài lòng về sự phục vụ ở đây. Trong cuộc mít tinh của đồng bào, Bác đã biểu dương nhà ăn tập thể của công trường than trụ Đèo Nai tuy nhà lá đơn sơ nhưng phục vụ tốt, phê bình khu nhà ba tầng Cẩm Phả đồ sộ nhưng bẩn thỉu mất vệ sinh.

Tết năm 1965, Bác lại dành cho Quảng Ninh một vinh dự đặc biệt: Người về ăn Tết với vùng mỏ. Quảng Ninh hiện còn lưu giữ một bức ảnh quý, chụp tại Trường cấp III Hòn Gai  – nơi lãnh đạo, nhân dân Quảng Ninh tổ chức đón Người: Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, thay mặt nhân dân và công nhân vùng mỏ, biếu Bác “Hòn than đầu tiên của kế hoạch khai thác năm 1965 vì miền Nam ruột thịt”.

Tết đó, Quảng Ninh rộn ràng, ấm áp hẳn lên. Gần Tết, tin Bác về ăn Tết tuy được giữ bí mật nhưng vẫn bị lộ ra ngoài. Tỉnh ủy có thông báo, Tết này phải có thành tích đặc biệt để báo cáo với Đảng, Chính phủ và Bác Hồ. Các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất đều xem lại kế hoạch. Mọi người đoán già đoán non thế mà cũng đúng, chỉ có địa điểm đón Bác cụ thể ở chỗ nào thì bí mật đến cùng.

Việc tổ chức đón Bác được các tổ chức, đoàn thể, các cơ sở sản xuất chuẩn bị chu đáo, nhất là việc cử cán bộ công nhân viên tham gia đoàn đi dự mít tinh đón Bác phải lựa chọn kỹ từng người. Ở nhà máy, mỏ than do Giám đốc, Công đoàn giới thiệu để Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Công đoàn tỉnh và Mặt trận Tổ quốc tỉnh chọn. Ngày 2/2/1965, Bác về Hòn Gai. Nhân dân các nơi nườm nượp đổ về thị xã.

Trong cuộc mít tinh, Người thăm hỏi và chúc Tết đồng bào, kêu gọi công nhân mỏ thi đua lao động sản xuất “Vì miền Nam ruột thịt”. Bác trao tặng ngành Than Cờ thưởng luân lưu khá nhất và trực tiếp giao cho mỏ than Đèo Nai. Khi nhận hòn than từ tay đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Người hài lòng nói: “Bác mong sẽ được các chú tặng hòn than cuối cùng của kế hoạch năm 1965 trước thời hạn nhiều ngày”.

Vâng lời Bác, cả vùng than dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất, mở “chiến dịch sản xuất than vì miền Nam ruột thịt”, mở các công trường “Bà Rịa”, “Rạch Giá”, “Long Châu Hà”… Công đoàn đã tổ chức đợt học tập cho cán bộ, công nhân làm theo lời Bác dạy, thành tích sản xuất than ngày một nhiều, mặc dù chiến tranh bắn phá của Mỹ xuống vùng mỏ ngày thêm ác liệt…

Đỗ Văn Phú (Theo lời kể của đồng chí Lê Bùi – nguyên Ủy viên BCH Tổng Công đoàn Việt Nam)

phapluatvn.vn