Thư viện

Hình tượng Bác Hồ với nghệ thuật sân khấu

Trong không khí cả nước sôi nổi Tổng kết Nghị quyết 4 – khóa XI của BCH TƯ Đảng; tưng bừng kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân Văn hóa kiệt xuất, nhà thơ – Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 -219/5/2013). Trong lòng mỗi người chúng ta lại thầm nghĩ về Bác – trong sự nghiệp cách mạng cao cả, vĩ đại của Người, trong cuộc sống thanh tao, đạm bạc, ung dung, tự tại của Người; và với riêng mỗi chúng ta, những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, những gì mà Bác Hồ đã ân cần nhắc nhở, dạy dỗ, vừa với tư cách là lãnh tụ, vừa là một nhà Văn hóa lớn, hơn bao giờ hết, lại càng trở nên sống động, da diết và tha thiết đến nhường nào.

Tiếp tục đọc

Bác Hồ với Tuyên Quang

Tuyên Quang có địa thế hiểm yếu, phong trào cách mạng vững chắc, nhân dân một lòng đi theo Đảng, đã vinh dự trở thành trung tâm căn cứ địa của cách mạng Việt Nam, là Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và trong 9 năm trường kỳ kháng chiến, Tuyên Quang đã vinh dự và tự hào có nhiều địa điểm được chọn làm nơi ở, làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh như: Làng Sảo, Tân Trào, Lũng Tẩu, Vực Hồ, Kiên Đài, Kim Bình, Kim Quan, Hùng Lợi… Trong đó có địa điểm Bác Hồ đã ở tới ba lần như lán Hang Bòng.

Tiếp tục đọc

Bác Hồ bắt đầu viết truyện như thế nào?

Theo gương Bác Hồ làm báoTháng 11 năm 1960, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày mất của nhà đại văn hào Nga Lép Tônxtôi, Ban Biên tập báo Văn học Liên Xô có gửi thư đề nghị Bác Hồ của chúng ta kể lại một vài kỷ niệm của Người liên quan đến con người và sự nghiệp của Lép Tônxtôi. Bài viết của Bác Hồ đã đăng trên số báo ra ngày 19 tháng 11 năm đó. Đây là một bài viết ngắn, rất lý thú. Thông qua đó, chúng ta có thể biết vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta bắt đầu viết truyện như thế nào.

Tiếp tục đọc

Thêm một bộ sách quý về Bác Hồ

QĐND – Xuất bản tập đầu tiên vào tháng 5-2010, đến nay, bộ sách “Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ, văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh” do NXB Hội Nhà văn xuất bản đã ra đến tập 7. Mục đích thực hiện bộ sách là nhằm hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật trong tình hình mới”, Hội Nhà văn Việt Nam, được sự đồng ý của Ban Bí thư Trung ương, đã giao cho NXB Hội Nhà văn xuất bản tập sách “Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ, văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh”, nhằm quảng bá sâu rộng trong nhân dân, giúp cho các tầng lớp nhân dân hiểu biết sâu sắc hơn tình cảm của Bác Hồ với văn nghệ sĩ, cũng như tình cảm chân thành của giới văn nghệ sĩ với Bác Hồ.

Tiếp tục đọc

Bác Hồ chọn Quốc kỳ

Cờ Tổ quốcĐầu năm 1945, thời kì tiền khởi nghĩa, nhiều tờ báo cách mạng giới thiệu lai lịch, ý nghĩa biểu trưng của “Cờ đỏ sao vàng”, lá cờ yêu quý thiêng liêng của Tổ quốc.
Tiếp tục đọc

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm rừng đá Lộ Nam (Trung Quốc)

Tháng 8 năm1962, trong dịp đi nghỉ ở Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm một thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Vân Nam – Rừng đá Lộ Nam. Bà Đỗ Lệ Hoa, một diễn viên giọng nữ cao của Đoàn ca múa tỉnh Vân Nam được tháp tùng Người. Đó là những ngày vinh hạnh trong cuộc đời của bà.

Một năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ và quen biết Đỗ Lệ Hoa. Đó là vào cuối năm 1961, trong dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang thăm Trung Quốc. Một hôm, Đoàn nghệ thuật Trung Quốc đang chuẩn bị đi thăm và biểu diễn ở Miến Điện thì được điều động đến biểu diễn phục vụ đoàn Việt Nam tại Hoài Nhân Đường, bà Đỗ Lệ Hoa là thành viên của đoàn. Kết thúc buổi biểu diễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi riêng Đỗ Lệ Hoa lên đứng giữa Người và Mao Chủ tịch chụp một bức ảnh. Nét mặt thân thương, hiền từ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một ấn tượng không bao giờ phai đối với bà. Nhận được tin Hồ Chủ tịch mời bà và chồng bà cùng đi với Người thăm Rừng đá Lộ Nam, Đỗ Lệ Hoa vô cùng xúc động, không biết gần một năm đã trôi qua, Hồ Chủ tịch có thay đổi gì không? Bà chỉ ước ao được gặp ngay Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến.

Khi Đỗ Lệ Hoa đến khách sạn Thạch Lâm, Hồ Chủ tịch đã đứng đợi sẵn ở cửa. Vừa trông thấy Đỗ Lệ Hoa, Người nhanh nhẹn bước tới, thân thiết gọi: “Cháu Lệ Hoa, hoan nghênh cháu, cháu vẫn nhớ lần gặp mặt đầu tiên của Bác cháu ta ở Bắc Kinh chứ?. Đỗ Lệ Hoa vui vẻ trả lời: “Nhớ chứ ạ! Nhớ chứ ạ!Rồi bà rút ra một bức ảnh được phóng to đưa cho Hồ Chủ tịch. Người vừa xem bức ảnh vừa quay sang nhìn khuôn mặt Đỗ Lệ Hoa. Người ôn tồn hỏi: “Cháu ốm hay sao? Sắc mặt cháu hơi xanh!”. Đỗ Lệ Hoa báo cáo với Người rằng gần đây mình phải vào bệnh viện điều trị. Với giọng hiền từ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Diễn viên như các cháu là tài sản quý báu của đất nước, phải hết sức giữ gìn sức khoẻ đấy!Nghe Người nói, Đỗ Lệ Hoa cảm động không cầm được nước mắt.

Tối hôm đó, trong phòng khách nhỏ của khách sạn, các nghệ sĩ tỉnh Vân Nam đã tổ chức biểu diễn văn nghệ chào mừng Hồ Chủ tịch. Đỗ Lệ Hoa tham gia biểu diễn đầy nhiệt tình. Bà đã hát hai bài hát Việt “Quê hương” và “Tiếng đàn tơ rưng”. Nghe xong bài hát thứ hai, Hồ Chủ tịch rất vui, Người đứng dậy đến bắt tay Đỗ Lệ Hoa và cảm động nói: “Cháu thực sự là nghệ sĩ của nhân dân hai nước Trung – Việt”. Đỗ Lệ Hoa thưa với Người rằng mình phát âm tiếng Việt chưa chuẩn lắm. Hồ Chủ tịch thân mật nói: “Không đâu, hát giống tiếng Việt lắm. Cháu hát quá tốt!.

Tiếp đó, Đỗ Lệ Hoa hát tặng Người một bài dân ca tỉnh Tứ Xuyên nhan đề “Cô gái Tứ Xuyên đảm đang”. Nghe xong, Hồ Chủ tịch bắt chước giọng Tứ Xuyên đọc lại lời của bài dân ca đó: “Cô gái Tứ Xuyên bao đảm đang, chân cô đi đôi giầy hoa…Nhìn dáng vẻ dí dỏm của Người, mọi người đều vui lây.

Những ngày nghỉ ở rừng đá, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm nhiều thắng cảnh. Đứng ở Đình Vọng Phong, nơi cao nhất của rừng đá, Người trông thấy các xã viên người dân tộc Xa-ni đang làm ruộng ở gần đó, trong lòng rất cảm kích. Người nói: “Nhân dân Trung Quốc đã đổ mồ hôi, cần cù lao động như thế để chi viện cho nhân dân Việt Nam chúng tôi, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt – Trung thật là đằm thắm gắn bó như chân với tay!.

Dưới khối đá có hình tượng Asưma, Chủ tịch Hồ Chí Minh say sưa nghe Đỗ Lệ Hoa kể câu chuyện truyền thuyết đẹp đẽ về cô gái dân tộc Xa-ni có tên là Asưma. Nghe xong, với tình cảm sâu lắng, Người nói: “Ở Việt Nam cũng có những Asưma hiền lành và thông minh. Các cô gái đó dũng cảm, cần cù, không sợ cường bạo. Đó là niềm tự hào của dân tộc chúng ta!.

Trên đỉnh Liên Hoa, Chủ tịch Hồ Chí Minh phóng tầm mắt ngắm nhìn phong cảnh bao la, tráng lệ và nói với những người cùng đi: “Ở đất nước Việt Nam cũng có nhiều nơi phong cảnh đẹp, nhưng phần lớn đã bị quân xâm lược Pháp tàn phá. Chúng tôi nhất định phải nhanh chóng khôi phục lại đất nước tươi đẹp của chúng tôi.

Theo http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Phong cách dân chủ của Bác

10a. Phong cách dân chủ của Bác1Chủ tịch Hồ Chí Minh họp với Thường vụ Trung ương Đảng
quyết định mở Chiến dịch Biên Giới (1950)

Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước dân chủ, ở đỉnh cao của quyền lực, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên có phong cách làm việc tập thể và dân chủ. Gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể là phương châm chỉ đạo suy nghĩ và hành động của Người.

Trong hàng trăm, hàng nghìn câu nói của Người về dân chủ đều luôn luôn nổi bật vai trò chủ động, tích cực của dân, đều luôn luôn nhất quán với tinh thần trọng dân gắn liền với trọng pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh rành mạch và tường minh trong những khẳng định sau đây:

– Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trên thế giới không có sức mạnh nào mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân.

– Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân.

– Thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn.

– Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương là do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng, đều ở nơi dân…

Người còn nhấn mạnh, trong một nước dân chủ thì nhân dân là chủ. Cán bộ, đảng viên cũng như nhiệm vụ của chính quyền ta và đoàn thể ta là phụng sự nhân dân. Nghĩa là làm đầy tớ cho dân. Dân đã có quyền làm chủ thì cũng phải thi hành nghĩa vụ của người chủ. Đây là những tóm tắt cô đọng nhất bản chất của dân chủ và quyền làm chủ, có giá trị như những định nghĩa kinh điển về dân chủ. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ, dân là chủ thể gốc của quyền lực. Dân ủy quyền cho Nhà nước để Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân, phụng sự lợi ích, nhu cầu và cả ý chí của dân. Đảng cũng chỉ vì dân mà tồn  tại.

Dân chủ và quyền làm chủ của dân phải trở thành một giá trị thực tế chứ không phải một lời nói suông. Dân chỉ biết đến dân chủ, công bằng, bình đẳng khi dân được ăn no, mặc ấm. Độc lập tự do phải tranh đấu mà có được thì phải làm sao cho dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đã tranh được tự do độc lập rồi mà dân vẫn đói rét, cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Thiết thực đến như vậy cho nên chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, được học hành tiến bộ, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do, hạnh phúc mà họ xứng đáng được hưởng. Đó là dân chủ thực chất để làm chủ thực chất, không hình thức giả dối, cũng không phù phiếm giả tạo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Người luôn đòi hỏi cán bộ, đảng viên trước hết là những người lãnh đạo phải có tác phong tập thể dân chủ thực sự. Bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể, mọi thói hình thức chủ nghĩa sớm muộn sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ.

Trước hết, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, đồng thời tinh thần ấy cũng thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ đặt mình cao hơn tổ chức, ở ngoài sự kiểm tra, giám sát của tổ chức, mà luôn luôn tranh thủ bàn bạc với tập thể Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội, khi cần thiết, triệu tập cả Hội nghị chính trị đặc biệt – một hình thức Diên Hồng của thời đại mới – để xin ý kiến các đại biểu quốc dân.

Khi bàn về cách làm và xuất bản loại sách Người tốt, việc tốt với một số cán bộ, Người nói: “Bác muốn bàn luận dân chủ, các chú có ý kiến gì trái với Bác thì cứ cãi, nhất trí rồi về làm mới tốt được. Không nên: Bác nói gì, các chú cứ ghi vào sổ mà trong bụng thì chưa thật rõ, rồi các chú không làm, hay làm một cách qua loa”.

Thứ hai, là phải mở rộng dân chủ để phát huy sức mạnh của tập thể. Người thường nói: Đề ra công việc, đẻ ra nghị quyết, không khó, vấn đề là thực hiện nó. Ai thực hiện? – Tập thể, quần chúng. Vì vậy, có dân chủ, bàn bạc tập thể mới cùng thông suốt, nhất trí, mới cùng quyết tâm thực hiện, tránh được “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Sở dĩ xảy ra mất đoàn kết vì người đứng đầu ở nơi đó còn chuyên quyền, độc đoán, áp đặt chủ quan, trong hội nghị thì mọi người miễn cưỡng đồng tình, sau hội nghị nếu đã không thông thì sẽ không quyết tâm thực hiện. Vì vậy, Người yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”. “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”; “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Bản thân Người là tấm gương mẫu mực về thực hành dân chủ. Trong công tác lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Người luôn có ý thức sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức, sức mạnh tập thể và sức mạnh tổng hợp của quần chúng, nhân dân. Trước khi quyết định một công việc hệ trọng, Người đều hỏi lại cẩn thận và chu đáo những người đã giúp mình. Tất cả những ai đã được Bác giao việc đều cảm nhận sâu sắc điều đó.

Phong cách dân chủ Hồ Chí Minh được thể hiện từ việc lớn cho đến việc nhỏ: Chuẩn bị ra một nghị quyết hay dự thảo một văn kiện, viết một bài báo… Người đều đưa ra thảo luận trong tập thể Bộ Chính trị, tham khảo ý kiến những người xung quanh. Người tuân thủ chặt chẽ quy trình ra quyết định: Mọi vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, khoa học – kỹ thuật… Người đều huy động sự tham gia của đội ngũ trí thức, chuyên gia trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, yêu cầu chuẩn bị kỹ, trao đổi rộng, sao cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều được cân nhắc kỹ, lựa chọn thận trọng, để sau khi ban hành, ít phải thay đổi, bổ sung.

Thứ ba, là nhận trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước, nhưng Hồ Chí Minh thường xuyên có phong cách làm việc tập thể và dân chủ. Người giải thích: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách, tức là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”.

Tác phong tập thể – dân chủ của Bác luôn luôn tạo ra được không khí làm việc hoạt bát, phấn khởi, hăng hái và đầy sáng tạo. Cương vị lãnh đạo càng cao, thì càng đòi hỏi phải có tác phong tập thể – dân chủ thật sự, chứ không phải hình thức. Bởi vì mọi sự giả tạo đều làm suy yếu, thậm chí phá vỡ tập thể. Mọi thói hình thức chủ nghĩa, sớm muộn sẽ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu dân chủ. Nhiều lần, Người đã phê bình cách lãnh đạo của một số cán bộ không dân chủ, do đó mà người có ý kiến không dám nói, người muốn phê bình không dám phê bình, làm cho cấp trên, cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau, không còn hăng hái, không còn sáng kiến trong khi làm việc. Từ thực hành dân chủ cho nhân dân, đến thực hành dân chủ trong Đảng, trong cơ quan, tổ chức, phong cách dân chủ của Bác Hồ là sự thể hiện nhất quán của tư tưởng đạo đức vì dân, vì nước, như Người từng khẳng định 5 điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

– Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.

– Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.

– Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.

– Vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

Học tập và làm theo Người, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ cương của xã hội. Mọi biểu hiện dân chủ hình thức, hay ngược lại, dân chủ quá trớn, lợi dụng dân chủ để “kéo bè, kéo cánh”, để làm rối loạn kỷ cương, để cầu danh, trục lợi, hoặc chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, đứng trên pháp luật, làm cho nhân dân bất bình, cần phải bị lên án và loại bỏ. Học tập đạo đức Hồ Chí Minh, tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở bất cứ cương vị nào, phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn nghèo, đói. Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà còn phải biết tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói, nghèo. Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với Ngày Quốc tế Lao động 1/5

Trong sự nghiệp hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến giai cấp công nhân như là động lực mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tiến bộ. Nhân dịp kỷ niệm 127 năm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 (1/5/1886 – 1/5/2013) – Ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn cầu, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội, chúng ta hãy cùng nhìn lại dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minhlúc sinh thời qua các sự kiện diễn ra vào ngày 1/5.

Ngày 1/5/1920, báo cáo của mật thám ghi nhận Nguyễn Ái Quốc tham dự mít tinh kỷ niệm Ngày Lao động quốc tế cùng Nhóm đảng viên Xã hội Pháp và tham luận trên diễn đàn đòi ngưng gửi người sang thuộc địa.

Ngày 1/5/1924, theo lời mời của Thành uỷ Moscow và Ban Thư ký của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc tham gia và phát biểu trong cuộc mít-tinh kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 tại Hồng trường.

Ngày 1/5/1925, cùng với những nhà cách mạng Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc tham gia tổ chức Đại hội lần thứ Nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông tiến tới thành lập Hội Nông dân.

Ngày 1/5/1943, trên Báo Việt Nam Độc lập xuất bản tại Cao Bằng, đăng bài “Kỷ niệm Trần Hưng Đạo” của Bác với lời kết: “Chuyện Trần Hưng Đạo để lại cho ta một bài học: Muốn đánh quân xâm lấn nước ta cần 2 điều: Một là toàn dân đoàn kết, hai là khéo dùng lối du kích”.

Ở Việt Nam, Ngày Quốc tế Lao động đầu tiên được tổ chức vào năm 1930. Ngày 1/5/1930, lần đầu tiên trong lịch sử phong trào công nhân ở Đông Dương, giai cấp công nhân nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã biểu tình ngoài đường phố để biểu dương tình đoàn kết cách mạng với công nhân quốc tế, đồng thời đấu tranh trực diện với bọn đế quốc thực dân Pháp, đòi chúng phải cải thiện điều kiện làm việc, phải tăng lương và thực hiện luật lao động ngày làm việc 8 giờ. Báo Người Lao Khổ – của Khu bộ Vinh – Bến Thuỷ mấy hôm sau, viết rằng: “Lần đầu tiên, anh em lao – nông nắm tay nhau giữa trận tiền”. Đó là điểm bắt đầu cho cả cao trào 1930 – 1931 với đỉnh cao là phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước nhà được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 22cNV/CC ngày 18/2/1946 về những ngày nghỉ Tết, kỷ niệm lịch sử và lễ tôn giáo, trong đó công bố: Ngày 1/5 là một trong những ngày Lễ chính thức và công nhân, lao động cả nước được nghỉ một ngày có hưởng lương. Kể từ đây, ngày 1/5 được coi là một trong những ngày lễ chính thức hàng năm của Nhà nước ta.

Ngày 1/5/1946, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, ngày Quốc tế lao động 1/5 được tổ chức kỷ niệm mít tinh trọng thể tại Hà Nội, với sự tham dự của 20 vạn nhân dân lao động. Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời kêu gọi:“Cùng đồng bào toàn quốc! Cùng anh chị em lao động! Ngày 1 tháng 5 là một ngày Tết chung cho tất cả các nước trên thế giới. Đó là một ý nghĩa đoàn kết rất sâu xa. Ở nước ta, lần này là lần đầu tiên đồng bào ta, anh chị em lao động ta được tự do đón tiếp ngày 1 tháng 5. Vậy nên nó có ý nghĩa đặc biệt sâu xa hơn nữa. Đối với chúng ta nó là một ngày để cho thế giới biết rằng: Ngày này chẳng những là ngày Tết lao động, mà còn là ngày nhân dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”.

BH-vơi-ngay-15-1Sắc lệnh số 22c NV/CC ngày 18/2/1946 quy định ngày 1/5 là một trong những ngày Lễ chính thức của nước taẢnh Internet

Ngày 1/5/1948, Bác Hồ ra “Lời kêu gọi thi đua yêu nước”, trong đó có đoạn: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cung tự cấp, tự túc, đi kịp người thì chúng ta phải đi mau. Vì vậy, sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất”.

BH-vơi-ngay-15-2Bút tích “Lời kêu gọi thi đua yêu nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 1/5/1948. Ảnh Internet

Ngày 1/5/1951, trong lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế Lao động, Bác Hồ xác định “Trọng tâm thi đua là: Quân đội thi đua giết gịăc lập công. Công nhân thi đua tăng gia sản xuất. Nông dân thi đua sản xuất lương thực. Trí thức thi đua sáng tác, phát minh. Cán bộ thi đua cần, kiệm, liêm, chính. Toàn dân thi đua tích cực tham gia kháng chiến”.

Cùng ngày, Báo “Nhân Dân” đăng bài “Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc” của Bác với bút danh C.B., Bác nêu rõ:“Lao động trí óc cần được khuyến khích giúp đỡ phát triển tài năng… trí thức ta cần cải tạo tư tưởng và sửa đổi lề lối làm việc”.

Ngày 1/5/1954, Báo Nhân Dân đăng bài “Mấy khuyết điểm của báo chí ta” của Bác, đi đến kết luận: “Nói tóm lại, để làm trọn nhiệm vụ tuyên truyền, tổ chức, hướng dẫn, thì các báo chí ta cần phải gần gũi quần chúng hơn nữa, đi sâu vào công việc thực tế hơn nữa, cách làm việc của báo chí phải cải thiện hơn nữa”.

Ngày 1/5/1958, Bác đưa ra “Lời kêu gọi nhân Ngày Quốc tế Lao động” khẳng định: “Hôm nay, cùng với nhân dân lao động toàn thế giới, chúng ta nhiệt liệt chào mừng Ngày 1 tháng 5 trong lòng đầy tin tưởng và phấn khởi quyết tâm vượt mọi khó khăn, tiến lên làm tròn những nhiệm vụ mới… Ngày 1 tháng 5 năm nay là một ngày đoàn kết, đấu tranh, tin tưởng và phấn khởi”.

Ngày 1/5/1964, nhân Ngày Quốc tế Lao động, Bác gửi điện khen ngợi thanh niên trên công trường khôi phục đường sắt Thanh Hoá – Vinh, trong đó có việc xây lại Cầu Hàm Rồng.

BH-vơi-ngay-15-3Chủ tịch Hồ Chí Minh tại cuộc mít tinh chào mừng Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1965.  Ảnh Internet

Tối ngày 1/5/1966, sau buổi xem Đoàn Văn công tỉnh Quảng Bình từ tuyến lửa về biểu diễn trong Phủ Chủ tịch, Bác bày tỏ cảm tưởng: “Nhân dân ta thật anh hùng. Chiến đấu ác liệt như thế, gian khổ như thế mà vẫn lạc quan ca hát. Một dân tộc như thế thì không một thế lực hung bạo nào có thể khuất phục được”.

Kể từ sau năm 1975, kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 ở Việt Nam ngày càng có ý nghĩa khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4. Đây là dịp giai cấp công nhân và nhân dân lao động cả nước ôn lại truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm; sôi nổi hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước để bày tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta. Người đã có công lao rất to lớn giúp nhân dân ta ý thức được ý nghĩa lịch sử và tác động của việc kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5, từ đó càng thêm quyết tâm đi theo con đường cách mạng do Đảng và Bác kính yêu đã lựa chọn, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Thu Hiền
bqllang.gov.vn

Mạch nguồn thơ văn Nguyễn Trãi trong tác phẩm của Hồ Chí Minh

Việt Nam - Hồ Chí MinhHồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Nguyễn Trãi, trước hết là tư tưởng vì dân, trọng dân, yêu dân.

Nguyễn Trãi viết: “Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc… Dám mong Bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăm nuôi muôn dân, khiến cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu, đó tức là giữ được cái gốc của nhạc vậy”. Mở đầu Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã tuyên bố đường lối: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Tiếp thu tinh thần ấy, Hồ Chí Minh đã hơn một lần nói: “Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại bị đau khổ, bị áp bức”. Ngay trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh nêu một nguyên lý: “Nước lấy dân làm gốc” để nhắc nhở cán bộ phải luôn biết dựa vào dân và phục vụ vì dân. Kế thừa, phát triển tư tưởng lấy dân làm gốc của Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh khẳng định sự tất thắng của sức mạnh nhân dân:

Quân tốt dân tốt,

Muôn sự đều nên.

Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.

Nguyễn Trãi yêu cầu “phàm người có chức vụ… đối dân tận hòa, bỏ thói tham ô, trừ tệ lười biếng; bè đảng riêng tây phải bỏ, thái độ cố phạm phải chừa, coi công việc của quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo của mình”.

Ngay từ những ngày đầu giải phóng, Bác Hồ đã đề ra nhiệm vụ “Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Người nghiêm khắc phê phán những kẻ cơ hội: “Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân phì gia”. Người dạy cán bộ phải biết kính trọng dân: “Có người cho là “dân ngu khu đen”. Thế là tầm bậy. Dân rất thông minh. Quần chúng kinh nghiệm sáng kiến rất nhiều”. Để xứng đáng là “người đầy tớ trung thành của nhân dân”, Bác Hồ yêu cầu cán bộ phải “cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Người từng lên tiếng báo động: “Đề phòng hủ hóa… có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán…” và đề ra một tiêu chuẩn của người cách mạng là “Lo, thì trước thiên hạ; hưởng, thì sau thiên hạ”; “ không lợi dụng danh nghĩa Ủy ban để gây bè tìm cánh, đưa người “trong nhà trong họ” vào làm việc với mình”.

Trong Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo thái tử, Nguyễn Trãi yêu cầu nhà vua phải “hòa thuận tông thân, nhớ giữ một lòng hữu ái, thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân”. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thể hiện thật sâu sắc ở phương châm giản chính, khoan hình: “… có khi dùng đến uy pháp, nhưng không nên lâu la phải chóng trở về với nhân nghĩa”, nếu phải dùng quyền mưu thì “chỉ dùng để trị gian tà. Cốt nhân nghĩa gìn giữ thì thế nước mới yên ổn”. Hồ Chí Minh học tập tinh thần ấy của Nguyễn Trãi, Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”.Tư tưởng vì con người của Bác Hồ rất gần với Nguyễn Trãi, dĩ nhiên được mở rộng, cụ thể hơn: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”.

Nhìn dưới góc độ văn chương cũng cho thấy Hồ Chí Minh học tập từ Nguyễn Trãi. Cụ Ức Trai có câu thơ: “Hà thời kết ốc vân phong hạ/ Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên”(Bao giờ làm được nhà dưới núi dưới mây/ Múc nước suối nấu chè, gối hòn đá ngủ – Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác), Hồ Chí Minh cũng từng có mong muốn: “… Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa,…”. Câu thơ “Cháo bẹ rau măng vẫn sẫn sàng” của Hồ Chí Minh có hình bóng câu thơ Ức Trai: “Cơm ăn chẳng quản dưa muối/ Áo mặc nài chi gấm thêu” (Thuật hứng). Âm hưởng tiếng suối trong thơ Nguyễn Trãi: “Côn Sơn có suối/ Tiếng nước chảy rì rầm/ Ta coi làm đàn cầm…”, hơn năm trăm năm sau vọng vào thơ Hồ Chí Minh: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”. Trong câu thơ của Hồ Chí Minh: “Giang tâm như kính tịnh vô trần” (Lòng sông gương sáng bụi không mờ), thì cái nhìn mặt nước trong suốt lung linh ấy cũng có từ Nguyễn Trãi: “Nhất bàn lam bích trừng minh kính” (Một mặt phẳng sắc lam sắc biếc như tấm gương trong suốt – Vân Đồn). Có khi là ảnh hưởng tứ thơ. Nguyễn Trãi viết về tuổi già nhưng chí trẻ: “Tuổi cao, tóc bạc, cái râu bạc/ Nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh”. Bác Hồ cũng có tứ thơ ấy: “Chưa năm mươi tuổi đã kêu già/ Sáu ba mình nghĩ vẫn là đương trai…”…

Có thể thấy trước tác của hai nhà tư tưởng lớn này có điểm giống nhau là rất giản dị, dễ hiểu, gần với đời sống nhân dân, biểu đạt một cách nhuần nhị lời ăn tiếng nói của nhân dân, bởi ở họ có một điểm chung là rất có ý thức kế thừa ngôn ngữ quần chúng lao động. Thơ Nguyễn Trãi là một trong những mạch nguồn tư tưởng và mạch nguồn ngôn ngữ nghệ thuật ở tác phẩm của Hồ Chí Minh.

Nguyễn Thanh Tú
Theo Báo Quân đội nhân dân
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Tài chiêu hiền đãi sĩ của Bác Hồ

Bác Hồ đã nói: “Dụng nhân như dụng mộc”, dùng người như dùng gỗ, gỗ tốt phải làm đồ quý.

Nhân cách và ứng xử của Bác Hồ không chỉ thu hút trí thức kiều bào về nước xây dựng quê hương mà còn động viên họ một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc.

Cách sử dụng nhân tài của Bác Hồ là một bài học sâu sắc đối với những người và cơ quan quản lý sử dụng cán bộ, công chức trong hiện tại và cả tương lai. Xin giới thiệu bài viết của giáo sư Nguyễn Hoa Thịnh về vấn đề này.

’‘Dụng nhân như dụng mộc”

Những ngày đầu cách mạng, Bác đã mời về nước nhiều trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Họ có chung ba đặc điểm: yêu nước kiên trung, có kiến thức uyên thâm và có cống hiến đích thực, đã được kiểm nghiệm qua thực tế.

Thế hệ trí thức Việt Nam đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám được lịch sử ghi nhận như Vũ Đình Hoè, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài, trở về nước góp sức xây dựng đất nước.

Cách sử dụng nhân tài của Bác là một kinh nghiệm luôn mới đối với thực tế hiện nay. Có người Bác mời về nước làm việc ngay, nhưng cũng có người Bác chờ họ học tiếp rồi mới mời về.

d Nếu nhân cách của Bác thu hút các học giả thời bấy giờ về đóng góp cho quê hương một cách tự nguyện thì cách hành xử và tri thức của Người khiến họ một dạ dốc tâm dốc sức cho Tổ quốc.

Bác cũng dành những công việc phù hợp cho từng “hiền sĩ”. Người giao cho giáo sư Tạ Quang Bửu nhiều trọng trách ở Bộ Quốc phòng và trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, giáo sư Trần Đại Nghĩa phụ trách ngành quân giới Việt Nam và nhiều trọng trách khác, giáo sư Nguyễn Văn Huyên phụ trách ngành giáo dục, giáo sư Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di… thì tiếp tục cống hiến và dìu dắt các thế hệ ngành y phục vụ kháng chiến, kiến quốc.

Nếu nhân cách của Bác thu hút các học giả thời bấy giờ về đóng góp cho quê hương một cách tự nguyện thì cách hành xử và tri thức của Người khiến họ một dạ dốc tâm dốc sức cho Tổ quốc. Và thực tế, sự phát triển rất nhanh chóng về mọi mặt của đất nước những ngày đầu giành độc lập sau hàng thế kỷ bị nô lệ là một bằng chứng sống động về tài “chiêu hiền đãi sĩ” của Người.

Tôi nhớ một câu nói về Bác, đại ý, ở Nguyễn Ái Quốc toả ra ánh sáng của một nền văn hoá, không phải của châu Âu mà có lẽ là nền văn hoá của tương lai. “Con mắt tương lai” của Hồ Chủ tịch khiến chúng ta nể phục.

Dõi vào thực tế hiện nay, đâu đó vẫn còn tồn tại cách đánh giá người tài theo hệ thống “chức quyền”. Trong khi đó, người trí thức muốn cống hiến phải dành toàn tâm, toàn sức và thời gian cho nghiên cứu, không thể phân tâm làm những công việc hành chính. Vì lẽ đó, vô hình trung, những người làm khoa học thường có vị trí không cao trong xã hội.

Bác Hồ đã nói: “Dụng nhân như dụng mộc”, dùng người như dùng gỗ, gỗ tốt phải làm đồ quý. Những người trí thức theo Bác về xây dựng đất nước trong những buổi đầu đã nổi danh về tài, trí, hơn thế là lòng yêu nước sắt son. Chính Bác và dân tộc khi đó đã thổi vào lòng họ những tình cảm và sự trân trọng vô song với đất nước, làm bùng lên khát khao cống hiến cho nước nhà. Đối với các nhà khoa học, vốn là những tinh hoa của khoa học thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, “đồng lương” tinh thần ấy có giá trị gấp nhiều lần ưu đãi về vật chất.

Cơ hội cũng là thách thức với nhà khoa học trẻ

dGiáo sư Nguyễn Hoa Thịnh.

Các nhà khoa học thời chúng tôi, có thể nói, có nhiều thuận lợi hơn bây giờ. Chúng tôi được bao cấp hoàn toàn khi đi học và không phải lo nghĩ về chuyện xin việc khi học xong, vì đã có Nhà nước phân công công tác. Tuy vậy, chúng tôi không bao giờ thoả mãn học đến đâu là đủ.

Hiện, như chúng ta đã biết, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nếu trước kia, từ lúc có phát minh khoa học đến lúc áp dụng vào thực tiễn phải mất nhiều năm, thậm chí mất hàng thế kỷ thì ngày nay, khoảng cách đó đã rút ngắn lại, đến mức gần như không còn ranh giới, nghĩa là nhất thể hóa khoa học và sản xuất. Đó là cơ hội lớn cho các nhà khoa học trẻ, nhưng cũng là thách thức cho họ. Nếu họ bằng lòng với những cái đã có thì họ rất nhanh sẽ trở nên lạc hậu. Vì thế, hơn bao giờ hết, các nhà khoa học trẻ cần ghi nhớ lời Bác dạy: luôn phải gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn.

Những nhà khoa học trẻ hiện rất nhanh nhạy và khá thực tiễn. Họ chỉ cần được chỉ dẫn đúng hướng, Nhà nước quan tâm thì sẽ tiến rất xa. Sự quan tâm của Nhà nước thể hiện bằng hệ thống giáo dục, khoa học công nghệ và sản xuất cùng những chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài…

Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, trung tướng Nguyễn Hoa Thịnh nguyên là giám đốc Học viện kỹ thuật quân sự, chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Quân đội nhân dân Việt Nam, giám đốc Trung tâm (Viện) Khoa học và Công nghệ quân sự, hiện là chủ tịch Hội đồng quản lý Viện Phát triển công nghệ, truyền thông và hỗ trợ cộng đồng.

(Theo GS. Nguyễn Hoa Thịnh – Đất Việt)
Vkyno (st)