Thư viện

Bác Hồ trong lòng bà con kiều bào

Các hoạt động kỷ niệm ngày sinh của Bác ngày càng thu hút sự tham gia của nhiều thế hệ kiều bào. Đây chính dịp cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hun đúc lòng yêu nước và tự hào dân tộc ở xứ người.

Xúc động và tự hào

Ông Vũ Khắc Lộc, kiều bào Thái Lan, tự hào kể: “Bà con người Việt ở làng Na Choọc (tỉnh Nakhon Phanom) tổ chức kỷ niệm sinh nhật Bác lớn lắm. Mọi người cùng đến dâng hương tại tượng đài Hồ Chí Minh, nghe kể về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác và xem những tấm hình còn lưu lại”. Làng Na Choọc là nơi Bác từng sống và hoạt động cách mạng thời kỳ 1928 – 1929 với bí danh Thầu Chín. Cũng theo ông Lộc, vào những ngày kỷ niệm,  kiều bào ở khắp Thái Lan lại nô nức về đây, đem theo những món đồ sưu tập được như nón lá, nồi đồng, quần áo, đồ thủ công mỹ nghệ… đến trưng bày, góp phần dựng nên một góc Việt Nam thu nhỏ.

Ông Lộc năm nay đã 83 tuổi nhưng vẫn nhớ nhiều bài hát về Bác. Được về thăm quê đúng vào dịp sinh nhật Bác, ông vô cùng xúc động và hứng khởi hát vang bài Đôi dép Bác Hồ.

Kiều bào trẻ về nước tham dự cuộc thi Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2008.
Ảnh: Thu Ngà

Lắng nghe câu chuyện của người bạn ở Thái Lan, ông Lê Cảnh Sắc, hiện sống tại Lào, hào hứng kể, người Việt ở làng Siêng Phan, tỉnh Khăm Muộn cũng tổ chức kỷ niệm sinh nhật Bác lớn không kém. Cứ đến ngày 19/5, bà con lại tụ họp, cùng nhau tham dự lễ dâng hương, tưởng nhớ Người. Sau đó, mọi người cùng hát những bài ca về Bác, về cách mạng Việt Nam, về một thời kỳ gian lao nhưng đầy hào hùng của dân tộc.

Ở nước Pháp xa xôi, ông Hình Thại Thanh, hiện sống tại Paris, cho biết, mỗi dịp sinh nhật Bác, bà con kiều bào lại đến bảo tàng Montreuil, thuộc tỉnh Seine Saint Denis, phía Đông Paris, dâng hương dưới tượng đài Người. Nơi đây có một khu trưng bày mang tên Không gian Hồ Chí Minh, lưu giữ những kỷ vật của Bác trong thời gian sống và làm việc tại số 9, ngõ Compoint, thời kỳ 1921 – 1923.

Khắc sâu hình ảnh Bác trong trái tim thế hệ trẻ

Từng tham gia tiếp tế cho sứ quán Việt Nam tại Lào trong thời kỳ chiến tranh, bà Lê Bích Thúy, hiện sống ở Vientian vẫn ngày ngày sưu tầm những tranh ảnh, sách và tài liệu về Bác Hồ cho con cháu. Đó là những quyển sách kể  lại hành trình của Bác bôn ba đến các nước, các thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Mỹ của dân tộc Việt Nam được minh họa bằng nhiều hình ảnh tư liệu rất quý giá. Mỗi lần có dịp về Việt Nam, bà lại đi tìm các tư liệu mới làm phong phú thêm thư viện của gia đình.

Bà Thúy cho biết, Hội Người Việt Nam tại Lào cũng tổ chức nhiều chương trình cho các em học sinh như học tập và làm theo gương đạo đức Hồ Chí Minh, phong trào thi đua kỷ niệm sinh nhật Bác, kỷ niệm Quốc khánh 2/9… Bà hào hứng khoe: “Năm ngoái, cháu nội tôi cũng giành giải thưởng trong cuộc thi vẽ tranh cụ Hồ đấy. Nét vẽ của trẻ con rất đáng yêu”.

Cũng theo bà Thúy, Hội Người Việt Nam tại Lào đang tổ chức chương trình học về Bác Hồ, lịch sử Việt Nam cho con em người Việt sinh sống tại Vientian. Cùng với nhà trường, các gia đình còn tự tìm hiểu và bổ túc cho con em mình.

Ở Paris, ông Hình Thại Thanh cho hay, Hội Người Việt Nam tại đây có tổ chức dạy tiếng Việt cho con em, trong đó có dạy về Bác và lịch sử Việt Nam. Cứ mỗi thứ bảy, chủ nhật, thanh thiếu niên người Việt lại đến học tiếng và tìm hiểu về các thời kỳ lịch sử, văn hóa của đất nước.

Nhằm bồi dưỡng thêm kiến thức cho con, vợ chồng ông Thanh thường xuyên mua sách và tài liệu về văn hóa, lịch sử của Việt Nam bày trong tủ sách gia đình. Ông Thanh cho rằng, sống ở nước ngoài, môi trường sống và điều kiện học tập, sinh hoạt khác hẳn với quê nhà, vì vậy bên cạnh những hoạt động của sứ quán và Hội Người Việt tổ chức, những người làm cha, làm mẹ cần kiên trì và khéo léo để duy trì việc giáo dục truyền thống yêu nước cho con cháu.

Việt Anh

baodatviet.vn

Lời tri ân của những người con đất Việt với Bác

Năm 2009 nhân kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc Hồ Chủ tịch, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức chương trình nghệ thuật “Hồ Chí Minh – cả một đời vì nước vì dân”, tại Quảng trường Ba Đình.

Phát biểu tại chương trình, ông Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, nhấn mạnh: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin gắn chặt với thực tiễn nước ta. Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam thành đội tiên phong bản lĩnh, trí tuệ, dày dạn kinh nghiệm của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.

Chương trình là lời tri ân của những người con đất Việt với Người. ẢNh minh họa.

Là nhà chiến lược thiên tài, Hồ Chủ tịch đã cùng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Những cống hiến đặc sắc của Người về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc đã góp phần quan trọng thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong thế kỷ XX và ngày nay còn nguyên giá trị đối với cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Theo TTXVN

baodatviet.vn

Nguồn: YouTube.com

Chuyện về 50 đồng Bác tặng một làng nghề

Năm nay đã ngoài 80 tuổi, song lão nghệ nhân Nguyễn Văn Nắng vẫn còn nhớ như in câu chuyện cách đây nửa thế kỷ: Bác Hồ tặng Tổ hợp thủ công mỹ nghệ Việt Tiến 50 đồng làm vốn, với mong muốn khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống mây tre đan Ngọc Động.

Trước năm 1945, vùng quê chiêm trũng Ngọc Động, xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, rất nghèo. Trai tráng bỏ làng ra đi tha hương cầu thực khắp nơi. Hồi đó, cụ Binh Cổng và cụ Nguyễn Văn Nhẫn khăn gói ra tận Từ Sơn, Bắc Ninh, để học nghề mộc và đan lát thủ công mỹ nghệ.

Nuối tiếc vì không được gặp Bác 

Học xong, hai cụ về quê, truyền nghề cho dân trong làng. Dần dà, nghề mây tre đan ở Ngọc Động được mở rộng. Đến năm 1950, cụ Nắng và một số người đứng ra vận động các hộ trong thôn góp vốn thành lập Tổ hợp thủ công mỹ nghệ Việt Tiến. Sau đó, Tổ hợp đổi tên thành Hợp tác xã Việt Tiến.

Ông Nguyễn Văn Phú, con trai cụ Nẵng, luôn tự hào mỗi khi nói về chuyện 50 đồng vốn của Bác Hồ tặng.

Trước dịp kỷ niệm 13 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1958), chi bộ Hợp tác xã tổ chức họp và quyết định cử những người có tay nghề cao thiết kế, sản xuất chiếc ghế tựa (ngồi làm việc) và chiếc ghế đu (nằm thư giãn khi mệt), để tặng Bác Hồ. Cặp ghế làm xong, Chi bộ cử đoàn công tác vận chuyển ra Hà Nội, sau đó thuê xe chở về Phủ Chủ Tịch. “Tuy nhiên, vì lúc đó Bác bận việc nước nên cả đoàn không gặp được Bác. Sau đó, hai chiếc ghế được gửi cho các đồng chí cần vụ chuyển lên Phủ Chủ tịch để tặng Bác, rồi chúng tôi ra về”, cụ Nắng nuối tiếc.

Đúng vào dịp Ngày Tết Độc Lập, ngày 2/9/1958, Hợp tác xã Việt Tiến nhận được giấy báo của bưu điện với nội dung Bác Hồ gửi tặng Hợp tác xã 50 đồng, kèm theo một bức thư. Trong thư, Bác viết: “Bác đã nhận được quà của các chú. Bác trích tiền tiết kiệm của Bác dành dụm được tặng các chú 50 đồng làm vốn, để các chú khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống mây tre đan ở địa phương…”.

Đi lên nhờ 50 đồng vốn của Bác Hồ

Nhận tiền và đọc thư Bác, tất cả các xã viên Hợp tác xã Việt Tiến đều cảm động và vui mừng khôn xiết. Cụ Nắng xúc động nhớ lại: “50 đồng vốn Bác tặng là một món quà vô cùng có ý nghĩa, là nguồn động viên tinh thần lớn lao đối với toàn thể xã viên. Chi bộ quyết định đầu tư ngay số vốn này cho sản xuất…”

Ông Nguyễn Văn Phú, con trai cả cụ Nắng, từng là Chủ nhiệm Hợp tác xã Việt Tiến, cho biết, giai đoạn 1989 – 1991, làng nghề Ngọc Động gặp rất nhiều khó khăn. Sản phẩm ứ đọng, một số tổ hợp nhỏ lẻ giải thể. Trước tình hình này, các nghệ nhân cao niên đã thường xuyên đến từng hộ động viên, khơi dậy sự tự hào về những đồng vốn mà Bác Hồ đã tặng trước đây. Nhờ vậy, các xã viên đã ý thức được rằng, bỏ nghề đồng nghĩa với việc tiêu hết tiền vốn của Bác, là không xứng với tổ tiên. Bởi vậy, ngọn lửa say mê, nhiệt huyết với nghề đã được thắp sáng trong lòng người dân Ngọc Động. Họ lại tiếp tục làm nghề, sống chết với nghề.

Kể từ đó đến nay, Ngọc Động không ngừng đi lên. Hiện tại, Hợp tác xã có hơn 600 hộ xã viên, sản xuất hơn 200 mặt hàng mây tre đan, xuất khẩu đến 12 nước trên thế giới. Hơn 1.100 lao động có việc làm thường xuyên với thu nhập ổn định, bình quân 8,5 triệu đồng mỗi người một năm.

Hạc Thành

baodatviet.vn

Ông lão 85 tuổi mê sưu tầm ảnh Bác Hồ

Ông Trần Phùng bên bộ sưu tập ảnh về Bác, bộ tài sản quý giá với ông.

(Dân trí) – Đã nhiều năm qua, các tấm ảnh về Bác mà cụ ông Trần Phùng (85 tuổi, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế) sưu tầm là tài sản quý giá nhất mà ông muốn cất giữ lại cho con cháu.

Sinh ra trong gia đình nghèo thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, từ nhỏ ông Phùng đã được nghe bố mẹ kể về con đường hoạt động cách mạng của Bác Hồ. Lớn lên đi học, cậu bé Phùng càng ý thức hơn về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với dân tộc. Chính điều này đã thôi thúc ông quyết tâm tham gia hoạt động cách mạng.

Khi còn học ở Truờng Quốc Học, ông hăng hái tham gia phong trào thanh niên chống thực dân Pháp. Năm 1948 ông lên đường nhập ngũ vào chiến đấu tại chiến trường Quân khu 4. Về sau ông được chuyển ra công tác tại Tổng cục Hậu cần, lo việc tiếp tế lương thực, súng đạn cho tiền tuyến.

Cũng trong thời gian này, ông bắt đầu sưu tầm những tư liệu, ảnh về Bác Hồ. Đáng tiếc, trong một lần tham gia chiến đấu những tư liệu đó bị thất lạc. Đến nay ông chỉ còn lưu giữ được một số bức ảnh mà ông cho rằng có ý nghĩa trong việc giáo dục người thân, con cháu về tấm gương của Bác.

Động cơ để ông sưu tầm ảnh Bác đơn giản chỉ xuất phát từ lòng kính trọng và sự yêu mến đối với Bác, một nhân cách cao cả về đạo đức cũng như lối sống giản dị, tính khiêm nhường đáng để thế hệ sau học hỏi. “Hễ thấy đâu có ảnh Bác là tôi sưu tầm, hoặc xin lại từ những người bạn cùng chiến đấu, cũng có thể là cắt lại từ các tờ tạp chí… Nhưng phần nhiều tôi mua lại từ một số người” – ông Phùng cho biết.

Với cá nhân ông, mỗi bức ảnh đều có ý nghĩa riêng của nó. Trong những bức ảnh đó, bức ảnh chụp cảnh Bác Hồ bắt tay Bác Tôn một cách thân mật làm ông ấn tượng nhất. Ngoài ra, có tấm chụp cảnh Bác đang trò chuyện với các cơ quan, đơn vị nơi Bác đến thăm và các tấm chụp cảnh Bác nói chuyện thân mật với các vị phụ lão, phụ nữ, thiếu nhi, bộ đội, nông dân… Đặc biệt, có một số tấm ảnh chụp cảnh sinh hoạt của Bác như đang ngồi trên bàn làm việc, cho cá ăn, chăm sóc cây cối, đang hút thuốc…

Một số bức ảnh ấn tượng nhất được ông Phùng đóng khung và treo ở vị trí trang trọng trong nhà.

Những bức ảnh sưu tầm về Bác qua các thời kỳ được ông lưu giữ một cách khá cẩn thận, đóng khung và treo ở vị trí trang trọng nhất trong nhà. Dù năm nay ông Phùng đã 85 tuổi nhưng vẫn hết sức minh mẫn khi nhớ lại ngày ông được gặp và nói chuyện cùng Bác. Ông xem đó là động lực giúp ông phấn đấu và sống tốt như hôm nay. Đồng thời là tấm gương cao cả cho các thế hệ sau học tập.

Nhìn lên khung ảnh, ông Phùng nhớ lại ngày ông vinh dự được gặp Bác Hồ. “Hồi ấy, tôi đang tham gia chiến đấu tại chiến trường Quân khu 4, nghe tin Bác vào thăm ai nấy đều mừng rỡ. Bản thân tôi cũng hồi hộp không kém vì được tận mắt ngắm dung nhan của Bác mà bấy lâu tôi ấp ủ. Buổi trò chuyện được tổ chức ở ngay giữa sân dưới sự chứng kiến của đông đảo cán bộ, chiến sĩ”.

Nhấp chén nước trà, ông Phùng kể tiếp: “Hôm đó Bác Hồ kể rất nhiều chuyện về quá trình hoạt động, con đường phát triển của cách mạng trong những năm tiếp theo. Bác không quên động viên anh em phát huy tinh thần yêu nước, niềm tin vào chiến đấu nhất định sẽ giành được thắng lợi. Bác hỏi thăm về đời sống của chiến sĩ có khó khăn gì không, cũng không quên dặn cán bộ phải quan tâm đến đời sống của chiến sĩ…”

Tấm ảnh chụp Bác đang ngồi nghỉ hút thuốc rất giản dị mà ông Phùng còn giữ được.

“Đến khi về Bác không quên dặn toàn thể cán bộ, chiến sĩ toàn Quân khu phải đảm bảo sức khoẻ mới có thể tiếp tục chiến đấu. Kẻ thù dù mạnh đến đâu nhưng nếu có niềm tin, sự đoàn kết một lòng thì nhất định sẽ giành được thắng lợi lớn. Những lời động viên chân thành của Bác đã giúp chúng tôi có thêm động lực để chiến đấu” – ông Phùng tâm sự.

Được biết ông Phùng còn là người trực tiếp chứng kiến lễ trao ấn, kiếm năm 1945 của vua Bảo Đại cho chính quyền cách mạng, chấm dứt sự tồn tại của triều đại phong kiến kéo dài hàng ngàn năm và mở ra một thời đại mới cho dân tộc.

Trải qua 36 năm tham gia hoạt động cách mạng, qua 2 cuộc kháng chiến, ông Phùng vinh dự nhận được nhiều Bằng khen, Giấy khen do Đảng, Nhà nước trao tặng. Do tuổi cao, năm 1984 ông được nhà nước cho nghỉ hưu trở về quê hương cùng vợ nuôi dạy con cái.

Đã đến tuổi 85 nhưng ông Phùng vẫn giữ được vẻ minh mẫn và một tinh thần yêu nước, yêu Bác Hồ nồng nàn.

Với những đóng góp đối với cách mạng, ông được nhà nước trao Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông là người có lối sống giản dị mang bản chất của người lính, người ông mẫu mực đối với con cháu, một tấm gương cho nhiều thế hệ trẻ chúng tôi trân trọng noi theo./.

Theo Dantri.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

42 năm người Kor ở Trà Bồng mang họ Bác Hồ

Báo tin tức – Vào đúng dịp kỷ niệm 121 năm ngày sinh Bác Hồ và tiến tới ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016, chúng tôi có dịp trở lại vùng đất quế Trà Bồng – nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi vào ngày 28/8/1959, cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên của đồng bào các dân tộc Trà Bồng giành thắng lợi, đánh một đòn chí mạng vào chính quyền tay sai Mỹ không chỉ riêng ở Quảng Ngãi mà cả miền Nam Việt Nam. Đặc biệt, cũng tại mảnh đất này cách đây gần 42 năm, tại buổi lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh do Huyện ủy Trà Bồng tổ chức, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào dân tộc Kor đã đề đạt nguyện vọng lên Trung ương được mang họ của Bác Hồ. Và từ đó đến nay người Kor Trà Bồng đều được mang họ Bác Hồ.

Già làng Hồ Chí Khánh trước bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ảnh: Đinh Hương- TTXVN

Đầu tháng 9/1969, người Kor Trà Bồng (Quảng Ngãi) đau buồn đón nhận tin Bác Hồ về cõi vĩnh hằng. Nước mắt ướt đẫm trên những khuôn mặt dạn dày sương gió, từng chịu đựng đắng cay gian khổ suốt bao nhiêu năm đấu tranh với kẻ thù để gìn giữ lời thề “Suốt đời theo Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng”, đã từng vang lên trong đại hội Gò Rô chống Mỹ (tháng 7/1958), và tiếp ngân vang trong cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi tháng 8/1959.

Già làng Hồ Chí Khánh, lão thành cách mạng xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng kể lại: Sáng ngày 9/9/1969, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Kor vượt núi, băng sông về chiến khu Trà Lãnh (nay thuộc huyện Tây Trà) dự lễ truy điệu Hồ Chủ tịch do Huyện ủy huyện Trà Bồng tổ chức, lắng nghe Di chúc của Người và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bức tượng Hồ Chủ tịch tạc từ thân cây quế được trang trọng đặt lên bàn thờ để mọi tấm lòng hướng về Người trong niềm đau thương xúc động. Tại buổi lễ này, các già làng người Kor đã đề đạt nguyện vọng của đồng bào “muốn mang họ Bác Hồ” thể hiện tấm lòng trung thành với Đảng, ghi nhớ công ơn và làm theo lời dạy của Cụ Hồ. Khi nhận được kiến nghị này, đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng đã điện trả lời, đại ý: Trung ương Đảng không chủ trương việc đồng bào mang họ Bác, nhưng đây là nguyện vọng của dân, tấm lòng của dân, nên Trung ương đồng ý. Từ đó đến nay, đã 42 năm người Kor vinh dự và tự hào được mang họ Bác Hồ – Người cha của 54 dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam.

Vùng đất quế Trà Bồng năm xưa, nay là 2 huyện Trà Bồng và Tây Trà, đang chuyển mình từng ngày trong sự nghiệp đổi mới, xóa bỏ lạc hậu, đói nghèo, xây dựng quê hương giàu đẹp. Điện lưới quốc gia, trường học, trạm y tế, đường giao thông bê tông đã về tận các bản làng. Vùng căn cứ địa cách mạng trên núi Cà Đam – cao hơn 1.000 m so với mực nước biển đã kiêu hãnh trong 2 cuộc kháng chiến, giờ đây đang được khảo sát, quy hoạch chi tiết để xây dựng thành khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái.

Và trên mảnh đất ấy, lời thề suốt đời theo Đảng, theo Bác Hồ vẫn ngan ngát trong hương quế Trà Bồng. Già làng Hồ Chí Khánh – một trong những cán bộ lão thành của huyện Trà Bồng hiện ở thôn 2, xã Trà Thủy tự hào: Là con cháu của Bác Hồ, đồng bào dân tộc Kor Trà Bồng rất tự hào với truyền thống cách mạng của quê hương. Trong những năm gần đây, người Kor một lần nữa được tiếp thêm sức mạnh mới thông qua Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là cuộc vận động lớn của Đảng, do đó mọi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện Trà Bồng đã có sự chuyển biến tích cực về nhận thức tư tưởng, ý thức rèn luyện đạo đức, lối sống; tinh thần tự phê bình và phê bình, ý thức, trách nhiệm của đảng viên đối với Đảng được nâng cao. Và ngày 22/5 tới, ngày toàn dân tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, là con cháu Bác Hồ, già cùng các con cháu là cử tri ở các bản làng sẽ hăng hái tham gia bầu cử để bầu ra những đại biểu tiêu biểu nhất của Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Nguyễn Đăng Lâm

baotintuc.vn

Truyền hình Thông tấn

Năm 69 (*)

TT – Khi nhớ lại năm 1969, tâm trí tôi luôn thấy hiện lên một màn mưa trắng trời, một triền sông ngầu đỏ, mênh mông cuộn xiết, nặng nề lao chảy như sắp cuốn phăng đi cả đôi bờ.

Một mùa thu cùng một Hà Nội chưa từng thấy bao giờ trước đó và không bao giờ còn thấy lại nữa, mà bốn chục năm qua rồi không phai mờ trong ký ức.

Các cháu thiếu nhi Hà Nội vào viếng Bác Hồ tại hội trường Ba Đình
Ảnh: HỮU CẤY

1. Mùa thu gian nan, triền miên mưa bão. Năm nào cũng thế, nhưng chừng như càng vào sâu trong cuộc chiến thì lũ sông Hồng càng năm càng lớn thêm lên. Trước rằm tháng bảy đã rất nguy cấp, sau rằm còn nguy cấp hơn. Đến giữa tháng 8 thì thanh niên nam nữ cả phố tôi tất tật không trừ ai được tổng huy động đi hộ đê. Thật ra là toàn bộ thành phố. Đàn ông trai tráng trên mặt đê. Phụ nữ tham gia vận chuyển đất đá lên đê.

Tới ngày Quốc khánh mực nước đã xuống nhiều nhưng chúng tôi vẫn dốc sức tiếp tục tôn cao và đắp dày thêm đoạn đê xung yếu. Đến tảng sáng mồng bốn, đang ngủ thì tôi bị lay dậy để lên xe về nhà…

2. Lúc đó khoảng bảy giờ sáng, xe chúng tôi đang trên cầu Long Biên. Cả hai chiều của cây cầu độc đạo qua sông Hồng đều đông nghịt, chen chúc người và xe, chuyển động chầm chậm từng bước chân, từng vòng bánh. Không tiếng còi xe hơi, không tiếng chuông xe đạp, không một tiếng nói tiếng cười, không cả những tiếng chân bước mặc dù dòng người vẫn đang không ngừng chuyển động.

Mặt ướt nước mưa và đang mắt nhắm mắt mở nhưng chỉ trong chốc lát tôi đã nhận ra mọi người, tất cả, hàng ngàn con người, trên suốt dọc chiều dài gần hai cây số của cây cầu ngang qua luồng nước xiết đều đang vừa đi vừa khóc, đúng hơn là lặng khóc, khóc không thành tiếng.

Bởi vì im ắng vô cùng. Người đi bộ dọc hai bên lan can cầu, đi tay không hoặc đang gồng gánh, người đang đạp xe, người đang dắt xe, những người đang đứng trên các thùng xe tải, người ngồi trong các xe chở khách. Những anh bộ đội. Những người dân phố. Những người dân quê. Bước đi và khóc, trong mưa.

Tám đứa chúng tôi trên thùng xe và cả anh tài xế trong cabin đều là những kẻ từ trên trời rơi xuống. Cả tuần liền bám trụ đê, lội bùn đội đất, ngơi tay là lăn ra ngủ, chúng tôi bị mưa lũ cô lập với thế gian. Vậy nhưng chỉ giây lát thôi, nhìn nỗi thương đau nhất loạt cùng lúc của cả một dòng người đông nghịt đang nghẹn ngào bước đi trong mưa, chúng tôi hiểu ngay ra sự thể.

“Bác Hồ…”. Một ai đó trong chúng tôi thảng thốt thì thào, ngập ngừng. Không dám chắc chắn điều mình nghĩ, nhưng chúng tôi đều đã cảm nhận chắc chắn điều đó. Bởi vì đối với chúng tôi, ngay cả trong thời kỳ rất nhiều đau thương ấy thì một nỗi đau lớn lao, nặng nề, sâu thẳm và muôn người như một đến nhường ấy chỉ có thể là do một duyên cớ duy nhất ở trên đời mà thôi.

Đúng lúc đó, một đầu tàu xe lửa không kéo theo toa, một mình chạy không tải qua cầu, từ Hà Nội sang Gia Lâm, khi ngang qua chỗ chúng tôi đã bất thần rúc còi. Có thể nói đầu tàu ấy cất tiếng than. Không phải về sau mường tượng lại mà tôi nói thế, mà thật sự là như thế, đấy là tiếng kêu, như của con người. Lập tức, một chiếc tàu kéo neo đậu đâu đó ở mạn Phà Đen cũng cất lên tiếng còi. Rồi từ phía ga Gia Lâm, nhiều đầu xe lửa khác đồng loạt cất tiếng. Những tiếng còi tàu đớn đau khản đặc vang vọng trong màn mưa.

Phía dưới, bên chiếc xe chở chúng tôi, một phụ nữ đang dắt xe đạp bỗng bật khóc thành tiếng. Cả ngàn người không thể cầm lòng đã không cầm được nước mắt. Tiếng nức nở truyền dọc đoàn người, lan đi trên cầu, ngang qua triền sông…

3. Năm tháng trôi qua, giờ đây nhìn về thời điểm ấy, qua những bức ảnh và thước phim tư liệu, người ta thường thấy một Hà Nội nước mắt. Nhưng những ai từng thật sự trải qua những ngày đó khi nhớ lại đều sẽ nhớ đến một Hà Nội trầm lắng, cương nghị. Cả một thành phố cắn chặt răng lại chịu đựng để trụ vững, vượt qua nỗi đau tột cùng.

Hồ Chủ tịch qua đời, mất mát lớn lao đó đã khiến toàn dân sát cánh bên nhau hơn bao giờ hết, biến nỗi đau thương thành sức mạnh. Nghe những lời đó, ngày nay người ta có thể thấy là văn vẻ và đại ngôn. Song với những ai đã sống trong lòng Hà Nội vào mùa thu năm 1969 thì khi nghe nhắc lại những lời tưởng như là khẩu hiệu ấy sẽ nhìn thấy lại rõ ràng tâm trạng, ý chí, nghị lực, bản lĩnh của chính bản thân mình, gia đình mình, bạn bè, hàng xóm của mình ngày đó.

Với những người ở lứa tuổi chúng tôi, sinh ra trong những năm 1950, 1951, 1952, nhập ngũ từ khoảng năm 1968 trở về sau, nếu được hỏi năm nào là năm ác liệt nhất trong đời bộ đội đều nói là năm 1972, tuy nhiên gian khổ nhất, nguy nan nhất thì hầu hết xác định là năm 1969, 1970. Đấy là thời sau Mậu Thân, mà cũng nhiều người gọi là “thời kỳ đầu sau ngày Bác mất “.

Làm thế nào, nhờ vào đâu nhỉ mà đồng đội mình và chính bản thân mình có thể chịu đựng được, trụ vững được trong những ngày tháng vượt quá xa sức chịu đựng của con người như vậy để rồi vượt qua, gồng mình gượng dậy, vươn dậy; để rồi cuối cùng tiến được tới ngày toàn thắng?

Tháng 9-1969, ngày tập trung tân binh của khu đội Ba Đình lẽ ra là mồng bảy, đã phải lùi tới ngày 15. Một là vì nguyện vọng của anh em chúng tôi muốn được lưu lại Hà Nội trong tuần quốc tang để được xếp hàng cùng mọi người vào hội trường Ba Đình viếng Bác, hai là vì số lượng thanh niên tình nguyện nhập ngũ nhiều lên vô kể trong những ngày ấy. Tình nguyện một cách quyết liệt, mong mỏi được lên đường ngay, không chấp nhận nán chờ đến đợt sau. Tất nhiên không riêng khu Ba Đình, không riêng Hà Nội mà cả nước, địa phương nào cũng thế.

Đợt tân binh mùa thu năm ấy, được gọi là đợt 969, đoàn 969, là một đợt mà trong đó rất nhiều người là con trai cuối cùng hoặc là con trai độc nhất của các bà mẹ, nghĩa là những người vốn không thuộc vào diện được gọi tòng quân nhưng vẫn nhất định dứt áo ra đi lên đường chiến đấu.

Trong tiểu đoàn tân binh chúng tôi hồi đó có cả một số bạn học đã có giấy gọi vào đại học trong nước và cả nước ngoài. Có người đã trên tàu liên vận tới biên giới Việt – Trung rồi, nghe tin Bác mất thì xuống tàu, quay trở về Hà Nội nhập ngũ…

4. Ngày 30-4-1975, khắp cả nước đâu đâu cũng vang dậy bài ca Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Khi đó đang ở Sài Gòn, lần đầu tiên nghe thấy bài hát ấy, trước mắt những lính 969 chúng tôi, tất nhiên, một cách không thể nào khác được, hiện lên cảnh tượng Hà Nội mùa thu năm 1969. Mà với riêng tôi thì cụ thể là khoảnh khắc đó, trên cầu Long Biên, ngang qua giữa sông Hồng sóng xô cuồn cuộn, khoảnh khắc thoạt tiên và bất thần, choáng váng biết tin Hồ Chủ tịch đã qua đời.

Biết tin Bác mất nhưng không phải là do nghe thông báo qua đài phát thanh, mà là nhìn thấy tin đó ở thần sắc và tâm khảm của tất cả mọi người, cảm thấy tin đó từ trong không gian đất trời.

BẢO NINH (nhà văn)

(*) Trích đăng từ báo Văn Nghệ Trẻ.

_________________________

Chúng tôi khóc trong rừng miền Đông

40 năm rồi mà ký ức về những ngày tháng “đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa” vẫn làm trái tim 82 tuổi của nhà văn Sơn Tùng run lên vì xúc động. Ông kể với Tuổi Trẻ về một lễ tang đặc biệt nhất trong cuộc đời mình – lễ tang Bác Hồ trong chiến khu miền Đông Nam bộ tháng 9-1969.

Chúng tôi đóng quân tại trảng Tà Nốt, thượng nguồn sông Vàm Cỏ, sát Tân Biên, Tây Ninh. Ngày ấy tôi là người phụ trách kiêm phóng viên của báo Thanh Niên Giải Phóng. Lãnh đạo cơ quan có anh Đoàn Hồng Đoàn – bí thư trung ương Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng, anh Lê Thiết – phó chủ tịch Hội LHTN Giải phóng (chủ tịch là anh Trần Bạch Đằng lúc đó đang vào nội thành), anh Phan Minh Tánh, anh Mười Thu, nhân viên văn phòng có Hai Trung, Út Nhì, Năm Nhanh, Hồ Hữu Nhật, trạm xá có bác sĩ Bích Nga, phóng viên có Phạm Hậu, Tâm Tâm (Tiền Phong)…

Tôi nhớ từng người như vậy vì chúng tôi đã ngồi quanh chiếc đài để nghe tin tức chiến sự và các hoạt động mừng ngày 2-9. Tối hôm đó, chúng tôi còn tổ chức mừng Quốc khánh bằng một “bữa tiệc” với lạc rang, rượu đế và nước trà. Không có ly chén, chỉ có hai chén, một rót rượu, một rót trà, chúng tôi quay vòng, chuyền tay nhau. Và chờ đợi.

Nhưng suốt cả ngày rồi đến đêm, chiếc đài vẫn nói và Bác vẫn không xuất hiện. Anh em tôi ngồi trong những căn nhà – hầm bán âm bán dương để tránh pháo bầy và bom B52, không khí nặng nề. Hôm sau dường như cũng không chịu nổi, anh Thép Mới ở bên báo Giải Phóng cũng chạy sang, bần thần: “Sơn Phong (bút danh của tôi thời ở chiến khu) ạ, tao vừa sang nhờ bên kỹ thuật điện ra Bắc hỏi sao không thấy Bác, anh em băn khoăn lắm”. Chúng tôi lại chờ đợi. Chúng tôi không ngủ suốt đêm đó.

5g hôm sau, ngày 4-9-1969, giọng nghẹn ngào của phát thanh viên Tuyết Mai từ Đài Tiếng nói VN, vừa mới nghe được nửa câu đầu: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ nước VNDCCH…” cả căn hầm đã bật khóc, tiếng khóc nghẹn ngào rồi òa lên nức nở. Cả cơ quan khóc ròng.

Tôi nhớ người đầu tiên chạy đến ôm lấy tôi nấc lên từng đợt là giáo sư Lê Thiết – người bạn thân thiết của luật sư Nguyễn Hữu Thọ và KTS Huỳnh Tấn Phát – bỏ thành lên chiến khu, ngày đêm mong ước hòa bình được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Ông nghẹn giọng: “Tùng ơi, thế là không khi nào mình còn được gặp Bác Hồ nữa rồi”.

Cả cơ quan u ám. Cơm đã dọn ra nhưng không ai ăn, bữa sáng, rồi bữa trưa, bữa tối cũng vậy. Chỉ những ai có việc phải đi công tác thì đi, vừa đi vừa khóc.

Chúng tôi quyết định tổ chức lễ truy điệu Bác Hồ ngay trong rừng. Bàn thờ Bác được kết băng hoa, chị em đi về hằng ngày luôn thay hoa mới. Chúng tôi đeo những chiếc băng tang nửa đỏ nửa đen. Sáng ra, đều đặn những bát cơm được đặt lên bàn thờ – như ở nhà chúng tôi cúng cha mẹ mình.

Tôi nhớ nhất trong những ngày ấy, có một tờ báo từ Sài Gòn đưa lên có bài của giáo sư Lý Chánh Trung viết về Bác. Trên tờ Đối Diện, từ giữa Sài Gòn, ông viết về Bác Hồ cực kỳ trân trọng và cảm động. Có những câu tôi thuộc lòng đến tận hôm nay.

Cũng chính từ lúc đó, tôi bắt đầu ghi chép những chi tiết về tang lễ và tình cảm của đồng bào, đồng chí với Bác để viết tập Nhớ nguồn: trí thức, sinh viên nội thành, chiến khu, đồng bào trong ấp chiến lược… nhớ Bác, anh em trinh sát ở Tháp Mười còn để tang Bác trong mùa nước nổi không một tấc đất nào nhoi nổi trên mặt nước.

VIỆT HOÀI ghi

tuoitre.vn

Tấm lòng người dân Thái Lan với Bác Hồ

Báo tin tức – Nhiều thập niên qua, không chỉ cộng đồng Việt kiều mà cả người dân Thái, nhất là ở vùng Đông Bắc nước này, vẫn còn nhắc mãi về một người làm cách mạng có tên là Thầu Chín với tấm lòng thương yêu và trân trọng. Những tình cảm và kỷ niệm sâu sắc về Người luôn được nhân dân Thái Lan trân trọng giữ gìn và ngày càng được vun đắp, góp phần tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

Nhà cách mạng Thầu Chín

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi khắp năm châu bốn biển. Người đã từng đến sống và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở các tỉnh Udon Thani, Phichit, Nong Khai, Sakon Nakhon và một số nơi khác ở Thái Lan; để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc và tình cảm tốt đẹp với con người xứ sở này.

Biểu diễn văn nghệ kỷ niệm lần thứ 121 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tại Làng Hữu nghị Thái – Việt.

Làng hữu nghị Thái-Việt ở tỉnh Nakhon Phanom được xây dựng và khánh thành vào năm 2004, để ghi nhớ một thời Bác Hồ đã sống và hoạt động tại đây với tên là Thầu Chín. Đó đồng thời là một trong những biểu tượng minh chứng cho tình hữu nghị giữa hai nước, sự yêu quý ngưỡng mộ của nhân dân Thái Lan, nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch.

Thầu Chín là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Xiêm, nay là Vương quốc Thái Lan, trong thời gian từ năm 1928-1929. Thầu là tiếng Thái Lào, để gọi người nhiều tuổi và biểu thị sự tôn kính. Câu chuyện về cộng đồng người Việt cùng với Thầu Chín trên đất Xiêm ngày ấy đã vượt thời gian, trở thành một phần giá trị tài sản tinh thần, đặc biệt là ở những nơi dấu chân Người đã đi qua, giúp nở hoa hữu nghị.

Được Việt kiều và nhân dân yêu nước Thái che chở trước sự truy lùng của mật thám Pháp, Thầu Chín ở Nakhon Phanom cho đến tháng 11/1929 thì sang Trung Quốc, sau đó về Việt Nam chỉ đạo cách mạng. Ngoài bí danh Thầu Chín, một vài bí danh khác của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng được Việt kiều tại Thái Lan nhắc đến với lòng kính trọng.

Theo tài liệu ghi nhận, từ bản Mạy ở Nakhon Phanom, nhà cách mạng Thầu Chín thường có mặt tại các bản Noọng Xén (cùng tỉnh Nakhon Phanom), bản Đông thuộc tỉnh Phichít, bản Noóng Ổn tỉnh Udon Thani…

Đến đâu Người cũng mang đến luồng sinh khí mới cho cuộc sống của bà con Việt kiều tại đó cùng với rất nhiều câu chuyện, rất nhiều thông tin được truyền đến bà con bằng phong cách nói chuyện rõ ràng và dễ hiểu, với sự hiểu biết rất rõ về tình hình kiều bào ở Thái Lan.

Bằng sự lôi cuốn và cảm hóa, Người mở mang tầm nhìn, cách nghĩ cho bà con qua các câu chuyện giản dị mà ẩn chứa nhân sinh quan sâu sắc, phổ biến cho bà con những kiến thức bổ ích về cách thức cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn quả, tìm chỗ đất thấp đào ao thả cá.

Người vận động bà con xin phép chính quyền sở tại mở lớp dựng trường dạy chữ Quốc ngữ cho con em, động viên người lớn học cả chữ Thái, chữ Việt để biết những điều cần thiết cho cuộc sống hiện tại, đồng thời tạo nền móng cho quá trình học tập lâu dài để có những kỹ năng tự phân tích, tự tổng hợp ứng dụng vào làm ăn.

Và bao trùm lên tất cả là học để làm người, để có khả năng làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh, để đủ hiểu biết mà chung sống hòa hợp với các cộng đồng có văn hóa khác nhau.

Biểu tượng của tấm lòng cao cả

Nhân dịp lễ kỷ niệm lần thứ 121 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lần thứ 100 ngày Người ra đi tìm đường cứu nước vừa tổ chức ở Làng Hữu nghị Thái-Việt, Tỉnh trưởng tỉnh Nakhon Phanom, ông Lơngxặc Vinittraimôntri nói rằng, tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Thái Lan được vun đắp từ nhiều năm nay, nhất là từ thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tại làng Najok trong những năm 1928-1929. Nơi đây đã trở thành khu di tích, địa điểm du lịch mang tính lịch sử và văn hóa quan trọng của Thái Lan.

Khi bản Mạy, bản Noóng Ổn, bản Noọng Xén… của xứ “chùa Vàng” đã thành địa chỉ khá đặc biệt trong biên niên giữ nước của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XX, những tình cảm và kỷ niệm tốt đẹp về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thái Lan tiếp tục được giữ gìn và là biểu tượng tốt đẹp cho tình hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.

Khi dẫn đầu đoàn Việt Nam vừa sang thăm Thái Lan và trao các huân chương, huy chương và bằng khen cho bà con kiều bào có nhiều đóng góp với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Thứ trưởng Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Người Việt Nam ở Nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn nói: “Thái Lan là địa bàn mà Bác Hồ của chúng ta đã sinh sống, học tập và hoạt động cách mạng. Tổ chức Việt kiều yêu nước tại Thái Lan cũng được Bác Hồ tổ chức, thành lập và xây dựng từ ban đầu cho nên quan hệ giữa nước ta với Thái Lan đang ngày càng được củng cố và phát triển tốt đẹp”. “Hy vọng trên đất nước Thái Lan, với sự kính trọng của nhân dân Thái dành cho Hồ Chủ tịch, các khu di tích lưu niệm về Bác Hồ ở bản Mạy và một số nơi khác sẽ được quan tâm và chúng ta sẽ cùng Thái Lan xây dựng những khu di tích đó xứng đáng với tình cảm, sự kính trọng của nhân dân hai nước dành cho Bác, xứng với vị thế và vai trò của Người trên thế giới”, Thứ trưởng nói thêm.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, các khu di tích và công trình ở Udon Thani, Khon Kaen cũng sẽ được Đảng và Chính phủ quan tâm đầu tư để tương xứng với một quốc gia có ngàn năm văn hiến như Việt Nam – đất nước luôn được bạn bè thế giới, trong đó có Thái Lan, ngưỡng mộ và khâm phục.

Bác Cao Văn San, Chủ tịch Tổng hội lâm thời người Việt Nam tại Thái Lan, cho hay, hai tiếng Bác Hồ hết sức thiêng liêng đối với kiều bào và tình cảm của Việt kiều đối với Bác Hồ là không bao giờ phai nhạt.

Vào dịp 19/5 hằng năm, bà con Việt kiều thường tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của Bác, thắp hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương sáng về đạo đức và sự tận tụy với Tổ quốc, nhân dân.

Bài và ảnh: Ngọc Tiến (P/v TTXVN tại Thái Lan)

baotintuc.vn

Người dành trọn đời viết sách về Bác Hồ

Báo tin tức -Ít ai biết tại tỉnh Hà Nam có một kỹ sư nông học đã cần mẫn bao năm sưu tầm, lưu giữ và rất tâm huyết với việc viết về Bác. Đó là ông Nguyễn Thế Nữu, ở xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên.

Ông Nữu năm nay đã 80 tuổi, nhưng vẫn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Ông tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng chừng 30 m2 được bài trí đơn giản. Ngoại trừ một bộ bàn ghế uống nước, một chiếc tivi, một chiếc máy vi tính, còn lại là sách được xếp cao đến tận nóc nhà. Phòng sách của ông có nhiều sách quý, hiếm trong và ngoài nước.

Ông Nữu bên tủ sách dày công sưu tập. Ảnh: Nguyễn Loan

Ông Nữu tự hào khoe, để có được bộ sưu tập với hơn chục ngàn cuốn sách này, ông đã phải lặn lội sưu tầm từ khi còn là sinh viên. Năm 1953, khi được cử sang Trung Quốc học chuyên ngành Nông học tại Viện Nông học Hoa Nam (Quảng Châu), ngoài thời gian học tập chuyên ngành, ông lặn lội khắp Quảng Châu để tìm các loại sách về chữ Hán và về Hồ Chủ tịch. Có bao nhiêu tiền ông bỏ hết vào việc mua sách. Ông kể: “Sau khi về nước nhận công tác ở Bộ Nông nghiệp, rồi làm việc tại Công ty Giống cây trồng Hà Nam Ninh, mặc dù bận công tác nhưng hễ có thời gian rảnh là tôi lại mày mò khắp các bảo tàng, thư viện ở Hà Nội, Hà Nam Ninh (cũ), rồi vào thư viện của các trường học để sưu tầm sách về Bác. Năm 1991, tôi có dịp quay lại Trung Quốc để học tập kinh nghiệm trồng giống lúa lai, tôi tranh thủ thời gian đi khắp các tỉnh như Hồ Nam, Quảng Châu… để tìm kiếm sách”.

Sưu tầm và viết sách về Bác Hồ là niềm đam mê cả đời của ông Nữu. Trong thời gian công tác, mặc dù bận nhiều việc, phải đi nhiều nơi nhưng không khi nào ông xa rời niềm đam mê này. Sẵn có vốn tiếng Hán trong tay, mỗi khi có thời gian rảnh là ông lại đem các quyển sách chữ Hán mà ông sưu tầm được ra dịch. Ông tâm sự: “Ngay khi về Ty Nông nghiệp của tỉnh Nam Định (sau là Sở Nông nghiệp Hà Nam Ninh), tôi đã xác định mình sẽ sống chết cùng cây lúa với vùng đất này. Sự nghiệp nghiên cứu khoa học và sưu tầm sách sẽ là động lực chính để mình thực hiện quyết tâm”. Năm 1991, ông nghỉ công tác. Lúc này ông dành trọn tâm trí mình vào công việc viết sách. Cuốn sách đầu tay ông cho ra mắt là cuốn “Thưởng thức thơ Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký” dài 643 trang do NXB Khoa học Xã hội phát hành năm 2005.

Nhắc đến cuốn sách đầu tay, mắt ông lại sáng lên: “Đây là cuốn sách về Bác Hồ mà tôi phải mất hơn 20 năm sưu tầm và dịch ra. Cuốn sách chủ yếu là thơ chữ Hán đã được tôi dịch ra tiếng Việt có bình luận”. Ông khoe: “Lúc đó tôi nhớ là mình được trả 5,5 triệu đồng tiền nhuận bút. Tôi dùng luôn số tiền này mua được 110 quyển sách vừa in ra đem đi tặng bạn bè”.

Cầm cuốn sách trên tay, chúng tôi lật trang đầu thấy ngay dòng chữ do Giáo sư Phong Lê, nguyên Viện trưởng Viện Văn học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) viết: “Đọc ông Nữu, tôi không thấy có sự khập khiễng nào so với bất kỳ các tác gia nghiên cứu văn học cả về vốn tri thức và năng lực phân tích cảm thụ”. Tôi vừa đọc đến đây, ông Nữu cười vui: “Tôi nghiên cứu sách là do niềm đam mê của mình. Còn viết sách là phần lớn để “trả nợ”. Số là, trong một dịp gặp Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, sau khi nói chuyện, giáo sư đã khuyên tôi nên dịch và tổng hợp lại thành sách để thế hệ sau có thêm một tài liệu đầy đủ về thơ Hồ Chí Minh. Thế là kế hoạch 25 cuốn sách về Bác, trong đó có 13 quyển về thơ ca, 12 quyển kể chuyện về Người ra đời. Ngay khi cuốn đầu tay còn đang trong dạng bản thảo, rất nhiều người đã động viên và nhận lời viết “Lời giới thiệu” cho sách như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS Phong Lê, GS Nguyễn Lân Dũng, PGS.TS Trần Đức Cường… Trước sự tin tưởng của mọi người, tôi như thấy mình phải cố gắng hoàn thành để trả nợ”.

Hiện tại, ngoài cuốn “Thưởng thức thơ Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký”, ông đã cho ra mắt thêm 2 cuốn sách nữa là “Từ điển Ngục trung nhật ký” dài 620 trang do NXB Nghệ An phát hành, và cuốn “Bác Hồ – Người trồng cây vĩ đại” dài 260 trang do NXB Nông nghiệp phát hành.

Hưng Phương

baotintuc.vn

Người cựu binh và thư viện về Bác

TTO – Suốt gần 50 năm qua, ông Nguyễn Văn Mùi (khu đô thị Nam Cường, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương) cất công tìm giữ những tư liệu về Bác Hồ. Thời gian nghỉ hưu, ông tập hợp tư liệu thành những cuốn sách gửi tặng bảo tàng. Nhà ông đã từ lâu trở thành “thư viện” để mọi người tìm đến mỗi khi muốn đọc sách, xem phim, nghe kể chuyện về Bác…

Ông Nguyễn Văn Mùi giới thiệu các cuốn sách viết về Bác Hồ do ông biên soạn

Những kỷ vật cuộc đời

Sinh năm 1940, ông Mùi đã 2 lần tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. “Biết bao anh lính trẻ như tôi hồi ấy chỉ ao ước được gặp Bác một lần”, ông bộc bạch. Những ngày tháng phục vụ trong quân ngũ, hễ thấy tư liệu về  Bác, anh lính Nguyễn Văn Mùi liền ghi chép, cắt dán và cất kĩ trong ba lô, mang đi khắp các chiến trường. Năm 1974, xuất ngũ và được giao nhiệm vụ phụ trách đội lái xe của Cục vận tải, có điều kiện được đọc nhiều sách báo nói về Hồ chủ tịch, ông tiếp tục sưu tầm được thêm nhiều tư liệu quý.

Cuốn tạp chí lí luận Học tập của Đảng Lao động Việt Nam số đặc biệt ra tháng 9-1969 với nội dung: “Vô cùng thương tiếc chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến” đã ố màu được ông Mùi quý nhất, cất giữ rất cẩn thận. Ông tự hào: “Đây là cuốn tạp chí duy nhất tập hợp đầy đủ những thông tin về lễ quốc tang Bác Hồ và 25 điện chia buồn của các quốc gia trên thế giới, hiện không mấy người giữ được”.

Ngoài những tài liệu từ sách báo, kho tư liệu của ông Mùi còn có 200 cuộn phim, video nói về Đảng, nhà nước, và cuộc đời các đồng chí lãnh đạo, trong số ấy có tới 130 bộ phim nói về cuộc đời Bác. Ông Mùi khóc: “Xem phim “Những giờ phút cuối đời của Bác Hồ” mà thương Bác lắm! Cả cuộc đời Bác chịu bao khổ cực, đến lúc nhắm mắt mà Người vẫn canh cánh lo đất nước còn chia cắt 2 miền…Con người Bác, đến lúc từ giã cuộc đời, chỉ duy nhất một nỗi niềm dân nước!”

Biên soạn sách về Bác

Ông Mùi tâm sự: “Trong những năm tham gia quân ngũ, ba lô của tôi có thể thiếu khăn mặt, bàn chải đánh răng, thiếu ảnh người thân nhưng không bao giờ thiếu tư liệu về Bác. Với tôi những quyển sách, tấm ảnh, cuộn phim về Bác được xem như kỷ vật quý theo suốt cuộc đời mình”.

Tháng 9-2007, ông đạt giải nhất cuộc thi tháng “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tháng 6-2008, giải xuất sắc cuộc thi chung khảo “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do ban Tuyên giáo Trung ương phát động.

Cách đây 2 năm, ông bị tai nạn liệt nửa người, đi lại bằng xe lăn nhưng hễ nghe tin ở đâu có người cất giữ tư liệu về Bác là ông lại cất công đến tận nơi tìm hiểu. Bất chấp tình hình sức khỏe, những ngày này, ông Mùi vẫn đang biên soạn những trang cuối cùng cho cuốn sách nhân ngày kỉ niệm 40 năm Bác ra đi vào cõi vĩnh hằng.

“Không có gì quý hơn độc lập tự do”, đó là nhan đề tập sách dày hơn 400 trang, đóng bìa cứng mạ đồng xuất bản năm 2006 do ông Mùi kì công sắp xếp, biên tập lại từ những tư liệu mà ông thu thập được. Giải thích về nhan đề cuốn sách ông Mùi cho biết: “Tôi phải mất cả tuần mới nghĩ ra được tiêu đề ý nghĩa ấy. Cả cuộc đời không giây phút nào Bác không nghĩ đến độc lập tự do cho dân tộc!”

Năm 2007, ông Mùi tiếp tục biên soạn cuốn sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” nói về gia đình, dòng họ của Bác. Cuốn sách dầy hơn 500 trang, đóng bìa vân rất đẹp đã được ông gửi tham dự cuộc thi “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do ban Tuyên giáo Trung ương phát động. Nói về tâm nguyện của ông Mùi, Đại tá Nguyễn Trung Hiếu – nguyên chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hải Dương tâm sự: “Tôi thường xuyên đến “thư viện” của ông bạn già để tìm hiểu nhiều tư liệu quý về Bác mà bây giờ muốn mua, muốn sưu tập cũng không dễ. Có những cuốn sách đọc vài ba lần, những bộ phim xem hàng chục lần vẫn không chán. Thiết nghĩ, những tài liệu này mà được sử dụng trong trường học, công tác đoàn hay trong quân đội thì sẽ trở thành những bài học chân thực và xúc động cho các bạn trẻ”.

Những tài liệu trong cuốn sách đã được ông Mùi lặn lội lên tận Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) kiểm tra độ xác thực thông tin. Ông nhớ lại: “Ban giám đốc bảo tàng lúc ấy đã nhiệt thành đọc, nghiên cứu những tài liệu của tôi. Thật vui vì không có chi tiết sai!”. Sau này, khi cuốn sách chính thức hoàn thành, trình bày và scan ảnh đâu đấy, ông Mùi lên tận Hà Nội, đích thân trao tặng bảo tàng. Lật giở những “trang đời” hoạt động cách mạng của Bác, đôi mắt ông ngấn nước: “Con cháu thế hệ mai sau sẽ đọc, sẽ tìm hiểu về cuộc đời Bác Hồ và những tư tưởng của Người. Phải giáo dục cho thế hệ trẻ lòng tôn kính với lịch sử dân tộc và những con người làm nên lịch sử. Quý lắm, giá trị lắm!…”

Ngoài những cuốn sách do tự tay ông Mùi biên soạn, các tấm ảnh, bài báo cũ về Bác cũng được ông đóng ghim cẩn thận thành từng tập theo những chủ đề riêng, đặt gọn gàng trên giá gỗ để ngoài phòng khách. Mỗi khi có người đến chơi ông lại giới thiệu kỹ càng từng tài liệu, từng chủ đề, ai muốn mượn ông ra điều kiện: phải để lại địa chỉ, số điện thoại và đem trả đúng thời hạn.

THÂN HOÀNG – ANH NGỌC

tuoitre.vn

Họa hình Bác bằng đầu ngón tay

Một chú bộ đội lấy ra trong bóp bức ảnh Bác Hồ đưa cho Tiến vẽ thử. Cậu bé ngắm nghía rồi tò mò hỏi: “Người trong ảnh là ai?”. Chú bộ đội bảo: “Đó là ông tiên, khi nào đất nước hết chiến tranh, cháu sẽ được gặp ông tiên”. Thế là Tiến say sưa vẽ ông tiên ngay trong đêm dưới ánh đèn dầu…

Ký ức thời gian khổ

Sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo bị chiến tranh tàn phá (xã Phú Đức, huyện Châu Thành, Bến Tre), Đoàn Việt Tiến nhớ mãi hình ảnh cha cõng trên lưng cùng mẹ dìu dắt các anh em vượt sông Tiền sang Mỹ Tho nương náu. Cậu học trò gầy nhom ở xóm chợ Vong Nhỏ thời ấy đã ý thức rất sớm chuyện cơm áo, gạo tiền. Một buổi đi học, một buổi Tiến cùng các anh bán bánh mì, đẩy củi thuê. Tiền kiếm được Tiến dành dụm mua áo quần, dụng cụ học tập và sướng nhất là sắm được các tuýp màu nước.

Tiến mê vẽ từ những năm học vỡ lòng. Buổi chiều khi xong việc, Tiến thường thơ thẩn bên bờ sông Tiền nhìn về quê ngoại Bến Tre. Đau đáu nỗi nhớ nhà, Tiến vẽ dòng sông, con đò và chiến tranh khốc liệt với xe tăng, máy bay, tàu chiến…

Trong lần về quê ngoại, giữa gian nhà nơi ông bà bí mật nuôi giấu cán bộ cách mạng, cậu bé đã gặp được các chú bộ đội. Tiến trổ tài vẽ chân dung chú bộ đội. Ai cũng ngạc nhiên và khen bức ký họa có hồn.

Một chú bộ đội lấy ra trong bóp bức ảnh Bác Hồ đưa cho Tiến vẽ thử. Cậu bé ngắm nghía rồi tò mò hỏi: “Người trong ảnh là ai?”. Chú bộ đội bảo: “Đó là ông tiên, khi nào đất nước hết chiến tranh, cháu sẽ được gặp ông tiên”. Thế là Tiến say sưa vẽ ông tiên ngay trong đêm dưới ánh đèn dầu.

Ngày đất nước thống nhất, anh tiếp tục say sưa vẽ Bác. Chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ, anh cựu học sinh Trường THPT Châu Thành B (Bến Tre) tình nguyện sang Campuchia tham gia chiến đấu tại Sư 330 (Quân khu 9).

Từng ngón đảm nhận mỗi mảng màu sáng tối khác nhau. Riêng móng tay làm nhiệm vụ vét tỉa.

Tranh thủ lúc tạm ngưng tiếng súng, anh lại vẽ ký họa về Bác, về đồng đội và cuộc chiến. Bất cứ chất liệu gì có thể làm nên tranh vẽ đều được anh tận dụng, hết giấy học trò, vải thì dùng vỏ tràm, hết bút mực lại dùng than củi.

Năm 1984, Tiến xuất ngũ. Người thương binh 3/4 lại lao vào vật lộn với cơm áo, gạo tiền. Anh lang thang khắp các chợ từ Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long sang Trà Vinh, Cần Thơ, Đồng Tháp vẽ chân dung, kẻ bảng hiệu quảng cáo. Chợ tan, anh đạp chiếc xe đạp cà tàng len lỏi vào xóm xa nhận phục hồi ảnh thờ cũ.

Bôn ba khắp xứ, thay đổi chỗ ở trên 60 lần, vẽ vời đủ thứ nhưng tiền chỉ đủ trả tiền thuê nhà, cơm ngày hai bữa, túi cứ rỗng không, anh quyết định trở về quê nhà Bến Tre, vì dù sao nơi ấy anh còn có mẹ.

Mười năm khổ luyện ngón tay

Từ rất lâu, trong tim của Đoàn Việt Tiến luôn ấp ủ quyết tâm vẽ bộ sưu tập chân dung Bác Hồ.

Năm 1989, tình cờ sau cơn mưa, nhìn thấy tấm kính bị vỡ trước sân nhà, nắng rọi vào ánh lên sắc màu lung linh, anh nảy ra ý tưởng sao không thử vẽ chân dung Bác lên kính. Vậy là Tiến lao vào thử nghiệm. Cả trăm lần vẽ không thành, dùng cọ vẽ màu lên kính không xong. Đôi lúc quá mệt mỏi, anh lăn ra ngủ luôn tại chỗ.

Lần đầu tiên sau mười năm khổ luyện, bức chân dung Bác Hồ vẽ ngược trên kính khá hoàn chỉnh đã được Tiến trao tặng cho Hội Cựu chiến binh huyện Châu Thành (Bến Tre) nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Bác năm 1999.

Đoàn Việt Tiến dùng đầu ngón tay vẽ ngược chân dung Bác Hồ trên kính.

Năm sau, nghe báo, đài giới thiệu biệt tài của một họa sĩ vẽ ngược chân dung Bác Hồ trên kính, Bảo tàng Hồ Chí Minh tại TP.HCM cử người về xã Phú Đức mời Tiến về TP thực hiện bộ sưu tập chân dung Bác Hồ. Sau 100 ngày lao động cật lực, anh đã hoàn thành bộ sưu tập 30 ảnh bằng chất liệu màu dầu với ba khổ ảnh 50 x 70 cm, 60 x 90 cm, 80 cm x 1,2 m.

Ngày 3-2-2001 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tại TP.HCM, triển lãm ra mắt bộ sưu tập chân dung Bác do họa sĩ Đoàn Việt Tiến trao tặng đã thu hút đông đảo người xem. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhận xét: “Để thành công với phong cách mới, chất liệu vẽ mới…, không chỉ tài năng sáng tạo, người vẽ còn phải có một trái tim luôn hướng về Bác mới tạo nên thần sắc trong từng bức vẽ như vậy”.

Không ngơi nghỉ, Tiến tiếp tục vẽ 12 chân dung Bác Tôn tặng cho Bảo tàng Tôn Đức Thắng. Bức tranh vẽ ngược trên kính với khổ lớn nhất là chân dung thượng tọa Thích Quảng Đức (1,2 x 2,2 m) vẽ tại Tổ đình Quan Thế Âm (quận Phú Nhuận). Sau đó, anh quay về quê vẽ tặng cho Bảo tàng tỉnh Bến Tre 34 bức tranh về Bác Hồ với đời thường.

Chân dung Tiến chọn vẽ đa số là các bậc hiền tài, nhà lãnh đạo cách mạng kiệt xuất. Anh vẽ tặng chân dung nhà lãnh đạo cách mạng Cuba Fidel Castro đến hai lần, ngoài ra còn chân dung Che Guevara, nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Tranh và tấm lòng vì người nghèo

Đoàn Việt Tiến cho biết vẽ ngược trên kính có lợi thế là khi những mảng màu bám vào kính sẽ tạo ra bức tranh sắc nét, khó phai theo thời gian. Sau mỗi lần thất bại anh lại rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu. Với mười đầu ngón tay, từng ngón được phân công đảm nhận một mảng màu sáng tối khác nhau. Riêng móng tay giữ nhiệm vụ vét tỉa những đường cong hay nét nhỏ cho ảnh thêm sắc sảo.

Càng tập trung điều khiển ngón tay để vẽ, lắm lúc tay, chân và toàn thân anh tê cứng như người bị bại liệt. Năm 2003, do vẽ liên tục bằng đầu ngón tay ảnh hưởng đến tim và các dây thần kinh, Tiến phải nhập viện điều trị gần một tháng. Anh buồn ủ rũi, lo sợ hai bàn tay không còn uyển chuyển nhả màu. Nhưng vừa khỏi bệnh anh lại lao vào vẽ.

Vẽ chân dung thượng tọa Thích Quảng Đức.

Tiếng lành đồn xa về họa sĩ Việt Nam duy nhất vẽ tranh bằng ngón tay trên kính đã xác lập kỷ lục quốc gia (năm 2005), Tiến được mời sang biểu diễn giao lưu ở nhiều nước (Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Đức, Singapore, Ba Lan). Nhận lời mời của giáo sư viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng, Chủ tịch Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, từ năm 2007 đến nay anh đã hoàn thành 26 bức tranh trong bộ sưu tập chân dung các nhà vua Việt Nam.

Tranh của Tiến đặc biệt không bán. Anh mang biếu khắp nơi. Khi đã trở thành người nổi tiếng, sau mỗi chuyến xuất ngoại trở về, anh luôn nhận được rủng rỉnh các khoản thù lao, tặng thưởng của kiều bào và khách nước ngoài. Chỉ riêng chuyến đi Ba Lan 30 ngày anh đã nhận được tiền thưởng 20.000 USD. Có tiền, anh bắt đầu suy nghĩ làm từ thiện.

Tiến có rất nhiều mạnh thường quân là những người ngưỡng mộ tài năng của anh. Năm năm qua, chỉ riêng xã nhà Phú Đức anh đã huy động mang về 35 tấn gạo tặng người nghèo, góp trên 300 triệu đồng giúp địa phương xây dựng đền thờ liệt sĩ xã, đình làng cùng 17 ngôi nhà tình nghĩa, tình thương xây tặng cho người nghèo, người neo đơn tại Bến Tre, Tiền Giang.

Đoàn Việt Tiến tâm sự: “Càng tham gia từ thiện, cái tâm của mình càng thanh thản, phấn chấn. Tôi có cảm giác nét vẽ của mình thăng hoa hơn khi trải lòng ra vì mọi người”. Điều anh vui nhất là xây tặng mẹ ngôi nhà khang trang thay cho gian nhà trống trước dột sau để mẹ anh an hưởng tuổi già.

DƯƠNG THANH HUY
Pháp Luật TP.HCM

tuoitre.vn

Học Bác Hồ để mình tốt hơn

TTO – Thuở nhỏ, mỗi lần đọc báo, tạp chí gặp ảnh Bác Hồ là Thọ cắt dán cẩn thận vào quyển sưu tập ảnh Bác của mình. Lớn lên, em vào mạng Internet sưu tập thêm những ảnh Bác Hồ mà mình chưa có được…

Cậu học trò say mê sưu tập ảnh Bác Hồ là Đặng Hữu Thọ, ở xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, học sinh lớp 10 trường THPT Châu Thành B, tỉnh Bến Tre.

Đặng Hữu Thọ và album sưu tập ảnh Bác Hồ

Ông Đặng Hữu Lộc, cha của Thọ, nguyên là bộ đội cụ Hồ, kể: lúc nhỏ, nhìn thấy ảnh chân dung của bác Hồ, Thọ hỏi: “Hình của ai?”, ông nói: “Đó là ông cố Hồ của con”. Từ đấy, tối nào đốt nhang cho ông, bà, Thọ cũng đốt nhang cho ông  “cố Hồ” của mình. Ông “cố Hồ”, trở thành người thân trong lòng Thọ lúc tuổi còn thơ dại.

Thấy con kính trọng ông “cố Hồ”, ông Lộc hay kể những câu chuyện về Bác, đọc thơ về Bác. Bài thơ hai cha con tâm đắc nhất là bài “Bác ơi” của nhà thơ Tố Hữu:

“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!

Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch, chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”.

Ngày ngày, nghe cha kể những câu chuyện về Bác Hồ, tình cảm dành cho Bác trong Thọ cáng thêm sâu sắc. Từ cuối năm học lớp 1, bắt đầu đọc được báo, mỗi lần bắt gặp ảnh Bác Hồ là Thọ cắt dán cẩn thận vào quyển tập của mình. Ngày lại ngày, quyển tập sưu tập ảnh Bác của Thọ càng dày thêm, và đến nay thì Thọ còn có một album sưu tập ảnh Bác Hồ trên mạng Internet.

Hơn 10 năm say mê, Thọ đã có hơn 200 ảnh Bác Hồ. Không chỉ sưu tập ảnh Bác mà Thọ còn vẽ được chân dung Bác Hồ giống như thật. Ngoài sưu tập ảnh, Thọ còn sưu tầm thơ, bài viết của Bác, bài viết về Bác. Thọ tâm đắc: “Qua Bác, em học tập rất nhiều điều, đó là các đức tính: cần, kiệm, liêm, chính, giản dị. Em luôn khắc ghi câu nói của một nhà báo Úc: “Không ai có thể trở thành Hồ Chí Minh. Nhưng ở Hồ Chí Minh, mỗi người có thể học một số điều để làm cho mình tốt hơn”. Em đã học đức tính cần, kiệm, liêm chính của Bác trong học tập, thi cử; ở nhà thì học tập cách sống giản dị của Bác”.

Chân dung thanh niên Nguyễn Tất Thành do Thọ vẽ

Nói về con mình, ông Lộc kể: Biết gia đình nghèo, cha làm thuê, mẹ bán rau, cải ở chợ, nhiều năm qua Thọ vẫn đến trường bằng chiếc xe đạp đầm cũ. Xe đã cũ lắm, nhưng Thọ không đua đòi cha sắm xe Martin hay xe đạp điện như các bạn học cùng trường.

Thọ đã nhiều năm liền là học sinh khá, giỏi. Em vừa đạt giải nhì cuộc thi Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do huyện Châu Thành tổ chức. Nói về ước mơ của mình, Thọ tâm sự: “Em ước mong được một lần ra thủ đô vào lăng viếng Bác, để thấy hình hài thật của Bác, người ông em luôn kính yêu và học tập và làm theo”.

LƯ THẾ NHÃ

tuoitre.vn

Đêm tháng 5 năm ấy

Cuộc đời của Bác đã hy sinh tất cả cho dân cho nước. Đêm đêm một mình, Bác nằm đó lấy tiếng đài làm niềm vui…

Trong thời gian công tác ở Bộ tư lệnh Cảnh vệ, Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên Tư lệnh Cảnh vệ vinh dự nhiều lần được bảo vệ Bác Hồ. Mỗi lần bảo vệ Bác đều để lại trong trái tim vị tướng đất Mũi những kỷ niệm không thể nào quên. Một kỷ niệm sâu sắc nhất cách đây gần nửa thế kỷ nhưng khi hồi tưởng lại, ông cứ ngỡ như mới hôm qua. Ông kể:

– Vào một đêm đầu tháng 5 năm 1962, đến phiên tôi trực ở trụ sở cơ quan tại số 1-Lê Hồng Phong (Hà Nội). Mới tháng 5 mà trời đã oi bức đến lạ. Theo kế hoạch, 21 giờ tôi đi kiểm tra công tác bảo vệ ở các mục tiêu của đơn vị. Sau khi kiểm tra hết các vọng gác ở phố Phan Đình Phùng, tôi rẽ vào cổng Đỏ, đi vào khu Phủ Chủ tịch. Kiểm tra xong các vọng gác ở phía ngoài, đi về phía nhà sàn của Bác, tôi được các đồng chí canh gác ở đây cho biết Bác vừa đi nghỉ.

Quang cảnh khu Phủ Chủ tịch ban đêm thật tĩnh mịch, không gian bao la. Bên bờ ao trước nhà sàn, ánh trăng trong vắt đổ đầy mặt nước. Thỉnh thoảng mấy chú cá ngoi lên đớp mồi làm tan đi mặt trăng non. Tôi đứng nhìn lên phòng làm việc của Bác trên tầng 2, đèn đã tắt. Nhẹ bước lên cầu thang chỉ còn đèn ngủ trên bàn vẫn sáng, Bác đã đi nằm. Chiếc màn tuyn ngả màu đã buông và cài vào mép chiếu cẩn thận. Chiếc ra-đi-ô để đầu giường vẫn mở bình thường.

Vì lòng thương và trân trọng những giờ phút nghỉ ngơi của Bác, tôi rón rén, nhẹ nhàng mở cửa đi vào phòng ngủ và có ý định tắt chiếc ra-đi-ô để Bác được ngon giấc. Khi tôi đi gần đến chiếc ra-đi-ô đưa tay vặn nhỏ công tắc để tắt, thì thật bất ngờ, Bác nói giọng tỉnh táo, ấm áp và thân tình:

– Chú đừng tắt đài, để nó nói có tiếng người trong nhà cho vui.

Tôi vội rụt tay lại và nhè nhẹ lùi dần về phía cửa, đi xuống sân. Từ khi nghe Bác nói, lòng tôi thắt lại, hai hàng lệ cứ lăn dài trên gò má. Tôi bước ra vườn tựa vào hàng cây vú sữa bên cạnh nhà sàn. Lòng nghĩ miên man. Chỉ còn hai tuần nữa là đến ngày sinh lần thứ 72 của Bác.

Tôi gọi thầm trong lòng: Bác ơi, cây vú sữa này là món quà đồng bào miền Nam gửi tặng Bác. Chồi non của nó đã vươn cao trùm lên mái nhà sàn. Câu nói của Bác cứ văng vẳng bên tôi không thể nào quên được. Cuộc đời của Bác đã hy sinh tất cả cho dân cho nước. Đêm đêm một mình, Bác nằm đó lấy tiếng đài làm niềm vui. Sự hy sinh của Bác thật lớn lao vô cùng. Càng nghĩ, tôi càng thấy thương Bác, nước mắt tôi cứ trào ra giàn giụa.

NGUYỄN ĐỨC QUÝ – Báo Quân đội nhân dân
(Theo lời kể của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn-nguyên Tư lệnh Bộ tư lệnh Cảnh vệ)

tuoitre.vn