Thư viện

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 tháng 9

Mục đích Cách mạng Tháng Tám là gì?

Là giành lại hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ cho Tổ quốc ta, cho nhân dân ta.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 nước ta tuyên bố độc lập. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Tổng tuyển cử tự do được tổ chức, nhân dân toàn quốc ta đã bầu ra Quốc hội. Quốc hội thông qua Hiến pháp và bầu ra Chính phủ Trung ương. Chính quyền địa phương từ xã đến tỉnh đều do nhân dân cử ra. Thế là lúc đó chúng ta đã bắt đầu thực hiện thống nhất, độc lập và dân chủ.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 7, tr.337.

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình ở một nước thuộc địa nửa phong kiến do giai cấp công nhân lãnh đạo. Thắng lợi ấy đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là thắng lợi của đường lối đoàn kết toàn dân, sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Đó là sự tài tình, sáng tạo của Đảng trong việc tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 6, tr.629.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Đó là thắng lợi đầu tiên của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng đã đập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật nhào chế độ quân chủ phong kiến thối nát trên đất nước ta, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Sđd, tập 4, tr.544

Cách mạng Tháng Tám đã thành công vì có được ba điều kiện không thể thiếu được đối với bất cứ một cuộc cách mạng phản đế nào ở một nước thuộc địa; đó là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự thành lập một mặt trận dân tộc phản đế rộng rãi, khởi nghĩa vũ trang.

Sđd, tập 8, tr.53.

Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân.

Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hòa và thống nhất độc lập.

Sđd, tập 5, tr.187.

Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc.

Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã làm cho chúng ta trở nên một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới.

Sđd, tập 6, tr.160

Theo www.xaydungdang.org.vn
Thu Hiền (st)

Tầm nhìn ngoại giao toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh

tam nhìn và ngoai giao
Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh chung với các đại diện Anh, Pháp, Mỹ, Trung Quốc sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6/3/1946.

Dưới sự lãnh đạo tài tình của Bác Hồ, Cách mạng Tháng Tám 1945 – một sự kiện vĩ đại trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam. Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã để lại nhiều bài học quý báu cho dân tộc Việt Nam. Một trong những bài học đó là bài học về đoàn kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thể hiện tầm nhìn chiến lược về ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng thành công của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, gian khổ của nhân dân, là sự sáng suốt của Hồ Chí Minh trong sách lược đối ngoại. Đặc biệt, việc dự báo đúng tình thế, nhận định đúng thời cơ, kết hợp nội lực và ngoại lực đã thể hiện một tầm nhìn ngoại giao thiên tài của Hồ Chí Minh.

Với nhãn quan chính trị sắc bén, ngay từ năm 1941, Hồ Chí Minh đã đề nghị trong lúc này chúng ta phải chuẩn bị lực lượng, tranh thủ tối đa mọi sự ủng hộ từ các lực lượng bên ngoài tạo nên một lực lượng thống nhất để giành chính quyền khi có thời cơ đến. Bằng uy tín và kinh nghiệm, thông qua con đường ngoại giao, Người đã tranh thủ tối đa mọi sự ủng hộ của Đồng minh và các lực lượng tiến bộ khác, kết hợp với sức mạnh của quần chúng tạo nên sức mạnh tổng hợp để sẵn sàng Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến.

Trước bối cảnh cuộc Chiến tranh thế giới thứ II có nhiều chuyển biến mau lẹ, phe Đồng minh đang từng bước giành được thế chủ động trên chiến trường, Người nhận định: “Tình thế cách mạng thế giới đã chuyển biến có nhiều thuận lợi cho cách mạng”. Hồ Chí Minh đã phát hiện ra mâu thuẫn giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp về vấn đề thuộc địa, trong đó có Đông Dương. Từ những phát hiện này, Người chủ trương tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ và quyết định gặp đại diện Mỹ ở Côn Minh (Trung Quốc). Trong cuộc đàm phán này Người nêu rõ Việt Minh đã lớn mạnh và muốn hợp tác với Mỹ, cùng chống Nhật và mong có sự công nhận chính thức của Mỹ đối với Việt Minh như là một lực lượng chính thống, thuộc khối Đồng minh chống phát xít.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính pháp ở Đông Dương. Trước tình hình đó Bộ Chỉ huy của Mỹ ở Côn Minh đã nhiều lần cử đại diện đến gặp Hồ Chí Minh để bàn phương thức hợp tác “Việt Minh – Mỹ”. Như vậy, bằng nghệ thuật ngoại giao sắc sảo, Hồ Chí Minh đã làm cho Mỹ thấy được sự lớn mạnh và ảnh hưởng của Việt Minh trong nhiệm vụ chống phát xít. Từ đó Hồ Chủ tịch đã tranh thủ được sự ủng hộ của Mỹ và Đồng minh cho mục tiêu giành độc lập.

Cuối tháng 5 năm 1945, Người về Tân Trào chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, đồng thời triển khai kế hoạch nhận tiếp viện từ phía Mỹ. Tính đến ngày 10 tháng 8 năm 1945, Việt Minh đã nhận được 22 chuyến hàng thả dù tiếp viện từ phía Mỹ, bao gồm súng, đạn, quân trang, quân dụng, điện đài và một nhóm quân tình nguyện Mỹ (11 người) trực tiếp hướng dẫn cán bộ Việt Minh sử dụng vũ khí mới và trang thiết bị phục vụ cho khởi nghĩa vũ trang. Như vậy trong thời điểm nhạy cảm, Hồ Chí Minh đã lôi kéo được Quốc dân đảng – Trung Hoa và Mỹ. Từ đó Người khai thác và tranh thủ tối đa sự ủng hộ từ bên ngoài tạo thêm thế và lực, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

Tháng 8 năm 1945, phát xít Đức đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, quân Nhật ở Đông Dương hoảng loạn, thời cơ “Ngàn năm có một” của cách mạng đã đến. Ngày 15 tháng 8, Người gửi bức điện tới đại diện Mỹ yêu cầu Liên Hợp quốc tạo điều kiện cho Đông Dương và khẳng định ý chí của nhân dân Đông dương sẵn sàng đứng lên giành độc lập. Ngày 16 tháng 8, Người chủ trì Đại hội Đại biểu Quốc dân và thông qua mười chính sách lớn của Việt Minh. Khi Đại hội bế mạc, Người lập tức gửi thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tới đồng bào cả nước hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước toàn thể dân tộc và quốc tế trước khi quân Đồng minh vào với danh nghĩa giải giáp quân Nhật. Trong “Tuyên ngôn độc lập” Hồ Chí Minh đã trích dẫn bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp và “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ, đây là sự thể hiện sự mẫn cảm chính trị và tầm nhìn xa trông rộng của Hồ Chí Minh cho những mục tiêu lâu dài của cách mạng Việt Nam.

Như vậy, có thể khẳng định, thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám gắn liền với quyết định táo bạo và kịp thời của Hồ Chí Minh; thể hiện tầm nhìn ngoại giao sắc sảo của Người trong việc tranh thủ các lực lượng tiến bộ bên ngoài, phát huy nội lực bên trong tạo nên sức mạnh tổng hợp để làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Đó chính là hiện thân của sự mẫn cảm chính trị, tầm nhìn ngoại giao thiên tài của Người.

Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh toàn diện công cuộc Đổi Mới. Trên mặt trận đối ngoại, lấy Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bắt nguồn từ cuộc Cách mạng Tháng Tám làm kim chỉ nam đã được kiểm chứng và đã mang lại những thành quả quan trọng. Đặc biệt, trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều biến động, thì việc vận dụng linh hoạt bài học ngoại giao Hồ Chí Minh như “hòa để tiến”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tranh thủ ngoại lực, phát huy nội lực để tạo nên sức mạnh đại đoàn kết dân tộc càng trở nên sâu sắc và có ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Theo Thế giới & Việt Nam
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với các mốc son lịch sử những ngày đầu cách mạng

Thực hiện Nghị quyết Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Quốc dân Đại hội và Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước triệu người như một nhất tề nổi dậy với ý chí dù có hy sinh đến đâu, cũng phải giành cho được chính quyền trong toàn quốc.

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám đã nhanh chóng giành được thắng lợi. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội (19/8/1945), Huế (23/8/1945), Sài Gòn (25/8/1945). Chính quyền cả nước đã thuộc về nhân dân.

Ngày 25/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội, theo đề nghị của Người, Uỷ ban Dân tộc giải phóng được mở rộng thành Chính phủ lâm thời. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, quận Hoàn Kiếm, Bác đã dồn tâm trí viết một áng hùng văn có tầm lịch sử vô giá: Bản Tuyên ngôn độc lập – khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Ngày 30/8/1945, tại Huế, đồng chí Trần Huy Liệu, đồng chí Nguyễn Lương Bằng, đồng chí Cù Huy Cận thay mặt Chính phủ lâm thời đã tuyên bố chấp nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại và nhận ấn kiếm của nhà vua giao nộp cho Chính phủ, trước sự chứng kiến của hàng vạn đồng bào Thừa Thiên – Huế. Vua Bảo Đại đã xin thoái vị để “được làm dân tự do của một nước độc lập”1.

Ngày 2/9/1945, trước cuộc mít tinh của hơn nửa triệu người tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chủ tịch đọc Bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử. Bản Tuyên ngôn mở đầu bằng một chân lý không ai chối cãi được: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…”, Người cũng tuyên bố trước thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập… Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Bản Tuyên ngôn đã được phổ biến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân, nhanh chóng đi vào lòng người, nâng cao tinh thần tự hào dân tộc và quyết tâm sắt đá bảo vệ quyền tự do, độc lập mới giành được.

Ngay sau khi đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng nêu ra 6 nhiệm vụ cấp bách: Chống đói; chống dốt; tổng tuyển cử; xây dựng nếp sống mới; xóa bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tín ngưỡng tự do. Sau đó, Người đã bổ sung và khái quát thành 3 nhiệm vụ lớn: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Ngày 26/9/1945, Hồ Chủ tịch gửi thư cho đồng bào Nam bộ, nêu rõ cuộc kháng chiến ở Nam bộ được cả nước ủng hộ, biểu dương gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân Nam bộ, nêu rõ quyết tâm của toàn dân ta “thà chết tự do, còn hơn sống nô lệ”.

Tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ tặng đồng bào Nam bộ danh hiệu vẻ vang “Thành đồng Tổ quốc”, cổ vũ mạnh mẽ cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam.

Ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi các Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, huyện và làng chỉ rõ tính chất và nhiệm vụ của chính quyền cách mạng: “Các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ thống trị của đế quốc Pháp, Nhật. Nếu nước được độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”2. Người cũng vạch ra những lầm lỗi cần phải sửa chữa của một số cán bộ: Cậy thế, làm trái phép, hủ hóa, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo. Bức thư này bước đầu đã xây dựng cơ sở lý luận cho chính quyền kiểu mới ở nước ta.

Cùng với việc chống giặc ngoại xâm, chống nạn đói, Người rất quan tâm đến việc diệt dốt. Vì vậy, việc chống nạn mù chữ cũng được tuyên truyền rộng rãi ở các địa phương. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Những người biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ… Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo”3. Hình thức tuyên truyền chống mù chữ rất phong phú, như: “Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ giặc dốt”; “Thêm một người đi học là thêm một viên gạch xây nền độc lập của nước nhà”. Có nhiều thơ ca, hò vè gây ấn tượng rất sâu sắc: “Lấy chồng biết chữ là tiên, lấy chồng không chữ là duyên lỡ làng”. Sau một năm đã có hơn hai triệu người thoát nạn mù chữ.

Tháng 9 năm 1945, nhân ngày khai trường năm học đầu tiên sau khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh cả nước khuyến khích các cháu học tập tốt để sau này đem tài năng phục vụ đất nước: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”4.

Ngày 20/10/1945, Bác đến dự khai mạc Ngày Sinh viên cứu quốc, Bác xúc động khuyên nhủ: “Các cháu còn bé chưa vác nổi súng, đi đánh giặc làm sao được. Các cháu có thể đánh giặc bằng cách khác. Học cho siêng, giữ gìn tính nết cho ngoan và luyện thân thể cho khỏe cũng là đánh giặc. Rồi khi cần đến các cháu sẽ làm trinh sát, liên lạc trong quân đội, phục vụ chiến đấu…”5.

Để củng cố chính quyền cách mạng, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, Chính phủ quyết định tổ chức Tổng tuyển cử vào ngày 6/1/1946 để bầu Quốc hội, xây dựng Hiến pháp và lập Chính phủ chính thức.

Trải qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lời thề độc lập và những việc làm của Bác trong những ngày ấy đã chắp cánh để chúng ta hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc và tiếp tục xây dựng non nước ta đàng hoàng và to đẹp hơn./.

_________________

1. Trong khi đó, tại Hà Nội, chiều ngày 30-8-1945, Bác Hồ đã tiếp ông Pat-ti và những người Mỹ đầu tiên trên đất Việt Nam độc lập. Rất thân tình và cởi mở, Bác Hồ đọc cho các vị khách nghe câu mở đầu của Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam. Thoạt tiên, những người Mỹ tưởng mình nghe nhầm. Các vị khách vô cùng ngạc nhiên vì đó là câu mở đầu của Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1778 của nước Mỹ! Bác Hồ vẫn bình thản diễn tả đúng văn phong và lập luận của mình. Từ ngạc nhiên đến xúc động, những người khách Mỹ như phát hiện một điều kỳ lạ ở đất nước xa xôi này. Điều kỳ lạ đó được một cụ già mảnh khảnh, mặc chiếc áo nâu, thể hiện bằng một phong thái lịch lãm và một thứ ngôn ngữ uyển chuyển đến mức không thể tưởng tượng nổi… Cuối buổi tiếp, Bác Hồ vui vẻ báo tin: Chủ nhật 2-9 tới, Chính phủ Việt Nam tổ chức ngày Lễ Độc lập và mời những đại biểu của nước Mỹ tới dự.

2, 3, 4, 5. Tư liệu sưu tầm.

Theo Lê Quang Cảnh
Nguyên Tổng Biên tập Báo Đại đoàn kết.
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Chính phủ 1945 của Cụ Hồ bắt đầu từ đâu?

– Được thành lập trong “một cái nháy mắt của lịch sử”, chính quyền Việt Nam non trẻ đã đứng vững trong cuộc đối chọi được với quân Tàu Tưởng ở miền Bắc, quân Anh – Pháp ở miền Nam. Đó cũng là nhờ những tinh hoa nước Việt đã theo Cụ Hồ gánh vác những trọng trách trong thời điểm ngàn cân treo sợi tóc.

“Trí thức hoá” nội các

Điều hành guồng máy Đảng giành và giữ chính quyền trong thế “đơn thương độc mã” (essentially alone – chữ dùng của học giả David Marr – chưa nhận được ủng hộ từ khối Xô viết) là Ban thường vụ Trung ương bốn người, do Cụ Hồ đứng đầu. Ba uỷ viên Thường vụ còn lại là Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Võ Nguyên Giáp lại chính là nòng cốt của “nhóm Le Travail”, nổi tiếng thời kỳ Mặt trận bình dân 1936 – 1939 vì tờ báo cách mạng tiếng Pháp cùng tên.

Một số thành viên nữa của nhóm Le Travail, như Đặng Thai Mai, Khuất Duy Tiến, Phan Anh… dưới bàn tay dụng nhân của Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện trong thành phần nội các ở những thời điểm khác trong năm đầu của nền dân chủ cộng hoà này.

Đêm đầu tiên của ông Ké Tân Trào – Hồ Chí Minh ở Hà Nội 25 tháng 8, một danh sách nội các đã đợi Người trên bàn. Danh sách này đã đăng trên tờ Cứu quốc, ra ngày hôm trước. Nhưng, Cụ Hồ đã không ngại ngần “rút” khỏi đó năm lãnh tụ cộng sản, thay vào đó là các nhân sĩ nổi tiếng. Thêế là trong số 15 bộ trưởng, chỉ còn 6 người là đảng viên CSĐD.

Trường Thăng Long… “đào tạo” Bộ trưởng?

Trong ảnh chụp chính phủ ra mắt đầu tiên, dân chúng thấy có ba thầy giáo trường Thăng Long: Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hoè, Hoàng Minh Giám. Đây là những những đại diện nòng cốt của khối giáo viên và học sinh trường Thăng Long mà tuyệt đại đa số đã đi theo cách mạng từ trước đó, thời tiền khởi nghĩa. Người dân sẽ nhận thấy thầy Nguyễn Dương làm Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam (từ tháng 2/1946); thầy Trịnh Văn Bính Thứ trưởng Bộ Tài chính (từ 11/1946), thầy Vũ Bội Liên (con tuần phủ thời) cán bộ Bộ Tư pháp, hy sinh ngay từ đầu kháng chiến chống Pháp…

Chính phủ lâm thời nước VNDCCHChính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Mái trường Thăng Long từng âm thầm chứng kiến sự ra đời và lớn mạnh của nhóm Le Travail trẻ (JC: Jeunese communiste), Đoàn thanh niên dân chủ, Đoàn thanh niên phản đế, Đoàn thanh niên cứu quốc… trong từng bước đi tới cách mạng tháng Tám. Nay nhiều cựu học sinh Thăng Long sẽ giúp tạo trụ cột của chính quyền mới, vào các ngành Nội vụ, Tư pháp, Cảnh sát, Thuế quan, quân đội… Báo Cứu quốc (15/10/46) báo tin Lý Chính Thắng bị Pháp giết dã man. Một cựu học sinh Thăng Long khác, Lê Trung Toản, chỉ huy Trung đoàn Thủ đô phòng thủ Hà Nội cuối 1946…

Tài đức “dành trợ dân này”

Một nhà đại trí thức gần gũi với nhóm trí thức Thăng Long là Nguyễn Văn Tố, Hội trưởng Hội truyền bá Quốc Ngữ, cũng được mời vào nội các. Đó là vị bộ trưởng đầu tiên, Chủ tịch quốc hội đầu tiên của Việt Nam, hy sinh trong kháng chiến.

Từ đầu năm 1946, chính phủ Cụ Hồ được bổ sung thêm các trí thức Việt Minh Nam Bộ, để Chính phủ có thể điều hành cả một nửa kia của “sơn hà nguy biến”. Những tên tuổi Ca Văn Thỉnh, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu… đã lập tức hoà vào guồng máy việc công ở Hà Nội, chống thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

…Một ngày giữa năm 1946, ông Võ Nguyên Giáp ghi vào kế hoạch công tác “(Nhớ) hỏi anh Bửu những người tài”.

Tạ Quang Bửu từng tu nghiệp ở các Đại học Sorbonne, Paris, Bordeaux, Oxford.

“Thanh niên tiền tuyến” thành tướng lĩnh cách mạng

Đồng Tổng Hướng đạo sinh Đông Dương Tạ Quang Bửu và Bộ trưởng Thanh niên của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Phan Anh lập ra trường Thanh niên tiền tuyến vào tháng 5/1945. Không hẹn mà nên, cùng lúc với Trường quân chính kháng Nhật huấn luyện cán bộ quân sự cách mạng.

Trưa 21 tháng 8/1945 hai học viên Trường Thanh niên tiền tuyến, trước mắt hàng ngàn dân Kinh đô Huế, đã hạ cờ quẻ ly của triều Nguyễn, treo cờ đỏ sao vàng lên Kỳ đài tại Ngọ Môn, như hồi chuông đầu “nguyện hồn” nền quân chủ một ngàn năm. Đó là các ông Đặng Văn Việt, ba năm sau sẽ khét tiếng là “Hùm xám trên đường số 4”, Cao Pha – một cán bộ quân báo đầu tiên, một anh hùng Điện Biên Phủ.

Những người lãnh đạo Thanh niên Tiền tuyến từ đầu đã để cho Việt Minh thâm nhập vào tổ chức của họ. Kết quả Cụ Hồ có thêm những chỉ huy quân sự đầu tiên xuất thân từ tầng lớp trên. Người dân đau đớn nghe tin con trai học giả Lê Thước, Lê Thiệu Huy – tham mưu trưởng liên quân Việt Lào đã hy sinh 26/3/46, khi tháp tùng Hoàng thân Souphanouvong. Nếu lực lượng học viên Iunker lập ra Bạch vệ, quyết liệt chống chính quyền xô viết, thì nhiều học sinh sĩ quan Trường “Thanh niên tiền tuyến” lại trở thành những tướng lĩnh cách mạng thông thái mà dày dạn trận mạc, như Cao Văn Khánh, Mai Xuân Tần, Đoàn Huyên, Phan Hạo, Tôn Thất Hoàng…

Một đồng Tổng Hướng đạo sinh nữa là nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý. Ngay sau Lễ tuyên ngôn Độc lập, ông được Hồ Chí Minh triệu tập để thành lập ra binh chủng đầu tiên của Quân đội Việt Nam – Thông tin Liên lạc. Một sĩ quan tham mưu đầu tiên, ông Trần Trọng Trung, nhớ mãi hình ảnh các đội mô tô đeo thẻ bài “Hoả tốc”, phóng xuống các vùng nông thôn xa chuyển phát các công văn mật, khẩn cấp của việc quân. Họ do một trí thức ngoài Đảng, ông Phạm Thành Vinh, lúc đó là Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng, chỉ huy.

Tướng tình báo do phương Tây đào tạo

Năm 1950, giới thiệu Hoàng Đạo Thuý, tư lệnh thông tin, với tướng Trần Canh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho vị cố vấn Trung quốc này “choáng”. “Đồng tử quân (Hướng đạo sinh) phục vụ thông tin cho chiến dịch ư?” Trần Canh hỏi lại, vì Đồng tử quân ở Trung Quốc là lực lượng phản cách mạng. “Nhà chú” (Trung Quốc) không hiểu nổi đâu. Đây là Đồng tử quân Việt Nam mà”, Cụ Hồ đáp.

Lãnh đạo chủ chốt của công an, tình báo, an ninh đầu tiên của Việt Nam là do… tình báo phương Tây đào tạo. Khoảng năm 1944 Lực lượng nhiệm SOE của Anh, có “sáng kiến” đào tạo các tù cộng sản Việt Nam, bị Pháp giam ở hải ngoại, để tung vào hậu phương phát xít Nhật. Một số đảng viên đã tương kế tựu kế, dùng vỏ bọc này để mang vũ khí, khí tài, và nhất là kiến thức tình báo về phục vụ cách mạng.

Đó là các ông Lê Giản, phó giám đốc Sở Liêm phóng (Công an) Bắc Bộ đầu tiên; Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), trong ảnh Chính phủ liên hiệp kháng chiến 1946 là thứ trưởng Nội vụ; Nguyễn Văn Ngọc, Giám đốc Sở Trinh sát Trung Bộ đầu tiên; Trần Hiệu, phó Giám đốc Sở CA Bắc Bộ, Hoàng Đình Rong (Vũ Đức), chỉ huy quân sự hy sinh ở Nam Bộ đầu kháng chiến. Đây là hiện tượng vô song trong lịch sử, vì các tình báo viên do phía đối phương đào tạo thường không thể trở thành lãnh đạo chủ chốt về an ninh, tình báo…

Cách dùng người như thế chỉ thấy ở Hồ Chí Minh.

Bộ trưởng không lương, nhận phụ cấp “cơm chan nước mắm”

Tri thức, tình yêu nước và biết “ăn cơm nhà vác ngà voi” có lẽ là những điều kiện cần để trí thức trở thành thành viên của chính quyền đầu tiên của nước Việt Nam DCCH. Hồi ký của các bậc lão thành cho biết “bữa ăn cơ quan” năm 1946 chỉ có cơm chan nước mắm, mà cũng không đủ.

Ông Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng Kinh tế đầu tiên, người Công giáo, nhớ lại trong những ngày nước sôi lửa bỏng 1946, Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh và Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp từng có những lần chạy ào qua nhà ông, xem “còn cơm nguội không”… Nhưng trong kế hoạch làm việc năm 1946 của lãnh đạo ngành Nội vụ và LLVT Võ Nguyên Giáp, đã đôi ba lần xuất hiện câu: “(Lo) phụ cấp cho nhân viên cơ quan”.

Lê Đỗ Huy
bee.net.vn

Kỷ niệm cách mạng Tháng Tám (19-8-1955)

Suốt trong 80 nǎm nước ta bị Pháp chiếm, nhân dân ta từ Nam đến Bắc đã nhiều lần nổi dậy chống giặc ngoại xâm. Nhưng vì bọn vua quan hèn mạt, câu kết với địch, phản nước hại dân, cho nên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại.

Cách mạng Nga thành công đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, dạy cho họ cách tổ chức, đấu tranh và giành thắng lợi. Nhờ vậy mà ta có Đảng tiên phong, có Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân, kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do, làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi.

Lần đầu tiên trong lịch sử nhân dân ta được hoàn toàn giải phóng: đã phá tan cái xiềng xích nô lệ thực dân, đã đập đổ cái chế độ thối nát của vua quan phong kiến, đã lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đó dân ta làm chủ nước ta.

Phản bội những điều ước chúng đã ký kết với ta, thực dân Pháp lại gây chiến tranh xâm lược. Một lần nữa, những bọn bán nước cầu vinh, lại cong đuôi theo giặc!

Nhưng chí cǎm thù giặc ngoại xâm, và lòng nồng nàn yêu nước đã làm cho nhân dân ta vùng dậy, từ Bắc đến Nam triệu người như một, chống kẻ thù chung.

Sự đoàn kết nhất trí giữa Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta trở thành một lực lượng vô cùng to lớn. Nó giúp ta vượt tất cả mọi khó khǎn gian khổ. Nó rèn luyện cho chiến sĩ, cán bộ và đồng bào ta thành những người anh hùng. Do đó chúng ta đã đánh thắng cái liên minh ghê tởm giữa thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai.

Kháng chiến thắng lợi, sự nghiệp vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám được giữ vững và phát triển.

10 nǎm trước đây, chúng ta hầu như cô đơn, chỉ nhờ sức mạnh đoàn kết mà cách mạng thắng lợi. Ngày nay, nhân dân ta lại có đại gia đình gồm 900 triệu anh em từ á sang Âu và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới ủng hộ. Cho nên cuộc đấu tranh chính trị để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước tuy nhiều khó khǎn, nhưng chúng ta nhất định sẽ thắng lợi.

Tinh thần Cách mạng Tháng Tám muôn nǎm!

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ muôn nǎm!

C.B.

—————————–

Báo Nhân dân, số 534, ngày 19-8-1955.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi trong buổi lễ mừng Quốc khánh 2-9-1955

Thưa đồng bào toàn quốc, kiều bào ở nước ngoài,

Thưa toàn thể chiến sĩ và cán bộ,

Thưa các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng,

Thưa các đồng chí và các bạn thân mến,

Cách đây 10 năm, cũng ngày hôm nay và ở chỗ này, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tuyên bố thành lập.

Sau những năm thử thách oanh liệt, nhân dân ta lại vui vẻ chúc mừng 10 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ngày hôm nay là một ngày vẻ vang của nhân dân Việt Nam ta, mà cũng là một ngày vui mừng chung của các dân tộc bị áp bức và của nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình.

So với thời gian lịch sử thì 10 năm không phải là dài. Nhưng nhìn lại 10 năm qua, trên thế giới và trong nước ta đã có những biến đổi, những tiến bộ rất to lớn.

– Liên Xô vĩ đại không những đã hàn gắn xong từ lâu những vết thương chiến tranh, mà còn xây dựng thắng lợi chủ nghĩa cộng sản.

– 600 triệu nhân dân Trung Quốc đã làm cách mạng thành công và đang xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dânTriều Tiên đã thắng lợi đánh lui cuộc tấn công của quân đội 16 nước xâm lược.

– Các nước dân chủ nhân dân khác đều tiến nhanh trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Các nước ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện đã thoát khỏi xiềng xích thuộc địa và đã trở nên những nước độc lập, tự do.

– Phong trào dân tộc giải phóng lên mạnh khắp nơi. Nhiều nước tán thành 5 nguyên tắc chung sống hoà bình. Nói tóm lại: trong 10 năm qua, lực lượng hoà bình và dân chủ thế giới phát triển rất mạnh và đã chiếm ưu thế. Chủ nghĩa đế quốc suy yếu rõ rệt. Vừa rồi hội nghị bốn nước lớn ở Giơnevơ lại làm tình hình thế giới dịu bớt, đó là một thắng lợi mới của lực lượng hoà bình.

*

*     *

Trong 10 năm qua, đi đôi với những cuộc biến đổi trên thế giới, nước ta cũng có những biến đổi rất to:

Cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta đã thắng lợi.

Hội nghị Giơnevơ năm ngoái đã đưa lại hoà bình ở Đông Dương, trên cơ sở các nước công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của Việt Nam ta và của hai nước láng giềng Miên, Lào.

Miền Bắc nước ta đã hoàn toàn giải phóng.

Nước ta thành một bộ phận khăng khít trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân gồm có 900 triệu anh em. Đó là những thắng lợi to lớn của nhân dân ta.

*

*     *

Bên những thắng lợi to lớn ấy, hiện nay chúng ta có những khó khăn lớn cần phải khắc phục:

Hoà bình chưa được củng cố. Nước ta tạm thời chia làm hai miền.

ở miền Nam, với sự xui giục và giúp đỡ của đế quốc Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức tăng cường quân đội, gây những cuộc xung đột nồi da nấu thịt ở Nam Bộ, khủng bố nhân dân, bóp nghẹt quyền tự do dân chủ, tìm cách trốn tránh hiệp thương với Chính phủ ta nhằm trốn tránh tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc và phá hoại thống nhất nước nhà. Nói tóm lại, đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đang tìm mọi cách để hòng phá hoại Hiệp định Giơnevơ.

Nhưng, mặc dù những âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, nước Việt Nam nhất định sẽ thống nhất, vì nước ta là một khối, không ai chia cắt được. Tổng tuyển cử tự do sẽ phải được thực hiện, vì đó là nguyện vọng thiết tha của toàn thể nhân dân ta từ Bắc đến Nam, mà cũng là sự mong muốn chung của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới.

Nhân dân và Chính phủ ta kiên quyết thi hành triệt để Hiệp định Giơnevơ.

Chúng ta đòi những nhà đương cục ở miền Nam phải thi hành đúng Hiệp định. Nước Pháp là người đã ký kết Hiệp định, phải tôn trọng chữ ký của mình và làm trọn nhiệm vụ của mình.

Chúng ta mong các nước yêu chuộng hoà bình, nhất là các nước đã dự Hội nghị Giơnevơ cùng các nước có nhiệm vụ giám sát và kiểm soát, ra sức góp phần vào việc thi hành đúng đắn Hiệp định Giơnevơ.

*

*     *

Nhiệm vụ của nhân dân và Chính phủ ta hiện nay là: tiếp tục đấu tranh để Hiệp định Giơnevơ được triệt để thi hành, tức là đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất.

Chúng ta phải ra sức mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất.

Chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt:

– Hoàn thành tốt cải cách ruộng đất;

– Khôi phục kinh tế, đặc biệt chú trọng nông nghiệp;

– Củng cố quốc phòng, củng cố an ninh trật tự;

– Kiên quyết nâng cao dần mức sống của nhân dân, trước hết là của công nhân, bộ đội và công chức, đồng thời giảm nhẹ dần sự đóng góp của nông dân.

Để làm những công việc trên, mọi người và mọi ngành đều phải hăng hái thi đua yêu nước, tăng gia sản xuất và tiết kiệm, tôn trọng và bảo vệ của công, tẩy trừ nạn tham ô, lãng phí.

Chúng ta có thể làm đầy đủ những việc ấy không ? Chúng ta phải làm cho kỳ được và chúng ta nhất định làm được. Vì đồng bào ta rất yêu nước và rất hăng hái, cần cù. Vì chính sách của Đảng và Chính phủ ta đúng đắn, hợp với nguyện vọng của nhân dân. Vì cán bộ ta tận tuỵ. Vì các nước bạn ta, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc ra sức giúp đỡ ta một cách vô tư, khảng khái, để chúng ta có thêm điều kiện tự lực cánh sinh.

Nhân dịp này, tôi xin thay mặt Chính phủ và nhân dân ta một lần nữa cảm ơn các nước bạn.

*

*     *

Củng cố miền Bắc tức là giúp đỡ một cách thiết thực đồng bào miền Nam đấu tranh đòi hoà bình và thống nhất.

Đồng bào miền Nam đã góp phần quan trọng vào Cách mạng Tháng Tám, đã kháng chiến anh dũng suốt 9 năm trường. Hiện nay dù đang sống trong cảnh khủng bố, loạn lạc, nhưng chí khí phấn đấu của đồng bào luôn luôn vững bền, đồng bào luôn luôn trung thành với Tổ quốc, luôn luôn hăng hái đấu tranh.

Chính phủ, Đảng và tôi luôn luôn nhớ đến đồng bào. Nhân dịp này, tôi thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái gửi lời chào hỏi và khuyên gắng đồng bào miền Nam đang anh dũng phấn đấu cho hoà bình và thống nhất.

*

*     *

Trong 10 năm qua, chúng ta đã khắc phục mọi khó khăn và thu được nhiều thắng lợi. Đó là vì nhân dân ta đoàn kết nhất trí, bộ đội ta rất anh dũng, Đảng và Chính phủ ta lãnh đạo đúng đắn và kiên quyết. Vì bên trong thì chúng ta có Mặt trận dân tộc thống nhất mạnh mẽ, bên ngoài thì chúng ta được sự ủng hộ của nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình.

Từ nay về sau, chúng ta càng phải củng cố và phát triển lực lượng ấy.

Về Mặt trận dân tộc thống nhất, chúng ta cần phải mở rộng và củng cố hơn nữa. Từ Nam đến Bắc, ai là người tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, thì chúng ta sẵn sàng đoàn kết với họ, thật thà hợp tác với họ, dù từ trước đến nay họ đã theo phe phái nào.

Đoàn kết là một lực lượng vô địch.

Lực lượng đoàn kết đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công.

Lực lượng đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi.

Lực lượng đoàn kết sẽ động viên nhân dân từ Bắc đến Nam đấu tranh để thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước.

*

*     *

Trước mắt chúng ta, khó khăn còn nhiều. Chúng ta không chủ quan xem nhẹ những khó khăn ấy. Nhưng chúng ta không sợ khó khăn, chúng ta có quyết tâm khắc phục mọi khó khăn và chúng ta nhất định khắc phục được.

Chúng ta mạnh dạn tiến lên với lực lượng đoàn kết nhất trí của toàn dân, với lòng tin tưởng chắc chắn vào tương lai vẻ vang của Tổ quốc, với tinh thần tất thắng của một dân tộc anh hùng. Trong cuộc kháng chiến anh dũng 8, 9 năm qua, chúng ta đã thắng lợi, trong cuộc đấu tranh chính trị ngày nay, chúng ta cũng nhất định thắng lợi.

Nhân dân Việt Nam đại đoàn kết muôn năm!

Nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới đại đoàn kết muôn năm!

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh muôn năm!

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muôn năm!

————————

Báo Nhân dân, số 548, ngày 2-9-1955.
cpv.org.vn

Quốc khánh lần thứ mười của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-9-1955)

Ngày 2 tháng 9, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được mười tuổi và nhân dân Việt Nam từ nay được tự do trên phần lớn lãnh thổ của mình, kỷ niệm ngày Quốc khánh vinh quang này với một niềm phấn khởi và vui mừng không tả xiết.

Ngay từ khi bọn thực dân mới bắt đầu xâm lược và trong gần một thế kỷ, nhân dân Việt Nam đã không ngừng đấu tranh chống bọn xâm lược, tỏ rõ tinh thần dũng cảm và chí khí anh hùng đặc biệt. Những cuộc chiến đấu du kích của Trương Công Định (1) và Trương Quyền ở Nam Bộ (1867)(2), các phong trào kháng chiến năm 1874 và nhất là năm 1884, cuộc đấu tranh trong mười hai năm do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1884-1896)(2)và sau đó là cuộc đấu tranh do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo(3) cho tới lúc Chiến tranh thế giới thứ nhất sắp bùng nổ, phong trào ở Trung Bộ (1907)(4), cuộc khởi nghĩa Biên Hoà (1914-1915) (5) , cuộc khởi nghĩa ở Huế (1916)(6), cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên (1917)(7) , v.v. tất cả những phong trào đó đã chứng tỏ cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân Việt Nam giành tự do và độc lập dân tộc. Nhưng ở thời đại đó, bọn vua chúa và bọn phong kiến còn chịu trách nhiệm trước lợi ích dân tộc, chúng đã thi hành chính sách đầy tội lỗi là luôn luôn phản bội những nguyện vọng của nhân dân, nên những nguyện vọng này không thể nào thực hiện được.

Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã đem lại một đà thúc đẩy mới cho cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Việc chính quyền Xôviết trẻ tuổi giải quyết mau chóng vấn đề các thuộc địa cũ của Nga hoàng, trả lại tự do cho các dân tộc, đã có một tiếng vang mạnh mẽ trong tất cả các nước thuộc địa hoặc nửa thuộc địa ở châu á. Chủ nghĩa Mác – Lênin chiến thắng đã chỉ cho tất cả các dân tộc đó con đường tự giải phóng.

Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời ở Việt Nam vào tháng 1-1930(8). Trong khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930)(9) giai cấp tư sản mất hết ảnh hưởng đối với phong trào giải phóng dân tộc thì giai cấp công nhân và quần chúng lao động trong giai cấp nông dân đã tự tổ chức lại chính đảng của mình, chính đảng này đã trở thành người lãnh đạo duy nhất cuộc cách mạng phản đế. Tháng 9-1930, chính quyền nhân dân đầu tiên đã được thành lập ở ba huyện miền Bắc Trung Bộ. Chủ nghĩa đế quốc đã đàn áp phong trào một cách dã man chưa từng thấy…

Nhưng ngay từ năm 1940, nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang lại được tổ chức ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam nhằm chống bọn thực dân Pháp và bọn đế quốc Nhật(10). Tuy bị đàn áp, những phong trào khởi nghĩa đó là những tia lửa, những đốm lửa để 5 năm sau bùng nổ thành một cuộc cách mạng đập tan nền thống trị của nước ngoài ở Việt Nam.

Tháng 5-1941, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Minh(11) được thành lập, đó là khối đoàn kết rộng rãi nhất chưa từng có trong phong trào giải phóng dân tộc ở nước chúng tôi. Mặt trận dân tộc, trong đó Đảng là lực lượng chủ yếu, đã động viên và tổ chức các nhóm du kích chiến đấu suốt trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, bên cạnh các nước Đồng minh, chống bọn phát xít xâm lược.

Những chiến thắng của quân đội xôviết anh dũng đè bẹp nước Đức của Hítle và sau đó đè bẹp chủ nghĩa đế quốc Nhật đã góp phần mạnh mẽ làm cho Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945 thắng lợi và, ngày 2 tháng 9, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố thành lập.

Như vậy, do chủ nghĩa phát xít thất bại, tình hình thế giới trở nên thuận lợi và Cách mạng Tháng Tám(12)đã thành công vì có được ba điều kiện không thể thiếu được đối với bất cứ một cuộc cách mạng phản đế nào ở một nước thuộc địa; đó là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự thành lập một mặt trận dân tộc phản đế rộng rãi, khởi nghĩa vũ trang.

Từ đó, lịch sử nước chúng tôi đã mở ra một chương xán lạn. Nhân dân Việt Nam đã được tự do. Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi ách thống trị của bọn thực dân, khỏi mọi sự nô dịch khác của chủ nghĩa đế quốc và khỏi sự bóc lột ghê tởm của bọn phong kiến và bọn quan lại.

Lần đầu tiên nhân dân lao động trở thành người chủ của bản thân mình và của vận mệnh đất nước. Họ bắt tay lao động để trừ bỏ bóng ma khủng khiếp của nạn đói đã giết chết hai triệu người trong những tháng cuối cùng của nền thống trị đế quốc chủ nghĩa (cuối năm 1944 đến năm 1945). Họ cố gắng hàn gắn những vết thương tàn phá do chế độ nô lệ tồi tàn để lại, là chế độ đã kéo dài mãi đến giữa cái thế kỷ đầy các cuộc cách mạng thắng lợi này. Nhân dân lao động đã bầu ra Quốc hội, bắt đầu xây dựng chính quyền nhân dân và thi hành nhiều biện pháp để xoá bỏ mau chóng nạn mù chữ và sự dốt nát do nền thống trị thực dân để lại.

Nhưng bọn thực dân Pháp vẫn mơ tưởng có thể lập lại chế độ áp bức của chúng ở nước chúng tôi. Chúng coi thái độ hoà bình của chúng tôi là một sự yếu đuối. Được các lực lượng phản động Anh – Mỹ khuyến khích, ủng hộ và thông đồng với bè lũ Tưởng Giới Thạch, ngày 23-9-1945(13)chúng đã tấn công vào nhân dân Việt Nam ở Sài Gòn, rồi chúng tìm cách xâm nhập miền Bắc. Tiếp đó, bọn thực dân giày xéo lên những điều mà chúng đã cam kết trong các bản Hiệp định sơ bộ ngày 6-3(14) và Tạm ước ngày 14-9-1946(15), chúng đã gây ra vụ tàn sát ở Hải Phòng, chiếm đóng Lạng Sơn và liên tiếp khiêu khích cho đến ngày 19-12 là ngày bắt đầu cuộc kháng chiến của toàn thể dân tộc chúng tôi chống bọn xâm lược.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ dân chủ, toàn dân đã đứng dậy muôn người như một để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ những thành quả của Cách mạng Tháng Tám.

Cuộc chiến tranh cứu nước bắt đầu trong những điều kiện vật chất bất lợi cho nhân dân Việt Nam: nạn đói còn hoành hành, bọn tay sai của chủ nghĩa thực dân Pháp và của chủ nghĩa đế quốc Nhật còn đầy dẫy, quân đội nhân dân thì mãi đến những cuộc chiến đấu sau này mới thành lập được. Như vậy, trong tình hình trước mắt, quân đội viễn chinh Pháp dường như nắm được ưu thế về quân sự và quân thù đã lợi dụng tất cả những khó khăn của chúng tôi, chúng tưởng rằng những khó khăn đó sẽ giúp chúng mau chóng chiến thắng quân đội trẻ tuổi của chúng tôi và tiêu diệt được Chính phủ dân chủ của chúng tôi. Nhưng tình hình đã xảy ra ngược hẳn lại và chứng tỏ rằng chúng đã lầm to.

Được sự ủng hộ của các giới phản động Mỹ, quân thù đã lập tức tiến hành một cuộc chiến tranh toàn diện chống lại nhân dân Việt Nam. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, nhân dân Việt Nam đã tập trung cố gắng và không ngừng chiến đấu chống quân thù. Nhân dân Việt Nam đã hết sức đẩy mạnh và phát triển chiến tranh du kích tận các vùng bị địch kiểm soát. Nhân dân Việt Nam đã củng cố được hậu phương và phấn khởi xây dựng quân đội nhân dân của mình. Phối hợp với các chiến sĩ du kích, quân đội nhân dân đã chiến đấu dũng cảm và tiêu diệt quân thù trong nhiều chiến dịch: ở Việt Bắc hồi Thu – Đông năm 1947(16) , trên biên giới Việt- Trung(17)trong những tháng cuối năm 1950, ở vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, ở Hoà Bình(18), ở Ba Vì và trên sông Đà năm 1951, ở miền Nam Việt Nam năm 1952, ở Lai Châu năm 1953 và cuối cùng, ngày 7-5-1954 quân đội nhân dân đã giành được thắng lợi quyết định ở Điện Biên Phủ. Chiến thắng Điện Biên Phủ ngay trước hôm Hội nghị Giơnevơ khai mạc đã có ảnh hưởng lớn đến các công việc của Hội nghị và góp phần vào việc ký kết các Hiệp định Giơnevơ đảm bảo lập lại hoà bình ở Đông Dương trên cơ sở thừa nhận các quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam, Miên và Lào.

Đồng thời, những âm mưu chính trị của bọn thực dân và đế quốc như “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, trò hề “độc lập” và “dân chủ” nhằm đánh lạc hướng nhân dân chúng tôi, trò hề “cải cách điền địa” theo kiểu đế quốc…, đều bị phá sản.

Sau hết, trong suốt thời kỳ đó, Đảng và Chính phủ cũng đã quan tâm đến việc xây dựng và phát triển kinh tế, tài chính và văn hoá của nước Cộng hoà dân chủ. Trước hết, cuộc cải cách ruộng đất theo nguyên tắc “người cày có ruộng” bắt đầu được tiến hành. Nhờ cố gắng duy trì và phát triển các ngành thiết yếu của tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, nhân dân và quân đội đã có thêm nhiều hàng tiêu dùng. Việc trồng lúa và hoa màu cũng như các công trình nhằm cải tiến việc tưới nước và chống lụt đều được khuyến khích. Ngành vận tải và giao thông được đảm bảo phát triển trong mức độ cần thiết. Khu vực quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân – Ngân hàng quốc gia, và các xí nghiệp thương nghiệp – đã ra đời và không ngừng tiến triển. Nền giáo dục quốc dân, việc giáo dục cho nông dân và binh sĩ, cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ, tuy có những điều kiện khó khăn, nhưng đã đạt được những kết quả phi thường.

Như vậy, trong tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị và kinh tế trên đây, nước Cộng hoà dân chủ trẻ tuổi của chúng tôi đã vượt qua một cách vẻ vang sự thử thách của chiến tranh, trong đó theo Lênin mọi đức tính của một dân tộc phải được biểu lộ đầy đủ.

Lòng yêu nước nồng nàn, sự thống nhất về tinh thần và chính trị của nhân dân và quân đội xung quanh Đảng và Chính phủ đã giúp chúng tôi vượt qua những thử thách khó khăn không tưởng tượng được và tạo những điều kiện về chính trị, kinh tế và quân sự để chiến thắng.

Lòng tin tưởng không gì lay chuyển nổi vào thắng lợi của sự nghiệp chính nghĩa của mình đã cổ vũ nhân dân chúng tôi và đã kích thích tinh thần dũng cảm của họ. Những đức tính về đạo đức và tinh thần chiến đấu mà các binh sĩ, các chiến sĩ du kích và các cán bộ của chúng tôi đã học tập được trong lịch sử đặc biệt phong phú của phong trào giải phóng dân tộc, đã giúp quân đội trẻ tuổi của chúng tôi lập được những chiến công lịch sử, tô lên ngọn cờ của mình một niềm vinh quang bất diệt.

Gương sáng của các chiến sĩ và các dân tộc Liên Xô và Trung Quốc đã không ngừng cổ vũ nhân dân, binh sĩ của chúng tôi và góp phần rèn luyện những anh hùng của chúng tôi.

Nhân dân Pháp và tất cả các dân tộc yêu chuộng hoà bình trên thế giới đã có sự ủng hộ rất quý báu đối với chúng tôi. Họ đứng về phía chúng tôi trong những lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến và chia sẻ nỗi vui mừng với chúng tôi khi hoà bình được lập lại.

Nước Cộng hoà dân chủ đã giành được một thắng lợi tất nhiên vì đó là thắng lợi của những người bị áp bức đối với kẻ áp bức, thắng lợi của tự do đối với nô lệ. Nhân dân chúng tôi đã thoát khỏi một lần nữa sự nô dịch, những thành quả của Cách mạng Tháng Tám: hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ đã được bảo vệ và củng cố.

*

*     *

Hoà bình đã được lập lại ở Đông Dương trên cơ sở thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước: Việt Nam, Lào và Miên.

Hội nghị Giơnevơ năm 1954 đã đem lại hoà bình cho chúng tôi, nhưng chừng nào nước chúng tôi còn bị giới tuyến tạm thời ở vĩ tuyến 17 chia cắt thì hoà bình còn chưa được củng cố. Hơn nữa, thái độ của các nhà cầm quyền miền Nam và những kẻ đỡ đầu họ đang đe doạ nghiêm trọng nền hoà bình vừa mới được lập lại từ hai năm nay.

Quả vậy, nếu bước thứ nhất tức là giai đoạn quân sự ghi trong các Hiệp định Giơnevơ nói chung đã kết thúc một cách mỹ mãn vì toàn bộ lãnh thổ miền Bắc Việt Nam đã được giải phóng, thì ngược lại bước thứ hai, tức là giai đoạn đưa đến thống nhất nước Việt Nam bằng tổng tuyển cử năm 1956, chưa bắt đầu thực hiện được chút nào vì chính quyền Diệm cố tình ngăn trở.

Các nhà cầm quyền miền Nam tàn sát dã man đồng bào chúng tôi và tất cả các lực lượng yêu nước và hoà bình sống ở miền Nam: trong vòng một năm, họ đã gây ra trên ba nghìn vụ tội ác và vi phạm các Hiệp định Giơnevơ. Ít nhất đã có bốn nghìn người yêu nước bị giết hoặc bị thương và trên mười chín nghìn người bị bắt. Ngoài những hành động khủng bố đó, chính quyền Diệm còn ráo riết thi hành đường lối chính trị của Mỹ nhằm biến miền Nam Việt Nam thành một thuộc địa và một căn cứ quân sự của Mỹ, căn cứ này sẽ sáp nhập lâu dài vào phạm vi hoạt động của tổ chức xâm lược Đông – Nam Á (19). Tuy có những hành động như vậy, nhưng Ngô Đình Diệm vẫn tự xưng một cách vô liêm sỉ là “chiến sĩ” của hoà bình, dân chủ và độc lập của Việt Nam.

Tình hình đó quyết định những nhiệm vụ của Chính phủ nước Cộng hoà dân chủ. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tự định ra cho mình mục tiêu đầu tiên là thi hành triệt để và đầy đủ Hiệp định Giơnevơ, nghĩa là triệu tập ngay tức khắc hội nghị hiệp thương giữa hai miền Nam và Bắc, đó là bước đầu tiên tiến tới chuẩn bị cuộc tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước. Như vậy, hoà bình và thống nhất đất nước là những đòi hỏi chủ yếu của chúng tôi trong thời kỳ hiện nay.

Ngoài ra, chúng tôi phải hàn gắn lại những vết thương chiến tranh, nâng cao dần mức sống của nhân dân và xây dựng ở nước chúng tôi một cuộc đời mới thật sự tự do và dân chủ. Để làm được việc đó, một mặt chúng tôi phải khôi phục kinh tế quốc dân: nông nghiệp, thủ công nghiệp, vận tải và công nghiệp. Từ khi được hưởng hoà bình, nhân dân chúng tôi càng hăng hái bước vào con đường đó. Nhưng chúng tôi còn phải phấn đấu rất nhiều để khôi phục lại những ruộng đất bị bỏ hoang, sửa lại đê điều để chống lụt và xây dựng một hệ thống nông giang để đất nước chúng tôi không còn bị hạn hán và đói kém nữa, vì đói kém và hạn hán là hai thứ đi liền nhau như bóng với hình. Mặt khác, trên cơ sở nâng cao năng suất lao động, chúng tôi phải nâng cao dần phúc lợi của nhân dân lao động Việt Nam.

Do chiến tranh, chủ nghĩa thực dân và chế độ phong kiến để lại tình trạng như vậy nên những nhiệm vụ nói trên thật là nặng nề và phức tạp. Nhưng nhờ sự giúp đỡ của các nước anh em, chúng tôi ngày càng có nhiều khả năng và có thể tin tưởng vào một tương lai đầy thắng lợi. Thực vậy, sau các cuộc hội đàm giữa đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam với các nhà lãnh đạo Liên Xô và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa hồi tháng 7, Liên Xô và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã quyết định giúp đỡ nước chúng tôi tổng cộng là 1.530 tỷ đồng Việt Nam trong những năm sắp tới. Các nước dân chủ khác cũng có sự giúp đỡ quý báu đối với công cuộc khôi phục của chúng tôi. Sự giúp đỡ đó được tiến hành dưới hình thức trao cho chúng tôi dụng cụ, máy móc và nhân viên kỹ thuật; nhiều khu vực kinh tế và văn hoá Việt Nam được hưởng sự giúp đỡ đó.

Sự giúp đỡ đó là vô tư, vô điều kiện và có ích cho nhân dân, khác hẳn sự “viện trợ” theo quan niệm của bọn đế quốc. Thông qua “viện trợ” của chúng, bọn đế quốc luôn luôn theo đuổi những mục đích bóc lột và nô dịch, điều này đã được kế hoạch Mácsan (20) kế hoạch làm mất dần chủ quyền của các nước được “viện trợ” – chứng minh một cách hùng hồn.

Trong quan hệ đối với các nước khác, chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là rõ ràng và trong sáng: đó là một chính sách hoà bình và quan hệ tốt. Chính sách đó dựa trên năm nguyên tắc vĩ đại nêu trong các bản tuyên bố chung Trung – ấn và Trung- Miến, tức là: tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào các công việc nội bộ, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hoà bình. Đặc biệt Hội nghị Băngđung(21) tỏ rõ rằng những nguyên tắc đó được các giới rộng rãi trong dư luận Á – Phi tán thành.

Chúng tôi đặc biệt mong muốn duy trì những quan hệ hoà bình với các nước láng giềng như Miên và Lào. Đối với nước Pháp, chúng tôi tiếp tục chủ trương rằng trong những điều kiện bình đẳng tuyệt đối và cùng có lợi, trước hết là tin cậy lẫn nhau và hợp tác thẳng thắn, chúng tôi có thể thiết lập những quan hệ đặc biệt về kinh tế và văn hoá với nước Pháp.

Trong ngày Quốc khánh lần thứ mười này, nhìn lại quá khứ, nhân dân chúng tôi có thể tự hào chính đáng về con đường đã qua. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng và nhất là hướng về tương lai và thấy được những việc còn phải làm. Chúng tôi còn phải tiến hành một cuộc đấu tranh chính trị khó khăn, lâu dài và phức tạp. Nhưng nếu chúng tôi kiên trì, quyết tâm và nêu cao cảnh giác, nếu Đảng chúng tôi và Mặt trận dân tộc tiếp tục áp dụng những nguyên tắc phê bình và tự phê bình đã được khảo nghiệm – và chúng tôi có đủ mọi lý do để tin tưởng rằng Đảng chúng tôi và Mặt trận dân tộc nhất định sẽ tiếp tục áp dụng những nguyên tắc đó – thì chúng tôi chắc chắn sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn.

*

*     *

Trong mười năm vừa qua, phe hoà bình và dân chủ đã đạt được những tiến bộ to lớn, Liên Xô đã chiến thắng bọn xâm lược phát xít và từ đó tới nay đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản cũng như trong chính sách đấu tranh cho hoà bình và làm dịu tình hình căng thẳng trên thế giới; các nước dân chủ nhân dân đã được củng cố về mặt chính trị và kinh tế; cách mạng Trung Quốc thắng lợi đã giải phóng cho 600 triệu người đang nhịp bước tiến tới hạnh phúc; được sự ủng hộ anh em của quân chí nguyện Trung Quốc, nhân dân Triều Tiên đã đánh lùi được bè lũ Lý Thừa Vãn và những quân đội nấp dưới lá cờ Liên hợp quốc; nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh do bọn thực dân Pháp gây ra và đã giành được hoà bình ở Hội nghị Giơnevơ. Lực lượng hoà bình ngày càng lớn mạnh và củng cố được vị trí của mình. Tất cả những thành tựu to lớn đó đã đem lại cho nhân dân chúng tôi một niềm tin tưởng vô hạn vào tương lai huy hoàng của Tổ quốc và vào sự tất thắng của sự nghiệp của chúng tôi.

Mặc dù còn gặp khó khăn và trở ngại, chúng tôi tiến lên phía trước với lòng tin tưởng và tâm hồn của người chiến thắng!

——————————————-

Tuần báo Vì một nền hoà bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân, bản tiếng Pháp, số 356, ngày 2-9-1955.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin năm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

(2) Cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng: Cuộc khởi nghĩa chống Pháp nổ ra từ năm 1885 ở vùng Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh và sau đó lan rộng trong 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình, Thanh Hoá. Cuộc khởi nghĩa này do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Là một sĩ phu yêu nước, theo tiếng gọi của phong trào Cần Vương, Phan Đình Phùng đã chỉ huy nghĩa quân kiên trì chiến đấu, cho mãi tới khi ông lâm bệnh mất năm 1895, kẻ địch mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa. Tr.51.

(3) Cuộc đấu tranh của Hoàng Hoa Thám: Cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nông dân Yên Thế (Hà Bắc), nổ ra từ năm 1885. Năm 1888 ông Hoàng Hoa Thám tham gia nghĩa quân. Dũng cảm, có tài quân sự, biết thu phục lòng người nên ông dần dần trở thành lãnh tụ và linh hồn của cuộc khởi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của ông, nghĩa quân hoạt động du kích rất linh hoạt trong các vùng ở Lạng Sơn, Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, v.v.. Năm 1913, Hoàng Hoa Thám bị bọn phản động sát hại, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt. Tr.51.

(4) Phong trào đấu tranh ở Trung Kỳ năm 1907: Đây là Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về phong trào chống đi phu, chống sưu thuế năm 1908. Phong trào lúc đầu bùng nổ ở Quảng Nam, sau lan rộng ra Phú Yên, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá. Mục tiêu trước mắt của cuộc đấu tranh là chống sưu thuế, chống chế độ bắt phu (đương thời gọi là đi “xâu”).

Lúc đó, học ở trường Quốc học Huế với tên Nguyễn Tất Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào này. Tr.51.

(5) Cuộc khởi nghĩa Biên Hoà: Tháng 1-1916, nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân ta nổi lên ở Biên Hoà, Trà Vinh, chống lại việc thực dân pháp bắt lính đi làm bia đỡ đạn cho chúng ở chiến trường châu Âu. Những người bị Pháp bắt giam ở nhà lao Biên Hoà đã nổi dậy cướp súng của lính bắn vào các cơ quan chính quyền Pháp. Đỉnh cao của phong trào chống bắt lính là cuộc đánh phá khám lớn Sài Gòn ngày 15-2-1916. Tr.51.

(6) Cuộc khởi nghĩa ở Huế: Tháng 5-1916, tại Huế và Quảng Nam, Quảng Ngãi đã bùng nổ cuộc khởi nghĩa của nhân dân và binh lính người Việt bị thực dân Pháp tập trung chờ ngày đưa xuống tàu sang chết thay cho chúng trên chiến trường châu Âu. Nhiều tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc tới phong trào này. Tr.51.

7. Cuộc khởi nghĩa ở Thái Nguyên: Cuộc khởi nghĩa của binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp ở Thái Nguyên tháng 8-1917, do Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo. Thực dân Pháp phải đưa quân từ Hà Nội lên đàn áp. Sau 6 ngày chiến đấu quyết liệt, Lương Ngọc Quyến hy sinh, nghĩa quân rút về hoạt động ở vùng rừng núi Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên và Hoà Bình, Sơn Tây (Hà Tây). Tr.51.

(8) Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời ở Việt Nam: Vào những năm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam năm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này, đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.52.

(9) Cuộc bạo động Yên Bái: Cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức và thực hiện. Việt Nam Quốc dân đảng là một tổ chức cách mạng theo xu hướng quốc gia tư sản, thành lập ngày 25-12-1927.

Do đường lối tổ chức không chặt chẽ, lại kết nạp đảng viên dễ dãi, để bọn mật thám chui vào nên đầu năm 1930, cơ sở của đảng bị vỡ ở nhiều nơi, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt. Trước tình hình đó, các lãnh tụ của Đảng là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu quyết định khởi nghĩa, vì cho rằng: đằng nào đảng cũng bị khủng bố và bị tiêu diệt, cho nên cứ bạo động, “không thành công cũng thành nhân”.

Ngày 11-2-1930, 10 giờ tối, bạo động đã nổ ra. Nghĩa quân chiếm các đồn Pháp ở Yên Bái. Một bộ phận binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp phản chiến tham gia vào quân khởi nghĩa. Nghĩa quân chiếm được nhà dây thép, nhà ga, phát truyền đơn, hô hào quần chúng và binh lính hưởng ứng. Ngay sáng hôm sau, thực dân Pháp đã phản công, cuộc bạo động bị thất bại. Trong vòng một tuần, phong trào khởi nghĩa bị dập tắt ở các nơi. Nguyễn Thái Học và các lãnh tụ khác bị bắt và bị xử tử. Việt Nam Quốc dân đảng cũng bị tan rã.

Trong lúc Việt Nam Quốc dân đảng chuẩn bị khởi nghĩa, Nguyễn ái Quốc đang ở Xiêm (Thái Lan). Nghe tin đó, Nguyễn ái Quốc đã nhận xét: “Cuộc bạo động nổ ra lúc này là quá sớm, và khó thành công”. Người muốn gặp các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng để “bàn lại kế hoạch” nhưng không thực hiện được. Trong lúc Nguyễn ái Quốc vượt biên giới Thái Lan đến Trung Quốc, cuộc bạo động đã được chuẩn bị và vẫn nổ ra như trên. Tr.52.

(10) Các cuộc khởi nghĩa vũ trang trong năm 1940 và đầu năm 1941.

– Khởi nghĩa Bắc Sơn: Nổ ra đêm 27-9-1940 ở Bắc Sơn (thuộc tỉnh Lạng Sơn). Lúc bấy giờ bọn thực dân Pháp đã đầu hàng phát xít Đức ở chính quốc, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương rất hoang mang dao động. Khi quân Nhật tiến vào Lạng Sơn, chính quyền tay sai Pháp ở đây đã tan rã nhanh chóng. Chớp thời cơ đó, đảng bộ địa phương đã phát động khởi nghĩa.

Khoảng 600 quân khởi nghĩa có vũ trang đã nổi dậy chiếm đồn Mỏ Nhài, viên tri châu chạy trốn, nguỵ quyền tan rã, nhân dân hoàn toàn làm chủ châu lỵ và các vùng trong châu. Đội du kích địa phương được thành lập.

Nhưng sau đó, Nhật – Pháp lại thoả hiệp với nhau để đàn áp cuộc khởi nghĩa. Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1940 đã quyết định duy trì đội du kích Bắc Sơn làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai do Trung ương trực tiếp chỉ đạo.

– Khởi nghĩa Nam Kỳ: Nổ ra ngày 23-11-1940 ở hầu hết các tỉnh miền Nam, nhất là ở Mỹ Tho. Quần chúng nổi dậy rất dũng cảm, nhiều đồn bốt bị hạ, nhiều đường giao thông bị phá… Chính quyền địch ở một số nơi tan rã. ở những nơi đó, chính quyền cách mạng được thành lập và thực hiện những cải cách dân chủ. Cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện.

Cuộc khởi nghĩa này nổ ra khi chưa có chỉ thị của Trung ương Đảng, điều kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi, bọn phản động lại lọt vào hàng ngũ cách mạng và nắm được kế hoạch của cuộc khởi nghĩa, cho nên thực dân Pháp đã đàn áp đẫm máu cuộc khởi nghĩa này và cuối cùng cuộc khởi nghĩa bị thất bại.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vừa nổ ra thì ngay ngày hôm sau, Trung ương Đảng ta đã ra thông báo khẩn cấp gửi các cấp bộ Đảng, kêu gọi ủng hộ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.

– Khởi nghĩa Đô Lương: Cuộc bạo động của binh lính Việt Nam trong quân đội tay sai của thực dân Pháp, do Nguyễn Văn Cung (còn gọi là Đội Cung) lãnh đạo, nổ ra ngày 13-1-1941. Binh lính yêu nước đã nổi dậy đánh chiếm đồn Chợ Rạng (Đô Lương, Nghệ An) và sau đó tiến về đánh chiếm Vinh. Nhưng kế hoạch bị lộ, những người tham gia bạo động bị bắt, cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Tr.52.

(11) Mặt trận Việt Minh (hoặc Việt Minh): Là tên gọi tắt của Hội Việt Nam độc lập đồng minh, được thành lập tại Pác Bó (Cao Bằng), ngày 19-5-1941, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước đó và theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5-1941), nhằm mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Hội gồm các thành viên là Đảng Cộng sản Đông Dương và các Hội cứu quốc như Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Quân nhân cứu quốc, Hội Phụ lão cứu quốc, Hội Phật giáo cứu quốc, Hội Nhi đồng cứu quốc, v.v.. Đây là một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị và tôn giáo yêu nước, thành một lực lượng cách mạng hùng mạnh để chống kẻ thù chính của dân tộc Việt Nam lúc ấy là thực dân Pháp và phát xít Nhật.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, theo chủ trương của Đảng nhằm mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất để kháng chiến và kiến quốc, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời (gọi tắt là Liên Việt). Việt Minh đã gia nhập Liên Việt cùng nhau vận động nhân dân tham gia cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp. Ngày 5-3-1951, tại Đại hội Mặt trận thống nhất dân tộc toàn quốc, đã thống nhất hai tổ chức Việt Minh và Liên Việt thành Mặt trận Liên – Việt. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ mới, tháng 9-1955, Mặt trận Liên – Việt được tổ chức lại thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tr.52.

(12) Cách mạng Tháng Tám: Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam diễn ra và thắng lợi vào tháng 8-1945.

Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp ở Đông Dương, Đảng ta đã kịp thời phát động phong trào chống Nhật cứu nước, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 13-8-1945, được tin phát xít Nhật sắp đầu hàng Đồng minh, quân Nhật ở Đông Dương và bè lũ tay sai hoang mang cực độ, Đảng ta đã chớp lấy thời cơ ấy, quyết định tổng khởi nghĩa.

Từ ngày 14 đến 28-8-1945, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhất tề vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2-9-1945, tại cuộc mít tinh lớn ở vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố trước nhân dân Việt Nam và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Tr. 53.

(13) Ngày 23-9-1945: Thực dân Pháp, được thực dân Anh ủng hộ, đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, thực hiện âm mưu nhanh chóng chiếm lại nước ta. Xứ uỷ Nam Bộ quyết định phát động nhân dân kiên quyết kháng chiến chống xâm lược. Chiều ngày 23-9, đồng bào Sài Gòn – Chợ Lớn triệt để tổng đình công, không hợp tác với giặc. Chợ ngừng họp, xe cộ ngừng chạy, các hiệu buôn, nhà máy đóng cửa… Các chiến sĩ tự vệ công nhân, tự vệ thanh niên, các đội xung phong công đoàn, cảnh sát chiến đấu, công an xung phong cùng toàn thể đồng bào, với mọi thứ vũ khí có trong tay, dũng cảm đánh trả bọn xâm lược. Một loạt kho tàng của địch bị đánh phá, điện, nước bị cắt. Các đội vũ trang đột nhập sân bay Tân Sơn Nhất, đột nhập bến cảng đốt cháy tàu giặc vừa cập bến. Quân Pháp nhiều lần tiến ra phía cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Thị Nghè đều bị chặn lại…

Dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ, nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn đã kiên quyết kháng chiến, mở đầu cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào Nam bộ. Tr. 53.

(14) Hiệp định sơ bộ 6-3: Cuối tháng 2-1946, được sự đồng tình của đế quốc Mỹ, Pháp đã ký với Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh một bản Hiệp ước cho quân Pháp vào thay thế quân Tưởng ở miền Bắc Đông Dương. Mặc dù vậy, bọn quân phiệt Tưởng vẫn trì hoãn việc rút quân về nước, kéo dài sự có mặt của chúng ở Việt Nam để cướp bóc nhân dân ta và phá hoại cách mạng nước ta.

Để loại trừ bớt một kẻ thù nguy hiểm của cách mạng và cũng để tranh thủ thời gian củng cố lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ, chuẩn bị lực lượng ở miền Bắc để đối phó với nguy cơ chiến tranh trong phạm vi cả nước, ngày 3-3-1946 Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị Tình hình và chủ trương phân tích sâu sắc tình hình, âm mưu và thủ đoạn xảo quyệt của bọn đế quốc và tay sai và nêu lên chủ trương tạm thời hoà hoãn với Pháp. Chỉ thị cũng vạch ra những nguyên tắc cơ bản cho việc đàm phán giữa ta và Pháp. Ngày 5-3-1946, Hội nghị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tán thành chủ trương trên của Ban Thường vụ Trung ương Đảng.

Thực hiện chủ trương đó, ngày 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ tại số nhà 36 Lý Thái Tổ, Hà Nội.

Nội dung cơ bản của bản Hiệp định sơ bộ là: Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Nước Việt Nam có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Sự thống nhất đất nước sẽ do trưng cầu ý dân quyết định. Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp được vào thay thế quân Tưởng rút về nước. Số quân đó phải đóng ở những nơi được quy định và phải rút khỏi Việt Nam trong vòng 5 năm, mỗi năm rút một phần năm. Quân đội hai bên ngừng bắn và ở nguyên vị trí đóng quân.

Trong hoàn cảnh lịch sử đó, việc ký Hiệp định sơ bộ là một trong những sách lược cách mạng đúng đắn, sáng suốt. Nó đã tạo điều kiện để chúng ta tổ chức lại cuộc kháng chiến ở Nam Bộ; đuổi nhanh quân Tưởng về nước, diệt bọn Việt gian tay sai của Tưởng, giành thêm thời gian hoà bình để xây dựng và củng cố lực lượng của ta chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược. Tr.53.

(15) Tạm ước 14-9: Bản Tạm ước do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp, tại Pari ngày 14-9-1946.

Do thái đội ngoan cố và hiếu chiến của thực dân Pháp, cuộc đàm phán giữa Chính phủ ta và Chính phủ Pháp tại Phôngtennơblô không đi đến kết quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ nguy cơ của một cuộc chiến tranh ác liệt có quy mô cả nước mà Người dự đoán từ trước, đã đến gần. Để có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và để tỏ thiện chí của Chính phủ ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó đang ở Pari với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, đã tranh thủ dàn xếp, ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước này.

Nội dung cơ bản của bản Tạm ước là sự thoả thuận tạm thời giữa ta và Pháp về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận. Chính phủ Pháp phải thi hành các quyền tự do, dân chủ và phải ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ ta tạm thời nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hoá ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Tạm ước 14-9 là một sách lược ngoại giao tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tạm ước đã tạo điều kiện để nhân dân ta có thêm thời gian hoà bình, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt để tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược. Tr. 53.

(16) Chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông năm 1947: Để thực hiện ý đồ tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta, giành thắng lợi quyết định về quân sự và nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, ngày 7-10-1947, thực dân Pháp đã huy động 20.000 quân tinh nhuệ được trang bị đầy đủ vũ khí, phương tiện hiện đại, mở cuộc hành quân tấn công lên Việt Bắc.

Thi hành Chỉ thị của Đảng ta “Phải phá tan cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp”, bảo vệ cơ quan đầu não của kháng chiến, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu đánh địch ở khắp các mặt trận và lập những chiến công vang dội tại Đoan Hùng, Khe Lau, Sông Lô, Bông Lau, Phủ Thông, Đèo Ràng, v.v..

Sau gần 3 tháng chiến đấu (từ 7-10 đến 22-12-1946), quân và dân ta đã đánh hơn 200 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 7000 tên địch; bắn rơi 18 máy bay; bắn chìm và bắn cháy 54 ca nô, tàu chiến; phá huỷ 255 xe cơ giới; thu hàng nghìn súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự khác. Âm mưu thâm độc của thực dân Pháp hòng nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược nước ta đã bị thất bại. Tr.54.

(17) Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn): Tức là chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950, còn gọi là chiến dịch Lê Hồng Phong II được tiến hành theo quyết định hồi tháng 6-1950 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, phá tan vòng vây của chủ nghĩa đế quốc với ta.

Đầu tháng 9-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên đường ra mặt trận.

Sáng ngày 16-9-1950, chiến dịch bắt đầu. Bộ đội ta đánh chiếm Đông Khê, một căn cứ quan trọng của địch trên tuyến phòng ngự đường số 4, nằm giữa Lạng Sơn và Cao Bằng. Bị mất Đông Khê, quân đội Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng theo kế hoạch: Một mặt dùng gần hết lực lượng dự bị còn lại ở Bắc Bộ để mở cuộc hành binh Phốccơ (Phoque) lên chiếm thị xã Thái Nguyên, mặt khác, dùng binh đoàn Lơ Pagiơ mở cuộc hành binh Têredơ (Therèse) từ Lạng Sơn theo đường số 4 rút về.

Sáng ngày 7-10-1950, quân ta tiêu diệt toàn bộ binh đoàn Lơ Pagiơ tại Cốc Xá cách Đông Khê 7 kilômét. Chiều ngày 7-10-1950, quân ta lại tiêu diệt gọn binh đoàn Sáctông tại điểm cao 477 ở gần Cốc Xá về phía Tây. Binh đoàn từ Thất Khê lên ứng cứu cũng bỏ chạy. Tại Thái Nguyên, quân địch bị quân ta chặn đánh dữ dội, đã phải tháo chạy.

Trong 13 ngày (từ 10 đến 23-10-1950), địch liên tiếp bỏ các vị trí Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đình Lập, An Châu rút về Tiên Yên ở khu vực duyên hải. Hệ thống phòng tuyến đường số 4 của địch bị phá vỡ.

Trong chiến dịch Biên giới, quân ta đã tiêu diệt và bắt sống 8.000 tên địch (trong đó bắt sống 3.500 tên), tiêu diệt gọn một nửa lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc Đông Dương, thu nhiều vũ khí; giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn, nhiều vùng đất đai quan trọng, cả một dải biên giới dài 750 kilômét, bao gồm 35 vạn dân. Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và củng cố. Cách mạng nước ta lần đầu tiên đã phá tan vòng vây của chủ nghĩa đế quốc.

Chiến dịch Biên giới là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của quân và dân ta, một chiến dịch đánh vận động, đánh tiêu diệt xuất sắc, đạt hiệu suất chiến đấu cao, đánh dấu bước phát triển mới về quyền chủ động của quân đội ta trên chiến trường chính. Tr.54.

(18) Chiến dịch Hoà Bình: Bắt đầu từ ngày 25-11-1951. Trung tuần tháng 11-1951, thực hiện kế hoạch của Đờlát Đờ Tátxinhi, thực dân Pháp đã mở cuộc càn quét lên vùng Hoà Bình, âm mưu lập lại hành lang Đông – Tây, chặn đường tiếp tế của ta, lập “xứ Mường tự trị” hòng chia rẽ các dân tộc thiểu số, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta và giành lại thế chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Lực lượng được chúng huy động cho cuộc hành quân này gồm 20 tiểu đoàn tinh nhuệ, lúc cao nhất lên tới 29 tiểu đoàn, có không quân, pháo binh và cơ giới yểm trợ.

Nắm chắc chủ trương và lực lượng của địch, ngày 24-11-1951, Trung ương Đảng ra Chỉ thị: Nhiệm vụ phá cuộc tiến công lên Hoà Bình của địch. Chỉ thị vạch rõ, nhiệm vụ của ta trong chiến dịch này là tiêu diệt địch ở mặt trận chính diện, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, mở rộng các khu căn cứ du kích.

Thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã chiến đấu dũng cảm trên các mặt trận. ở mặt trận chính diện, quân ta đánh địch trên cả 3 phân khu: Chợ Bến, sông Đà và Hoà Bình, với các chiến thắng vang dội ở Tu Vũ, đường số 6, sông Đà, v.v.. ở mặt trận sau lưng địch, chiến tranh du kích phát triển rất mạnh ở Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, v.v.. Trước sự tiến công của ta ở cả hai mặt trận, ngày 23-2-1952, quân địch phải rút chạy khỏi Hoà Bình. Tổng kết chiến dịch, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 22.000 tên địch, (riêng ở mặt trận Hoà Bình, số địch bị tiêu diệt là hơn 6.000 tên), bắn rơi 13 máy bay, bắn cháy 23 tàu chiến và canô, phá huỷ 17 xe tăng, thu nhiều đồ dùng quân sự. Hơn 2 triệu dân và một vùng đất đai rộng lớn được giải phóng. Tr.54.

(19) Hiệp ước Manila: Được ký kết giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilơn, Pakixtan, Thái Lan, Philíppin tại Manila (Philíppin) vào ngày 8-9-1954. Nội dung căn bản của bản Hiệp ước này là việc thành lập “Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Đông – Nam Á (SEATO)”. Khối quân sự- chính trị nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc và các lực lượng tiến bộ ở khu vực Đông – Nam Á. Theo điều khoản của Hiệp ước, các thành viên của khối SEATO có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau trong trường hợp một nước bị tấn công hay có “nguy cơ bị tấn công”. Không những thế, bản Hiệp ước còn cho phép các nước này tiến hành các hoạt động quân sự ngoài khu vực của các nước thành viên. Các nước tham gia Hiệp ước còn ký một văn kiện bổ sung cho phép thực hiện các điều khoản của Hiệp ước ở miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, vi phạm trắng trợn các nghị quyết của Hội nghị Giơnevơ năm 1954. SEATO đã tổ chức nhiều cuộc tập trận, tích cực ủng hộ và can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương. Do những mâu thuẫn trong nội bộ các nước thành viên, năm 1976, khối SEATO tự tuyên bố giải tán. Tr. 57.

(20) Kế hoạch Mácsan: Kế hoạch viện trợ kinh tế của Mỹ cho các nước tư bản châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do Mácsan, Quốc vụ khanh Chính phủ Mỹ, đề ra ngày 5-6-1947.

Thực chất của kế hoạch Mácsan là nhằm thực hiện mưu đồ của đế quốc Mỹ khống chế kinh tế, quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Các nước tiếp nhận kế hoạch Mácsan phải dành cho Mỹ những đặc quyền có tính chất một chiều; phải ngừng buôn bán với Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân. Phần lớn số tiền mà các nước nhận được từ kế hoạch Mácsan, do sức ép của Mỹ đều chi vào mục đích quân sự. Ngoài ra đế quốc Mỹ còn được phép xây dựng nhiều căn cứ quân sự tại những nước này. Tr.58.

(21) Hội nghị Băngđung: Họp từ ngày 18 đến 24-4-1955, tại Băngđung (Inđônêxia). Do sáng kiến của 5 nước khởi xướng là Inđônêxia, Mianma, Xri Lanca, Pakixtan, ấn Độ. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đại biểu 29 nước ở châu á, châu Phi, bao gồm hơn nửa nhân loại, đã họp nhau lại để giải quyết những vấn đề chung của các nước đó. Mặc dù chế độ kinh tế, xã hội khác nhau, những nước đó đoàn kết lại vì nguyện vọng chung là hoà bình và độc lập dân tộc. Đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đã có đóng góp tích cực vào Hội nghị. Thông cáo chung của Hội nghị nêu rõ: chủ nghĩa thực dân, dưới mọi biểu hiện của nó, là một tai hoạ cần phải nhanh chóng tiêu diệt. Các nước á-Phi hoàn toàn ủng hộ quyền bình đẳng và tự quyết dân tộc, lên án chính sách phân biệt chủng tộc và Thông cáo chung kêu gọi các nước hãy tiến hành ngay việc giải trừ quân bị, ngăn cấm việc sản xuất vũ khí hạt nhân; thực hiện hoà bình, hợp tác thân thiện và giải quyết những vấn đề tranh chấp bằng thương lượng. Tr.58.

cpv.org.vn

Không chỉ là Tết Độc lập…

– Cuộc sống vẫn phải đổi thay. Dù không còn cảm xúc Tết Độc lập nhưng giá trị của Độc lập, Tự do thì chắc hẳn nó vẫn nằm sâu đâu đó trong tâm khảm mỗi người để khi cần thiết nó sẽ  lại được huy động vào một hành động chung…

Tại sao gọi là Tết Độc lập?

Theo nghĩa đen, “Tết Độc lâp” được dành cho Tết Bính Tuất (1946) là cái Tết Nguyên đán cổ truyền đầu tiên được tổ chức trong khung cảnh đất nước đã độc lập sau 80 năm bị đô hộ của thực dân Pháp. Trong bài báo có nhan đề là “Tết” đăng trên “Cứu Quốc”, Bác viết rằng đây là “Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam Độc lập”.

Giao thừa năm đó, Bác cải trang hoà mình vào dòng người đi lễ và hái lộc trong Đền Ngọc Sơn rồi nửa đêm Bác đi thăm một vài gia đình nghèo nhất, không có Tết và đề nghị lãnh đạo Hà Nội lo Tết cho đồng bào nghèo.

Nhưng “Tết Độc lập” cũng còn được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945) cho đến nhiều năm về sau.

Sở dĩ như vậy vì theo cách gọi của người xưa chữ “Tết” là biến âm của chữ “tiết” theo nghĩa của Hán tự để nói đến những thời điểm lập lại trong tiến trình vận hành của thời gian trong mỗi năm mà nó mang một ý nghĩa nào đó với đời sống tâm linh hay tín ngưỡng của dân gian.

Theo tâp quán dân gian, ngoài Tết Nguyên đán là mở đầu cho một năm mới; còn rất nhiều sinh hoạt tín ngưỡng cũng được gọi là “Tết”, ví như: Tết Trung Thu, Tết  Đoan Ngọ, Tết Hàn thực (ít nhiều có ảnh hưởng với văn hoá Trung Hoa)… Vì thế, khi người dân Việt Nam gọi Ngày Độc lập (2/9/1945) và những ngày Quốc khánh hàng năm là “Tết Độc lập” là theo cái nghĩa một sự kiện có ý nghĩa như cái mốc mở ra một cái gì tốt đẹp cho cả một dân tộc. Đó là một ngày hội thực sự của những con người nhận thấu được một sự thay đổi to lớn không chỉ với quốc gia mà với chính mỗi con người.

“Tết Độc lập” cũng được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945). Ảnh dongautaivietnam“Tết Độc lập” cũng được sử dụng trong dân khi đón Lễ Quốc khánh 2/9 kể từ năm khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945). Ảnh dongautaivietnam

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi dùng hình tượng một dân tộc “rũ bùn đứng dậy”, còn những sĩ phu của nền học cổ hay những trí thức của nền học mới thì nhận ra từ cái nhục vong quốc nô trở thành một “dân quốc”, một công dân của một quốc gia độc lập tự do. Còn số đông người dân thì nhận thấy những kẻ cai trị hôm qua như thực dân, quan lại phong kiến giờ đây đã bị tước đoạt hết quyền lực và họ nhận thấy hy vọng của sự “đổi đời” khi thấy mọi thứ đã khác trước.

Tâm trạng của số đông ấy là có thực, với những người cao tuổi thì là một phần ký ức sâu sắc; còn với những người không được sống vào thời điểm lịch sử ấy chúng ta có thể thấy được phần nào sự “thăng hoa” hay “hưng phấn” ấy qua những dấu ấn của đời sống văn hoá, xã hội mà báo chí, các tác phẩm văn chương và nghệ thuật phản ánh lại.

Tết Độc lập “thời lập bàn thờ Tổ quốc là trên hết”

Ý niệm về Tết Độc lập ấy kéo dài qua cuộc kháng chiến chống thực dân để có ngày chiến thắng 1954. Một lần nữa cái cảm nhận về “Tết Độc lập” trở lại sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng kéo dài phần nào cho đến trước khi chiến tranh trở lại…

Khi Cách mạng thành công, tôi chưa ra đời. Nhưng tôi có thể thấy phần nào không khí vào thời điểm Thủ đô giải phóng (10/10/1954) với cái Tết giải phóng đầu tiên, năm 1955.

Tôi nhớ hồi đó người ta hay lập các “bàn thờ Tổ quốc” ở nơi công cộng hay ở cả một số gia đình. Trên bàn thờ ngoài những vật thờ như bàn thờ gia tiên thế nào cũng có lá cờ đỏ sao vàng và dòng chữ để cao nơi trang trọng nhất: “Tổ quốc trên hết”.

Hồi đó, tôi còn thấy một tập quán vốn có từ thời Cách mạng mới thành công 1945-1946 là người ta đun những nồi nước chè đặt cửa nhà mình hay nơi công cộng để cho khách vãng lại dùng. Việc đón các chú bộ đội, hay cán bộ miền Nam tập kết về nhà mình là phổ biến.  Một bữa ăn thịnh soạn hơn ngày thường để người ta tập trung ôn lại những ngày đầu “dân quốc” mới cách đó chưa đầy một thập kỷ và những ngày tạm chiếm vừa mới qua…

Rồi không khí “Tết” dường như nhạt dần cùng với những khó khăn về kinh tế, đặc biệt là những rạn vỡ trong quan hệ giữa người với người. Thời kỳ chiến tranh phá hoại mới bùng nổ, gặp khó khăn chung con người có thể bắt đầu hàn gắn và cô kết lại. Người thành phố sơ tán về nông thôn vẫn nhận được những tình cảm chia sẻ rất mộc mạc của người dân quê với câu đầu lưỡi “Ơn Đảng, ơn Bác” các ông các bà mới về đây với chúng tôi. Họ chia sẻ thực sự cái tình đồng bào tưởng chừng đã mất. Và cái không khí “Tết Độc lập” có phần nào trở lại trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, cái ý nghĩ chính trị hoà vào trong nếp sống và ứng xử văn hoá… Nhưng chiến tranh qua rồi thì hình như nó lại bắt đầu nhàn nhạt dần, đến hôm nay ít người còn gọi Ngày Quốc khánh là “Tết Độc lập”.

“Có độc lập tự do mà cuộc sống của người dân chưa no ấm, hạnh phúc thì cũng vô nghĩa”

Ý niệm về “Tết Độc lập” đã phai dần trước những thử thách mới. Không phải là chiến tranh, vì với chiến tranh gian khổ hy sinh nhưng người ta còn hy vọng vào ngày chiến thắng. Chính quá trình tìm kiếm con đường phát triển, cùng với nó là một số chính sách, nhất là những “chính sách cải tạo” với hy vọng sẽ xây dựng một xã hội mới tốt đẹp nhưng duy ý chí đã làm đổ vỡ không ít những giá trị tốt đẹp và niềm tin.

Sau những sai lầm trong cải cách ruộng đất dù đã được nỗ lực sửa sai, tiếp đó cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, thực chất là tấn công vào sở hữu tư nhân và đội ngũ các nhà công thương đã từng được tôn vinh từ những ngày đầu  nước nhà Độc lập; kể cả cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nông thôn mà tập trung ở quá trình hợp tác hoá ở nông thôn, nhân danh chủ nghĩa tập thể đã tước đoạt phần nào một vài thành quả mà cách mạng và kháng chiến đã đem lại với mục tiêu “ruộng đất cho dân cày” đã khiến cho không khí xã hội mất dần cảm xúc ngày Tết. Còn lại chỉ là những chương trình nặng tính tuyên truyền chính trị pha thêm những quan điểm không tưởng gắn với đấu tranh giai cấp.

Hơn nữa chiến tranh diễn ra trên cả nước khốc liệt nên ít ai nghĩ về Ngày Quốc khánh như những ngày hội mà chủ yếu là những đợt vận động chính trị hướng về tiền tuyến…

Đến nay, dù cuộc sống của nhân dân đã yên bình và ngày một sung túc hơn, nhưng cảm xúc về một ngày Tết Độc lập cũng không còn như trước lâu. Trong khi, các nhà chính trị luôn hướng tâm thức Ngày Tết Nguyên đán tới “Mừng Đảng, mừng Xuân”, xu thế chung ngày Tết người dân thường hướng về đời sống gia đình, tổ tiên và thoả mãn những nhu cầu của chất lượng sống hiện đại như du lịch hay làm từ thiện!

Đó cũng là điều thường tình. Vì nếu trong những buổi đầu Đất nước mới độc lập thì người dân thấy hiểu hơn cái giá trị độc lập vốn là niềm khao khát bấy lâu.

Nhưng để có lại được không khí Tết Độc lập, để không khí đó sẽ trở thành động lực cho con đường mà dân tộc ta sẽ phải tiến nhanh hơn, tiêu chí hàng đầu chính là niềm tin của người dân và tình yêu nước phải được hướng vào những giá trị đích thực.

Với thế hệ hiện tại, sinh ra đã là người dân độc lập rồi, có lẽ người dân thấm câu nói Bác Hồ đã từng đề cập tới từ rất sớm là “Có độc lập tự do mà cuộc sống của người dân chưa no ấm, hạnh phúc thì cũng vô nghĩa”.

Dẫu rằng, nhiều cái tốt đẹp trong quá khứ mất dần là điều khó tránh… Cuộc sống vẫn phải đổi thay. Nhưng chắc chắn rằng, không còn cảm xúc Tết Độc lập nhưng giá trị của Độc lập, Tự do thì chắc hẳn chẳng nó vẫn nằm sâu đâu đó trong tâm khảm mỗi người để khi cần thiết nó sẽ  lại được huy động vào một hành động chung…

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

Tầm vóc lịch sử, ý nghĩa thời đại sâu sắc của Tuyên ngôn độc lập

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”.

Lời tuyên bố trịnh trọng vang lên giữa Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời, thay mặt toàn bộ dân nước, không chỉ là lời tuyên bố trước toàn thể thế giới về sự có mặt của một dân tộc anh hùng, về sự khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Châu Á mà còn thể hiện một sự tự nhận thức về những giá trị nhân văn, giá trị tiến bộ của một dân tộc hàng nghìn năm chìm đắm trong nô lệ và nghèo nàn, lạc hậu; là tuyên ngôn của lòng quyết tâm thực thi các giá trị tiến bộ đó trên đất nước mình.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 được coi là áng thiên cổ hùng văn của Việt Nam, bên cạnh bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi.

Với 1.009 chữ, Tuyên ngôn Độc lập Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn được thế giới coi là tác phẩm tuyên ngôn mẫu mực, chặt chẽ về luật pháp, giàu hình ảnh văn học, thể hiện rõ được ý chí nguyện vọng của dân tộc, của thời đại ; mang tính lịch sử và nhân văn, tính đặc thù và phổ quát.

Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Mc Govern năm 2005 đã đánh giá: Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn Thomas Jefferson và suy luận một cách sáng suốt.

Mở đầu bản tuyên ngôn là một chân lý hiển nhiên: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Tạo hóa, Đấng Tối cao trong quan niệm Phương Tây, cũng như Trời, Đạo Trời trong cách nghĩ của người Phương Đông đều thể hiện một quyền lực, một chân lý tuyệt đối, không ai chống lại được, không phải bàn cãi.

Đoạn trích đầu từ Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ , bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trên thế giới được soạn thảo bởi Luật sư danh tiếng bang Virginia, ông Thomas Jefferson(1743-1826), sau này là Tổng thống Hoa Kỳ (1801-1809), được tuyên đọc ngày 4-7-1776, chấm dứt sự phụ thuộc của Mỹ đối với Anh. “Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc nào đó cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn trái đất vị thế độc lập và bình đẳng mà các quy luật của tự nhiên và Thượng đế đã ban cho họ thì sự tôn trọng đầy đủ với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi họ phải tuyên bố những nguyên do dẫn họ đến sự độc lập đó”.

Đoạn trích thứ hai từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1789.

Mở đầu Tuyên ngôn của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không chỉ thể hiện tính hợp pháp, hợp lý của nó ở tầm quốc tế; không chỉ là một “đòn đánh chặn” đối với thực dân Pháp và đế quốc can thiệp Mỹ lúc đó, mà còn thể hiện tính hội nhập vào tiến trình dân chủ thế giới trong những khái niệm tự do, bình đẳng, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc mà nền tảng là độc lập dân tộc.

Tội to nhất mà Tuyên ngôn khẳng định là tội cướp nước, áp bức; trái nhân đạo, chính nghĩa; bóp nghẹt tự do, dân chủ. Những điều đó đến nay và muôn sau vẫn còn mang ý nghĩa thời sự, vẫn khích lệ con người đấu tranh để xóa bỏ.

Tổng kết phong trào đấu tranh cứu nước suốt nửa cuối thế kỷ 19, nửa đầu thế kỷ 20, mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn viết: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Đoạn văn chính luận mẫu mực ấy không chỉ cho ta thấy kết quả to lớn, vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, còn cho thấy tính nhân văn của dân tộc, của cách mạng vô sản nước ta. Đành rằng trong lịch sử, trong bão táp cách mạng, có nhiều hy sinh, nhiều oan khuất nhưng trong so sánh chung, không ít những cuộc chiến tranh, cách mạng trên thế giới đẫm máu hơn nhiều.

Truyền thống hiếu sinh từ Nguyễn Trãi, đến tư tưởng nhân nghĩa Hồ Chí Minh là nguồn gốc của sức mạnh văn hóa, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. Bác Hồ từng nói:

“Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”. Ngày nay, đọc lại Tuyên ngôn Độc lập và bình tĩnh suy xét lịch sử, thì cái kết quả mà cách mạng tạo ra nước độc lập, dân tự do cũng là khát vọng nghìn đời, mong mỏi của mọi người dân yêu nước, dù ở hoàn cảnh nào, phương trời nào.

Như trên đã nói, điều cốt lõi nhất mà chúng ta, mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều hướng tới là độc lập dân tộc. Nhưng độc lập sẽ không có ý nghĩa gì nếu người dân không đủ cơm ăn , áo mặc, không được thực hiện quyền làm chủ của mình một cách đầy đủ. Ba quyền của mỗi con người, mỗi dân tộc mà Tuyên ngôn nhấn mạnh, đó là quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do.

Ba quyền ấy, dưới chế độ thực dân, phong kiến; dưới sự lệ thuộc kinh tế, chính trị vào nước khác, đã bị tước đoạt.

Dưới chế độ ta, ba quyền ấy cần phải được đảm bảo ngày một tốt hơn. Đó là ý nghĩa thời sự, là mục tiêu không thể xa rời của sự nghiệp cách mạng.

Và không chỉ vào năm 1945, không chỉ vào những ngày đất nước bị giày xéo dưới gót giày xâm lược; ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập phải là tuyên ngôn hùng hồn của mỗi chúng ta, của mọi thời đại.

Nguyễn Sĩ Đại

dvt.vn

Những hồi ức về một mùa thu

Cụ Vi Văn Định với con cháu và các con rể (GS Hồ Đắc Di - hàng đầu, bên phải và GS Nguyễn Văn Huyên - hàng sau, bên trái) ở vùng Ngòi Quẵng, Chiêm Hóa, Tuyên Quang

TTCT – Chính ngọn cờ đại nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lôi cuốn được trăm ngàn nhân sĩ, trí thức dấn thân, bền chí đi theo con đường cách mạng gian khó, hiểm nguy.

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, cụ Phan Kế Toại giữ chức khâm sai đại thần, làm việc tại Bắc Bộ phủ. Người con trai cụ Toại là anh Phan Kế An, sinh viên Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, tham gia phong trào sinh viên cứu quốc, thường bí mật tìm mua vũ khí cho Việt Minh rồi cất giấu trong nhà cụ ở làng Mông Phụ, xã Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây).

Nghe phong thanh vậy, nhưng bọn Nhật chưa vội “động thủ” mà gửi công văn cho quan khâm sai, khuyến cáo về một “trào lưu nguy hiểm”, rồi nhắc nhở: “Rất tiếc, trong số đó có cả quí công tử!”

Cụ Toại xem xong bức công văn, cười, rồi đưa cho anh Phan Kế An xem để đề phòng. Bọn Nhật đâu có ngờ chính quan khâm sai cũng đã lặng lẽ mua ủng hộ Việt Minh 500 đồng tín phiếu!

Gần đây, trong cuốn Hồi ký Thanh Nghị, luật sư Vũ Đình Hòe kể lại: Theo gợi ý của ông Dương Đức Hiền – một lãnh đạo phong trào sinh viên cứu quốc, ông Vũ Đình Hòe tìm gặp ông Nguyễn Văn Huyên, em vợ cụ Toại, nhờ ông Huyên “tháp tùng” để vào Bắc Bộ phủ “thăm” cụ. Ông Hòe nói:

– Anh em trí thức Hà Nội rất hoan nghênh cụ “cáo ốm”, không chịu đi hiểu dụ nhân dân “bán” thóc cho Nhật. Nhưng anh em muốn cụ làm mạnh hơn!…

Cụ Toại liền vặn lại ông Hòe:

– Thế ông là Việt Minh à?

Ông Hòe bèn lảng sang chuyện khác.

Cụ Toại mỉm cười, nói nhỏ:

– Thôi, ông đừng giấu tôi nữa! Con cháu tôi cũng vào Việt Minh rồi mà!

Phó thủ tướng Chính phủ kháng chiến Phan Kế Toại cùng con trai là họa sĩ Phan Kế An ở Tân Trào, Tuyên Quang

Việt Minh chủ trương giúp cụ Toại, không để cụ bị bọn Nhật lợi dụng đàn áp cách mạng, và để khi thời cơ tới thì việc tiếp quản chính quyền tránh được đổ máu. Nhưng sau bị Nhật o ép quá, cụ Toại đành từ chức, trao lại quyền cho ông Nguyễn Văn Chữ vào ngày 17-8-1945, chỉ hai ngày trước khi nổ ra cuộc biểu tình bao vây Bắc Bộ phủ.

Trong một thiên hồi ký, giáo sư Nguyễn Xiển cho biết: tình hình biến chuyển mau lẹ, đang giữ chức giám đốc Đài Thiên văn Phủ Liễn ở Kiến An, Hải Phòng, ông đạp xe một mạch về Hà Nội, đúng vào lúc quần chúng đang bao vây Bắc Bộ phủ, bọn bảo an binh bên trong đang chờ lệnh của quan khâm sai Nguyễn Văn Chữ (mới được Nhật đưa lên thay cụ Toại).

“Tôi liền dựng xe đạp – giáo sư Nguyễn Xiển kể – vượt hàng rào sắt vào gặp ông Chữ, nói với ông ta: “Nhật đầu hàng rồi, quần chúng đang bao vây tòa nhà này, các ông chống thế nào được? Để tránh đổ máu, ông nên ra gặp họ đi!”.

Đầu năm 1947, cụ Phan Kế Toại nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời lên Việt Bắc tham gia Chính phủ kháng chiến. Cùng lên Đinh Hóa vào ngày đầu nổ súng chống Pháp còn có các cụ Bùi Bằng Đoàn, Vi Văn Định, linh mục Phạm Bá Trực…

***

…Mùa hè nóng bỏng năm 1946.

Mặc dù phải lo toan biết bao công việc, trước khi lên đường sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không quên giao nhiệm vụ cho ông Hoàng Hữu Nam, thứ trưởng Bộ Nội vụ, phải đón cho kỳ được cụ Vi Văn Định – nguyên tổng đốc Thái Bình – về sống ở Hà Nội, kẻo “hữu sự thì không kịp”!

Phát xít Đức chiếm Paris, quân Nhật tiến vào Đông Dương. Năm 1942, cụ Vi xin hưu, về ở ẩn tại bản quê dưới chân núi Mẫu Sơn. Cụ Vi có ba chàng rể sống ở Hà Nội, đều được cách mạng tin cậy giao trọng trách: Nguyễn Văn Huyên – bộ trưởng Bộ Giáo dục; Hồ Đắc Di – hiệu trưởng Trường đại học Y kiêm giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Trung ương quân đội); Tôn Thất Tùng – giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức).

Bác nói: “Con cháu cụ Vi đều đi với cách mạng cả. Hãy mời cụ về Hà Nội!” và dặn phải cho những cán bộ cách mạng trước đây từng bị cụ Vi bắt giam (khi cụ còn là tổng đốc) cầm giấy mời của Chính phủ trân trọng trao tận tay cụ, để cụ thấy ta không giữ hận thù mà thật lòng đoàn kết. Ông Ba Ngọ, một cựu chính trị phạm, được giao việc đó, cùng đoàn cán bộ Chính phủ đến Bản Chu, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Ông Ba Ngọ tha thiết mời cụ quay trở lại Hà Nội (cụ có một tòa biệt thự ở góc hồ Thiền Quang). Nhưng cụ từ chối:

– Tôi nay già yếu rồi! Chắc chẳng đóng góp được gì. Xin để cho “lão giả an chi”!

Ông Ba Ngọ cùng đoàn cán bộ đành lui ra nghỉ tạm tại thị xã Lạng Sơn. Hai hôm sau, ông lại quay trở vào Bản Chu. Lần này, cụ Vi không nỡ từ chối. Cụ cho mời tất cả bà con trong làng và các trại vùng quanh, tất cả khoảng vài nghìn người (cụ vốn thuộc dòng họ “thiên hộ hầu”) đến dự bữa cỗ tiễn biệt. Nhà nước ta đã giữ trọn lời hứa, chăm sóc cụ Vi cho đến lúc cụ qua đời tại Hà Nội, ngày 20-12-1975, thọ 96 tuổi.

HÀM CHÂU
cpv.org.vn

Từ bài học đầu tiên

Cách đây đúng 65 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng,toàn thể dân tộc Việt Nam đã tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công. Cách mạng Tháng Tám, như tên gọi, là một cuộc cách mạng. Xét về ý nghĩa của một cuộc cách mạng, chúng ta đã rút ra nhiều bài học vô cùng quý báu. Và bài học đầu tiên trong những bài học đó là: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để lãnh đạo cách mạng thành công, Đảng phải dựa vào nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu và phục vụ, luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân.

Khi phát động cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, chúng ta chỉ có ít vũ khí thô sơ, Đảng ta cũng chỉ có khoảng 5.000 đảng viên – một con số rất nhỏ bé so với tổng số dân nước ta lúc đó là khoảng 20 triệu người. Nhưng nhiều hơn như vậy và mạnh mẽ hơn như vậy chính là sức mạnh bão táp của cả dân tộc, sức mạnh được tổ chức và tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản vì khát vọng độc lập, tự do.

Với đường lối đúng đắn của Đảng tiên phong cách mạng, Đảng ta đã gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội và những quyền lợi thiết thực của tất cả các tầng lớp nhân dân, từ đó động viên được hàng chục triệu người tham gia vào dòng thác của một cuộc cách mạng toàn dân để chỉ trong vòng nửa tháng đã xác lập chính quyền nhân dân trong cả nước. Trong những ngày tháng ấy, Đảng đã làm tất cả những gì cần phải làm và có thể làm để quần chúng nhân dân ý thức về quyền lợi và sức mạnh của mình, để nhân dân tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của mình, đồng lòng theo Đảng làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Dù thời cuộc trải qua bao biến động, song bài học về sức mạnh to lớn của nhân dân và sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân từ Cách mạng Tháng Tám vẫn luôn có ý nghĩa thời sự, sâu sắc. 65 năm qua, Đảng ta đã luôn phát huy bài học của Cách mạng Tháng Tám trong việc huy động lực lượng quần chúng tham gia các phong trào cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn trong toàn xã hội, quan tâm đến lợi ích chính đáng, trực tiếp của nhân dân, dựa vào dân, phát huy vai trò sáng tạo của nhân dân để thực hiện mục tiêu bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đang được thể chế hóa, hệ thống pháp luật, chính sách ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ, tạo điều kiện khơi dậy sức mạnh nội lực, tranh thủ ngoại lực cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Bên cạnh những thành tựu, chúng ta cũng nhận rõ những khó khăn, thách thức không nhỏ, đặc biệt là khi đất nước đang chủ động hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám trong bối cảnh cả nước đang tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Thấm thía bài học lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám, chúng ta cũng thấy rõ hơn những điều mới mẻ, gần gũi với thực tế và vận mệnh đất nước đang diễn ra hôm nay.

Thực tế tình hình đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh sự đổi mới trong xây dựng Đảng, kiện toàn bộ máy Nhà nước, kiên quyết chống tệ nạn tham nhũng đang làm xói mòn niềm tin và quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin trong nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nên bước đột phá của đất nước trong thời kỳ mới là cách thiết thực nhất kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám.

Theo: SGGP online

hcmpc.com.vn

“Ông Hồ đã tìm thấy bên trong đất nước của mình điều bí mật về sức mạnh dân tộc”

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đã được thế giới tôn vinh là người anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới.

Nhân dân ta đã phải tiếp tục trải qua 30 năm dài chiến đấu, đầy gian khổ hy sinh để giữ vững nền độc lập, thống nhất của mình. Ngày nay, lịch sử Việt Nam đã bước sang những trang mới vẻ vang của thời kỳ đổi mới, nhưng chúng ta đều biết rằng: Tất cả những thành quả đó đều bắt nguồn từ những hoạt động tìm đường cứu nước của Bác, từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và từ cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại!

Tháng 4-1921, với bài báo “Đông Dương” trên tạp chí Revue Communiste, Nguyễn Ái Quốc viết:

“Người Đông Dương không được học, đúng thế, bằng sách vở và bằng diễn văn, nhưng người Đông Dương nhận sự giáo dục bằng cách khác. Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ… Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến.

Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(1).

Tháng 5-1921, Nguyễn ái Quốc viết tiếp:

“Người ta đưa người Đông Dương vào chỗ chết trong cuộc chém giết của bọn tư bản để bảo vệ những cái gì mà chính họ không hề biết. Người ta đầu độc họ bằng rượu cồn và thuốc phiện. Người ta kìm họ trong ngu dốt… Người ta bịa đặt ra những vụ âm mưu để cho họ nếm những ân huệ của nền văn minh tư sản ở trên máy chém, trong nhà tù hay đày biệt xứ!

… 20 triệu dân bị bóc lột tàn nhẫn trong tay một nhóm kẻ cướp thực dân, đấy là xứ Đông Dương hiện nay”(2).

Ngày 23-6-1924, tại phiên họp thứ 8 Đại hội lần thứ 5 Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn phát biểu, mạnh mẽ đấu tranh cho mục tiêu giải phóng dân tộc:

“Tôi thấy rằng hình như, các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng cho rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa…

Các đồng chí thứ lỗi về sự mạnh bạo của tôi, nhưng tôi không thể không nói với các đồng chí rằng, sau khi nghe những lời phát biểu của các đồng chí ở chính quốc, tôi có cảm tưởng là các đồng chí ấy muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc. Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các thuộc địa cung cấp binh lính cho quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Các thuộc địa trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng. Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa”(3).

Trong tài liệu nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003, cũng nêu rõ:

“Nếu ở phương Tây, các nhà kinh điển mác xít cho rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người tuy có liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng trước hết, phải giải phóng giai cấp công nhân, thì Hồ Chí Minh khẳng định: Đối với phương Đông, trong đó có Việt Nam, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trên hết, trước hết.

Hồ Chí Minh cho rằng, trong điều kiện các nước thuộc địa thì giải phóng dân tộc là cơ sở để giải phóng giai cấp, giải phóng con người”.

Ngay từ khi thành lập Đảng, trong Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ nhiệm vụ của cuộc Cách mạng là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”(4).

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 họp tại Pác Bó tháng 5-1941, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, khẳng định: “Nhiệm vụ bức thiết nhất của Cách mạng Đông Dương lúc này là giải phóng dân tộc… Trong lúc này quyền lợi của bộ phận giai cấp phải đặt dưới sự tồn vong sinh tử của quốc gia dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(5).

Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Ban Thường vụ Trung ương họp mở rộng và ra Chỉ thị lịch sử: “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào.

Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân tiếp tục họp tại Tân Trào, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ của nước ta nền đỏ sao vàng, chọn bài “Tiến quân ca” làm Quốc ca và bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(6).

Ngay trong đêm 13-8-1945, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc đã gửi Quân lệnh số 1 cho đồng bào và chiến sĩ cả nước, nhanh chóng vùng dậy giành độc lập.

Từ 14 đến 18-8-1945, Tổng khởi nghĩa đã diễn ra ở nông thôn miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An (Quảng Nam).

Ngày 19-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi rực rỡ tại Thủ đô Hà Nội. Hàng vạn nhân dân nội, ngoại thành xuống đường thị uy. Quần chúng tiến vào chiếm lĩnh phủ Khâm sai, Toà Thị chính, Trại Bảo An…

Từ 19-8 đến 22-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa tại các thị xã Yên Bái, Thái Bình, Phúc Yên, Thanh Hoá, Khánh Hoà, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên, Nam Định, Hưng Yên, Kiến An, Quảng Yên đã giành thắng lợi.

Ngày 23-8-1945, cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi ở thành phố Huế. 15 vạn nhân dân Huế, Thừa Thiên đã nổi dậy bắt vua Bảo Đại phải thoái vị, nộp ấn kiếm cho cách mạng, xoá bỏ chính thể quân chủ ở Việt Nam.

Từ 23-8 đến 25-8-1945, các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Định, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tây Ninh, Biên Hoà, Đồng Nai Thượng giành thắng lợi.

Sáng 24-8-1945, tại Sài Gòn, Đảng ra hoạt động công khai, đông đảo quần chúng phấn khởi nhìn lá cờ đỏ búa liềm tung bay trước gió.

1 giờ sáng ngày 25-8-1945, toàn bộ chính quyền thành phố Sài Gòn đã thuộc về Cách mạng.

Như vậy là chỉ trong vòng nửa tháng, cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại đã thành công trong cả nước!

L.A Pat-ti, một tình báo Mỹ, người đã được Bác Hồ đọc cho nghe Bản Tuyên ngôn độc lập trước ngày đọc ở Ba Đình và cũng là người có mặt ở Hà Nội ngày 2-9-1945 đã viết trong cuốn sách “Why Viet Nam” (Tại sao Việt Nam) dày ngót một nghìn trang, có đoạn kể lại ngày 2-9 ở Ba Đình:

“Tiếng loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, người ta giới thiệu “ông Hồ là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng hát vang và trong mấy phút liền hô vang “Độc Lập”, “Độc Lập”. Ông Hồ mỉm cười, nhỏ nhắn trong tầm cỡ, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, mà ngày nay đã trở thành nổi tiếng…”(7).

Hen Xơ-bớc-lem, tác giả cuốn “Việt Nam một dân tộc trong Cách mạng” đã viết: “Đối với Việt Nam, Cách mạng Tháng 8 là cuộc thử sức bằng cả lực lượng và tài trí. Ông Hồ đã tìm ra giải pháp đúng, đi nước cờ thật tài ba tuyệt diệu… Những người đứng đầu Việt Minh được tán thành do quá khứ của họ và quá khứ lâu dài của Đảng Cộng sản Đông Dương… Ông Hồ đã tìm thấy bên trong đất nước của mình điều bí mật về sức mạnh dân tộc, sức mạnh của 25 triệu người Việt Nam lúc ấy”(8).

___

(1, 2, 3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 1, tr.28, 34, 273. (4, 6) Sđd, tập 3, tr.1, 554. (5) Văn kiện Hội nghị TW Đảng lần thứ 8. (7) Why Việt Nam – NXB Đà Nẵng, năm 2001. (8) Cách mạng Tháng 8 với các học giả nước ngoài, Báo Người Đại biểu nhân dân, tháng 8-2001.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn