Thư viện

Học tập cách viết của Bác Hồ

(GD&TĐ) – Hồ Chí Minh là nhà báo lớn của dân tộc. Người đã hoạt động báo chí liên tục suốt cuộc đời cách mạng của mình. Người để lại một di sản báo chí quý báu với khoảng 2000 bài báo đủ các thể loại. Tìm hiểu di sản báo chí đồ sộ của Bác Hồ, mỗi người làm báo có thể tiếp cận học tập được nhiều điều bổ ích cho công việc của mình. Bài viết này sẽ trình bày một số điểm thiết thực có thể học tập từ cách viết của Bác Hồ.

Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957
Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957

Viết phải có mục đích

Hồ Chí Minh tâm niệm: “Viết và nói phải có mục đích, phải có nội dung”. Trả lời câu hỏi “Viết để làm gì?” Người khẳng định: “Viết để tuyên truyền, để giác ngộ, để đoàn kết, để thức tỉnh quần chúng”. Người cũng chỉ rõ thêm: “Báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ Chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới” và “Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ”. Với mục đích như vậy, rõ ràng hoạt động báo chí nói chung và việc viết báo nói riêng không thể tách rời với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Điều này đòi hỏi người viết phải có lập trường chính trị đúng đắn, vững vàng, phải có nhãn quan chính trị sắc bén và phải có độ nhạy cảm chính trị – xã hội cao. Trong đó, ngòi bút của nhà báo phải hướng tới phục vụ lợi ích của Đảng, của dân, của đất nước và dân tộc.

Viết phải có nội dung

Về nội dung, Hồ Chí Minh xác định: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội”. Còn đối với địch “thì nêu những cái xấu của nó để cho bộ đội ta, đồng bào ta biết…để gây lòng căm thù đối với quân địch”. Như thế, nội dung viết phải nhằm tới việc thực hiện mục đích viết, giúp cho việc đạt được mục đích viết. Nội dung viết phải chứa đựng những thông tin, những vấn đề của thực tiễn thực sự cần thiết cho bạn đọc, phục vụ lợi ích của bạn đọc, lợi ích của dân của nước. Muốn được như vậy, người viết phải năng động, xông xáo, bám sát thực tiễn, tìm tòi, phát hiện.

Viết phải đúng sự thật

Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra”. Như vậy, Người yêu cầu bài viết phải bảo đảm tính chân thực. Không bảo đảm tính chân thực sẽ làm mất niềm tin của bạn đọc, sẽ không thuyết phục được họ. Muốn vậy, người viết phải bám sát thực tiễn, điều tra, nghiên cứu, xem xét, kiểm tra, chọn lọc thông tin, phải thực sự cẩn trọng khi viết bài, đưa tin. Với tinh thần như vậy, Hồ Chí Minh căn dặn: “Không nên nói ẩu”; “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói chớ viết”. Đáng tiếc là hiện nay nhiều người viết còn chưa thực sự cẩn trọng khi viết bài, đưa tin, vì nôn nóng muốn có tin bài ”nóng” mà không thẩm tra, cân nhắc kỹ lưỡng, đưa lên mặt báo những tin bài có nội dung sai lạc; điều này nhiều khi gây ra những hậu quả tiêu cực khôn lường.

Ngắn gọn

Ngắn gọn là điều Hồ Chí Minh rất chú trọng khi viết. Người chỉ rõ: “Trước hết là cần phải tránh cái lối viết “rau muống”, nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh”. Mình viết ra cốt để giáo dục, cổ động, nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích…”. Người giải thích: “Ngắn gọn có nghĩa là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn”. Ngắn gọn với ý nghĩa như vậy đòi hỏi bài viết phải hàm súc, cô đọng, mỗi chữ, mỗi ý đều phải thực sự thiết thực, gắn với mục đích đặt ra, không có chữ thừa, ý thừa. Để đạt được điều này, điều tối quan trọng là người viết phải rèn luyện công phu. Hồ Chí Minh đã từng kể lại việc Người đã học viết báo công phu như thế nào, khởi đầu là viết ngắn, sau đó là viết dài, rồi từ viết dài phải tập viết ngắn lại, viết cho cô đọng ra sao. Viết dài, ba hoa, sáo rỗng rõ ràng là điều tối kỵ đối với người viết, nhưng không phải hiện nay người viết báo nào cũng tránh được điều này. Để bài viết được ngắn gọn, cũng cần chống tư tưởng viết dài chiếm nhiều “diện tích” trên mặt báo để được trả nhuận bút nhiều hơn.

Trong sáng, giản dị, dễ hiểu

Trong sáng, giản dị, dễ hiểu là điều có thể nhận thấy rất rõ ở tất cả các bài viết của Hồ Chí Minh, dù các bài viết này thuộc thể loại nào, phục vụ cho đối tượng người đọc nào, nói về những vấn đề cụ thể nào của cuộc sống chiến đấu, lao động hay những vấn đề lớn nào của đất nước, dân tộc, thời đại. Theo Hồ Chí Minh, muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu phải học cách nói của quần chúng. Có học cách nói của quần chúng thì mới được người đọc là quần chúng chấp nhận. Người dạy “chớ ham dùng chữ”, “viết phải thiết thực”. Mặc dù là người uyên bác, am hiểu văn hóa phương Đông, phương Tây, biết nhiều ngoại ngữ nhưng Người thường sử dụng từ ngữ đơn giản, thông dụng mà lại phản ánh đúng bản chất sự vật, có sức thuyết phục cao. Chính bởi vậy nhiều câu, nhiều ý trong các bài viết của Người đã đi vào đời sống và trở thành khẩu hiệu, phương châm hành động như: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền…” vv… Người cực lực phê phán những cách dùng chữ cầu kỳ, không phù hợp đối tượng, ví dụ như đem “tân dân chủ nghĩa” giáo dục cho các cháu nhi đồng chẳng hạn.

Cái tâm người cầm bút

Tôi muốn dùng mục nhỏ này để thay cho lời kết của bài viết. Cái tâm là điều chúng ta có thể cảm nhận được và học tập từ tất cả các bài viết của Bác Hồ. Cái tâm là điều không thể dùng kỹ thuật viết thay thế được. Cái tâm ở đây chính là tình cảm rộng lớn và sâu sắc của Người đối với đồng bào, đồng chí, đồng loại, với các cháu thiếu niên, nhi đồng, với đất nước, dân tộc. Chính tình cảm lớn này đã góp phần quan trọng nâng nhà báo lớn Hồ Chí Minh lên tầm một danh nhân văn hóa kiệt xuất.

TS. Nguyễn Danh Bình
gdtd.vn

Học tập “phong cách học tập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(GD&TĐ) – Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là tấm gương sáng ngời về tư tưởng, đạo đức, trí tuệ, tài năng, nhân cách và lối sống mà còn là một mẫu mực về phương pháp và phong cách. Phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà người đã để lại cho dân tộc và nhân loại.

Trong đó, phong cách học tập là một trong những nội dung cơ bản trong phong cách Hồ Chí Minh. Nghiên cứu ngày càng sâu về phong cách học tập Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy rõ hơn tầm vĩ đại của Người với tư cách là nhà tư tưởng lớn, nhà chiến lược thiên tài, nhà hoạt động thực tiễn lỗi lạc và là tấm gương sáng ngời đã để lại những bài học quý giá trở thành chuẩn mực cho việc xây dựng và rèn luyện phong cách học tập của người cán bộ cách mạng, bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Phong cách học tập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ở động cơ học tập trong sáng, thái độ học tập đúng mực và phương pháp học tập khoa học, sáng tạo với phương châm lấy tự học làm trung tâm. Phương pháp đó là sự thống nhất biện chứng giữa động cơ, thái độ, nội dung và phương pháp học tập.

Bác Hồ thăm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc (1958) và dạy: Bác Hồ thăm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc (1958) và dạy: “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, người chủ tương lai của nước nhà… Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống nhân dân”.

Phong cách học tập Hồ Chí Minh là một cống hiến quan trọng, là đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận dạy – học của nước ta; trở thành một triết lý học tập; một giá trị nhân sinh cao đẹp, tiêu biểu cho trí tuệ, tâm hồn và phong cách Việt Nam – phong cách đó rất gần gũi, dung dị mà sâu sắc; uyên bác mà dễ hiểu, dễ tiếp thu và chuyển hóa, có thể học tập và làm theo. Phong cách học tập Hồ Chí Minh thấm nhuần triết lý hành động của phương Đông, đồng thời được soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nên rất đa dạng, phong phú, sinh động nhưng sâu sắc. Phong cách học tập đó không những tạo cơ sở khoa học mà còn là tấm gương mẫu mực và thiết thực cho mọi người học tập và tự học tập suốt đời để vươn lên không ngừng. Phong cách đó không chỉ là lý luận mà còn là cách thức và phương pháp soi đường và chỉ dẫn cho chúng ta học tập và noi theo.

Nét đặc trưng trong phong cách học tập Hồ Chí Minh mang tính độc đáo, đó là phong cách học tập hàm chứa những yếu tố rất giản dị, đại chúng với động cơ, mục đích cao cả, trong sáng mà thiết thực; với thái độ cầu thị, khiêm tốn nhưng lại đòi hỏi rất cao và hết sức nghiêm túc; với phương pháp học tập khoa học mà dễ nhớ, dễ hiểu, phù hợp với mọi đối tượng, lứa tuổi… Cụ thể là:

Một là, động cơ học tập trong sáng vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì sự tiến bộ của nhân loại. Quan tâm, chăm lo tới sự nghiệp giáo dục của nước nhà, Hồ Chí Minh luôn kêu gọi mọi người thi đua học tập, coi học tập là nhiệm vụ thường xuyên, suốt đời, “còn sống thì còn phải học”. Và trong việc học tập Người đặc biệt chú trọng đến động cơ, thái độ học tập: “Muốn học tập có kết quả thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng” [1]. Tức là, trước hết phải có động cơ học tập đúng để xác định rõ và đúng xu hướng nghề nghiệp chân chính của mình là vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì con người và vì sự tiến bộ của chính bản thân mình. Theo Hồ Chí Minh, mục đích của việc học tập là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại ”[2 ].

Động cơ chính là động lực bên trong của mỗi con người, sự thể hiện nó được biểu hiện qua hành vi, thái độ và việc làm của con người đó. Do vậy, chỉ khi nào xác định được động cơ học tập đúng đắn thì mỗi chúng ta mới có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn và khoa học. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào người học cũng phải nỗ lực, cố gắng và phải xây dựng cho mình một động cơ học tập đúng đắn; đồng thời không cho phép tồn tại những tư tưởng cơ hội, vụ lợi, thực dụng, ích kỷ cá nhân, hay những biểu hiện lười học tập, ngại rèn luyện, hoặc là dùng mọi thủ đoạn nhằm đạt kết quả cao trong học tập. Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học để tin vào đoàn thể, vào nhân dân, vào tương lai của dân tộc và tương lai của cách mạng, học để hành”; “học để làm việc”; chứ không phải học để “làm ông nọ bà kia”, hay là để “làm quan cách mạng”… cho nên, “tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch”[ 3].

Với tầm nhìn xa trông rộng, Hồ Chí Minh đã thấy rõ vai trò của việc học tập đối với người cán bộ cách mạng. Trong nhiều lần nói chuyện với giới trí thức, Bác thường nhấn mạnh tầm quan trọng của công việc học tập: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”. Trên cơ sở nắm bắt được xu thế của thời đại và khả năng dự báo được tương lai, Người đã chỉ rõ: “Tình hình thế giới và trong nước luôn luôn biến đổi, công việc của chúng ta nhiều và mới, kỹ thuật của thế giới ngày càng tiến bộ, nhưng sự hiểu biết của chúng ta có hạn. Muốn tiến bộ kịp sự biến đổi vô cùng tận, thì chúng ta phải nghiên cứu, học tập”[ 4] và “nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được … không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”. Người thường dẫn câu nói của Lênin “Học, học nữa, học mãi” để nhắc nhở bản thân, để giáo dục cán bộ, đảng viên và mọi người.

Bản thân Hồ Chí Minh đã nêu gương mẫu mực về động cơ học tập trong sáng. Người học tập với một động cơ hết mực trong sáng và với một ý nguyện thật cao cả; việc học tập đó không chỉ dừng lại ở sự mở rộng vốn hiểu biết, nâng cao trình độ tri thức và tiến bộ của bản thân, đó cũng hoàn toàn không phải vì bằng cấp nọ, học vấn kia… mà quan trọng hơn là để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[ 5]. Động cơ và mục đích này luôn luôn trở thành động lực thường xuyên và trực tiếp thôi thúc Bác một cách mạnh mẽ trong việc học tập, tiếp thu tri thức nhân loại.

Hai là, thái độ học tập đúng đắn, khiêm tốn, say mê, cầu thị, chân thành, không kiêu ngạo, không dấu dốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần học tập suốt đời, về thái độ khiêm tốn, say mê và cầu thị, không dấu dốt trong học tập.. Cho đến những năm cuối đời mình, Người vẫn chú trọng, không sao nhãng việc học tập. Tháng 5-1966, trong một buổi nói chuyện với các đồng chí đảng viên mới ở Hà Nội, Người đã nói: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”[ 6]. Người cho rằng: “Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi” và “người nào tự cho là đã biết đủ rồi, thì người đó dốt nhất”, mỗi người phải biết khiêm tốn, chớ “kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập”. Đức tính khiêm tốn yêu cầu, đòi hỏi con người ta không được thỏa mãn với vốn kiến thức của mình và cũng không được phép bằng lòng với những thành tích đã đạt được.

Ba là, phương pháp học tập khoa học, sáng tạo và hiệu quả theo phương châm “lấy tự học làm cốt”. Việc xác định đúng động cơ và thái độ trong học tập là nội dung hết sức quan trọng và cần thiết, nhưng để hiện thực hóa động cơ, thái độ đó; đòi hỏi tất yếu khách quan là phải xây dựng được phương pháp học tập khoa học. Vì vậy, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và thông qua quá trình đó, Người đã hình thành cho mình một phương pháp học tập khoa học, đó là con đường tự học, với phương châm “lấy tự học làm cốt” và phải biết “tự động học tập”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: tự học, tự rèn, tự tu dưỡng cũng giống như “mài ngọc luyện vàng”, “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bởi vì, theo Người: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có”[ 7].

Trong tự học phải xác định đúng nội dung tự học, “học cái gì”? Theo Hồ Chí Minh, nội dung tự học rất rộng lớn, bao gồm: học tập lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, văn hoá, đạo đức… trong đó, Người luôn coi trọng việc học tập lý luận; bởi lẽ “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Người luôn đặt ra yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”[8 ]. Mỗi người phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất nhân cách và đạo đức cách mạng.

Muốn tự học thành công phải có kế hoạch cụ thể, khoa học. Kế hoạch học tập đó không phải là một sự tự do, tùy ý mà được xây dựng một cách chủ động, trên cơ sở căn cứ vào tình hình công việc, khả năng, thời gian và điều kiện phù hợp. Trong điều kiện thời gian không cho phép thì phải nắm cho được những vấn đề cơ bản,“phải thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều”, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Đặc biệt, theo Người, phải tự nguyện, tự giác; tích cực, chủ động và kiên trì, bền bỉ, quyết tâm thực hiện kế hoạch đến cùng, phải xem công việc học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập; nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập.

Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để học. Người vạch ra: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”[ 9]; “Học tập trong việc làm hằng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ”. Học tập trong kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Học đến đâu phải ra sức luyện tập thực hành đến đó, “học mà không hành thì vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Học đi đôi với hành cùng một lúc sẽ hình thành ở người học cả tri thức lẫn kỹ năng; do đó, “hành” trở thành một hình thức chính của “học”, quá trình “học” xảy ra trong chính quá trình “hành”. Trong buổi nói chuyện với cán bộ giảng dạy và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Ngày 20/10/1964), Người đã khuyên: Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau.

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ lúc thanh niên cho đến khi trở thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, thành người chiến sĩ xuất sắc của phong trào cộng sản quốc tế là một tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học, lấy tự học làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ về mọi mặt của bản thân. Sự thành công của Người trong việc tiếp thu chân lý vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin và trong việc sáng tạo sách lược đấu tranh cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến cũng chính là kết quả của một quá trình tự học kiên trì, gian khổ trong cuộc đấu tranh cách mạng liên tục, kiên cường. Người đã tổng kết những kinh nghiệm quý báu về quá trình học tập – tự học suốt cả đời mình và đã để lại cho chúng ta những bài học vô giá. Tuy nhiên, tự học ở Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tuỳ ý, vô nguyên tắc… Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Song tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý vô nguyên tắc… mà tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học.

Thực tiễn sống động trên là minh chứng hùng hồn, rõ ràng nhất về ý thức, thái độ và cách thức học tập đúng đắn của Người; thể hiện sâu sắc và rõ nét một phong cách học tập khoa học, mẫu mực. Thế hệ hôm nay có thể tìm thấy trong phong cách học tập đó tinh thần học tập không mệt mỏi; không tư lợi, học để phụng sự cách mạng, phụng sự nhân dân; học tập một cách thông minh, sáng tạo; học ở sách vở, học tập thực tiễn, ở quần chúng… Ngoài ra, phong cách học tập Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế. Phương pháp học tập của Người là tùy theo điều kiện, thời gian mà thực hiện từng bước và có hiệu quả; đặc biệt, phải lấy tự học làm chính. Phải hết sức khiêm tốn, không dấu dốt.

Phong cách học tập của Người là một cống hiến quan trọng, đóng góp to lớn vào kho tàng lí luận dạy học của nước ta; trở thành một triết lí học tập, một giá trị nhân sinh cao đẹp tiêu biểu cho trí tuệ tâm hồn và phong cách Việt Nam – rất gần gũi, dung dị mà sâu sắc; uyên bác mà dễ hiểu, dễ tiếp thu và chuyển hoá. Phong cách học tập của Hồ Chí Minh thấm nhuần triết lý hành động của phương Đông, đồng thời soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nên rất đa dạng, phong phú, sinh động nhưng sâu sắc. Phong cách đó đã tạo cơ sở khoa học để mọi người giáo dục và tự giáo dục suốt đời để vươn lên không ngừng.

Nguyễn Văn Thanh
(Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng)
gdtd.vn

Học dân để lãnh đạo dân

Chính quyền về tay ta đã hơn 65 năm qua. Suốt thời gian ấy, mỗi lần không nghe dân, không học dân, cách mạng lại chịu tổn thất. Cải cách ruộng đất kết hợp với đấu tố là việc nông dân không đồng tình nhưng cán bộ bên dưới khi báo cáo đều cho chủ trương của trên là đúng và dân hoan nghênh. Lãnh đạo không chịu xuống cơ sở kiểm tra tại chỗ, chỉ tin vào báo cáo.

Bác Hồ về thăm xã Vinh Quang, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Ảnh: TL

Ngày 25-8-1956, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (khóa 2) Bác Hồ đã nói: Vì ta thiếu dân chủ nên nghe ít, thấy ít nên bây giờ phải dân chủ. Tất cả Trung ương phải nghe, thấy, nghĩ, làm như thế. Bài học đau xót này thúc đẩy chúng ta”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 6 – Trang 334).

Bài học dân chủ lúc nào cũng hết sức thiết thân với toàn dân, toàn Đảng. Nông dân hiểu rõ ai là địa chủ và nông dân cũng biết địa chủ nào đã hiến điền, đã tham gia kháng chiến, con cháu là đảng viên, cán bộ, nên về thực chất không còn là địa chủ nữa.

Một thời gian sau, Bộ Chính trị họp bàn về tổng kết Cải cách ruộng đất, Bác Hồ lại nói đến bài học dân chủ, quá tin vào kinh nghiệm nước ngoài và coi thường mọi ý kiến đóng góp của dân nên có lúc Đảng trở nên chủ quan, giáo điều, máy móc. Bác Hồ nhắc đi nhắc lại tại hội nghị: “Quan liêu, không sát quần chúng, không sát thực tế, chỉ xem báo cáo, chỉ tin vào người báo cáo”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 7 – trang 127).

Chỗ yếu của nhiều lãnh đạo là chỉ dựa vào báo cáo của cấp dưới, thiếu hẳn cảnh giác với nạn thành tích chủ nghĩa đã thành thói quen của các địa phương; nơi nào cũng ít hoặc nhiều “thành tích phô ra, xấu xa đậy lại”, lại còn tô hồng thêm báo cáo gửi lên trên. Qua 24 năm làm Chủ tịch nước, Bác Hồ không còn lạ gì bệnh thành tích. Có nơi Bác về thăm, lãnh đạo đã chuyển lợn gầy của trại lợn tập thể đi nơi khác và mượn lợn béo của các cơ sở chăn nuôi cá thể mang về trại lợn của hợp tác xã nông nghiệp để khoe thành tích với Bác. Lại có nơi biết Bác về thăm đã bố trí nhà dân để Bác Hồ đến thăm, chủ nhà đã được bồi dưỡng để nói với Bác về thành tích còn thiếu sót chỉ nói qua loa. Chúng ta hiểu tại sao Bác Hồ đến bất cứ địa phương nào đều không báo trước để thực tế ở đó còn nguyên vẹn, chưa bị sắp xếp, trang trí, tô vẽ.

Bác Hồ đã nói: “Không gần gũi dân thì không hiểu biết dân, không hiểu biết dân thì không học hỏi được những kinh nghiệm và sáng kiến của dân, vì vậy không lãnh đạo được dân” (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 6 – Trang 68).

Đối với Bác, một Nhà nước biết lắng nghe và học hỏi dân, biết bồi dưỡng và nâng cao dân thì sẽ thấy dân không chỉ nói lên điều dân mong muốn mà còn làm sáng tỏ trí tuệ của dân, gợi ý hoặc chỉ ra rằng dân cần luật lệ gì và luật lệ ấy phải có nội dung như thế nào, cơ quan Nhà nước cần giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh ra sao. Công cuộc đổi mới đã chứng minh rất hùng hồn, sinh động, không nghe dân, học dân đương nhiên Đảng không thể khởi xướng công cuộc đổi mới. Đổi mới là kết quả cụ thể của quá trình học dân, phát hiện cái mới trong dân. Nhiều sáng kiến đột phá giàu tâm huyết của dân là một nguồn trí tuệ quý giá không gì thay thế được cho những chủ trương và biện pháp đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Khoán hộ là sự sáng tạo của nông dân Vĩnh Phú, ra đời năm 1966. Một cách làm ăn hợp với lòng dân, mang lại hiệu quả kinh tế cao, dân không những đủ ăn mà còn có tích lũy, đóng góp cho Nhà nước đầy đủ nhưng lại không được thực hiện. Thoạt nghe khó tin, nhưng lại là sự thật rất nhỡn tiền. Mãi đến tháng 4-1988, khoán hộ mói được công nhận là hợp pháp và chỉ sau hai vụ lúa, năm 1989 nước ta đã xuất khẩu gạo. Nguyên nhân của sự chậm trễ quá đáng này là do không làm theo lời của Bác Hồ, nên một số lãnh đạo xa nông dân, chỉ tin vào báo cáo bên dưới, không chịu về bám nông thôn tìm hiểu tại chỗ, tại sao nông dân chỉ thích khoán hộ và không chịu chấp nhận khoán việc do trên áp đặt. Chắc chắn với đà đổi mới ngày càng toàn diện và mạnh mẽ như hiện nay, bảo thủ, trì trệ không thể cố thủ kéo dài 10 năm, 20 năm nhưng khoán hộ mãi mãi là bài học sâu sắc, nhắc nhở lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương phải giảm hẳn các cuộc họp và dành thời gian về cơ sở gần dân, học dân.

Học dân không phải dễ nếu về địa phương lại có đưa, có đón; đi đâu cũng có cán bộ địa phương đi theo thì dù có đến nhà dân hẳn hoi dân cũng không thể nói mọi sự thật, nhất là những tiêu cực liên quan đến địa phương. Phải có một cuộc cách mạng về cách đi công tác địa phương, làm sao để lãnh đạo dù giữ bất cứ chức vụ gì đều phải hiểu rõ về công tác địa phương là trách nhiệm được Đảng và Nhà nước giao phó, phải tự lo nơi ăn chốn ở, phải thanh toán sòng phẳng mọi chi tiêu; địa phương không phải đưa và đón, không phải chiêu đãi. Nhiều nơi biện bạch lãnh đạo trên về cần có chiêu đãi cho có tình cảm. Nếu thực sự là tình cảm thì phải bỏ tiền riêng của cá nhân, sao lại đều đưa ra nhà hàng, khách chỉ có một, hai còn chủ gấp năm, bảy lần, rượu ngoại hàng triệu đồng một chai; mọi chi phí do ngân sách Nhà nước tức là dân phải chịu. Bữa trưa cũng bia rượu, bữa chiều cũng bia rượu, thì đầu óc còn tỉnh táo sao được nữa để về cơ sở nghe dân, học dân.

Chỉ thị 54CT/TU của Ban Bí thư (khóa VII) đăng trên trang nhất báo Nhân dân ngày 27-3-1995 quy định lãnh đạo trên về địa phương công tác, cá nhân và đoàn đều phải thanh toán tiền ăn và ở và không được nhận bất cứ thứ quà biếu nào. Rất tiếc Chỉ thị này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện nghiêm chỉnh.

Học dân cần biết trân trọng ý kiến trái chiều, ý kiến ngược, cần lắng nghe và trao đổi, bàn bạc tìm ra câu trả lời cho những vấn đề dân đang rất quan tâm. Dân có những bức xúc không thể bàn với cán bộ địa phương, thấy cán bộ trên về họ rất muốn được gặp, được thổ lộ, tâm tình, tất nhiên với điều kiện phải làm cho dân tin. Đôi khi dân gửi thư lên cấp trên để phê bình khuyết điểm của cán bộ địa phương, nêu những băn khoăn thắc mắc mong được trên giải đáp hoặc đưa ra những kiến nghị về dân sinh, dân chủ mong được sớm thực hiện. Bác Hồ khuyến khích dân gửi thư lên trên, Bác coi đây là quyền dân chủ của mỗi công dân. Bác còn gợi ý dân gửi thư cần suy xét kỹ lưỡng, bày tỏ thật thà, viết tên, họ và địa chỉ rõ ràng thì cơ quan nhận được mới có thể điều tra, nghiên cứu. Bác căn dặn cán bộ, cơ quan, đoàn thể cần thật sự xem trọng ý kiến của quần chúng nhân dân. Trong sách “Hồ Chí Minh – Về Đảng Cộng sản Việt Nam” ở mục “Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân”, Bác Hồ đã viết: “Thậm chí có cán bộ địa phương đã tự tiện bóc thư cấp trên gửi cho nhân dân, dùng dằng trao thư ấy cho nhân dân một cách chậm trễ, hoặc không trao mà cán bộ tự viết trả lời cho cấp trên (như Ủy ban Hành chính xã Đồng Minh – Nam Định). Có cán bộ đã dọa nạt nhân dân vì họ đã gửi thư cho cấp trên như Phó Chủ tịch xã Xuân Yên – Hà Tĩnh.

Làm như vậy các đồng chí ấy đã phạm kỷ luật một là bóc thư riêng của người khác, hai là bưng bít tai, mắt cấp trên, bịt mồm, bịt miệng quần chúng. Sai lầm ấy phải được chấm dứt”. (Trang 119).

Thái Duy
daidoanket.vn

Tuyên dương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Nhân dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, thực hiện chủ trương và kế hoạch của Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 969 về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo Đức Hồ Chí Minh từ năm 2011 – 2015. Ngày 04/5/2012 ,Đảng bộ Đoàn 195 tổ chức gặp mặt tuyên dương điển hình tiên tiến là cán bộ trẻ, cán bộ tổ, trạm, tiểu đội trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tại Hội nghị, có 11 cán bộ, tổ, trạm được lựa chọn tôn vinh là những điển hình tiên tiến xuất sắc có tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm cao, gương mẫu đi đầu trong học tập và làm theo tấm gương của Bác trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ trên cương vị là cán bộ tổ, trạm; đặc biệt luôn phấn đấu, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống trong sạch, giản dị, trong sáng, biết vượt qua mọi khó khăn, hết lòng vì nhiệm vụ, thực sự là tấm gương tiêu biểu có sức lan toả, cổ vũ động viên cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ vươn lên hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Phát biểu tuyên dương những điển hình tiên tiến của Đảng bộ trong những năm qua, Đại tá Bùi Hải Sơn, Phó Bí thư Đảng uỷ, Đoàn trưởng nhấn mạnh: Qua học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên đã nhận thức sâu sắc hơn về tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về vị trí, vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình và đơn vị, từ đó nâng cao ý thức thường xuyên trau dồi, rèn luyện bản thân, nâng cao phẩm chất, năng lực, ý thức và thái độ, tinh thần trách nhiệm, tự giác tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, tận tụy với công việc được giao; chấp hành nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy chế, quy định của đơn vị; đoàn kết thống nhất, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần xứng đáng vào thực hiện và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt.

Qua phát biểu trao đổi kinh nghiệm của Thiếu tá QNCN Vũ Ngọc Sơn, Trạm trưởng Trạm sửa chữa; Đại uý QNCN Nguyễn Văn Khải, Tổ phó, Tổ Lạnh – Nước F6 là những kinh nghiệm sâu sắc được rút ra từ thực tiễn công tác. Với cương vị là cán bộ tổ, trạm bên cạnh việc hoàn thành nhiệm vụ phải thể hiện được vai trò đối với tập thể, trong đó tinh thần trách nhiệm sự gương mẫu là yếu tố quan trọng hàng đầu, gương mẫu bằng hành động, nói đi đôi với làm, càng khó khăn lại càng phải gương mẫu đi đầu; đó là tinh thần tận tuỵ với công việc, hết lòng vì nhiệm vụ, tinh thần lao động có kỷ luật, sáng tạo, năng suất, chất lượng, hiệu quả, hoà mình với phong trào, đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; vượt qua mọi cám dỗ của đời thường, các tệ nạn xã hội để có một cuộc sống đẹp đẽ, trong sáng và giản dị, là điểm tựa tinh thần vững chắc để mỗi người phấn đấu và trưởng thành tiến bộ.

Kết luận Hội nghị, Đại tá Dương Hoàng Toán, Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Đoàn nhấn mạnh những thành tích và kết quả đạt được của tập thể, cá nhân trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Đảng bộ và đơn vị là đáng trân trọng, nhưng chỉ là bước đầu. Thời gian tới, Đảng bộ tiếp tục xác định đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng bộ, thành ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện hàng ngày của đảng viên và quần chúng; thực hiện phương châm học tập thường xuyên, làm theo bằng những công việc cụ thể hàng ngày. Gắn kết chặt chẽ với quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để mọi người nhận thức đầy đủ và sâu sắc về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phát huy vai trò, trách nhiệm, tính gương mẫu, nêu gương của cấp uỷ, cán bộ chủ trì để cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên noi theo. Đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào nội dung kiểm điểm sinh hoạt Đảng hàng tháng, kiểm điểm cuối năm của tổ chức đảng và đảng viên; coi đây là một trong những tiêu chuẩn bình xét thi đua, khen thưởng hàng năm. Tăng cường kiểm tra, giám sát của cấp ủy, phát hiện, uốn nắn kịp thời những chi bộ, đảng viên thực hiện chưa tốt. Việc biểu dương, khen thưởng, cổ vũ, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, gương mẫu, có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành nề nếp thường xuyên trong Đảng bộ vào dịp kỷ niệm Ngày sinh của Bác 19 tháng 5 hàng năm./.

Hữu Nam
bqllang.gov.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên tờ tuần báo Ấn Độ Thời đại mới (22-12-1955)

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết ý kiến về kết quả cuộc đi thăm của các lãnh tụ Liên Xô sang Ấn Độ và các nước khác ở châu Á.

Trả lời: Cuộc đi thăm của các lãnh tụ Liên Xô sang Ấn Độ, Miến Điện và ápganixtan là một sự kiện quốc tế rất quan trọng. Cuộc đi thăm đó tăng cường thêm nhiều tình hữu nghị và sự hợp tác giữa ba nước ấy với Liên Xô. Cuộc đi thăm ấy chứng tỏ rõ ràng năm nguyên tắc chung sống hoà bình là rất đúng. Nó làm cho hoà bình được củng cố thêm nhiều: một khi Liên Xô, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước dân chủ khác, gồm hơn nửa dân số thế giới, đoàn kết lại thành một bức tường sắt để bảo vệ hoà bình, thì hoà bình chắc chắn được củng cố thêm rất nhiều.

Nhân dân Việt Nam đặc biệt hoan nghênh những lời tuyên bố chung của các vị lãnh tụ Liên Xô, Ấn Độ và Miến Điện về sự cần thiết phải triệt để thi hành Hiệp định Giơnevơ ở nước chúng tôi.

Hỏi: Suốt đời của Chủ tịch, Chủ tịch đã lãnh đạo một cuộc đấu tranh anh dũng chống chủ nghĩa thực dân, một cuộc đấu tranh đã được toàn thế giới khâm phục và là một nguồn khuyến khích cho tất cả những người yêu nước ở châu á. Theo ý kiến của Chủ tịch thì tình hình cuộc đấu tranh để xoá bỏ chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới hiện nay như thế nào?

Trả lời: Trước cuộc đấu tranh anh dũng giành tự do và độc lập và những thắng lợi của các dân tộc Á – Phi, chủ nghĩa thực dân đang sụp đổ nhanh chóng.

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết ý kiến về các khối và các căn cứ quân sự do các nước đế quốc lập ra nhằm bao vây Trung Quốc, Đông – Nam Á, Ấn Độ và Trung Đông?

Trả lời: Những khối và những căn cứ quân sự đó là một mối đe doạ cho hoà bình ở châu á và toàn thế giới.

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết ý kiến về phong trào đoàn kết các dân tộc Á – Phi hiện đang phát triển?

Trả lời: Đó là một điều rất tốt. Tôi chúc mong phong trào ấy ngày càng phát triển nhanh chóng và hoạt động mạnh mẽ hơn vì lợi ích của các dân tộc châu á và châu Phi.

Hỏi: Việc lập lại hoà bình ở Việt Nam là một thắng lợi to lớn của cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam và của nhân dân yêu chuộng hoà bình toàn thế giới. Trước những khó khăn to lớn đang ngăn trở việc hoàn thành độc lập và thống nhất nước Việt Nam, Chủ tịch nhận định như thế nào về triển vọng cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam để hoàn thành độc lập và thống nhất nước Việt Nam?

Trả lời: Dù khó khăn to lớn đến thế nào, chúng tôi tin chắc sẽ hoàn thành được độc lập và thống nhất đất nước chúng tôi bằng phương pháp hoà bình vì toàn thể nhân dân Việt Nam đều mong muốn như vậy và đều ủng hộ chúng tôi. Không gì có thể ngăn cản mặt trời mọc. Không ai có thể đi ngược lại ý nguyện của nhân dân.

Hỏi: Chủ tịch nhận định như thế nào về mối quan hệ hiện nay giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Ấn Độ và cần làm gì để phát triển mối quan hệ đó?

Trả lời: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nước Ấn Độ có quan hệ rất thân thiện với nhau và mối quan hệ đó đang tiếp tục ngày càng phát triển.

Hỏi: Chủ tịch muốn nhắn gửi điều gì cho nhân dân Ấn Độ nhân dịp năm mới?

Trả lời: Thay mặt nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi xin chúc người bạn thân của chúng tôi là nhân dân Ấn Độ được hưởng một năm mới hạnh phúc và thịnh vượng.

—————————–

Báo Nhân dân, số 673, ngày 5-1-1956.
cpv.org.vn

Sơ kết 1 năm tiếp tục đẩy mạnh học và làm theo tấm gương Bác Hồ

Ngày 16-5, tại Hà Nội, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm thực hiện Chỉ thị số 03- CT/TW ngày 15-4-2011 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới.

Các đồng chí: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì hội nghị.

Phát biểu khai mạc hội nghị, đồng chí Lê Hồng Anh nêu rõ: Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nhằm phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thời gian qua; tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực.

Chỉ thị yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên.

Hội nghị sơ kết một năm thực hiện Chỉ thị 03 trong bối cảnh Đảng tiến hành triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay,” là việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng để mỗi tổ chức, cán bộ, đảng viên tự kiểm điểm soi lại mình trong việc tu dưỡng, rèn luyện, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Hội nghị nhằm đánh giá những ưu, khuyết điểm, những khó khăn, vướng mắc, đề ra các giải pháp thực hiện trong thời gian tới, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng.

Báo cáo do đồng chí Đinh Thế Huynh trình bày khẳng định việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Đảng và xã hội, được quan tâm chỉ đạo và đẩy mạnh thực hiện, gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay,” góp phần tạo nên những kết quả quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, công tác xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh…

Việc thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị khóa XI là sự tiếp nối thực hiện Cuộc vận động trong những năm trước đây, phát huy kết quả đã đạt được, từng bước đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, các cơ quan, địa phương, đơn vị, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Việc thực hiện Chỉ thị 03 trong Đảng, trong xã hội được tiến hành nghiêm túc, tích cực, làm cơ sở để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện trong năm 2012. Nhiều địa phương, ngành, đơn vị đã có những cách làm sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tiễn để thực hiện Chỉ thị. Nhiều nơi đã lựa chọn những vấn đề bức xúc, nổi cộm trong lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đề ra kế hoạch, phân công trách nhiệm để tập trung chỉ đạo khắc phục.

Kết quả bước đầu là đã có nơi giải quyết dứt điểm được một số vụ việc tồn đọng, kéo dài, đem lại kết quả cụ thể, tạo sự phấn khởi, tin tưởng cho cán bộ, đảng viên. Công tác kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo được tăng cường; hoạt động tuyên truyền được chú trọng. Nhiều địa phương, nhiều cơ quan báo chí có những cố gắng tìm tòi những hình thức tuyên truyền phù hợp để thu hút sự quan tâm của cán bộ, đảng viên, nhân dân.

Trên cơ sở chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã được rà soát, bổ sung, hoàn thiện, việc tổ chức thực hiện đã đạt được một số kết quả trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, quan liêu, vô cảm, xa dân, hạn chế tiêu cực…

Tuy nhiên, việc triển khai Chỉ thị trong thời gian đầu còn chậm, thiếu chủ động. Trong nhận thức, không ít địa phương, đơn vị chưa xác định rõ yêu cầu, nội dung, những việc cần làm để thực hiện. Bước chuyển tiếp từ Cuộc vận động sang chỉ đạo thành công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị còn lúng túng, có nơi bị đứt quãng. Việc xác định nội dung và tổ chức học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong sinh hoạt chi bộ hằng tháng ở nhiều nơi còn lúng túng, chưa gắn với nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình. Hiệu quả công tác tuyên truyền chưa cao, việc kiểm tra, đôn đốc có nơi chưa thường xuyên, tích cực…

Phương hướng trong thời gian tới được xác định là tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với thực hiện nhiệm vụ chính trị, chương trình hành động của từng địa phương, cơ quan, đơn vị trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và các nghị quyết của Trung ương, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; xác định rõ một số nội dung cụ thể, thiết thực thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức đang gây bức xúc trong địa phương, cơ quan, đơn vị để tập trung chỉ đạo, tạo chuyển biến mạnh mẽ, mang lại kết quả cụ thể, củng cố niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Các địa phương, cơ quan, đơn vị phát huy tính chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, đổi mới phương thức thực hiện phù hợp, hiệu quả với từng địa phương, đơn vị, khắc phục tâm lý ỷ lại, chờ đợi hướng dẫn của cấp trên; tuyên truyền, giáo dục tinh thần tự giác trong việc rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, lối sống của mỗi người, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên và nhu cầu thiết thân của mỗi tập thể, của từng cá nhân…

Tại Hội nghị, các đại biểu tập trung thảo luận đánh giá những ưu, khuyết điểm, những khó khăn, vướng mắc, đề xuất các giải pháp thực hiện trong thời gian tới.

Nguồn: TTXVN
xaydungdang.org.vn

Nhận rõ để sửa chữa khuyết điểm

Trước khi ra đi, Bác đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế bản Di chúc vô cùng quý báu… Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Và trước khi “lên đường để đi gặp các cụ Các Mác, Lê-nin”, Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế bản Di chúc vô cùng quý báu. Trong đó, những lời căn dặn đầu tiên Người dành để nói về Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hội nghị phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc vận động: Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ động: Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ

Trước hết, Người nhắc về mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội quân tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng là nhằm “lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho dân”. Nói cách khác, mục đích của Đảng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Muốn đạt được mục đích đó, Đảng phải có trách nhiệm “vận động và tổ chức dân chúng”. Vai trò, sứ mạng của Đảng như là “người cầm lái”, người dẫn đường, đứng mũi chịu sào trong mọi hành động. Đảng có trách nhiệm hoạch định đường lối đúng đắn và đưa đường lối đó “vào nhân gian”, để giác ngộ, tập hợp, tổ chức nhân dân đứng lên đấu tranh thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Là Đảng cầm quyền nên Đảng càng phải ý thức đầy đủ, sâu sắc chức trách xã hội của mình. Theo Người, nếu không gắn bó mật thiết với nhân dân, không tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thì Đảng sẽ rơi vào tình trạng quan liêu, từ đó sẽ mất đi sức sống vốn có của Đảng. Dựa vào dân, gắn bó mật thiết với nhân dân là điều kiện tồn tại và phát triển của Đảng. Chỉ có qua thực tế hoạt động, Đảng mới tổng kết, đúc rút ý kiến của nhân dân để từ đó thành chủ trương, đường lối của người lãnh đạo rồi quay trở lại lãnh đạo, phục vụ quần chúng. Người căn dặn lãnh đạo phải biết lắng nghe ý kiến của nhân dân nhưng tuyệt đối không theo đuôi quần chúng.

Mặt khác, Người đặc biệt nhấn mạnh vai trò đoàn kết trong Đảng. Người dặn phải “Giữ gìn sự đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Chỉ khi Đảng đoàn kết, thống nhất thì mới phát huy được sức mạnh của tổ chức, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và mới tập hợp, lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Sự đoàn kết, thống nhất giúp cho Đảng vượt qua mọi khó khăn, vững vàng trong mọi thử thách. Cơ sở để xây dựng khối đoàn kết trong Đảng cả về tư tưởng, tổ chức, hành động chính là đường lối, quan điểm và Điều lệ Đảng. Người căn dặn để thực hiện sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng thì phải “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất”. Mỗi đảng viên phải phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Có tự phê bình tốt thì mới phê bình người khác tốt được. Đây là biện pháp để rèn luyện đảng viên, nhằm tăng cường sự đoàn kết nội bộ. Người chỉ rõ “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Để thực hiện có hiệu quả việc phê bình và tự phê bình, đòi hỏi mỗi người phải trung thực, chân thành với bản thân cũng như với người khác, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Đặc biệt “mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Theo quan niệm của Người, đạo đức cách mạng được thể hiện tập trung ở nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Người cán bộ của Đảng phải là người có đạo đức và phấn đấu vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đồng thời, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hội nhập ngày càng sâu, rộng với bên ngoài. Vì vậy, bên cạnh những thuận lợi, chúng ta cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới. Sự tấn công thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch, những mặt trái của cơ chế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế… đã và đang tác động nhiều chiều đến đời sống của nhân dân và mỗi cán bộ, đảng viên. Trong hoàn cảnh này, để hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình, Đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng chỉnh đốn thật vững vàng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Trong đó, việc nghiên cứu và học tập tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chung và thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người nói riêng là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên./.

Theo TRẦN VĂN LỢI
Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bài học về ý chí quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nguyên giá trị với tuổi trẻ hôm nay

Tuổi trẻ thế hệ Hồ Chí Minh. (Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Bài học về nghị lực và ý chí quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên giá trị đối với tuổi trẻ Việt Nam hôm nay. Bài học ấy nhắc nhở tuổi trẻ rằng, để xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, còn phải vượt qua nhiều khó khăn thử thách, đòi hỏi thanh niên phải phát huy tốt vai trò xung kích…

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước, mặc dù biết rằng sẽ rất khó khăn, vất vả và cả hiểm nguy. Lúc đó có người khuyên anh không nên đi và hỏi nếu đi ra nước ngoài thì sống thế nào? Nguyễn Tất Thành đã xòe hai bàn tay ra và nói: Đây, sẽ sống bằng chính cái này! Điều đó đã cho thấy nghị lực và ý chí quyết tâm của Người ngay từ buổi đầu của hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân.

Rời Bến cảng Sài Gòn, Người xuống làm phụ bếp trên con tàu của Pháp với một tên mới là Ba. Hàng ngày, anh Ba phải làm việc từ 4 giờ sáng, công việc vất vả suốt cả ngày, đến 9 giờ tối mới xong. Sau khi làm xong mọi việc, anh tranh thủ học tập, đọc hoặc viết đến 11, 12 giờ đêm mới nghỉ, để 4 giờ sáng hôm sau lại bắt tay vào những công việc của một ngày mới. Sau một tháng lênh đênh trên biển, ngày 6/7/1911, tàu cập cảng Mác-xây, một thành phố lớn của nước Pháp. Anh ngạc nhiên thấy ở Pháp cũng có những người nghèo khổ như ở nước mình.

Đầu năm 1912, Nguyễn Tất Thành từ Pháp qua Châu Phi sau đó sang Mỹ. Tại đây anh có dịp hiểu rõ được cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ với bản Tuyên ngôn Độc lập nổi tiếng. Giữa năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ để sang Anh, mới đầu anh xin làm chân quét tuyết cho một trường học, sau đó làm đốt lò ở trung tâm sưởi ấm của thành phố Luân Đôn. Đây là một công việc rất nặng nhọc, trong hầm hết sức nóng, ngoài trời vô cùng lạnh nhưng anh không có đủ quần áo ấm để mặc. Với số tiền ít ỏi dành dụm được, không đủ trang trải cho cuộc sống nên anh phải đến làm thuê cho một khách sạn, với những công việc như rửa nồi, chảo, bát đĩa và phụ bếp. Anh vừa lao động vừa học tập và tham gia Hội những người lao động hải ngoại ở Luân Đôn.

Những năm tháng làm việc vô cùng vất vả ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã tích luỹ thêm được những hiểu biết về chế độ chính trị của xã hội tư bản, về đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc và thuộc địa; đồng thời tự trang bị cho mình một trình độ kiến thức khá vững vàng về tiếng Anh – một công cụ giao tiếp rất quan trọng trong sinh hoạt và đấu tranh chính trị.

Giữa năm 1916, Nguyễn Tất Thành quay trở lại nước Pháp và hoà mình với quần chúng lao động nghèo giữa thành phố Pa-ri tráng lệ, sau đó gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Ở Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc sống chủ yếu bằng nghề in phóng ảnh, do việc làm không ổn định, đời sống gặp nhiều khó khăn nên phải nhận thêm việc vẽ quạt, lọ hoa và chao đèn. Từ khi gửi “Bản yêu sách tám điểm” tới Hội nghị Véc-xây thì sự tìm kiếm việc làm của anh càng khó khăn, nên khi có bất cứ việc gì kiếm được tiền anh đều phải tranh thủ làm và hết sức tiết kiệm chi tiêu để đề phòng những lúc thất nghiệp hay ốm đau. Anh ăn uống rất tằn tiện; về mùa đông giá lạnh, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, anh để viên gạch vào cạnh lò bếp, chiều về lấy ra bọc vào trong những tờ báo cũ để xuống giường nằm cho đỡ rét.

Tháng 7 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô. Sau đó, Người sang Quảng Châu bắt liên lạc với nhóm trung kiên để xây dựng các tổ chức cách mạng. Hoạt động ở Trung Quốc được gần ba năm, Nguyễn Ái Quốc quay trở lại Mát-xcơ-va, sau đó bí mật trở lại Pháp và một số nước khác.

Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm đến Hương Cảng để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cảnh sát Anh, Pháp ráo riết truy tìm Nguyễn Ái Quốc. Ngày 6/6, cảnh sát Anh bắt được Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Kông và đưa về giam giữ tại nhà tù Vích-to-ri-a. Bị kẻ thù giam cầm hơn một năm, trong điều kiện sống vô cùng khó khăn, thiếu thốn nên sức khoẻ của Nguyễn Ái Quốc ngày càng suy giảm, bệnh tình tái phát. Song, được sự giúp đỡ nhiệt tình của Luật sư Lô-dơ-bai, kẻ địch buộc phải trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc.

Từ Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc trở lại Mát-xcơ-va để tham gia các hoạt động của Quốc tế Cộng sản. Cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục bí mật trở lại Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức đảng ở hải ngoại và tìm đường về nước để trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Ngày 28/1/1941, khi sương mù còn phủ dày đặc trên các đỉnh núi, Nguyễn Ái Quốc đã rời Nậm Quang – Trung Quốc lên đường về nước. Giây phút đầu tiên đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng, nơi địa đầu Tổ quốc, xiết bao cảm động với người con đã bao năm xa nước. Phút giây đó, sau này Người kể lại: “Xa Tổ quốc đã hơn 30 năm. Đã mất bao thời gian và sức lực tìm liên lạc mà không được. Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động”(1).
Trở về Tổ quốc sau hơn 30 năm xa cách, Bác lại cùng với các đồng chí lãnh đạo của Đảng tiếp tục vượt qua những khó khăn thử thách mới để chèo lái con thuyền cách mạng tiến lên. Tuy nhiên, tình hình cách mạng lúc này có những bước phát triển mới đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế để chống đế quốc. Vì vậy, ngày 13/8/1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên mới là Hồ Chí Minh lại lên đường đi Trung Quốc. Sau 15 ngày đi bộ trên đất Quảng Tây, ngày 27/8/1942, Người bị Nhà đương cục Tĩnh Tây bắt giam, kẻ địch đã đối xử hết sức tàn bạo với Người, có những lúc cái chết cận kề nhưng Người vẫn bình tĩnh tự tin vào lý tưởng và con đường cứu dân, cứu nước mà mình đã chọn. Một lần nữa sức mạnh của nghị lực, ý chí quyết tâm đã giúp Người đạp bằng mọi hiểm nguy, mưu trí đấu tranh thoát khỏi được nanh vuốt của kẻ thù để trở về với đồng chí, đồng bào, lãnh đạo cách mạng tiến lên giành thắng lợi.

Người đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đã để lại cho chúng ta, nhất là thanh niên Việt Nam những bài học quý giá về nghị lực và ý chí quyết tâm trong hành trình tìm đường cứu nước.

Bằng chính sự trải nghiệm của mình, Người hiểu rất rõ vai trò và sức mạnh của thanh niên. Người chỉ rõ: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình” (2).

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo giáo dục, đào tạo các thế hệ thanh niên Việt Nam ngày càng phát triển trưởng thành về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Hiện nay trước yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đại đa số thanh niên nước nhà đã và đang nắm bắt được thời cơ vận hội, chủ động vượt qua mọi khó khăn thử thách, ra sức học tập, rèn luyện phấn đấu vươn lên, cống hiến cho đất nước. Song, cũng còn một bộ phận không nhỏ thanh niên phai nhạt lý tưởng cách mạng, ngại khó khăn gian khổ, thiếu nghị lực và ý chí phấn đấu vươn lên, bị tiêm nhiễm bởi văn hoá độc hại của phương Tây, chạy theo vật chất tầm thường, sống ích kỷ hẹp hòi, chỉ đòi hỏi được hưởng thụ mà quên đi trách nhiệm, nghĩa vụ của tuổi trẻ đối với Tổ quốc, với non sông đất nước. Để khắc phục tình trạng đó và phát huy ngày càng tốt hơn vai trò xung kích của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các cấp cần tiếp tục quan tâm chăm lo giáo dục, nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng cho thanh niên, trong đó cần tập trung làm tốt một số nội dung, giải pháp sau đây:

Thứ nhất, các cấp cần tiếp tục quán triệt nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với công tác thanh niên cũng như giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Bởi, thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc, là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, đề cao vai trò của thanh niên, xác định thanh niên là lực lượng xung kích, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc.

Tuy nhiên, hiện nay một số địa phương, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, còn biểu hiện xem nhẹ công tác thanh niên, nhất là ở những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các đơn vị kinh tế tư nhân. Để khắc phục tình trạng đó và từng bước “hình thành lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc của sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đẩy mạnh CHN, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN”(3), các cấp cần phải “đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống…”(4) cho thanh niên. Đó là trách nhiệm của toàn xã hội, mà trước hết là của cấp uỷ đảng, cùng với sự nỗ lực phấn đấu rèn luyện của chính mỗi đoàn viên, thanh niên.

Hai là, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên thông qua các phong trào hoạt động, gắn với đẩy mạnh thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên là đòi hỏi khách quan, là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quan trọng trong tình hình hiện nay.

Từ khi có Đảng lãnh đạo, thanh niên Việt Nam đã phát huy tốt vai trò xung kích. Từ những Thanh niên cứu quốc, đến phong trào như: Thanh niên Ba sẵn sàng, Năm xung phong; Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác; Thanh niên quân đội thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh bộ đội Cụ Hồ… Đó chính là những môi trường tốt để tập hợp, động viên, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đến các phong trào hoạt động của thanh niên, chưa tạo môi trường thuận lợi cho tuổi trẻ vui chơi giải trí, để thông qua đó định hướng tư tưởng và hành động cho thanh niên.

Khẳng định vai trò của môi trường vui chơi giải trí lành mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong vui chơi cũng có giáo dục, cần có những thú vui chơi văn hoá, thể dục có tính chất tập thể và quần chúng” (5). Vì vậy, các cấp cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức tốt các phong trào và hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh của thanh niên, nhất là khi điều kiện đời sống của các tầng lớp nhân dân ngày càng được nâng cao. Đồng thời, trong tình hình hiện nay, việc giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên phải gắn với đẩy mạnh triển khai thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Bởi, lý tưởng cách mạng là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết quả thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là thước đo sự giác ngộ lý tưởng cách mạng của thanh niên, đồng thời trách nhiệm của thanh niên là phải xung kích đi đầu trong triển khai thực hiện, qua đó rèn luyện có được nghị lực, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng và Nhà nước ta đặt trọn niềm tin vào thế hệ trẻ, song cũng đòi hỏi “Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn gian khổ để tiến mãi không ngừng”(6). Tương lai của đất nước, của dân tộc đang nằm trong tay thế hệ trẻ. Chúng ta có thể vượt ra khỏi đói nghèo để trở thành quốc gia giàu có, phát triển về mọi mặt được hay không? Tất cả đang trông chờ vào ý chí, nghị lực, bản lĩnh, hành động và việc làm của tuổi trẻ; phụ thuộc vào sự quan tâm giáo dục, đào tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Để họ có thể hiểu rõ hơn ai hết: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì? mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào”(7).

Ba là, tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, bảo đảm tính toàn diện, gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn. Trong những năm qua, Đảng, nhà nước và các tổ chức đoàn đã từng bước cụ thể hoá nội dung giáo dục phù hợp với sự vận động phát triển của nhiệm vụ cách mạng, với từng lĩnh vực, đối tượng cụ thể, vì thế chất lượng ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, trước sự phát triển mau lẹ của tình hình thế giới, khu vực, trong nước; sự phát triển của khoa học – công nghệ; đặc biệt, trước những âm mưu thủ đoạn thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, thì việc tiếp tục đổi mới nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên đang đặt ra cấp thiết. Để làm sao cho tuổi trẻ dễ tiếp thu, không cảm thấy máy móc, trừu tượng hoặc “công thức” hoá, gắn được lý luận với thực tiễn và định hướng hành động cho tuổi trẻ, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tính Đảng.

Nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng không chỉ là xây dựng cho thanh niên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; phát huy tinh thần yêu nước và chế độ, mà còn có phẩm chất đạo đức lối sống trong sạch lành mạnh; không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tức là phải trên cơ sở giáo dục toàn diện, khẳng định điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”(8).

Phải gắn đổi mới nội dung với đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục để đạt hiệu quả cao nhất. Phải đa dạng hoá hơn nữa hình thức, phương pháp giáo dục thông qua các hoạt động xã hội, hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh của thanh niên. Cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các hoạt động và có các cơ chế, chính sách phù hợp, nhằm động viên thanh niên học tập phấn đấu vươn lên. Phải phát huy tốt vai trò trách nhiệm và sự nêu gương của các thế hệ đi trước để thông qua đó giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh niên. Thế hệ đi trước phải vững tin ở tuổi trẻ, thế hệ trẻ phải luôn biết ơn và khiêm tốn học tập các thế hệ đi trước, để tất cả “Những người cộng sản chúng ta không được một phút nào quên được lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho CNXH hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên thế giới”(9).

Phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn các cấp thực sự trong sạch vững mạnh về mọi mặt, là lực lượng nòng cốt trong các phong trào hoạt động của tuổi trẻ. Đồng thời phải phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các tổ chức Đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn các cấp đối với công tác thanh niên. Khẳng định điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trung ương Đoàn cần phải tăng cường hơn nữa việc giáo dục tinh thần yêu nước, giác ngộ giai cấp và đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên”(10). Như vậy chắc chắn các thế hệ thanh niên nước ta sẽ vững bước tiến lên, kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của cha anh trong thời kỳ mới.

Chúng ta vô cùng tự hào về Người. “Chính Người đã làm rạng rỡ non sông đất nước ta”, để chúng ta có được như ngày hôm nay. Trong bối cảnh của thời đại hội nhập và phát triển, thanh niên nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận hội mới để phát triển phấn đấu vươn lên, đóng góp sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài học về nghị lực và ý chí quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên giá trị đối với tuổi trẻ Việt Nam hôm nay. Bài học ấy nhắc nhở tuổi trẻ rằng, để xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, còn phải vượt qua nhiều khó khăn thử thách, đòi hỏi thanh niên phải phát huy tốt vai trò xung kích, ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; có được nghị lực và ý chí quyết tâm, không ngừng nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng, để “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”; hoàn thành xuất sắc sứ mệnh vẻ vang của tuổi trẻ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Theo Phạm Thắng
Tạp chí Tuyengiao.vn
Tâm Trang (st)

_______________________

(1) Tiểu sử Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 270.
(2), (7) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập 4, tr.185, 65.
(3), (4) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI – Báo Nhân dân, ngày 19/3/2011.
(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập 3, tr. 75.
(6), (10) Sđd, tập 5, tr. 112, 114.
(8) Sđd, tập 10, tr. 306.
(9) Sđd, tập 7, tr. 445.

cpv.org.vn

Tấm gương tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh – giá trị nhân văn giữa học và hành đối với mọi cán bộ, đảng viên

Tự học là điều cần thiết trong quá trình tiếp nhận tri thức, là hoạt động có mục đích của con người. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định tạo nên trí tuệ của Người. Tự học tập và học tập suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Bác viết: “Lấy tự học làm cốt”. Ngày 21-7-1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”(1).

Hai mươi mốt tuổi, ra đi với hai bàn tay trắng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành chỉ có một khát vọng cháy bỏng là tìm đường giải phóng dân tộc. Chính khát vọng đó đã hun đúc cho người thanh niên mảnh khảnh một sức mạnh phi thường, bền bỉ tự học, tự đào tạo để có đủ khả năng cứu nước, cứu dân. Đến đâu, Người cũng học, tìm mọi cách để học. Người tìm hiểu phong tục tập quán ở những nơi mình đi qua để nâng cao tri thức; học nghề để kiếm sống, kiếm sống để hoạt động cách mạng. Bác đã học và làm rất nhiều nghề khác nhau, bắt đầu từ việc làm thợ đốt lò trên tàu viễn dương, làm đầu bếp ở Mỹ, quét tuyết ở Anh, bốc thuốc ở Thái Lan, viết báo, viết truyện, viết kịch, làm thợ chụp ảnh, thợ sửa đồng hồ… Làm rất nhiều việc, nhưng nhờ tự học mà Bác làm việc gì cũng giỏi. Khi tới thăm Việt Nam, danh họa người Pháp Picaso đã trao cho chúng ta những bản ký họa của Nguyễn Ái Quốc hồi còn ở Pa-ri và nhận xét: “Chỉ mấy nét vẽ này thôi, ta đã thấy một tư tưởng lớn, một tâm hồn lớn tiềm ẩn bên trong. Nếu tác giả tiếp tục con đường hội họa thì ắt sẽ trở thành một đại danh họa!”. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn chương phong phú và vô giá, tiêu biểu là tập thơ Nhật ký trong tù. Nhà Việt Nam học người Nga N.Phêđôrencô nhận xét: “Học chữ Hán cực khó, nắm vững nó, làm được thơ là một hiện tượng lạ, hiếm thấy… Nhật ký trong tù – một thi phẩm bằng chữ Hán có nội dung sâu sắc, ngôn từ, nhịp điệu phong cách rất riêng…”. Chắc chắn, nếu Bác không có quá trình nỗ lực tự học thì sẽ không làm được điều đó.

Trước khi ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911), Bác đã học lớp Trung đẳng (lớp Nhì) tại Trường Quốc học Huế và lớp Cao đẳng (lớp Nhất) ở Trường Tiểu học Quy Nhơn với thầy Phạm Ngọc Thọ. Trong thời gian hoạt động ở nước ngoài, Người có học ở Trường Đại học Phương Đông (năm 1923), Đại học Quốc tế Lênin (năm 1934), nghiên cứu sinh Viện Nghiên cứu các vấn đề thuộc địa (năm 1937) với luận án về cách mạng ruộng đất ở Đông nam Châu Á. Nhưng Bác chỉ nhận mình tự học và trên thực tế cả cuộc đời Bác vẫn tự học là chính. Năm 1935, dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, Người ghi vào phiếu lý lịch của mình như sau: Trình độ học vấn: Tự học. Bác học ngoại ngữ, học viết báo, nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Người biết và sử dụng thông thạo trên mười ngoại ngữ nhờ tự học chứ không qua một trường đào tạo chính quy nào. Người học ở sách báo, đồng nghiệp, bạn bè, nhân dân. Người học từ thực tiễn sinh động ở các nước đế quốc, nước thuộc địa, ở phong trào cách mạng trên thế giới. Phát biểu với sinh viên Trường Đại học Băng Đung trong chuyến thăm In-đô-nê-xi-a năm 1959, Người nói đại ý: Khi còn trẻ, tôi không có dịp đến trường học. Cuộc sống, du lịch và làm việc là trường đại học của tôi. Trường học ấy đã dạy cho tôi khoa học xã hội, khoa học quân sự, lịch sử và chính trị. Nó dạy cho tôi yêu nước, yêu loài người, yêu dân chủ và hòa bình; căm ghét áp bức, ích kỷ… Đại tướng Hoàng Văn Thái kể rằng, năm 1969, mỗi lần đến làm việc, ông thường thấy trên chiếc bàn con bên giường của Bác để đầy sách báo đang xem. Ông lo lắng đến sức khỏe của Bác, nên đề nghị: “Thưa Bác, Bác mệt, Bác nên đọc ít, để nhiều thời gian nghỉ ngơi thư thả cho lại sức”. Bác trả lời, giọng như tâm sự mà rành rẽ, dứt khoát từng lời: “Chú bảo Bác không đọc sách báo ư? Dù già yếu cũng phải học, phải đọc sách báo nâng cao hiểu biết và nhất là để nắm vững tình hình chứ!”. Những cuốn sách Người đọc ở thời gian cuối đời là các cuốn: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông, Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, The truth about Vietnam (Sự thật về vấn đề Việt Nam, NXB. Green Leaf Classic, 1966).

Cuộc đời của Bác là một quá trình: Vừa học tập vừa hoạt động cách mạng; học tập để hoạt động cách mạng, đạt được mục đích, lý tưởng của mình; qua hoạt động cách mạng, không ngừng học tập, hoàn thiện tri thức và nhân cách của bản thân. Người là nơi hội tụ với tầm cao nhất tinh hoa văn hóa nhân loại, xứng đáng với sự tôn vinh của tổ chức UNESCO: Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. Quá trình ấy đã tạo nên Hồ Chí Minh, một thầy giáo mẫu mực, một nhà giáo dục vĩ đại. Người đã để lại tấm gương cao đẹp về tinh thần tự học và học tập suốt đời mà chúng ta phải noi theo. Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, Bác đã ghi: “Biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga”. Trên thực tế, dựa vào những lần Bác đi thăm nước ngoài, cũng như những lần đón tiếp các phái đoàn ngoại giao tới thăm Việt Nam, chúng ta còn được biết vốn ngoại ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở đó, Người còn có thể sử dụng thông thạo khá nhiều ngoại ngữ khác nữa như: Tiếng Xiêm (Thái Lan bây giờ), tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập, tiếng của rất nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam… vốn ngoại ngữ đó của Bác không phải do “thiên bẩm” mà có, tất cả đều xuất phát từ sự khổ công luyện tập.

Việc tự học của Bác Hồ có mục đích cuối cùng là làm cách mạng, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Người đã đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi bằng sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chính là quá trình tự thích nghi, tự tìm tòi thâm nhập thực tiễn, đúc rúc kinh nghiệm, phát huy nội lực. Sâu xa hơn, đó là quá trình tự học, tự giáo dục để làm cho nhân cách và năng lực của mình phù hợp với mục tiêu, lý tưởng, công việc. Khi tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Mát-xcơ-va vào tháng 8 năm 1935, Bác đã khai rõ trong lý lịch: “Họ và tên: Lin. Trình độ học vấn: Tự học”. Còn trong tập Nhật ký trong tù của Bác có bài Nghe tiếng giã gạo hết sức độc đáo: “Gạo đem vào giã bao đau đớn/Gạo giã xong rồi trắng tựa bông/ Sống ở trên đời người cũng vậy/ Gian nan rèn luyện mới thành công”. Đó chính là ý chí tự học, tự rèn, tự phấn đấu không mệt mỏi. Người dạy: “Không chỉ có ở nhà trường, có lên lớp mới học tập… Trong mọi hoạt động cách mạng, chúng ta đều phải học tập!”. Người nói với cán bộ, chiến sĩ: “Muốn trở nên người quân nhân mới, xứng đáng với cái vinh hạnh đứng trong quân đội cách mạng thì từ trên đến dưới, các cấp đều phải nghiên cứu học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”. Bác nói về mục đích của học tập: “Học để tiến bộ mãi, càng tiến bộ càng thấy cần phải học”. Người cũng chỉ ra phương pháp học tập: “Học ở nhà trường, học ở thầy, học ở bạn, học trong sách vở và học nhân dân”. Quá trình lao động, làm việc là quá trình tự học tập, tích lũy, bổ sung kinh nghiệm và đúc rút kiến thức từ thực tiễn. Bác Hồ nhấn mạnh: “Phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Song tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý vô nguyên tắc… mà tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học. Đặc biệt, Người tự học với một động cơ trong sáng với ý nghuyện cao cả là tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Tấm gương tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, soi xét trong thực tiễn đã qua, hiện nay và cả mai sau, vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa giáo dục hết sức sâu sắc; đó mãi là một tấm gương sáng ngời, một di sản vô giá đối với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục của Đảng và nhân dân ta. Từng cán bộ, đảng viên cần ghi sâu những lời dạy của Bác về nghị lực học tập, rèn luyện để có đủ đức, đủ tài phục vụ nhân dân. Tấm gương tự học và những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tự giáo dục mãi mãi tỏa sáng, soi rọi cho mỗi chúng ta phấn đấu, rèn luyện, tự vươn lên trong tu dưỡng và rèn luyện bản thân để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao phó.

Tháng 4, năm 2012
Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh


(1) – Hồ Chí Minh T.T, T.8, Trang 215, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2000.
(2) – Sdd, T.5, Trang 684.
(3) – Sdd, T.8, Trang 499.
(4) – Sdd, T.9, Trang 290.

bqllang.gov.vn

Đôi nét về văn phong báo chí của Bác

(Dân trí) – Sinh thời, Bác Hồ luôn viết báo để cổ động, tuyên truyền, giáo dục… gắn liền với hoạt động cách mạng của Người. Từ những ngày còn hoạt động ở nước ngoài, Bác đã viết rất nhiều bài báo với nhiều bút danh khác nhau.

Người viết cho báo ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước khác. Sau này, khi làm Chủ tịch nước, Bác vẫn viết đều đặn cho nhiều báo về nhiều đề tài. Văn phong báo chí của Bác giản dị, ngắn gọn, sâu sắc, thường pha chút hài hước nên rất dí dỏm và sinh động.

Có điều rất đặc biệt là, dù viết để “đánh địch” nhưng mục đích là cảnh tỉnh, giáo hoá, Bác bao giờ cũng giữ được tình lý phân minh, đúng mực, không có những lời thóa mạ, cay độc. Còn viết bài cho nhân dân lao động, bộ đội, thanh niên, thiếu nhi… thì Bác dùng câu văn dễ hiểu, dễ nhớ nhưng lý lẽ xác đáng đầy thuyết phục và tình cảm chân thành, thiết tha đi vào lòng người.

Mời cộng tác

Ban Biên tập báo KH&DT mời các bạn tham gia cộng tác với chuyên mục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Bài vở xin gửi về BBT báo KH&DT, số 2 Giảng Võ, Hà Nội.

Xin trân trọng cám ơn!

Đối với Người, báo chí là công cụ đoàn kết quốc tế, đoàn kết giai cấp công nhân, đoàn kết các dân tộc bị áp bức đấu tranh giải phóng, đoàn kết phong trào cộng sản thế giới. Mặt khác Người cũng đã dùng báo chí để đánh địch. Người viết về con người, sự việc thuộc “đối phương” ở nước ngoài thì rất nhạy bén về chính trị và cách sử dụng ngôn ngữ của Bác thể hiện rất rõ nét, bằng những chứng cứ và số liệu cụ thể để vạch trần tội ác của đế quốc.

Những bài báo Bác viết đăng các báo và tạp chí uy tín ở nước ngoài hiển thị nghệ thuật đánh địch bằng lời, nghệ thuật “đẩy bóng trả lại địch”, nghệ thuật lướt qua những vấn đề tế nhị mà vẫn giữ được nguyên tắc, đường lối, để “lấy gậy ông đập lưng ông”.

Còn những bài báo viết để đánh địch đăng ở trong nước, Bác đã sử dụng rất khéo về từ ngữ nhằm lột rõ bộ mặt thật của chủ nghĩa đế quốc, qua đó cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, cổ vũ ý chí giành thắng lợi cuối cùng bằng chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu và tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại. Không chỉ động viên, mà qua tác phẩm báo chí với văn phong trong sáng của mình, Bác Hồ đã giáo dục và uốn nắn những lệch lạc, yếu kém của các ngành, các địa phương.

Điều đặc biệt ở văn phong báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “tính quần chúng” được thế hiện rất đậm nét. Bác nói: Kinh nghiệm của tôi thế này. Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì, viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Sinh thời Bác luôn giáo dục các nhà báo đồng thời Người cũng yêu cầu khi nói, khi viết: Phải học cách nói quần chúng. Chớ nói như giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng…

Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng có thể hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm làm theo lời kêu gọi của mình. Chỉ thống kê trong 10 năm, từ 1955 đến 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện hơn 700 lượt đi xuống cơ sở, thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội từ miền xuôi đến miền ngược, từ biên giới đến hải đảo… Tính ra mỗi năm có hơn 70 lần Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có 6 lần Người gặp gỡ quần chúng. Con số đó nói rõ phong cách của một lãnh tụ suốt đời gắn bó với quần chúng.

Tư tưởng, quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc sử dụng ngôn ngữ báo chí được thể hiện bằng tình cảm, thái độ của Người đối với dân tộc. Người nói: Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Do đó trong khi viết, Bác rất chú trọng đặt câu và phát triển câu. Người yêu cầu văn phong phải giản dị, ngắn ngọn, rõ ràng, dễ hiểu, không cầu kỳ chữ nghĩa, bố cục chặt chẽ thể hiện ở từng từ, từng câu.

Từ năm 1951 – 1969, Bác đã viết l.205 bài báo với 23 bút danh khác nhau cho báo Nhân Dân và gần 300 bài cho báo chí nước ngoài, hiếm có nhà báo chuyên nghiệp nào viết đạt kỷ lục như vậy. Thế nhưng trong khi viết báo, Bác luôn luôn yêu cầu mọi người xung quanh Người đọc lại bản thảo xem có từ ngữ nào khó hiểu để Bác sửa lại cho trong sáng, từ ngữ giản đơn mà ý tứ sâu sắc.

Bác viết bài báo: ”Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đăng trên báo Nhân Dân số 5409 ra ngày 3/2/1969, bài báo này trước khi gửi đến Toà soạn Bác đã cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia ý kiến. Hiện nay, chúng ta đọc lại bài báo của Bác thấy câu chữ vô cùng sâu sắc, bố cục rất chặt chẽ, còn nguyên tính thời sự nóng hổi.

Thanh Tâm
(12B ngõ 8, đường 800A, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội)
cpv.org.vn

Nếp sống thanh bạch, giản dị và khiêm tốn

(Dân trí) – Bác Hồ, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Người đi vào lòng dân với bao nét tinh hoa đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam, được hoà quyện và nâng cao thêm bởi tinh hoa của văn hoá thế giới.

Từ năm 1924 khi Người còn ở Nga, Nhà thơ Nga Ôxip-Man-Đaxtan đã viết: “Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá không phải là văn hoá châu Âu mà là một nền văn hoá của tương lai”.

Bác Hồ vĩ đại là vậy, Bác để lại cho mỗi chúng ta bao điều cần học tập. Nhưng đối với tôi, điều để lại ấn tượng sâu sắc nhất, là sự giản dị và khiêm tốn của Bác. Trong cuộc sống đời thường, Bác thanh bạch và giản dị từ cách ăn, mặc đến cách nói, cách viết, cách tiếp xúc với quần chúng.

Quần áo Bác mặc thường ngày là bộ ka ki màu vàng, bộ bà ba nâu với đôi dép cao su. Mùa đông, có lần Bác bận chiếc áo Tôn Trung Sơn có mảnh vá. Có người hỏi: “Kính thưa Chủ tịch, vì sao Người là Chủ tịch nước mà lại mặc áo vá?” Người trả lời vui vẻ: “Đất nước còn nghèo, Chủ tịch có mặc áo vá thì dân mới có áo lành mặc”.

Hẳn nhiều người chúng ta đã được xem một bộ phim, tả cảnh trên đường công tác, Bác Hồ xuống suối tắm, tắm xong, Bác phơi quần áo trên mũ và chiếc gậy vác lên vai tiếp tục lên đường. Hình ảnh đó đã làm chúng ta xúc động đến rơi nước mắt.

Món ăn chính của Bác thường là quả cà giòn với món cá kho ngọt dầm tương quen thuộc của xứ Nghệ, quê nhà. Còn lúc tiếp xúc với quần chúng, Người gần gũi, thân tình như người bác, người cha, người ông, không hề có sự phân cách giữa lãnh tụ và nhân dân, Bác tặng kẹo cho trẻ thơ, tặng luạ cho cụ già, vỗ tay cất nhịp cùng hát bài kết đoàn…

Tôi ghi sâu ấn tượng về cách nói và cách viết của Bác. Bác không chỉ dạy các nhà báo về quan điểm viết báo là để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, mà còn phải viết thế nào cho người đọc dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo, nhất là quần chúng lao động.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong một bài viết có kể lại: Hồi ở Việt Bắc, Bác giao cho Đại tướng viết bài báo để ca ngợi phụ nữ. Đại tướng đã để công viết hai trang đánh máy, cho là hay và đem trình Bác. Bác đọc và nói, bài chú viết hay nhưng dân ở đây đọc sẽ không hiểu. Chú rút ngắn lại. Đại tướng đã rút ngắn dần, đem cho nhiều người đọc, đến lúc chỉ còn 200 chữ, đưa trình Bác, Bác đọc và cho đưa đăng.

Bác là người thông tuệ, không chỉ ngôn ngữ dân tộc mà còn biết nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Bác là nhà chính trị, ngoại giao sắc sảo, là nhà văn, nhà thơ lớn đã từng viết những áng văn tuyệt tác như Tuyên ngôn Độc lập, những vần thơ Nhật ký trong tù, sắc nét của Đường thi. Nhưng bao giờ Bác cũng lấy sự giản dị, trong sáng làm đầu. Bác lấy sự học làm đầu và rất khiêm tốn học hỏi.

Chúng ta đã từng biết Bác đã học cách viết báo như thế nào! Từ tập viết ngắn đến viết dài rồi từ viết dài đến viết ngắn. Sau cùng dài ngắn đều viết được. Viết xong mỗi bài, Bác đều đưa cho người phục vụ ít chữ đọc. Chỗ nào không hiểu Bác chữa lại. Nhiều lần, Bác đã dặn các nhà báo là “viết cho ngắn gọn, dễ hiểu”, “đừng lằng nhằng dây cà ra dây muống như đưa chắt chắt vào rừng xanh” và “chữ ta có thì dùng, không dùng chữ nước ngoài”…

Gần 2.000 bài báo Bác viết đăng trên báo Việt Nam Độc lập, Nhân Dân và một số báo khác, ít bài dài trên 1.000 chữ mà có sức mạnh giáo dục và chiến đấu như gươm súng. Sự khiêm tốn của Bác còn thể hiện, tự nhận mình là người “học trò nhỏ “của các bậc vĩ nhân đại diện cho nền văn minh nhân loại từ Đức Phật thích ca, Đức Chúa Giê su, Khổng tử, K.Mác, Lênin, đến Tôn Trung Sơn, thánh Gandhi, hay nhà văn L. Tônxtôi…

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói về Bác: “Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, soi sáng mà không choáng ngợp”.

Nhà thơ Cuba Ô-Tê-Rô đã viết:

Hồ Chí Minh, gốc của dân và cũng chính là dân
Vẫn hoà trong thác dân cuộn chảy
Là gió cuốn vượt muôn đèo dốc núi
Lại thu mình biến hoá trong muôn cây…

(Lê Xuân Quỳnh dịch)

Từ sự giản dị, khiêm tốn của Bác, chúng ta nghĩ nhiều về nếp sống hiện nay. Lịch sử đất nước đã sang trang, đất nước và cuộc sống đã có những đổi thay kỳ diệu. Nhưng đất nước ta vẫn đang còn nghèo, bình quân thu nhập của người dân vẫn còn thấp thua nhiều nước trên thế giới và khu vực, nguy cơ lạc hậu còn tiềm ẩn. Thế mà, một số cán bộ làm việc lười biếng, ăn chơi đua đòi, học làm sang, xa rời quần chúng. Một số vừa lên chức lên quyền, chỉ cán bộ xã, phường thôi, cũng đã lên mặt, doạ nạt nhân dân. Báo chí chẳng thèm đọc, chỉ vụ thành tích, vụ lợi, thích nghe lời nịnh hót.

Một số quan chức lợi dụng những khe hở của cơ chế, tham ô, tham những, lãng phí, ăn chơi phè phỡn, đến thế giới cũng kinh ngạc. Một số nhà báo trẻ mới ra nghề cũng tham viết dài dòng, văn hoa, chất lượng thông tin kém. Thậm chí có nhà báo đã dùng nhiều chiêu vòi tiền, tham lợi lộc uốn cong ngòi bút. Có những quan chức nhà báo phải hầu toà. Đau đớn thay! Chính họ, đang cưỡi trên nhiều nỗi đau khổ, đói nghèo của nhân dân, làm chậm bước tiến của đất nước.

Nhắc lại vài nét về nếp sống cần kiệm, giản dị, khiêm tốn của lãnh tụ vĩ đại để mỗi chúng ta cùng suy ngẫm, tự nhìn lại mình, cố gắng thực hiện những điều Bác dạy, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội X của Đảng vào cuộc sống, xây dựng đất nước ta đàng hoàng, to đẹp hơn trong thời hội nhập như Bác Hồ hằng mong muốn.

Minh – Nho
(77 phố Phan Đình Phùng, TP. Hà Tĩnh)
dantri.com.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: Đạo đức là cái “gốc” của người Cách mạng

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm thấy nguy cơ đối với Đảng cầm quyền, không những là “bệnh quan liêu hách dịch, vênh váo lên mặt quan cách mệnh”, “đè đầu cưỡi cổ dân” mà cả nhiều thói xấu khác, rất dễ nảy sinh trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong những người có chức, có quyền, như bệnh địa vị, công thần, cục bộ địa phương, bè phái; cái thói chỉ lo ăn ngon, mặc đẹp…, lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công v.v…

Rõ ràng khi cách mạng đã giành được chính quyền và khi từ chiến tranh chuyển sang hòa bình xây dựng, những yêu cầu về đạo đức đối với cán bộ, đảng viên càng đòi hỏi phải tăng cường rèn luyện và tu dưỡng để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng  quan tâm hơn đến công tác xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Trước lúc đi xa, Người viết trong Di chúc: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng; thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Lời căn dặn cuối cùng của Người đã nói vắn tắt cái điều cốt tử nhất trong xây dựng Đảng cầm quyền, nó quyết định vận mệnh của Đảng, của Nhà nước, vận mệnh của cả chế độ – đó là đạo đức cách mạng. Theo  Người, đạo đức là cái “gốc” của người cách mạng. Người nói thật dễ hiểu, nhưng là cả một chân lý tuyệt đối: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì  dù tài giỏi  mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích  chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì đạo đức cách mạng nói tóm tắt là:

– Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt.

– Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu  trong mọi việc.

– Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.

– Nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần  trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Phải đoàn kết nhất trí, chống bè phái, cục bộ.

– Luôn hòa mình với quần chúng, tin tưởng quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng; tổ chức quần chúng thành một khối đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng; tuyên truyền, huy động quần chúng hăng hái thực hiện tốt các chính sách và Nghị quyết của Đảng. Cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt lời nói đi đôi với việc làm; phải có ý thức tổ chức, kỷ luật v.v…

Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác  đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu tấm gương chói lọi của đạo đức cách mạng cho tất cả chúng ta học tập, noi theo.

Bác nói: Có đạo đức cách mạng  thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ,  chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt, chứ không kèn cựa  về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Đó là biểu hiện của đạo đức cách mạng. Người còn nói: Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bĩ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài  càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn rèn luyện mình để trở thành người có đạo đức cách mạng. Theo đó, Người đã làm giàu truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam bằng sự kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông,  những tinh hoa đạo đức nhân  loại; tấm gương đạo đức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã nêu cho Người một mẫu mực về sự giản dị và sự khiêm tốn cao độ, Người đã học tập và hành động bởi các tấm gương ấy, với nếp sống giản dị, coi khinh sự xa hoa, yêu lao động, đồng cảm sâu sắc với người cùng khổ, hướng cuộc đấu tranh của mình vào công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Song, ngày nay một bộ phận không nhỏ trong cán bộ, đảng viên đã trượt ngã vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân, vi phạm đạo đức cách mạng, không  thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,  đã trở thành những phần tử quan liêu, xa dân, ức hiếp quần chúng, tham nhũng, hối lộ,  làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Cần luôn luôn ghi nhớ lời nhắc nhở cực kỳ sáng suốt của Chủ tịch Hồ  Chí Minh: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức  hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi,  nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đảng ta vừa là đạo đức vừa là  văn minh”, là người khởi xướng và lãnh đạo mọi sự đổi thay của đất nước qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng. Muốn tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến đến đích cuối cùng, trước hết Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn.

Tự đổi mới, tự chỉnh đốn là khẳng định sự vận động nội tại của Đảng cầm quyền trong quá trình lãnh đạo cách mạng, là sự nhận diện đúng quy luật vận động, phát triển của Đảng. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng vào cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng  hiện nay, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải tăng cường học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó,  nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng đồng nghĩa với việc làm những phẩm chất chung, cơ bản nhất của đạo đức cách mạng là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, là phẩm chất thường trực trong cuộc sống hằng ngày, phải trở thành giá trị bất  biến trong mọi môi trường,  mọi hoàn  cảnh, mọi cơ chế kinh tế của người cán bộ, đảng viên. Điều đó cũng lý giải vì sao sự suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay có  nguyên nhân chủ yếu từ sự suy thoái ở phẩm chất này. Do vậy, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải không ngừng tu dưỡng đạo đức suốt đời; phải nêu gương về đạo đức, trở thành tấm gương sáng để quần chúng noi theo, để quần chúng tin yêu, mến phục.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi sáng trong cuộc vận động  xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện  nay.

www.hcmpc.com.vn