Thư viện

Bác học tiếng Thái

Ảnh Tư liệu

“Bác tự học rất đều đặn. Ngày nào bận công tác đoàn thể thì hôm sau Bác kiên quyết học bù cho kì được.”

Khi đất nước ta còn chìm đắm trong vòng nô lệ, Bác phải sang Xiêm (Thái Lan bây giờ) với bí danh là Thầu Chín (Cụ Chín) để hoạt động cách mạng… Cán bộ khác theo Bác sang hoạt động bên đó thường trao đổi với nhau bằng tiếng Việt làm cho dân địa phương không hiểu và tỏ ra khó chịu. Biết vậy, Bác tập hợp cán bộ, bàn nhau cùng học tiếng tiếng Thái dễ hòa mình với dân địa phương. Mọi người nhất trí là sau 3 tháng phải nói thạo tiếng Thái để vừa dễ dân vận vừa dễ tuyên truyền cách mạng.

Người thì đề ra kế hoạch mỗi ngày phải thuộc 50 từ, người thì 40 từ… riêng Bác chỉ nhận mỗi ngày 20 từ. Mọi người nhất trí là sau 3 tháng đạt yêu cầu Bác thưởng, ai không đạt, chịu phạt. Mấy ngày đầu anh em hăm hở học, sau đó số lượng tụt dần dần, từ 50 xuống 40 từ, rồi 30, 20 thậm chí 10 hoặc 5… Có lúc lại học cách buổi, rồi cách tuần. Hôm nào hứng lên lại học ào ào, sôi nổi được vài ba ngày rồi tịt hẳn. Trong khi đó, Bác tự học rất đều đặn. Ngày nào bận công tác đoàn thể thì hôm sau Bác kiên quyết học bù cho kì được.

Sau 3 tháng, Bác đã thuộc gần 2000 từ. Đúng hạn 3 tháng, Bác đã tập hợp anh em lại để xem kết quả. Người thì ấp úng người thì đỏ tai và tất cả đều xin chịu bị phê bình vì chẳng ai học đến đầu đến đũa cả. Bác không phạt mà ôn tồn chỉ ra rằng học tiếng nước ngoài còn dễ hơn làm cách mạng rất nhiều. Học chữ mà còn không xong, thì liệu có kiên trì đeo đuổi nổi sự nghiệp cách mạng hay không?

Theo 120 chuyện kể về Bác
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Ngành Hậu cần Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm theo lời Bác dạy

Thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Công việc cung cấp cũng quan trọng như công việc trực tiếp đánh giặc trước mặt trận. Cung cấp có đủ súng đạn, đủ cơm áo cho bộ đội, thì bộ đội mới đánh thắng trận….. Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên thuốc, một tấc vải phải đi thẳng tới chiến sĩ. Đó là bổn phận của các chú”. Năm 2012, ngành Hậu cần Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện hiệu quả phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”.

Nganh HCBan Chỉ đạo ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy sơ kết năm 2012.

Ngay từ đầu năm, phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” của đơn vị đã quán triệt, triển khai thực hiện đúng chủ trương “Một tập trung” và “Ba khâu đột phá”. Tập trung: “Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng cơ quan, đơn vị hậu cần vững mạnh toàn diện”. Toàn ngành Hậu cần đã làm tốt việc tuyên truyền, giáo dục và tổ chức cho 100% cán bộ, đảng viên đăng ký, giao ước thi đua nêu gương làm theo Bác về tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; hết lòng vì công việc, vì bộ đội để phục vụ. Đã tổ chức đăng ký, giao ước chỉ tiêu thi đua và thực hành đúng quy định về quản lý, sử dụng kinh phí, cơ sở vật chất trang bị chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Bước “làm theo” tấm gương của Bác được theo dõi, tổng hợp, đánh giá, nhận xét cụ thể thông qua công việc hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý của cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sỹ. Trong đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI), Đảng ủy và các chi  bộ trong Đảng bộ cơ quan Hậu cần đều nghiêm túc kiểm điểm đánh giá: “Từ năm 2010 đến nay, ngành hậu cần đã có sự chuyển biến tiến bộ về nhận thức tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và năng lực, phương pháp tác phong công tác. Cán bộ, đảng viên trong Ngành đã nêu cao tinh thần phục vụ tận tình chu đáo, văn minh, lịch sự. Không có cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm phẩm chất đạo đức lối sống, vi phạm đạo đức nghề nghiệp”.

Nganh HC Nghi le 275Ngành Hậu cần bảo đảm quân phục nghiệp vụ
cho bộ đội thực hiện nghi lễ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong năm, giá cả lương thực, thực phẩm liên tục tăng cao, ngành Hậu cần đã thực hiện tốt khâu đột phá thứ nhất: “Nâng cao chất lượng bảo đảm ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khoẻ bộ đội và vệ sinh môi trường”. Tập trung đầu tư triển khai Dự án DT275 nhằm xây dựng doanh trại chính quy, tu sửa khu vực cơ quan Bộ Tư lệnh và doanh trại Đoàn 275 khang trang, sạch đẹp. Thông qua sự chỉ đạo của Phòng Hậu cần, từng cơ quan, đơn vị đã chủ động triển khai các biện pháp giữ vững chất lượng bữa ăn cho bộ đội, tích cực tăng gia quanh bếp, quanh nhà bảo đảm thực phẩm, rau xanh cho bộ đội. Đoàn 285 đã đảm bảo 100% rau xanh ăn tại bếp. Tất cả 6/6 bếp ăn của các đoàn, Viện 69 và cơ quan Văn phòng đều đạt “Bếp nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”. Đồng thời quan tâm xây dựng và quản lý doanh trại “chính quy, xanh, sạch, đẹp”, triển khai trồng nhiều cây ăn quả, cây leo giàn, cây lấy gỗ, tạo cảnh quan môi trường. Đoàn 195, Đoàn 595 đã động viên mọi người đóng góp kinh phí, cây cảnh, xây dựng giàn hoa lan ở doanh trại. Công tác chăm sóc, bảo đảm sức khoẻ cho bộ đội luôn được quan tâm chu đáo. Cán bộ, nhân viên quân y các đơn vị đã quán triệt, thực hiện đúng tiêu chuẩn “Đơn vị Quân y 5 tốt”, chủ động thực hiện chu đáo các khâu, các bước phòng bệnh, phát hiện bệnh, điều trị bệnh và gửi lên tuyến trên kịp thời, không để xảy ra dịch bệnh, hoặc ngộ độc thức ăn, bảo đảm quân số khoẻ đạt 99,54%.

Thực hiện chủ trương tiết kiệm của Bộ Tư lệnh, ngành Hậu cần đã tích cực triển khai khâu đột phá thứ hai: “Thực hành tiết kiệm; chống tham ô lãng phí; chấp hành nghiêm chế độ, tiêu chuẩn bảo đảm hậu cần” gắn liền với các biện pháp “Xây dựng đơn vị quản lý tài chính tốt”; thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng cơ sở vật chất hậu cần, tài chính; thực hành tiết kiệm điện, nước, điện thoại. Các ngành thường xuyên duy trì nề nếp, chế độ công tác quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, kinh phí hậu cần, quỹ phúc lợi chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Đã ứng dụng đưa 2 bếp ở Đoàn 275 và Đoàn 285 từ đun than chuyển sang bếp cấp nhiệt lò hơi cơ khí, tiết kiệm được hơn 147 triệu đồng đưa vào cải thiện bữa ăn bộ đội; triển khai các biện pháp tiết kiệm điện, nước gần 160 triệu đồng; tiết kiệm xăng dầu theo quy định được gần 190 triệu đồng. Song song với thực hành tiết kiệm, đơn vị đã đẩy mạnh tăng gia sản xuất tập trung ở khu vực K84 và tận dụng mặt bằng, khai thác dịch vụ ở hầu hết các cơ quan, đơn vị hiệu quả, phục vụ công tác chính sách hậu phương quân đội, đạt bình quân 1.550.000đ/người/năm, vượt 93% so với năm 2011.

Nganh HC Tang gia 285Công tác tăng gia sản xuất tại Đoàn 285

Khâu đột phá thứ ba được toàn ngành đã thực hiện tốt là: “Đẩy mạnh cải cách hành chính; duy trì nề nếp chính quy công tác hậu cần, bảo đảm an toàn giao thông”. Ngành Hậu cần đã đi đầu trong việc đổi mới phương pháp tác phong công tác, làm việc theo kế hoạch; tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, bám sát cơ sở, bám vào nhiệm vụ và các hoạt động của bộ đội, tránh chồng chéo, gây rối bận. Hàng tuần đều có cán bộ, nhân viên hậu cần đi chỉ đạo, giúp đỡ cơ sở. Hàng quý đều sơ kết, đánh giá, chấm điểm thi đua Ngành Hậu cần đối với từng cơ quan, đơn vị, kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều nỗ lực cố gắng trong công tác. Trong năm, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh đã biểu dương, khen thưởng 2 tập thể, 8 lượt cá nhân tiêu biểu trong ngành Hậu cần; đề nghị Thủ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” và “Đơn vị Quân y 5 tốt” cho Đoàn 275.

Năm 2012, phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” đã trở thành mục tiêu, động lực thúc đẩy mỗi cán bộ, nhân viên, chiến sỹ ngành Hậu cần ra sức thi đua làm theo lời Bác bằng cả nhiệt huyết từ trái tim mình. Từ những việc làm bình dị của những chiến sỹ quân y, quân trang, nuôi quân, tài chính, kế toán, thủ kho, doanh trại….đã góp phần xây dựng ngành Hậu cần của đơn vị ngày càng vững mạnh, góp phần vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới. Đúng như kết luận của đồng chí Đại tá Phạm Văn Lập – Phó Tư lệnh, Trưởng ban Ban Chỉ đạo phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị sơ kết năm 2012: “Phong trào thi đua ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy trong đơn vị đã tạo sự chuyển biến toàn diện cả về nhận thức, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chỉ huy các cấp và năng lực tiến hành của đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sỹ ngành Hậu cần. Công tác hậu cần đã phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, bảo đảm đầy đủ, kịp thời chế độ tiêu chuẩn ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khoẻ bộ đội; cải tạo, sửa chữa doanh trại khang trang, sạch đẹp; tích cực tăng gia, sản xuất, khai thác dịch vụ hiệu quả, trực tiếp góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của đơn vị”./.

Hữu Mạnh, Ngọc Hà
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương sáng về tiết kiệm sức dân

Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, “có ý nghĩa lịch sử”, nền kinh tế nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, “Tạo ra thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước”[1, tr.29].

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng như hiện nay, thì “nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại” [1, tr.29]. Quá trình phát triển trong những năm qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm, đặc biệt là: “Kinh tế phát triển chưa bền vững; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, cơ hội và yêu cầu phát triển của đất nước” [1, tr.165]. Những hạn chế, yếu kém đó do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan cần được nghiên cứu tỉ mỉ, thận trọng để có thể đưa ra những giải pháp khắc phục chính xác và tối ưu. Trong đó, có một nguyên nhân rất lớn đó là chúng ta chưa thực sự phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân trong phát triển đất nước; thậm chí đã làm “hao mòn”, lãng phí sức dân bằng nhiều cách khác nhau. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta không thể không nhớ đến những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, trong đó triết lý về “Tiết kiệm sức dân” của Người có ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn rất sâu sắc.

Tư tưởng về tiết kiệm sức dân ở Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ Chủ nghĩa nhân văn cao cả của Người. Trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử và tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, Người luôn xác định: Con người là vốn quý nhất. Con người vừa là lực lượng, là động lực chủ yếu, trực tiếp, vừa là mục tiêu của lịch sử. Đó là sự thống nhất biện chứng của các yếu tố đó trong con người với tư cách là nhân tố quyết định, sáng tạo ra lịch sử.  Vì vậy, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.

Với Hồ Chí Minh, con người là vốn quý nhất, yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sinh thời Người từng khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [6, tr.276]. Quan điểm đó trước hết thể hiện ở lòng yêu thương vô hạn, sự tin tưởng tuyệt đối vào con người trong nhân cách Hồ Chí Minh. Giáo sư Vũ Khiêu nhận xét: “yêu người mới là cốt lõi trong chủ nghĩa yêu nước và trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” [2, tr.260].  Tất cả sự chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ trong cuộc đời bôn ba hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ có một chủ đích tư tưởng và hành động: làm thế nào để giải phóng đồng bào khỏi áp bức, bóc lộ, nghèo khổ, suốt đời Người chỉ có một ham muốn, đó là “ham muốn tột bật, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[3, tr.161-162].

Lòng yêu thương con người của Hồ Chí Minh theo lập trường cách mạng tất yếu đòi hỏi sự tin tưởng và tôn trọng con người trên cơ sở thấy được vai trò quyết định của con người đối với lịch sử. Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, có dân thì có tất cả, không dựa vào dân thì không thể làm được việc gì. Sức mạnh của Đảng, của Nhà nước là dựa trên sức mạnh và sự ủng hộ của nhân dân. Lòng tin của Hồ Chí Minh đối với con người không chỉ ở chỗ thấy được vai trò sức mạnh của nhân dân trong cách mạng mà còn ở chỗ thấy được những khả năng tiềm ẩn của họ.

Thương người, tin người, trọng người tất yếu phải biết tiết kiệm sức người, đây là một nội dung tích cực của chủ nghĩa nhân đạo trong lịch sử tư tưởng.

Tư tưởng Nho giáo có quan niệm của Khổng Tử: “Bớt tiêu dùng và yêu người” và “sai khiến dân đúng thời”. Đến Tuân Tử, ông cho rằng: “tiết kiệm tiêu dùng và làm giàu cho dân”.

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, coi trọng vốn quý con người gắn liền với chính sách tiết kiệm sức người. Trần Quốc Tuấn coi “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Nguyễn Trãi coi: “việc nhân nghĩa cốt ở an dân”… Như vậy, coi trọng và tiết kiệm sức người không chỉ là quy luật tồn vong của một chế độ mà phải trở thành một đường lối, một chính sách trị nước tích cực của mọi thời đại, mọi chế độ chính trị.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chứa đựng một hệ thống các quan niệm về tiết kiệm sức người hết sức phong phú, sâu sắc, đó là tiết kiệm sức lao động, tiền công, của công, thời gian, nguyên vật liệu, giấy bút, máy móc, ruộng đất, đặc biệt là tiết kiệm sinh mạng con người trong khởi nghĩa giành chính quyền, trong chiến tranh giải phóng dân tộc và trong mỗi trận đánh… nói cách khác, theo nghĩa rộng, nội dung của nó bao gồm:

Khoan thư sức dân: Tức là “giảm sự đóng góp của nhân dân”, “ra sức bảo vệ sản xuất, bình ổn vật giá”… đặc biệt “Phải bồi dưỡng lực lượng cho dân nhiều hơn yêu cầu đóng góp” [5, tr.464].

An dân: Coi “Nhân hoà là quan trọng hơn hết” [5, tr.479]. Muốn vậy thì: “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm…Khi ai có điều gì oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy” [5, tr.66].

Dưỡng dân: Phát triển kinh tế – xã hội, phát triển văn hóa – giáo dục, từng bước nâng cao đời sống vật chất – tinh thần của nhân dân. Đó là kế sách “làm cho dân giàu và giáo dục dân”, và cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội nước ta. “Phát triển kinh tế và văn hóa tức là dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội” [7, tr.2].

Để tiết kiệm sức người, sức của, Hồ Chí Minh yêu cầu: Mọi chủ trương, chính sách, các công việc đều phải có kế hoạch chu đáo, có chuẩn bị, có lãnh đạo, có trọng tâm, thiết thực và có hướng dẫn chặt chẽ. Trong bài Thiếu óc tổ chức – một khuyết điểm lớn trong các Uỷ ban nhân dân – Báo Cứu quốc ngày 4-10-1945, Hồ Chí Minh nhắc nhở: “…Trong khi làm công tác, kế hoạch đã sơ sài, phân công đã không sáng suốt, rồi sau khi làm lại không chịu kiểm điểm lại” [3, tr.39]. Một trong những nguyên nhân gây lãng phí, kém hiệu quả trong tổ chức lãnh đạo, quản lý chính là sự “chủ quan”, sự “khờ dại” và “quan liêu” của cán bộ. Mặt khác, phải biết quý trọng sáng kiến, phổ biến kinh nghiệm, đảm bảo an toàn lao động, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, thi đua, chăm lo sức khoẻ và phân phối, sử dụng hợp lý sức lao động… là những biện pháp hữu hiệu, góp phần tiết kiệm sức người, sức của. Trong bài nói chuyện ở Trường cán bộ Công đoàn ngày 19-1-1957, Người nhấn mạnh: “Hiện nay có hai khẩu hiệu: Tăng gia sản xuất và Thực hành tiết kiệm. Hai điều đó phải đi đôi, thiếu một là không được”. [6, tr.296].

Hồ Chí Minh là người khởi xướng và là tấm gương trong các phong trào thi đua tiết kiệm cho kháng chiến và kiến quốc như “tuần lễ vàng”, “quỹ nghĩa thương” trong nông dân, “phong trào mùa đông chiến sỹ”, “hũ gạo kháng chiến”…

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm là những giá trị có ý nghĩa to lớn đối với giai đoạn hiện nay. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Đảng ta đã có “Cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước; đẩy lùi và xoá bỏ các hiện tượng tiêu cực, làm lành mạnh các quan hệ xã hội và thực hiện công bằng xã hội”. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về các văn kiện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trình bày ngày 19 – 4 – 2001 đã nhấn mạnh đất nước ta đang đang phải đối mặt với nhiều thách thức với bốn nguy cơ cơ bản. Trong đó có hai nguy cơ đáng lưu ý là: Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nạn tham nhũng và tệ quan liêu trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là một thách thức to lớn đối với sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, tìm hiểu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “tiết kiệm sức dân” đang trở thành vấn đề cấp bách.

Đến nay những nguy cơ đó không những chưa mất đi, mà còn có chiều hướng diễn biến phức tạp, gây những tổn thất lớn cho Đảng, Nhà nước và đời sống của nhân dân. Ở nhiều lĩnh vực, nhiều loại hình kinh tế, và ở các cấp, các ngành nhiều vụ tham nhũng, lãng phí lớn gây thất thoát ngân sách của Nhà nước và tiền của của nhân dân đã được phát hiện và xử lý trong những năm qua. Tình trạng lãng phí, dàn trải trong quy hoạch phát triển và đầu tư công còn lớn. Các dự án treo, sa mạc hoá đất nông nghiệp, rồi các cảng biển, sân bay, các khu kinh tế, nhà máy thép, xi măng, sân golf…được đầu tư xây dựng ở nhiều tỉnh thành bất chấp hiệu quả kinh tế. Nhiều nhà máy không hoạt động được do thiếu nguyên liệu sản xuất, những công trình xây dựng xuống cấp nhanh chóng…là vấn đề chúng ta đang quan tâm hiện nay. Nhân dân hiện cũng đang đối mặt với nạn buôn lậu và hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng khiến chúng ta không thể không suy ngẫm. Đặc biệt là tình trạng “lãng phí chất xám”, “bạc hoá chất xám” do những yếu kém trong công tác tổ chức và bố trí cán bộ ở các cấp, các ngành còn diễn ra; một bộ phận cán bộ, công chức những người trong “biên chế” nhà nước làm việc kém hiệu quả, ỷ lại, trông chờ cũng là sự lãng phí lớn đối với “sức dân”. Gần đây, báo giới đã thông tin số liệu rằng: Hiện có khoảng hơn 30% cán bộ, công chức làm việc tương đối tốt, nhưng cũng có khoảng trên 30% không làm việc gì và cũng bằng chừng đó số cán bộ , công chức yếu kém về năng lực. Điều đó không thể không làm ta phải suy nghĩ, trăn trở, dù rằng số liệu chỉ là tương đối.

Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “…năng lực cạnh tranh quốc gia chậm được cải thiện. Đầu tư vẫn dàn trải. Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư còn thấp, còn thất thoát, lãng phí, nhất là nguồn vốn đầu tư của Nhà nước… Chất lượng nhiều công trình xây dựng cơ bản còn thấp. Quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả chưa cao, còn lãng phí… Một số tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ, gây bức xúc trong xã hội… Chất lượng xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển một số ngành, vùng, nhất là quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản còn yếu, gây lãng phí, thất thoát lớn…” [1, tr.166-167]. Và: “…Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước… Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội” [1, tr.172]. Thêm vào đó là: “…Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm; … đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục. Công tác cán bộ thiếu tầm nhìn xa…” [1, tr.246]

Tất cả những hạn chế, yếu kém và khuyến điểm trên đây đã và đang làm “hao mòn” sức dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; và đó là những rào cản không nhỏ trong quá trình phát triển đất nước. Nó cần được nghiên cứu và giải quyết một cách thấu đáo, triệt để nhằm tạo động lực, củng cố và phát huy sức dân cho phát triển. Và như vậy, trong Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hiện nay, chúng ta không thể không nghiên cứu, quán triệt tư tưởng và tấm gương của Người về “Tiết kiệm sức dân” – một vấn đề có ý nghĩa thời đại và cấp bách hiện nay!

Nguyễn Gia Lộc
bqllang.gov.vn

Triết lý sống Hồ Chí Minh

Triết lý sống là giá trị nội tại, quan niệm về sự cống hiến và hưởng thụ nhu cầu vật chất, tinh thần, như là mục đích cuối cùng của đời người. Triết lý sống nằm trong đạo đức nhưng là phần “chìm”, phần tinh túy của đạo đức, có chức năng tự điều chỉnh đời sống tư tưởng, tình cảm và hành động của con người.

 Có thể lấy những câu C. Mác trả lời con gái là một ví dụ về triết lý sống:

– Hỏi: Đức tính mà cha yêu quý nhất? – Trả lời: Giản dị.

– Hỏi: Quan niệm của cha về hạnh phúc? – Trả lời: Đấu tranh.

– Hỏi: Đặc điểm chủ yếu ở Cha? – Trả lời: Mục đích trước sau như một.

– Hỏi: Tính xấu mà cha ghét nhất? – Trả lời: Xun xoe, quỵ lụy

– Hỏi: Câu cách ngôn mà cha thích nhất? – Trả lời: “Không có cái gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi”.

Qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Việt Nam đã hình thành nên những giá trị nhân sinh đặc sắc, trong đó có triết lý sống. Điều này được biểu hiện ở những danh nhân và anh hùng dân tộc. Đức Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), một trong những vị vua anh minh trong lịch sử Việt Nam; là người sáng lập Thiền phái Phật giáo Trúc lâm (một giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc của dân tộc), ngay khi đang ở đỉnh cao của vinh quang và quyền lực, Ông đã để lại đằng sau tất cả những ham muốn trần tục, bước vào đời sống tu hành nhằm mưu cầu quốc thái dân an. Nguyễn Trãi (1380 – 1442), tác giả của Bình Ngô đại cáo luôn khẳng định: “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân”. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa mà còn phát triển triết lý sống cao đẹp của dân tộc lên tầm cao mới; đó là triết lý sống của cá nhân gắn liền với đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản chủ nghĩa.

Từ khi chế độ XHCN ra đời (1917) đến nay, xã hội XHCN do các đảng cộng sản lãnh đạo, cầm quyền đã phải đương đầu với biết bao hiểm nguy, gian khổ. Vừa phải đấu tranh chống lại sự bao vây, cấm vận, tiến công xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít; vừa phải xây dựng chế độ mới, nhưng chế độ XHCN vẫn tồn tại và phát triển. Không ai có thể phủ nhận được rằng, với xã hội XHCN, loài người đã có thêm một sự lựa chọn lịch sử mới về con đường phát triển của nhân loại. Con đường mà ngày nay nhân dân lao động và những người tôn trọng sự bình đẳng và công bằng xã hội đang được đặt ra ở chính ngay những nước tư bản phát triển (mà “Phong trào Chiếm phố Uôn” là một ví dụ). Tuy nhiên chế độ XHCN, với mô hình Liên Xô – Đông Âu đã rơi vào khủng hoảng, sụp đổ trong những năm 80, đầu năm 90 của thế kỷ XX. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó có sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên (CB,ĐV) trong các đảng cộng sản cầm quyền.

Vì sao có hiện tượng này? Để trả lời câu hỏi đó, không chỉ phân tích những sai lầm, khuyết điểm trong quan điểm, đường lối chính sách của các đảng cộng sản cầm quyền, mà còn phải phân tích những vấn đề nằm sâu ở chính con người. Trong công trình “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel”, C. Mác đã viết “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí…; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng. Lý luận có thể thâm nhập vào quần chúng, khi nó chứng minh ad hominem (chứng minh ứng dụng vào con người; lấy một con người để chứng minh) và nó chứng minh ad hominem khi nó trở thành triệt để… Nhưng gốc rễ của con người, chính là bản thân con người”1. Chỉ dẫn của C. Mác có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự phân tích tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, nhất là đạo đức, lối sống của CB,ĐV ở nước ta hiện nay.

Thực tế cho thấy, những ham muốn vô độ về vật chất, tiền bạc, tài sản, quyền lực là khởi điểm dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống. Sự khác biệt giữa con người với các sinh vật là ở nhận thức và theo đuổi lợi ích của mình. Lợi ích đó bao gồm lợi ích tinh thần và lợi ích vật chất. Đây là nguồn gốc thúc đẩy sự vận động của lịch sử xã hội và cũng là nguồn gốc triết lý sống. Có những nhận thức chung và sự khác biệt trong triết lý sống ở mỗi người. Những nhận thức chung có thể là: cuộc sống của mỗi người là hữu hạn, rút cuộc ai cũng phải “ra đi”, trở về với cát bụi; những nhu cầu cơ bản của con người là tự do, bình đẳng, lòng thương yêu người thân, gia đình, đồng loại… Sự khác biệt trong nhận thức ở mỗi người (về các giá trị vật chất, tinh thần) có thể là: có người xem quyền lực, của cải, sự giàu có hơn người là niềm hãnh diện, là mục đích cuối cùng của đời người; có người lại xem mục đích cuối cùng của một đời người là sự hy sinh, cống hiến cho xã hội, cho dân tộc, là mong được nhìn thấy hạnh phúc của con cháu, người thân, nói rộng ra là hạnh phúc của nhân dân. Với Hồ Chí Minh, triết lý sống và đạo đức cách mạng luôn gắn liền với nhau và có vai trò quan trọng đặc biệt đối với người cộng sản. Người thường dùng mệnh đề “Tự mình phải” hoặc “đối với việc, đối với người, đối với mình”. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (tài liệu để Hồ Chí Minh đào tạo lý luận Mác – Lê-nin cho lớp cán bộ trẻ ở Quảng Châu, được xuất bản năm 1927), Người đặt lên hàng đầu việc giáo dục đạo đức cho những người cộng sản trẻ tuổi. Ngay ở chương đầu của tác phẩm này, Người viết về “Tư cách một người cách mệnh”; trong đó, đòi hỏi người cách mạng phải “giữ chủ nghĩa cho vững”, đặc biệt là “Ít lòng tham muốn về vật chất”2.

Nói đến đạo đức, triết lý sống không thể không nói đến khái niệm lương tâm, đó là sự tự phán xét đối với hành động và cả trong suy nghĩ của mỗi người. Sự tự phán xét, không phải về mặt trách nhiệm chính trị hay pháp lý mà về trách nhiệm đạo đức – rằng điều đó có phù hợp với triết lý sống hay không? và rút cuộc những việc mình làm sẽ góp phần đưa xã hội đến đâu, đem lại những giá trị gì cho chính mình? Ngụy biện đối với cơ quan, tổ chức và cả với chính mình thường là nơi trú ngụ của những hành vi sai trái, những việc làm tổn hại đến lợi ích của nhân dân, của chế độ xã hội. Ngày nay, ở nước ta, tham nhũng thường thông qua lợi ích cục bộ, “lợi ích nhóm”. Lý lẽ biện hộ của họ thường được giải thích bằng những “quyết định tập thể” hoặc do “cơ chế” để lẩn tránh trách nhiệm cá nhân. Không phủ nhận môi trường chính sách, pháp luật, cơ chế… của chúng ta cần tiếp tục được hoàn thiện, bởi vẫn còn những “khoảng trống” nào đó, nhất là trên lĩnh vực kinh tế, nhưng điều đó không phải là không có người chịu trách nhiệm. Ở đây, lương tâm, triết lý sống sẽ là sự phán xét trước hết đối với mỗi người.

Nói đến triết lý sống là nói tới nhận thức, quan niệm về vinh quanghổ thẹn. Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất thiết hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến, ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”3. Như vậy, với Hồ Chí Minh, những giá trị cao đẹp của mỗi cá nhân, của đảng cầm quyền, thậm chí của cả một dân tộc cũng có thể thay đổi, nếu không biết bảo vệ, phát triển những giá trị đó. Còn nhớ, sau khi V.I. Lê-nin, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và của các dân tộc bị áp bức qua đời (năm 1924), Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã viết “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính sự coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao đến các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người không gì ngăn cản nổi”4. Những điều Hồ Chí Minh ca ngợi V.I. Lê-nin, đặc biệt là đức tính coi khinh sự xa hoa, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị… cũng là quan niệm về triết lý sống và phẩm chất của Người.

Triết lý sống Hồ Chí Minh không phải là sống khổ hạnh, càng không phải là diệt dục, mà là một quan niệm sống hài hòa, giản dị, khiêm nhường, thanh cao về tinh thần và vật chất. Với Người, cách sống đẹp là sự hài hòa giữa con người với tự nhiên, giữa cá nhân với đồng bào, đồng chí. Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi nói về nếp sống giản dị, cần, kiệm, liêm, chính của Người, đã nhấn mạnh: là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh không thể sống khác như vậy được! Vào đầu năm 1946, sau thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch chính thức của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khi trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”5. Với Người, cương vị trọng trách không phải là quyền lực, quyền lợi mà là nghĩa vụ, trách nhiệm được giao nhằm phục vụ cho hạnh phúc của nhân dân. Còn nhu cầu có tính chất riêng tư thì đó là một cuộc sống giản dị, hòa nhập với nhân dân và hài hòa với tự nhiên.

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng (khoá VII), tháng 01-1994, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra khái niệm “nguy cơ” đối với cách mạng Việt Nam. Đại hội XI của Đảng (tháng 01-2011) đã xác định những nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ CB,ĐV, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”6. Trong những nguy cơ trên, Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) của Đảng xác định, sự suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ CB, ĐV “là nguy cơ lớn nhất đối với một đảng cầm quyền, như V.I. Lê-nin và Bác Hồ đã từng cảnh báo”7. Có nhiều giải pháp để phòng, chống, đẩy lùi những nguy cơ trên; trong đó, các tổ chức, các lực lượng trong hệ thống chính trị và toàn dân, trước hết là đội ngũ CB, ĐV các cấp cần coi việc nâng cao hơn nữa hiệu quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một giải pháp cơ bản, thường xuyên và cấp bách trong tình hình hiện nay.

Triết lý sống Hồ Chí Minh là phần tinh túy trong tư tưởng đạo đức của Người. Học tập và làm theo triết lý sống của Người không chỉ vì lợi ích của xã hội, của cách mạng Việt Nam, mà còn vì sự hoàn thiện nhân cách và hạnh phúc của mỗi người./.

TS. CAO ĐỨC THÁI
tapchiqptd.vn

___________

1- Các Mác, Phri-đích Ăng-ghen – Toàn tập, Tập 1, Nxb ST, H. 1978, tr. 27.

2- Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 2. Nxb CTQG, H. 2000, tr. 260.

3- Sđd – Tập 12, tr. 557.

4- Sđd – Tập 1, tr. 295.

5- Sđd- Tập 4, tr. 161.

6- ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011. tr. 29.

7- Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), ngày 28 tháng 02 năm 2012.

Cả nhà cùng học theo Bác

Đến xã Quỳnh Thạch (Quỳnh Lưu), hỏi nhà thầy giáo Đậu Xuân Tiêu, từ em bé cho đến cụ già đều nhiệt tình dẫn đường, ai cũng nói “Nhà thầy Tiêu có thư viện sách và ảnh về Bác Hồ, cả xã ai cũng biết”.

Học Bác ngay từ khi còn nhỏ

Năm 1930, do quá nghèo khổ, gia đình cậu bé Tiêu phải bỏ làng ra đi. Để cầm cự, người mẹ đã phải nhai châu chấu nuôi con. Nhờ có cách mạng, có Đảng và Bác Hồ, cuộc đời của gia đình cậu bé Tiêu đã bước sang trang mới. Với những gì người mẹ kể lại, hình ảnh Bác Hồ trở thành ông Tiên trong suy nghĩ của cậu bé Tiêu. Theo lời dạy của Bác “tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, “diệt giặc đói và giặc dốt”, ngoài việc giúp mẹ công việc đồng áng, cậu bé Tiêu còn ra sức thi đua học tập với các bạn cùng trang lứa.

Nhờ chăm chỉ học hành, năm 1954, Đậu Xuân Tiêu được cử đi học tại khu học xá Trung ương ở Nam Ninh (Quảng Tây – Trung Quốc). Trở về nước, theo tiếng gọi của Đảng, chàng trai trẻ xứ Nghệ xung phong lên huyện miền núi Lục Ngạn (Bắc Giang) để đem cái chữ đến cho những người nghèo. Lương của một thầy giáo mới ra trường không cao, nhưng hàng tháng thầy Tiêu vẫn dành một khoản tiền để xuống tận hiệu sách huyện tìm mua các loại sách báo. Qua sách báo, nghe đài, thầy giáo trẻ Đậu Xuân Tiêu càng khâm phục tài năng, đức độ, lòng yêu nước, thương dân của Bác và từ đó anh sưu tầm các bài viết, tranh ảnh về Bác để cất giữ làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy. Cảm mến đức tính đó của “thầy đồ Nghệ”, cô gái xứ Kinh Bắc Nguyễn Thị Dinh đã kết tóc se duyên và trở thành “người giúp việc tận tụy” cho thầy Tiêu trong việc sưu tầm, lưu giữ các tài liệu về Bác Hồ.

Lập thư viện cho mọi người cùng học

Năm 1971, về dạy học tại huyện nhà, từ tủ sách, báo của mình, thầy Tiêu đã dành hẳn một gian nhà để hình thành nên thư viện “Sách và ảnh về Bác Hồ” phục vụ các bạn đồng nghiệp, các em học sinh và hàng xóm láng giềng. Theo thầy Tiêu thì đây là gia tài quý nhất mà ông đã tích cóp từ thời trai trẻ với hàng nghìn tờ báo, hàng trăm quyển sách, tài liệu quý và trên 400 bức ảnh về Bác Hồ được xuất bản trong và ngoài nước qua các thời kỳ như: Bài Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, ảnh Bác Hồ đăng trên Tờ Họa báo Liên Xô năm 1969, tập hợp các bài báo của Bác Hồ đăng trên Báo Nhân Dân… Tất cả các tư liệu, hình ảnh đều đã úa màu thời gian nhưng được sắp xếp rất ngăn nắp và khoa học theo từng thể loại, từng thời kỳ, rất dễ cho người đọc lựa chọn.

hoc theo Bac 1
Bức ảnh Lời Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô
đăng trên họa báo Liên Xô khi Bác mất, được thầy Tiêu lưu giữ cẩn thận.

Thầy Tiêu tâm sự: “Họ đi nước ngoài thường mua cái nọ, cái kia, nhưng tôi thì mang về toàn sách là sách, trong đó có rất nhiều bài báo, tranh ảnh viết về Bác. Tôi rất thích đọc sách, báo, nhất là các tác phẩm của Bác Hồ. Cuốn “Nhật ký trong tù” của Bác tôi thuộc từ lúc còn trẻ. Thấm thía những lời dạy của Bác, tôi càng nghĩ càng thấy hay và mong muốn chia sẻ với mọi người, trước hết là truyền thụ cho học sinh, đó cũng là lý do mà tôi lập nên thư viện này”.

Thấm vào nếp sống thường ngày

Tâm đắc với lời dạy của Bác: Có đạo đức cách mạng thì trong hoàn cảnh nào cũng kiên quyết đấu tranh, chống mọi kẻ thù; ra sức học tập, cải tiến công tác. Có lần thấy những sai phạm trong công tác giáo dục ở huyện nhà, thầy Tiêu đã viết bài đăng báo phản ánh. Mặc dù bị trù dập nhưng ông vẫn đấu tranh và tìm ra lẽ phải để cuối cùng đã chấn chỉnh được tình trạng đó. Trong những năm tháng dạy học, từ những lời dạy của Bác, vợ chồng thầy Tiêu đã ra sức thi đua “dạy tốt, học tốt”, những bài giảng văn của thầy Tiêu được các đồng nghiệp nhận xét là “làm sống dậy từng con chữ, từng nhân vật”.

Học tập tinh thần “tăng gia sản xuất” của Bác, tuy làm nghề giáo nhưng thầy Tiêu vẫn là một “gương làm kinh tế giỏi”. Để có đồng ra, đồng vào nuôi con ăn học, trước đây, vợ chồng thầy còn tranh thủ nuôi thêm bò, hươu, đào ao nuôi cá, trồng rau, những khoản này cho thu nhập mỗi năm hàng trăm triệu đồng.

Từ tấm gương, sự chỉ bảo của bố mẹ, 4 người con của thầy Tiêu (2 trai, 2 gái) đều học tập và làm theo lời Bác từ những việc nhỏ hàng ngày. Đến nay, họ đều trở thành những công dân có ích cho đất nước. Vợ chồng anh con trai đầu đều tốt nghiệp thạc sỹ ở nước ngoài, hiện là Trung tá đang công tác ở Bộ Quốc phòng, người con trai thứ hai là Hiệu trưởng Trường cấp 1 Quỳnh Thắng. Hai cô con gái, một người là Hiệu phó Trường cấp 1, một người là giáo viên dạy văn cấp 2. Các cháu nội ngoại mỗi lúc rảnh rỗi đều về “thư viện” để được nghe ông kể chuyện về Bác Hồ.

Về hưu, có thời gian, thầy Tiêu theo dõi khá kỹ tình hình thời sự trong nước và quốc tế cũng như đời sống của người dân trong tỉnh. Từ những kiến thức học được qua sách báo, thầy đã dành thời gian nghiên cứu kỹ các văn kiện từ tỉnh đến Trung ương rồi viết thư góp ý. Nhiều ý kiến đóng góp của thầy Tiêu đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận. Về lĩnh vực giáo dục, ông cũng nhiều lần gửi thư đóng góp ý kiến. Trong thư Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An gửi ông ngày 4/12/1996, có đoạn viết: “Thay mặt lãnh đạo ngành xin chân thành cảm ơn những ý kiến tâm huyết góp ý xây dựng Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và xin ghi nhận những ý kiến đó trong việc chỉ đạo sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn tỉnh, đồng thời báo cáo lên cấp trên tham khảo. Chúng tôi kính mong ông với kinh nghiệm đã tích lũy được đóng góp thêm nhiều ý kiến, góp phần đưa sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo có thêm những bước phát triển mới đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Đến nay thầy Tiêu đã có hẳn một quyển sách dày trên 200 trang A4 lưu giữ 63 bài viết, góp ý cho các cấp từ huyện đến Trung ương về những vấn đề xã hội, những ý kiến phê bình khuyết điểm của các cấp. Thầy Tiêu cho biết, đó cũng là một cách để xây dựng đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng của Đảng, của Bác Hồ.

Năm nay thầy giáo Tiêu đã bước sang tuổi 84, nhưng mỗi sáng mai, trước bàn thờ gia tiên có đặt tượng Bác Hồ ở vị trí trang trọng, hai bên treo những lời dạy của Bác, thầy Tiêu lại cùng con cháu bật tivi làm lễ chào cờ (lễ chào cờ vào lúc 6 giờ sáng hàng ngày được phát trên VTV1), để được ngắm lá cờ Tổ quốc tung bay trên Quảng trường Ba Đình – nơi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập.

Có người nói: Thầy Tiêu làm như vậy là lẩm cẩm, nhưng với thầy, tấm gương đạo đức của Bác, những báu vật mà thầy gom góp lưu giữ và truyền bá, phổ biến hàng chục năm nay, cả việc chào cờ, tưởng niệm Bác mỗi buổi sáng đã thấm vào máu thịt, trở thành nếp sống như cơm ăn, nước uống thường ngày.

Tạm biệt quê hương Quỳnh Thạch, tôi thầm nghĩ, tấm gương học tập và làm theo đạo đức của Bác Hồ của thầy Tiêu còn ít người biết đến, như là ngọc ở trong đá vậy!

Đức Dũng
Theo http://baonghean.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Đại đội Thông tin làm theo gương Bác

QĐND – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò của thông tin liên lạc là quan trọng hàng đầu trong đấu tranh cách mạng. Bởi, thông tin quyết định sự thống nhất chỉ huy, phân phối lực lượng để bảo đảm thắng lợi. Khắc ghi lời dạy của Bác, những năm qua, cán bộ, chiến sĩ Đại đội Thông tin LLVT tỉnh Bến Tre đã không ngừng phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Cán bộ, chiến sĩ Đại đội Thông tin LLVT tỉnh Bến Tre tác nghiệp trong diễn tập.

Thượng úy Huỳnh Trung Chiến, Đại đội trưởng cho biết: Chúng tôi luôn gắn chặt việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm. Đơn vị luôn quán triệt tinh thần hăng hái, chăm chỉ, cẩn thận, tỉ mỉ tác nghiệp để hoàn thành nhiệm vụ, khắc phục được những điểm yếu, khâu yếu trong công tác. Mỗi cán bộ, chiến sĩ hằng tháng viết bản đăng ký quyết tâm khắc phục khuyết điểm của tháng trước. Với đặc điểm quản lý nhiều kênh thông tin liên lạc, đại đội đã bảo đảm thông tin thoại, truyền số liệu phục vụ cho nhiệm vụ SSCĐ, duy trì thông suốt mạng thông tin liên lạc từ trung tâm chỉ huy đến với các đơn vị đứng chân và làm nhiệm vụ cơ động.

Cán bộ, chiến sĩ đơn vị thực hiện làm theo tấm gương của Bác bằng chương trình, kế hoạch rèn luyện, phấn đấu cụ thể của từng cá nhân để trong bất kỳ tình huống nào công tác thông tin liên lạc vẫn phải thông suốt. Đặc biệt, chú trọng việc hoàn thành tốt nhiệm vụ thông tin liên lạc trong diễn tập ở các cấp, kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện cơ bản và huấn luyện theo nhiệm vụ. Trong năm 2011, Đại đội đã bảo đảm thông tin thông suốt vững chắc, không để bị bất ngờ, sai sót, chậm thông tin, phục vụ tốt cho chỉ huy hiệp đồng chiến đấu của LLVT trong tỉnh. Đơn vị xử lý kịp thời gần 500 công điện, nhận và chuyển hơn 17.500 công văn, văn kiện các loại, được quân khu đánh giá đơn vị đạt loại giỏi. Ngoài ra, đơn vị còn duy trì nghiêm chế độ trực ban, trực lực lượng thông tin SSCĐ, đặc biệt là nâng cao ý thức trách nhiệm tự giác chấp hành nghiêm kỷ luật trong quá trình canh trực.

Phát huy tinh thần tương thân tương ái, hằng tháng, mỗi cán bộ, sĩ quan của đơn vị đều dành một khoản tiền nhỏ góp vào quỹ tình thương nhằm chăm lo, giúp đỡ gia đình quân nhân gặp khó khăn. Riêng với anh em chiến sĩ thì ủng hộ theo khả năng mỗi người. Với số tiền quyên góp được, đơn vị đã làm tốt công tác dân vận và đền ơn đáp nghĩa.

Theo Thượng úy Huỳnh Trung Chiến, nhờ gắn phong trào thi đua quyết thắng với thực hiện việc làm theo gương Bác đã nâng cao được ý thức tự tu dưỡng, nhất là tinh thần thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ, chiến sĩ. Hiện nay, công tác huấn luyện chuyên ngành thông tin của đơn vị luôn sát với tình hình thực tế chiến đấu, trên tất cả các địa hình và hình thái chiến thuật, bảo đảm cho người chiến sĩ thông tin giỏi về chuyên môn, thành thạo về chiến thuật chuyên ngành. Học ở Bác, đòi hỏi người chiến sĩ thông tin phải thường xuyên nghiên cứu cập nhật kiến thức liên tục để sử dụng các phương tiện kỹ thuật công nghệ cao một cách có hiệu quả. Đồng thời, bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và các nhiệm vụ đột xuất.

Phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Đại đội Thông tin LLVT tỉnh Bến Tre tiếp tục đoàn kết, phấn đấu xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới.

Bài và ảnh: Trường Khoa
qdnd.vn

Cán bộ lãnh đạo phải làm gương

Đó là một trong những yêu cầu hàng đầu mà Bác Hồ đặt ra cho cán bộ của Đảng và Nhà nước ngay từ khi chính quyền nhân dân vừa mới ra đời. Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa đầu tiên được tổ chức vào tháng 10.1946, Bác đã nói: “Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ, từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các Ủy ban làng đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao, Chính phủ đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị”.

Bên cạnh việc căn dặn hết sức cặn kẽ cán bộ “đều là công bộc của dân” nên “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”, Bác cũng đòi hỏi cán bộ phải “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” và phải khắc sâu những chữ “công bằng, chính trực” vào lòng. Luôn biểu dương và khen thưởng kịp thời, xứng đáng những cán bộ tốt, đồng thời Bác hết sức nghiêm khắc với những tệ nạn như: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, tham ô, lãng phí… Người nhấn mạnh: “Ai đã phạm những lỗi lầm trên này phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Bác đặc biệt coi trọng việc xây dựng và hình thành các tấm gương đạo đức trong quá trình xây dựng chính quyền của nhân dân. Từ nhận thức sâu sắc: tấm gương đạo đức của các vị lãnh đạo, của các nhà cầm quyền có ý nghĩa vô cùng to lớn, nhân dân sẽ noi theo gương đó mà hành động ứng xử. Bác thường xuyên nhắc nhở cán bộ phải chăm lo giữ gìn đạo đức trong cuộc sống và công tác. Người thường nói: đời sống của nhân dân ta còn khổ, người cách mạng không thể có cuộc sống khác. Và Bác đã nghiêm túc thực hiện tất cả những điều mà Người đã nói với cán bộ và mong muốn cán bộ thực hiện. Là Chủ tịch nước nhưng cuộc sống của Bác luôn đơn sơ, đạm bạc, giản dị “như người thường”, từ bữa ăn, chốn ở cho đến các tiện nghi sinh hoạt. Ở Bắc bộ phủ Bác thường ăn cơm chung với những người phục vụ. Gặp gỡ mọi người dù là cán bộ cấp cao hay dân thường, các cụ cao niên hay các cháu thiếu nhi… Bác đều gặp gỡ thân tình, trò chuyện cởi mở và cặn kẽ, ứng xử trọng thị… Dẫu bận trăm công nghìn việc của nguyên thủ quốc gia, Bác vẫn cố gắng thu xếp đi thăm nhân dân ở các địa phương, nhất là các vùng nông thôn, miền núi, ven biển…

Tấm gương đạo đức trong sáng cao đẹp của Bác đã được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân ta noi gương học tập và làm theo, tạo thành động lực to lớn để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta có thêm sức mạnh, đoàn kết một lòng làm nên những chiến thắng vẻ vang. Bài học người cán bộ lãnh đạo phải làm gương là điều mà mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta phải luôn ghi lòng tạc dạ và thực hiện triệt để trong cuộc sống và công tác của mỗi người.

Triêu Dương
baobinhdinh.com.vn

Có lỗi thì phải sửa

Sinh thời, Bác Hồ luôn giáo dục, nhắc nhở mọi cán bộ, đảng viên phải luôn ghi nhớ thật sâu sắc nhiệm vụ của mình. Đó là “vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng”. Người chỉ rõ: “Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng là để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân”. Và để làm tốt nhiệm vụ của mình thì mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu trong mọi công việc, “nói” phải đi đôi với “làm”. Đặc biệt cần tránh các sai lầm, khuyết điểm.

Tuy nhiên, Người cũng nói rõ “Người đời ai cũng có khuyết điểm có làm việc thì có sai lầm”, do đó không loại trừ cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm. “Đảng ta không phải từ trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư, tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… Những thói xấu đó họ mang từ xã hội vào Đảng. Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái?”. Theo Bác, điều quan trọng là ở chỗ “chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa”. Bởi vì, “trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết. Vì vậy, đối với cán bộ sai lầm ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế. Sự sửa đổi khuyết điểm một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó”. Theo Bác, để sửa chữa khuyết điểm thì người có khuyết điểm phải thành tâm, thành ý, thật sự cầu thị để tiến bộ. Việc xử lý Bác cũng lưu ý rất cặn kẽ “lỗi lầm có việc to, việc nhỏ”, do đó việc xử phạt phải “có tình, có lý” vì “nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại”. Song phải lấy giáo dục, thuyết phục, cảm hóa làm căn bản, gốc rễ. Đặc biệt, phải phân biệt nguyên cớ của sai lầm, khuyết điểm, “phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng”. Bác nhắc nhở, trong việc xử lý “không vì công mà quên lỗi, không vì lỗi mà quên công”. Bác cũng đặc biệt lưu ý “người lãnh đạo phải biết tìm cách đúng để giúp đỡ cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”.

Bằng An
baobinhdinh.com.vn

Muốn có phong trào phải lo cán bộ

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Việc cần làm trước tiên là chuẩn bị cán bộ cho phong trào. Xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt, nhiệt tình, vừa giỏi về chuyên môn, vừa có đạo đức trong sáng, có tác phong sâu sát, gần gũi quần chúng, với thực tiễn là đòi hỏi khách quan. Coi trọng phong trào Thi đua yêu nước và cán bộ của phong trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sâu sát, lựa chọn và bố trí cán bộ làm công tác thi đua theo tiêu chuẩn: nhiệt tình, xốc vác và có kinh nghiệm thực tiễn.

Người yêu cầu những cán bộ làm công tác thi đua khi được giao trách nhiệm phụ trách địa bàn: Trước khi phát động, phải họp với cán bộ địa phương, đặt kế hoạch, lập tổ xung phong. Người đặc biệt nhấn mạnh: Từ cá nhân đến đoàn thể, “tổ chức công tác là cần thiết” và đó là nguyên nhân quyết định sự thành bại của phong trào. Cuối cùng, nếu coi thi đua là “gieo hạt”, khen thưởng là “thu hoạch”, những cán bộ làm công tác thi đua, nếu “bản thân tiến bộ”, hoặc có thành tích “giúp đỡ” người khác cùng tiến bộ, thì đều được khen thưởng. Khen thưởng sẽ tạo động lực trong thi đua.

Tháng 11.1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Cụ Tôn Đức Thắng, Trưởng ban vận động Thi đua ái quốc. Trong thư, Người viết: “Tôi rất đồng ý với Cụ là cần phải có cán bộ được huấn luyện hẳn hoi”. Đây là mối lưu tâm, là sự trăn trở của Người đối với sự phát triển của phong trào Thi đua yêu nước, bởi theo “thiển ý” của Người “Chúng ta rất cần huấn luyện cán bộ, mà huấn luyện cán bộ xã trước hết”, rồi từ đó “lựa chọn những cán bộ xã có năng lực nhất, đưa dần lên làm cán bộ huyện, tỉnh, khu”.

Người dặn dò, việc lựa chọn cán bộ cho phong trào phải được chuẩn bị chu đáo, có lộ trình, và việc bổ nhiệm cán bộ từ xã, lên huyện, đến tỉnh và khu, phụ thuộc vào năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức. Đó không chỉ là những người có lòng nhiệt tình, tính xốc vác, đó còn phải là những người “có năng lực nhất”, “được huấn luyện hẳn hoi”, và đặc biệt là phải trưởng thành từ cơ sở. Cách thức chọn người tiêu biểu nhất, được huấn luyện và đưa những cán bộ ở cấp cơ sở có năng lực lên phụ trách ở cấp cao hơn, là một cách lựa chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ rất độc đáo.

Sức mạnh diệu kỳ của phong trào Thi đua yêu nước do Người phát động, bền bỉ, thực chất, thiết thực được thực hiện rộng khắp, mỗi ngày đã đem lại hiệu quả to lớn, đúng như Người từng nói: “Thi đua ái quốc, hiện tại và tương lai vẻ vang của nước ta”.

Lê Hà
baobinhdinh.com.vn

Quan tâm đến “tam nông”

Tháng 2.1951, trong Thư gửi nông dân thi đua canh tác, Bác viết “Thực túc thì binh cường, chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất; ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”. Bức thư thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với giai cấp nông dân và sản xuất nông nghiệp.

Sau này, Bác cũng luôn quan tâm đến đời sống nông dân và công tác thủy nông. Dù bận rất nhiều việc của Chủ tịch nước, Người vẫn dành thời gian tham gia chống hạn, chống úng với nhân dân. Tham gia đạp guồng nước chống úng năm 1960 tại xã Hiệp Lực, tỉnh Hà Đông, Bác nhắc mọi người sau này nên lắp thêm vòng bi vào trục để người đạp đỡ vất vả mà năng suất lại cao hơn. Người còn lẩy Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

Bác luôn dành cho giai cấp nông dân những tình cảm đặc biệt. Trong Di chúc, Bác đề nghị Chính phủ khi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ toàn thắng “miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”. Đến nay, lời căn dặn của Người đã thành hiện thực trên đất nước ta. Đặc biệt, những việc làm của Bác đối với nông nghiệp, cách thức tiếp cận chia sẻ vất vả với nông dân của Người… đến nay còn nguyên giá trị cả về tình cảm đạo đức và trí tuệ.

Đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo đường lối đổi mới của Đảng. Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã xác định việc giải quyết vấn đề “tam nông”: nông dân – nông nghiệp – nông thôn là vấn đề lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hội nhập và phát triển của đất nước. Do đó, việc học tập và làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với lĩnh vực này là hết sức cần thiết đối với mỗi đảng viên để đưa Nghị quyết của Đảng sớm đi vào cuộc sống.

Quang Tuyến
baobinhdinh.com.vn

Quan liêu là “Giặc ở trong lòng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, đảng viên: Bệnh quan liêu hết sức nguy hiểm, những người và những cơ quan lãnh đạo nào mắc phải bệnh này thì “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững”.

Bệnh quan liêu không chỉ đơn thuần là sai lầm về tác phong, phương pháp làm việc mà chính là một căn bệnh nguy hiểm, có quan hệ trước hết và chủ yếu đến lập trường tư tưởng, đạo đức cách mạng, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và Nhà nước. Quan liêu thường đi liền với mệnh lệnh cửa quyền, coi thường quần chúng, sách nhiễu người dân… Nó làm cho các tổ chức Đảng và cơ quan Nhà nước vốn là cơ quan lãnh đạo, đại diện quyền lực và đầy tớ của dân trở thành những tổ chức xa dân, đứng trên nhân dân, thoát ly thực tế, từ đó dẫn đến đề ra các chủ trương, chính sách không sát với yêu cầu của thực tiễn, thậm chí sai lầm, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Quan liêu là mặt đối lập rất nghiêm trọng với dân chủ.

Từ những tác hại do bệnh quan liêu gây ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân và của Chính phủ, là “giặc ở trong lòng”, là “giặc nội xâm” và là tội ác. Người khẳng định, có nhiều nguyên nhân phát sinh căn bệnh nguy hiểm này, cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Về khách quan, bệnh quan liêu có từ xã hội cũ và chế độ xã hội cũ lây truyền sang chế độ xã hội mới. Còn nguyên nhân chủ quan chính là những vấn đề thuộc về bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức nào mà cái tâm không trong sáng, không xác định đúng động cơ vào Đảng, quan điểm quần chúng lệch lạc… thì rất dễ mắc bệnh quan liêu.

Đấu tranh chống bệnh quan liêu, từng bước khắc phục và loại bỏ nó ra khỏi bộ máy chính quyền là đòi hỏi tất yếu khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Muốn xây dựng một xã hội mới, xã hội tự do, bình đẳng, cần, kiệm, liêm, chính thì phải “tẩy” cho sạch hết các thói xấu của xã hội cũ. “Những người mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc thì phải thay đi”, phải “tẩy sạch nó” và đây là “việc rất cần thiết và phải làm thường xuyên”.

Đấu tranh chống bệnh quan liêu là một mặt trận hết sức khó khăn, phức tạp. Đó là một cuộc cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức và phản đạo đức. Muốn giành thắng lợi trong cuộc cách mạng ấy thì phải có quyết tâm cao và tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, đồng thời có các biện pháp thích hợp, chặt chẽ và đồng bộ.

Hà Linh
baobinhdinh.com.vn

“Nói thì phải làm”

“Nói thì phải làm” hoặc “Nói đi đôi với làm” là một đức tính tốt đẹp và là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để trở thành con người trung thực, dũng cảm, đáng tin cậy. Kế thừa giá trị đạo đức truyền thống đó, Bác Hồ đã nâng lên thành quan điểm, tư cách đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Trong tác phẩm “Đường Cách Mệnh” được Bác viết năm 1927, trong 23 điều của “Tư cách người cách mạng”, ở điều thứ 10, Bác ghi rõ “Nói thì phải làm”.

“Nói thì phải làm” đối lập với nói mà không làm hoặc “nói một đằng làm một nẻo” của những kẻ hứa suông qua chuyện, những kẻ cơ hội, không đáng tin cậy. Đây là căn bệnh nguy hiểm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, là nguy cơ gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng mà Bác đã cảnh báo. Bác dạy: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Người cán bộ, đảng viên chỉ khi nói được, làm được, mới được nhân dân tin yêu và đi theo. Do đó “nói thì phải làm” là một chuẩn mực đạo đức, là tư cách của mỗi người cán bộ, đảng viên.

Bác Hồ của chúng ta là một tấm gương tiêu biểu về đức tính “nói thì phải làm” và khi làm là làm đến nơi, đến chốn. Bác khuyên cán bộ, đảng viên phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thì cuộc đời của Người là tấm gương sáng mẫu mực, tuyệt vời về đức tính đó. Người phát động nhân dân lập hũ gạo cứu đói, thì Người gương mẫu và nghiêm túc thực hiện mười ngày nhịn ăn một bữa để đem gạo đó biếu dân nghèo. Người phát động “Tết trồng cây” để lấy gỗ làm nhà và cải thiện môi trường, thì vào Tết Nguyên đán hàng năm Người đều tham gia trồng cây đều đặn. Người phát động nhân dân chống hạn, chống úng, thì chính Người trực tiếp tham gia cùng nhân dân tát nước chống hạn ở Hà Đông và chống lụt ở Hải Dương; Người khuyên cán bộ, đảng viên phải thường xuyên học tập, học ở mọi nơi, mọi lúc, học ở mọi người, học suốt đời “…để làm việc, làm người, làm cán bộ”, thì chính Người là một tấm gương tiêu biểu, trong những ngày cuối đời mặc dù nằm trên giường bệnh nhưng Bác vẫn còn học tiếng Tây Ban Nha…

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta không nên nghĩ học tập và làm theo Người những việc làm to lớn, cao xa của bậc vĩ nhân của nhân loại, mà chúng ta nên bắt đầu học tập và làm theo từ những việc làm nhỏ bé, bình thường, cụ thể trong đời sống sinh hoạt và làm việc thường nhật của chúng ta, mà “nói thì phải làm” là việc không khó đối với tất cả mọi người. Mỗi cán bộ, đảng viên hãy nghiêm túc tự kiểm điểm lại mình đã thực hiện tốt việc “nói thì phải làm” chưa?

Minh Quân
baobinhdinh.com.vn