Thư viện

Lời giới thiệu Tập 10

Tập 10 của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ hai, bao gồm những bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 1 nǎm 1960 đến tháng 12 nǎm 1962.

Những tác phẩm, bài viết in trong Tập 10 thể hiện tập trung tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tất cả các lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và các vấn đề quốc tế

Về nhiệm vụ của cách mạng cả nước, trước những biến chuyển mới của tình hình trong nước và quốc tế, trong bài Ba mươi nǎm hoạt động của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng Việt Nam hiện nay có hai nhiệm vụ phải đồng thời tiến hành: nhiệm vụ xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và nhiệm vụ tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Hai nhiệm vụ ấy đều nhằm một mục tiêu chung là: củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên nền tảng độc lập và dân chủ” (tr. 12). Tư tưởng đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lại tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng: “Nhiệm vụ hiện nay của cách mạng Việt Nam là: đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”(tr.198). Người nói: “Miền Bắc nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội” (tr. 13) để làm “cơ sở vững chắc của cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà” (tr. 198).

Trong công cuộc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Người xác định mục đích xây dựng “chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc” (tr.97), đồng thời cũng cho thấy: “Biến đổi một xã hội cũ thành một xã hội mới, không phải là một chuyện dễ. Nhưng đó là những khó khǎn trong sự trưởng thành. Toàn Đảng, toàn dân đồng sức đồng lòng thì khó khǎn gì cũng nhất định khắc phục được” (tr.545).

Xuất phát từ “đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (tr.13), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có vǎn hoá và khoa học tiên tiến.

Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài” (tr. 13).

Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp được thể hiện qua các bài nói của Người tại Hội nghị lần thứ nǎm và lần thứ bảy (1962) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) và một số bài nói, bài viết khác được công bố trên báo chí ở giai đoạn này.

Về vai trò của nông nghiệp trong nền kinh nước ta, Người nói: “nông nghiệp chiếm bộ phận lớn trong kinh tế, mà sản xuất nhỏ lại chiếm bộ phận lớn trong nông nghiệp…, nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là một nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là thị trường tiêu thụ to nhất hiện nay” (tr.14). Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Phải cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác…, để tạo điều kiện cho việc công nghiệp hóa nước nhà” (tr. 14), Người khẳng định: phải có một nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới có thể phát triển mạnh” (tr.14 – 15).

Khẳng định vị trí to lớn của nông nghiệp trong giai đoạn xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ vị trí quyết định của công nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế ở nước ta: “Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mớiphát triển. Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khoẻ và đi đều thì tiến bướcsẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích. Thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân” (tr. 545).

Đối với mục tiêu phát triển nông nghiệp, Người chỉ rõ: phát triển công nghiệp trước hết nhằm phục vụ nông nghiệp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng và cải thiện đời sống của nhân dân, tǎng cường tích luỹ để đẩy mạnh công nghiệp hoá. Trên tinh thần tự lực cánh sinh, đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần cố gắng cải tiến quản lý, đưa kỹ thuật mới vào công nghiệp để làm cho công nghiệp nước ta tiến kịp kỹ thuật tiên tiến của thế giới.

Đi đôi với việc phát triển công nghiệp và nông nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất chú ý tới việc xây dựng ngành thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, làm sao cho thương nghiệp nước ta thực sự trở thành một đòn bẩy kinh tế, làm tốt vai trò giao lưu kinh tế giữa công nghiệp với nông nghiệp, sản xuất với tiêu dùng, giữa địa phương với trung ương, trong nước với ngoài nước.

Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở giai đoạn này cho thấy mối quan tâm của Người đối với việc phát triển vǎn hoá, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Những bài viết về xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa; những bài nói chuyện của Người tại Đại hội vǎn nghệ toàn quốc lần thứ ba, ở Hội nhà báo Việt Nam, ở Hội nghị tổng kết phong trào thi đua dạy tốt, học tốt của ngành giáo dục,… đã thể hiện các quan điểm, tư tưởng của Người về cách mạng tư tưởng – vǎn hoá, xoá bỏ những tàn dư tư tưởng và hủ tục của xã hội cũ, về xây dựng nền vǎn hoá mới với nội dung xã hội chủ nghĩa mang đậm đà bản sắc dân tộc, về xây dựng con người mới, đạo đức mới, lối sống mới xã hội chủ nghĩa. Người nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí” (tr.159).

Cùng với việc xây dựng con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng đến vấn đề xây dựng, củng cố Đảng và các tổ chức quần chúng. Người luôn luôn nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, vai trò của công đoàn, thanh niên, phụ nữ, của mặt trận dân tộc thống nhất… trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Người chỉ rõ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, vì vậy cần ra sức phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của người lao động, phải kiên quyết chống lại bệnh quan liêu, mệnh lệnh, và chỉ thị cho các cơ quan nhà nước cần phải cải tiến công tác, giữ gìn kỷ luật, thực hành dân chủ… để góp phần củng cố Nhà nước.

Một nội dung quan trọng của Tập 10 là những bài nói, bài viết của Người về đường lối, phương hướng, bước đi của cách mạng miền Nam, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, phá thế kìm kẹp của địch, mở ra phong trào cách mạng rộng lớn, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam. Tập 10 cũng giới thiệu với bạn đọc những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm tiến tới hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân ta chống xâm lược.

Cũng trong Tập 10 này bạn đọc có thể thấy những tác phẩm thể hiện tư tưởng và hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm góp phần vào việc tǎng cường đoàn kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, lên án chính sách xâm lược và gây chiến của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, ủng hộ các phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới.

Trong nǎm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một loạt bài quan trọng, có giá trị tổng kết về lịch sử đấu tranh anh dũng, đầy hy sinh của Đảng sau 30 nǎm hoạt động và lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, chỉ ra những nhiệm vụ mới phải làm để đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đi tới những thắng lợi to lớn và vẻ vang hơn nữa. Người đặc biệt nhấn mạnh tới công tác xây dựng đảng nhằm làm cho Đảng thống nhất về ý chí và hành động, có đường lối đúng, có tư tưởng cách mạng triệt để, có tổ chức vững mạnh và đội ngũ đảng viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, giỏi chuyên môn, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, để hoàn thành vai trò của mình. Người chỉ rõ, trong việc xây dựng đảng cần phải chú ý tới xây dựng đảng ở cơ sở, nhất là các chi bộ phải nâng cao nǎng lực tổ chức thực tiễn vì chi bộ là nơi trực tiếp biến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực. Người nói: “Đảng ta phải chuyển mạnh. Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hǎng hái và gương mẫu” (tr.270). Do vậy, Người yêu cầu mọi đảng viên của Đảng phải không ngừng nâng cao về chính trị, tư tưởng, vǎn hoá, đạo đức, giữ vững vai trò tiên phong gương mẫu, đảng viên phải thật sự là con người mới xã hội chủ nghĩa, mới hoàn thành được các nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới mẻ và khó khǎn. Trong công tác xây dựng đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các thế hệ trong đội ngũ cán bộ của Đảng, nhằm bảo đảm tính kế thừa, tính liên tục trong sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Đảng luôn luôn đổi mới và phát triển, ngang tầm với nhiệm vụ lịch sử trong giai đoạn cách mạng mới.

*

*     *

Tập 10, Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần này, ngoài các bài đã công bố trong lần xuất bản trước, đã được bổ sung thêm 62 bài mới, tất cả đều đã được xác minh, đối chiếu, hiệu đính đầy đủ. Có thể còn thiếu những tài liệu của Người trong thời kỳ này do chúng tôi chưa sưu tầm được hoặc chưa có bản gốc để xác minh, đối chiếu… nên chưa có điều kiện đưa vào. Chúng tôi mong nhận được sự giúp đỡ của bạn đọc trong và ngoài nước để việc xuất bản các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng được đầy đủ hơn.

VIỆN NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

cpv.org.vn


Bạn muốn download trọn bộ Hồ Chí Minh toàn tập
hãy nhấn vào đây Down load

Thơ mừng nǎm 1961 (1-1-1961)

Mừng nǎm mới, mừng xuân mới,
Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh,
Kế hoạch 5 nǎm thêm phấn khởi.
Chúc miền Bắc hǎng hái thi đua;
Chúc miền Nam đoàn kết tiến tới!
Chúc hoà bình thống nhất thành công!
Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi!

HỒ CHÍ MINH

—————-

Báo Nhân dân, số 2479, ngày 1-1-1961.
cpv.org.vn

Một lòng một dạ phục vụ nhân dân (18-1-1961)

(Trả lời các em Lan, Hoa… nhân viên cửa hàng
quốc doanh)

Chế độ ta là chế độ dân chủ.Tức là nhân dân làm chủ. Tức là cán bộ và nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới đều là đầy tớ của nhân dân, đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân.Các cô cũng vậy.

Là nhân viên cửa hàng quốc doanh (hàng ǎn uống, hàng bách hoá, v.v.), hàng ngày hàng giờ các cô mua bán, trao đổi, tiếp xúc với nhân dân để phục vụ nhân dân. Đối với khách hàng, các cô phải có thái độ khiêm tốn, lễ phép thật thà; phải có tinh thần trách nhiệm đối với của công và đối với lợi ích của nhân dân.

Nói chung thì số đông nhân viên cửa hàng quốc doanh đều cố gắng làm đúng như vậy.

Nhưng vẫn còn một số ít nhân viên có thái độ giả dối, hách dịch, không tốt.

Chúng ta cần phải vạch ra để giúp họ sửa chữa và tiến bộ. Vài ví dụ:

Cửa hàng lương thực xã Phương Liệt (Hà Nội) bán gạo cho nhân dân mỗi yến thường thiếu 3, 4 lạng, có khi thiếu đến một cân! Gạo tốt thì cất riêng để bán cho người quen. Bà con của nhân viên cửa hàng đến mua thì toàn vào cửa sau, không phải xếp hàng.

– Đồng chí H. mua một cân đậu xanh ở cửa hàng mậu dịch Vinh, khi cân lại chỉ được hơn 8 lạng. Đồng chí H. hỏi, thì nhân viên cửa hàng bảo: “Từ trước đến nay vẫn dùng cân này, mà chưa hề có ai kêu sai”(???). Có một nhân viên lại nói: “không bằng lòng mua thì trả lại…”(!!!).

Các em thử nghĩ xem, phải chǎng đó là tham ô, gian lận? Phải chǎng đó là thái độ phục vụ nhân dân?

Đảng và Chính phủ dạy chúng ta phải kính trọng nhân dân, phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Không thể tha thứ những thái độ khinh miệt nhân dân, những việc làm dối trá với nhân dân như vậy.

Các đồng chí cán bộ phụ trách các cửa hàng quốc doanh cần phải nghiêm khắc kiểm thảo và quyết tâm sửa chữa những khuyết điểm đó. Mọi người phải thật sự một lòng một dạ phục vụ nhân dân.

T.L.

————————-

Báo Nhân dân, số 2496, ngày 18-1-1961.
cpv.org.vn

Quế Lâm phong cảnh (5-1961)

QUẾ LÂM PHONG CẢNH (28)

Quế Lâm phong cảnh giáp thiên hạ,
Như thi trung họa họa trung thi.
Sơn trung tiều phu xướng,
Giang thượng khách thuyền quy.
Kỳ !
Nhất cửu lục nhất niên ngũ nguyệt

Dịch nghĩa

PHONG CẢNH QUẾ LÂM

Phong cảnh Quế Lâm đẹp bậc nhất trong thiên hạ,
Khác nào tranh vẽ trong thơ, thơ trong tranh vẽ.
Trên núi, những người hái củi ca hát.
Dưới sông, thuyền khách trở về…
Thật kỳ lạ.

5-1961

Dịch thơ

PHONG CẢNH QUẾ LÂM

Quế Lâm phong cảnh tuyệt vời,
Thơ đan trong họa, họa cài trong thơ.
Tiều phu trên núi hát ca,
Dưới sông thuyền khách vào ra:
Diệu kỳ!

——————–

Sách Hồ Chí Minh: Tuyển tập vǎn học, Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1995, t.3, tr.201-202.

(28) Quế Lâm phong cảnh: Là bài thơ vịnh cảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết nǎm 1961. Ngày 16-5 nǎm đó Người đi máy bay từ Hà Nội đến Quế Lâm. Quế Lâm là nơi sơn kỳ thuỷ tú, phong cảnh hữu tình nổi tiếng ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), từng có câu cổ ngữ “Quế Lâm phong cảnh giáp thiên hạ” nghĩa là phong cảnh Quế Lâm đứng bậc nhất thế giới. Đây là nơi Người từng hoạt động trong thời kỳ kháng Nhật. Trên máy bay, Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại với đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ cùng đi, về tình hình sinh hoạt của Người hồi 1940 ở Biện sự xứ của Bát lộ quân ở Quế Lâm. Người xúc động nói: “Thế mà đã hơn hai mươi nǎm rồi. Quế Lâm hẳn đã thay đổi tươi đẹp hơn trước nhiều!”

Người đề bài thơ Quế Lâm này bằng bút lông trên giấy Tuyên chỉ, ký tên và ghi ngày tháng (16-5-1961) rồi đưa tặng Dung Hồ phạn điếm (Khách sạn Hồ cây đa) là nơi Người nghỉ lại.

Đầu đề là của chúng tôi, lấy bốn chữ đầu. Tr. 360.

cpv.org.vn

Vịnh Thái Hồ (5-1961)

VỊNH THÁI HỒ(29)

Tây Hồ (30) bất tỷ Thái Hồ mỹ,
Thái Hồ cánh tỷ Tây Hồ khoan.
Ngư chu lai khứ triêu dương noãn,
Tang đạo mãn điền, hoa mãn san.

Dịch nghĩa

VỊNH THÁI HỒ

Tây Hồ không đẹp bằng Thái Hồ,
Thái Hồ lại rộng hơn Tây Hồ.
Thuyền đánh cá đi lại trong nắng sớm ấm áp,
Ruộng thì đầy dâu, lúa, núi thì đầy hoa.

Dịch thơ

VỊNH THÁI HỒ

Tây Hồ khôn sánh Thái Hồ đẹp,
Thái Hồ rộng vượt Tây Hồ xa.
Thuyền cá đi về trong nắng sớm,
Ruộng đầy dâu lúa, núi đầy hoa.

—————————-

Sách Hồ Chí Minh: Tuyển tập vǎn học, Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 203-204.

(29) Thái Hồ: Hồ nước lớn thuộc địa phận hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang của Trung Quốc, còn có các tên gọi khác là Chấn Trạch, Cụ Khu, Lạp Trạch, Ngũ Hồ, là ranh giới hai nước Ngô, Việt thời Xuân Thu. Diện tích mặt hồ rất rộng, có thuyết nói đến ba vạn sáu ngàn mẫu. Trong lòng hồ có hơn mười hòn đảo lớn nhỏ, nổi tiếng nhất là ba hòn: Động Đình Đông, Động Đình Tây và Mã Tích (dấu chân ngựa). Phong cảnh tươi đẹp, sơn kỳ thuỷ tú, tục gọi là “động thiên phúc địa”. Nước hồ dâng lên về phía đông thành các con sông Lưu Hà, Hoàng Phố, Ngô Tùng đổ vào Trường Giang. Quanh hồ đất đai màu mỡ, là khu vực giàu có của hai tỉnh Chiết Giang, Giang Tô. Ngày 17-5-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi thuyền du ngoạn cảnh hồ và viết bài thơ này. Tr. 362.

(30) Tây Hồ: Trung Quốc có nhiều hồ mang tên này, như Tây Hồ ở huyện Mân Hầu tỉnh Phúc Kiến, Tây Hồ ở huyện Thiên Môn tỉnh Hồ Bắc, Tây Hồ ở huyện Huệ Dương tỉnh Quảng Đông, Tây Hồ ở phía tây nam thành phố Côn Minh tỉnh Vân Nam, Tây Hồ tức Côn Minh Hồ ở phía tây Bắc Kinh… đều là những thắng cảnh. Tây Hồ nhắc đến hai lần trong bài này là thắng cảnh nổi tiếng nhất trong số đó, ở phía tây thành phố Hàng Châu tỉnh Chiết Giang. Hồ này còn có nhiều tên khác: hồ Tiền Đường, hồ Minh Thánh, hồ Kim Ngưu. Nhà thơ lớn Tô Thức có câu thơ “Dục bả Tây Hồ tỷ Tây Tử” (Muốn ví Tây Hồ với nàng Tây Thi), nên cũng có tên gọi là Tây Tử Hồ. Ba phía có núi bao bọc, có hai đỉnh cao đối xứng sừng sững ở hai phương Bắc, Nam. Trong hồ có hai con đê, đê Tô và đê Bạch, chia mặt nước hồ thành hồ Trong, hồ Ngoài và hồ Sau. Bốn mùa hoa thắm cỏ tươi, nổi tiếng về mười cảnh đẹp trong hồ (Tây Hồ thập cảnh). Tr.362.

cpv.org.vn

Vô đề (3-1968)

Tam niên bất ngật tửu xuy yên,
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên.
Hỷ kiến Nam phương liên đại thắng,
Nhất niên tứ quý đổ xuân thiên.

Dịch nghĩa:
KHÔNG ĐỀ

Đã ba nǎm rồi không uống rượu, không hút thuốc lá,
Ở đời không ốm đau chính là tiên thật sự!
Mừng thấy miền Nam thắng lớn liên tiếp,
Một nǎm cả bốn mùa đều là Xuân.

Dịch thơ
KHÔNG ĐỀ

Thuốc kiêng, rượu cũ đã ba nǎm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một nǎm là cả bốn mùa Xuân (1)

————————

Viết bằng chữ Hán, tháng 3-1968.
Sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh,
Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1990, tr.79-80.

1) Khương Hữu Dụng dịch.
cpv.org.vn

Mậu Thân Xuân tiết (14-4-1968)

Tứ nguyệt bách hoa khai mãn viên
Hồng hồng tử tử hỗ tranh nghiên.
Bạch điểu tróc ngư hồ lý khứ,
Hoàng oanh phi thượng thiên.
Thiên thượng nhàn vân lai hựu khứ,
Mang bả Nam phương tiệp báo truyền.

Dịch nghĩa
Tết Mậu Thân

Tiết tháng tư trǎm loài hoa nở đầy vườn,
Đỏ đỏ, tía tía, hoa đua nhau phô vẻ tươi.
Có con chim trắng sà xuống hồ để bắt cá,
Chim hoàng oanh thì lại bay thẳng lên trời.
Trên trời, những áng mây thong thả bay đến
rồi bay đi,
Lòng rộn lên tin thắng trận ở miền Nam
báo về.

Dịch thơ
Tết Mậu Thân

Tháng tư hoa nở một vườn đầy,
Tía tía hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui1)
Viết bằng chữ Hán, ngày 14-4-1968.

—————————

Sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh,
Nxb. Vǎn học, Hà Nội, 1990, tr.83-84.

1) Phan Văn Cốc dịch
cpv.org.vn

Hãy nhớ đến những người bị tù đày vì chính trị của chúng ta

Trường hợp Lê Ngọc Liên

Bị đày sang Tân Calêđôni1) năm 1913, được tha năm 1924, người đồng bang của chúng ta lại bị khước từ việc trả về quê hương.

Ngày 5-9-1913, sau những quả bom ở Hà Nội và Thái Bình, toà đề hình Hà Nội, trong một phiên toà xử kín, căn cứ vào những báo cáo của cảnh sát, quyết định kết án tử hình vắng mặt Phan Bội Châu và hoàng thân Cường Để, đưa lên máy chém khoảng chục người vô tội và đưa đi đày khoảng ba chục người khác.

Lê Ngọc Liên bị nỗi bất hạnh và được vinh dự liệt vào số sau này với lời nhận xét khó hiểu như sau: “Âm mưu chống an ninh quốc gia và đồng loã tụ tập với bọn bất lương”2).

Chúng ta thử tìm cách giải đáp trò đố chữ này.

Năm 1913, Lê Ngọc Liên với tư cách một người thợ đã “hợp tác” với Khánh Ký, một người anh em của mình. Ông Khánh Ký hiện nay là một trong những nhà nhiếp ảnh lớn nhất ở Sài Gòn và ông ta chưa bao giờ, theo tôi biết, bị tai tiếng hoặc tố cáo là bất lương. Như thế, không phải vì là một người đã hợp tác với Khánh Ký mà Lê Ngọc Liên bị kết án phát vãng.

Vậy thì vì lý do gì? – Như thế này: thời bấy giờ có một hội lớn theo chủ nghĩa dân tộc gọi là “Đông kinh nghĩa thục”. Được thành lập do những nho sĩ có danh vọng nhất ở Bắc Kỳ, trong đó có ông Cử Can, thân sinh Lương Ngọc Quyến, người anh hùng của cuộc khởi nghĩa lớn Thái Nguyên, các ông Phan Tiên Phong và Phan Trọng Kiên, anh em của Phan Văn Trường, trạng sư ở toà thượng thẩm Pari, hội “Đông kinh nghĩa thục” dự định truyền bá học vấn trong quảng đại quần chúng nhân dân của chúng ta. Hội mở tại Hà Nội những lớp học công khai và không lấy tiền. Lê Ngọc Liên dự những lớp ấy, kết thân với vài người bạn và mời họ về nhà uống trà, chỉ có thế.

Bỗng những vụ đánh bom xảy ra. Một sự đàn áp khốc liệt đã ập xuống những hội viên của “Đông kinh nghĩa thục”. Nhà cầm quyền bắt giam bừa bãi giáo sư, học sinh và bạn bè của họ. Khi cảnh sát xông vào nhà Lê Ngọc Liên, họ thấy người đồng hương của chúng ta đang ngủ trưa với một trong những người bạn cùng lớp. Thế là đủ lắm rồi: đấy là những người âm mưu chống an ninh quốc gia, đấy những kẻ đồng loã tụ tập với bọn bất lương!

Lê Ngọc Liên đã bị đày sang Tân Calêđôni vào tháng 9-1913 như thế đấy.

Ngày 29-12-1924, anh chính thức biết tin mình được tha. Đến thời điểm này, anh đã trải qua 11 năm bị đày ải. Quả thật, cũng đã đến lúc, vì những gì anh sai phạm…, người ta phải để cho anh trở về xứ sở với gia đình của mình.

Các bạn tin như thế à? – Các bạn đã nhầm. Ngay lúc đó, Lê Ngọc Liên được bọn quản lao báo cho biết là họ hoàn toàn không có trách nhiệm gì về việc hồi hương của anh và anh phải tự mình xoay sở mọi phí tổn từ Numêa1) đến Hải Phòng.

Anh ta, một người bị đày ải, thế họ muốn anh ta trả bằng cái gì mới được chứ? Thật là ngu xuẩn và đê tiện. Nhưng, chính quyền thực dân là như thế đấy.

Ngày 20-1-1926, Lê Ngọc Liên gửi đơn lên thống đốc Tân Calêđôni. Không được trả lời. Ngày 25-2-1926, gửi đơn lên Bộ trưởng thuộc địa. Không được trả lời. Lê Ngọc Liên nhờ Hội những người lao động Đông Dương ở Mácxây can thiệp, hội này nhờ phân hội Nhân quyền Mácxây và phân hội Mácxây lại nhờ Uỷ ban trung ương của Hội ở Pari (tháng 6-1926). Không được trả lời.

Trước sự lẩn tránh chung ấy, ở phía hữu và phía tả, người đồng hương của chúng ta sẽ buộc phải, theo người ta nói với tôi, nhờ đến Hội chữ thập đỏ quốc tế và cả Đảng Cộng sản. Như thế người ta sẽ có thêm một bằng chứng rằng chính là Chính phủ đẩy những người An Nam đến với chủ nghĩa bônsêvích mà về chủ nghĩa này, Chính phủ lại không ngừng vung vẩy một con ngoáo ộp, cố nhiên là để lừa dối hòng che lấp những việc làm bẩn thỉu của mình. Nhưng ngoại trừ Chính phủ và bọn thống đốc, phải chăng người ta có thể tin chắc rằng những tổ chức gọi là thuộc phái tả, cụ thể ở đây là Hội nhân quyền, đã hơi quá hững hờ khi phải bảo vệ quyền của những quân khốn khổ người da màu?

NGUYỄN ÁI QUỐC

——————————–

Báo L’Ame Annamite,
ngày 1-2-1927.

cpv.org.vn