Thư viện

Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động – Được lệnh trên cho đi lại ngoài buồng giam 419

Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động

Cửu nhàn lưỡng cước nhuyễn như miên,

Kim thí hành hành lũ dục điên;

Phiến khắc dĩ vǎn Ban trưởng hám:

“Phản lai, bất chuẩn tái trì diên”.

Được lệnh trên cho đi lại ngoài buồng giam

Nhàn rỗi lâu ngày, hai chân mềm như bông,

Nay mới đi thử vài bước đã lảo đảo mấy lần chực ngã;

Chốc lát đã nghe Ban trưởng quát:

“Quay lại! Không được rềnh ràng nữa!”.

Nghỉ lâu, chân tựa bông mềm nhũn,

Đi thử, hôm nay muốn ngã quay;

Chốc lát đã nghe cai ngục quát:

“Không rềnh ràng nữa, phải vào ngay!”.

Đỗ VǍN Hỷ dịch
cpv.org.vn

Thu dạ – Đêm thu

THU DẠ

Môn tiền vệ sĩ chấp thương lập,

Thiên thượng tàn vân bạng nguyệt phi;

Mộc sắt tung hoành như thản khắc ,

Mân trùng tụ tán tự phi ky (cơ);

Tâm hoài cố quốc thiên đường lộ ,

Mộng nhiễu tân sầu, vạn lũ ti;

Vô tội nhi tù dĩ nhất tải,

Lão phu hoà lệ tả tù thi.

ĐÊM THU

Trước cửa lính gác bồng súng đứng,

Trên trời đám mây tàn bay bên vầng trǎng;

Lũ rệp bò ngổn ngang như xe tǎng,

Đàn muỗi lúc tụ lúc tán như máy bay;

Lòng nhớ cố quốc cách xa nghìn trùng,

Giấc mộng vấn vương mối sầu mới như vạn mối tơ;

Vô tội mà ở tù đã một nǎm nay,

Già này hoà nước mắt viết thơ tù.

Trước cửa lính canh bồng súng đứng,

Trên trời trǎng lướt giữa làn mây;

Rệp bò ngang dọc như xe cóc,

Muỗi lượn hung hǎng tựa máy bay;

Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ,

Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay;

ở tù nǎm trọn thân vô tội,

Hoà lệ thành thơ tả nỗi này.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Khán “Thiên gia thi” hữu cảm – Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”

Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ,

Sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong;

Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,

Thi gia dã yếu hội xung phong.

Cảm tưởng đọc “THIÊN GIA THI”)

Thơ xưa nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên,

Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trǎng, gió;

Trong thơ thời nay nên có thép,

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp,

Mây, gió, trǎng, hoa, tuyết, núi, sông;

Nay ở trong thơ nên có thép,

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tức cảnh – Tức cảnh

Thụ sao xảo hoạ Trương Phi tượng,

Xích nhật trường minh Quan Vũ tâm;

Tổ quốc chung niên vô tín tức,

Cố hương mỗi nhật vọng hồi âm.

Tức Cảnh

Ngọn cây khéo vẽ hình Trương Phi ,

Mặt trời hồng sáng mãi lòng Quan Vũ 2 ;

Tổ quốc suốt nǎm không tin tức,

Mong thư trả lời của quê nhà hàng ngày.

Cành lá khéo in hình Dực Đức,

Vầng hồng sáng mãi dạ Quan Công;

Nǎm tròn cố quốc tǎm hơi vắng,

Tin tức bên nhà bữa bữa trông.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Kết luận – Kết luận

Hạnh ngộ anh minh Hầu Chủ nhiệm,

Nhi kim hựu thị tự do nhân;

Ngục trung nhật ký tòng kim chỉ,

Thâm tạ Hầu công tái tạo ân.

Hoàn
29-8-1942
10-9-1943

Kết luận

May mắn gặp được Chủ nhiệm họ Hầu sáng suốt,

Mà nay ta lại là người tự do;

Nhật ký trong tù chấm dứt từ đây,

Cảm tạ khôn xiết công ơn tái tạo của ông Hầu.

Hết
29-8-1942
10-9-1943

Sáng suốt, nhờ ơn Hầu chủ nhiệm,

Tự do trở lại với mình rồi;

Ngục trung nhật ký từ đây dứt,

Tái tạo ơn sâu, cảm tạ người.

Hết
29-8-1942
10-9-1943

Khương Hữu Dụng dịch
cpv.org.vn

Mục đọc sách – Những hiểu biết cơ bản về quân sự.Bài giảng của Uỷ viên trưởng

1- Tổ chức: Biên chế và đội hình.

Quân đoàn, sư đoàn đến trung đội, tiểu đội là hình thể của tổ chức.

Mệnh lệnh, điều lệnh, các nhiệm vụ là nhiệm vụ của tổ chức.

Tổ chức cần phải chặt chẽ, thống nhất.

2- Kỷ luật cần nghiêm minh. Tổ chức là cơ thể của quân sự.

Kỷ luật là sinh mệnh của quân sự.

3- Kế hoạch cần rất tỉ mỉ, đầy đủ. Điều kiện: 1- Đối tượng; 2- Hoàn cảnh, địa hình, giao thông, vệ sinh, quân đội bạn, lực lượng ta, lực lượng kẻ thù; 3- Nhiệm vụ và mục đích của ta; 4- Công việc chuẩn bị: lương thực, súng đạn, giao thông, vệ sinh.

4- Mệnh lệnh cần đơn giản, rõ ràng, thiết thực, chu đáo. Chú ý thời gian, địa điểm, tình hình địch, hoàn cảnh, nhiệm vụ và mục đích bản thân công việc chuẩn bị.

5- Động tác như đứng nghiêm, v.v., cần nhanh chóng, xác thực. Đứng nghiêm: thân, tâm, khí, thế đều ổn định.

6- Hành động cần phải đều rǎm rắp, cùng nhất trí, nhanh chóng xác thực. Bí quyết nhanh chóng: đơn giản, tiết kiệm không gian, thời gian và tài lực, vật lực.

7- Sinh hoạt cần chỉnh tề, sạch sẽ, đơn giản, chất phác. Thời chiến bình tĩnh như thời bình. Thời bình khẩn trương, chịu đựng khắc khổ như thời chiến.

8- Quản lý người, việc, địa điểm, vật dụng, thời gian.

9- Tính chất trong sạch, đáng kính; cơ động, bí mật, diện: lường đến những việc có thể xảy ra, tích cực.

10- Hiệu quả và mục đích 1 : thân ái đoàn kết, muôn người một lòng.

11- Điều kiện thành công 2 : cẩn thận, sẵn sàng, kiểm thảo.

HUẤN LUYỆN

Tính chất huấn luyện dựa trên cǎn bản phải xem xét và giao trách nhiệm cho những người có tài nǎng để huấn luyện. Nghĩa là nói rồi thì phải đi làm, đã nói thì phải làm được. Xem xét tình hình, phẩm cách, kinh nghiệm, ưu điểm và khuyết điểm. Tổ chức nhân tài. Dạy làm người, làm việc. Thân ái đoàn kết. Không cẩu thả, không dối trá. Cán bộ. Nghiên cứu, phê bình, thảo luận, thi đua, hỗ trợ. Tự giác, tự động. Sáng tạo, phụ trách. Đầu óc, miệng, mắt, tay, chân đều đạt. Giữ kỷ luật, tiếc thời gian.

Phân biệt sự vật, có cái nặng, cái nhẹ, cái gấp, cái không gấp.

Trao đổi kinh nghiệm. Giao công tác thực tế. Giải đáp thắc mắc.

Phân công việc không tiến thì lùi. Một chỗ buông lơi, trǎm chỗ lười biếng.

Tinh thần càng dùng càng nhạy bén, trí tuệ càng dùng càng minh mẫn.

Cái cần lúc đầu là dũng khí.

Mới, không ngừng tiến thủ, cần có bản lĩnh độc lập. Tự mình làm lấy, tự giác, tự động, tự chủ. Lao động, sáng tạo, quyết đoán. Mỗi ngày một mới. Cần theo dõi, kiểm tra, khảo sát, chỉ đạo, hội báo.

Quyết tâm trở thành người tốt là phải không sợ khổ, không sợ khó, nhất định làm đến cùng những điều chúng ta thấy đáng làm, cho dù chưa chắc thành công vẫn ra sức làm dù gặp phải gian nan nguy hiểm gì, cùng cực càng phấn đấu, không lùi bước, phải làm thực sự, làm nhanh, làm một cách kiên quyết.

Liên hợp với các quốc gia dân tộc đồng tình với ta để cùng đấu tranh cho hoà bình và chính nghĩa của thế giới…

Từ nay về sau, chúng ta hy vọng: tất cả các dân tộc nhỏ yếu trên thế giới nên lấy nhiệt tình đòi độc lập tự do của dân tộc mình giúp đỡ cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc. Các quốc gia, dân tộc bị chủ nghĩa bạo lực, bị đế quốc Nhật thôn tính… từ nay về sau đều phải liên hợp lại (tháng 6-1927).

Thái độ: lễ, quy, củ. Kỷ luật: nghiêm, chính. Hành vi: nghĩa, chính, đương. Hy sinh: khảng khái. Phân biệt: liêm, thanh, sở. Tiết kiệm: thực, tại. Giác ngộ: sĩ, thiết, thực. Phấn đấu: dũng, liệt.

Một vật dùng như hai vật. Một người làm việc của hai người. Một ngày làm công của hai ngày. Nói ít, bắt đầu bằng hành động. Tiến bộ.

Qua ba nǎm kháng chiến, mất Bắc Bình, Thiên Tân: 4-8-1937; Trương Gia Khẩu: 25-8-1937; Thạch Gia Trang: 10-10-1937; Thái Nguyên: 9-11-1937; Tuy Viễn: 13-11-1937; Thượng Hải: 13-8 đến 9-11-1937; Nam Kinh: 13-11-1937; Tế Nam: 27-12-1937; Từ Châu: 19-5-1938; Hàng Châu: 25-11-1938; Vũ Hán: 12-6 đến 25-10-1938; Quảng Châu: 21-10-1938; Hải Nam: 10-2-1939; Nam Ninh: 24-2-1939; Nam Xương: 27-2-1939.

Sư đoàn thứ tám Trung Điều Sơn tấn công từ tháng 5 đến tháng 7-1939. Địch khoảng 35 sư đoàn. Hà Bắc, Cáp Nhĩ Tân, Tuy Viễn, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Giang Tô, Triết Giang, An Huy, Giang Tây, Hà Bắc, Quảng Đông, Hồ Nam, Phúc Kiến, Quảng Tây, cộng tất cả 16 thành phố, 1.170 huyện, địch chiếm 15 thành phố, 533 huyện. Đến hết tháng 3-1940, có tất cả 179.000 quân nguỵ và quân chính quy. Lấy lại Nam Ninh ngày 30-10-1940.

Địch vào Việt Nam tháng 9-1940.

ý nghĩa của vǎn hoá: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, vǎn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ǎn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là vǎn hoá. Vǎn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.

Nǎm điểm lớn xây dựng nền vǎn hoá dân tộc.

1- Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.

2- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.

3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội.

4- Xây dựng chính trị: dân quyền.

5- Xây dựng kinh tế.

Tài liệu chữ Hán,
viết trong bản thảo
Nhật ký trong tù.
cpv.org.vn

Tân xuất ngục học đǎng sơn – Mới ra tù, tập leo núi (1)

Ân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,
Giang tâm như kính tịnh vô trần;
Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,
Dao vọng Nam thiên ức cố nhân.
Mới ra tù, tập leo núi
Mây ôm dẫy núi, núi ôm mây,
Lòng sông như gương, không chút bụi;
Một mình bồi hồi dạo bước trên đỉnh núi Tây Phong
Trông về phía trời Nam xa xǎm nhớ bạn cũ.
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,
Lòng sông gương sáng, bụi không mờ;
Bồi hồi dạo bước Tây Phong lĩnh,
Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Mây ôm núi núi ôm mây,
Lòng sông sạch chẳng mảy may bụi hồng;
Bùi ngùi dạo đỉnh Tây Phong,
Trông về cố quốc chạnh lòng nhớ ai.

T.LAN dịch (1)

cpv.org.vn

————————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Tặng cụ Đinh Chương Dương

Quan san muôn dặm gặp nhau đây,
Mục đích chung là đuổi Nhật, Tây.
Dân bị hai tròng vào một cổ,
Ta liều trǎm đắng với ngàn cay.
Già dù yếu sức mang mang nhẹ,
Trẻ cố ra công gánh gánh đầy.
Non nước của ta ta lấy lại,
Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây.

Liễu Châu, nǎm 1943

In trong sách: Hồ Chí Minh, Thơ, Nxb. Vǎn học,
Hà Nội, 1970, tr.46. Theo bài in trong sách Hồ Chí Minh, Thơ
cpv.org.vn

Libǎng 12-1943 (1)

Libǎng là gì? Chắc là nhiều độc giả chưa từng nghe nói đến tên xứ này. ấy là một nước nhỏ ở Cận Đông, gần đây đã làm cho thế giới phải chú ý.

Libǎng ở cạnh xứ Xyri, đất rộng 38 vạn dặm vuông (dặm Anh), dân số 70 vạn người, kinh đô là Bâyrút, ngày trước thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, đến nǎm 1861 thì thoát ly nước Thổ mà độc lập, song lại bị đế quốc Pháp bao biện.

Sau Thế giới đại chiến lần thứ nhất, Libǎng đòi hoàn toàn độc lập, nhưng không được. Tháng 7-1922, Hội Quốc liên uỷ nhiệm xứ ấy cho nước Pháp. Trong lời uỷ nhiệm có định rằng: “trong hạn 3 nǎm, Pháp phải lập nên Hiến pháp cho Libǎng và Xyri, và phải làm cho hai nước ấy thành nước độc lập”.

Hiến pháp thì có Hiến pháp Libǎng được Pháp quẳng cho tấm áo Cộng hoà có Tổng thống, có Nội các, có Nghị viện.

Nhưng Hiến pháp lại do người Pháp định ra và chung quy chỉ lợi cho nước Pháp, dân tộc Libǎng chỉ có tiếng mà không có miếng. Bởi vậy, dân Libǎng lấy làm cǎm giận, nên đến nǎm 1925 nổi cách mệnh chống với Pháp. Đế quốc Pháp đối phó với cách mệnh Libǎng cũng như chúng đã từng đối phó với cách mệnh Việt Nam và cách mệnh ở các thuộc địa khác của chúng. Nghĩa là chúng dùng uy lực tàn sát mà đàn áp và đốt phá mấy thành thị để thị uy. Trong cuộc tranh đấu ấy, dưới sự tàn bạo của giặc Pháp, 6000 cách mệnh chiến sĩ Libǎng chìm thây trong bể máu. Song cuộc đại khủng bố của giặc Pháp chẳng những không làm cho dân Libǎng kinh sợ, mà trái lại bể máu đào ấy chẳng bao lâu lại nổi lên một trận sóng to gió lớn khác khiến cho đế quốc Pháp phải hoảng sợ, ấy là: nǎm 1931, dân Lêbanôn lại vùng dậy gây thành phong trào bãi khoá, bãi thị, bãi công, chống thuế, v.v.. Công cuộc vận động tiến hành tràn lan khắp nơi.

Nǎm 1936, công cuộc cách mệnh đại vận động lại dấy nổi làm cho đế quốc Pháp phải nhượng bộ và theo lời hứa của Pháp: sau 3 nǎm sẽ để cho Libǎng được độc lập hẳn. Nhưng vì cuộc Thế giới đại chiến lần thứ hai bùng nổ, nên cuộc độc lập của Libǎng chưa được thực hiện. Cho tới nǎm 1940, Pháp bị mất nước. Cách đó ít lâu, Anh mang quân đánh Xyri, Pháp bị thua. Nhưng Anh lại giao Xyri và Libǎng cho bọn Đờ Gôn giữ.

Nǎm 1941, Anh Pháp dân tộc giải phóng uỷ viên hội (bọn Đờ Gôn) lại hứa cho Libǎng độc lập. Nhưng trong thời kỳ chiến tranh, bọn Đờ Gôn vẫn được quyền đại lý Libǎng.

Đầu tháng 11-1943, nghị viện Lêbanôn sửa chữa lại Hiến pháp. Uỷ viên của phái Đờ Gôn ở Libǎng bảo rằng Hiến pháp mới không lợi cho đế quốc Pháp, nên bắt giam Tổng thống, Tổng lý và 49 nghị viên Libǎng. Dân chúng tiếp tin ấy, rất mực công phẫn, lập tức nổi lên can thiệp. Người Pháp phái cảnh sát ra dẹp, nhưng cảnh sát cũng đồng tình với dân chúng cự tuyệt không chịu tuân theo mệnh lệnh, nên người Pháp lại phái lính Xênêgan (lính châu Phi) đàn áp. Việc ấy phát sinh từ ngày 10-11-1943, đến nay cũng chưa giải quyết xong. Xem việc ấy thì chúng ta đủ biết nhận thấy:

1) Bất kỳ bọn Pêtanh hay bọn Đờ Gôn cũng vẫn mang tâm lang sói, khư khư trong cái khuôn khổ đế quốc chủ nghĩa, đều là kẻ thù chung của những dân tộc các xứ thuộc địa hay bảo hộ mà trước đây, tại những nơi đó mà chúng đã hoành hành bao thủ đoạn tàn bạo bóc lột, dẫu rằng hiện tại chính thân thể chúng cũng đương bị quằn quại ở chỗ trong cảnh nước mất nhà tan. Và trước đây ít lâu, bọn Đờ Gôn há chẳng từng phải đem những câu “Dân tộc giải phóng” trưng bày với thế giới để cầu mong các cường quốc giúp đỡ, thế mà đối với các dân tộc khác vận động sự giải phóng độc lập thì chúng lại giở tay đàn áp đến cùng. Đấy là một lẽ mà chúng ta cần phải nhận biết.

2) Libǎng tuy là một nước rất nhỏ, dân số Việt Nam ta 20 phần thì đem so với dân số của họ thật không bằng một phần của ta. Thế mà dân tộc Libǎng, trong khoảng 18 nǎm trời (1925-1943) gây nên biết bao cuộc đấu tranh oanh liệt, sự thất bại trong nhất thời đã không làm nản lòng chiến sĩ, thì sự tiếp tục phi thường đáng kính ấy là một lẽ tất nhiên phải có, dân tộc đó anh dũng lại thêm tinh thần đoàn kết cả nước một lòng thì ai là chẳng kính phục? mà loài lang sói vì thế cũng phải trùng gan ngại bước.

Việt Nam hiện đang chuẩn bị đánh Nhật, đuổi Pháp để giành lấy sự độc lập tự do, vậy nên vô luận gần hay xa và bất cứ dân tộc nào nổi lên chống với đế quốc xâm lược đều là bạn thân của dân tộc Việt Nam ta vậy. Cho nên chúng ta rất đồng tình và mong cho công cuộc cách mạng của dân tộc Libǎng được thắng lợi. Tuy xa cách nhau mấy nghìn dặm, chúng ta đồng thanh cùng với anh, với chị em Libǎng hô to khẩu hiệu:

Đánh đổ bọn đế quốc xâm lược!
Libǎng cách mạng thành công muôn nǎm!
Các dân tộc bị áp bức được hoàn toàn giải phóng!

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số 18, tháng 12-1943.
cpv.org.vn

———————————-

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Chào xuân

Nǎm cũ lịch cũ vừa qua,
Nǎm mới lịch mới lại tới!

Sau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều. Và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian những vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khí. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Loài người lợi dụng cái luật tự nhiên của tạo hoá, chẳng những hưởng thụ cái hạnh phúc khoái lạc của mùa Xuân, và lại nhận cái không khí phồn vinh của ngày Xuân để sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả nǎm, nên tục ngữ có câu “Nhất niên chi kế thuỷ ư Xuân”.

Cũng vì thế cho nên nǎm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ, sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân. Chẳng những là kẻ giàu sang tiếp Xuân với sự hồ hởi, mà người nghèo khó thấy Xuân cũng vui mừng.

“Mồng một đốt toang ba chiếc pháo
Ba mươi kéo tuốt một con nêu”

Chỉ có ba chiếc pháo mà vẫn inh ỏi cười Xuân như ai! Xuân chẳng những là ôn hoà tươi đẹp, mà lại chí công vô tư. Đã không riêng cho một hạng người nào, cũng không riêng cho một nơi nào. Cho nên có câu ca dao:

“Xuân ơi, Xuân hỡi, hỡi Xuân,
Từ xa tới gần, Xuân khắp mọi nơi”.

*

*      *

Song luật xã hội không theo vòng tròn của luật tự nhiên. Từ xưa đến nay, nơi nào cũng có Xuân. Từ xưa đến nay cây nào cũng tươi tốt. Nhưng cách thức loài người đón rước Xuân này và đón rước mùa Xuân trước, khác nhau nhiều lắm.

Ngày nay, những tiếng pháo lốp đốp chào Xuân đã bị những tiếng đùng đùng của ngư lôi ngoài bể và đại bác trên bờ át mất. Cái sắc đỏ của hoa đào, màu điều của câu đối Xuân, tựa hồ đã nhuộm bằng giọt máu hồng của những chiến sĩ ở các sa trường khắp thế giới! Khi ai hưởng bánh chưng, rượu ngọt, củ kiệu, thịt đông, sao cho khỏi nhớ đến chiến sĩ ǎn tuyết, uống sương trên mặt trận!

Trong tự nhiên thì Xuân này không khác gì các Xuân trước. Nhưng trong xã hội thì Xuân này là một chiếc tranh Xuân, một Xuân trọng yếu, chẳng những nó giúp giùm sinh kế của loài người trong một nǎm mà nó sẽ quyết định mệnh vận của loài người trong bao nhiêu thời đại.

Vậy muốn biết Xuân này sẽ có ảnh hưởng thế nào, thì chúng ta phải kiểm thảo lại những cuộc chuyển biến trong thế giới từ Xuân trước.

*

*      *

Đến Xuân này:

Trung Nhật chiến tranh đã 6 nǎm rưỡi
Thế giới đại chiến 4 nǎm
Nga Đức chiến tranh đã 2 nǎm rưỡi
Thái Bình Dương chiến tranh 2 nǎm

Muốn biết từ Xuân này, chiến tranh sẽ thế nào thì chúng ta phải xét lại từ Xuân nǎm ngoái đến giờ, chiến tranh đã đến bước nào rồi.

Từ Xuân nǎm ngoái, quân các nước Đồng minh đã đứng vào chủ động. Quân các nước Trục – Tâm đứng về bị động. Minh quân bước qua thế công. Trục quân lui lại thế thủ. Chiến lược chớp nhoáng của Trục hoàn toàn thất bại. Chiến lược (trì cửu) của Đồng minh hoàn toàn thắng lợi.

Mặt trận Đức – Nga

Xuân trước, trong độ này, 38 vạn tinh binh của Đức đánh vào thành Xtalingrát. Nhưng kết quả bị một trận thất bại rất to. Trong lúc quân Nga giải vây thành Xtalingrát bắt được nǎm ngàn tướng lãnh và hơn 9 vạn lính Đức. Trận ấy là trận thắng lợi to nhất và đầu tiên của quân Đồng minh. Từ đó trở đi, quân Trục cứ thất bại mãi, mà quân Đồng minh, nhất là quân Nga thì lại thắng lợi luôn và lấy lại được nhiều thành trì trọng yếu như:

Tháng 2 lấy lại Gorsk, Rostof, Kharkof
Tháng 3 lấy lại Yoff, Virsma
Tháng 7 lấy lại Orel
Tháng 8 lấy lại Belarus
Tháng 9 lấy lại Staline, Chianof Smolensk
Tháng 10 lấy lại Maiopol và các thành khác
Tháng 11 lấy lại Kieb 1
Tháng 12 lấy lại biên thuỳ Balan – Nga

Trong lời diễn thuyết kỷ niệm Cách mệnh Nga, ngày 6-11 dương lịch, Đại nguyên soái Xtalin nói rằng: “Kết quả trong 7 tháng vừa qua, quân đội ta tiến được nơi thì 500 cây số, nơi thì 1500 cây số. Đã giải phóng hơn một triệu cây số vuông đất nước của ta, tức là hai phần ba đất đai tạm thời bị Đức chiếm cứ… Trong một nǎm nay, trên mặt trận Nga, quân phát xít Đức đã tổn thất hơn 4 triệu người, trong số đó, một triệu tư người chết tại mặt trận. Phát xít Đức mất trên 14.000 chiếc tàu bay, hơn 35.000 chiếc xe tǎng, hơn 40.000 khẩu đại pháo…”.

Trong lúc viết bài chào Xuân này, quân Nga đuổi quân Đức chẳng những ra khỏi đất Nga, mà lại vào sâu gần 60 cây số trong nước Ba Lan.

*

*      *

ở Địa Trung Hải, từ Xuân trước đến Xuân này, Minh quân cũng thắng lợi luôn, mà bên Trục cũng thất bại mãi.

Ngày 3-1-1943, đệ 8 quân (1) Anh khởi phản công từ Ai Cập, đệ 19 quân (2) Anh và viễn chinh quân Mỹ đổ bộ tại Marốc và Angiêri. Quân Trục phải bỏ Libi (thuộc địa của ý) mà rút cả ở Tuynidi. Đến trung tuần tháng 5 thì quân Đức và ý hoàn toàn bị đánh tan.

Trong trận đó, bao nhiêu thuộc địa của ý đều mất sạch. Quân Trục tổn thất hơn 95 vạn người. Trong số đó, 37 vạn lính ý, 15 vạn lính Đức, 17 đại tướng và 2 nguyên soái bị cầm tù.

Về khí giới thì quân Trục mất:

Tàu bay, hơn 8000 chiếc
Đại pháo 8100 khẩu
Xe tǎng 2250 cái
Tàu thuỷ 210 vạn tấn

Qua tháng 6, quân Anh, Mỹ đánh vào đảo Xixin của ý. Ngày 17-3 thì đảo ấy đầu hàng.

Trong một thời gian không đầy hai tháng, mà quân Đức và quân ý mất hơn 17 vạn người chết, bị thương và bị cầm tù.

Chiếm được cǎn cứ địa ấy rồi, qua ngày 3-9, Minh quân đổ bộ tại phía nam ý. Cách 5 ngày sau thì nước ý xin hàng. Trừ một bộ phận nhỏ bị Đức ép bắt theo nó, bộ phận lớn quân đội ý với hết thảy hải quân của ý, hơn 100 chiếc tàu binh lớn, bé đều theo Minh quân cả.

Thế là về mặt trận này, Minh quân cũng đại thắng. Mútxôlini phải chạy trốn.

*

*      *

Tại Thái Bình Dương. Tuy Minh quân không có những cuộc đại thắng lợi như các mặt trận kia, nhưng cũng giành được địa vị chủ động, bước qua thế công và khá tiến bộ.

Tại Bắc Thái Bình Dương, từ hôm 12-2-1943, Mỹ bắt đầu phản công, đến cuối tháng 5-1943 lấy lại đảo Marian.

Tại Nam Thái Bình Dương, từ tháng 7 đến tháng 10, Minh quân lấy lại được 6 nơi cǎn cứ tại bán đảo và một nơi cǎn cứ địa tại quần đảo Sokman.

Trong 2 nǎm, tại mặt trận Nam, Nhật mất 1300 tàu bay và 1500 chiếc tàu thuỷ lớn và bé.

Tại Trung Quốc, mùa Xuân trước đến mùa Xuân này, không có đại chiến tranh. Trong tháng 11, 12, tại miền Bắc tỉnh Hồ Nam, nhất là tại Thường Đức đã làm cho giặc Nhật một mẻ mất hồn.

*

*      *

Đoán trước để xét sau, xem sự chuyển biến nói trên, thì chúng ta có thể nói rằng: Xuân này sẽ là một Xuân thắng lợi cho mặt trận phản xâm lược.

Xuân là Xuân chung, vậy chúng ta phải gắng sức công tác thế nào cho Đồng minh hội chúng ta cũng có phần thắng lợi chung của Đồng minh lớn kia.

Vậy xin kết luận vài lời nôm na rằng:

Rót cốc rượu Xuân, mừng cách mạng.
Viết bài chào Tết, chúc thành công!

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số Xuân Giáp Thân.
cpv.org.vn

———————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Trả lời cho bọn De Gaulle (1)

Gần đây, Pháp quốc giải phóng ủy hội ở Alger, tuyên bố rằng sau cuộc chiến tranh này, nước Pháp sẽ sẵn lòng ban cho dân Việt Nam vài sự cải thiện.

Thưa Ngài, Tổ quốc của Ngài là đại Pháp, đã đầu hàng Hitler một cách rất vẻ vang, hơn 500 tướng và hai triệu lính của quý quốc đương bị Đức cầm tù một cách rất oanh liệt, ba phần tư non sông quý quốc đương bị người chiếm lĩnh. Bốn mươi triệu đồng bào của Ngài đương trong kiếp ngựa, trâu, nhân dân quý quốc hiện nay bánh không có ǎn, áo không đủ mặc, phải quyên áo cũ của nhân dân Việt Nam, một triệu thanh niên nam nữ nước Ngài phải qua làm cu ly bên Đức. Xin Ngài lo cứu nước và dân tộc của Ngài đã, rồi sẽ nói đến việc khác; còn Việt Nam chúng tôi, 40 nǎm nay nhờ “công đức” quý quốc đã nhiều rồi. Lần này, chúng tôi quyết dùng súng, đạn, gươm, dao để đạp đổ ơn huệ ấy và giành lại độc lập tự do cho Việt Nam. Chúng tôi xin Ngài chớ lo! Và chúc Ngài hai chữ Thất Bại!.

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số Xuân Giáp Thân.
cpv.org.vn

—————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Báo cáo của Phân hội Việt Nam thuộc Hội quốc tế chống xâm lược 3-1944

Do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (Quảng Tây – Trung Quốc) tháng 3-1944.

————————

I- NGUYÊN NHÂN TỔ CHỨC

Trong lịch sử 80 nǎm mất nước đau khổ và đen tối, chúng ta đã không ngừng làm rạng rỡ ngọn cờ nghĩa cứu nước vẻ vang.

Từ sau nǎm 1862, khi vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hoà, Mỹ Tho cho giặc Pháp, các bậc nghĩa sĩ giàu lòng yêu nước thương dân đã từ bỏ cả cơ nghiệp của cải, dắt díu vợ con chạy ra Trung Kỳ, thà cam chịu sống cuộc đời gian truân, vất vả của kẻ hái củi, chài lưới, chứ thề không đội trời chung với giặc Pháp.

Trong bốn mươi nǎm, từ 1870 đến 1910, dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám và các bậc anh hùng hào kiệt khác, đồng bào chúng ta đã anh dũng trường kỳ chống lại quân giặc, làm cho kẻ thù ǎn không ngon ngủ không yên. Suốt bốn mươi nǎm đó, các cuộc nổi dậy đã liên tiếp nổ ra:

1905: Nông dân Trung Kỳ khởi nghĩa.

1910: Binh lính Việt Nam khởi nghĩa tại Hà Nội.

1915: Nhân dân Phú Thọ mưu khởi nghĩa.

1916: Tháng 6 vua Duy Tân mưu khởi nghĩa!

Tháng 8 cùng nǎm, đồng bào thiểu số Ba Xa bạo động.

1918: Bình Liêu mưu khởi nghĩa.

1919: Quảng Nam mưu khởi nghĩa.

1923: Liệt sĩ Phạm Hồng Thái ném bom mưu sát toàn
quyền Méclanh.

1930: Khởi nghĩa Yên Bái.

1930-1931: Nghệ An khởi nghĩa.

Cuối nǎm 1940: Bắc Kỳ và Nam Kỳ khởi nghĩa.

1941: Đô Lương (Trung Kỳ) khởi nghĩa.

Những sự tích vừa oanh liệt lại vừa bi tráng nêu trên, một mặt cho chúng ta thấy rằng: đất nước Việt Nam tuy bị giày xéo dưới gót sắt đẫm máu của dị tộc, nhưng tinh thần dân tộc của người Việt Nam vĩnh viễn không vì thế mà bị tiêu diệt, mặt khác cũng dạy chúng ta rằng: Không có một sức mạnh thống nhất của cả nước, không có sự giúp đỡ mạnh mẽ của bên ngoài, công cuộc vận động giải phóng khó mà thành công được, nhất là hiện nay, chúng ta đang đứng trước hai tên cướp xâm lược hung ác nhất của phương Đông và phương Tây, chúng ta lại càng cần toàn dân nhất trí, càng cần sự giúp đỡ của bên ngoài.

Muốn đoàn kết toàn dân, cần phải có một đoàn thể rộng lớn, rất độ lượng thì mới có thể thu hút được mọi đoàn thể và cá nhân có lòng thiết tha yêu nước, không phân biệt tuổi tác, gái trai, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp, đảng phái. Mục đích của đoàn thể ấy phải thiết thực tiêu biểu cho những yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân cả nước: Đoàn kết toàn dân, tranh thủ ngoại viện, đánh đuổi kẻ thù, khôi phục Tổ quốc. Thái độ của đoàn thể ấy phải cao cả, ngay thẳng, mới có thể không thiên lệch, không dựa trên định kiến của một đảng phái, mới có thể được sự tin tưởng và ủng hộ của các tổ chức, các đảng phái và của toàn dân.

Phân hội Việt Nam chính là một đoàn thể ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó của thời đại. Phương pháp tranh thủ ngoại viện của đoàn thể này là:

– Bước thứ nhất: liên lạc với các đoàn thể anh em các nước như Phân hội Trung Quốc, Phân hội Mỹ, v.v..

– Bước thứ hai: nhờ các đoàn thể anh em giới thiệu với Chính phủ các nước.

– Bước thứ ba: với thái độ chân thành và cởi mở, yêu cầu các Chính phủ, trước hết là Chính phủ Trung Quốc giúp đỡ.

Cho đến nay, về mặt đoàn kết trong nước đã có được những thành tích đáng kể, nhưng về mặt tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài thì chưa có gì.

Về phần mình – Phân hội Việt Nam trong Hội quốc tế chống xâm lược – cũng không sao tránh khỏi những điều nọ tiếng kia của một số người, chúng tôi thấy chưa cần phải thanh minh. Giờ đây, hãy cứ mặc cho gió Xuân thổi đi, trong tương lai sẽ để sự thật chứng minh là đủ.

II- HỆ THỐNG TỔ CHỨC

Tổ chức của Phân hội Việt Nam có hai loại hội viên:

– Một là hội viên cá nhân: có rất nhiều người từ trước đến nay chưa tham gia một đoàn thể nào, nay muốn tham gia công việc cứu nước. Phân hội Việt Nam sẽ tuỳ theo hoàn cảnh của họ, tập hợp những người cùng một nghề nghiệp thành một tiểu tổ và sẽ cử người phụ trách đặc biệt liên hệ với họ.

– Hai là hội viên đoàn thể: đó là những đoàn thể mà các hội viên tán thành gia nhập Phân hội.

Việc hợp nhất nhiều đảng phái khác nhau và các tổ chức không đảng phái (như hợp tác xã, v.v.) xem chừng như rất phức tạp, rất mâu thuẫn, khó tránh khỏi va chạm và xung đột, nhưng trên thực tế thì rất đơn giản, vì rằng:

1- Mọi người đều cùng chung một mục đích là cứu nước.

2- Mọi người đều có những công tác thiết thực và phải làm tròn.

3- Mọi người đều hiểu rằng còn thì cùng còn, mất thì cùng mất.

4- Người phụ trách giải quyết công việc đúng đắn.

Phân hội Việt Nam chỉ yêu cầu các hội viên của mình tuân thủ mấy điều dưới đây:

1- Trong Hội không được bàn chuyện đảng phái; ngoài hội thì hoàn toàn tự do.

2- Có vấn đề gì, mọi người cần thẳng thắn, công khai thảo luận; có công việc gì, mọi người đều đồng tâm hiệp lực cùng làm.

3- Thường ngày, mọi người không được công kích lẫn nhau; gặp khi nguy hiểm, mọi người phải ra tay giúp đỡ.

Kết quả là: giữa các đảng phái không còn tình trạng tranh chấp hơn thua, sự chân thành đoàn kết không phải chỉ ở đầu lưỡi mà trở thành sự thật.

Hệ thống tổ chức: Toàn quốc chia thành kỳ, mỗi kỳ chia thành tỉnh, huyện, tổng, xã, thôn. Nơi nào đông hội viên thì lấy thôn làm đơn vị. Nơi nào ít hội viên thì lấy tổng hoặc xã làm đơn vị.

III- CÁCH LÃNH ĐẠO

Cho đến khi tôi rời nước, tình hình vẫn thế này: Cả nước chỉ có mấy người, đủ cả Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, họ là những sáng lập viên, đồng thời cũng là uỷ viên trong Ban Chấp hành toàn quốc. Về tư cách mà nói, mỗi người một tư cách khác nhau: Một số là những người tài giỏi; một số là những bậc lão thành, có danh vọng được nhân dân tín nhiệm. Tuy vậy, họ giống nhau ở chỗ đều là những nhân sĩ thiết tha yêu nước, liêm khiết, trung thực, công tâm. (Cho nên tôi rất tin tưởng rằng, nếu có tổng tuyển cử, dân chúng nhất định sẽ bầu họ). Họ phân công, hợp tác, mỗi người gánh vác một phần trách nhiệm, không có chủ tịch. Dĩ nhiên là họ không có lương, mà ngược lại khi có tiền, họ còn phải bỏ tiền túi của mình ra cho đoàn thể dùng. Vì hoàn cảnh khó khǎn, họ rất ít khi họp hội nghị toàn thể, trừ những trường hợp vạn bất đắc dĩ. Khi có việc, những người phụ trách kỳ bộ nào đó bàn bạc cách thức tiến hành, rồi đưa trưng cầu ý kiến những người phụ trách hai kỳ bộ kia, sau khi mọi người tán thành thì phân công nhau mà làm. Ví dụ, muốn ra một bản tuyên ngôn, các người phụ trách Bắc Kỳ dự thảo, rồi gửi dự thảo cho những người phụ trách ở Nam Kỳ, Trung Kỳ. Sau khi mọi người đồng ý, mỗi Kỳ chịu trách nhiệm in lấy Tuyên ngôn mà phân phát trong phạm vi Kỳ của mình. Lúc gặp việc khẩn cấp, chẳng hạn như địch tiến hành khủng bố ở Nam Kỳ thì Kỳ bộ Nam Kỳ một mặt phát động cuộc “vận động chống khủng bố”, mặt khác báo cho hai Kỳ để hưởng ứng ngay.

Mọi hành động, các địa phương phải tuân thủ những nguyên tắc và thời hạn do Trung ương quy định, còn cách thức thực hiện, họ có thể tuỳ cơ ứng biến. Mọi công tác phải có kế hoạch trước khi đưa ra làm, làm xong phải tổ chức kiểm điểm. Tất cả những kinh nghiệm thành công cũng như thất bại đều đǎng trên báo bí mật để mọi người nghiên cứu.

IV- CÁCH TUYÊN TRUYỀN

Có tuyên truyền bằng miệng, tuyên truyền bằng vǎn tự và tuyên truyền bằng hành động.

1- Tuyên truyền bằng miệng có hai loại: Nói chuyện với từng người và nói chuyện tập thể. Loại trước thì mỗi hội viên đều phải làm, như giải thích cho bạn bè thân thích hiểu tại sao phải đánh đuổi quân thù, phải cứu nước; có khôi phục được Tổ quốc thì mới không phải nộp thuế, khỏi bị bắt đi làm phu và mọi người mới có cơm ǎn, áo mặc, v.v.. Loại sau thì khi hội viên khai hội, cán bộ giải thích các vấn đề để nâng cao sự hiểu biết cho họ, nói cho họ biết cách tuyên truyền. Khi bà con cấy cày, gặt hái hoặc làm những công việc có đông người, cán bộ địa phương hoặc những hội viên có khả nǎng ǎn nói đến làm giúp họ, nhân dịp đó mà tuyên truyền thì sẽ có tác dụng nhanh chóng và to lớn.

2- Tuyên truyền bằng vǎn tự có ba loại: Truyền đơn, báo chí bí mật và biểu ngữ. Làm báo bí mật là công việc rất khó khǎn vì không dễ gì kiếm được nguyên liệu. Chẳng hạn, nếu ta mua giấy nhiều quá dễ bị nghi ngờ và có thể gặp nguy hiểm. Song, nếu biết dựa vào sự sốt sắng của các hội viên, dẫu có khó khǎn gì cuối cùng vẫn tìm được cách giải quyết. ở một số nơi thường hay bị địch lùng sục, chúng tôi cứ cách mấy chục dặm lại đặt một “nhà in”: một phiến đá, một ít giấy mực, giấu ở những nơi thật kín đáo không ai biết. Địch đến thôn Đông, chúng tôi in báo ở thôn Đoài, chúng tới thôn Nam, chúng tôi in báo ở thôn Bắc. Chúng không thể tìm ra chúng tôi, còn chúng tôi cứ tiếp tục ra báo đúng kỳ hạn. Báo là thứ vũ khí của ta mà địch cǎm ghét nhất.

Viết biểu ngữ cũng là một cách tuyên truyền rất lý thú. Bờ tường, mặt đường, gốc cây, lá cây, đều là những chỗ giúp ta tuyên truyền cách mạng. Cột điện, dây điện cũng là những nơi rất tốt để cǎng biểu ngữ. Những nơi có sông ngòi, chúng tôi lấy tre, gỗ, nứa, chuối đóng thành bè, cǎng biểu ngữ lên trên rồi thả xuôi theo dòng nước.

3- Tuyên truyền bằng hành động, tức là mỗi hội viên đều phải gương mẫu trong mọi việc để tỏ cho mọi người thấy rằng có tổ chức, có đoàn thể có tốt hơn.

Cương lĩnh tuyên truyền phải hết sức giản đơn, ai ai cũng hiểu được, nhớ được. Đoàn kết, đánh địch, cứu nước, chỉ sáu chữ ấy thôi là đủ rồi.

Cách tuyên truyền như diễn kịch, ca hát, v.v., chúng tôi không dùng được.

V- CÁCH HUẤN LUYỆN

Trước tiên, cơ quan lãnh đạo định ra một chương trình học tập, cử một vài người hoặc vài nhóm, vừa đi thí nghiệm, vừa tranh thủ ý kiến của người học. Sau đó, việc biên soạn các bài giảng phải hoàn toàn cǎn cứ vào yêu cầu của học viên những đợt huấn luyện trước kết hợp với kinh nghiệm của các giảng viên.

Tư cách học viên: Tất cả cán bộ địa phương nhất thiết phải được huấn luyện. Kế đó là những hội viên ưu tú, cuối cùng là tất cả các hội viên không phân biệt già trẻ, gái trai, miễn là muốn học đều có thể tham gia.

Thời gian huấn luyện: Một hoặc hai tuần lễ.

Địa điểm huấn luyện: Hang động, núi rừng, ruộng mía, nương ngô, v.v., nơi nào bảo đảm được bí mật đều có thể là những giảng đường thiên nhiên của họ. Nhưng cũng có khi một lớp học cách một hai ngày lại phải dời đi chỗ khác.

Các bài giảng đại khái gồm:

– Vì sao phải làm cách mạng?

– Vì sao phải đoàn kết?

– Khai hội tiểu tổ như thế nào?

– Phát biểu ý kiến như thế nào?

– Tự phê bình và phê bình đồng chí như thế nào?

– Bước đầu tuyên truyền cho bè bạn như thế nào?

– Giữ bí mật như thế nào?

– Những hành động hung ác của kẻ thù.

– Tình hình thế giới (kinh nghiệm kháng chiến của Trung Quốc).

– Tình hình trong nước.

Cần khuyến khích học viên dạy cho nhau học chữ quốc ngữ.

Những vấn đề trên đều do chính các hội viên tự đưa ra yêu cầu được học tập. Cơ quan lãnh đạo chỉ cần chọn một số người có thể làm giảng viên, đưa giáo trình cho họ nghiên cứu, khi họ đã nghiên cứu thông suốt, nắm được các vấn đề rồi thì cán bộ địa phương đón họ về tổ chức các lớp.

Vấn đề ǎn, ở của giảng viên đều do học viên cùng nhau giải quyết, vì thế nên không tốn kém đồng nào mà lớp huấn luyện mọc lên như nấm, cơ quan lãnh đạo có cảm giác là số giảng viên “cung không kịp với cầu”.

Kết quả rõ rệt nhất của các lớp huấn luyện là tất cả hội viên không kể già trẻ đều biết giữ bí mật.

VI- TÀI CHÍNH CỦA HỘI

Phân hội Việt Nam không quy định hội viên phải đóng hội phí mà áp dụng nguyên tắc “có tiền góp tiền”, “có sức góp sức”. Hội viên tuỳ theo hằng tâm hằng sản của mình mà giúp đỡ kinh phí cho Hội. Lúc đầu, Hội chi phí mất khá nhiều tiền (số tiền này do các hội viên có nhiệt tâm tự nguyện đóng góp). Vì muốn đặt cơ quan ở các khu “quý tộc” của các thành phố lớn để che mắt địch, Hội đã thuê nhà tây, mua sắm đồ đạc sang trọng, trang trí rất hào nhoáng, đường hoàng. Được ít lâu, có báo động, tất cả đồ đạc phải bỏ hết! Qua vài lần kinh nghiệm quá đắt như vậy, đành phải bỏ ý định lập cơ quan cố định.

Hiện nay, trừ chi phí cho báo chí và việc đi lại ra, không còn khoản gì khác phải tiêu nhiều tiền nữa, lúc cần thiết, các hội viên đều hǎng hái quyên góp, vì mọi người đều tin tưởng rằng mỗi một đồng xu họ bỏ ra đều được dùng vào công việc chung cho nước nhà, cho dân tộc, chứ không phải rơi vào túi riêng của một ai. Đủ thấy câu tục ngữ xưa “Có người ắt có của” là đúng lắm vậy.

VII – CÔNG TÁC CỦA HỘI

Đằng trước thì quân thù đàn áp, đằng sau thì dân chúng thôi thúc, theo dõi, công tác của Hội hiện nay chỉ có gian khổ, chỉ có hiểm nguy, hoàn toàn không thể cầu danh lợi, địa vị cho cá nhân, cho nên người nào muốn làm việc cho Hội thì chỉ có vùi đầu vào công việc, ra sức mà làm. Ai không thật lòng muốn làm việc cho Hội thì không thể chỉ đeo nhãn hiệu suông được. Với lại, công việc thì nhiều, phạm vi hoạt động lại rộng, người nào có công việc của người ấy, nên không có sự tranh chấp. Hơn nữa, do cùng đồng cam cộng khổ, hoạn nạn có nhau, nên rất có tinh thần đoàn kết. Và vì đoàn kết chặt chẽ nên công việc dễ phát triển. Kết quả công tác, thành công tuy nhiều, song thất bại cũng không phải ít.

Thành công ở chỗ, mặc dù hai tên đế quốc hung ác nhất thi hành chính sách khủng bố dã man và giữa vòng vây của bọn mật thám Pháp, Nhật, bọn Việt gian, Hán gian, mà trong một nǎm rưỡi ngắn ngủi, Hội đã đoàn kết được hơn hai mươi vạn người, bao gồm các đoàn thể, các đảng phái, các cá nhân, các dân tộc mà trước đây vẫn có nhiều thành kiến với nhau. Một nước với hai mươi lǎm triệu dân mà mới có hai mươi vạn người có tổ chức, nghĩa là cứ 125 người mới có một người có tổ chức, con số đó thật quá ít ỏi. Nhưng chúng tôi có thể nói là phạm vi đoàn kết này đang mở rộng, đang phát triển.

Chúng ta biết rằng, thành công đó một nửa là nhờ sự đoàn kết thành thật và sự cố gắng hoạt động của cán bộ, một nửa là nhờ ảnh hưởng của cuộc kháng chiến anh dũng của Trung Quốc. Xin cử một ví dụ thực tế: ở một địa phương nọ, khi đưa cuốn sách “Những hành động tàn bạo của Nhật Bản” (do Hội đồng quân sự Trung Quốc xuất bản) cho mọi người bí mật chuyền nhau xem, rất nhiều người, nhất là chị em phụ nữ, khi xem xong cảm động đến rơi nước mắt. Mọi người đều nói: “Bọn quỷ Nhật thật hung ác, không đập chết chúng nó thì chúng ta không sống được”. Sau đó, nhiều người cả nam lẫn nữ đều gia nhập tổ chức.

Thất bại ở chỗ:

1- Rất nhiều cán bộ tốt, vì làm việc quá nhiều, bồi dưỡng không đủ nên sinh đau ốm, có khi ốm đến chết (đó là sự đau lòng khó tránh khỏi trong hoàn cảnh hoạt động bí mật).

2- Có nơi vì thiếu kinh nghiệm, lộ bí mật để cơ quan bị vỡ và nhiều đồng chí bị bắt, bị giết.

3- Vì giao thông liên lạc không thuận tiện, cơ quan cấp trên không kịp thời giải quyết những vấn đề khó khǎn, do đó đưa đến thất bại.

4- Thiếu sự tuyên truyền đối ngoại: Một là vì mới thành lập, phải hoàn toàn giữ bí mật; hai là thiếu nhân tài ngoại giao; ba là lần đầu tiên đi làm ngoại giao, cử ba người thì hai người giữa đường hy sinh, còn lại một người nhờ được Trung Quốc chǎm nom hết sức chu đáo, nhưng đã một nǎm rưỡi vẫn chưa thấy trở về.

Về điểm này, Trung Quốc cũng cho chúng ta một bài học quý báu, rằng nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao, giả dụ như Trung Quốc nếu không có mấy nǎm kháng chiến kiên quyết và gian khổ, thì chớ mong gì có thể xoá bỏ được các điều ước bất bình đẳng, và các nước đồng minh cũng chẳng giúp đỡ gì Trung Quốc.

Tuy vậy, về phần chúng tôi, lúc nào cũng tin tưởng vững chắc ở đạo đức truyền thống của Trung Quốc là “bênh vực kẻ yếu, giúp đỡ người nguy, cứu kẻ sắp chết” và tin tưởng vào quốc sách của Trung Quốc là “Liên hiệp các dân tộc nhược tiểu trên thế giới để cùng nhau phấn đấu”. Vì thế, chúng tôi cho rằng: lần này “thất bại là mẹ thành công”, chúng tôi quyết không ngã lòng.

VIII. MẤY VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN

Dân chúng thường cho rằng: Đoàn thể là thần thông quảng đại, là tài giỏi việc gì cũng làm được, do đó từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, họ đều nhờ đến đoàn thể. Anh A và anh B cãi lộn nhau, họ cũng tìm đến đoàn thể nhờ phân xử phải trái. Anh X và anh Y tranh giành nhau gia tài cũng đến nhờ đoàn thể giải quyết, v.v.. Nhưng câu hỏi khó trả lời nhất là:

“Đoàn thể tổ chức chúng tôi lại cốt để đánh giặc Nhật, giặc Pháp. Hiện nay tổ chức xong rồi, thế bao giờ thì đánh?”.

“Đoàn thể nói với chúng tôi rằng: Trung Quốc nhất định sẽ giúp chúng ta đánh đuổi quân thù, vậy đến bao giờ họ mới giúp?”.

IX. HY VỌNG CỦA CHÚNG TÔI

Đồng bào chúng ta đã đau khổ đến tột bực rồi. Dân chúng trong nước chỉ có một yêu cầu là đánh đuổi quân thù, khôi phục Tổ quốc.

Hoàn cảnh của chúng ta bây giờ, đúng như Tưởng Trung Chính (1) tiên sinh đã nói: “Không phát động được quốc dân đứng lên phấn đấu thì không thể rửa nhục, tự cường được”.

Tình hình thế giới đang rất có lợi cho chúng ta, cho nên tôi hy vọng rằng: Đồng minh hội, sau Hội nghị này có thể thực sự chấn chỉnh lại nội bộ, thực sự đoàn kết được các lực lượng cách mạng Việt Nam ở nước ngoài, thực sự kết hợp thành một khối với các lực lượng cách mạng ở trong nước, nhằm thực hiện cho được như lời của Tưởng tiên sinh: “Hoạt động thực tế trong nước lấy hội, đảng làm đầu, viện trợ của bên ngoài lấy kiều bào làm chính”.

Tôi hy vọng rằng phạm vi giúp đỡ của Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam ngày càng thiết thực, ngày càng mở rộng hơn. Được như thế, sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam nhất định sẽ sớm thành công.

Tài liệu chữ Hán,bản chụp lưu tại
Bảo tàng cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

————————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.