Thư viện

Cuộc chào đón dữ dội của tên lửa đất đối không

Chiến thắng trong cuộc chiến chống đợt tập kích bằng B52 vào Hà Nội và Hải Phòng 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã ghi nhận nghệ thuật phòng không của quân đội ta khi đối đầu với không quân nhà nghề của Mỹ. Ngay trận mở đầu, 2 “siêu pháo đài bay” B52 đã bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.

Chuẩn bị cho cuộc ném bom vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương trên miền Bắc, đế quốc Mỹ huy động lực lượng máy bay lớn chưa từng có, với hy vọng trận tấn công phủ đầu bất ngờ có thể hạ gục ý chí của một dân tộc, buộc Chính phủ ta phải ngồi vào bàn đàm phán và chấp nhận những điều kiện có lợi cho chúng. Tuy nhiên, mọi động thái của địch đều được ta theo dõi chặt chẽ. Từ sáng sớm ngày 18.12.1972, qua hệ thống thu tin của Bộ Tổng tham mưu, những dấu hiệu đầu tiên của cuộc tập kích đã được nhận diện. Vào 19h10, radar phát hiện từng tốp B52 bay dọc sông MeKong lên hướng bắc. Ngay sau đó, trước khi B52 đến, hàng loạt máy bay tiêm kích ào ạt tấn công dọn đường. Các đơn vị cao xạ của bộ đội phòng không và lực lượng tự vệ của Hà Nội đã nổ súng quyết liệt. Đến 19h40, những tốp B52 đầu tiên bắt đầu đánh phá sân bay Hòa Lạc, Nội Bài. Các đơn vị tên lửa Hà Nội lần đầu tiên đối mặt với “pháo đài bay” đã thấy rõ ngay tình huống hết sức phức tạp với dải nhiễu của B52 và tên lửa không đối đất của máy bay hộ tống. Từ Sở chỉ huy Quân chủng đến Sư đoàn Phòng không Hà Nội, những câu hỏi liên tục dội xuống: đã có tiểu đoàn nào bắn chưa? Đã nhìn thấy B52 chưa? Nhưng giờ phút đó vẫn chưa có đơn vị nào khai hỏa, bởi trên màn hiện sóng chỉ có một màu trắng xóa. Toàn bộ hệ thống gây nhiễu của kẻ thù được mở hết công suất, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Trên các trận địa tên lửa, máy nổ ầm ầm, đạn đã lên nòng nhưng các chiến sỹ trắc thủ vẫn ngồi im lặng trong tâm trạng căng thẳng tột độ. Kẻ thù đang trút bom đạn xuống những ngôi nhà, đường phố thân yêu nhưng họ chưa thể ấn nút khai hỏa bởi nhiễu dày đặc.

Sau khi nắm bắt tình hình qua việc theo dõi hướng bay của địch, tiểu đoàn 78 (Sư đoàn Phòng không Hà Nội) quyết định phát sóng điều khiển cho dù các loại máy bay tiêm kích vẫn đang quần đảo trên đầu và bắn ầm ầm xung quanh, cả máy bay mang tên lửa chiến thuật không đối đất (Sơ-rai) chỉ chờ ta phát sóng là lao đến. Sóng phát lên, dù không nhìn rõ mục tiêu nhưng đã có thể phân biệt nhiễu của B52 so với các loại nhiễu khác, các chiến sỹ vẫn quyết định phóng đạn. Quả tên lửa đầu tiên của Hà Nội lao vút lên, hướng về phía kẻ thù, mở đầu cho trận đánh vang dội, đáp trả giọng điệu huênh hoang của địch về loại “pháo đài bay bất khả xâm phạm”. Lúc đó là 19h44 ngày 18.12.1972.

Sau quả đạn mở đầu của tiểu đoàn 78, các bệ phóng tên lửa khác cũng liên tiếp khai hỏa. Sự xuất hiện của “rồng lửa Thăng Long” hòa nhịp với tiếng súng của các trung đoàn cao xạ 212, 220, 221, 260 của Sư đoàn 361, tiếng súng tầm thấp các cỡ của lực lượng dân quân tự vệ Hà Nội tạo nên một không khí hào hùng. Một tên đại úy lái máy bay B52 thoát chết trong đêm 18.12.1972 khi về đến căn cứ đã tường thuật lại: “Cuộc chào đón dữ dội của tên lửa đất đối không… Khi những chiếc B52 đầu tiên tới vùng trời Hà Nội, tên lửa đất đối không bắn như pháo hoa lên máy bay chúng tôi. Từ khi vào mục tiêu, anh bạn xạ thủ của tôi đã đếm được 32 tên lửa SAM bắn vào hoặc ít ra cũng bay sát máy bay chúng tôi. Chiếc máy bay số 2 trong tổ bay mất liên lạc nhưng không ai có thì giờ tìm hiểu nó”.

Trận địa của các tiểu đoàn 57, 59, 93, 94 tạo thành một vòng cung phía bắc và đông bắc Hà Nội như lũy thép kiên cường. Chính từ lũy thép này, các chiến sỹ tiểu đoàn 59 trung đoàn 261 đã làm nên một chiến công lịch sử. Hồi 20h13 ngày 18.12.1972, chiếc máy bay B52G mang số hiệu 52122001 đã bị bắn tan xác trên bầu trời Hà Nội. Lần đầu tiên ở Việt Nam và cũng là lần đầu tiên trên thế giới, “siêu pháo đài bay” B52, từ độ cao trên 10.000m đã bị “rồng lửa Thăng Long” vít cổ xuống đất. Đây là chiến công có ý nghĩa vô cùng to lớn, chứng tỏ rằng tuy chưa được trang bị những vũ khí hiện đại nhất nhưng bằng lòng căm thù, bằng ý chí quyết tâm cùng sức mạnh của trí tuệ và lòng dũng cảm, chúng ta hoàn toàn có thể đánh bại được kẻ thù, vốn được trang bị những phương tiện, vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ.

4h sáng ngày 19.12.1972, kíp chiến đấu của tiểu đoàn 77 (thuộc trung đoàn 257 tên lửa) vào trận và mở máy phát sóng. Chỉ một lát sau “mục tiêu!” tín hiệu B52 nổi lên quá rõ trên màn hình. Ngay lập tức tiểu đoàn trưởng ra lệnh: “Bám sát tự động!”. Sau khi ấn nút phóng tên lửa, tín hiệu vỡ tan, rơi lả tả rồi mất hẳn và lại thêm một chiếc B52 bị bắn rơi. Chỉ trong một đêm, 2 máy bay ném bom B52 được coi là tối tân, hiện đại nhất đã bị bắn tan xác, rơi ngay tại chỗ trên vùng trời Hà Nội.

Dù trận đầu tiên quân và dân ta chỉ bắn rơi tại chỗ 2 chiếc B52, nhưng đã tạo ra sức mạnh và niềm tin vô cùng to lớn cho những ngày chiến đấu sau này. Trận mở đầu vang dội. Chiến công đó khẳng định sức mạnh của lòng yêu nước, sức mạnh của trí tuệ con người trong đấu tranh chống lại cái ác, dù chúng có hung bạo và xảo quyệt đến đâu.

(Bài viết dựa theo hồi ký của Trung tướng Trần Nhẫn, nguyên Phó tư lệnh Sư đoàn Phòng không Hà Nội)

KHÁNH NGUYÊN
daibieunhandan.vn

Máy bay rơi… trên những con tem

QĐND – Có một bộ sưu tập tem đặc biệt về những chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc của Trung tướng, Viện sĩ hàn lâm Xô-viết A.I. Khiu-lê-nhen. Xem bộ sưu tập của người bạn Xô-viết, người chơi tem được khám phá, cảm nhận rõ hơn về cuộc chiến đấu của quân và dân ta chống lại tội ác không lực Hoa Kỳ…

Con tem thứ hai trong bộ tem về sự kiện bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.500. Ảnh chụp lại.

Trong những năm chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, quân và dân ta đã bắn hạ hơn 4000 máy bay Mỹ các loại. Đặc biệt, trong chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng Chạp năm 1972, hàng chục “Pháo đài bay” B -52 – biểu tượng uy lực của không quân Mỹ và các loại máy bay tiêm kích hiện đại bậc nhất của Mỹ, đã bị bắn tan xác. Là người có một thời gian dài giúp đỡ Việt Nam, Trung tướng, Viện sĩ hàn lâm Xô -viết A.I. Khiu -lê-nhen đã sưu tầm được bộ tem đặc biệt về sự thất bại của không quân Mỹ, giai đoạn từ năm 1964 đến năm 1973 trên bầu trời miền Bắc Việt Nam.

Bộ sưu tập tem gần như tái hiện đầy đủ từng giai đoạn lịch sử, từng chiến công tiêu biểu của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ. Từ sự kiện bắn rơi chiếc máy bay thứ 500 được in lên tem, đến con tem in sự kiện quân và dân ta bắn hạ chiếc máy bay thứ 4000. Trong đó con tem: O du kích nhỏ giương cao súng / Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu được phát hành năm 1967, ghi dấu chiến công của quân và dân ta bắn rơi chiếc máy bay thứ 2000, đã trở thành con tem được “đi” đến nhiều nước nhất. Đặc biệt, trong số máy bay Mỹ bị bắn hạ trên bầu trời miền Bắc, thì chiếc máy bay thứ 2.500 đã được phát hành tới 2 con tem. Một con tem mô phỏng chiếc máy bay đang tan rã rơi thẳng xuống mặt đất; con tem thứ hai là cảnh xác chiếc máy bay đang bốc cháy ngùn ngụt trên bầu trời… Con tem về chiến công tiêu diệt chiếc máy bay thứ 3.500 vẽ hình tên phi công Mỹ mặc trang phục tù binh bại trận gục mặt xuống nhìn xác chiếc máy bay tan nát thảm hại như một đống sắt vụn. Con tem phát hành nhân sự kiện bắn hạ chiếc máy bay thứ 4000 lại minh họa hình ảnh của những chiến sĩ pháo cao xạ ngước mắt bám sát máy bay địch trên bầu trời…

Những con tem in hình máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc, giai đoạn từ (1964- 1973). Ảnh chụp lại.

Được biết, bộ sưu tập tem quý giá này đang được trưng bày trang trọng trong “phòng truyền thống” tại nhà riêng của Trung tướng -Viện sĩ A.I. Khiu -lê-nhen, tại thành phố Xanh Pê -téc-bua của Liên bang Nga. Trong cuốn hồi ký “Những điều không thể quên ở Việt Nam” được xuất bản năm 2008, bộ sưu tập tem của ông đã được thể hiện khá đầy đủ và trang trọng trong cuốn sách. Cựu chiến binh Nguyễn Quang Hùng, nguyên là sĩ quan chỉ huy điều khiển, thuộc Trung đoàn Tên lửa 236 là người chỉ huy trực tiếp bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.500 trên bầu trời Hà Nội ngày 6-11-1967. Được xem bộ sưu tập tem trên đây trong cuốn hồi ký “Những điều không thể quên ở Việt Nam”, ông Nguyễn Quang Hùng xúc động nói: “Bộ tem có giá trị đặc biệt với chúng ta, dù là hình ảnh thì đó là một kỷ vật, một tài sản tinh thần có ý nghĩa rất lớn”. Năm 2008, Trung tướng, Viện sĩ hàn lâm Xô -viết A.I. Khiu -lê-nhen đến thăm những người bạn Việt Nam, đã chia sẻ cùng cựu chiến binh Nguyễn Quang Hùng: Đã có nhiều nhà sưu tầm tem thích thú hỏi mua lại với giá cao, nhưng với ông, bộ sưu tập là tài sản vô giá, là kỷ vật, tinh thần, tình cảm của ông với quân và dân Việt Nam. Vì vậy, ông không thể bán với bất kỳ giá nào…

Thú vui chơi tem đã có từ rất lâu, nhưng với những con tem ghi dấu những chiến công bắn rơi máy bay Mỹ trên đây, thì không chỉ là sự thỏa mãn yêu cầu về thưởng thức nghệ thuật mà còn là sự khám phá, tìm hiểu về lịch sử của dân tộc Việt Nam “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”. Với “nhà sưu tập” A.I. Khiu -lê-nhen, thì đây không đơn thuần chỉ là “sưu tập tem”, mà còn là tình cảm của một người bạn Nga đối với nhân dân Việt Nam anh hùng và nhân hậu.

NGUYỄN VĂN HẠNH
qdnd.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Chiến thắng của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam

(ĐCSVN) – Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã đi vào lịch sử dân tộc như một chiến thắng chói lọi, một kỳ tích vô song của thế kỷ XX. Chiến thắng vĩ đại này là sự minh chứng hùng hồn về sức mạnh của văn hóa Việt Nam, là chiến thắng của ý chí, bản lĩnh khí phách Việt Nam, chiến thắng của lòng tự hào, tự tôn, tự trọng của đức hy sinh cao thượng Việt Nam.

Theo lệnh của Tổng thống Nixon, từ tháng 11 năm 1972 Lầu Năm góc đã chính thức xây dựng kế hoạch cho cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên “Cuộc hành binh Lai-nơ-bêch-cơ II”. Theo kế hoạch này Nhà trắng và Lầu Năm góc đã huy động một lực lượng vũ khí kỹ thuật khổng lồ và hiện đại bậc nhất của không quân và hải quân Mỹ. Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của đế quốc Mỹ kể từ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai đến năm 1972, trong đó gần 50% tổng số máy bay B52 hiện có (193/404). Hơn 1/3 tổng số máy bay chiến thuật (cả tiêm kích và cường kích (1077/3041 chiếc trong đó có 01 biên đội F111 với 50 chiếc) chưa kể hàng trăm máy bay trinh sát, máy bay gây nhiễu, máy bay tiếp dầu, máy bay chỉ huy liên lạc dẫn đường; 1/4 tổng số tàu sân bay của toàn nước Mỹ (6/24 chiếc), 60 tàu chiến các loại của Hạm đội 7. Các máy bay B52 xuất phát từ 02 sân bay Guyam và Utupao (Thái Lan). Các máy bay chiến thuật xuất phát từ 6 tàu sân bay đậu trên biển đông và 6 sân bay trên đất Thái Lan. Với một loạt các căn cứ hậu cần kỹ thuật của Mỹ đóng ở Nhật, Philippin.

Đáng chú ý, tất cả các máy bay chiến lược và chiến thuật được huy động vào trận tập kích đường không chiến lược này đều là các loại máy bay được cải tiến kỹ thuật mới nhất nên có tính năng kỹ thuật tối ưu phục vụ cho các ý đồ chiến lược, chiến thuật của cuộc tập kích đường không này. Hệ thống máy gây nhiễu điện tử từ xa lắp trên các máy bay đặc chủng để gây nhiễu như EA6A, EB66-B-C-D-E, EC121, và các máy gây nhiễu điện tử từ xa hiện đại, được lắp trên mỗi chiếc B52 là 15 chiếc, lắp 2 chiếc trên một máy bay tiêm kích hộ tống các B52, cho nên mỗi tốp B52 (3 chiếc) đã có 45 máy gây nhiễu điện tử từ xa, và 45 máy bay F4 hộ tống với 90 máy điện tử gây nhiễu.

B52 được mệnh danh là “siêu pháo đài bay”, được phía Mỹ cho là “bất khả xâm phạm”
(Ảnh tư liệu. Nguồn: vov.vn)

Trong 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972, trước mỗi đợt tập kích, không quân Mỹ thả sợi kim loại tạo thành một bức tường bằng sợi kim loại cao từ 3km – 4km, rộng 5km-6km, dài 40-70km. Đây là bức tường khổng lồ nhiễu tiêu cực. Trong mỗi đợt tập kích lúc nào trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đều có một tốp 02 máy bay gây nhiều điện tử từ xa, mỗi chiếc mang theo 25 máy gây nhiễu liên tục gây nhiễu tích cực đối với hệ thống ra đa của ta, cùng với thủ đoạn dùng B52 tập kích vào ban đêm hầu như loại trừ mọi khả năng quan sát bằng các kính quang học nhìn xa của các đài quan sát dưới đất của các trận địa pháo cao xạ và khả năng nhìn trực tiếp của các phi công MIG21; cùng thủ đoạn gây nhiễu “giả B52”. Nói một cách khái quát chúng ta đã đối mặt với một cuộc chiến tranh điện tử hiện đại nhất của Mỹ trong thế kỷ XX. Cuộc chiến tranh điện tử này là một hình thái tổng hợp giữa yếu tố kỹ thuật của các thiết bị điện tử tối tân nhất với các thủ đoạn chiến thuật cực kỳ tinh vi và lợi hại.

Bộ Quốc phòng Mỹ đã coi nhiễu điện tử là niềm kiêu hãnh của nền công nghiệp hàng đầu của Mỹ, là sức mạnh siêu phàm, là lá bùa màu nhiệm. Với cuộc chiến tranh điện tử này, chúng có thể làm mù toàn bộ hệ thống ra đa của đối phương, từ hệ thống ra đa cảnh giới dẫn đường, ra đa của tên lửa, ra đa pháo phòng không đến gây nhiễu hệ thống thông tin liên lạc của ta. Bằng hệ thống gây nhiễu điện tử này theo tính toán của Bộ Chỉ huy không lực Hoa Kỳ, lực lượng pháo đài bay B52 trở thành lực lượng tập kích đường không khổng lồ nhưng lại là lực lượng “tàng hình” nên sẽ loại hoàn toàn tên lửa và pháo phòng không ra khỏi đối tượng tác chiến, do đó ngay từ đêm đầu tiên của chiến dịch, sau khi chúng tiến hành đồng loạt các thủ đoạn gây nhiễu ngoài đội hình, trong đội hình bằng nhiều tích cực, tiêu cực, tạo nhiễu B52 giả,… Bộ chỉ huy không quân Mỹ cho lực lượng cường kích bay thấp F111 và lực lượng cường kích F4, F105, A6, A7, A4 đồng loạt tiến công tất cả các sân bay của không quân ở Hà Nội, Bắc Giang, Yên Bái, Hải Phòng, Thanh Hóa. Tiếp theo ngay sau đó là tung lực lượng pháo đài bay B52 xông vào rải thảm bom để hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác. Trong 12 ngày đêm chúng đã rải hơn 100.000 tấn bom, phá hủy 5.400 ngôi nhà, hơn 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện. Giết chết 2.388 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. Độ tàn bạo của cuộc rải thảm bom hủy diệt này như là một “Hirosima không có bom nguyên tử”. Xin lưu ý sự kiện: Sau thất bại thảm hại của Mỹ ngụy ở Đường 9-Nam Lào (1971), đầu năm 1972, chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn, để cứu vãn tình thế, ngày 06/4/1972, Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc với quy mô lớn hơn, tính chất ác liệt tàn bạo hơn nhiều so với cuộc chiến tranh phá hoại lần I, Mỹ sử dụng cả máy bay chiến lược B52 đánh phá các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Phòng. Quân và dân ta đã chiến đấu kiên cường, dũng cảm đánh bại các đợt đánh phá, các đợt tập kích đường không của địch, cục diện chiến tranh chuyển hướng ngày càng có lợi cho ta. Tại Hội nghị đàm phán 4 bên ở Pari, ngày 08/1/1972 ta đã đưa ra dự thảo Hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Phía Mỹ đã chấp thuận bản dự thảo này, nhưng sau đó, đã bội ước, sau khi Tổng thống Nixon  thỏa hiệp được với một số nước lớn. Phía Mỹ không những không thực hiện lộ trình của thỏa thuận này mà lại thực hiện những thủ đoạn xảo trá đánh lừa và trấn an dư luận Mỹ thông qua màn khói: “Hòa bình đang ở trong tầm tay” để đầu tháng 11 sau khi có kết quả tái cử vào Nhà trắng lập tức Tổng thống Nixon, cố vấn Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng Laira, Thứ trưởng Quốc phòng Haig và Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Moorer thông qua kế hoạch tuyệt mật. Cuộc hành binh Lainơbêchcơ II”.

Năm 1972, Bộ đội phòng không-không quân của ta phải đảm đương 3 nhiệm vụ rất nặng nề: Tham gia chiến đấu trong đội hình quân binh chủng hợp thành ở chiến trường phía Nam, vừa phải bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị và giao thông vận tải chiến lược trên địa bàn Quân khu 4 và sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó lực lượng tên lửa bảo vệ thủ đô có 10 tiểu đoàn (3 trung đoàn ) và sau bổ sung thêm dăm tiểu đoàn nữa. Bảo vệ Hải Phòng có 2 trung đoàn tên lửa. Pháo cao xạ của Hà Nội, Hải Phòng cùng với lực lượng phòng không của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc cũng chỉ có 15 trung đoàn.

Lực lượng dân quân tự vệ Hà Nội ngoài 4 trung đội pháo 100 ly còn có gần 200 trận địa trung liên, đại liên, súng máy 12,7 ly, 14,5 ly. Máy bay tiêm kích MIG21, loại có tính năng vượt trên tầm cao của B52 chỉ có vài trung đoàn nhưng số phi công lái MIG21 có khả năng bay đêm lại không nhiều. Lực lượng ra đa cảnh giới dẫn đường cũng chỉ có gần 30 đại đội được bố trí khắp miền Bắc.

Căn cứ vào những số liệu về lực lượng địch ta nói trên ta thấy lực lượng của Mỹ chiếm ưu thế áp đảo cả về số lượng và kỹ thuật hiện đại tối tân – đúng như Nixon đã khẳng định trong một cuốn sách của mình: “Trong lịch sử nhân loại chưa hề có một quốc gia nào chiếm ưu thế hơn hẳn về vũ khí như Hoa Kỳ so với Bắc Việt Nam…” . Trong cuộc chiến đấu không cân sức này, quân dân Hà Nội, Hải Phòng, mà nòng cốt là lực lượng phòng không-không quân đã đi vào trận quyết chiến 12 ngày đêm lịch sử với hạnh phúc lớn là được sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 18/6/1965 khi Mỹ đưa 30 B52 vào ném bom khu căn cứ Long Xuyên của ta ở huyện Bến Cát, một tháng sau, ngày 19/7/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh cáo bọn xâm lược và chỉ thị cho quân dân ta: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “Bê” gì đi nữa ta cũng đánh… mà đã đánh là nhất định thắng”.

Ngày 12/6/1966, Mỹ cho B52 ném bom đèo Mụ Giạ ở Quảng Bình rồi mở rộng ra đến Vĩnh Linh, Chính ủy quân chủng phòng không-không quân được Bác Hồ mời lên gặp và giao nhiệm vụ: “Máy bay B52 Mỹ đã ném bom miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được B52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú phòng không – không quân”. Từ năm 1966 – 1967, quân chủng phòng không – không quân đã cử hai đoàn cán bộ tên lửa, một đoàn cán bộ ra đa, một đoàn cán bộ thông tin, một đoàn cán bộ không quân vào tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh và biên giới Việt – Lào để nghiên cứu nhiễu, nghiên cứu B52, đồng thời đưa hai trung đoàn tên lửa, và một số phi đội MIG21 vào trực tiếp đánh B52 trên vùng trời Quảng Bình, Vĩnh Linh để rút kinh nghiệm. Vì xác định đúng các đường bay B52 vào đánh Hà Nội, Hải Phòng cho nên, số lượng đơn vị tên lửa, pháo phòng không, MIG21 của ta rất có hạn nhưng đã bố trí đủ lực lượng cần thiết trên từng đường bay, nhất là tạo được lực lượng mạnh, lưới lửa nhiều tầng trên các hướng đường bay chủ yếu.

Bộ đội phòng không-không quân của ta sẵn sàng chiến đấu,
tiêu diệt “pháo đài bay” B52. (Ảnh tư liệu. Nguồn: vtv.vn)

Đầu xuân năm 1968, Bác Hồ đã mời Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam Phùng Thế Tài nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không – không quân lên và Bác đã đưa ra một dự báo và nhận định thiên tài: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở miền Nam, Mỹ nhất định thua nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội.

Sau chỉ thị của Bác, một kế hoạch đặc biệt quan trọng mang tên “Phương án đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ, bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng” của Quân chủng phòng không – không quân được ra đời ngày 27/2/1968. Từ cuối tháng 11 đến nửa đầu tháng 12, từ phương án chung này của Quân chủng đã được cụ thể hóa thành những kế hoạch chiến đấu của từng binh chủng như ra đa, tên lửa, cao xạ, không quân… Và được tổ chức luyện tập nghiêm túc, chu đáo, được cán bộ chỉ huy các cấp và các đơn vị xử lý thành thạo những tình huống đặt ra.

10h30 ngày 17/12/1972, theo lệnh của Bộ Tổng tham mưu, toàn bộ lực lượng của quân chủng phòng không – không quân, cùng lực lượng dân quân tự vệ của Hà Nội, Hải Phòng… đã vào tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Quân dân Hà Nội, Hải Phòng… đã thực sự chủ động đi vào chiến dịch lịch sử 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972.

Đêm ngày 18/12, Binh chủng ra đa cảnh giới dẫn đường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ canh trời tổ quốc. 19h, Đại đội 16 ra đa phát hiện có nhiễu B52, kíp trắc thủ trực ban của đại đội đã kịp thời thông báo những tọa độ đầu tiên của B52 khi nó đang bay lên phía thượng Lào. 19h45, Đài trưởng ra đa của Đại đội 45 Nghiêm Đình Tích báo cáo: “B52 đang bay vào Hà Nội. Khi tốp B52 đầu tiên còn cách Hà Nội 300km, toàn bộ lực lượng của Quân chủng phòng không – không quân vào tư thế sẵn sàng chiến đấu cấp I. 20h20, thực hiện lệnh của Tiểu đoàn trưởng D59.E261, sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận đã ấn nút phóng đưa quả đạn tên lửa mang số hiệu C202A vạch trời đêm bay trúng đích hạ tại chỗ chiếc B52-G xuất phát từ Guam, rơi xuống địa phận Phù Lỗ, Đông Anh, Hà Nội. Đây là chiếc B52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ của chiến dịch, cũng là chiến công đầu, ngay trong ngày đầu của quân dân thủ đô anh hùng.

Đêm đầu tiên của chiến dịch, quân dân ta lập công vang dội: Bắn rơi 3 pháo đài bay B52, bắt sống 7 giặc lái.

Trong 12 ngày đêm của chiến dịch lịch sử, Binh chủng tên lửa lập chiến công cao nhất: Bắn rơi 36 trên tổng số 81 máy bay các loại, trong đó bắn rơi 29 máy bay B52 trên tổng số 34 máy bay B52 bị bắn rơi. Tất cả 16 máy bay B52 bị bắn rơi tại chỗ đều là chiến công của Bộ đội tên lửa anh hùng. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch, các cán bộ chiến sỹ tên lửa đã sáng tạo những cách đánh đầy bản lĩnh và khí phách tiến công, thông minh sáng tạo để xử lý mọi thủ đoạn gây nhiễu, gạt được các tên lửa không đối đất sơrai, tách được nhiều B52 giả, tiết kiệm tên lửa, nâng cao hiệu quả tiêu diệt B52. Các chiến sỹ lái xe chở tên lửa đã vượt qua bom đạn cung cấp đạn kịp thời cho các trận địa tên lửa. Các chiến sỹ của các tiểu đoàn 5 – tiểu đoàn lắp ráp, nạp nhiên liệu cho tên lửa đã sáng tạo nên những sáng kiến khôi phục hàng nghìn quả tên lửa quá đát, có những chiến sỹ chấp nhận nhiễm độc của nhiên liệu tên lửa nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này.

Bộ đội không quân dũng cảm, thông minh, sáng tạo khắc phục biết bao khó khăn vượt qua bao gian khổ hy sinh:

+ Máy bay trinh sát địch dò tìm vị trí máy bay ta thì ta có lúc phải dùng trực thăng cẩu MIG21 đi dấu nơi xa, tối đến trả MIG21 về sân bay cất cánh chiến đấu.

+ Địch đánh hỏng đường băng chính, ta dùng đường băng phụ, đường băng phụ hỏng ta dùng đường lăn, đường lăn hỏng ta cất cánh từ các sân bay dã chiến vòng ngoài. Thực hiện khẩu hiệu: “Địch phá ta sửa, ta bay”. Mỗi lần đường băng bị bắn phá, công binh phối hợp với nhân dân địa phương lập tức việc san lấp, sửa chữa đường băng cho máy bay cất cánh.

+ Đối phó với số lượng máy bay của địch nhiều, không quân ta đánh du kích, dùng tốp nhỏ, chiếc lẻ với khẩu hiệu: “Một người, một máy bay vẫn tấn công”, bất ngờ đột kích, vượt qua hàng đàn máy bay hộ tống tiếp cận phía điểm yếu của B52 phóng tên lửa K13 tiêu diệt địch.

Đêm ngày 27/12 phi công Phạm Tuân và đêm 28/7 phi công Vũ Xuân Thiều đã lập công xuất sắc bắn rơi 02 máy bay B52.

Bộ đội pháo cao xạ được giao nhiệm vụ chủ yếu đánh máy bay chiến thuật để trực tiếp bảo vệ các mục tiêu và nhất là bảo vệ các trận địa tên lửa, các sân bay.

Chính các đơn vị cao xạ tầm thấp đã bố trí đón lõng và tổ chức cảnh giới tốt nên đã nổ súng kịp thời bắn rơi tại chỗ 5 máy bay cánh cụp cánh xòe F111 trên tổng số 48 chiếc được huy động trong chiến dịch, đạt hiệu quả chiến đấu rất cao. Các đơn vị pháo trung cao 100ly, trong 02 đêm 24 và 26/12 đã bắn rơi 03 máy bay B52.

Bộ đội cao xạ trong chiến dịch lịch sử đã bám trụ kiên cường nhằm thẳng quân thù bắn đã lập công xuất sắc bắn rơi 39 máy bay trên tổng số 81 chiếc (48%) góp phần tích cực bảo vệ các mục tiêu nhất là các cơ quan lãnh đạo, các nhà máy, bệnh viện, các đơn vị tên lửa, sân bay.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đối với miền Bắc, chưa bao giờ đế quốc Mỹ chịu tổn thất nặng nề như trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh vào Hà Nội, Hải Phòng… Trong chiến dịch lịch sử này, 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi trong đó: 34 máy bay B52, 05 máy bay F111, 21 máy bay F4, 04 máy bay A6A, 12 máy bay A7, 01 máy bay F105, 02 máy bay RA5C, 01 trực thăng HH53, 01 trinh sát 147SC. Đúng như Phó Chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, Tướng Giooc Et tơ phải cay đắng thú nhận: “Tổn thất về máy bay chiến lược B52 cùng phi hành đoàn là hết sức nặng nề, là đòn choáng váng đánh thẳng vào những nhà vạch kế hoạch của Lầu Năm góc”.

Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là đài vinh quang chói lọi, là niềm kiêu hãnh tự hào về Đảng vĩ đại, Bác Hồ kính yêu, về dân tộc Việt Nam anh hùng và quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, về quân chủng phòng không – không quân anh hùng.

Chiến công hiển hách này là sự minh chứng hùng hồn sức mạnh của văn hóa Việt Nam, sức mạnh của sự kết hợp hài hòa các yếu tố cách mạng và khoa học, giữa bản lĩnh vững vàng, khí phách tiến công, quyết đánh và trí tuệ biết đánh thắng, sự kết hợp giữa tinh thần lạc quan tin tưởng với đức hy sinh cao thượng. Sự kết hợp hài hòa các yếu tố tinh thần này để tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa Việt Nam.

Việc trân trọng, giữ gìn, phát huy mạnh mẽ các giá trị tinh thần trên đây sẽ tạo động lực to lớn để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

PGS,TS Đào Duy Quát
cpv.org.vn

Chương trình cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Tối 16-12, tại Hà Nội, Ðài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội phối hợp Báo Quân đội Nhân dân, Sư đoàn Phòng không Hà Nội tổ chức chương trình cầu truyền hình đặc biệt với tên gọi “Bản hùng ca Hà Nội”, nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không.

Ðến dự, có đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư T.Ư Ðảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam; các đồng chí Ủy viên T.Ư Ðảng: Trung tướng Mai Quang Phấn, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Ngô Thị Doãn Thanh, Chủ tịch HÐND thành phố Hà Nội.

Chương trình cầu truyền hình Bản hùng ca Hà Nội kỷ niệm 40 năm chiến thắng
Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không tại Ðài tưởng niệm Khâm Thiên.
Ảnh: Đăng Anh – Báo Nhân Dân

Chương trình cầu truyền hình được tổ chức tại năm điểm gồm: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sư đoàn Phòng không Hà Nội, Bảo tàng Chiến thắng B52, Ðài tưởng niệm những nạn nhân chết vì bom B52 ở phố Khâm Thiên và trận địa tên lửa Chèm (xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội). Trong đó, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là điểm cầu chính. Người xem đã được gặp gỡ các khách mời gồm: Ðại tá Nghiêm Ðình Tích, người đầu tiên phát hiện B52 tiến công Hà Nội năm 1972; Ðại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Ðình Kiên, người đã tham gia bắn rơi bốn chiếc máy bay B52, trong đó có kỷ lục bắn rơi hai chiếc B52 trong vòng chín phút; Trung tá Dương Văn Thuận, người bấm nút điều khiển tên lửa bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên; bà Phạm Thị Viễn, nữ tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Ðộng, đơn vị bắn rơi máy bay F111A bằng pháo 14,5 ly…

Các nhân chứng đã kể về những ngày họ từng sống và chiến đấu trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 đầy vinh quang của Thủ đô và đất nước. Khán giả còn được giao lưu và nghe tâm sự của nhạc sĩ Phú Quang, nhà văn Giang Quân – những người đã chứng kiến, thậm chí đã gánh chịu hy sinh, mất mát trong 12 ngày đêm máu lửa ấy. Ðan xen giữa những câu chuyện về hồi ức lịch sử là những ca khúc Người Hà Nội, Làng lúa làng hoa, Hà Nội niềm tin và hy vọng… thể hiện một Hà Nội kiên cường, bất khuất nhưng vẫn đầy lãng mạn, hào hoa.

* Chiều 16-12, tại Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử quốc gia tổ chức chương trình giao lưu Ký ức Hà Nội 12 ngày đêm, kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Hà Nội – Ðiện Biên Phủ trên không. Tham dự buổi giao lưu có đại diện các đơn vị thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch, ngành giáo dục và đào tạo, công chúng Thủ đô, học sinh, sinh viên một số trường học thuộc Hà Nội, cùng các nhân chứng lịch sử như: Nhà nghiên cứu sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trung tướng Phạm Tuân; GS Ðỗ Doãn Ðại, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai và nhà báo Nguyễn Xuân Mai. Buổi giao lưu góp phần giáo dục lòng yêu nước, ý thức gìn giữ phát huy truyền thống anh dũng, kiên cường, khơi dậy niềm tự hào dân tộc đối với thế hệ trẻ.

* Ngày 16-12, tại Thái Nguyên, Ban liên lạc truyền thống cựu chiến binh Sư đoàn 324 đã tổ chức Lễ trao Kỷ niệm chương Chiến sĩ tặng 85 cựu chiến binh thuộc sư đoàn đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Tại buổi gặp mặt, các đại biểu đã ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang của sư đoàn. Ðược thành lập ngày 1-7-1955 tại xã Triệu Dương, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, cùng với Sư đoàn 305 (sau này là đơn vị nhảy dù đầu tiên của Không quân Nhân dân Việt Nam), đây là hai sư đoàn của Liên khu 5. Sư đoàn 324 được giao nhiệm vụ giữ vững trị an ở Thanh Hóa, sau đó chuyển vào đóng quân tại Nghệ An. Một bộ phận sư đoàn tách ra thành Văn công Sư đoàn 324. Năm 1957, theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị, Văn công 305, Văn công 324, Văn công Trung đoàn 120 (Tây Nguyên) sáp nhập và giữ phiên hiệu Ðoàn Văn công Bộ đội Liên khu 5, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 324. Ðến tháng 6 năm 1961, Sư đoàn 324 chuyển thành Lữ đoàn 324, tham gia bảo vệ tỉnh Nghệ An trong cuộc tiến công miền bắc bằng không quân và hải quân của Quân đội Mỹ. Sư đoàn đã phối hợp với quân dân Nghệ An đánh 125 trận, bắn hạ 47 máy bay. Ðến tháng 5 năm 1965, Sư đoàn 324 được tái lập và được cử vào nam, trở thành sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu 4 mở mặt trận đường 9 Bắc Quảng Trị. Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, Sư đoàn 324 trực thuộc Quân đoàn 2 tham gia tiến công giải phóng Sài Gòn. Sau kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sư đoàn 324 trở về trực thuộc Quân khu 4. Sư đoàn 324 đã hai lần được Ðảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân./.

(Theo báo Nhân Dân)
cpv.org.vn

Olivier Tessier và “Hà Nội những ngày đêm năm 1972”

(VOV) -“Hà Nội, những ngày đêm năm 1972” là chủ đề cuộc triển lãm ảnh sẽ diễn ra từ 11/10 – 9/11 tại Trung tâm văn hóa Pháp.

“Hà Nội, những ngày đêm năm 1972” tập hợp những hình ảnh của Hà Nội trong trận chiến đấu chống lại đợt ném bom hủy diệt B52 của đế quốc Mỹ. Đó là hình ảnh quân và dân thủ đô anh hùng, quyết tâm chống lại âm mưu “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá” của đế quốc bằng chiến dịch phòng không quy mô lớn nhất cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Bên cạnh đó, triển lãm cũng giới thiệu những giai đoạn của trận đánh bom theo trình tự thời gian (mục tiêu chiến lược, sự tham gia của lực lượng không quân, những thiệt hại về cơ sở vật chất và con người, dân sự và quân sự) và quá trình đàm phán đồng thời diễn ra.

Tiến sĩ Olivier Tessier cũng chính là người được vinh danh Giải thưởng Bùi Xuân Phái- Vì tình yêu Hà Nội năm 2012. Ông là một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về Hoàng thành Thăng Long.

Song song với quá trình nghiên cứu, niềm đam mê của ông còn là sưu tập hình ảnh Hà Nội trong nhiều thời kì lịch sử. Ông cũng là chủ nhân bộ sưu tập ảnh và bản đồ cổ về thành Hà Nội, cho chúng ta nhìn thấy rõ một giai đoạn chuyển giao đặc biệt của đô thị Hà Nội thế kỷ 19-20.

Triển lãm được tổ chức và điều phối bởi Olivier Tessier (Viện Viễn đông Bác cổ – Pháp)./.

Phương Thúy/VOV-TTTin
vov.vn

Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Đài PTTH Hà Nội, phối hợp với báo Quân đội nhân dân, Sư đoàn 361 tổ chức cầu truyền hình đặc biệt, với tên gọi “Bản hùng ca Hà Nội”. Chương trình diễn ra lúc 20h ngày 16/12/2012.

Đây là cầu truyền hình đặc biệt, mang ý nghĩa gắn kết tình quân – dân. Khán giả sẽ được gặp lại những khách mời là các anh hùng lực lượng vũ trang, những người trực tiếp sống và chiến đấu trong 12 ngày đêm đầy vinh quang của Thủ đô và đất nước như Đại tá, anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Đình Kiên (người bắn rơi 4 chiếc B52), Trung tá Dương Thuận (người ấn nút bắn rơi tại chỗ chiếc B52 đầu tiên trên thế giới), Đại tá Đinh Thế Văn (người đã nghĩ ra cách đánh “đón trước nửa góc”)…

Bên cạnh đó, khán giả còn được trò truyện và nghe tâm sự của những người dân Hà Nội, những người đã chứng kiến thậm chí đã gánh chịu hi sinh, mất mát trong 12 ngày đêm máu lửa ấy, như nhạc sĩ Phú Quang, nhà văn Giang Quân, là những người đã từng sống tại phố Khâm Thiên vào những ngày cuối năm 1972…

BTC cũng cho biết, khác với những chương trình trước đây, “Bản hùng ca Hà Nội” không diễn ra trong những khán phòng, studio được bài trí trang trọng và có phần cứng nhắc mà thay vào đó với 6 điểm cầu, là 6 trận địa, lịch sử khác nhau nhằm tái hiện cho khán giả những hình dung chân thật hơn về những trang sử hào hùng, những ngày tháng chiến đấu oanh liệt của quân và dân ta.

Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội” diễn ra lúc 20h ngày 16/12/2012.

Đó là 6 điểm cầu: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sư đoàn 361, Bảo tàng Chiến thắng B52, Đài tưởng niệm Khâm Thiên, Trận địa tên lửa Chèm, hồ Hữu Tiệp. Trong đó, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là điểm cầu chính.

Đặc biệt, chương trình có sự biểu diễn của nhạc sĩ Phú Quang và con gái, nghệ sĩ piano Trinh Hương và con rể, nghệ sĩ violin Bùi Công Duy. Nghệ sĩ Phú Quang sẽ biểu diễn ca khúc “Em ơi Hà Nội phố” trên chính nền đất mái nhà năm xưa của gia đình ông ở phố Khâm Thiêm bị bom kẻ thù đánh sập. Nghệ sĩ violin Bùi Công Duy và nghệ sĩ piano Trinh Hương sẽ biểu diễn bản nhạc “Chuyện kể tình yêu” và “Khi mùa thu đến”…

Bên cạnh tiết mục biểu diễn của các nghệ sĩ, chương trình cũng chiếu trích đoạn phim “Hà Nội 12 ngày đêm”, “Những ngày đêm không thể nào quên”…

Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội” sẽ có thời lượng 150 phút, trên kênh 1 và 2 Đài PTTH Hà Nội. Đài PTTH Đồng Nai, Quảng Trị, Sơn La, Tuyên Quang, Điện Biên… tiếp sóng.

Thiên Kim
cand.com.vn

“Âm vang Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chi Minh

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chiều ngày 7/12/2012, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã mời đồng chí Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân, người trực tiếp tham gia Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đến nói chuyện cho gần 200 cán bộ trung cao cấp, cấp ủy viên, cán bộ chính trị về tầm vóc vĩ đại của Chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

DBP 2Chỉ huy Bộ Tư lệnh hoa cho Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt tại buổi nói chuyện

Tại buổi nói chuyện, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt đã khái quát lại bối cảnh, diễn biến và ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Cách đây 40 năm, với dã tâm thâm độc, đưa “Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá” trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, máy bay Mỹ đã ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc nước ta hàng trăm nghìn tấn bom, đạn; tàn phá nhiều phố xá, làng mạc và hàng nghìn nhà cửa, kho tàng; giết chết và làm bị thương gần 4.000 dân thường. Thủ đô Hà Nội đứng trước một thử  thách mang tính lịch sử, một cuộc đối đầu không cân sức về vũ khí, trang bị giữa không quân Mỹ và lực lượng phòng không Hà Nội. Phát huy truyền thống đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, quân và dân miền Bắc nói chung, đồng bào và chiến sĩ Thủ đô Hà Nội nói riêng đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, bắn rơi 81 máy bay và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ, trong đó có 34 chiếc B.52; 5 chiếc F.111A và các loại máy bay khác. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của bản lĩnh, ý chí và tầm cao trí tuệ Việt Nam, là biểu hiện sáng ngời của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của sức mạnh chính trị – tinh thần dân tộc Việt Nam, của trí thông minh và lòng quả cảm, của ý chí dám đánh, biết đánh và quyết thắng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân Việt Nam lên tiếng trả lời bọn xâm lược: “Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B.57, B.52 hay “bê” gì đi nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh. Mà ta đánh là nhất định thắng!”.

DBP 3Đồng chí Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt nói chuyện với cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng

Sau buổi nói chuyện, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt đã  giao lưu với tuổi trẻ của Bộ Tư lệnh. Tại đây Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt đã kể nhiều câu chuyện nói lên nhiệt huyết của tuổi trẻ thế hệ cha anh trước đây, cũng như giai đoạn hiện nay, lúc nào cũng sẵn sàng công hiến, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân.

DBP 1Đồng chí Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt thăm và động viên chiến sỹ trẻ tại đơn vị

Nhân dịp này, hưởng ứng đợt thi đua cao điểm “Âm vang Điện Biên Phủ trên không”, các cơ quan, đơn vị trong Bộ Tư lệnh đã tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi, thiết thực chào mừng thành Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quân đội lần thứ VIII và hướng Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ X; tổng kết các mặt công tác năm 2012, xây dựng kế hoạch 2013 và luyện tập nâng cao chất lượng thực hiện nghi lễ tiêu binh danh dự, chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Nguyễn Văn Vượng
bqllang.gov.vn

Tôn vinh: “Bản hùng ca Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Sáng 8/12, tại Hà Nội, Trung tâm giáo dục truyền thống và lịch sử -Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương phối hợp với Đại học Bách Khoa tổ chức chương trình giao lưu, tôn vinh với chủ đề ” Bản hùng ca Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Tôn vinh: Hình ảnh biểu tượng cho sự chiến thắng Điện Biên Phủ của dân tộc Việt Nam (Nguồn ảnh:thongtincongnghe)

Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới kỉ niệm 40 năm chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và 68 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam .

Sự kiện sinh hoạt văn hoá, tư tưởng, lịch sử truyền thống này nhằm kết nối, khơi dậy lòng tự hào dân tộc của thế hệ trẻ thông qua cuộc gặp mặt, giao lưu với các nhân vật,nhân chứng lịch sử đã từng tham gia và có nhiều đóng góp quan trọng làm nên chiến thắng đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ bằng không quân và hải quân ra miền Bắc từ ngày 5/8 năm 1964 tới đỉnh cao là chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.

Tham dự chương trình có trên 350 đại biểu là các anh hùng, nhân chứng lịch sử, thân nhân gia đình thương binh liệt sĩ, người có công và 500 sinh viên, giảng viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

Thông qua những bài hát cách mạng, và đặc biệt là những câu chuyện của chính các nhân vật đã từng tham gia chiến dịch, từ các tướng lĩnh, bộ đội rada, bộ đội tên lửa, cao xạ, không quân, hải quân đến dân quân tự vệ, thanh niên xung phong, thế hệ trẻ hôm nay hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa và những hy sinh của cha anh để làm nên chiến thắng quan trọng 12 ngày đêm lịch sử tại Hà Nội.

Những nhân vât bình dị, đời thường nhưng đã làm nên câu chuyện thần kỳ trên bầu trời Hà Nội, bắn rơi 800 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có nhiều chiếc B52. Chương trình cũng đã tôn vinh các nhân vật lịch sử với lòng tri ân sâu sắc của thế hệ hôm nay, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Tác giả : Hoàng Trang
vtv.vn

Trưng bày hơn 800 cuốn sách, tư liệu về “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND Online – Hơn 800 cuốn sách, tư liệu xuất bản ở trong và ngoài nước viết về Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được triển lãm tại Thư viện Quân đội (Hà Nội) khai mạc vào sáng 21-11.Triển lãm trưng bày theo chuyên đề “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không bản hùng ca của thế kỷ XX” nhằm giúp bạn đọc có thêm tư liệu để hiểu sâu sắc và toàn diện hơn về chiến công vĩ đại của dân tộc. Đây cũng là dịp để thế hệ ngày nay ôn lại truyền thống hào hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cắt băng khai mạc triển lãm sách báo “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không bản hùng ca thế kỷ XX”

Cùng với sách báo, tư liệu trưng bày tại triển lãm, Thư viện Quân đội còn giới thiệu các hình ảnh, thư viện, thư mục, cơ sở dữ liệu điện tử, tài liệu viết về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Tại buổi khai mạc, Ban tổ chức còn giới thiệu cuốn sách “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” do Thư viện Quân đội thực hiện gồm những thư mục, sách báo, tạp chí, trích dẫn những lời đánh giá, bình luận về chiến dịch đã được công bố trong 40 năm qua.

Ngoài ra, trong dịp này, tại thư viện còn diễn ra các hoạt động giao lưu, tọa đàm, hội thảo về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Triển lãm mở cửa từ ngày 21-11 đến hết ngày 31-12.

Tin, ảnh: K.HUYỀN
qdnd.vn

Phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

(ĐCSVN) – Nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972- 12/2012), sáng 21/11, tại Hà Nội, Học viện Chính trị Quân sự ( Bộ Quốc phòng) tổ chức Hội thảo khoa học: Nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 – Giá trị lịch sử và hiện thực.

Hội thảo được tổ chức nhằm góp phần làm rõ hơn vai trò của nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, khẳng định tầm vóc, giá trị lịch sử, hiện tại, tương lai, vai trò, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm về xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972; trên cơ sở đó kế thừa, xây dựng niềm tin, ý chí, quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ; xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần của quân đội và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hội thảo khoa học Nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội
– Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 – Giá trị lịch sử và hiện thực 
(Ảnh: HN)

Cách đây 40 năm, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Quân và dân ta đã tiến hành một chiến dịch phòng không quy mô lớn chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B.52 chưa từng có trong lịch sử chiến tranh hiện đại. Chiến dịch này, ta đã giáng đòn quyết định đập tan ưu thế của lực lượng không quân chiến lược Hoa Kỳ, góp phần quyết định “đánh cho Mỹ cút”, tạo tiền đề “đánh cho ngụy nhào” vào mùa xuân 1975.Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một sự kiện có giá trị lịch sử và thời đại sâu sắc, biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; chiến thắng của đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, của bản lĩnh, ý chí và trí tuệ, văn hoá, truyền thống Việt Nam; đỉnh cao của nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp; là thắng lợi của tư tưởng chiến lược tiến công, tích cực, chủ động, mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta trong lịch sử chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.

Tại Hội thảo, các nhân chứng lịch sử, các nhà khoa học đã tập trung trao đổi, thảo luận về giá trị lịch sử, hiện tại, tương lai của nhân tố chính trị, tinh thần- một trong những nhân tố quyết định làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972; vai trò của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, các cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội trong và ngoài quân đội, từ trung ương đến cơ sở trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, công tác tư tưởng, tổ chức nhằm khơi dậy lòng căm thù giặc, xây dựng niềm tin, ý chí, dám đánh, quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược, mà nòng cốt là cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân; làm rõ thành công và những bài học kinh nghiệm về xây dựng và phát huy nhân tố chính trị – tinh thần trong chiến tranh; xây dựng con người và tổ chức; nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm tiến hành công tác đảng, công tác chính trị; xây dựng niềm tin, ý chí chiến đấu; tinh thần sẵn sàng hy sinh, vượt mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Bên cạnh đó, các tham luận khẳng định việc phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. Đặc biệt, chỉ rõ tính cấp thiết, yêu cầu vận dụng kinh nghiệm lịch sử của chiến dịch để xác định nội dung, giải pháp xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; phát huy nhân tố chính, trị tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đề xuất phương hướng, yêu cầu, nội dung nghiên cứu khoa học nhằm cung cấp những luận cứ, tạo cơ sở, tiền đề cho xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp của quân đội. Các tham luận cũng đánh giá đúng, làm rõ những đóng góp và trách nhiệm của Học viện Chính trị trong đào tạo đội ngũ cán bộ chính trị đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Kết luận Hội thảo, Trung tướng, TS. Nguyễn Tiến Quốc, Giám đốc Học viện Chính trị Quân sự khẳng định: Tất cả các ý kiến tại Hội thảo đều có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc, góp phần cung cấp thêm nhiều luận cứ khoa học. Trên cơ sở kết quả của Hội thảo lần này, Đảng uỷ, Ban Giám đốc Học viện, các nhà khoa học, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý sẽ tiếp tục nghiên cứu, khẳng định những giá trị lịch sử và hiện thực của nhân tố chính trị, tinh thần và việc phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vào xây dựng, huy động tiềm lực chính trị, tinh thần trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới. Kết quả Hội thảo sẽ là cơ sở để vận dụng vào giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở Học viện trong thời gian tới.

HN
cpv.org.vn