Thư viện

Điện Biên Phủ trên không: Ký ức đau thương

(VOV) -Nghệ sỹ nhiếp ảnh Mai Nam đến giờ không thể quên được hình ảnh một nữ bác sỹ bị trúng bom chết ngay trước ngày cưới.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Mai Nam – khi đó là phóng viên của báo Tiền phong đã xúc động nhớ lại những năm tháng người Hà Nội ngoan cường chiến đấu với B52.

Là phóng viên nhiếp ảnh của báo Tiền phong, nhà báo Mai Nam đi rất nhiều vùng miền của đất nước để chụp ảnh về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân dân Việt Nam.

Khi Mỹ ném bom trở lại miền Bắc, ông đã ghi lại được nhiều hình ảnh quân dân ta chiến đấu kiên cường dưới sự tàn phá khốc liệt của không quân Mỹ để bảo vệ bầu trời Hà Nội.

Nghệ sỹ nhiếp ảnh Mai Nam nhớ lại: Khi Mỹ chuẩn bị mở màn chiến dịch Linebacker II, sử dụng “pháo đài bay” B52 tấn công miền Bắc, người dân Hà Nội sơ tán âm thầm trong đêm.

Nghệ sỹ nhiếp ảnh Mai Nam (Ảnh: CAND)

Những chiếc xe đạp thồ đủ thứ từ người già, trẻ em, đồ đạc…. Đường phố Hà Nội lặng ngắt. Trên từng cánh cửa, mọi người đều biển dán thông báo, gia đình đang sơ tán ở nơi đâu. Ngoài đường phố Hà Nội chỉ còn thanh niên cờ đỏ. Họ giúp mọi người tránh bom khi máy bay đến.

Thời điểm đó, Mỹ ném bom rất ác liệt. Những trận bom Mỹ dội xuống làm mặt đất rung chuyển dữ dội. “Đến cái đèn Hoa Kỳ ở trong hầm cũng vụt tắt”, ông Nam nói.

“Sau những trận đánh bom dữ dội vào ngày 22 – 23/12, đặc biệt là đêm 24/12, hôm sau ra ngoài đường, ông thấy rất nhiều quan tài mà người ta dùng để khâm liệm những người thiệt mạng trong các cuộc ném bom.

Cái ký ức đau thương nhất trong cuộc chiến đó đến bây giờ ông vẫn không quên được khi chứng kiến cảnh một nữ bác sỹ ở bệnh viện Bạch Mai sắp sửa đến ngày cưới. “Thế mà cô ấy chết. Người ta mặc quần áo cô dâu cho cô ấy để khâm liệm”, giọng ông Nam như nghẹn lại.

Mọi người sơ tán để tránh cuộc tấn công bằng không quân của Mỹ, còn ông vẫn ở lại Hà Nội. Ban đêm ông thường lên các mái nhà như: Ngân hàng Hà Nội, Bách hóa Tổng hợp để ghi lại những hình ảnh máy bay Mỹ ném bom.“Lúc đó trên nền không gian đen kịt chỉ còn thấy những ánh chớp giật lên giật xuống xé ngang bầu trời của những đợt ném bom khủng khiếp của máy bay Mỹ”, ông Nam nhớ lại.

Ông Nam cho biết, trong cuộc chiến đó, hình ảnh ông ghi lại được nhiều nhất là cuộc tấn công của Mỹ vào trạm xăng Đức Giang, một số cảnh tàn phá ở phố Huế và Khâm Thiên, hay những trận địa pháo 100 của ta ở khu Cao Xà Lá./.

VOV2
vov.vn

Ký ức về tình người trong bom đạn

(VOV) – Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội 40 năm trước, vẫn còn in đậm những câu chuyện đầy cảm xúc, thấm đẫm tình người.

40 năm đã qua, bầu trời thủ đô “xanh xanh thắm”, bình yên. Nhưng trong tâm khảm của những người được sống, được chứng kiến, được hoà mình vào cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuối năm 1972 bảo vệ Hà Nội vẫn còn in đậm những câu chuyện đầy cảm xúc, thấm đẫm tình người.

Tình người nơi sơ tán

Điều đó là điểm tựa tinh thần mạnh mẽ để quân và dân Hà Nội và cả miền Bắc tạo thành một khối đoàn kết vững chắc, vừa chiến đấu, vừa sản xuất, góp phần đưa chiến dịch Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không đi đến thắng lợi vẻ vang.

Biết được ý đồ của Mỹ sẽ tập kích đường không chiến lược vào thủ đô và miền Bắc, nên ngay sau những đợt đầu tiên máy bay B52 ném bom, Hà Nội tổ chức sơ tán hơn 500.000 dân trong tổng số 600.000 dân nội thành. Trong số đó phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em. Chỉ có một số người ở lại Hà Nội trông coi tài sản và tham gia đội tự vệ Hà Nội bảo vệ thủ đô.

Từng đoàn các em học sinh Hà Nội trên đầu đội mũ rơm lần lượt được đưa ra ngoại thành và các tỉnh lân cận sơ tán, nhiều em đi mà không có người thân đi cùng. Ông Vũ Hải Sơn (Ngọc Hà, Hà Nội) lúc bấy giờ mới 12 tuổi cũng đi sơ tán cùng các bạn nhớ lại lúc đó còn rất ngây ngô, nhưng ký ức về những con người đã từng cưu mang hai anh em anh trong những ngày đạn bom ác liệt ấy thì vẫn còn như mới hôm qua.

Các em nhỏ Hà Nội trước căn hầm chữ A tại nơi sơ tán (Ảnh: KT)

“Khi chúng tôi đi sơ tán, vì người lớn rất bận công việc nên hai anh em tôi cứ đi theo dòng người như vậy. Có một người không biết là nông dân hay bộ đội, đến giờ tôi cũng không nhớ được tên, hỏi hai cháu đi với ai? Tôi nói, “chúng cháu cứ đi rồi gia đình hẹn đón phía sau”. Đến tận tối vẫn không có người đón, thực ra là gia đình tôi không đến kịp hoặc cũng có thể không tìm thấy. Người đàn ông ấy đã dẫn anh em tôi về nhà, nấu cơm cho ăn rồi sáng hôm sau dẫn ra đường đón người nhà chúng tôi” – ông Sơn nhớ lại.

Những việc làm giản dị nhưng thẫm đẫm tình người như ông Sơn gặp xuất hiện ở mọi chỗ, mọi nơi ấy đã giúp không chỉ ông Sơn mà biết bao em bé Hà Nội trên đường đi sơ tán cảm thấy được yên ổn giữa lúc từng đàn máy bay địch quần thảo trên bầu trời.

Ở những nơi sơ tán, bà con địa phương và người dân Hà Nội ai nấy đều cố gắng khắc phục khó khăn, chia ngọt sẻ bùi như anh em một nhà. Bà Đoàn Kim Dung (ở phố Lê Duẩn, Hà Nội) nhớ lại: “Về các nơi sơ tán, ở nhờ nhà người dân. Người ta làm gì thì mình làm theo. Họ ra đồng mình cũng ra đồng. Đến mùa màng thì mình hỗ trợ, giúp đỡ nhà chủ. Đi đến đâu mà nói là người Hà Nội về sơ tán là họ đón tiếp, mừng lắm”.

Ông Nguyễn Đức Khánh (Phố Huế, Hà Nội) vẫn còn xúc động khi nhớ về những tình cảm đôn hậu, thắm tình đồng bào của người dân nơi ông về sơ tán: “Trong chiến tranh, tình cảm con người quý mến nhau lắm. Tất cả đều dồn cho chiến tranh, tình cảm bà con hàng xóm như một nhà. Mình ở Hà Nội về sơ tán gia đình nhà người ta, người ta sẵn sàng nhường hết cả nhà cho mình để ở. Chỗ nào nằm tốt nhất người ta nhường hết”.

Tất cả hướng về Hà Nội qua đài phát thanh

Một Hà Nội hiên ngang, mang trong mình khí phách ngàn năm vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất. Các hoạt động bình thường trong nội thành vẫn diễn ra sau các trận không kích của đế quốc Mỹ. Cứ mỗi lần thủ đô bị đánh phá là lòng người đi sơ tán lại lo lắng. Mỗi lần Đài TNVN đưa tin về các khu phố bị dội bom là lòng người đi sơ tán cứ quặn lại lo cho người thân của mình ở lại nội thành làm việc, lo cho các chiến sĩ bộ đội và lực lượng tự vệ đang bảo vệ thủ đô.

Bà Đoàn Kim Dung bùi ngùi kể: “Nhìn thấy bom dội xuống từng tràng một, nhìn về phía Hà Nội mà nước mắt chúng tôi cứ trào ra. Lo sợ, không biết là ai sống ai chết, về còn gặp nhau nữa không đây? Những ngày về gặp nhau hỏi thăm ai còn ai mất, thương nhau lắm”.

Tình người với người không chỉ thể hiện bởi những người ruột rà, bà con hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau, mà ngay cả với những chiến sĩ đang chiến đấu ngoài mặt trận trên khắp mọi miền Tổ quốc cũng luôn hướng về Hà Nội, theo sát diễn biến của Hà Nội từng ngày từng giờ qua làn sóng phát thanh.

Các chiến sĩ  ngoài mặt trận cũng dõi theo từng phút, từng giây về trận chiến đấu bảo vệ Hà Nội; về những câu chuyện đậm chất nhân văn; về sự quên mình dũng cảm hy sinh của quân dân thủ đô. Điều đó càng làm tăng thêm niềm tin cho họ trong cuộc chiến đấu giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Họa sĩ – nhà thơ Nguyễn Trần Thái đang chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên thời điểm ấy rưng rưng xúc động nhớ lại: “Qua chiếc radio, chúng tôi nghe được B52 rải thảm ở Hà Nội ra sao cũng như tinh thần chiến đấu của người Hà Nội. Tôi được nghe trong chiến dịch Khâm Thiên, hình ảnh những anh bộ đội bế những đứa trẻ xuống hầm trú ẩn, rồi có những con người sẵn sàng hy sinh hết thảy để cứu vớt những người khác và quên cả thân mình. Trong lúc ác liệt của bom đạn như thế, tính nhân văn của người Hà Nội thời bấy giờ đẹp lắm, rất tuyệt vời”.

Đối với những người làm ở Đài TNVN, không bao giờ có thể quên được tình cảm của người dân Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Nghe tin dữ Đài phát sóng Mễ Trì bị huỷ diệt, khu tập thể của cán bộ, nhân viên Đài tại 128C  Đại La bị tàn phá, bà con Gia Lộc đã dựng ngay 20 ngôi nhà tranh tre nứa lá để những người mất nhà cửa ở tạm thời.

Những câu chuyện cảm động về tình người trong chiến tranh chắc hẳn không chỉ có vậy. Mà ở đâu đó, với một ai đó vẫn còn những câu chuyện chưa từng được chia sẻ.

Tất cả giờ đã trở thành những kí ức đẹp đẽ và đáng trân trọng của những con người từng đi qua chiến tranh, đã từng chứng kiến chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cách đây 40 năm. Tình đồng bào, tình ruột thịt, tình yêu nước, lòng căm thù giặc và ý chí chiến đấu quật cường đã góp phần làm nên những chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta./.

Mỹ Ngọc/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Tuần phim kỷ niệm 40 năm Hà Nội chiến thắng B52

(VOV) -Từ ngày 12-18/12, các bộ phim truyện và phim tài liệu về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” sẽ diễn ra trong cả nước.

Các phim được chọn chiếu trong tuần phim gồm: Hà Nội 12 ngày đêm (Phim truyện nhựa) do Công ty TNHH Một thành viên Hãng phim Truyện Việt Nam sản xuất; “Ký ức một thời” (Phim tài liệu nhựa) do Công ty TNHH Một thành viên Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất; “Chuyện ở một vùng non cao” (Phim tài liệu) đo Công ty TNHH Một thành viên Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương sản xuất; “Hà Nội tháng chạp năm ấy”, “Tầm nhìn trên cao”,  “Hà Nội bản hung ca”. “Năm 1972 lịch sử” (Phim tài liệu) do Điện ảnh Quân đội nhân dân sản xuất.

Một cảnh trong phim “Hà Nội 12 ngày đêm”

Tuần phim do Cục Điện ảnh (Bộ VHTTDL) chủ trì, phối hợp với Công ty TNHH Một thành viên FAFIM Việt Nam, Công ty TNHH Một thành viên Hãng phim Truyện Việt Nam, Công ty TNHH Một thành viên Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương, Cục Tuyên huấn – Tổng cục Chính trị, Điện ảnh Quân đội nhân dân tổ chức.

Lễ khai mạc Tuần phim kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972-12/2012) sẽ diễn ra vào 19h ngày 12/12 tại Trung tâm Chiếu phim quốc gia (87 Láng Hạ – Ba Đình – Hà Nội)./.

PV/VOV online
vov.vn

Tưởng niệm liệt sĩ, đồng bào trong đợt thảm sát bom B52 năm 1972

Hà Nội:

Trong Chúc văn tưởng niệm, đại diện Thành hội Phật giáo Hà Nội khẳng định công lao của các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì nước và cầu nguyện cho hương linh của họ và đồng bào không may tử nạn được siêu sinh

Chiều nay (25/12), tại chùa Bà Đá (quận Hoàn Kiếm), Ủy ban Hòa bình và Thành hội Phật giáo Hà Nội phối hợp tổ chức lễ cầu siêu, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh bảo vệ Tổ quốc trong các cuộc kháng chiến và đồng bào thiệt mạng trong đợt thảm sát bom B52 của không quân Mỹ tháng 12/1972, nhân kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội (22/12) và Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không 12 ngày đêm bảo vệ bầu trời Hà Nội (tháng 12/1972).

Trong Chúc văn tưởng niệm, đại diện Thành hội Phật giáo Hà Nội đã khẳng định công lao của các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì nước và cầu nguyện cho hương linh của họ và đồng bào tử nạn vì bom B52 chóng được siêu sinh; cầu cho mưa hòa gió thuận, nước thịnh dân an, thế giới hòa bình, nhân dân lạc nghiệp, Thủ đô ngàn năm văn hiến, Thăng Long – Hà Nội muôn thuở vững bền. Sau lễ cầu siêu, các đại biểu và tăng ni Phật tử Hà Nội tham dự lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và nạn nhân bom B52 tại Hà Nội.

Trong đêm 26/12/1972, phố Khâm Thiên, Hà Nội bị máy bay B52 của Mỹ hủy diệt, gần 2.000 ngôi nhà bị sập, hàng trăm gia đình phải chịu cảnh chia lìa…/.

TTXVN
vov.vn

Ai là người đầu tiên bắn rơi máy bay B52?

(VOV) -Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là chiến tích không thể nào quên của chiến sĩ phi công Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F 111 và 42 máy bay chiến thuật khác, đập tan âm mưu chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải chấp nhận thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Thắng lợi của quân dân ta trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, là cuộc đọ sức quyết liệt nhất từ trước tới nay. Nghệ thuật tác chiến phòng không hiệp đồng chiến đấu đã chứng tỏ sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không, trong đó không quân nhân dân Việt Nam…

Ngày 27/12, sau 10 ngày phá hoại miền Bắc, chiếc B52 đầu tiên của Mỹ đã bị không quân ta bắn rơi. Người bắn rơi chiếc máy bay này là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Tuân – huyền thoại của không quân Việt Nam.

MIG – 21 số hiệu 5121, chiếc máy bay này do anh hùng Phạm Tuân lái (Ảnh: giaoduc)

Ngay trong đêm 27/12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã điện khen bộ đội không quân lập công xuất sắc, bắn rơi máy bay chiến lược B52 của Mỹ.

Ngày 28/12, Thượng uý phi công Vũ Xuân Thiều lại “hạ” được một chiếc B52 nữa. Tuy nhiên, anh đã anh dũng hy sinh khi lao thẳng chiếc MIG của mình vào B52.

Vũ Xuân Thiều nói trước khi xuất kích: “Bắn mà B52 địch không rơi tại chỗ, tôi sẽ xin lao thẳng vào nó”.  Anh đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Một đường phố ở Hà Nội cũng đã được đặt theo tên anh: Phố Vũ Xuân Thiều.

Đó là những chiến tích không thể nào quên trong rất nhiều chiến công của các chiến sĩ phi công Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tính đến ngày chiếc B52 cuối cùng của Đế quốc Mỹ bị bắn hạ trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, quân chủng không quân của ta mới chỉ thành lập được vỏn vẹn 8 năm.

Nhưng với sự dũng cảm phi thường, sự mưu trí và quyết tâm bảo vệ bầu trời Tổ quốc, những chiến sĩ phi công của chúng ta đã lập nên những chiến công vang danh sử sách, là nỗi khiếp sợ của không quân Hoa Kỳ – lực lượng không quân hiện đại bậc nhất thế giới.

Ngày 3/2/1964 là ngày Trung đoàn không quân 921 – sau này được gọi với tên “Trung đoàn không quân Sao Đỏ” được thành lập.

Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan – một trong những phi công thế hệ đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam vẫn nhớ như in những hình ảnh ngày đầu thành lập phi đội. Nhìn bức ảnh kỷ niệm những ngày đầu thành lập phi đội, Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan bồi hồi nhớ lại: “Bức ảnh kia là phi đội của tôi, là phi đội đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ trên miền Bắc. Tôi là người đầu tiên hạ gục máy bay Mỹ”.

Cùng với trận đánh oanh liệt ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 28/4/1975, với Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan, chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” là hai kỷ niệm hào hùng không thể nào quên của ông và đồng đội.

Tuy chỉ là một thợ máy, nhưng với ông Hoàng Văn Thảo, những kỷ niệm thời trai trẻ với Trung đoàn Sao Đỏ, với từng chiếc máy bay, với từng người phi công trong thời điểm giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc vẫn in đậm trong tâm trí.

Khi đó ông và các đồng đội căng hết sức mình để đảm bảo bất kỳ chiếc máy bay nào cũng sẵn sàng chiến đấu. Ông vẫn luôn tin tưởng rằng nhân dân Việt Nam, quân đội nhân dân Việt Nam, không quân Việt Nam sẽ chiến thắng bằng sức mạnh ý chí, sự đoàn kết dân tộc.

Ngày nay, tiếp nối truyền thống của những phi công thế hệ đầu tiên, những phi công “Quyết thắng” vẫn tiếp tục viết lên những trang sử mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Thượng tá Nguyễn Văn Lượng – Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân 921 (cũng là tên gọi của Trung đoàn không quân Sao Đỏ) nói: “Tiếp nối truyền thống của các lớp cha anh đi trước, Trung đoàn quyết tâm cố gắng vượt qua khó khăn luôn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Nhiều năm liền trung đoàn đạt đơn vị quyết thắng, đảng bộ trong sạch vững mạnh. Là lớp cán bộ phi công thế hệ sau, chúng tôi luôn trân trọng và quyết tâm tiếp bước cha anh đi trước khắc phục mọi khó khăn và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao”./.

Quang Hùng/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Trung tướng Phạm Tuân kể chuyện bắn B52

(VOV) -Trung tướng Phạm Tuân cho biết, lúc nhìn thấy B52 ông không khỏi hồi hộp, lo lắng.

Ngày 10/12, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức tọa đàm trực tuyến kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” (12/1972 – 12/2012). Những cựu chiến binh từng tham chiến trong đã có buổi giao lưu trao đổi ôn lại trận đánh huy hoàng, tại nên dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc.

Theo Trung tướng Phạm Tuân: Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã hứng chịu nhiều thất bại, 3 đời tổng thống Mỹ bị đổ, những chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, Chiến tranh cục bộ và Chiến tranh đặc biệt đều đã bị phá sản.

Theo Trung tướng Phạm Tuân tại buổi tọa đàm (Ảnh: Chinhphu.vn)

Trước nguy cơ thất bại thảm hại, Mỹ chỉ còn con át chủ bài là B52. Chúng dùng B52 để đánh Hà Nội hòng ngăn chặn sự chi viện của ta cho miền Nam và uy hiếp nhân dân ta cũng như giành lợi thế trên bàn đàm phán ở Paris

B52 là máy bay ném bom chiến lược tầm xa, cự ly bay hàng chục ngàn km, mang tới 30 tấn bom, xen kẽ bom tấn, bom tạ, bom bi, một tốp 3 chiếc B52 có thể san bằng diện tích 2km2. Vì vậy, B52 được dùng để ném bom chiến lược các mục tiêu diện rộng sân bay, thành phố, trung tâm chính trị, bến cảng.

Bom tấn phá hầm ngầm, bom tạ phá hầm trú ẩm, bom bi sát thương người khi không còn chỗ trú ẩn. Ngoài ra, B52 còn sử dụng cả tên lửa, đồng thời, B52 lại được bảo vệ bởi các máy bay tiêm kích đánh vào trận địa tên lửa, ném bom các sân bay không cho tiêm kích của ta cất cánh.

Nhớ lại thời khắc chiến đấu trên bầu trời Hà Nội với “Pháo đài bay B52” Trung tướng Phạm Tuân cho biết, lúc đó ông không khỏi hồi hộp, lo lắng.

Trung tướng Phạm Tuân cho biết, ông đã gặp B52, xung quanh hàng chục chiếc F4. “Đến khi phóng được quả tên lửa đi mới thở phào nhẹ nhõm và lúc ấy thì mặc kệ F4 xung quanh, không còn lo lắng gì nữa”, Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại.

Trong 12 ngày đêm, Mỹ sử dụng 193 B52 và hơn 1.000 máy bay chiến thuật. Trung bình mỗi đêm, Mỹ đánh vào Hà Nội 50-70 lượt B52, cao điểm lên đến 100 lượt. Ngoài ra, mỗi đêm trung bình 300 lượt, cao điểm 450 máy bay chiến thuật đánh phá để yểm trợ.

Với tầng tầng lớp lớp B52 cùng với hàng loạt máy bay yểm trợ, nhưng quân đội Việt Nam cũng đã bắn hạ được “Pháo đài bay” bất khả xâm phạm này. Theo Trung tướng Phạm Tuân, chiến thắng đấy là nhờ sự sáng tạo của bộ đội ta.

Nga sản xuất máy bay và dạy chúng ta cách bay nhưng đối diện với thực tế bị nhiễu bởi sóng và mây nên việc xác đinh vị trí của B52 rất khó khăn. Bởi vậy khi lên trời, phi công phải nhanh chóng đi vào điều kiện thuận lợi. Chúng ta phải phán đoán F4 thường chặn ở đâu, tầm cao nào để tránh.

“Trận đánh B52 của tôi rất nhanh, tiếp cận B52 chưa đầy 1 phút. Khi tiếp cận đằng sau B52 với tốc độ rất cao, 1.500 km/h so với tốc độ của B52 là 900 km/h. Lúc đó, mệnh lệnh là không đánh F4, chúng ta vượt qua nó, dành tên lửa để đánh B52. Khi tên lửa bắn F4, chúng tôi tranh thủ để vượt qua, rồi lựa chọn hướng vào tiếp cận B52. Tất cả tạo nên điều kiện thuận lợi nhất đánh B52. Tôi bắn B52 xong rồi mà F4 vẫn ở đằng sau nhưng không làm gì được”, Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại.

Bên cạnh đó, Trung tướng Phạm Tuân cho biết, để thực hiện việc đối không với “pháo đài bay” chúng ta cất cánh ở sân bay địch không ngờ tới để không bị chặn ở đầu đường băng. “Tôi cất cánh đêm 17/12, anh Thiều đêm 18/12, mang máy bay về sân bay Cẩm Thủy, không cất cánh ở Hà Nội. Đấy là cách để chúng ta tránh địch chặn đánh ở ngay sân bay”, Trung tướng Phạm Tuân cho biết.

Theo Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu: Mỹ có nhiều trang bị vũ khí hiện đại, kể cả B52, trong khi nền kinh tế chúng ta còn thấp kém, song chúng ta đã đánh thắng không quân Mỹ, kể cả súng trường còn bắn rơi máy bay các loại.

Vì sao chúng ta ta chiến thắng? Vì dưới sự lãnh đạo của Đảng, với quyết tâm sắt đá đánh Mỹ cho đến thắng lợi hoàn toàn. Bác Hồ nói cuộc kháng chiến có thể kéo dài 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa, nhưng chúng ta sẽ chiến thắng và khi thắng lợi sẽ xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn./.

Việt Đức/VOV online
vov.vn

Tọa đàm trực tuyến “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

(VOV) – Buổi tọa đàm với sự tham dự của những người lính từng trực tiếp tham gia chiến dịch 12 ngày đêm.

Vào lúc 9 giờ sáng nay (10/12), Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức tọa đàm trực tuyến kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” (12/1972 – 12/2012).

Buổi tọa đàm góp phần ôn lại truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc, khơi dậy niềm tự hào để thế hệ trẻ tiếp tục phát huy truyền thống dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong thời gian qua, nhiều hội thảo, triển lãm, sự kiện kỷ niệm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã được tổ chức. Buổi tọa đàm với sự tham dự của những người lính từng trực tiếp tham gia chiến dịch 12 ngày đêm.

Các vị khách mời của chương trình: Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Phó Chính ủy Quân chủng Phòng Không – Không quân, Trung tướng Phạm Tuân – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên phi công Đoàn Không quân Sao Đỏ; Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 – Sư đoàn Phòng không Hà Nội; Đại tá Nghiêm Đình Tích,  nguyên Đài trưởng đài Radaz P.35, Trung đoàn 291, Binh chủng Radaz.

Quý bạn đọc quan tâm theo dõi cuộc Tọa đàm gửi câu hỏi về địa chỉ: doithoai@chinhphu.vn./.

Theo Chinhphu.vn
vov.vn

Máy bay B52 bị khuất phục trên bầu trời Hà Nội

“Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không”:

(VOV) – Bắn rơi B52 của Mỹ là một thành công của việc chủ động nắm tình hình, lên kế hoạch chính xác, kịp thời để chiến đấu.

Trong trận chiến 12 ngày đêm “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, quân ta đã hạ gục 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52. Dám đánh, biết cách đánh và đánh thắng vũ khí tối tân B52 của Mỹ trong cuộc tập kích chiến lược trên bầu trời Hà Nội đã để lại mốc son chói lọi – một kỳ tích đáng tự hào, thể hiện tầm cao chiến thuật của quân đội Việt Nam.

Dù tóc đã bạc, bước đi đã không còn vững, nhưng khi nhắc tới chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đôi mắt người lính già ấy lại sáng lên, sôi nổi kể lại chiến công bắn rơi B52 của kíp trực đêm ngày 18/12/1972 mà ông trực tiếp tham gia. Ông là Thiếu tướng Nguyễn Văn Linh, nguyên Cục phó Cục tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu, là Phó trưởng ban trong kíp trực đêm mở màn trong trận quyết đấu với máy bay B52 của Mỹ.

Ông kể: lúc 20 giờ 18 phút ngày 18/12/1972, khi kíp trực bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên, mở màn cho những chiến thắng tiếp theo, tất cả cán bộ, chiến sĩ ôm chầm lấy nhau, sung sướng vô cùng, bởi chúng ta đã biết cách để bắn rơi máy bay B52, bộ đội ta rút kinh nghiệm thì nhất định sẽ chiến thắng. Cả đêm hôm ấy, quân ta đã bắn rơi 3 chiếc B52 tại chỗ, 1 ở Phủ Lỗ – Đông Anh, 1 chiếc ở Thanh Oai, 1 chiếc ở biên giới Lào – Thái, bắt được 7 tên giặc lái.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Linh, bắn rơi B52 của Mỹ là một thành công của việc chủ động nắm tình hình, lên kế hoạch chính xác, kịp thời để chiến đấu: “Ta có cái tài là có nghệ thuật giành thế chủ động, không để bị bất ngờ, thể hiện là trong sở chỉ huy của bộ tổng tham mưu tôi nhớ rất rõ là ngày 17/12/72 thì chúng tôi chuyển lệnh cho các lực lượng vũ trang miền bắc là vào sẵn sang chiến đấu cao nhất. Trưa ngày 18 là đã có dấu hiệu biết B52 đến đánh Hà Nội, Hải Phòng, ta biết trước được 4 tiếng đồng hồ, tin này của Cục Quân báo, cục 2 của Bộ Tổng tham mưu, anh em giải mã được điện của không quân chiến lược, không quân chiến thuật, hải quân.. báo về sở chỉ huy.”

Xác máy bay B52 bị bắn rơi tại làng Ngọc Hà, Hà Nội

Chiến đấu và chiến thắng máy bay B52 có sự đóng góp công sức, tài năng, trí tuệ của nhiều lực lượng, trong đó lực lượng không quân làm nòng cốt. Trung tướng Nguyễn Đức Soát, Nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam kể lại: Trong dịp 12 ngày đêm ấy, ông là đại đội trưởng đại đội không quân, đại đội 3 của trung đoàn không quân 957 lái máy bay mic 21.

Bên cạnh việc xuất kích trong 2 trận đánh ngày 19 và 22, ông và đồng đội còn có nhiệm vụ bằng mọi giá bảo vệ tên lửa là vũ khí quân ta dùng để bắn rơi B52. Trung tướng Nguyễn Đức Soát tâm niệm: “Bài toán liệu mình có bắn rơi được B52 hay không vẫn là một dấu hỏi lớn, với điều kiện như vậy mà chúng ta cũng không sợ địch. Bài học lớn nhất là từ cấp lãnh đạo cao nhất là Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, bộ Tư lệnh phòng không không quân đã truyền đến cán bộ chiến sỹ là dám đánh quyết thắng. Thứ 2 là sau mỗi trận đánh thì rút ra được kinh nghiệm, tìm ra được âm mưu của địch, tìm ra biện pháp đánh tốt nhất của mình, phát huy trí tuệ tập thể từ người chiến sỹ trực tiếp ở trận địa tên lửa, sỹ quan lái máy bay, sỹ quan dẫn đường, chỉ huy. Thứ 3 là không có sức mạnh của nhân dân thì không làm được”.

Theo Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên trưởng ban Lịch sử – Kỹ thuật, Quân chủng Phòng không Không quân, “vạch nhiễu tìm thù” là một trong những nhân tố góp phần làm nên thắng lợi của trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972. Lúc đó, địch tập trung các nguồn nhiễu với mục đích là che giấu đội hình vào đánh Hà Nội, đặc biệt là các loại máy bay chiến thuật và máy bay B52 đã làm chúng ta rất khó khăn trong việc xác định mục tiêu. Từ Nghệ An, ông và đồng đội đã phát hiện và đo dải nhiễu rộng hàng trăm km2. Với kinh nghiệm chống nhiễu, đánh máy bay địch từ năm 1967 và nghiên cứu chống nhiễu từ năm 1969, quân ta đã xây dựng các phương án, phát hiện và hiệp đồng trong chiến dịch, sẵn sàng đánh B52.

Đại tá Nghiêm Đình Tích nhấn mạnh: “Chiến thắng 12 ngày đêm năm 1972 của quân ta đã khiến cho 40 năm sau, các nhà lịch sử, nhà quân sự trên thế giới phải dày công nghiên cứu để xem là vì sao B52 bị bắn rơi từ độ cao hơn 10.000 m như những chiếc máy bay chiến thuật bổ nhào: Người ta vẫn chưa hiểu nổi là tại sao bộ đội phòng không, đặc biệt là bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam lại giỏi như vậy. Chúng ta biết rằng sau cuộc chiến tranh Việt Nam thì còn có các cuộc chiến tranh ở Iraq, Nam Tư… Các nước ấycó số lượng vũ khí nhiều và hiện đại hơn ta rất nhiều lần nhưng không một nước nào bắn rơi được chiếc B52 nào. Điều đó càng chứng tỏ tố chất đặc biệt của người Việt Nam, nghệ thuật quân sự sáng tạo độc đáo của người Việt Nam có một không hai trên thế giới. Từ đó, vị thế quân sự của Việt Nam trên trường quốc tế được mở rộng và nâng cao”.

Máy bay B52 là 1 trong 3 vũ khí tiến công chiến lược lợi hại nhất của Mỹ. 40 năm đã trôi qua, những hình ảnh về máy bay B52 của Mỹ bốc cháy trên bầu trời Hà Nội, những mảnh vỡ của B52 vẫn còn đó với thời gian. Chứng tích của lịch sử ấy cho thấy sự khốc liệt của cuộc chiến tranh, nhưng cũng vô cùng oanh liệt, hào hùng của quân và dân Việt Nam trong cuộc đối đầu với thứ vũ khí quân sự tối tân của Mỹ. Chúng ta tự hào rằng, không phải ở quốc gia nào, dân tộc nào cũng có được những chiến công hiển hách như vậy./.

Lưu Huyền- Minh Châm/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Cựu chuyên gia quân sự Nga nói về 12 ngày đêm lịch sử

(VOV) – Thiếu tướng Pozdeev: Tôi khâm phục những người dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng kẻ thù…

Có mặt tại Việt Nam từ năm 1970 đến năm 1971 với nhiệm vụ Phó trưởng đoàn chuyên gia phòng không, phụ trách công tác chính trị trong đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, Thiếu tướng Pozdeev đã từng biết, từng chứng kiến khá nhiều điều mà đến bây giờ ông vẫn không thể quên.

Trò chuyện với phóng viên Đài TNVN thường trú tại LB Nga, ông Pozdeev gửi lời chúc mừng chân thành tới nhân dân Việt Nam nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không. Ông cũng bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới những người bạn Việt Nam, những người cựu chiến binh, những người dân bình thường, những người từng trồng lúa, từng cầm cuốc, rồi cầm súng để đánh đuổi đế quốc xâm lược tàn bạo nhất, Đế quốc Mỹ.

Thiếu tướng Pozdeev tại văn phòng

Ông lý giải: “Tôi không bao giờ được quên những làng quê bình dị đã bị tàn phá; không biết bao nhiêu triệu gia đình Việt Nam đã có người thân thiệt mạng, hy sinh trong cuộc chiến. Không thể kể hết bao nhiêu nhà máy, cung đường, làng mạc, khu dân cư… đã bị phá hủy.

Tôi là người đã chứng kiến tận mắt những điều đó, tôi không thể tha thứ, nhưng không phải là đối với nhân dân Mỹ mà là những thế lực đã điều lính Mỹ tới gây chiến tranh ở Việt Nam, tới một vùng đất cách xa họ hàng vài nghìn cây số. Những người từng chứng kiến những điều đó như chúng tôi đã không thể sống bình yên, dù đã 40 năm trôi qua.

Tôi đã chứng kiến ở miền Trung Việt Nam có bao em nhỏ phải chịu ảnh hưởng thế nào của chiến tranh. Tôi đã từng nhìn thấy những cụ già sống nghèo khổ, đói khát để nhường tất cả cho tiền tuyến, cho chiến thắng cuối cùng. Và khi đánh giá lại mới thấy chiến thắng ấy mới vĩ đại, không thể so sánh nổi với bất cứ điều gì.

Khi đế quốc Mỹ sử dụng các loại phương tiện chiến tranh hết sức hiện đại, thì Việt Nam chỉ sử dụng những kinh nghiệm của quân đội Xô-viết, kinh nghiệm từ những chuyên gia quân sự và các bạn đã đập tan được cuộc tấn công của kẻ thù. Kẻ thù quyết tâm khuất phục nhân dân Việt Nam bằng máy bay B-52, đã ném bom hủy diệt xuống các vùng dân cư yên lành – đó là sự tàn bạo vô chừng.

Thiếu tướng Pozdeev (ngoài cùng bên trái) và các chuyên gia Liên Xô tại Việt Nam

Là một cựu chiến binh, tôi cảm thấy thật hổ thẹn, thấy hết sức tức giận vì có những kẻ đi gây chiến như thế. Cũng chính bởi những điều đó mà tôi phải nói lên lời cảm ơn đối với những người dân bình thường Việt Nam, đối với những người lính Việt Nam, xin bày tỏ niềm khâm phục đối với tất cả những người phụ nữ, những người đàn ông, những thanh niên nam nữ, đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, bảo vệ Tổ quốc mình, bảo vệ đất nước của Hồ Chí Minh”.

Thiếu tướng Pozdeev cũng không quên chúc mừng chính những đồng đội, đồng chí của mình, những người cựu chiến binh, các chuyên gia Xô-viết đã góp phần xứng đáng vào chiến thắng này bằng những việc làm cụ thể, bằng công sức của mình.

Nói về những giá trị lịch sử rất đáng được trân trọng, Thiếu tướng Pozdeev nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải luôn ghi nhớ lịch sử. Không có quá khứ thì không thể có hiện tại và càng không có tương lai. Bây giờ, có không ít giới trẻ là tri thức vẫn cố tình quên đi những điều tốt đẹp ấy. Quên quá khứ mà chỉ chú ý đến việc lãnh đạo trong hiện tại là không thể. Nhân dân Việt Nam đã trải qua thử thách bằng lửa và đó là thử thách nặng nề nhất, gian khổ nhất. Nhưng một dân tộc anh hùng đã làm được điều thật đáng tự hào. Họ yêu Tổ quốc, yêu dân tộc, hiểu điều mình làm và chiến thắng kẻ thù xâm lược.

Tôi có mặt ở Việt Nam từ năm 1970 đến năm 1971. Cuộc chiến đấu 12 ngày đêm diễn ra muộn hơn thời điểm tôi ở Việt Nam. Ấn tượng của tôi còn rất rõ về những cuộc gặp mặt với các đồng nghiệp Việt Nam. Tôi đã gặp Anh hùng phi công Phạm Tuân, người đầu tiên bắn rơi máy bay B-52. Sau này, khi Phạm Tuân sang Liên Xô học tập tôi đã từng đi đón ông ở Sân bay Nga, từng có cuộc gặp gỡ thân mật tại trụ sở Hội Hữu nghị Nga – Việt”.

Ông bồi hồi kể lại những kỷ niệm ông còn nhớ, gắn với từng địa danh, từng con người. Ông cho xem những bức ảnh vẫn còn giữ được đến ngày hôm nay, trong đó ông có mặt bên những người đồng chí Việt Nam, trên những miền quê Việt Nam. Tất cả trong ông vẫn còn rất đậm nét, rất hào sảng.

Cuối cùng ông khẳng định: “Có thể nói Việt Nam là một dân tộc rất anh hùng, kiên gan, bền bỉ, rất quả quyết và kiên cường. Những cây tre Việt Nam là biểu tượng của sự kiên cường, của sự dẻo dai của Việt Nam. Đó là biểu tượng của con người, những con người như vậy thì vũ khí không thể khuất phục được họ, những con người chỉ biết chiến thắng.

Lãnh tụ Lê-nin từng nói, một dân tộc đã tuyên bố tự do thì không thể tước đi của họ tự do. Khi nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố về một nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thì tất cả mọi người, dù ở tiền tuyến hay hậu phương, không phân biệt là bộ đội hay dân thường, tất cả đều đồng tâm bảo vệ Tổ quốc mình.

Tôi cũng xin nhắc lại là chính bởi cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam mà càng không thể tha thứ cho những hành động bạo tàn của đế quốc Mỹ. Là một cựu chiến binh, tôi không bao giờ có thể tha thứ cho hành động của những kẻ xâm lược Mỹ, cũng như tôi đã từng không thể tha thứ cho phát xít Đức, những kẻ đã gây bao đau thương cho nhân dân chúng tôi.

Và một điều cần phải rút ra là chúng ta phải ghi nhớ trong đầu những điều này để nó đừng lặp lại. Trong tim chúng tôi luôn có những điều tốt đẹp về dân tộc Việt Nam. Bởi thế, là một công dân Liên Xô, công dân Nga ngày nay, tôi nghĩ rằng, đó là những điều để làm nên mối gắn kết anh em giữa chúng ta, mối gắn kết từ lịch sử, từ sự gần gũi với nhau và chúng ta cần duy trì mối quan hệ ấy chứ không được làm khác. Chúng ta cần tiếp tục củng cố và nhân lên nhiều hơn nữa mối quan hệ ấy”.

Thiếu tướng Pozdeev năm nay đã ngoài 80 tuổi. Ông đã nghỉ hưu từ lâu, nhưng không cho phép mình ngừng hoạt động, ông tiếp tục tham gia công tác trong Hội Hữu nghị Xô-Việt, rồi sau này là Nga – Việt.

Hiện ông là Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga – Việt và hàng ngày ông vẫn đến văn phòng trụ sở Hội đặt tại Học viện Kinh tế và Pháp luật Moscow. Đến để như được sống với một miền ký ức thật sâu đậm, đầy nhân văn./.

Điệp Anh/VOV-Moscow
vov.vn

Điện Biên Phủ trên không: Giáng sinh kinh hoàng

(VOV) -Không giữ lời hứa, đúng dịp Giáng sinh, pháo đài bay Mỹ xuất kích 116 lần, đánh phá dữ dội miền Bắc, gây bao tang tóc đau thương.

Anh Quế Lâm ơi, Mỹ ngừng ném bom Hà Nội rồi!

Tôi vừa chạy từ nhà hầm ven suối lên nhà hầm lưng chừng núi Mang Chang vừa reo to mà tai áp vào chiếc đài bán dẫn “hai pin trung”, sợ bản tin hết mất.

Từ ngày Mỹ mở chiến dịch B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh phụ cận, đến nay anh chị em nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà đài chúng tôi, nói gọn lại là nhà tuyên huấn như ngồi trên đống lửa.

Nhà hầm của tôi, anh Quế Lâm, anh Nguyễn Đắc Xuân, Nhật Anh là trung tâm tin tức, vì mỗi chúng tôi có một chiếc đài bán dẫn National.

Nghe hung tin B52 hủy diệt đài phát sóng Mễ Trì, phá nát khu điện đài Bạch Mai, các anh ôm chầm lấy tôi. Không phải các anh lo cho tôi mà là chia sẻ đau thương mất mát từ Hà Nội.

Bệnh viện Bạch Mai bị tàn phá

Ngày hôm sau nữa, anh Quế Lâm giục tôi lên trung tâm điện đài, cách cơ quan gần cả ngày đường đi bộ, xem có tin tức gì của vợ con không. Tôi bảo sáng mai đi sớm, anh nghiêm sắc mặt: “Cậu gan lỳ thật đấy”.

Hơn tám giờ tối, tôi ghé sát đài vào tai Quế Lâm, anh gằn giọng: “Lúc này mà cậu vẫn mê ca hát được à? Bài hát những lá thư viết dở thì ăn nhập gì?” Tôi giải thích cho anh hay: Lúc chia tay, vợ chồng tôi có cam kết với nhau, khi chương trình phát thanh phụ nữ của Đài TNVN phát bài hát “Gửi anh lá thư viết dở” là tình hình bình yên. Anh vò đầu tôi, xởi lời: “Các cậu ghê thật, dám chiếm dụng làn sóng đài quốc gia cho việc riêng tư nhé”.

Nhân lễ Noel, giặc Mỹ tỏ ra “thiện chí”. Đêm 25/12/1972 tuyên bố ngưng ném bom miền Bắc.

Vậy là Hà Nội dễ thở hơn sau 7 ngày chiến đấu quyết liệt với pháo đài bay Hoa kỳ.

Tôi kể cho anh Quế Lâm nghe Noel năm 1971, chúng tôi mới cưới nhau 9 tháng. Thay vì tuần trăng mật, đêm Giáng sinh chúng tôi dắt tay nhau đến sân Nhà thờ lớn Hà Nội.

Người ta chen lấn nhau, xô đẩy nhau để mong đến gần Chúa hơn. Và chúng tôi lạc nhau, mãi gần sáng mới “đoàn tụ” trong căn phòng nhà cấp 4 rộng chừng 8m2 ở 128C Đại La.

Thời gian lặng yên giữa hai trận đánh chỉ vẻn vẹn ngày đêm.

Ngày 26/12/1972, pháo đài bay Mỹ xuất kích 116 lần, đánh phá dữ dội Hà Nội, Hải Phòng.

Những vệt bom hủy diệt chạy dài khu vực Nội Bài, Đông Anh, Cổ Loa, cảng Sông Hồng, Thượng Đình, sân bay Bạch Mai, Giáp Bát, đặc biệt là Khâm Thiên.

Vệt bom rải thảm do B52 ụp xuống gần hết chiều dài đường phố có mật độ dân cư đông vào loại nhất, nhì Hà Nội.

287 người chết, 290 người bị thương. Phần đông là cụ già, em nhỏ, phụ nữ mang thai chưa kịp sơ tán.

Vậy là cả 600 người chứ ít đâu. Những sinh linh nhỏ nhoi còn trong bụng mẹ, chết tức tưởi theo mẹ đâu có biết đại họa giáng xuống giữa đêm “Chúa giáng sinh”. Hàng nghìn ngôi nhà, trường học, đền chùa, trạm xá, nhà hộ sinh bỗng chốc trở thành đống đổ nát.

Tôi thẩn thờ nhìn anh Quế Lâm mà mắt cay xè.

Chúng tôi áp tai vào chiếc đài bán dẫn nghe chị phát thanh viên tiếng nói Việt Nam nghẹn ngào đọc tin Khâm Thiên.

Tuần trước, tôi nghe đài BBC đưa tin lạnh lùng: “Tổng thống Ních Xơn tuyên bố, cho không quân Mỹ tập kích chiến lược trên không vào Bắc Việt Nam bằng B52 vào ngày 17/12/1972 (theo giờ Hoa Kỳ). Giờ Hà Nội là 18/12/1972”.

Vậy là nước Mỹ cách Khâm Thiên, Bạch Mai, Mễ Trì cả nửa vòng trái đất. Phải chăng Khâm Thiên, ngót 600 mạng người đang sống bình yên với khát vọng hòa bình phải chết tức tưởi vì đe dọa an ninh Hoa Kỳ?

Quả là nghịch lý đến điên đảo.

Lầu Năm góc rêu rao là B52 chỉ nhằm mục tiêu quân sự.

Bệnh viện Bạch Mai, trung tâm nghiên cứu y học và chữa bệnh lớn nhất miền Bắc, có số giường bệnh nhiều nhất bị bom Mỹ cày xới 3 lần, 30 bác sỹ, bệnh nhân, sinh viên thực tập thiệt mạng là mục tiêu quân sự ư?

Bạn tôi, quê Quảng Bình, học Y6 thực tập ở bệnh viện Bạch Mai đang cấp cứu cho bệnh nhân, những mong cứu sống một con người khỏi tay thần chết thì cả hai bị chôn vùi dưới bom Mỹ.

Bạn tôi mới biết yêu, chưa ra nghề, chưa vào đời đã vào cõi vĩnh hằng.

Tôi nhớ năm 1965 – 1966, trên đường Sa Lung ở Vĩnh Linh, thanh niên hai xã Long- Chấp suýt đánh chết tên phi công Mỹ gây tội ác vừa bị bắt sống. Thằng Mỹ cúi đầu lặng lẽ lê chân trên con đường đất đỏ nhuốm màu máu. Anh bộ đội giải thích rằng: Nó là kẻ bại trận, đã cúi dầu nhận tội thì tha chết cho nó.

Các bác sỹ ở bệnh viện Bạch Mai cũng đã từng phẫn uất khi thấy những tên giết người từ trên không bị giải đi trên con đường Nam Bộ. Nhưng trong hờn căm, đau thương và mất mát, ban giám đốc bệnh viện vẫn sẵn lòng đón những người bạn Mỹ chống chiến tranh của nhà cầm quyền Hoa Kỳ đến thăm.

Nghệ sỹ nổi tiếng của nước Mỹ Jane Fonda không cầm được nước mắt trước cảnh đổ nát của bệnh viện Bạch Mai. Chị nói: “Tôi sẽ hành động cho một xã hội tốt đẹp, công bằng hơn ngay trên quê hương tôi. Trước hết để chấm dứt cuộc chiến tranh tàn bạo ở Việt Nam, chấm dứt hành động bất nhân của những tên sen đầm quốc tế khét tiếng…”

Ông Romet Chandra – Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới có mặt ngay trên mãnh đất Bạch Mai đang bỏng rát sức nóng bom ngàn cân như nói rằng lực lượng hòa bình toàn thế giới đang sát cánh với Hà Nội, với Việt Nam trong phút giây đau thương và phẫn uất này.

Qua giọng đọc uất nghẹn của các anh các chị phát thanh viên Đài TNVN kiên cường bám trụ studio ở Bà Triệu, Hà Nội, chúng tôi được biết tin tức.

Giữa rừng xanh miền tây Thừa Thiên Huế giăng giăng mưa ngàn và gió lạnh, chúng tôi cảm thấy sức nóng từ Hà Nội, từ miền Bắc thân thương. Các anh quê Hà Nội ở K6, K4 trên đường hành quân về phía tiếng súng nổ, tụ tập nhau ở ngã ba đường chân chim, chăm chú nghe đài.

Các anh ôm lấy nhau, mắt bốc lửa, như trong đó có Khâm Thiên, Bạch Mai, có giảng đường đại học Bách khoa, Kinh tế Quốc dân, nơi các anh tạm xếp bút nghiên ra trận.

Tôi thu thập tin tức từ đài phát thanh nói lại cho anh chị em chi đoàn thanh niên cơ quan nghe tình hình chiến đấu với lũ giặc trời B52 của quân dân Hà Nội anh hùng.

Căn hầm đã chật càng nóng thêm.

Anh tên là Vui, nhưng nét mặt đượm buồn. Khi tôi kể về gia đình cháu Nguyễn Thị Vượng ở Khâm Thiên bị bom Mỹ giết hại cả nhà trong đêm Noel, khi cháu mới 15 tuổi, anh Cu Phở, người Pako không ghìm được, nói nhát gừng: “Ôi, thằng Mỹ, làm tôi tức con mắt, tức cái bụng quá. Phải tiêu diệt ba cái đời tổng thống nhà nó.”

Câu nói ngắn gọn, chắc nịch của anh làm tôi nhớ đến hình ảnh bà tiến sỹ y học người Pháp Ivon Cap-dơ-vin thường xuyên đến nghiên cứu và làm việc tại bệnh viện Bạch Mai. Bà đứng trên đống gạch vụn đổ nát của Khoa Dược, căm phẫn nói: “Tôi là một nhà chuyên môn, nhưng tôi phải làm chính trị, tố cáo tội ác dã man của Mỹ.”

Mỗi người ở một vị thế khác nhau, miền đất khác nhau, giữa Hà Nội, Paris hay động Mang Chang, tít tắp rừng xanh Trường sơn, nhưng họ giống nhau, tìm thấy nhau trong tiếng nói căm hờn trước tội ác dã man./.

CTV Vĩnh Trà/VOV online
vov.vn

12 ngày đêm năm ấy

(VOV) – Cuộc chiến “đất đối không” vĩ đại nhất trong lịch sử chiến tranh Việt – Mỹ trên bầu trời Hà Nội, bắt đầu từ 19h45’ ngày 18/12/1972.

Cuộc chiến “đất đối không” vĩ đại nhất trong lịch sử chiến tranh Việt – Mỹ trên bầu trời Hà Nội mà sau này cả thế giới đều biết đến với cái tên “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” bắt đầu từ 19h45’ ngày 18/12/1972. Còi báo động chưa dứt thì đã vang lên tiếng gầm rú của các loại máy bay cường kích và tiếng ì ì nặng  nề của B52.

Trong đêm 18 và rạng sáng ngày 19/12, máy bay địch tập trung đánh phá các sân bay Hoà Lạc, Nội Bài, Gia Lâm và các điểm trọng yếu của thành phố: Đông Anh, Yên Viên, Mễ Trì, Bạch Mai, Thủ đô suốt đêm chìm trong khói lửa. Hai đài phát sóng của Đài TNVN là đài Mễ Trì và đài Bạch Mai (trong đó có khu tập thể 128C Đại La) đều bị B52 rải thảm. Hai đài phát sóng bị phá huỷ hoàn toàn, khu tập thể bị thiệt hại nặng, 100 gia đình mất nhà cửa, nhưng không có thương vong.

Hệ thống anten phát sóng Đài Mễ Trì trong những năm chiến tranh

Đài Mễ Trì bị sập, tiếng nói tạm ngừng làm cả nước hồi hộp lo âu. Nhưng chỉ 9 phút sau Tiếng nói Việt Nam lại vang lên từ các máy thu thanh nhờ các đài phát sóng dự phòng. Ngay đêm ấy, nhiều hãng thông tấn nước ngoài, đặc biệt là Hãng Kyodo của Nhật loan tin mặc dù B52 phá được Đài phát thanh Hà Nội nhưng các chương trình vẫn nghe được bình thường, không khác gì trước (nghe qua sóng ngắn định hướng sang Nhật và Tây Âu). Bài bút ký “9 phút làm nên lịch sử” của Nhà báo Lưu Quý Kỳ viết về sự kiện này được dịch ra nhiều thứ tiếng phát trong các chương trình đối ngoại đã gây tiếng vang lớn trong dư luận quốc tế.

Sau này, trong hồi ký của mình, bà Nguyễn Thị Định, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam đã viết về 9 phút lịch sử ấy như sau: “Sáng ngày 19/12, tôi đang theo dõi buổi phát thanh của đài bỗng thấy đài ngừng tiếng nói. Tôi cảm thấy như tim mình ngừng đập, lòng xao xuyến hướng về Thủ đô – nơi Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Bác Tôn đang làm việc. Tôi rất lo nhưng không dám nói cho anh chị em biết. Nó đánh đài phát thanh rồi, không biết Hà Nội ra sao? Nhưng 9 phút sau Tiếng nói Việt Nam lại cất lên dõng dạc, đàng hoàng làm tôi mừng khôn xiết. Tôi vội báo cho anh chị em cơ quan biết. Mọi người lại vây quanh chiếc đài bán dẫn nhỏ vui mừng đón tin Hà Nội đã bắn rơi một máy bay B52, bắt sống giặc lái”.

Sóng chỉ mất có 9 phút, còn gần 100 ngôi nhà của khu tập thể 128C Đại La cũng chỉ sau 1 tháng đã được dựng lại nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của bà con nông dân thuộc 20 hợp tác xã của huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Đêm đầu tiên đối mặt với lũ giặc trời, cùng với quân dân Hà Nội, Tiếng nói Việt Nam vẫn ngẩng cao đầu.

Trong đêm 18, rạng sáng 19/12, ta bắn rơi 3 máy bay B52, một chiếc rơi xuống xã Phủ Lỗ, huyện Đông Anh, một chiếc rơi xuống cánh đồng xã Tân Hưng, huyện Thanh Oai và cũng trong đêm ấy không quân Việt Nam xuất kích. Anh hùng phi công, liệt sĩ Vũ Xuân Thiều lái Mic 21 bắn rơi một B52 trên bầu trời Sơn La. Ngày nay, tên anh được đặt cho một phố mới của quận Long Biên: phố Vũ Xuân Thiều. Mấy ngày tới chắc rằng phố này sẽ có nhiều hoa.

Sáng 19/12, Bộ Chính trị họp tại Tổng hành dinh nghe Bộ Tổng Tham mưu báo cáo diễn biến trận đánh B52 đêm đầu tiên. Buổi chiều, Bộ Quốc phòng họp báo quốc tế tố cáo tội ác của Mỹ, 6 giặc lái vừa bị bắn rơi được đưa ra trình diện. Đêm 20 rạng sáng 21, Bộ đội tên lửa lập công xuất sắc, với 35 quả đạn bắn rơi 7 chiếc B52 trong đó có 5 chiếc rơi tại chỗ.

Ngày 25/12, Tổng thống Mỹ R. Nixon ra lệnh ngừng tập kích để đón Giáng sinh, thực chất là xả hơi sau  những trận đòn đau. Ta tổ chức cho phi công Mỹ đón Noel tại trại giam Hoả Lò mà báo chí Quốc tế gọi là Khách sạn Hilton Hà Nội. Chương trình phát thanh tiếng Anh của Đài TNVN đêm đó đã thu và phát đi tiếng nói của Glen. John Xten, đại uý hoa tiêu máy bay B52 bị bắt đêm trước lời nhắn của anh ta cho vợ: “Anh vẫn còn sống, được đối xử nhân đạo. Nhân dân Việt Nam không phải là kẻ thù của chúng ta. Mong cuộc chiến tranh chết tiệt này chóng kết thúc. Hôn em và con”. Nhờ có Đài TNVN mà vợ con anh ta ở tận nước Mỹ xa xôi biết được anh ta còn sống. Noel lại sắp tới, ở tuổi ngoài 60, nếu còn sống không biết giờ đây anh ta nghĩ gì về cái đêm Noel ở Khách sạn Hilton Hà Nội năm ấy?

Sau Giáng sinh, cuộc chiến càng ác liệt. Đêm 26/12, hàng trăm lần chiếc B52 rải bom huỷ diệt khu phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai và hơn 100 điểm dân cư trong nội thành làm hơn 1.000 người thương vong. Ngay sáng hôm sau, Bác Tôn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến các nơi bị tàn phá thăm hỏi đồng bào. Trong đêm 26 và rạng sáng 27,  ta đã bắn rơi 13 máy bay địch, trong đó có 8 chiếc B52, Phạm Tuân lái Mic 21 bắn rơi 1 B52 trên bầu trời Tây Bắc lúc 22h22 phút.

Trong 12 ngày đêm từ 18 – 29/12/1972, quân và dân ta đã bắn rơi 77 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có 38 chiếc B52, 5 chiếc F111, bắt sống hàng trăm giặc lái. Bị tổn thất nặng nề, ngày 29/12, Mỹ gửi Công hàm đề nghị ta họp lại theo nội dung đã được thoả thuận trong phiên họp ngày 18/10/1972. Đó là những thoả thuận mà đạt được sau 3 năm đàm phán, nhưng Mỹ lật lòng đòi bàn lại. Phía ta không chấp nhận, cuộc hoà đàm tạm ngừng.

Ngày 18/12, Cố vấn Lê Đức Thọ rời Paris về nước. Cũng vào thời điểm này Nixon gửi Công hàm như tối hậu thư hẹn trong 72 giờ ta phải trở lại bàn đàm phán theo những điều kiện của Mỹ. 16h45’ ngày 18/12, Cố vấn Lê Đức Thọ về tới Hà Nội, thì 19h45’, B52 bắt đầu dội bom Hà Nội. Giữa hai Công hàm của Mỹ ngày 18 và 29/12 là 12 ngày đêm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không đúng như lời tiên đoán của Bác Hồ năm 1968 khi Người đến thăm Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân: “Sớm muộn rồi Mỹ cũng đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua”.

40 năm sau nhớ lại, tôi nghĩ các anh chị cán bộ công nhân kỹ thuật, lái xe, phóng viên, biên tập viên của Đài TNVN những người có mặt ở Hà Nội trong 12 ngày đêm ấy hoàn toàn có quyền tự hào về sự đóng góp của mình trong trận đánh lịch sử này với tư cách là những người canh giữ, bảo vệ và tiếp sức cho Tiếng nói Việt Nam, Tiếng nói thân yêu của Tổ Quốc bay cao, bay xa trong lửa đạn chiến tranh vệ quốc.

Giờ đây, ngồi ôn lại sự kiện này trong căn phòng nhỏ của khu tập thể 128C Đại La, trong tôi lại vang lên Bài ca Hà Nội của nhạc sĩ Vũ Thanh “Ta đi trên đường Hà Nội rực rỡ chiến công, đường thênh thang Ba Đình lịch sử, đường tấp nập Hoàn Kiếm, Đồng Xuân, nghe náo nức trong lòng Thủ đô ta sục sôi đánh Mỹ”. Thủ đô ta ngày ấy đúng là như vậy đấy: Bình tĩnh, lạc quan và bất khuất kiên cường./.

Theo Trần Thiên Nhiên/Báo TNVN
vov.vn

Điện Biên Phủ trên không: 9 phút lịch sử

(VOV) – Trái tim nhân dân cả nước như ngừng đập khi B52 đánh bom vào thủ đô, nhà máy B bị sập hoàn toàn, đài phát thanh ngừng sóng…

Đêm 18/12/1972

Một đợt gió mùa đông bắc nữa tràn về.

Hà Nội chìm trong giá lạnh, nhưng người thủ đô nóng ran bởi tiếng còi báo động đặt trên nóc Nhà hát lớn, hội trường Ba Đình, ga Hàng Cỏ. Tiếng loa truyền thanh khắp các ngả phố liên tục truyền lệnh “sơ tán triệt để”, các lực lượng phòng không, dân quân tự về sẵn sàng chiến đấu.

Bà con giáo dân làng Mễ Trì không đến nhà thờ mà ngồi nhà, trước tượng chúa cầu cho con dân qua nạn máu chảy đầu rơi.

Đêm đi vào chiều sâu theo cơn gió lạnh hút vào ngõ xóm.

Mắt người nặng trĩu lo âu sập xuống theo cơn ngủ chập chờn. Riêng tổ trực ca của Đài Phát sóng phát thanh Mễ Trì mắt ráo hoảnh, tai lắng nghe mọi âm thanh trên mặt đất, trong không gian.

Thêm một đêm cuối tháng 12 nghiệt ngả trôi qua mùa đông giá rét Hà Nội.

Như lệ thường 5 giờ kém 5 phút, khúc nhạc “Chiến thắng Điện Biên Phủ” hùng tráng của Đài Phát thanh Quốc gia vang khắp bầu trời báo hiệu bình minh lên của mỗi ngày.

5 giờ 5 phút, buổi phát thanh tin tức đầu ngày của Đài TNVN đang giới thiệu chương trình trên các làn sóng 297m, 31m, 41m, 49m và 63m thì bom hủy diệt của máy bay B 52 không lực Hoa Kỳ ào ạt dội xuống.

Cả Mễ Trì chìm trong khói lửa.

Nhà máy B bị sập hoàn toàn, hai đường giây fi đơ bị đứt, một đồng chí công nhân tự vệ hy sinh, nhiều công nhân trực ca bị thương. Sóng chủ lực quốc gia 297m bị mất.

Ông Nguyễn Văn Sinh, Trưởng đài Phát sóng Phát thanh Mễ Trì báo cáo ngắn gọn lên cấp trên như vậy.

Lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam lệnh cho các đài dự phòng phát sóng. Đài Mễ Trì thực hiện ngay sơ tán triệt để. Lập tức đài CK2 lên sóng, thay thế toàn bộ sóng của đài Mễ Trì, đồng thời phát sóng gốc cho các đài khác trong hệ thống dự phòng theo “kế hoạch 99” bảo đảm làn sóng phát thanh liên tục trong mọi tình huống.

Sóng 297m thân quen của Đài Tiếng nói Việt Nam bị ngưng 9 phút.

9 phút bóp nghẹt triệu triệu con tim dân Việt. 9 phút làm xao xuyến bạn bè khắp năm châu nín thở hướng về Việt Nam đang đối đầu với kẻ thù mạnh và hiện đại gấp nhiều lần.

Sau 9 phút, làn sóng 297m phát trở lại, truyền đi bản tin chiến thắng của quân dân Hà Nội bắn rơi máy bay B52 của Mỹ, bắt sống giặc lái.

Sau 9 phút ấy, Bộ Biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam liên tục nhận được điện, thư từ chiến trường miền Nam gửi ra, kiều bào gửi về, bạn bè năm châu gửi đến chia sẻ, ngợi ca.

Trong hồi ký thấm đẫm tình yêu thương, bà Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam viết: “Sáng ngày 19/12, tôi đang theo dõi buổi phát thanh của đài, bỗng thấy đài ngừng tiếng nói. Tôi cảm thấy tim mình như ngừng đập, lòng xao xuyến hướng về thủ đô…Tôi lo lắm… Chúng đánh đài phát thanh rồi. Không biết Hà Nội ra sao? Ta có bảo vệ được thủ đô Hà Nội hay không? Nhưng đúng 9 phút sau, Tiếng nói Việt Nam lại cất lên dõng dạc đàng hoàng làm tôi mừng khôn xiết…”

Hay tin dữ Đài Phát sóng Mễ Trì bị hủy diệt, khu tập thể gia đình phóng viên, biên tập, phát thanh viên, nghệ sỹ, công nhân viên chức đài Tiếng nói Việt Nam ở 128C Đại La bị bom Mỹ tàn phá, cả trăm hộ gia đình mất nhà cửa, bà con nông dân Gia Lộc, Hải Dương đã lên gặp Tổng biên tập Trần Lâm đề nghị được dựng lại 20 nhà tranh tre nứa lá đủ chỗ ở tạm thời, chờ nhà nước xây nhà cao tầng.

Hai mươi Hợp tác xã làm 20 ngôi nhà với trăm gian trong thời gian ngắn. Ngày liên hoan mừng thắng lợi bà con mang gạo, cá, lợn, gà, rau quả từ quê lên Hà Nội góp vui. Đài chỉ lo tiền mua gia vị.

Nghe ông Trần Lâm báo cáo lại, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng vui vẻ: “Thế mới đúng phương châm của Bác Hồ vẫn dạy: Tự lực cánh sinh là chính, dựa vào sức dân, không ỷ lại nhà nước.”

Sáng ngày 19/5/2002, tôi có chuyến đi công tác Hoa Kỳ, có mặt tại NewYork, trong căn hộ cao tầng 145, phố W. của luật sư Micheal Dolinger.

Tình cờ tôi được gặp và ăn sáng cùng ông bà John Hess. Ông là nhà báo lão thành từng xông pha trên mặt báo NewYork Time, từng có mặt tại hội nghị Paris năm 1972 – 1973 với nhiều bài báo nổi tiếng ủng hộ Việt Nam.

Ông tặng tôi cuốn sách còn nóng hổi về sự kiện 11/9/2001 làm chao đảo nước Mỹ, cả thế giới kinh hoàng. Từ trên bao công, nhìn về phía tòa nhà “Tháp đôi” cách không xa, chỉ còn là bãi đổ nát, ông Jonh chậm rãi: “Chứng kiến nỗi kinh hoàng của hủy diệt trên đất Mỹ tôi càng thấm hiểu những gì mà các bạn phải chịu đựng trong 12 ngày đêm tháng 12 năm 72 ở Khâm Thiên, Hà Nội. Khủng khiếp quá.”

Hồi ấy ông đã có bài báo viết về sự hỗ thẹn lương tâm của người Mỹ trước những gì mà chính quyền của họ gây ra cho Việt Nam. Nhưng ông chưa cắt nghĩa hết, chưa giải mã đến tại cùng câu hỏi lớn: Vì sao Việt Nam chiến thắng? Vì lẽ gì mà Hà Nội vẫn sống hiên ngang trong bom đạn hủy diệt qua 12 ngày đêm đảo lộn đất trời ấy?

Tôi không trả lời từng câu hỏi mà chậm rải kể cho ông nghe những anh chị phóng viên đài chúng tôi buộc chặt máy ghi âm R5 sau xe đạp “cà tàng” từ 58 Quán Sứ lao về phố Khâm Thiên khét lẹt khói bom thu cho được tiếng thét hờn căm, tiếng hô “quyết đánh, quyết thắng” rồi chạy về khu tập thể của Đài xem ai còn, ai mất, để rồi đi tiếp xuống nhà máy dệt “Tám tháng Ba”, bệnh viện Bạch Mai chỉ còn lại ngổn ngang đất đá. Để tối ngày trên bản tin chính của đài quốc gia có phóng sự nóng hổi về tội ác kẻ thù và sức sống bất diệt của quân dân Hà Nội.

Tôi nói về bài tùy bút nổi tiếng: “Đây Tiếng nói Việt Nam” của nhà báo, nhà văn Lưu Quý Kỳ, phát ngay trên làn sóng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nhật và nhiều thứ ngữ khác của Đài Phát thanh Quốc gia, sau khi đài phát sóng Mễ Trì bị đánh sập. John chớp chớp mắt, đôi lông mày đã bạc trắng nhíu lại: “Tôi có nghe bài tùy bút ấy qua chương trình tiếng Anh của các bạn. Xúc động đến rợn người.”

Tôi kể tiếp cho ông hay: bà Bạch Vân, phát thanh viên tiếng Nhật kỳ cựu của Đài Tiếng nói Việt Nam đã đọc bài tùy bút ấy cho thính giả người Nhật Bản nghe, xúc động đến mức lượng thư, tin gửi về tăng bội phần.

Tuần lễ sau, lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam nhận được bức điện của ông Kutemura – Chủ tịch Công đoàn Truyền thanh dân gian của Nhật Bản cho biết ông đã cho ghi âm bài tùy bút gửi cho hơn 200 tổ nghe đài khắp nước Nhật. Công đoàn này đã nhanh chóng quyên góp được 5 triệu yên Nhật gửi sang ngay góp phần khôi phục lại những cơ sở của Đài bị B52 Mỹ hủy diệt. Nhà báo già John Hess xiết chặt tay tôi, giọng buồn: “Chúng tôi thật có lỗi. Thật xấu hổ”

Như muốn làm nóng lên không khí gặp gỡ đầu ngày, nhà văn, nhà báo Laydy Borton nhắc lại ca khúc “Hà Nội Điện Biên Phủ” của nhạc sỹ Phạm Tuyên. Đôi lông mày rậm, bác phếch của nhà báo già rướn lên như muốn hỏi. Tôi kể rằng: Ngày ấy Đài chúng tôi chia làm hai nửa. Những chị em có con nhỏ lên địa điểm sơ tán cách Hà Nội khoảng 40 cây số lo biên tập, sản xuất chương trình. Bộ phận xung kích bám giữ Hà Nội, phản ứng nhanh kịp đưa tin, phóng sự, bình luận lên sóng ngay. Ngày ấy, nhà báo cũng là chiến sỹ đồng hành cùng Hà Nội đánh trả quyết liệt giặc trời Hoa Kỳ. Nhạc sỹ Phạm Tuyên ở trong lực lượng xung kích ấy.

Trong căn hầm hẹp, sâu bên gốc cây muỗm già ở trụ sở Đài Tiếng nói Việt Nam (58 Quán Sứ), dưới tiếng gầm rít của máy bay, bom dội nhạc sỹ đã sáng tác nhạc phẩm ấy.

Ngay sau đó các ca sỹ Đoàn ca nhạc của đài đã thể hiện trên sóng phát thanh. Vậy là trên bầu trời đông giá lạnh của Hà Nội lại vang lên khúc ca mới, nóng hổi, hào hùng. Hà Nội chiến thắng. Việt Nam chiến thắng như một “Điện Biên Phủ trên không”.

Còn chuyện này, bây giờ tôi mới kể: Sóng 297m là bước sóng của tần số 1010 KhZ. Đây là tần số mạnh của đài phát sóng Mễ Trì. Kỹ sư, công nhân nhà máy lấy tấn số để kỷ niệm ngày giải phóng thủ đô 10/10 và cũng là hướng tới 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội – 1010.

Cho nên khi nhà máy phát Mễ Trì bị bom thù hủy diệt, sóng 297m– tần số 1010 Khz bị đứt quảng 9 phút, hơn ai hết lòng người thợ phát thanh đau như đứt ra từng quảng.

Chiến tranh bằng B52 của không lực Hoa Kỳ hòng hủy diệt Hà Nội trong 12 ngày đêm đã đánh vào lòng tự trọng thiêng liêng của một dân tộc, đánh vào niềm tin của con dân Việt ước vọng ngày mai: hòa bình, hạnh phúc.

Nếu bây giờ, qua nửa vòng trái đất có gặp lại nhà báo già, tóc bạc phơ John Hess bên bờ sông Hồng, sông Bến Hải hay dòng Potomac, tôi sẽ nói với ông rằng: 9 phút ngưng sóng Đài Tiếng nói Việt Nam sáng 19/12/1972 đã đi vào lịch sử, cùng Hà Nội làm nên lịch sử “Điên Biên Phủ trên không” mà cội nguốn sức sống bất diệt của nó là niềm tin, là hy vọng. Bởi Tiếng nói Việt Nam là tiếng nói trái tim./.

CTV Vĩnh Trà/VOV online
vov.vn