Thư viện

Chuyện những anh hùng “khắc tinh” ngáo ộp B52

Hồi ức “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

ANTĐ – Nước Việt Nam ta thời nào cũng có anh hùng, hào kiệt. Trong thế kỷ XX, sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước đã xuất hiện rất nhiều những hành động anh hùng, con người anh hùng, như nhà thơ Viễn Phương từng ngợi ca: “Quê hương ta ra ngõ gặp anh hùng”. Và ngay tại một xóm nhỏ ven sông Tô Lịch luôn tấp nập của Hà Nội, hàng ngày chúng ta đều có thể gặp những anh hùng, họ là những tập thể từng hạ gục “Thần sấm”, “Con ma” và cả Pháo đài bay B52 của không lực Hoa Kỳ.

Con phố Nguyễn Ngọc Vũ nằm ven sông Tô Lịch thuộc địa phận phường Trung Hoà (quận Cầu Giấy, Hà Nội), đoạn từ Cầu Mọc nối ra đường Lê Văn Lương có một khu dân cư, thường gọi là Tập thể phòng không không quân Hòa Mục (do nằm trên đất làng Hòa Mục trước đây). Thời chiến tranh, khu vực này là trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ bởi đây là nơi có Sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 bảo vệ Hà Nội, cũng là nơi đặt sở chỉ huy đánh B52 tròn 40 năm trước.

Đại tá, Anh hùng Đặng Minh Chức (bên phải) và Đại tá Quách Hải Lượng bên lối vào căn hầm
Sở chỉ huy Sư đoàn Phòng không 361

Hạ B52 – phải có cả lòng dũng cảm và mưu trí

Chiều muộn một ngày đầu tháng 12-2012, chúng tôi đến thăm Đại tá Quách Hải Lượng và Đại tá Nguyễn Thanh Tân. Ông Tân nguyên là Trưởng phòng Quân huấn, Quân chủng Phòng không không quân (PKKQ), nhiều khoá liền là Bí thư chi bộ tại khu dân cư của Tập thể PKKQ. Thời chiến tranh, ông Tân là trắc thủ góc tà thuộc tiểu đoàn 61 anh hùng đã bắn cháy nhiều máy bay Mỹ. Còn Đại tá Quách Hải Lượng từng là sĩ quan điều khiển tên lửa, rồi Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 61, nguyên Trưởng phòng tác chiến Quân chủng PKKQ.

Tập thể đơn vị mà hai vị đại tá này từng công tác, chiến đấu, được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân từ năm 1967… Đại tá Quách Hải Lượng, năm nay 83 tuổi, người nhỏ thó và luôn diện bộ quân phục nhuốm màu thời gian. Trừ ngày mưa to gió lớn hoặc quá rét, còn lại gần như hàng ngày, ông đều chạy chiếc xe Chaly khắp Hà Nội, tới thăm những ông bạn già từng gắn bó với nhau suốt sáu, bảy chục năm qua. Lịch sinh hoạt đều đều đi ăn sáng với bạn bè, nhâm nhi li cà phê trong phố cổ, rồi uống bia hơi. Trông ông thật trẻ trung và sôi nổi khác hẳn cái tuổi ngoài tám mươi thường thấy của người già. Ông chân thành và nhiệt tình đến mức, khi chúng tôi cần tư liệu về lĩnh vực phòng không, thì ông sẵn sàng chạy chiếc Chaly cà tàng mang theo tài liệu ra… quán cà phê ngồi đàm đạo hàng giờ. Nhìn ông mộc mạc nên ít ai có thể đoán đây từng là một chuyên gia về tên lửa phòng không, sử dụng thành thạo các thứ tiếng Nga, Trung, Pháp…

Là một người có chuyên môn cao về tên lửa phòng không, Đại tá Lượng cho rằng: Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không là “chiến công tích luỹ”. Quân chủng PKKQ đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm phong phú trong cuộc chiến đất đối không kể từ năm 1963 cho đến cuối tháng 11-1973. Thời kì này, lực lượng cao xạ, tên lửa đã chiến đấu anh dũng bắn hạ hàng nghìn máy bay chiến đấu hiện đại của không lực Hoa Kỳ. Riêng bộ đội tên lửa đã có nhiều đơn vị chạm trán với B52 ở Vĩnh Linh và trong chiến dịch Quảng Trị. Các kinh nghiệm này được đúc kết thành lí luận và đóng góp xứng đáng vào chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Biết chúng tôi đang sốt ruột về chuyện đánh B52, Đại tá Lượng cắt nghĩa: Đánh trả không quân Mỹ nói chung và đánh trả B52 nói riêng, thực chất là một cuộc chiến đấu có hàm lượng vũ khí công nghệ cao. B52 có đủ yếu tố của vũ khí công nghệ cao, vũ khí tên lửa cũng có đủ các yếu tố của công nghệ cao… Làm nên chiến thắng này, bộ đội tên lửa phải có sức mạnh vật chất của vũ khí và sức mạnh tinh thần, trí thông minh, lòng dũng cảm; phải có tri thức đầy đủ các lĩnh vực toán – lý – hoá… Tên lửa là một thứ vũ khí tập thể, phải được một tập thể con người đoàn kết hiệp đồng điều khiển thì mới bắn hạ được máy bay đối phương. Đại tá Lượng nhớ lại việc thực hiện lời hứa tự tin của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trước khi chuyển giao vũ khí tên lửa cho Việt Nam, một vị lãnh đạo cấp cao của Liên Xô nói: “Chúng tôi muốn được giao thứ vũ khí ghê gớm này cho những người tin cậy”. Đại tướng Tổng tư lệnh đã điềm tĩnh trả lời: “Các vũ khí hiện đại của Liên Xô được giao vào tay những chiến sĩ cộng sản Việt Nam, nhất định sẽ phát huy được uy lực của nó”.

Xác một pháo đài bay B52 trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự

Một quả tên lửa, tiêu diệt 2 máy bay Mỹ

Đại tá Nguyễn Thanh Tân là trắc thủ góc tà của Tiểu đoàn 61, đã tham gia kíp chiến đấu bắn rơi chiếc máy bay A4-E của viên phi công danh giá John McCain tháng 10-1967. Ngoài sự kiện bắn hạ máy bay của John McCain, Đại tá Nguyễn Thanh Tân cũng là người tham gia 2 trận đánh nổi tiếng ở Nghệ An, mỗi trận chỉ bằng một quả tên lửa đã tiêu diệt 2 máy bay Mỹ. Trong trận đánh tại trận địa xã Quỳnh Thắng, huyện Quỳnh Lưu, khi khoảng cách tên lửa và mục tiêu cách 3km thì 2 tín hiệu mục tiêu gần như trùng nhau, tên lửa được giữ nguyên chế độ bám sát… Đạn gặp mục tiêu nổ cách trận địa 19km. 2 chiếc máy bay rơi cách nhau chỉ 1km, cùng là loại máy bay trinh sát kiểu RF101. Đó là chiếc thứ 900 và 901 của không quân Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc. Hai tuần sau, ngày 18-3-1966, tại huyện Đô Lương, Nghệ An, cũng bằng 1 quả tên lửa trong tình huống tương tự, tiểu đoàn 61 đã bắn rơi tại chỗ 2 máy bay loại F3D2…

Sau trận thắng giòn giã tại trận địa xã Quỳnh Thắng, ngày 14-3-1966, Nguyễn Thanh Tân được thay mặt chi đoàn thanh niên của đơn vị đi dự và tham gia Đoàn chủ tịch Lễ mít tinh kỉ niệm 35 năm ngày thành lập Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam (nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh). Ông Tân tẩn mẩn tìm, cho tôi xem tờ giấy mời vẫn được ông lưu giữ cẩn thận gần nửa thế kỉ qua. Nhớ lại niềm vinh dự ấy, ông kể: “Tại lễ kỉ niệm tổ chức ở Hội trường Ba Đình, trong phòng họp trước khi lên đoàn chủ tịch, Bác Hồ đã cầm tay tôi và giới thiệu với mọi người. Bác khen ngợi chúng tôi đã bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 900 và 901 trên bầu trời miền Bắc. Đây là kỉ niệm sâu sắc của đời tôi, cũng là niềm vinh dự của cá nhân tôi và tập thể tiểu đoàn 61. Với những chiến công, thành tích nổi bật ấy, đơn vị chúng tôi vinh dự được đón Bác Hồ đến thăm. Đến ngày 1-1-1976, tiểu đoàn 61 vinh dự được tuyên dương danh hiệu Anh hùng”.

Cùng ở khu tập thể với hai vị Đại tá này, các cựu chiến binh vẫn vẹn nguyên phẩm chất bộ đội Cụ Hồ, gương mẫu trong sinh hoạt Đảng và các hoạt động của địa phương. Như ông Hoàng Phùng Ngọc, từng là kĩ sư trưởng của một trung đoàn tên lửa phòng không, phụ trách công tác kĩ thuật và nắm bí mật mã số đạn tên lửa, sau này ông là Cục trưởng Cục Kỹ thuật. Các cặp vợ chồng ông Ngọc bà Bông, ông Thụ bà Xuân, ông Tuất bà Bình… đều là các cựu binh gương mẫu. Cũng ở nơi ra ngõ gặp anh hùng này, còn có ông Lê Tư, nhà quân báo đã lãnh đạo, chỉ huy cơ quan của mình báo động và thông báo máy bay địch ngay từ khi nó cất cánh và hướng đường bay. Một cư dân tiêu biểu nữa là ông Hà Nghị, nguyên chính ủy Trung đoàn 257, trung đoàn anh hùng này đã bắn rơi nhiều máy bay B52 trong trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972…

Rời nhà Đại tá Nguyễn Thanh Tân, chúng tôi đến nhà Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đặng Minh Chức. Ông Chức sinh năm 1942 tại Hưng Yên, trước khi nghỉ hưu là Viện phó Viện Khoa học quân sự. Năm 1972, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 73 (trung đoàn 285) bảo vệ Hải Phòng. Nhớ lại những ngày hào hùng ấy, ông kể: B52 đúng là con quái vật được bảo vệ bằng các loại máy bay tiêm kích, đặc biệt là nhiễu, nhiễu nọ trùng lên nhiễu kia khiến radar rất khó phát hiện. Do đặc điểm địa hình Hải Phòng gần biển nên đường bay của B52 đánh vào đây khác với đánh vào Hà Nội, rất khó xác định được mục tiêu. Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, tại Hải Phòng, chúng tôi đánh B52 theo “phương pháp 3 điểm” và kết quả được Quân chủng công nhận đã bắn rơi 1 pháo đài bay B52.

Đại tá Quách Hải Lượng và Đại tá Đặng Minh Chức đưa chúng tôi đến thăm khu vực hầm Sở chỉ huy Sư đoàn 361. Nhìn căn hầm giờ nằm lọt thỏm trong một ngõ nhỏ cách đường Lê Văn Lương vài mươi bước chân, kín cổng cao tường với hàng rào kín mít xung quanh, hai vị Đại tá già và chúng tôi không khỏi bùi ngùi nhìn ngắm hồi lâu cái địa chỉ oanh liệt một thời.

Duy Anh – Đình Khang
anninhthudo.vn

Những người thầy Xô-viết

Hồi ức “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

ANTĐ – Nhìn lại chiến thắng vĩ đại “Điện Biên Phủ trên không”, có thể thấy một phần không nhỏ là sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của Liên Xô. 4 thập kỷ đã trôi qua, tình hình thế giới có nhiều đổi thay song tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước thuộc Liên bang Xô-viết trước đây vẫn tốt đẹp; cũng như tình thầy trò, bạn bè giữa các chuyên gia tên lửa Xô-viết với các cựu binh Việt Nam vẫn bền chặt, thủy chung.

Các cựu chuyên gia tên lửa Xô-viết trong một lần trở lại Việt Nam và đến thăm Bảo tàng Phòng không không quân

Chiến công của tình hữu nghị

Ở khu tập thể K40 – Khương Thượng (Hà Nội) có một ông lão tạng người nhỏ nhắn, luôn lạc quan, vui vẻ với xóm giềng. Mọi người đều quý mến ông nhưng chẳng mấy ai biết, ông là một trong những người Việt Nam đầu tiên ấn nút phóng tên lửa – thứ vũ khí hiện đại từng làm phi công Mỹ kinh sợ mỗi khi xâm nhập vùng trời miền Bắc Việt Nam. Ông là Đại tá Lã Đình Chi, năm nay vừa tròn 80 tuổi, nguyên sỹ quan điều khiển Tiểu đoàn 63, Trung đoàn 236 – Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Lã Đình Chi sinh trưởng tại Nga Sơn (Thanh Hóa). Vào bộ đội một thời gian, nhờ rèn luyện phấn đấu tốt và có trình độ văn hoá, năm 1960, Lã Đình Chi được đưa sang Liên Xô học chuyên ngành kỹ sư cao cấp phòng không. Sau hơn 4 năm học tập, ông về nước và được bổ sung vào biên chế Tiểu đoàn tên lửa phòng không số 63, Trung đoàn 236; với vai trò sĩ quan điều khiển. Đây cũng là thời điểm các chuyên gia Liên Xô đầu tiên có mặt tại Việt Nam và trực tiếp huấn luyện kỹ thuật quản lý, sử dụng vũ khí tên lửa phòng không cho Trung đoàn 236. Nhờ vốn tiếng Nga khá tốt nên Lã Đình Chi và các chuyên gia Liên Xô nhanh chóng thân thiết với nhau. “Chúng tôi có tình cảm chân thành, hòa thuận của những người anh em và sự rung cảm, đồng điệu trong tâm hồn cũng như quyết tâm cao để hoàn thành nhiệm vụ. Các chuyên gia Liên Xô vừa là những người bạn thân thiết, vừa là những người thầy khả kính” – Đại tá Lã Đình Chi nhớ lại kỷ niệm về những người bạn Liên Xô như Trung tá chỉ huy tiểu đoàn Mazép; Thượng uý, sĩ quan điều khiển Constantinov; các trắc thủ Papusôp, Bônđarenco, Tinsencô…

Hồi đó, Đại tá Lã Đình Chi cùng nhiều sĩ quan khác được các chuyên gia tên lửa huấn luyện tại một địa điểm bí mật thuộc huyện Thạch Thất, Hà Nội.  Thời gian biểu của các chuyên gia và học viên kín mít, bình quân 10-12 tiếng/ngày. Với các chuyên gia Liên Xô, những khu rừng nhiệt đới khắc nghiệt, nóng bức nhưng độ ẩm cao và đầy muỗi vắt không làm họ giảm nhiệt tình giúp đỡ, huấn luyện bộ đội Việt Nam. Các binh sĩ Việt Nam thì dồn hết tinh thần và sức lực quyết tâm sớm nắm bắt, làm chủ được kỹ thuật sử dụng và chiến đấu bằng vũ khí tên lửa… Ngày cũng như đêm, trong những giờ học bị gián đoạn bởi tiếng còi báo động máy bay, thầy và trò miệt mài dạy và học dưới những mái nhà tranh dã chiến. Giờ thực hành trong những cabin điều khiển, sự bức xạ nhiệt khiến cabin nóng lên đến hơn 60oC, có lúc cả chuyên gia và học viên chỉ mặc độc một chiếc quần cộc; mồ hôi ròng ròng trên mặt chẳng kịp lau.

Loay hoay trong những cabin chật chội ấy, có những lúc bộ râu cằm rậm rì của Thượng uý, sĩ quan điều khiển Constantinov cọ vào vai Lã Đình Chi ngứa râm ran, khiến mấy anh em phì cười; quay lại nhìn nhau, ai nấy đều râu ria lởm chởm, mặt mũi hốc hác vì ngày đêm dồn sức vào huấn luyện, học tập… Trung tá Mazép, trưởng nhóm chuyên gia của Tiểu đoàn 63 là người có chuyên môn và tính kỷ luật cao, với bộ ria mép đầy cá tính. Mỗi khi hài lòng về các học viên, ông thường có thói quen dùng ngón tay trỏ bên trái miết vào một bên ria mép và nháy mắt như một lời khen ngợi.

Trong quá trình huấn luyện, Lã Đình Chi rất tâm đắc và ghi nhớ sâu sắc điều mà các chuyên gia Liên Xô đã truyền đạt: “Người sĩ quan điều khiển giống như một tiền đạo trong bóng đá, nếu nhận được đường chuyền tốt của đồng đội mà không ghi được bàn thắng vào lưới đối phương thì coi như công sức của một tập thể bị đổ xuống biển!”… Sau gần 3 tháng, tất cả chuyên gia Liên Xô và học viên Việt Nam đều nóng lòng triển khai đội hình chiến đấu và chờ đợi thời cơ khai hỏa. Trận đánh mở màn của Bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam đã diễn ra vào ngày 24-7-1965 do tiểu đoàn hoả lực 63 và tiểu đoàn 64 (Trung đoàn 236) tiến hành tại trận địa thuộc huyện Bất Bạt (nay thuộc Ba Vì, Hà Nội). Trong trận đánh này, các chuyên gia Liên Xô trực tiếp tham gia chiến đấu cùng bộ đội Việt Nam. Với sự hiệp đồng, phối hợp chặt chẽ, họ đã bắn hạ 1 chiếc máy bay F4, khiến nó bốc cháy và rơi xuống địa bàn xã Võ Miếu (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ), viên giặc lái mang cấp hàm đại úy bị bắt sống. Trong trận đánh này, sĩ quan điều khiển ấn nút phóng tên lửa ở tiểu đoàn 63 chính là Thượng úy Constantinov.

Những chuyên gia Liên Xô tham gia trận đánh đầu tiên của bộ đội tên lửa Việt Nam bắn rơi 1 máy bay F4 của Mỹ. Thượng uý Constantinov đứng thứ hai từ phải qua

Tình bạn thủy chung

Để tạo yếu tố bất ngờ, từ giữa tháng 8-1965, Tiểu đoàn 63 được giao nhiệm vụ tổ chức trận địa mai phục tại nông trường Đồng Giao (tỉnh Ninh Bình). Đây là trận đánh do bộ đội tên lửa Việt Nam hoàn toàn độc lập tiến hành với sự giám sát của các chuyên gia tên lửa Liên Xô. Đồng Giao là một trong những đầu mối tập kết và trung chuyển hàng hoá cho tiền tuyến lớn miền Nam, việc đưa lực lượng tên lửa phòng không bí mật triển khai phục kích đã gây bất ngờ cho máy bay Mỹ. 15h51 ngày 24-8-1965, nhiều tốp máy bay F-4H, A-7 của Hải quân Mỹ điên cuồng vào đánh phá kho hàng hóa tại thị trấn Đồng Giao. Dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Chính ủy Nguyễn Ly Sơn, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Thân và Chính trị viên Nguyễn Thành Đạt, kíp chiến đấu của tiểu đoàn gồm sĩ quan điều khiển Lã Đình Chi và các trắc thủ Khởi, Nghĩa, Pháo đã phóng liền 5 quả đạn, bắn rơi cùng lúc 3 chiếc máy bay Mỹ, bắt sống 2 giặc lái (trong đó có một trung tá).

“Là sĩ quan điều khiển, người ấn nút phóng tên lửa trong trận đánh này, cảm giác của tôi khi đó rất khó tả, thật hạnh phúc vì mình đã không để uổng phí công sức của một tập thể” – Đại tá Lã Đình Chi nhớ lại… Ngay sau trận đánh, các chuyên gia Liên Xô có mặt chứng kiến lao tới ôm hôn, công kênh chúc mừng các đồng nghiệp Việt Nam đã làm chủ được vũ khí tên lửa, thao tác chiến đấu rất thuần thục và hiệu quả.

Từng bước, bộ đội tên lửa Việt Nam nắm bắt và làm chủ được vũ khí, thì các chuyên gia Liên Xô lần lượt trở về Tổ quốc. Họ mang theo những tình cảm tốt đẹp về đất nước và con người Việt Nam. Các chuyên gia Liên Xô đều không thể quên được hình ảnh các chiến sĩ Việt Nam sẵn sàng lấy thân mình che chở cho họ mỗi khi máy bay Mỹ xuất hiện đánh phá các trận địa tên lửa. Sau những trận chiến đấu họ lại được đại diện chính quyền và nhân dân địa phương đến thăm và trao tặng những sản vật nhiệt đới như chuối, dứa, mít… Sau này, nhiều cựu chuyên gia tên lửa Xô-viết đã trở lại thăm Việt Nam và gặp lại những người bạn, những người học trò cũ. Họ đã cùng nhau ôn lại những kỷ niệm hào hùng. Mới đây nhất, tháng 7-2011 cựu chuyên gia Constantinov đã đưa vợ sang thăm Việt Nam và đến thăm gia đình Đại tá Lã Đình Chi.

Đại tá Lã Đình Chi (bên phải)

Thượng úy, sĩ quan điều khiển Constantinov, sau này trở thành giáo viên Học viện sĩ quan chỉ huy phòng không Giucốp ở Calinin. Khoảng đầu năm 1990, thông qua một sĩ quan Việt Nam là học trò của mình tại Học viện, Đại tá Constantinov đã gửi thư và quà lưu niệm cho Đại tá Lã Đình Chi, nhắc lại những kỷ niệm không thể phai mờ trong những ngày cùng chiến đấu bên nhau. Ngày 20-4-1990, Đại tá Lã Đình Chi đã có thư hồi âm cho người bạn, người thầy của mình – bức thư này được đăng trong tập hồi ký “Chiến tranh Việt Nam là thế đó (1965-1973)”, do Nhà xuất bản Ekjamin ấn hành tại Matxcơva năm 2005. Trong thư, có đoạn: “Xin chào người bạn yêu quý và kính mến của tôi – đồng chí đại tá Constantinov! Tôi nhận được thư anh qua đồng chí Xuân. Đã 25 năm trôi qua và chúng ta chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành những ông già, nhưng trí nhớ của tôi vẫn quay về những ngày xa xôi của thời chiến. Đặc biệt là cái ngày 24-7-1965 không thể nào quên ấy, khi chúng ta cùng nhau ăn mừng chiến thắng đầu tiên… Anh hãy gửi lời chào của tôi tới tất cả các đồng chí từng tham dự trận đánh ngày  24-7-1965! Tôi xin gửi tới họ lòng kính yêu sâu sắc cùng lời cảm ơn về tất cả. Với lòng kính trọng, tôi xin gửi tới anh và toàn thể gia đình anh lời chào và lời chúc tốt đẹp nhất trong cuộc sống – chúc sức khoẻ dồi dào và hạnh phúc cho toàn gia đình và người thân của anh!”.

Duy Anh – Đình Khang
anninhthudo.vn

John McCain và chiếc mũ mang thông điệp hoà bình

Hồi ức “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

ANTĐ – Tròn 45 năm trước, vào buổi trưa ngày 26-10-1967, trong trận chiến đấu bảo vệ Nhà máy điện Yên Phụ (Hà Nội), tiểu đoàn tên lửa 61 (trung đoàn 236) đã bắn cháy một chiếc máy bay A-4E. Viên phi công bị trọng thương đã nhảy dù và rơi xuống hồ Trúc Bạch, đó là thiếu tá John McCain… Sau này, khi đã trở thành Thượng nghị sĩ Mỹ, John McCain nhiều lần sang Việt Nam, ngoài việc vun đắp mối bang giao hai nước, điều ông luôn đau đáu là tìm lại những kỷ vật của mình hồi còn ở “Khách sạn Hilton – Hà Nội”.

Xem các bức ảnh chụp lúc bị bắn rơi và trong trại giam,
ông John McCain hóm hỉnh: Tôi hồi ấy cũng đẹp trai đấy chứ!

Tù binh danh giá

John McCain sinh năm 1936 tại Căn cứ Không quân Coco Solo trong Vùng Kênh đào Panama do Mỹ kiểm soát. Cha và ông nội của McCain đều là đô đốc của Hải quân Hoa Kỳ và họ là cặp cha con đầu tiên của nước Mỹ cùng đạt đến cấp bậc đô đốc bốn sao.

Tuổi ấu thơ của John McCain gắn với những lần di chuyển của cha từ căn cứ quân sự này tới căn cứ quân sự khác. Được hưởng một nền giáo dục toàn diện và chịu ảnh hưởng sâu sắc của một gia đình có truyền thống binh nghiệp, đã hình thành nên một John McCain đầy cá tính, ưa mạo hiểm. Năm 1958, ông tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ và sau đó 2 năm tốt nghiệp khoá đào tạo phi công, trở thành một phi công hải quân lái máy bay cường kích, chính thức phục vụ trên Hàng không mẫu hạm Forrestal. Khi bắt đầu chiến dịch Rolling Thunder  (Sấm rền, năm 1967), John McCain đã nhiều lần lái máy bay đánh phá các mục tiêu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; tính đến giữa tháng 10-1967, ông ta đã thực hiện 22 phi vụ và trở về an toàn.

Nhưng tài năng và sự may mắn của Jonh McCain không kéo dài lâu, bởi lưới lửa phòng không dày đặc và hiệu quả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 26-10-1967, John McCain điều khiển chiếc A-E Skyhawk (một “con cưng” của Hải quân Mỹ, chỉ đứng sau pháo đài bay B52) từ một hàng không mẫu hạm đậu trên Thái Bình Dương, bay vào vùng trời Hà Nội nhắm tới các mục tiêu trọng yếu như cầu Long Biên, Nhà máy điện Yên Phụ.

Hôm đó Hà Nội đang thu, trời rất trong xanh. 11h30, từ trong máy bay, John McCain nhìn rất rõ Nhà máy điện Yên Phụ nằm cách bờ sông Hồng không xa. Từ độ cao hơn 8.000m, ông ta cho máy bay bổ nhào để cắt bom thì đúng lúc ấy, một quả tên lửa bất thần lao tới khiến chiếc A-4E cắm đầu xuống bãi xỉ than của nhà máy. John McCain bị nhiều mảnh kim loại do vụ nổ gây ra găm vào người nhưng ông ta vẫn kịp bung dù và rơi xuống giữa hồ Trúc Bạch. Trên mình đầy thương tích, John McCain đang hoảng loạn trong cơn tuyệt vọng thì một số người dân, trong đó có ông Mai Văn Ôn đã bất chấp nguy hiểm lao ra khỏi hầm trú ẩn nhảy xuống hồ bơi về phía viên phi công đang chìm dần. Khi được đưa lên bờ, John McCain lại đối mặt với nguy cơ bị những người dân đang bừng bừng căm hờn trút giận lên kẻ đã mang bom đạn dội xuống đầu họ. Rất may, ông Mai Văn Ôn đã kịp khuyên nhủ, ngăn cản cơn thịnh nộ của đám đông trước khi lực lượng bộ đội, công an có mặt và đưa John McCain vào trại giam… Hai tháng sau khi Hiệp định Paris được kí kết, ngày 14-3-1973, cùng với nhiều người bạn tại “Khách sạn Hilton Hà Nội”, John McCain bước chân lên chiếc máy bay quân sự C130 đỗ tại Sân bay Gia Lâm trở về Mỹ.

Đại tá Phạm Đức Đại (bên phải) trao cho Thượng nghị sĩ John Kerry chiếc mũ của phi công John McCain

Bản danh sách đặc biệt

Từ Việt Nam trở về, John McCain tích cực tham gia chính trường, liên tiếp đắc cử Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ và là chính khách nổi tiếng đã 2 lần ra tranh cử Tổng thống Mỹ. Nếu như trong cuộc chiến tranh Việt Nam, John McCain thuộc phái “diều hâu” thì sau này, ông trở thành một trong những người ủng hộ quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Cùng với Thượng nghị sĩ John Kerry, người từng phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam trong những thập niên 60-70 của thế kỉ trước, John McCain đã tác động, thúc đẩy chính quyền của Tổng thống Clinton dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận năm 1994 và bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1995. Cả hai vị thượng nghị sĩ này đã nhiều lần sang Việt Nam để giải quyết vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam (POW/MIA). Ông John Kerry từng là Chủ tịch Ủy ban tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam của Thượng viện Hoa Kỳ.

Trong khi lấy tư liệu viết bài kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, tình cờ chúng tôi được gặp Đại tá Phạm Đức Đại, nguyên Giám đốc Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam). Có thể nói, với gần 50 năm quân ngũ, nhiều năm làm Giám đốc Bảo tàng Quân đội, ông Đại là một “kho tư liệu” về lịch sử Quân đội ta. Nhân đọc loạt bài “40 năm nhìn lại Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đăng trên Báo ANTĐ, ông đã kể lại cho chúng tôi những lần gặp gỡ, làm việc với Thượng nghị sĩ John McCain và John Kerry.

Đầu năm 1992, Đại tá Phạm Đức Đại được lãnh đạo Tổng cục Chính trị giao nhiệm vụ tiếp, làm việc với hai Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain và John Kerry về vấn đề tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh. Sau màn chào hỏi xã giao, ông John Kerry đưa ra một bản danh sách dài những thông tin cá nhân về hơn 1.000 trong tổng số 2.265 quân nhân Mỹ mất tích trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông Đại đọc lướt qua, rồi chân thành nói với ông Kerry: Đây là việc làm vượt quá khả năng của tôi. Ông có thể rút ngắn lại danh sách này? Ông Kerry đã rút ngắn lần 1, rồi tiếp đến lần 2 và những lần sau nữa theo thứ tự ưu tiên; để rồi chỉ còn 24 trường hợp cần làm rõ càng sớm càng tốt. Đây là những trường hợp mất tích có rất nhiều uẩn khúc, thậm chí một bộ phận chính giới Mỹ còn cho rằng những người này vẫn đang bị bí mật giam giữ ở Việt Nam hoặc Việt Nam đã bàn giao họ cho Liên Xô  để khai thác bí mật quân sự?

Nhận bản danh sách đặc biệt này, ông Đại đã chỉ đạo các cán bộ thuộc cấp tìm kiếm trong kho tư liệu, hiện vật lưu trữ. Tuy nhiên, không một thông tin nào liên quan đến 24 người này được phát hiện. Không nản lòng, họ sang Thông tấn xã Việt Nam phối hợp kiểm tra lại toàn bộ ảnh chụp binh lính, phi công Mỹ bị bắt trong chiến tranh và đã thu được thông tin quý giá: Bức ảnh xác chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi ở Quảng Bình, có số hiệu máy bay và ảnh xác viên phi công Morison (rõ cả mặt và bảng tên cùng số hiệu quân nhân trên bộ quần áo bay). Phi công Morison là người có tên trong bản danh sách 24 trường hợp đặc biệt mà Thượng nghị sĩ John Kerry trao cho Đại tá Phạm Đức Đại. Trong lần sau trở lại Việt Nam, khi xem các bức ảnh này, cả hai ông John McCain và John Kerry đều kinh ngạc và xúc động nói: “Từ lúc này, chúng tôi hoàn toàn không tin vào việc người Việt Nam còn giam giữ các quân nhân Mỹ. Chúng tôi đã hiểu sự chân thành của các bạn Việt Nam”.

Ông John McCain được những người dân Việt Nam cứu sống sau khi rơi xuống hồ Trúc Bạch

Chiếc mũ lưu lạc 1/4 thế kỷ

Người Mỹ dường như rất coi trọng những kỷ vật cá nhân, dù nó gắn với một quá khứ đau buồn của họ. John McCain đã nhiều lần trở lại Việt Nam và luôn mong muốn gặp lại những người đã bắn hạ máy bay, cũng như những người đã cứu ông khỏi chết đuối tại hồ Trúc Bạch năm nào. Với thiện chí của phía Việt Nam, mong muốn này của vị Thượng nghị sỹ – cựu phi công đã được toại nguyện. Tuy nhiên, một nguyện vọng lớn của John McCain là tìm lại chiếc mũ phi công mà ông sử dụng khi bị bắn rơi, thì rất khó đáp ứng bởi việc tìm kiếm chẳng khác nào “mò kim đáy bể”…  Nhưng ông cũng được an ủi phần nào khi được vị Giám đốc bảo tàng Quân đội trao tặng những bức ảnh quý báu: ảnh McCain lóp ngóp dưới hồ Trúc Bạch và được người dân cứu vớt; ảnh trong bệnh viện và trong “Hilton – Hà Nội”. Khi xem lại hình ảnh độc đáo của mình gần 30 năm trước, John McCain hóm hỉnh: “Tôi hồi đó cũng đẹp trai lắm đấy chứ!”. Và vị Thượng nghị sĩ Mỹ tha thiết đề nghị ông Đại: “Nếu có thể, mong ngài tìm lại giúp chiếc mũ phi công của tôi?”.

Được sự đồng ý của cấp trên, ông Đại đã chỉ đạo một số cán bộ của mình nỗ lực tìm kiếm qua hàng trăm trang hồ sơ, báo cáo và nhiều nhân chứng; cuối cùng xác định được chiếc mũ của John McCain nằm trong kho của Huyện đội Từ Liêm (Hà Nội). Sau khi kiểm tra những thông tin về chiếc mũ phi công chiến đấu đặc biệt này và xác định nó đúng là của ông John McCain, tháng  11-1992, phía Mỹ đã sang Hà Nội và tổ chức một buổi lễ tiếp nhận. Vì lí do đột xuất, Thượng nghị sĩ John McCain không có mặt và đã ủy nhiệm cho Thượng nghị sĩ John Kerry nhận lại kỷ vật đã lưu lạc một phần tư thế kỷ của mình. Giới truyền thông Mỹ đã lập cầu truyền hình tường thuật trực tiếp sự kiện này tới công chúng Mỹ. Nhận chiếc mũ của phi công John McCain từ đại tá Phạm Đức Đại, Thượng nghị sĩ John Kerry đã xúc động đỡ lấy và nói những lời chân thành: “Tôi tin rằng, với thiện chí của phía Việt Nam, quan hệ hai nước sẽ sớm được bình thường hoá và phát triển không ngừng”.

Duy Anh – Đình Khang
anninhthudo.vn

Những mốc son của bản tình ca bất tử

ANTĐ -Những ngày này, cả nước đang hướng đến Hà Nội tưởng nhớ về một bản anh hùng ca bất tử của trận “Điện Biên phủ trên không” mà quân và dân Thủ đô đã khiến phi công Mỹ phải khiếp sợ.

Đã 40 năm trôi qua, chứng tích về cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ vẫn hằn trên Thủ đô anh hùng. Những con người Việt Nam kết đài hòa lên bản anh hùng ca bất tử trên bầu trời Hà Nội. Những vết tích chiến tranh ở Bạch Mai, Khâm Thiên, làng hoa Ngọc Hà hay ở đâu đó trên mảnh đất nghìn năm văn hiến giờ đã trở thành di tích lịch sử như hình ảnh sống động nói lên ý chí và lòng dũng cảm của quân và dân Thủ đô.

Trận thảm bom ở phố Khâm Thiên khốc liệt hơn bao giờ hết, thế nhưng điều phi nghĩa trên những chiếc B52 mang đến không thể nhấn chìm được bản anh hùng ca của người dân Việt Nam, con người Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Lộc năm nay đã tròn 82 tuổi, nhà ở số 9 ngõ Sân Quần, Khâm Thiên bồi hồi nhớ lại thời khắc ác liệt: “Khi ấy, gia đình tôi đi sơ tán ở ngoại thành chỉ còn tôi và chồng tôi ở lại. Vào khoảng 23h45 đêm 26-12-1972, chồng tôi nghe thấy tiếng máy bay chưa kịp trở tay thì đã bị bom san phẳng tất cả. Tôi thoát chết còn chồng tôi đã vĩnh viễn ra đi”.

Vào những ngày này, bà Lộc thường ra tượng đài liệt sỹ tại Khâm Thiên để thắp nén tâm nhang tưởng nhớ những liệt sỹ anh dũng hy sinh vì Tổ quốc, để nhớ về lòng dũng cảm của những quân và dân Hà Nội


Hồ Hữu Tiệp vẫn còn đó chứng tích của bản anh hùng ca bất tử của quân và dân Thủ đô


Tượng đài Khâm Thiên đã trở thành nơi giáo dục truyền thống
về sự anh dũng hy sinh cho thế hệ trẻ hôm nay


Một trong số tên lửa bảo vệ bầu trời Hà Nội năm 1972
khiến không quân Mỹ phải kinh hoàng, khiếp sợ


Xác máy bay B52 trên Hồ Hữu Tiệp


Làng hoa Ngọc Hà tô điểm cho ngoại ô Hà Nội


Người dân Ngọc Hà tự hào về ngôi làng ngoại ô
vẫn còn đó chứng tích một thời oanh liệt của “Hà Nội 12 ngày đêm”


Những di ảnh của tuổi xuân đã kết thanh tràng hoa đỏ,
trang sử vàng cho Hà Nội hôm nay và mai sau


Sở chỉ huy phòng không nhân dân TP Hà Nội số 4 Yec Xanh


Xác máy bay F111 của không quân Mỹ bị ta bắn rơi trên bầu trời Hà Nội tháng 12-1972


Vỏ đạn súng máy 14,5mm được Liên đội tự vệ Hoàn Kiếm
bắn rơi chiếc F111 A của Mỹ đêm 22-12-1972


Những người con của Hà Nội đến thăm bảo tàng chiến thắng B52 trong những ngày hướng đến kỷ niệm 40 năm “Điện Biên phủ trên không”


Những chứng tích còn đó về 12 ngày đêm ác liệt trong bảo tàng chiến thắng B52


Số nhà 201 phố Trương Định- nơi xác máy bay B52 bị đoàn Sao Đỏ bắn rơi năm 1972


Sự anh dũng đoàn kết của quân và dân Thủ đô đã chiến thắng mọi kẻ thù.

Ánh Nguyệt
anninhthudo.vn

“Bản hùng ca Hà Nội”

ANTĐ – Là chủ đề chương trình cầu truyền hình đặc biệt kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” diễn ra vào 20h ngày 16-12 tới và được truyền hình trực tiếp trên kênh HTV1 Đài PT-TH Hà Nội.

Thông qua 6 điểm cầu từng là 6 trận địa, 6 di tích có ý nghĩa lịch sử trong cuộc chiến đấu anh dũng bảo vệ bầu trời Thủ đô cuối năm 1972 gồm: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sư đoàn 361, Bảo tàng chiến thắng B52, Đài tưởng niệm Khâm Thiên, trận địa tên lửa Chèm, hồ Hữu Tiệp, chương trình sẽ làm sống lại 12 ngày đêm khói lửa nhưng đầy vinh quang của quân và dân ta. Đặc biệt, bối cảnh giao lưu tại mỗi điểm cầu sẽ được dàn dựng sinh động gắn liền với các hiện vật cụ thể như: máy bay, tên lửa, trạm radar…

Ở đó bên cạnh những kỷ niệm được hồi tưởng lại qua lời kể của các anh hùng lực lượng vũ trang từng sống và chiến đấu trong 12 ngày đêm khói lửa, khán giả cũng sẽ có dịp lắng nghe tâm sự của những người dân Hà Nội từng chứng kiến, thậm chí gánh chịu hy sinh mất mát trong trận chiến 12 ngày đêm làm rung động thế giới. Trong số đó có nhiều nghệ sĩ tài hoa như: nhạc sĩ Phú Quang, nhà văn Giang Quân, nhà điêu khắc Nguyễn Tự…

Chương trình do Đài PT-TH Hà Nội tổ chức còn ghi nhận phần trình diễn nghệ thuật cảm động với sự tham gia của nhiều giọng ca tên tuổi: Hồng Nhung, Lan Anh, Trọng Tấn, Việt Hoàn, Tấn Minh, Hồ Trung Dũng…

Ngọc Hà
anninhthudo.vn

Hà Nội tháng chạp 1972

(ANTĐ) – Hà Nội, những ngày tháng chạp năm 2007, thành phố như bức tranh với những mảng màu phong phú, hấp dẫn. Từ nội thành tràn ra năm cửa ô, bên cạnh nét cổ kính và thâm nghiêm của Thăng Long xưa, ở đâu ta cũng bắt gặp những công trình mới.

Những khu nhà đang lên tầng, đêm đêm ánh đèn cần cẩu hòa lẫn ánh sao trời. Những khách sạn, khu đô thị mới đẹp, trẻ trung, bề thế. Những nhà máy hiện đại, khu công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Những khu phố sầm uất, những con đường rợp bóng cây xanh… Tất cả  làm cho gương mặt vốn trầm tĩnh của Hà Nội càng thêm rực rỡ, sinh động.

Xác máy bay B52 Mỹ tại bảo tàng Chiến thắng B52

Đi tìm trầm tích

Người Hà Nội vốn không ưa ru mình trong hào quang chiến thắng cũng như dân tộc này biết khép lại quá khứ – xây dựng và hy vọng vào tương lai. Những dấu tích đổ nát và cả chiến công oai hùng ngày ấy đã nhường chỗ cho cuộc sống bình yên và gương mặt khang trang tươi tắn của Hà Nội hôm nay. Bởi thế đi tìm “dáng đứng” của một cuộc chiến đấu đã lùi sâu vào quá khứ 35 năm quả là điều không mấy dễ dàng.

Ở một góc khuôn viên Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân, tôi nhận ra một cảnh tượng khá lý thú; trên đám đất không rộng lắm, xác chiếc máy bay B52 đầu tiên bị tên lửa ta bắn hạ trên bầu trời Hà Nội trong cuộc đọ sức 12 ngày đêm năm ấy. Những mảng vỡ cháy nham nhở, xếp ngổn ngang, kỳ dị như bộ xương quái vật thời tiền sử. Những dòng chữ và cái biểu tượng về con “át chủ bài” mang đặc phong cách Mỹ, nằm bẹp hoen gỉ lấp ló như cố tình tránh trốn người đời. Gần đấy là bệ phóng tên lửa, chiếc cung thần của chàng Thạch Sanh xưa đã phóng quả đạn thiêu cháy nó, là đài rađa đã phát hiện tốp B52 đầu tiên lẻn vào đánh phá Hà Nội…

Từ những địa điểm khác nhau chúng được đưa về đây làm vật chứng lịch sử. Một cuộc gặp gỡ đầy thú vị giữa người chiến thắng, kẻ chiến bại, giữa sức mạnh văn hóa truyền thống phương Đông và kỹ thuật chiến tranh hiện đại Mỹ.

Bên kia hàng rào thấp là con đường Trường Chinh nhộn nhịp, là cuộc sống sôi động của Hà Nội không ngừng đổi mới. Trong dòng người xe với đủ các gương mặt, lứa tuổi, vị thế xã hội ấy có ai biết nơi đây vẫn lưu giữ một “con mắt thần”, một “tấm chắn” đã bảo vệ hữu hiệu Hà Nội trong 12 ngày đêm khói lửa? Và có ai biết người Hà Nội hào hoa thanh lịch đã đập nát ý chí điên rồ của đế quốc Mỹ trong cuộc đọ sức trên vùng trời Thăng Long như thế nào? Đó là trầm tích mà người Hà Nội đã làm nên trong trận “Điện Biên Phủ trên không” – tháng 12 – 1972.

Sau nhiều năm theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ liên tiếp vấp phải thất bại, Nixon – vị tổng thống “khát vọng chiến tranh” của nước Mỹ, một mặt muốn rút chân ra khỏi vũng bùn ô nhục, mặt khác lại muốn duy trì chế độ bù nhìn Sài Gòn.

Tháng 4-1972, sau một thời gian tạm ngừng, Mỹ ném bom trở lại miền Bắc nước ta, chiến dịch mang tên Linebaker I. Mục tiêu là đánh phá các chân hàng và các trục đường giao thông huyết mạch, trọng điểm vùng khu IV cũ, ngăn chặn việc tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Cái giá chúng phải trả cho âm mưu này quá đắt. Hàng nghìn máy bay chiến thuật đã bị bắn cháy, hàng trăm phi công bị bắt sống, hoặc bị tiêu diệt. Và dòng máu nóng nối liền hậu phương với tiền tuyến chưa một ngày ngừng chảy.

Hội nghị Paris kéo dài nhiều tháng mà vẫn không đi đến một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến tranh Việt Nam.

Một tháng trước ngày nước Mỹ tiến hành bầu Tổng thống nhiệm kỳ 1973–1977, hai phái đoàn đàm phán Việt – Mỹ ở Hội nghị Paris đã nhất trí về mọi điều khoản cho một Hiệp định hòa bình sẽ được ký tắt tại Hà Nội vào ngày 19-10-1972 và sau đó ký chính thức tại Paris ngày 31-10-1972.

Trò lật lọng trơ trẽn

Thế nhưng ngay sau khi thắng cử, Nixon liền trở mặt. Tất cả những lời lẽ cam kết được ông ta tung ra trong cuộc tranh cử, nào là “hòa bình trong tầm tay”, “một giải pháp hòa bình đã có”, v.v… đã bị chính Nixon nuốt trôi. Sự giả dối của Nixon còn bị nhân dân Mỹ lật tẩy sau đó vài tháng trong vụ án đáng xấu hổ Watergate, Nixon phải từ chức. Quay lại với thời điểm tháng 12-1972.

Trưởng phái đoàn đàm phán Mỹ, Kissinger, sau khi bàn bạc, thảo luận với Nixon, từ Nhà trắng bay tới, đòi chúng ta phải thay đổi tới 126 điểm. Có ai biết đằng sau cái trò lật lọng trơ trẽn này, Nixon nuôi hy vọng chiến thắng bằng bom đạn. Tất cả những gì Kissinger co kéo ở bàn đàm phán, mềm mỏng và cứng rắn, cứng rắn rồi mềm mỏng, hoặc bằng thủ đoạn mồi chài qua trung gian chẳng thành thì bom B52 sẽ hỗ trợ. Đó là triết lý của kẻ chuyên lấy thịt đè người.

Trước khi tiến hành chiến dịch dùng B52 ồ ạt ném bom Hà Nội, Hải Phòng, Mỹ đã mở một đợt đánh phá dữ dội các chân hàng và các tuyến giao thông khu vực Tân Kỳ, Đô Lương (Nghệ An). Đó là nước cờ thăm dò cuối cùng với hai mục đích: Cắt đứt sự chi viện từ hậu phương cho chiến trường miền Nam, làm suy yếu sự tấn công mùa khô của quân giải phóng và kéo lực lượng phòng không ở địa bàn Hà Nội vào đây. Riêng tháng 11-1972, Mỹ đã sử dụng 1.213 lần chiếc B52 đánh phá Khu 4.

Khi đã rời khỏi chiếc ghế Tổng thống, Nixon viết trong hồi ký: “Ngày 14-12-1972, tôi ra lệnh tiếp tục thả mìn cảng Hải Phòng và tiến công bằng B52 vào khu vực Hà Nội, Hải Phòng. Ba ngày sau lệnh có hiệu lực. Đây là quyết định khó khăn nhất của tôi trong cuộc chiến tranh này”.

Cái mà Nixon gọi là “quyết định khó khăn nhất” là chiến dịch Linebaker II, cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng. Bằng tính toán này, Nixon nghĩ rằng sẽ “san bằng Hà Nội” trong ba tuần lễ, tạo nên một “cú sốc ồ ạt, bất ngờ nhất”, đẩy dân chúng tới chỗ hoang mang sợ hãi, tạo “sức ép từ bên trong” đòi Chính phủ Việt Nam phải chấp nhận những đòi hỏi của Mỹ. Với cách nghĩ ấy, quả thực kẻ cầm đầu bộ máy chiến tranh Mỹ không hiểu gì về con người Việt Nam, nhân dân Việt Nam. Trong lịch sử chống giặc giữ nước của chúng ta, nhiều kẻ thù đã chuốc lấy thất bại vì sự tính toán sai lầm như vậy và lần này Nixon cũng không thoát khỏi vết xe đổ.

Ngày 18-12-1972, phái đoàn đàm phán ta từ Paris về đến Hà Nội,  trước đó mấy tiếng đồng hồ những chiếc B52 mang đầy bom cũng được lệnh cất cánh từ căn cứ Anderson trên đảo Guam. Khi cố vấn Lê Đức Thọ vừa về tới nhà, chưa kịp nghỉ ngơi sau chặng bay dài mệt mỏi và sự căng thẳng trong cuộc hòa đàm thì những trái bom B52 độc ác đã rơi xuống Hà Nội. Chiếc máy bay chở ông – HB.195 đậu vừa yên chỗ ở sân bay Gia Lâm được vài giờ đã bị một quả bom làm hỏng.

(Còn nữa)

L.V.V
anninhthudo.vn

“Đại bàng trắng” và cú hạ gục B52

Hồi ức 40 năm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

ANTĐ – Đúng dịp kỉ niệm 40 năm Điện Biên Phủ trên không, tôi cùng Đại tá Quách Hải Lượng đến thăm gia đình Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Xuân Thiều, người phi công đã bắn rơi chiếc “pháo đài bay” B52 trong những ngày đêm khói lửa cuối năm 1972. Đại tá Lượng từng là Đội trưởng phiên dịch tiếng Nga, rồi sĩ quan điều khiển của bộ đội tên lửa, nguyên trưởng phòng tác chiến Quân chủng Phòng không không quân. Bởi vậy, trong ông là một “kho” kỉ niệm …

Anh hùng, liệt sĩ Vũ Xuân Thiều

Đam mê chinh phục bầu trời

Trong căn phòng khách ấm cúng của gia đình họ Vũ trên phố Đặng Dung (Hà Nội), có đặt bàn thờ gia tiên; ở một góc là bức ảnh người thanh niên có nụ cười tươi tắn trong bộ quân phục bám đầy tuyết trắng giữa mùa đông của xứ sở Bạch Dương. Đó chính là Thượng uý phi công, Anh hùng Vũ Xuân Thiều. Trên chiếc tủ nhỏ đặt kế bên có bức tượng đồng bán thân của người anh hùng đã hi sinh giữa tuổi thanh xuân. “Bức tượng này do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tặng gia đình” – ông Vũ Xuân Thăng, người anh ruột của phi công Vũ Xuân Thiều cho biết. Bên cạnh bức tượng là chiếc tủ kính nhỏ có đặt bức tượng đá trắng tạc con đại bàng trong tư thế dũng mãnh, một số kỷ vật và mảnh xác chiếc B52 đã bị Vũ Xuân Thiều bắn rơi…

Nhắc đến người em, ông Thăng luôn luôn nói “Chú Thiều nhà tôi”. Bùi ngùi theo dòng kí ức, ông Thăng kể: “Chú Thiều nhà tôi nếu còn sống thì năm nay 67 tuổi, chú ấy sinh năm 1945” – ông nói rồi cho chúng tôi xem bản gốc Giấy khai sinh (bằng tiếng Pháp) của Vũ Xuân Thiều, vẫn được gia đình lưu giữ cẩn thận. Ít người biết rằng, tuy là phi công chiến đấu xuất sắc, thuộc tổ bay đêm, nhưng lúc còn bé Vũ Xuân Thiều từng bị ngã gãy xương quai xanh. Ông Thăng nhớ lại: “Năm ấy gia đình tôi tản cư ở Phú Thọ, làng Yên Luật, xã Tân Phong, huyện Hạ Hoà. Một hôm tôi trèo lên cây hồng trong xóm tìm được quả chín, bèn hái rồi gọi, ném xuống cho Thiều; chú ấy chạy lại đón thì bị ngã, gãy xương quai xanh. Ở đó làm gì có bệnh viện, may nhờ ông lang tên là Bủ Mạc dùng một loại lá rừng giã nát rồi đắp vào, một thời gian sau thì lành hẳn”.

Gia đình Vũ Xuân Thiều có 10 anh em, Thiều là thứ bảy. Ngay từ thuở nhỏ, Thiều đã bộc lộ sự say mê mãnh liệt với… máy bay và bầu trời. Hầu như quyển vở nào của cậu bé Vũ Xuân Thiều cũng có những phác hoạ về máy bay. Đang học năm thứ 3, khoa Vô tuyến điện, Đại học Bách khoa Hà Nội, Vũ Xuân Thiều giấu gia đình đi khám tuyển phi công. Lần đầu, các bác sĩ không phát hiện chiếc xương quai xanh từng bị gãy, nhưng đến phần quay tròn, thì Thiều bị loại. Về nhà, Thiều quyết tâm tập luyện để thi lại. Hàng ngày, Thiều dành thời gian tập thể dục, nhất là môn “quay tròn” nhằm rèn luyện khả năng chịu đựng của một phi công tương lai. Lần khám thứ hai, Thiều vượt qua được các bài tập kiểm tra. Về nhà, Thiều khoe với Bình, cô em gái gần gũi nhất: “Thực ra anh cố chịu đựng, chứ lúc ra khỏi phòng kiểm tra, phải chạy một mạch vào chỗ khuất, nôn thốc nôn tháo. May mà các bác sĩ không phát hiện”.

Vũ Xuân Thiều được Đại học Bách khoa Hà Nội xét đặc cách tốt nghiệp và anh lên đường sang Liên Xô học lái máy bay. Với niềm đam mê học tập và khát vọng mãnh liệt sớm trở về bảo vệ bầu trời Tổ quốc, Thiều đã nhanh chóng nắm vững chiến thuật, kỹ thuật chiến đấu; sử dụng tốt máy bay Mig 21 (loại hiện đại có trang bị đánh ban đêm)… Sau này, một người bạn cùng kíp bay tập với Thiều, là phi công Nhuận đã kể lại với ông Thăng: “Thường ngày thì Thiều hiền như con gái nhưng khi vào tập luyện thì khác hẳn, rất mạnh mẽ. Trong những lần tập bài bay bám đuổi tiêu diệt đối phương, em bay trước, Thiều bám theo sau. Thiều bay quá sát, như liên tục đè ngay trên đầu em, rất dũng cảm và quyết liệt. Lúc cả hai đã hạ cánh xuống sân bay, em bảo Thiều: “Sao mày “gấu” thế? Vào chiến đấu thật, thằng nào bị mày bám thì chỉ có chết!”.

Ông Vũ Xuân Thăng (bên trái) và đại tá Quách Hải Lượng
xem lại những kỷ vật của phi công Vũ Xuân Thiều

Trận đánh cảm tử

Trong một buổi sáng khá ấm áp của mùa đông Hà Nội, câu chuyện về người phi công anh hùng càng trở nên sâu lắng, xúc động. Năm 1968, Vũ Xuân Thiều hoàn thành xuất sắc khoá đào tạo phi công chiến đấu, trở về nước và được phiên chế vào đội bay chiến đấu ban đêm. Ông Thăng cho chúng tôi xem bức thư của Vũ Xuân Thiều gửi bố mẹ, viết ngày 22-5-1972 tại một sân bay bí mật. Thư có đoạn: “Khi cuộc chiến tranh đến giai đoạn tàn khốc nhất, Mỹ huỷ diệt các thành phố, những chiếc máy bay B52 sẽ được dùng vào đêm nhiều hơn và đó sẽ là thời cơ của chúng con… Cấp trên bảo với chúng con rằng: đừng nghĩ đến những chiếc F4 mà hãy nghĩ đến những chiếc B52”.

Lần lượt giới thiệu với chúng tôi một số kỷ vật của người em, ông Thăng bùi ngùi: “Chú Thiều nhà tôi lúc hi sinh mới 27 tuổi đầu, chưa kịp lập gia đình. Nhưng chú ấy đã có bạn gái”… Người bạn gái của Vũ Xuân Thiều là một thiếu nữ Hà thành tài sắc. Mối tình trong sáng của họ bắt nguồn từ một chuyến tham quan. Hôm ấy, Thiều được đơn vị cho đi thăm Tam Đảo và anh đã ngẫu nhiên gặp cô gái xinh đẹp tên là Hoa. Hai người cảm mến nhau từ cái nhìn đầu tiên. Giữa khung cảnh lãng mạn của Tam Đảo, lúc thân mật rồi hỏi chuyện, mới biết nhà Hoa cũng ở ngay phố Đặng Dung. Hoa cũng là bạn học với Bình, cô em gái của Thiều; khi Thiều sang Liên Xô học tập thì Hoa vẫn còn là một cô bé. Tình yêu giữa họ nảy nở và ngày càng nồng thắm… Một thời gian sau, Hoa sang Liên Xô học tập và họ không bao giờ còn được gặp lại nhau.

Ông Thăng kể tiếp: “Thiều rất lãng mạn. Chú ấy viết thư cho Hoa, chỉ dùng loại giấy pơ-luya màu xanh đẹp nhất mua được hồi ấy… Thiều còn ép khô những lá thông hái ở căn cứ đóng tại Sóc Sơn (Hà Nội), gửi sang Liên Xô tặng Hoa. Từ đất nước vĩ đại ấy, Hoa tìm mua được một bức tượng con đại bàng trắng tạc bằng loại đá đặc biệt, có thể phát sáng ban đêm, gửi về tặng Thiều. Bức tượng ấy có ý nghĩa như một lời chúc Thiều và chiếc Mig 21 sẽ như một con đại bàng dũng mãnh hạ gục những “Thần sấm”, “Con ma” và cả B52 của Mỹ.

Cuối tháng 12-1972, Hà Nội hào hùng trong những ngày khói lửa “đất rung, ngói tan, gạch nát”. Lúc 21h41 ngày 28-12-1972, Vũ Xuân Thiều cất cánh từ sân bay Cẩm Thuỷ (Thanh Hoá). Thiều được Sở chỉ huy đóng ở Thọ Xuân dẫn đường vòng ra phía sau đội hình một tốp B52 có rất nhiều máy bay tiêm kích bảo vệ. Đến vùng trời Sơn La, Thiều mưu trí vượt qua hàng rào máy bay tiêm kích và tiếp cận được B52…

Để có thể hình dung việc Mig 21 của ta phải cực kì khó khăn, nguy hiểm như thế nào mới tiếp cận được B52, xin được nói thêm, B52 là loại vũ khí chiến lược của quân đội Mỹ (cùng với tên lửa hạt nhân và tàu ngầm nguyên tử). Vài ngày trước khi B52 cất cánh, các loại máy bay tiêm kích, cường kích được huy động đánh phá ác liệt các sân bay, trận địa tên lửa, cao xạ của đối phương để “dọn đường”. Khi B52 cất cánh, thường có 3 chiếc mỗi tốp (có thể xuất kích cùng lúc nhiều tốp B52) và bao quanh mỗi tốp là rất nhiều các máy bay tiêm kích, cường kích, máy bay gây nhiễu điện tử… để bảo vệ “pháo đài bay B52”. Do vậy, đến gần được B52 phải cực kì mưu trí, dũng cảm. Và Vũ Xuân Thiều đã xuất sắc làm được điều đó.

Trở lại trận đánh đêm 28-12, Sở chỉ huy theo dõi, chỉ đạo sát sao đã đưa Thiều đến vị trí nhìn được B52 bằng mắt thường. Thiều quyết tâm vượt qua các máy bay tiêm kích và đã ở rất gần chiếc pháo đài bay nặng nề. Nhận lệnh từ Sở chỉ huy, Thiều phóng liên tiếp 2 quả tên lửa. Do đã ở cự li quá gần, chiếc Mig 21 không thể thoát khỏi quả cầu lửa khổng lồ bùng lên từ chiếc B52 trúng đạn… Tại Sở chỉ huy thời khắc ấy, những người có mặt đều lặng đi khi dấu mục tiêu (chiếc B52) và chiếc Mig 21 của Vũ Xuân Thiều cùng lúc biến mất trên màn hình rađa.

Sáng hôm sau, đồng chí Phạm Ngọc Lan (người chỉ huy trực tiếp của Vũ Xuân Thiều) và một số đồng đội đi trực thăng lên xã Tạ Khoa (huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La) và tận tay sờ vào xác chiếc B52 Mỹ đã trở thành một đống sắt vụn ven rừng. Chiếc Mig 21 đầy thương tích nằm cách xác chiếc B52 không xa. Những người đồng đội đã bật khóc khi tìm được thi thể Vũ Xuân Thiều, anh bị một vết thương sâu ở sau gáy nhưng nét mặt đầy sự bình thản…

Hai mươi hai năm sau ngày hi sinh, Vũ Xuân Thiều được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hiện anh đang an nghỉ tại khu mộ của gia đình ở nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội). Tên anh đã được đặt cho một đường phố và một trường phổ thông cơ sở của Thủ đô.

Mỗi chiếc B52 có tới 8 động cơ, nên cũng rất khó bị rơi nếu một động cơ bị hỏng. Ngày 20-11-1971, phi công Vũ Đình Rạng cũng tiếp cận và phóng 1 đạn ở khoảng cách 2 km. Quả tên lửa tầm nhiệt đã phá huỷ một trong 8 động cơ nhưng chiếc B52 này vẫn lết về hạ cánh tại căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Lan… Trong lần rút kinh nghiệm trận đánh này, sở chỉ huy nhận thức rõ để đảm bảo an toàn cho phi công ta thì cự ly hiệu quả nhất để tiêu diệt B52 là 2 km, vì nếu gần hơn thì máy bay ta sẽ không kịp thoát khỏi vùng nổ của chiếc B52 chứa đầy xăng và vũ khí. Đến lượt mình, Vũ Xuân Thiều đã hạ quyết tâm tiếp cận ở cự li gần hơn và sẽ phóng 2 quả tên lửa để bảo đảm chiếc B52 phải rơi tại chỗ. Điều này đồng nghĩa, Thiều khó thoát khỏi vùng nổ và có thể hy sinh!

Duy Anh – Đình Khang
anninhthudo.vn

Người Hà Nội đối đầu với “pháo đài bay” B52

(Dân trí) – Từ ngày 18 đến 29/12/1972, B52 đã thực hiện 729 phi vụ, ném 20.000 tấn bom xuống Hải Phòng, Hà Nội và các mục tiêu khác. Với tinh thần chiến đấu ngoan cường Việt Nam đã hạ gục 34 “pháo đài bay” – B52 trên bầu trời Hà Nội.

>> Người từng bị bom B52 vùi lấp kể lại ký ức “Điện Biên Phủ trên không”

Người Hà Nội đối đầu với pháo đài bay - B52
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng lãnh đạo Quân chủng phòng không không quân chuẩn bị phương án đánh B52 năm 1972.

Người Hà Nội đối đầu với pháo đài bay - B52
Trong những năm tháng chiến tranh, một trong những loại bom gây sát thương cao quân đội Mỹ hay sử dụng là bom bi. Mũ được bện chặt bằng rơm khô nên những mảnh bom bi không thể xuyên qua được. Hình ảnh học sinh miền Bắc đội mũ rơm đi học – hình ảnh rất quen thuộc trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. 

Người Hà Nội đối đầu với pháo đài bay - B52

Người Hà Nội đối đầu với pháo đài bay - B52
13 tiểu đoàn tên lửa được trang bị SAM2 – tên lửa đất đối của Liên Xô bảo vệ Hà Nội. 16 trung đoàn pháo cao xạ có nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng và một số khu vực phía bắc Thủ đô. 4 trung đoàn không quân tiêm kích Mig-21 và Mig-17 tham chiến.

Đảng bộ thành phố Hà Nội cho biết trong năm 1972 có 15.000 thanh niên Thủ đô nhập ngũ.
Đảng bộ thành phố Hà Nội cho biết trong năm 1972 có 15.000 thanh niên Thủ đô nhập ngũ.

Năm 1972, mỗi người sở hữu ít nhất ba hầm trú ẩn ở trong nhà, cơ quan và trên đường phố.
Năm 1972, mỗi người sở hữu ít nhất ba hầm trú ẩn ở trong nhà, cơ quan và trên đường phố.

Cầu phao luôn đảm bảo thông tuyến giao thông dưới mưa bom bão đạn của không quân Mỹ
Cầu phao luôn đảm bảo thông tuyến giao thông dưới mưa bom bão đạn của không quân Mỹ

Xác một chiếc máy bay bị quân đội ta hạ gục

Xác một chiếc máy bay bị quân đội ta hạ gục
Xác một chiếc máy bay bị quân đội ta hạ gục

Xác một chiếc máy bay bị quân đội ta hạ gục

Xác một chiếc máy bay bị quân đội ta hạ gục
Trong năm 1972, bệnh viện Bạch Mai đã từng hứng bốn đợt ném bom của không quân Mỹ vào các ngày 16-4, 18-8, 20-12 và 22-12.

Phái đoàn Chính phủ Cộng hòa Pháp bị trúng bom B52 lúc 11g30, khu nhà ở bị phá hủy.

Phái đoàn Chính phủ Cộng hòa Pháp bị trúng bom B52 lúc 11g30, khu nhà ở bị phá hủy.
Phái đoàn Chính phủ Cộng hòa Pháp bị trúng bom B52 lúc 11h30, khu nhà ở bị phá hủy.

Sửa đường tàu bị bom Mỹ phá hỏng tại huyện Thanh Trì.
Sửa đường tàu bị bom Mỹ phá hỏng tại huyện Thanh Trì.

Cầu Long Biên tuyến đường huyết mạch nối Hà Nội với bờ Bắc sông Hồng bị bom Mỹ phá hủy nhiều đoạn.
Cầu Long Biên tuyến đường huyết mạch nối Hà Nội với bờ Bắc sông Hồng bị bom Mỹ phá hủy nhiều đoạn.

KTX Đại học Y Hà Nội bị trúng bom
KTX Đại học Y Hà Nội bị trúng bom

KTX Đại học Y Hà Nội bị trúng bom

KTX Đại học Y Hà Nội bị trúng bom
Ngay sau những trận bom B52 đầu tiên cuối tháng 12-1972, Hà Nội đã huy động mọi phương tiện sơ tán hơn 50 vạn dân nội thành.

KTX Đại học Y Hà Nội bị trúng bom

KTX Đại học Y Hà Nội bị trúng bom
Tết năm 1972 tại Hà Nội. Ảnh do ông Jean Marc Gravier, nhân viên mật mã Phái đoàn của chính phủ Cộng hòa Pháp.

KTX Đại học Y Hà Nội bị trúng bom
Từ ngày 18 đến 29-12-1972, B52 đã thực hiện 729 phi vụ, ném 20.000 tấn bom xuống Hải Phòng và Hà Nội và các mục tiêu khác.

“Pháo đài bay chiến lược” – B52 xuất hiện lần đầu trong không quân Hoa Kỳ vào tháng 6-1955. Trong vòng hơn 40 năm, B52 là chủ bài của sức mạnh ném bom chiến lược Hoa Kỳ. Cánh của B52 có hình mũi tên 350,sải dài 56,39m (bằng chiều rộng của một sân bóng). Khi không tải, chiếc máy bay này nặng 73 tấn và có thể mang 32 tấn bom. Trong chiến tranh Việt Nam, B52 đã hoạt động từ năm 1962 đến năm 1975, nhưng phải đến chiến dịch Linebacker II nó mới đóng vai trò chính yếu. Từ ngày 18 đến 29-12-1972, B52 đã thực hiện 729 phi vụ, ném 20.000 tấn bom xuống Hải Phòng và Hà Nội và các mục tiêu khác.

Quang Phong
dantri.com.vn

Người từng bị bom B52 vùi lấp kể lại ký ức “Điện Biên Phủ trên không”

(Dân trí) – Ngôi nhà 59B gia đình tôi đêm ấy hứng trọn 6 trái bom. Giữa nóc hầm lĩnh đủ một trái, 40 nhân mạng trong hầm không còn ai! Em trai đứng cạnh tôi tử vong tại chỗ. Con gái tôi ra đi ở tuổi 15, khi vừa được kết nạp đoàn… Khâm Thiên hoang tàn!

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không hào hùng, Dân trí xin đăng lại hồi ức của một nhân chứng sống, một cái nhìn chân thực về những mất mát, đau thương không thể tính đếm trong chiến tranh. Nhân chứng sống đó là ông Lê Thanh Tường, nguyên Phó trưởng phòng kho vận C.ty Vật tư kỹ thuật, thuộc Ủy ban Phát thanh-truyền hình Việt Nam, thời đánh Mỹ, được bới lên từ đống gạch ngói, sau trận bom B52 của 12 ngày đêm lịch sử “Điên biên phủ trên không” năm 1972. Nay ông đã 82 tuổi, vẫn nhớ như in cái đêm ác liệt ấy, ông kể lại như chuyện mới ngày hôm qua.. Lời kể do nghệ sĩ Đức Trung ghi lại.

Ngôi nhà số 59B Khâm Thiên – Hà Nội là nơi tôi sinh trưởng, đi học rồi ra đi kháng chiến, bước vào đời quân ngũ cầm vô lăng. Giải phóng thủ đô, ngôi nhà ông nội tôi xây từ năm 1915 vẫn còn nguyên vẹn những kỷ niệm, những nét kiến trúc do chính ông nội tôi – một kiến trúc sư tài hoa – thiết kế và là chủ thầu thi công luôn. Kể cả căn hầm nửa nổi nửa chìm dài 15m, rộng 3,5m, có bậc thềm xi măng làm ghế hai bên, ngày xưa gọi là “Tăng sê”, ông tôi xây để tránh bom thời Nhật Mỹ đánh nhau, từ cuối thập niên 30 thế kỷ trước.

Nhiều thế hệ gia đình tôi nối tiếp nhau trú ngụ và lớn lên ở đó cho đến ngày 25 tháng 12 năm 1972, nghĩa là sau 8 trong 12 ngày đêm lịch sử.

Tôi là một trong những người ở ngôi nhà ấy, chưa kịp sơ tán hoặc vì công tác vẫn ở lại “bám trụ” thành phố.

Sau lễ Chúa giáng sinh, đêm 26 tháng 12, B52 đã dải thảm dọc dãy phố Khâm thiên từ Ô Chợ Dừa đến hồ Thuyền Quang, rồi bỏ chạy vì một chiếc B52 đã bị bắn rơi. Ngôi nhà thân yêu, ôm ấp bao kỷ niệm, trong đêm kinh hoàng đã bị xóa sổ hoàn toàn.

Hình ảnh phố Khâm Thiên hoang tàn đổ nát được một PV Mỹ ghi lại vào ngày 26/12/1972.Hình ảnh phố Khâm Thiên hoang tàn đổ nát được một PV Mỹ ghi lại vào ngày 26/12/1972.

Theo giọng điệu bọn xâm lược hiếu chiến Hoa kỳ lúc đó tuyên bố: “Pháo đài bay B52 không lực Hoa kỳ sẽ đưa Việt Nam trở về thời Đồ Đá”.

Tiếc thay! Quân và dân thủ đô thêm một lần: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, làm nên Chiến thắng oanh liệt “Điện Biên Phủ trên không”.

Tượng đài kỷ niệm tại phố Khâm Thiên, nay còn đó, được ghi lại nỗi đau mất mát trên nét mặt cương nghị: Người đàn bà bồng con bị bom Mỹ sát hại. Đó là dấu ấn của thời gian, của tình yêu và lòng quả cảm bất diệt, truyền thống cha ông, nay đã 40 năm tròn.

Năm 1967, Bác Hồ đến thăm một đơn vị Phòng không không quân, Người đã tiên đoán và chỉ thị cho tư lệnh trưởng Phùng Thế Tài: “Tới đây, nhất định đế quốc Mỹ không chỉ dùng “Thần sấm”, “Con ma”, chúng sẽ dùng không quân chiến lược, Pháo đài bay B52 đánh phá Hà nội, Hải phòng, và một số thành phố khác, để hủy diệt ý chí quân dân ta, hòng xoay chuyển thế cục chiến tranh. Song nhân dân ta quyết không sợ. Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”.

Điều gì phải đến đã đến, để giành ưu thế trên bàn đàm phán bốn bên tại hội nghị Pa-ri về Việt Nam, chiến dịch không kích của Mỹ vào trung tâm đầu não của đất nước đã mở màn.

Lệnh trên ban xuống, 20 giờ 18 tháng 12 năm 1972, các trận địa tên lửa, cao xạ phòng không và lưới lửa tự vệ dân quân đồng thanh lên tiếng, phối hợp nhịp nhàng. Đây là trận sinh tử mang tính quyết định. Bản giao hưởng Anh hùng ca: “Tổ quốc hay là chết”, như âm vang trong trái tim mỗi người dân thủ đô.

Phía sau tượng đài chiến thắng “Điện Biên Phủ trên  không” hôm nay, chính là ngôi nhà 59B của gia đình tôi, đêm ấy đã hứng trọn 6 trái bom, trên diện tích ngót 1.000 mét vuông, riêng giữa nóc “Tăng sê” lĩnh đủ một trái, 40 nhân mạng trong hầm không còn ai, nhân khẩu trong số nhà 59B có 28 người, hàng xóm, khách vãng lai, thấy căn hầm chắc chắn tới trú nhờ, tổng cộng là 42, chỉ còn tôi và ông Tụng, công nhân sở điện sống sót.

Sau trận bom, ông Tụng được tự vệ bới gạch, cậy nắp hầm cá nhân vỡ nát lôi lên, còn tôi, do không kịp xuống hầm, đứng nép sau cửa sổ, xem máy bay bị bắn rơi, đứng bên cạnh là em trai tôi – Lê Thanh Mẫn – giáo viên chuyên toán trường cấp 3 Thanh Miện – Hải Dương, về Hà Nội làm thủ tục chuẩn bị đi nghiên cứu sinh. Thật không may, khi bom thả trúng căn nhà, tấm pa nen xi măng rơi xuống vai, đập vào tai và quai hàm em, em tử vong tại chỗ. Bản thân tôi ngay lúc đó chẳng biết gì, khi hồi tỉnh, thấy toàn thân đau ê ẩm, đầu ướt máu, thân mình bị vùi trong đống gạch đổ nát, lấp đến cổ.

Trong ngôi nhà 40 người ra đi đêm ấy chỉ có Lê Thanh Mẫn, em trai tôi và bà vợ ông Phúc Thắng, cán bộ quân đội sư đoàn 308, được tìm thấy xác. Thảm thương nhất là gia đình ông Vân, dân lao động nghèo, 2 vợ chồng chết cùng 5 đứa con, xác nát nhừ trộn cùng gạch ngói…

Gia đình tôi còn mất thêm hai người thân trong trận bom này, đó là Lê Hồng Thúy, con gái đầu lòng của tôi đang học lớp 9 trường cấp 3 Văn Chương, trường đi sơ tán trên Trúc Sơn, hàng tuần cháu về lấy lương thực.

Thật thương cho cháu Thúy, không được tìm thấy xác như bao người khác. Vợ chồng tôi nhớ mãi việc cháu làm trước lúc đi xa là gánh đầy bể nước cho cô giáo đang ốm nặng và nói rằng: “Cô cứ dùng thoải mái, bao giờ hết ném bom, em sẽ lại về gánh nước cho cô dùng”. Cháu ra đi ở tuổi 15, vừa được kết nạp đoàn viên đoàn Thanh niên Lao động mấy hôm trước.

Còn ông Lê Thanh Khương, em trai của ông nội tôi làm phiên dịch cho Tổng lãnh sự Cộng hòa Pháp. Từ khu sơ tán về lĩnh lương, tháng lương cuối cùng trước khi nghỉ hưu, lĩnh ngày 25, cố nán lại một ngay rồi sẽ lên nơi sơ tán. đêm ấy ông treo quần dài ở đầu giường, mặc quần đùi đi ngủ, sau trận bom, chiếc quần treo cùng tháng lương mới lĩnh vẫn còn đó, nhưng xác ông không biết tìm đâu?

Đường phố Khâm Thiên hoang tàn, sáng hôm sau, người đeo khăn tang đi đầy phố, trên bia tưởng niệm ở Khâm Thiên ghi 600 người tử nạn, đấy là tính người theo sổ hộ tịch, ngoài ra Khâm Thiên còn bao nhiêu người khách tạm trú, vãng lai, khi bến xe và nhà ga ở gần ngay đó.

Hình ảnh phố Khâm Thiên hoang tàn đổ nát được một PV Mỹ ghi lại vào ngày 26/12/1972.Đài tưởng niệm nạn nhân đã hy sinh trong 12 ngày đêm bão lửa tại phố Khâm Thiên, Hà Nội. (Ảnh: Việt Hưng)

Ngôi nhà thân yêu trải qua 57 năm với bao kỷ niệm thời thơ ấu, nay chẳng còn gì, nhưng mất mát đau thương về con người thật khó nguôi ngoai!

Nhiều người cứ nghĩ Hà Nội sẽ qua được tuần lễ sau Giáng sinh tươi đẹp, vì nghĩ rằng bọn phi công Mỹ, lính cậu “Con ông cháu cha” mải vui chơi, ham gì “Giáng tử”, có thể vì thế không ít người đã tỏ ra khinh xuất.

Trận chiến trên không đầy ấn tượng, đòn quyết định cho thắng lợi tại hội nghị Pa-ri về Việt Nam năm ấy, nhưng cái giá phải trả không hề nhỏ.

Nỗi buồn mất mát có thể qua đi, hận thù có thể bao dung tha thứ, nhưng sự hy sinh một thời của cha ông đáng trân trọng biết bao!

Vậy mà hôm nọ, thằng cháu ngoại đến chơi, thấy tôi gõ máy ghi lại lời kể, hắn ghé nhìn rồi bảo: “Người ta đang hướng về tương lai, vila, chung cư cao cấp, ông ngồi kì cạch đào bới quá khứ, chôn vùi bao năm để làm gì?”

Mình nghĩ, ghi lại ký ức xa xưa cốt để lớp trẻ hôm nay, trong đó có con cháu mình, thấu hiểu và tri ân quá khứ, để sống tốt hơn, thế mà…

Thật xót xa! Thôi thì đành mượn ý thơ của nhà thơ Đa-Ghet-Tan mà răn cháu: “Đừng bắn vào quá khứ bằng súng lục, Tương lai sẽ bắn ta bắng đại bác”, cháu ơi!

Theo lời kể nhân chứng sống
Nghệ sĩ Đức Trung (ghi)
dantri.com.vn

Khẳng định tầm vóc của “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

ANTĐ – Nhằm góp phần đánh giá đúng đắn, đầy đủ, toàn diện hơn về một trong những chiến thắng vẻ vang nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, sáng qua, 28-11, Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy và UBND TP Hà Nội đã phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam”.

Hòng xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán Paris, tròn 40 năm trước, Mỹ đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Thủ đô Hà Nội. Với ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, trong 12 ngày đêm, quân và dân miền Bắc đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, buộc chính quyền Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom đánh phá miền Bắc, ký hiệp định Paris, rút quân viễn chinh về nước, thay đổi cục diện chiến tranh. Nhìn lại chặng đường 40 năm, các tham luận tại Hội thảo đều khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định thắng lợi. Bên cạnh đó còn là tinh thần chiến đấu kiên cường, mưu trí, dũng cảm, sự linh hoạt, sáng tạo của bộ đội Phòng không – Không quân, của quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh, thành phố miền Bắc.

Quỳnh Vân
anninhthudo.vn

Hà Nội niềm tin và hy vọng

40 năm nhìn lại “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” (5)

ANTĐ – Đỉnh cao của những cố gắng “thương lượng trên thế mạnh” của Mỹ là “cuộc ném bom mùa Giáng sinh” – đã được chuẩn bị kế hoạch từ trước với mật danh Linebacker II. Mức độ khốc liệt của Linebacker II  là chưa từng có. Nếu như Linebacker I có mục đích “tiêu diệt khả năng chiến tranh của Bắc Việt” thì Linebacker II  nhằm mục tiêu cao hơn: Tiêu diệt ý chí chiến đấu của Bắc Việt, đánh phá tối đa các mục tiêu quan trọng và có giá trị nhất, gây khốn khó tối đa cho người dân…

Hầm trú ẩn được đào trên khắp hè phố Hà Nội

Cuộc tập kích chiến lược Linebacker II của Mỹ trong dịp Giáng sinh 1972  cũng có thể làm Hà Nội bất ngờ trong những phút đầu tiên về quy mô rộng lớn và mức độ tàn bạo của những trận bom “rải thảm”. Nhưng nếu xét ở tầm chiến lược, “Cuộc ném bom mùa giáng sinh” của Mỹ không phải là một bất ngờ với quân và dân miền Bắc Việt Nam. Hà Nội bình tĩnh và tự tin đối đầu với những bước leo thang chiến tranh mới của Mỹ. Hà Nội không khuất phục trước sự tàn bạo của bom đạn.

Chưa bao giờ Hà Nội phải hứng chịu một khối lượng bom đạn lớn như vậy – hơn 10.000 tấn, tương đương với 5 quả bom nguyên tử Mỹ đã ném xuống Hiroshima – trong khoảng thời gian ngắn ngủi như thế – chính xác là 11 ngày đêm vì Mỹ “nghỉ” ném bom trong ngày Giáng sinh. Cũng chưa bao giờ Hà Nội phải chịu những tổn thất lớn đến như thế về người – hơn 1.600 người chết trong 12 ngày đêm và nhiều cơ sở vật chất khác nhà ga, trường học, bệnh viện, khu dân cư, các tuyến đường giao thông… bị phá hủy.

Chiếc mũ rơm gắn liền với hình ảnh của người Hà Nội năm 1972

Khoảng thời gian 40 năm chưa đủ để nguôi vết thương. Những tư liệu và những câu chuyện của các nhân chứng vẫn còn làm nhiều người bàng hoàng khi biết giám đốc bệnh viện Bạch Mai đã từng phải ra lệnh cho các đồng nghiệp của mình tháo khớp của người đã chết để mở đường cứu người bị thương trong vụ ném bom bệnh viện rạng sáng 22-12-1972; Nhiều gia đình không còn ai sống sót. Thương vong sẽ còn lớn hơn nhiều nếu chính quyền và nhân dân thành phố đã không thực hiện tốt công tác phòng tránh và sơ tán. Vượt lên những đau thương mất mát, người ta vẫn thấy cuộc sống lạc quan và đầy quyết tâm của người dân Hà Nội. Trẻ em, người già đi sơ tán về các vùng nông thôn. Người đang làm việc thì cuối tuần lại đạp xe chở chút đồ “tiếp tế” – thường là dầu hỏa, mỡ lợn đã rán hoặc chút thực phẩm khiêm tốn trong thời chiến về thăm con mình ở nơi sơ tán. “… Hồi đó tinh thần hay lắm, nó giúp vượt qua được nhiều thứ. Không sợ, cảm thấy ai cũng có thể làm được nhiều việc, không chỉ riêng mình, ai cũng có thể xông vào để cứu người này, giúp người khác”.

Hoa Ngọc Hà vẫn rực nở như chưa hề có dấu tích chiến tranh khủng khiếp

Trong những năm Hà Nội đối phó với những cuộc tấn công của máy bay Mỹ, người nước ngoài đến Hà Nội đã nhìn thấy một dáng vẻ dũng cảm và vững vàng của cả thành phố và của mỗi người dân. Họ thán phục: “Hà Nội có rất nhiều hầm trú ẩn, các khách sạn không hề có công sự bảo vệ như Sài Gòn. Bồn chồn, bứt rứt thì người trong nước Mỹ ta bồn chồn bứt rứt nhiều. Ở đây chỉ thấy quyết tâm và hy sinh, chỉ thấy một thái độ nghiêm trang”. Với nhân dân tiến bộ trên thế giới, Hà Nội là biểu tượng của phẩm giá và lương tri nhân loại. Hà Nội trở thành biểu tượng bất khuất của một dân tộc yêu tự do, không chịu khuất phục trước sức mạnh của vũ khí. Người Hà Nội bình tĩnh đối phó với bom Mỹ. Cuộc sống thời chiến vẫn có những phút thanh bình. Dù bị cắt ngang bởi những hồi còi báo động và tiếng loa điềm tĩnh giục mọi người xuống hầm tránh bom Mỹ nhưng những đám cưới vẫn tràn ngập nụ cười tin vào tương lai hòa bình tươi sáng. Ở Hà Nội có những em bé bập bẹ tập nói những câu: “Bố ơi… mẹ ơi, chạy, chạy…”, lớn lên trong bom đạn và vẫn hồn nhiên đội mũ rơm đi học ở các trường làng sơ tán.

Chống lại “siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm”, “con ngáo ộp” B52 và các loại máy bay hiện đại khác của Mỹ không chỉ có tên lửa SAM và máy bay MIG mà còn có lưới lửa tầm thấp với súng trường từ các trận địa của dân quân, tự vệ, còn có mũ rơm và nụ cười của các em học sinh vẫn đêm đêm trông về Hà Nội rực sáng lửa đạn và xác “pháo đài bay” đang cháy. Từ mùa xuân Quý Sửu 1973, hình ảnh cô gái làng hoa Ngọc Hà xinh tươi như hoa bên mảnh xác B52 rơi xuống hồ Hữu Tiệp đã trở thành hình ảnh biểu trưng của Hà Nội – trữ tình và chiến thắng hào hùng.

Ngữ Thiên
anninhthudo.vn


Vkyno thân mời độc giả xem Hà Nội 40 năm trước và thưởng thức bác Trung Kiên thể hiện Hà Nội niềm tin và hy vọng

Những bó đuốc khổng lồ trên trời Hà Nội

40 năm nhìn lại “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (4)

ANTĐ – Chiều tối 22-12-1972, tự vệ Thủ đô bắn rơi chiếc F111 “cánh cụp cánh xòe”. Ngay sáng hôm sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến tận trận địa chia vui và kịp thời động viên các chiến sĩ. Sự chỉ đạo sát sao, sáng suốt và những tình cảm nồng ấm của Tổng tư lệnh đã cổ vũ quân và dân Hà Nội làm nên kỳ tích.

Những hố bom sau đợt rải thảm của B52

Mật danh Linebacker II

Tháng 4-1972, Mỹ phát động trở lại cuộc chiến tranh phá hoại hòng bóp nghẹt miền Bắc Việt Nam. Mật danh của chiến dịch được đặt là Linebacker I. Trong cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân của Mỹ được tái khởi động, Hà Nội, Hải Phòng và các đô thị lớn khác ở miền Bắc là các mục tiêu chính. Cường độ cũng như mật độ số lần đánh phá những mục tiêu này luôn ở mức cao.

Cho đến những ngày cuối năm 1972, đỉnh cao của những cố gắng duy trì “thế mạnh” trên bàn thương lượng của Mỹ là “Cuộc ném bom mùa Giáng sinh” – đã được chuẩn bị kế hoạch từ trước với mật danh Linebacker II. Bắt đầu chiến dịch này, ngay đêm đầu tiên (18-12-1972), không lực Mỹ đã huy động tới 90 lần/chiếc B52 và 163 lần/chiếc máy bay chiến thuật, tập kích liên tiếp vào các mục tiêu trọng yếu của Hà Nội như sân bay Nội Bài, Gia Lâm, đài phát thanh Mễ Trì, ga Đông Anh… và đặc biệt là Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không – Không quân, Sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 361.

Trong cuộc đụng độ lịch sử với B52 trên bầu trời Hà Nội, một trong những lực lượng có vai trò rất quan trọng là radar. Với những bài học kinh nghiệm đúc rút từ khắp các chiến trường, từ nhiều trận đánh với B52 trước đây, lực lượng radar đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phát hiện sớm mục tiêu. Tối 18-12-1972, đúng 19h10, Đại đội radar 45, Trung đoàn 291 thông báo sớm 35 phút trước khi B52 vào đánh phá Hà Nội. Đây là khoảng thời gian vô cùng quý giá để các Tiểu đoàn tên lửa chủ động đón hướng và quyết định thời cơ phóng đạn. Lúc 20h13, kíp chiến đấu Tiểu đoàn 59, Trung đoàn tên lửa 261 đã phóng đạn tiêu diệt mục tiêu. Chiếc B52 đầu tiên trúng đạn bùng cháy sáng rực trên bầu trời Hà Nội, như một pháo đài khổng lồ lao xuống cánh đồng Chuôm, thuộc xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Kết thúc ngày đầu tiên của “Điện Biên phủ trên không”, bộ đội tên lửa đã tiêu diệt 3 máy bay B52.

Trong giai đoạn I của chiến dịch Linebacker II, máy bay Mỹ đã liên tục đánh phá Hà Nội trong 6 ngày, 7 đêm; trút hàng ngàn tấn bom đạn xuống mảnh đất từng được mệnh danh là “Thăng Long phi chiến địa”. Với hoả lực phòng không hiệu quả của Việt Nam, kẻ thù đã phải chịu những tổn thất nặng nề với 52 máy bay bị bắn rơi, trong đó có 18 chiếc B52.

Xác một chiếc B52 bị hạ gục trên bầu trời Hà Nội

Chấm dứt một huyền thoại

Bước vào giai đoạn II, từ đêm 26-12-1972, Mỹ huy động 105 máy bay B52 và 100 máy bay chiến thuật yểm trợ, đánh ồ ạt từ nhiều hướng vào nhiều mục tiêu khác nhau ở Hà Nội, Hải Phòng. Không chỉ nhằm vào các mục tiêu quân sự, chính trị, B52 còn ném bom “rải thảm” vào các khu dân cư đông đúc ở Hà Nội như Khâm Thiên, An Dương, làm chết rất nhiều người. Rút kinh nghiệm đợt I, chúng thay đổi thủ đoạn, chiến thuật, thay đổi đường bay, tăng cường gây nhiễu, phóng bom tạo thành những “đám mây nhiễu kim loại” bao phủ bầu trời nhằm che mắt hệ thống radar… Tuy nhiên, ngay trong đêm 26-12, đã có 18 máy bay Mỹ bị tiêu diệt, trong đó có 8 B52 (có 4 chiếc rơi tại chỗ)… Thực trạng trên khiến báo chí phương Tây nhận định chua cay: “Cứ với tốc độ này, chỉ 3 tháng nữa B52 sẽ bị tuyệt chủng!”.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, Mỹ đã sử dụng 741 lượt B52 để trút xuống Hải Phòng và Hà Nội hơn 20.000 tấn bom hủy diệt các mục tiêu dân sự: bệnh viện, khu dân cư, trường học… Tội ác này đã phải trả giá đắt. Mỹ thiệt hại 81 máy bay, trong đó có 34 “pháo đài bay” B52, 5 “cánh cụp cánh xòe” F 111; 43 phi công Mỹ bị bắt sống… Nếu tiếp tục mức độ tổn thất như 12 ngày đêm cuối tháng 12 trên bầu trời Hà Nội thì Mỹ sẽ hết máy bay chiến lược B52 trong vài tháng. Nhưng trầm trọng hơn là tổn thất to lớn về lực lượng phi công lái B52 – thứ còn khó thay thế hơn B52.

Mức độ B52 bị tiêu diệt đạt 17,6% (34/193 chiếc B52; trong đó 34 là con số chiếc B52 bị tiêu diệt, 193 là số máy bay B52 của Mỹ huy động vào chiến dịch; Mỹ có tổng số 400 B42 thời điểm đó) – vượt xa mức mà Nhà trắng có thể chấp nhận được, buộc Mỹ phải chấm dứt cuộc tập kích chiến lược và trở lại Hội nghị Paris… Gần 1 tháng sau, ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris được kí kết, mở ra một giai đoạn mới cho sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam.

Máy bay chiến lược B52, vốn được mệnh danh là “Siêu pháo đài bay”;  cao hơn 12 mét, dài hơn 49 mét, sải cánh hơn 56 mét và nặng trên 200 tấn. Một chiếc B52 có thể mang 30 tấn bom, bay cao tới 20 km và bay liên tục 20.000 km mà không cần tiếp nhiên liệu. Với những tính năng ưu việt và được đội hình máy bay tiêm kích, máy bay gây nhiễu điện tử dày đặc bảo vệ, B52 là “con quái vật” rất khó bị tiêu diệt… Song trong 12 ngày đêm kiên cường chiến đấu, quân và dân ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược của không quân Mỹ. Tổng số 81 máy bay Mỹ trong đó có 34 chiếc B52, 5 chiếc F111A, 21 chiếc F4C-E… đã tan xác trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng…; hàng trăm giặc lái bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống.

(Còn nữa)

Duy Anh – Đình Khang
anninhthudo.vn