Thư viện

Dũng mãnh tên lửa Việt Nam

Là đơn vị đầu tiên bắn rơi tại chỗ B-52 trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” và cũng là trong toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đoàn Tên lửa 93 giờ đây với hệ thống S-300 tối tân, luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ bầu trời Tổ quốc.

Cùng đoàn cán bộ học viên Học viện Đà Lạt đến thăm Đoàn Tên lửa 93 (Sư đoàn Phòng không 367, Quân chủng Phòng không – Không quân), chúng tôi hết sức ngỡ ngàng trước khung cảnh đẹp như công viên của đơn vị. Doanh trại, trận địa chìm trong một màu xanh tươi mát của cây cỏ che phủ những ngôi nhà khang trang và những vũ khí, khí tài hiện đại đang ngày đêm sẵn sàng chiến đấu vì sự bình yên của Tổ quốc. Khu trung tâm của đoàn như được tô điểm bởi đài hoa phun nước cùng những búp sen hồng đang khoe sắc dưới ánh nắng chiều cùng những cây cảnh, chậu hoa được cắt tỉa chăm bón hết sức kỹ lưỡng.

“Toàn đoàn đang ra sức thi đua lập thành tích cao nhất chào mừng kỷ niệm 40 chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không. Đơn vị chúng tôi có vinh dự là đã trực tiếp góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng đó”, thượng tá Lê Thanh Sơn, chính trị viên Đoàn Tên lửa 93, nói.

Dũng mãnh tên lửa Việt Nam 1Trắc thủ nhanh chóng triển khai cọc đất bệ phóng – Ảnh: Vũ Quang Thái

Phát huy truyền thống

Thành lập năm 1965, Tiểu đoàn 93 (tiền thân của đoàn) thuộc Trung đoàn tên lửa 261 là một trong những đơn vị đầu tiên của binh chủng Tên lửa anh hùng đã từng tham gia chiến đấu gần 50 trận, bắn rơi 15 máy bay Mỹ. Trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12.1972, tiểu đoàn đã chiến đấu hết sức dũng cảm, bắn rơi 6 máy bay, trong đó có 3 pháo đài bay B-52 Mỹ rơi tại chỗ. Nổi bật hơn cả là trận đánh lúc 20 giờ 5 phút ngày 20.12, kíp chiến đấu của tiểu đoàn đã xử trí linh hoạt, vận dụng sáng tạo phương pháp bám sát hỗn hợp bắn rơi tại chỗ 1 máy bay B-52. Chiến tích này đã làm tan biến nỗi lo âu, căng thẳng sau đêm 19.12 (toàn bộ lực lượng tên lửa bảo vệ Hà Nội không bắn rơi tại chỗ B-52) và củng cố lòng tin cho các kíp chiến đấu tên lửa khác. Kinh nghiệm quý của tiểu đoàn qua trận đánh đã được quân chủng phổ biến rộng rãi, kịp thời cho các tiểu đoàn khác. Kết thúc chiến dịch 12 ngày đêm, tiểu đoàn được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba.

Trước yêu cầu của tình hình mới, cuối năm 2005, cấp trên quyết định nâng cấp Tiểu đoàn 93 lên thành Đoàn 93, đồng thời lựa chọn những người ưu tú nhất trong toàn sư đoàn gửi sang Nga huấn luyện chuyển loại, kết quả kiểm tra đánh giá của Trung tâm huấn luyện số 1 (Bộ Quốc phòng Nga) đối với các học viên Việt Nam sau 6 tháng miệt mài học tập là: 100% đạt yêu cầu, có 97,8% khá, giỏi.

Dũng mãnh tên lửa Việt Nam 2Hệ thống ra đa có thể kiểm soát cả vùng rộng lớn

Khác hẳn với suy nghĩ ban đầu của chúng tôi, ở khu trận địa của Đoàn 93 không có những giàn tên lửa uy nghi trên bệ phóng luôn sẵn sàng và những xe khí tài thấp thoáng  trong công sự như đã từng thấy ở các trận địa khác. Vậy mà, khi tiếng kẻng báo động từ Sở Chỉ huy đoàn vừa dứt, đã thấy cả đoàn xe khí tài, bệ phóng từ khu cất giấu rầm rập hành quân vào vị trí triển khai, chiếm lĩnh trận địa, rồi dựng ăng ten, ống phóng. Tất cả mọi thao tác đều được tự động hóa, chưa đầy 5 phút sau toàn kíp chiến đấu đã sẵn sàng tác chiến. Tình huống chiến đấu đưa ra là: cùng lúc có 5 tốp mục tiêu địch (có máy bay tiêm kích đa năng, máy bay ném bom chiến lược, tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo) bay ở các giải độ cao khác nhau (từ 10 m đến 21.000 m), có sử dụng nhiễu tiêu cực và tích cực, tên lửa chống ra đa, xâm phạm vùng trời phía nam Tổ quốc. Dưới sự chỉ huy của Đoàn trưởng – thượng tá Lâm Xuân Hải, chỉ trong vòng 4 phút với 6 đạn tên lửa, các sĩ quan, trắc thủ trên đài điều khiển và chiếu xạ 30H6E1 đã nhanh chóng xử lý nhiễu, tiêu diệt mục tiêu trước tuyến hoàn thành nhiệm vụ của địch, vô hiệu hóa tên lửa chống ra đa, bảo vệ an toàn khí tài, trang bị của đoàn.

S-300 sẵn sàng

Theo trung tá Nguyễn Đình Mùi – Đoàn phó Kỹ thuật, thì bộ khí tài của đoàn hiện thuộc loại hiện đại trên thế giới: Tổ hợp tên lửa S-300PMU1 là hệ thống tên lửa phòng không đa kênh, có khả năng cơ động cao với thành phần chính là đài điều khiển và ra đa chiếu xạ cùng lúc có thể bám sát điều khiển 12 đạn đến 6 mục tiêu có cự ly từ 5 đến 150 km, đài ra đa phát hiện mọi độ cao với hệ thống ra đa đa kênh – đa chức năng, có thể phát hiện, bám sát tự động đến 100 phương tiện bay từ cự ly 300 km, xe địa hình để xác định chính xác tọa độ điểm đứng của các thành phần trong tổ hợp giúp cho việc định hướng đài bệ chính xác tuyệt đối. Đoàn còn được trang bị thiết bị thông tin liên lạc trong điều kiện địch dùng các thủ đoạn tác chiến điện tử.

Dũng mãnh tên lửa Việt Nam 3Xe bệ phóng triển khai sẵn sàng chiến đấu – Ảnh: Vũ Quang Thái

Với công nghệ tiên tiến, S-300PMU1 có thể chống được tất cả các loại nhiễu của đối phương. Nếu so sánh với tên lửa Patriot của Mỹ thì S-300PMU1 vượt trội ở 3 điểm quan trọng: Thời gian triển khai chiến đấu ngắn hơn (5 phút so với 15 phút), phương thức phóng (thẳng đứng so với phóng nghiêng; điều khiển được cùng lúc 2 tên lửa đến một mục tiêu (Patriot chỉ điều khiển được 1).

Làm chủ khí tài

Thượng tá Sơn cho biết: Lãnh đạo, chỉ huy đoàn luôn hết sức coi trọng làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm cho bộ đội, coi truyền thống vẻ vang năm xưa là bệ phóng của toàn đoàn hôm nay. Truyền thống là động lực giúp cho đoàn vượt qua khó khăn, thử thách trong những năm qua.

Ở Đoàn 93, chúng tôi đã tâm sự với những cán bộ, sĩ quan còn rất trẻ như thiếu úy Trương Quang Hiệp (quê ở Bình Thuận) là SQ hiện hình luyện tập, đại úy Ngô Minh Vương (quê ở Quảng Bình), kỹ sư tên lửa… và đồng đội của họ, tất cả chỉ mới ngoài 20 tuổi. Ở Đoàn 93 còn có thiếu tá Mè Đức Thiện, trợ lý tham mưu đoàn, là con trai của trung tá Mè Văn Thi, nguyên trắc thủ góc tà của kíp chiến đấu Tiểu đoàn 59 (Trung đoàn 261) đã bắn rơi tại chỗ chiếc B-52 đầu tiên của chiến dịch 12 ngày đêm lịch sử. Tất cả họ đều bày tỏ niềm vinh dự, tự hào, trách nhiệm và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của mình để xứng đáng với truyền thống của cha ông, của đoàn.

Từ năm 2006 đến nay đoàn luôn đạt tiêu chuẩn “đơn vị huấn luyện giỏi”. Vừa qua, thực hành diễn tập MN-12, có thực binh do quân chủng đạo diễn với những tình huống khó khăn, phức tạp, đòi hỏi cao, nhưng đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Tư lệnh tặng bằng khen.

Hồ Thanh Tùng
thanhnien.com.vn

Hà Nội 40 năm sau Điện Biên Phủ trên không

Những ngày mùa đông tháng 12.1972, cả Hà Nội rực lửa với 12 ngày đêm đất rung, ngói tan, gạch nát. Hà Nội anh dũng, kiên cường đã khuất phục “pháo đài bay B52” và làm nên Điện Biên Phủ trên không… Sau gần 40 năm, Hà Nội hôm nay đã đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Ngày 18.12.1972, Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh bắt đầu chiến dịch Linebacker 2, dùng máy bay chiến lược B52, cường kích tàng hình F111A và hàng ngàn chiến đấu cơ tiêm kích chiến thuật, cùng sự hỗ trợ của 5 tàu sân bay tấn công Hà Nội, Hải Phòng với mục đích “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá”. Với kế hoạch này, từ ngày 18 – 29.12.1972, 12 ngày đêm Hà Nội rực lửa với đất rung, ngói tan, gạch nát. Nhưng, quân và dân Hà Nội đã hiệp đồng tác chiến với cách đánh mưu trí, dũng cảm, sáng tạo làm lưới lửa của tên lửa phòng không, pháo phòng không các loại, bủa vây máy bay Mỹ. Sau cùng, hơn 80 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 32 chiếc là B52, cùng nhiều phi công Mỹ bị bắt. Do bị tổn thất nặng nề, lại bị nhân dân Mỹ và thế giới phản đối kịch liệt, Nixon buộc phải ra lệnh chấm dứt không điều kiện cuộc tập kích, chịu thất bại trên bầu trời Hà Nội. Chiến thắng được các nhà quân sự ví như trận “Điện Biên Phủ trên không”, làm thay đổi hoàn toàn cục diện cuộc chiến giữa ta và Mỹ, ngụy Sài Gòn; buộc đế quốc Mỹ phải trở lại bàn đàm phán tại Hội nghị Paris. Ngày 27.1.1973, hiệp định Paris được các bên ký. Mỹ cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, không dính líu về quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam cộng hòa, cam kết rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ về nước…

Năm tháng qua đi, những dấu tích về cuộc trải thảm bằng bom B52 của đế quốc Mỹ trên địa bàn Hà Nội, Hải Phòng… chỉ còn lại những nhân chứng sống, nhà tưởng niệm ở phố Khâm Thiên, Bảo tàng chiến thắng B52 với hàng trăm bức ảnh, hiện vật, mảnh xác B52 của Mỹ và rồi đây Tượng đài chiến thắng B52 sẽ được thành phố Hà Nội xây dựng ở gần Cầu Giẽ thuộc huyện Phú Xuyên… Kể từ năm 1972 đến nay, Hà Nội đã phát triển mạnh mẽ, đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, ở mọi góc cạnh…

Một góc Hà Nội hiện nay – Ảnh: Thái Bình

Hà Nội ngày nay được mở rộng về địa giới, với gần 7 triệu dân, lớn hơn nhiều so với thành phố Hà Nội năm 1972. Trải qua gần 40 năm xây dựng và phát triển, mỗi ngày Thủ đô lại thêm nhiều khu phố mới, công trình mới. Các di tích lịch sử, văn hóa được tôn tạo, bảo tồn. Nhiều công trình lớn như Trung tâm Hội nghị quốc gia, Khu liên hợp thể thao – sân vận động Mỹ Đình, Bảo tàng Hà Nội, Cung tri thức… được xây dựng. Hà Nội hôm nay, ngoài cầu Long Biên, còn có thêm nhiều cây cầu lớn bắc qua sông Hồng và những con đường lớn như Đại lộ Thăng Long, Bắc Thăng Long – Nội Bài, Pháp Vân – Cầu Giẽ, Quốc lộ 5, Quốc lộ 3, Quốc lộ 32 và mở rộng 3 đường vành đai nội đô, các dự án đường trên cao, đường sắt nội thành… Hà Nội hôm nay cũng là trung tâm lớn về giáo dục của cả nước, tập trung hơn 200 trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, với đội ngũ trí thức lớn; nguồn nhân lực có chất lượng cao. Hà Nội hiện có trên 1.500 doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, gần 600 làng nghề hoạt động sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực…

Những năm qua, trên địa bàn TP Hà Nội cũng đã diễn ra biết bao sự kiện chính trị, văn hóa, tổ chức thành công nhiều hội nghị quan trọng của quốc gia và quốc tế. Đặc biệt năm 2010, thành phố đã tổ chức thành công Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, được đồng bào cả nước tự hào, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ. Kinh tế – xã hội của Hà Nội những năm qua cũng luôn ổn định và phát triển, là địa phương trong nhiều năm đi đầu cả nước về thu ngân sách và đóng góp lớn cho ngân sách quốc gia. Tháng 7.2011 vừa qua, thành phố Hà Nội đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung và quy hoạch phát triển KT- XH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050. Với quy hoạch này càng tạo thuận lợi cho thành phố xây dựng và phát triển để xứng đáng với vị thế là Thủ đô ngàn năm văn hiến…

Tự hào với truyền thống ngàn năm văn hiến, thành phố Anh hùng và hòa bình, tự hào với 12 ngày đêm tháng 12.1972 chiến đấu và chiến thắng đế quốc Mỹ bằng trận Điện Biên Phủ trên không, Hà Nội đã và sẽ luôn xứng đáng là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trái tim của cả nước.

Nguyễn Xuân Diên
Phó Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND thành phố Hà Nội
daibieunhandan.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Bản hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại mới

(ĐCSVN)40 năm nhìn lại, chúng ta càng thấy tự hào về ý nghĩa lịch sử và thời đại của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX.

Cùng với quân và dân cả nước, Thủ đô Hà Nội tự hào kỷ niệm 40 năm
chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (Ảnh: Mạnh Hùng)

Cách đây đúng 40 năm, vào lúc 19 giờ 15 phút ngày 18/12/1972, khi hàng trăm máy bay B.52 và các loại máy bay chiến thuật được hệ thống nhiễu dày đặc bảo vệ “hùng hổ” lao vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Chúng đã bị các chiến sĩ Phòng không – Không quân nhân dân Việt Nam kịp thời phát hiện và thông báo, báo động từ xa. Để rồi 30 phút sau, những loạt đạn tên lửa, cao xạ đầu tiên đã bắn thẳng vào đội hình làm cho 6 máy bay bị bắn rơi, có 3 máy bay B.52, trong đó 2 chiếc rơi tại chỗ.

Bị thất bại ngay từ ngày đầu tiến hành chiến dịch, nhưng những ngày sau đó, đế quốc Mỹ tiếp tục huy động một số lượng lớn máy bay B52 và các loại máy bay chiến thuật đánh phá ác liệt liên tục cả ban ngày và ban đêm đối với Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh lân cận. Không quân Mỹ tập trung trinh sát, đánh phá sân bay, trận địa tên lửa, cao xạ, ra đa; đánh cả vào các vùng dân cư, đô thị, trường học, bệnh viện, đài phát thanh .v.v… làm cho hàng vạn ngôi nhà bị tàn phá, hàng ngàn người dân vô tội bị chết; nhiều cán bộ, chiến sĩ của chúng ta hy sinh.

Bình quân mỗi ngày đêm, đế quốc Mỹ huy động tới 60 đến 70 lần chiếc B.52; 300 đến 400 lần chiếc máy bay chiến thuật. Trong đó, đỉnh cao là đêm 26/12, đế quốc Mỹ huy động tới 105 lần chiếc B.52 và hàng trăm lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá Hà Nội. Sau 12 ngày đêm chiến đấu oanh liệt, bằng tất cả lòng căm thù, sự dũng cảm, bằng ý chí và trí tuệ của Việt Nam, bộ đội Phòng không-Không quân, quân dân Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và quân dân toàn miền Bắc đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B.52, 5 F.111, diệt và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Riêng Quân chủng Phòng không – không quân bắn rơi 53 máy bay các loại, trong đó có 32 máy bay B.52. Chiến công này đã làm sụp đổ hoàn toàn thần tượng bất khả chiến bại của “không lực Hoa Kỳ”, làm hoảng loạn tinh thần của những người cầm quyền nước Mỹ. Cuộc tập kích đường không quy mô lớn mang tên “Lai nơ bếch cơ II” của đế quốc Mỹ đã thất bại. Để rồi, đúng 7 giờ ngày 30/12/1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã phải chấp nhận thất bại, tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam, tiếp tục trở lại bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri.

Đối với chúng ta, đây là trận quyết chiến có ý nghĩa chiến lược, là trận thử thách chưa từng có trong lịch sử. Chúng ta đã giành thắng lợi to lớn, toàn diện, buộc Mỹ phải chấp nhận mọi điều khoản của Hiệp định Pari về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, phải thực hiện tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải rút hết quân Mỹ về nước”.

Chiến thắng này đã góp phần tạo ra thế và lực mới cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân ta, để chúng ta thực hiện trọn vẹn lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã thể hiện đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn của Đảng ta, của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Đó là chiến thắng của sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân tộc, là ý chí quyết đánh, dám đánh và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược bằng tất cả sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn. Đó là chiến thắng của sự kế thừa và phát huy truyền thống quân sự Việt Nam, của đường lối chiến tranh nhân dân và nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng trong thế trận Phòng không nhân dân, trong tổ chức hiệp đồng chiến đấu, tạo thành sức mạnh tổng hợp cả trên không và mặt đất để chiến thắng kẻ thù.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” còn có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH của nhân dân thế giới; là đòn đánh lịch sử, mở đường cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới ở Việt Nam; góp phần làm tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của phong trào cách mạng thế giới vào chủ nghĩa đế quốc; đem lại lòng tin cho hàng trăm triệu người trên trái đất đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

“Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi trở thành dấu son chói lọi trong truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta. Chiến thắng đó đã trở thành truyền thống vẻ vang và niềm tin vững chắc trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của bộ đội Phòng không – Không quân nhân dân Việt Nam.

Lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước, ông cha ta đã phải đương đầu với hàng trăm cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến và đế quốc, từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… là những bản anh hùng ca bất diệt. Kế tục truyền thống oanh liệt của Bạch Đằng, Vạn Kiếp, Chi Lăng, Ngọc Hồi-Đống Đa, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Thủ đô Hà Nội đã cùng với nhân dân miền Bắc và lực lượng Phòng không – Không quân đánh tan cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, từng bước xây dựng được thế trận phòng không nhân dân vững chắc, bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hoá của đất nước.

40 năm nhìn lại, chúng ta càng thấy tự hào về ý nghĩa lịch sử và thời đại của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Đây là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX, là trang sử vẻ vang trong truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của thời đại mới.

Chiến thắng đó đã cho chúng ta bài học kinh nghiệm về sự tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu; bài học về tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện; bài học về xây dựng và phát huy ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc; bài học về phát huy sức sáng tạo, tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù; bài học của sự quả cảm, khao khát độc lập tự do, xả thân chiến đấu cho lý tưởng cao đẹp là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Sau chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta khẳng định, chiến dịch phòng không năm 1972, đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ “là chiến dịch đầu tiên trên thế giới đã đánh thắng không quân hiện đại của đế quốc Mỹ. Đây thực sự là một chiến công vĩ đại trong lịch sử dân tộc ở thế kỷ XX, là bản hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại mới”./.

Mạnh Hùng
cpv.org.vn

“Bắn không rơi, tôi xin lao thẳng vào B52”

(Dân trí) – Thượng úy phi công Vũ Xuân Thiều báo cáo: “Bắn B52 địch không rơi tại chỗ, tôi xin lao thẳng vào nó”. Ngày 28/12/1972, anh đã lao thẳng chiếc Mig của mình vào B52 địch. Hoa Kỳ công nhận đây là chiếc máy bay cuối cùng bị không quân Bắc Việt bắn hạ tại chỗ.

Xác máy bay B52 bị quân dân Thủ đô bắn hạ, rơi trên đường Hoàng Hoa Thám.Xác máy bay B52 bị quân dân Thủ đô bắn hạ, rơi trên đường Hoàng Hoa Thám.

Trung tướng Vũ Xuân Vinh, nguyên phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân, người đã có mặt tại Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân suốt 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không ở Hà Nội cho biết: Tính đến tháng 11 năm 1972, Hội nghị 4 bên ở Paris đã họp đến gần 160 phiên nhưng vẫn bế tắc. Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã lệnh cho các lực lượng vũ trang: “Có nhiều khả năng địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng pháo đài bay chiến lược B52 đánh vào Hà Nội – Hải Phòng. Do đó nhiệm vụ của quân chủng Phòng không – Không quân là tập trung mọi khả năng, nhằm đúng đối tượng B52 mà tiêu diệt”.

Đúng vậy, ngày 14/12/1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn ký phê chuẩn chiến dịch Lai-nơ Bếch-cơ 2, bắt đầu đánh trên không vào Hà Nội, Hải Phòng vào 7 giờ sáng ngày 18/12/1972 (giờ Hà Nội là 19 giờ ngày 18/12/1972), đồng thời tiếp tục thả thuỷ lôi phong toả Cảng Hải Phòng.

B52 là loại “siêu pháo đài bay chiến lược” do hãng Bô-inh sản xuất, chiếc đầu tiên được đưa bay thí nghiệm vào 16/4/1952 nên được gọi B52. Sau 20 năm, năm 1972, B52 đã được qua 8 lần cải tiến từ B-52A đến B-52G, B-52H. Mỗi chiếc B-52G hoặc H (loại bị bắn rơi tại Hà Nội tháng 12/1972) có thể mang trên dưới 100 quả bom với trọng lượng từ 17 đến 30 tấn cùng nổ chỉ trong phạm vi 3 đến 10 giây đồng hồ.

Mỗi B52 được trang bị 15 máy điện tử phát nhiễu chống các loại ra-đa của đối phương. Khi B52 tấn công mục tiêu còn có máy bay EB66 gây nhiễu phía ngoài và nhiều tốp F4 thả nhiễu tiêu cực là những bó sợi hợp kim nhôm trong khu vực độ dài khoảng từ 40km đến 70km, dầy khoảng 2km để gây nhiễu. Trung bình mỗi B52 đi chiến đấu có 7 máy bay chiến thuật đi kèm.

Hoa kỳ cho rằng “Đối phương không thể có cách chống đỡ và không còn một sinh vật nào tồn tại nổi dưới những trận mưa bom kinh khủng của loại B52 bất khả xâm phạm”.

Hà Nội - 12 ngày đêm đánh thắng “pháo đài bay” B52 MỹĐại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp duyệt kế hoạch đánh B52 Mỹ tại  Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân tháng 12 năm 1972.

Theo Thượng Tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài: “Từ mùa xuân năm 1968, Bác Hồ đã nói: Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ dung B52 ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Trước đây, trước khi ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Trung tướng Vũ Xuân Vinh cho biết Quân chủng Phòng không – Không quân đã cử nhiều đoàn cán bộ vào các chiến trường nghiên cứu cách chống nhiễu trong đánh máy bay địch. Từ thực tế chiến trường, cán bộ chiến sĩ Quân chủng đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý, xây dựng thành những cẩm nang “Cách chống nhiễu thông tin”, “Quy trình bắt B52 trong nhiễu”… và đặc biệt là cuốn sách “Cách đánh B52 của Bộ đội Tên lửa”.Cuốn sách này dày 30 trang, là sự đúc kết kinh nghiệm, công sức, trí tuệ của một tập thể và phải đổi bằng cả xương máu của nhiều cán bộ, chiến sĩ…

Cuốn cẩm nang đánh B52 hoàn chỉnh trong tháng 11/1972 đã nhanh chóng được phổ biến, triển khai đến các đơn vị chiến đấu, được gọi là “Cuốn sách đỏ”, đã góp phần làm sụp đổ thần tượng Pháo đài bay B52 Mỹ.

Trung tướng Vũ Xuân Vinh nhớ lại sự kiện ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Quân chủng phòng không không quân và chỉ thị: “Cho phép tên lửa các cậu bắn thoải mái, không phải bắn phát một nữa!”.

Ngày đầu tiên của “Điện Biên Phủ trên không” (18/12/1972), 3 máy bay B52 bị tiêu diệt và trận quyết định ngày 26/12/1972 có 8 máy bay B52 bị tiêu diệt.

Mức độ B52 bị tiêu diệt đạt 17,6% (34/193 chiếc), vượt xa mức mà Nhà Trắng có thể chấp nhận được từ 1 – 2%, buộc Mỹ phải chấm dứt cuộc tập kích chiến lược và trở lại Hội nghị Paris…

Đêm 18 rạng sáng ngày 19/12/1972, Đế quốc Mỹ cho 87 lần chiếc B52, 135 lần chiếc máy bay chiến thuật ném bom Hà Nội. Đêm 19/12, chúng tổ chức tiếp 3 đợt bắn phá dã man Hà Nội với 93 lần chiếc B52 và 163 lần chiếc máy bay chiến thuật.

Đêm 20 rạng sáng 21/12/1972, không quân Mỹ đánh phá Hà Nội với 8 tốp B52 (24 chiếc), gần 170 chiếc máy bay chiến thuật. Đêm đầu, quân dân Hà Nội đã bắn rơi 3 B52 Mỹ, 4 máy bay chiến thuật, bắt sống 6 giặc lái. Chiếc B-52G đầu tiên rơi tại chỗ ở Phù Lỗ, Đông Anh. Sau đó ta hạ tiếp 7 B52, bắt sống nhiều giặc lái.

Trong những ngày “Điện Biên Phủ trên không”, báo chí phương Tây nhận định chua cay: “Cứ với tốc độ này, chỉ 3 tháng nữa B52 sẽ bị tuyệt chủng!”.

Việt kiều mừng chiến thắng trước Trung tâm Hội nghị Quốc tế Kléber - ParisViệt kiều mừng chiến thắng trước Trung tâm Hội nghị Quốc tế Kléber – Paris sau buổi ký kết Hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam ngày 27/1/1973.

Trong phiên 171 của Hội nghị Paris tại Kléber ngày 21/12/1972, vừa vào họp, trưởng đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyên bố: “Để biểu thị sự phản đối những cuộc ném bom cực kỳ dã man và thái độ đàm phán lật lọng của phía Mỹ, đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa với sự đồng ý của đoàn đại biểu Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam quyết định bỏ phiên họp lần thứ 171”.

Cả 2 đoàn Việt nam bỏ Hội nghị ra về. Cuộc họp chỉ kéo dài 58 phút.

Đêm 28/12/1972, được thông báo có B52, thượng úy phi công Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích. Anh báo cáo với trung đoàn trưởng: “Bắn mà B52 địch không rơi tại chỗ, tôi sẽ xin lao thẳng vào nó”.

21 giờ 45 ngày 28/12/1972, Vũ Xuân Thiều bắn bị thương chiếc B-52D của phi công Lơ-uýt rồi anh đã lao thẳng chiếc Mig của mình vào B52 địch. Phía Hoa kỳ công nhận đây là chiếc máy bay cuối cùng bị không quân Bắc Việt bắn hạ tại chỗ.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, không lực Mỹ đã huy động gần một nửa số máy bay chiến lược B52 (193/400 chiếc) với 663 lần xuất kích; một phần ba số máy bay chiến thuật (1.077/3.041 chiếc) với 3.920 lần xuất kích, cùng nhiều lực lượng, phương tiện, vũ khí khác. Đó thực sự là một cuộc chiến tàn bạo và huỷ diệt mà theo Mỹ, chúng có thể biến Hà Nội thành bình địa…

Với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đến ngày 29/12, riêng Hà Nội đã bắn rơi 23 B52, nhiều chiếc bị rơi ngay tại chỗ, bắt sống nhiều giặc lái.

Sau sự kiện này, Tổng thống Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam từ 30/12/1972, đi đến việc ký kết Hội nghị về “chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam” tại Paris ngày 27/1/1973.

Những chiến thắng này thuộc công lao tập thể của toàn thể các cán bộ chiến sĩ Phòng không- Không quân, từ Tư lệnh đến anh em các đơn vị tên lửa, cao xạ, ra-đa; của toàn thể lực lượng vũ trang, công an, tự vệ…

Ngoài ra không thể quên công lao của các chiến sĩ áo trắng ngành Y. Ngay khi có báo động B52, mặc cho bom rơi đạn nổ trên đầu, anh chị em không ngại hi sinh, nhanh chóng từ nhà đến bệnh viện cấp cứu những người bị thương do bom đạn giặc Mỹ. Hàng chục bác sĩ, dược sĩ , công nhân viên các bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Sanh Pôn…, sinh viên trường Đại học Y thực tập tại các bệnh viện đã trở thành liệt sĩ.

Trước những đống gạch đổ nát của bệnh viện Bạch Mai, chị bác sĩ Y-vo-nơ, chuyên gia huyết học người Pháp đã không cầm nổi nước mắt nói:

– Tôi chỉ là một bác sĩ, một người làm khoa học nhưng lúc này thấy cần phải làm chính trị để tố cáo tội ác man rợ của Đế quốc Mỹ đã ném bom tàn phá một bệnh viện mà ở đó chỉ có tình thương.

Cũng tại đây, chị Jane Fonda, một nghệ sĩ nổi tiếng người Mỹ bày tỏ:

– Tôi sẵn sàng từ bỏ những thu hoạch kinh tế lớn đến hàng trăm nghìn đô-la mỗi lần hợp đồng đóng phim của tôi để dành cho một việc làm chính trị: đấu tranh chấm dứt cuộc chiến tranh tàn bạo ở Việt nam, chấm dứt những hành động bất nhân của những tên G.I.(Gendarmeri international; có nghĩa là: sen đầm quốc tế) khét tiếng.

Tổng thư ký Hội đồng hòa bình thế giới, ông Rô-mét Săng-đờ-ra nói:

– Cuộc chiến tranh của các bạn Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh mới trong lịch sử, trong từ điển của tất cả các thứ tiếng. Nó có nghĩa là lòng dũng cảm tuyệt vời, lòng quyết tâm và chủ nghĩa anh hùng, nó có nghĩa là tất cả những gì mà mọi người mong muốn tìm trên thế giới này.

* * *

Tháng 12 năm 2012. Đã 40 năm qua, nhớ lại những câu chuyện mười hai ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội năm xưa, càng thấy tự hào về tinh thần chiến đấu ngoan cường, về lòng yêu nước vĩ đại của những người con quê hương Thăng Long – Hà Nội đã trên 1.000 năm tuổi.

Đỗ Sâm
dantri.com.vn

B52 “sập bẫy” tên lửa SAM 2 trên bầu trời Hà Nội

(Dân trí) – “Đúng là bắt được B52 trên màn hình rađa cực khó. Nhưng đã bắt được nó đi như con nhộng trên màn hình thì bắn quả nào trúng quả ấy. Mỹ công bố ta bắn hơn 1.000 quả tên lửa, thực chất bắn 334 quả, diệt 29 B52”, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt nhớ lại.

 >> Anh hùng Phạm Tuân: “Chỉ sợ B52… chạy mất!”

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt (Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tên lửa 57 – Sư đoàn Phòng không Hà Nội), đã chia sẻ với Dân trí những kỷ niệm khi điều khiển tên lửa SAM 2 hạ gục “pháo đài bay” – B52 trên bầu trời Hà Nội.

Trung tướng Nguyễn Văn PhiệtTrung tướng Nguyễn Văn Phiệt

“Máy bay địch từng đánh gần chỗ tôi bắn, chỉ cách 120 – 130m. Do vậy, để bảo vệ được mình và đồng đội phải có những quy định rất nghiêm ngặt như ngụy trang công sự giống như thảm thực vật, phát sóng rađa cũng phải đúng góc độ quy định để địch không thể phát hiện…”, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt cho biết cách né bom đạn máy bay địch của quân đội ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không.

Theo Trung tướng Phiệt, khi bắt đầu sử dụng tên lửa nhiễu sóng, máy bay trên màn hình rađa ít nên khi địch vào vẫn bị hạ gục. Về sau, Mỹ thay đổi chiến thuật lắp thêm nhiều máy gây nhiễu và kéo dài khoảng cách bay giữa các máy bay đến 360m. Vì vậy, năm 1967 đến 1968, người dân băn khoăn nhìn máy bay địch rất gần mà tên lửa không bắn trúng.

Trong 12 ngày đêm, quân đội ta đã diệt 34 máy bay B52. Riêng các đơn vị phòng không quân diệt 29 máy bay, quân chủng phòng không ở Hà Nội hạ 25 máy bay.

“Đã nhiễu, khoảng cách giữa các máy bay lại xa thành thử tên lửa cứ bắn lên trời là đi lọt vào giữa 2 máy bay. Điển hình là ngày 18/12/1972, phát hiện máy bay địch, chúng tôi bắn 11 quả đạn mà không quả nào trúng mục tiêu…”, vị tướng già chia sẻ những khó khăn trong ngày đầu đối phó với B52.Từ những khó khăn đó, lực lượng phòng không – không quân đã tìm cách đánh mới: chỉ đánh vào 1/3 dải nhiễu là trúng đích; còn bay từng tốp thì cứ bám vào 1 chiếc và áp dụng cách đánh đó là “ăn”. Để bắt được B52, lực lượng phòng không cũng phải nâng công suất cho 3 loại máy phát và 6 loại máy thu.

Nhờ những cải tiến đó, đúng 20h11 phút ngày 19/12/1972, tốp B52 của Mỹ bay từ Lào sang đã lọt vào tầm ngắm của tên lửa SAM 2. Chỉ vài giây sau đó chiếc B52 bị bắn hạ.

“Khi hạ được B52 chúng tôi rất phấn khởi. Nhưng thực sự vẫn rất bực vì nó không rơi tại chỗ (quân chủng yêu cầu đơn vị nào cũng phải đánh rơi tại chỗ và phải đi lấy đuôi được mang về chứng minh)”, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt nói và cho biết sang ngày 21 và 22 đơn vị ông đã rơi 2 chiếc B52 tại chỗ.

Các chiến sĩ đơn vị phòng không không quân bảo vệ bầu trời Hà NộiCác chiến sĩ đơn vị phòng không không quân bảo vệ bầu trời Hà Nội

Toàn bộ chiến dịch Điện Biên Phủ trên không 12 ngày đêm, các đơn vị tên lửa đã hạ 29 chiếc B52, trong tổng số 34 chiếc. Riêng ở Hà Nội bắn rơi 25 chiếc B52, trong đó 16 chiếc rơi tại chỗ. Trung đoàn Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt bắn rơi 12 chiếc, trong đó 7 chiếc rơi tại chỗ.

Đến bây giờ Trung tướng Phiệt vẫn thừa nhận bắt được B52 trên màn hình cực khó. Nhưng nếu đã bắt được nó đi như con nhộng trên màn hình thì bắn quả nào trúng quả ấy.

Ngoài ra, để bớt nhiễu do đám máy bay F4 đi theo bảo vệ B52 gây ra, lực lượng phòng không quân quân còn sử dụng chiến thuật bắn tên lửa giả (tên lửa vẫn nằm dưới đất nhưng sóng phát tên lửa đã ra ngoài). “Mỗi lần làm như vậy đám F4 nháo nhào chạy bỏ lại B52, chúng tôi tha hồ xử lý”, Trung tướng Phiệt hồ hởi nói.

Chính vì chiến thuật bắn tên lửa giả, Trung tướng Phiệt cho biết, Mỹ đã sập bẫy SAM 2 trên bầu trời Hà Nội. Chúng đã công bố nhầm chúng ta bắn hơn 1.000 quả tên lửa trong chiến dịch B52. “Thực chất chỉ bắn 334 quả, riêng 12 ngày đêm ở Hà Nội ta bắn 241 quả và diệt 25 B52”, Trung tướng Phiệt tự hào.

Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, trong những ngày đối đầu với không quân Mỹ, có những chiến sĩ đã trở thành “đài rađa sống”. Mặc dù tứ bề bị máy bay địch dội bom những các chiến sĩ vẫn kiên cường ngồi trên đài dùng kính quang học nhìn máy bay địch (khoảng cách nhìn được từ 40 – 45km) để báo cho lực lượng phòng không bắn hạ mục tiêu.

Quang Phong
dantri.com.vn

Người từng bị bom B52 vùi lấp kể lại ký ức “Điện Biên Phủ trên không”

(Dân trí) – Ngôi nhà 59B gia đình tôi đêm ấy hứng trọn 6 trái bom. Giữa nóc hầm lĩnh đủ một trái, 40 nhân mạng trong hầm không còn ai! Em trai đứng cạnh tôi tử vong tại chỗ. Con gái tôi ra đi ở tuổi 15, khi vừa được kết nạp đoàn… Khâm Thiên hoang tàn!

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không hào hùng, Dân trí xin đăng lại hồi ức của một nhân chứng sống, một cái nhìn chân thực về những mất mát, đau thương không thể tính đếm trong chiến tranh. Nhân chứng sống đó là ông Lê Thanh Tường, nguyên Phó trưởng phòng kho vận C.ty Vật tư kỹ thuật, thuộc Ủy ban Phát thanh-truyền hình Việt Nam, thời đánh Mỹ, được bới lên từ đống gạch ngói, sau trận bom B52 của 12 ngày đêm lịch sử “Điên biên phủ trên không” năm 1972. Nay ông đã 82 tuổi, vẫn nhớ như in cái đêm ác liệt ấy, ông kể lại như chuyện mới ngày hôm qua.. Lời kể do nghệ sĩ Đức Trung ghi lại.

Ngôi nhà số 59B Khâm Thiên – Hà Nội là nơi tôi sinh trưởng, đi học rồi ra đi kháng chiến, bước vào đời quân ngũ cầm vô lăng. Giải phóng thủ đô, ngôi nhà ông nội tôi xây từ năm 1915 vẫn còn nguyên vẹn những kỷ niệm, những nét kiến trúc do chính ông nội tôi – một kiến trúc sư tài hoa – thiết kế và là chủ thầu thi công luôn. Kể cả căn hầm nửa nổi nửa chìm dài 15m, rộng 3,5m, có bậc thềm xi măng làm ghế hai bên, ngày xưa gọi là “Tăng sê”, ông tôi xây để tránh bom thời Nhật Mỹ đánh nhau, từ cuối thập niên 30 thế kỷ trước.

Nhiều thế hệ gia đình tôi nối tiếp nhau trú ngụ và lớn lên ở đó cho đến ngày 25 tháng 12 năm 1972, nghĩa là sau 8 trong 12 ngày đêm lịch sử.

Tôi là một trong những người ở ngôi nhà ấy, chưa kịp sơ tán hoặc vì công tác vẫn ở lại “bám trụ” thành phố.

Sau lễ Chúa giáng sinh, đêm 26 tháng 12, B52 đã dải thảm dọc dãy phố Khâm thiên từ Ô Chợ Dừa đến hồ Thuyền Quang, rồi bỏ chạy vì một chiếc B52 đã bị bắn rơi. Ngôi nhà thân yêu, ôm ấp bao kỷ niệm, trong đêm kinh hoàng đã bị xóa sổ hoàn toàn.

Hình ảnh phố Khâm Thiên hoang tàn đổ nát được một PV Mỹ ghi lại vào ngày 26/12/1972.Hình ảnh phố Khâm Thiên hoang tàn đổ nát được một PV Mỹ ghi lại vào ngày 26/12/1972.

Theo giọng điệu bọn xâm lược hiếu chiến Hoa kỳ lúc đó tuyên bố: “Pháo đài bay B52 không lực Hoa kỳ sẽ đưa Việt Nam trở về thời Đồ Đá”.

Tiếc thay! Quân và dân thủ đô thêm một lần: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, làm nên Chiến thắng oanh liệt “Điện Biên Phủ trên không”.

Tượng đài kỷ niệm tại phố Khâm Thiên, nay còn đó, được ghi lại nỗi đau mất mát trên nét mặt cương nghị: Người đàn bà bồng con bị bom Mỹ sát hại. Đó là dấu ấn của thời gian, của tình yêu và lòng quả cảm bất diệt, truyền thống cha ông, nay đã 40 năm tròn.

Năm 1967, Bác Hồ đến thăm một đơn vị Phòng không không quân, Người đã tiên đoán và chỉ thị cho tư lệnh trưởng Phùng Thế Tài: “Tới đây, nhất định đế quốc Mỹ không chỉ dùng “Thần sấm”, “Con ma”, chúng sẽ dùng không quân chiến lược, Pháo đài bay B52 đánh phá Hà nội, Hải phòng, và một số thành phố khác, để hủy diệt ý chí quân dân ta, hòng xoay chuyển thế cục chiến tranh. Song nhân dân ta quyết không sợ. Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”.

Điều gì phải đến đã đến, để giành ưu thế trên bàn đàm phán bốn bên tại hội nghị Pa-ri về Việt Nam, chiến dịch không kích của Mỹ vào trung tâm đầu não của đất nước đã mở màn.

Lệnh trên ban xuống, 20 giờ 18 tháng 12 năm 1972, các trận địa tên lửa, cao xạ phòng không và lưới lửa tự vệ dân quân đồng thanh lên tiếng, phối hợp nhịp nhàng. Đây là trận sinh tử mang tính quyết định. Bản giao hưởng Anh hùng ca: “Tổ quốc hay là chết”, như âm vang trong trái tim mỗi người dân thủ đô.

Phía sau tượng đài chiến thắng “Điện Biên Phủ trên  không” hôm nay, chính là ngôi nhà 59B của gia đình tôi, đêm ấy đã hứng trọn 6 trái bom, trên diện tích ngót 1.000 mét vuông, riêng giữa nóc “Tăng sê” lĩnh đủ một trái, 40 nhân mạng trong hầm không còn ai, nhân khẩu trong số nhà 59B có 28 người, hàng xóm, khách vãng lai, thấy căn hầm chắc chắn tới trú nhờ, tổng cộng là 42, chỉ còn tôi và ông Tụng, công nhân sở điện sống sót.

Sau trận bom, ông Tụng được tự vệ bới gạch, cậy nắp hầm cá nhân vỡ nát lôi lên, còn tôi, do không kịp xuống hầm, đứng nép sau cửa sổ, xem máy bay bị bắn rơi, đứng bên cạnh là em trai tôi – Lê Thanh Mẫn – giáo viên chuyên toán trường cấp 3 Thanh Miện – Hải Dương, về Hà Nội làm thủ tục chuẩn bị đi nghiên cứu sinh. Thật không may, khi bom thả trúng căn nhà, tấm pa nen xi măng rơi xuống vai, đập vào tai và quai hàm em, em tử vong tại chỗ. Bản thân tôi ngay lúc đó chẳng biết gì, khi hồi tỉnh, thấy toàn thân đau ê ẩm, đầu ướt máu, thân mình bị vùi trong đống gạch đổ nát, lấp đến cổ.

Trong ngôi nhà 40 người ra đi đêm ấy chỉ có Lê Thanh Mẫn, em trai tôi và bà vợ ông Phúc Thắng, cán bộ quân đội sư đoàn 308, được tìm thấy xác. Thảm thương nhất là gia đình ông Vân, dân lao động nghèo, 2 vợ chồng chết cùng 5 đứa con, xác nát nhừ trộn cùng gạch ngói…

Gia đình tôi còn mất thêm hai người thân trong trận bom này, đó là Lê Hồng Thúy, con gái đầu lòng của tôi đang học lớp 9 trường cấp 3 Văn Chương, trường đi sơ tán trên Trúc Sơn, hàng tuần cháu về lấy lương thực.

Thật thương cho cháu Thúy, không được tìm thấy xác như bao người khác. Vợ chồng tôi nhớ mãi việc cháu làm trước lúc đi xa là gánh đầy bể nước cho cô giáo đang ốm nặng và nói rằng: “Cô cứ dùng thoải mái, bao giờ hết ném bom, em sẽ lại về gánh nước cho cô dùng”. Cháu ra đi ở tuổi 15, vừa được kết nạp đoàn viên đoàn Thanh niên Lao động mấy hôm trước.

Còn ông Lê Thanh Khương, em trai của ông nội tôi làm phiên dịch cho Tổng lãnh sự Cộng hòa Pháp. Từ khu sơ tán về lĩnh lương, tháng lương cuối cùng trước khi nghỉ hưu, lĩnh ngày 25, cố nán lại một ngay rồi sẽ lên nơi sơ tán. đêm ấy ông treo quần dài ở đầu giường, mặc quần đùi đi ngủ, sau trận bom, chiếc quần treo cùng tháng lương mới lĩnh vẫn còn đó, nhưng xác ông không biết tìm đâu?

Đường phố Khâm Thiên hoang tàn, sáng hôm sau, người đeo khăn tang đi đầy phố, trên bia tưởng niệm ở Khâm Thiên ghi 600 người tử nạn, đấy là tính người theo sổ hộ tịch, ngoài ra Khâm Thiên còn bao nhiêu người khách tạm trú, vãng lai, khi bến xe và nhà ga ở gần ngay đó.

Đài tưởng niệm nạn nhân đã hy sinh trong 12 ngày đêm bão lửa tại phố Khâm Thiên, Hà Nội. (Ảnh: Việt Hưng)
Ngôi nhà thân yêu trải qua 57 năm với bao kỷ niệm thời thơ ấu, nay chẳng còn gì, nhưng mất mát đau thương về con người thật khó nguôi ngoai!

Nhiều người cứ nghĩ Hà Nội sẽ qua được tuần lễ sau Giáng sinh tươi đẹp, vì nghĩ rằng bọn phi công Mỹ, lính cậu “Con ông cháu cha” mải vui chơi, ham gì “Giáng tử”, có thể vì thế không ít người đã tỏ ra khinh xuất.

Trận chiến trên không đầy ấn tượng, đòn quyết định cho thắng lợi tại hội nghị Pa-ri về Việt Nam năm ấy, nhưng cái giá phải trả không hề nhỏ.

Nỗi buồn mất mát có thể qua đi, hận thù có thể bao dung tha thứ, nhưng sự hy sinh một thời của cha ông đáng trân trọng biết bao!

Vậy mà hôm nọ, thằng cháu ngoại đến chơi, thấy tôi gõ máy ghi lại lời kể, hắn ghé nhìn rồi bảo: “Người ta đang hướng về tương lai, vila, chung cư cao cấp, ông ngồi kì cạch đào bới quá khứ, chôn vùi bao năm để làm gì?”

Mình nghĩ, ghi lại ký ức xa xưa cốt để lớp trẻ hôm nay, trong đó có con cháu mình, thấu hiểu và tri ân quá khứ, để sống tốt hơn, thế mà…

Thật xót xa! Thôi thì đành mượn ý thơ của nhà thơ Đa-Ghet-Tan mà răn cháu: “Đừng bắn vào quá khứ bằng súng lục, Tương lai sẽ bắn ta bắng đại bác”, cháu ơi!

Theo lời kể nhân chứng sống
Nghệ sĩ Đức Trung (ghi)
dantri.com.vn

Vững vàng nơi cửa ngõ Thủ đô

Mùa khô năm 1972, huyện Phú Xuyên với Cầu Giẽ – huyết mạch giao thông vận tải cho chiến trường cửa ngõ phía Nam của Thủ đô Hà Nội, áo giáp chở che “Trái tim hồng” của Tổ quốc liên tục bị máy bay giặc Mỹ oanh tạc…

Từ tháng 6/1972 đến tháng 10/1972, Phú Xuyên trở thành “túi bom” của giặc Mỹ. Có ngày như ngày 23/6/1972, không quân Mỹ huy động 22 máy bay đánh phá vào khu vực Nhà máy Đường, Cầu Giẽ, Đại Xuyên. Riêng Nhà máy Đường đã có 53 người chết, 20 người bị thương, nhà máy phải ngừng hoạt động một thời gian.

Đế quốc Mỹ sử dụng máy bay, bom đạn tối tân như bom từ trường, bom xuyên đánh phá Cầu Giẽ, các nhà máy, khu xăng dầu. Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) huyện Phú Xuyên đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội phòng không đánh trả máy bay địch, bảo vệ vững chắc các mục tiêu.

Cầu Giẽ vẫn hiên ngang nối nhịp chở những chuyến hàng cho miền Nam ruột thịt. Nhà máy Đường vẫn nhộn nhịp vào ca… Hai chiếc máy bay hiện đại của Mỹ phải cắm đầu xuống đất trước pháo cao xạ của bộ đội, dân quân Cầu Giẽ và tự vệ Nhà máy Đường.

Bộ đội tên lửa chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu trong những ngày cuối tháng 12/1972.Bộ đội tên lửa chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu trong những ngày cuối tháng 12/1972.

Đêm ngày 18/12/1972, không quân Mỹ mở chiến dịch Linebacker II đánh phá Hà Nội – Hải Phòng. Chúng huy động pháo đài bay B52 kết hợp với lực lượng không quân điên cuồng đánh phá Hà Nội… LLVT huyện Phú Xuyên với tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, sẵn sàng bước vào cuộc đọ sức lịch sử với không quân Mỹ – bảo vệ bầu trời Thủ đô yêu dấu, bảo vệ huyết mạch giao thông.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Huyện ủy, Huyện đội Phú Xuyên đã trực tiếp chỉ đạo các đơn vị dân quân tự vệ, xây dựng củng cố công sự, trận địa, ngụy trang, nghi binh, giúp bộ đội phòng không mang pháo cao xạ 37mm vào trận địa đón lõng hướng bay của không quân địch.

LLVT Phú Xuyên tăng cường hệ thống đài quan sát, báo động, thả kinh khí cầu, gài thêm thuốc nổ, buộc máy địch phải nâng độ cao, tạo điều kiện cho bộ đội phòng không, không quân của ta tiêu diệt máy bay địch.

Ngày 22/12/1972, địch huy động nhiều tốp máy bay đánh vào Cầu Giẽ. Đơn vị D3 của tỉnh kết hợp với LLVT huyện phối hợp với bộ đội phòng không chiến đấu ngoan cường, mưu trí, đã bắn rơi 1 máy bay Mỹ, bắt sống tên Trung tá Wilyam Oanto Coclie…

Suốt trong 12 ngày đêm, Mỹ đã huy động 92 lần máy bay ném bom vào các trọng điểm trên địa bàn Phú Xuyên. Chúng đã bắn tên lửa, rốc két tàn phá khu vực Nhà máy Đường Vạn Điểm và Cầu Giẽ, giết hại nhiều người dân vô tội.

Nhưng mỗi tấc đất Phú Xuyên là một pháo đài, mỗi người Phú Xuyên là một chiến sĩ. LLVT và nhân dân huyện Phú Xuyên đã góp phần cùng với quân dân cả nước đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng pháo đài bay B52 của Mỹ, bảo vệ bầu trời phía Nam của Thủ đô Hà Nội. Tên tuổi những chàng trai Cầu Giẽ, trung đội nữ du kích Phú Yên, những cô pháo thủ làng Chanh còn sáng mãi cùng với mảnh đất Phú Xuyên anh hùng.

Chiến dịch Linebacker II của Mỹ bị thất bại thảm hại trước những con người nhỏ bé mà anh hùng ở Việt Nam. LLVT Phú Xuyên đã ghi một nốt nhạc hào hùng vào bản anh hùng ca trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” lịch sử.

Trong khói lửa của cuộc chiến tranh vĩ đại, huyện Phú Xuyên vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. 40 năm đã trôi qua, nhưng ký ức của những ngày tháng bom rơi đạn nổ vẫn còn in đậm mãi trong lòng người dân Hà Nội nói chung và người dân Phú Xuyên nói riêng.

Cầu Giẽ hôm nay vẫn hiên ngang nối liền mạch máu giao thông Nam – Bắc. Những khu công nghiệp sầm uất mọc lên đàng hoàng to đẹp. Mảnh đất Phú Xuyên giàu truyền thống cách mạng, con người tài hoa, cần cù, nhân hậu mãi mãi sáng danh quê hương “Bách nghệ tinh hoa”, đang chung tay xây dựng Phú Xuyên thành một huyện điểm Nông thôn mới của Thủ đô Hà Nội.

Theo Phạm Thị Dần
Hà Nội mới
dantri.com.vn

Chặn đứng “pháo đài bay” B52

‘Tỷ lệ B52 bị bắn rơi mức độ nào thì Nhà Trắng rung chuyển, mức độ nào thì Mỹ không chịu nổi, phải thua?”, đại tướng Võ Nguyên Giáp từng đặt câu hỏi.

Nỗi ám ảnh SAM 2 ở Hà Nội

Ngày 8/1/1973, báo Tuần tin tức (News Week) chua chát với chính quyền Nixon bằng câu bình luận về chiến dịch Linebacker 2: “Nếu B52 ra Bắc Việt Nam và chịu đựng thiệt hại như mức độ vừa qua thì chẳng cần phải là một thiên tài toán học cũng thấy được rằng cuối cùng Mỹ sẽ hết nhẵn B52”.

Trong khi đó, từ ngày 28/12/1972, Thượng nghị sỹ Mỹ McGovern đã tuyên bố thẳng thừng: “Việc ném bom Bắc Việt Nam cần phải ngừng vì lý do thuần túy quân sự là số thiệt hại về máy bay quá lớn.

… Sẽ không thể có hòa bình và tù binh Mỹ không được về nước chừng nào việc ném bom chưa chấm dứt. Ném bom không mang lại hòa bình, nó chỉ làm cho chiến tranh lan rộng hơn và đẫm máu hơn.

Không quân Mỹ chỉ có 400 máy bay B52, thế mà trong 2 tuần qua đã mất 11 chiếc ở Bắc Việt Nam (11 chiếc là con số mà Mỹ thừa nhận đến ngày 26/12-NV). Chỉ riêng điều đó, chính sách ném bom là vô nghĩa”.

Người Mỹ, đặc biệt là các cựu quân nhân Mỹ, những chỉ huy của quân đội Mỹ, những nhà nghiên cứu quân sự… đã đi tìm kiếm rất lâu câu trả lời tại sao Hà Nội lại có thể “xơi” B52 một cách “ngọt” như thế trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”?

(ảnh tư liệu)(ảnh tư liệu)

Sai lầm về chiến thuật?

Charles Barrows, đại úy hoa tiêu B52 bị bắt làm tù binh đặt vấn đề ngay khi còn ngồi ở Hỏa Lò: “Hệ thống điện tử trên máy bay B52 rất tinh vi và đắt tiền nhưng vẫn không gây nhiễu nổi ra-đa Bắc Việt.

Siêu pháo đài bay B52 đã cải tiến nhiều lần, máy móc rất tốt… Các phi công B52 được huấn luyện công phu, thành thạo các chiến thuật hiện đại và B52 được bảo vệ dày đặc, nhưng vẫn bị bắn rơi vì đạn phòng không… Không quân chiến lược của Mỹ không thể chịu đựng nổi tỷ lệ tổn thất về B52 trên bầu trời Hà Nội”.

Câu hỏi này của Charles Barrows đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt ra theo hướng ngược lại với các cán bộ tham mưu tác chiến của Quân chủng Phòng không VNDCCH từ tháng 5/1972: “Tỷ lệ B52 bị bắn rơi mức độ nào thì Nhà Trắng rung chuyển, mức độ nào thì Mỹ không chịu nổi, phải thua?”.

Cho đến lúc đó các phương án đánh B52 trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đều đã có những yêu cầu về hiệu suất chiến đấu từng trận, từng ngày nhưng chưa nói đến chỉ tiêu về tỷ lệ bắn rơi B52. Đại tướng Tổng tư lệnh đã phát hiện ra thiếu sót đó.

Sau mấy tuần vật lộn với những con số, câu trả lời đã được đưa ra:

– N1 – tỷ lệ Mỹ chịu đựng được là 1 -2% (trên tổng số B52 tham chiến của Mỹ);

– N2 – tỷ lệ làm Nhà Trắng rung chuyển là 6 – 7%;

– N3 – tỷ lệ buộc Mỹ thua cuộc là trên 10%.

Câu hỏi tiếp theo của Tổng tư lệnh với Quân chủng Phòng không Không quân là: Quân chủng chọn tỷ lệ nào? Câu trả lời lần này có ngay lập tức: Chúng tôi loại trừ N1, quyết tâm đạt N2 và vươn tới N3.

Đại tướng chỉ thị: Muốn vậy quân chủng phải làm tốt hai việc: Khẩn trương hoàn thành kế hoạch đánh B52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng để dựa vào đó hoàn tất mọi công tác chuẩn bị; gấp rút hoàn chỉnh các tài liệu về cách đánh B52 để lấy đó mà huấn luyện cho bộ đội thật thành thạo.

Quân chủng Phòng không Không quân đã thực hiện xuất sắc chỉ thị đó, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu N3. Trong 12 ngày đêm mùa đông năm 1972, tỷ lệ B52 bị bắn hạ là 17,6% (34/197 chiếc). Hà Nội góp công trong đó 23 chiếc.

Đại úy phi công lái B52 Robert E. Wolff, cũng bị bắt tại Hà Nội, lại có phân tích khác (trên tờ Air Force Magazine năm 1979): “Khi bay hướng Bắc về phía Trung Quốc, chúng tôi lắng nghe máy bay chiến đấu bắn phá và máy bay gây nhiễu ngăn cản hệ thống phòng thủ của Hà Nội hoạt động. Các máy bay F111 hoàn thành được nhiệm vụ của chúng, một vài máy bay MIG vẫn cất cánh được.

Máy bay chiến đấu càn quét của chúng tôi gặp khó khăn trong việc liên lạc với tàu hải quân Hoa Kỳ hoạt động trong vịnh Bắc Bộ, làm nhiệm vụ phối hợp chặn máy bay đối phương. Các phi công của máy bay hộ tống chúng tôi không thể khai hỏa nếu không nhận được sự cho phép vì chúng tôi không muốn có một sai lầm nào trong việc nhận định địch – bạn.

Viên phi công Mỹ còn nhớ, “ở đây chúng tôi đã có một suy nghĩ. Nhiều phi công trong toán bay tưởng rằng đoạn bay trong lúc bắn phá của phi vụ sẽ là đoạn nguy hiểm nhất. Nhưng trên thực tế, giai đoạn rời khỏi mục tiêu cũng khó khăn không kém. Chúng tôi phát hiện ra là các ác tên lửa SAM đạt hiệu suất cao nhất khi các máy bay B52 đổi hướng lần cuối cùng để rời mục tiêu, vì lúc này ra-đa của đối phương thu nhận được hình ảnh tối đa của máy bay”.

Người ta đã bàn luận nhiều về khía cạnh đó của chiến dịch. Mâu thuẫn gay gắt nhất giữa các tay súng và Bộ tham mưu chiến dịch là về “thế đi của đàn voi con”. Đội hình kéo dài nhiều dặm, các máy bay cùng theo một đường, một độ cao, một hướng. Cả 36 máy bay đến một điểm nhất định rồi lần lượt đổi hướng thì chẳng cần tài giỏi gì phe phòng thủ cũng biết nhằm vào đâu để bắn chiếc 37″.

Đại úy phi công Drenkowski tán thành quan điểm này, nhưng đặt thêm những vấn đề cũng trên tạp chí Air Force: “Tên lửa, pháo phòng không bắn lên dày đặc. B52 thực hiện các thao tác né tránh, tuy biết rằng né tránh cũng chẳng mang lại kết quả gì. Kẻ thù của B52 là tên lửa SAM.

Trong khi bay từng tốp 3 chiếc, kẻ thù của B52 còn là những vụ đụng vào nhau ở trên trời. Lúc này, vũ khí đáng sợ nhất với B52 lại là một chiếc B52 khác đang bay gần cạnh nó. Các nhân viên phi hành bối rối khi thấy ở phía trước lại có B52 bị bắn rơi, trong khi đạn pháo phòng không vẫn nổ tới tấp bốn phía xung quanh.

Trong đêm 19/12, người ta biết chắc chắn là đã có một số B52 bị bắn rơi. Cả 2 chiếc B52G này đều bị trúng tên lửa đúng lúc ngoặt để bay ra khỏi mục tiêu, và rơi gần Hà Nôi. Các toán B52 tiếp sau cũng bị SAM bay lên đón đánh dữ dội. Một B52 khác bị thương bay về đến Lào thì rơi. Đến ngày 20/12, 6 chiếc B52 bị bắn rơi trong 9 giờ.

Vậy là 3 ngày, 300 lần B52 xuất kích, bị bắn rơi 9 chiếc, tỷ lệ tổn thất tới 3%, một tỷ lệ không thể nào chấp nhận. Những máy bay B52 bị bắn rơi lại là những B52G đã được trang bị khí tài gây nhiễu rất mạnh…

Các kíp lái cho rằng tổn thất B52 quá lớn là do việc vạch kế hoạch tồi, chiến thuật kém. Họ thấy cần thu hẹp vòng ngoặt để nhanh chóng thoát khỏi mục tiêu, bay ra vịnh Bắc Bộ. Họ muốn được phép làm các động tác cơ động né tránh, bay theo các đường đan chéo nhau, thu ngắn đội hình, từ nhiều hướng tiếp cận các mục tiêu, độ cao khác nhau thay đổi liên tục không theo quy luật để đối phương khó đối phó. Nhưng như vậy lại vẫn tăng thêm nguy cơ là chính B52 đâm phải nhau trên không”.

Sự ám ảnh SAM2

Tên lửa SAM 2, vẫn được xem là kẻ thù của B52, vì được thiết kế bắn tới độ cao B52 thường sử dụng, vốn được Hà Nội gọi tên là “rồng lửa Thăng Long”, trong chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ vùng trời Thủ đô là mối đe dọa lớn nhất, trở thành nối ám ảnh cho bất cứ kíp bay B52 nào nhận nhiệm vụ mang bom ra vùng châu thổ Sông Hồng.

Tuy nhiên, nghệ thuật điều khiển SAM của lực lượng phòng không – không quân Hà Nội lại là cái khiến người Mỹ phải nghiêng mình.

Trên tạp chí “Không quân Mỹ”, John L.Frisbee viết: “Trong thời kỳ chiến tranh thế giới 2, tổn thất máy bay ném bom bị phòng không hay máy bay chiến đấu đối phương bắn hạ tại hai chiến trường chính yếu được ước tính trung bình: cứ 64 phi xuất thì có 1 chiếc bị bắn hạ và lúc ấy chưa có tên lửa SAM hữu hiệu. Trái lại, trên không phận Hà Nội và Hải Phòng thì cứ 49 phi xuất lại có một B52 bị SAM bắn rơi”.

Cựu Phó Tham mưu trưởng không quân Mỹ khi trả lời tạp chí AirForce vào tháng 6/1973 cũng thừa nhận: “Bắc Việt Nam rõ ràng là có nhiều kinh nghiệm bắn tên lửa SAM cũng như các loại súng phòng không khác. Họ cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc phát hiện máy bay từ các đài điều khiển mặt đất… Không quân Mỹ đã tiến hành chiến tranh điện tử trên quy mô lớn, nhưng các máy bay vẫn dễ bị tổn thương.

…Bắc Việt đã bắn hạ hàng chục B52 bằng cách ngắm bắn bằng mắt thường. Chúng tôi cho rằng Bắc Việt Nam đã phát triển được các lực lượng phòng không dày dạn kinh nghiệm nhất thế giới. Rõ ràng họ có kinh nghiệm hơn bất cứ nước nào trong việc phóng tên lửa SAM lên để hạ máy bay”.

Cũng Drenkowski, trong “Về chiến dịch Linebacker 2”, phân tích: “Những người điều khiển tên lửa SAM khôn ngoan đã quan sát ngay chiếc B52 đi đầu ngoặt khỏi mục tiêu. Họ phóng lên một quả SAM để tên lửa bay theo đường đạn 45 giây tới gần chỗ B52 phải ngoặt. Họ dùng 5-10 giây điều khiển quả tên lửa “khóa” vào điểm ngoặt, sao cho khi tên lửa đến đó vừa đúng lúc chiếc B52 tiếp theo vừa bay tới. Thật ngon xơi!”.

John T. Greenwood, trong cuốn “Chiến tranh Việt Nam” (Vietnam War) chỉ rõ: “Để lợi dụng khả năng có gió mạnh thổi từ hướng Tây Bắc, các máy bay bao giờ cũng từ phía Tây Bắc bay vào các mục tiêu lớn ở Hà Nội. Ngay sau khi trút bom, máy bay phải lượn vòng rất lớn ra phía sau mục tiêu để thoát ra ngoài tầm bắn của tên lửa đất đối không càng nhanh càng tốt.

Theo quy định, các tốp trong đội hình tiến công của B52 chỉ được bay ở các độ cao và hướng khác nhau rất nhỏ. Các tốp phải bám chặc đội hình để làm giảm khả năng dễ bị tổn thương vì tên lửa đổi phương, để tăng hiệu quả bảo vệ của các phương tiện gây nhiễu điện tử trong đội hình và giữa các tốp, để giữ đội hình trong hành lang có thả sợi nhiễu.

Vì các phi công thuộc Bộ tư lệnh không quân chiến lược ít khi bay trong các đội hình lớn vào ban đêm và vì vùng trời Hà Nội chật hẹp sẽ đông đặc máy bay, nên các phi công được lệnh tránh va chạm bằng cách càng ít thực hiện động tác cơ động càng tốt.

Những chiếc B52 đầu tiên trong đêm 18/12 ném bom các sân bay Hòa Lạc, Kép và Phúc Yên.

Sau đó, Kinh Nỗ và Yên Viên bị ném bom. Chiếc máy bay mang mật danh “Than củi” dẫn đầu 9 chiếc B52 cất cánh từ Guam khi đánh vào nhà kho Yên Viên, Ai Mỗ bị 2 tên lửa SAM bắn trúng trước khi kịp trút bom và rơi xuống phía tây bắc Hà Nội. Đó là chiếc B52 đầu tiên bị hỏa lực phòng không Hà Nội bắn rơi trong chiến dịch và là chiếc thứ 2 bị bắn rơi trong cuộc chiến tranh.

Đến nửa đêm, 30 máy bay cất cánh từ Guam oanh tạc Hà Nội một lần nữa. Một chiếc B52 khác bị thương nặng vì tên lửa SAM khi đang ngoặt ra khỏi mục tiêu và rơi ở Thái Lan sau khi tổ lái đã nhảy dù. 5 giờ sau, đợt thứ 3 bay vào, thêm một B52 bị bắn rơi…

Những điểm yếu nghiêm trọng trong việc vạch kế hoạch thực hiện, bộc lộ trong những cuộc oanh tạc ngày thứ nhất đã trở nên rõ nét một cách bi thảm trong những ngày sau. Các chiến thuật áp dụng trong chiến dịch ném bom mang tên Arefight (Đèn hồ quang) ở miền Nam Việt Nam không thích hợp với khu vực Hà Nội, nơi có hỏa lực phòng không mạnh. 5 phi vụ tiến hành hồi tháng 4, đặc biệt là trận oanh tạc Hải Phòng đã dẫn các nhà vạch kế hoạch Mỹ tới những nhận định sai lầm.

Ba đợt, mỗi đêm gây khó khăn cho việc rải sợi nhiễu, hay trấn áp tên lửa đất đối không, đồng thời giúp cho hệ thống phòng không đối phương (Hà Nội – NV) có thời gian hồi phục và chuẩn bị đối phó với đợt tiến công mới.

Gió thổi mạnh giúp cho các máy bay ném bom bay nhanh tới mục tiêu, nhưng đồng thời cũng thổi bạt sợi nhiễu khiến cho các máy bay B52 phải dựa vào thiết bị gây nhiễu của chính mình để tránh bị ra-đa phát hiện.

Hơn nữa, khi ra khỏi mục tiêu, các máy bay B52 phải ngoặt trở lại bay ngược chiều gió mạnh 100 hải lý nên tốc độ rút lui chậm lại quá nhiều, và hướng gây nhiễu bị chệch, khiến cho ra-đa của các trận địa tên lửa SAM lân cận có thể lọt qua những chỗ yếu trong màn nhiễu.

Thêm nữa, đội hình máy bay ném bom quá dài và việc quy định một điểm ngoặt độc nhất cho các máy bay khi ra khỏi mục tiêu đã giúp cho đối phương nhằm đúng điểm ngoặt sau khi những tốp đầu bay qua”.

Đại úy phi công Drenkowski ngao ngán bình luận: “Những thay đổi về chiến thuật sau Noel không phải để đáp ứng đề nghị của phi công… mà vì 3 viên tướng chịu trách nhiệm về chiến dịch này ngồi ở Mỹ chợt nhận ra rằng nếu tốc độ rơi máy bay cứ diễn ra như hiện tại thì chỉ trong 2 tuần nữa sẽ không còn chiếc B52 nào ở Đông Nam Á” (“Tấn bi kịch của Linebacker 2”, tạp chí Armed Forces Journal, tháng 7/1997).

Theo Trường Minh
Vietnamnet
dantri.com.vn

“Giăng bẫy” B52

Ngay sau khi bắn hạ B52 trên bầu trời Vinh (Nghệ An), tháng 11/1972, Quân chủng Phòng không-Không quân đã thảo luận, rút kinh nghiệm rất kỹ và tìm ra 5 quy luật chính góp phần vào chiến thắng B52 trên bầu trời Hà Nội.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, phóng viên đã có mặt tại TP Hồ Chí Minh, gặp gỡ, trò chuyện với Đại tá Từ Đễ, người trực tiếp tham gia bảo vệ bầu trời Thủ đô trong những ngày cuối tháng 12/1972.

“Giăng bẫy” B52Con “Át chủ bài” của không quân Hoa Kỳ đã phải gục ngã và nằm lại hồ Hữu Tiệp phường Ngọc Hà, Hà Nội lúc 23h05 phút đêm 27/12/1972

Tiếp tục câu chuyện, chia sẻ về những bí quyết hạ gục B52 của bộ đội ta, vị cựu phi công chiến đấu thuộc Trung đoàn Tiêm kích 923 cho biết: Chúng ta nắm bắt được quy luật bay của B52, khi muốn vào Hà Nội phải đi từ vùng núi hướng Tây để tránh các trận  địa tên lửa và ra đa, sau đó phải thoát ra khỏi Hà  Nội theo hướng Đông – Nam  để lao về phía vịnh Bắc Bộ cũng nhằm tránh tên lửa và nếu rơi xuống biển thì đã có lực lượng trực thăng cứu hộ chờ sẵn vớt lên.

Muốn di chuyển và ném bom trúng các mục tiêu ở Hà Nội thì máy ngắm ra đa phải dựa vào một số chuẩn lớn như hồ Thác Bà, cầu Đuống, cầu Long Biên, hồ Tây và trên cơ sở này chúng ta đã vạch ra đường bay vào chính xác của chúng.

Sau này khi bắt được giặc lái Mỹ chúng tôi thấy đường  bay trên bản đồ bay của phi công trùng khớp với những dự đoán của ta. Vì thế các trận địa tên lửa, pháo cao xạ được bố trí rất dầy, dọc theo đường bay này.

Đại tá Từ Đễ, cựu phi công chiến đấu thuộc Trung đoàn Tiêm kích 923Đại tá Từ Đễ, cựu phi công chiến đấu thuộc Trung đoàn Tiêm kích 923

Lúc tổng kết chiến dịch, bộ đội Phòng không đều cho rằng không quân Mỹ còn rất may mắn vì thời điểm 1972 số tên lửa  bảo vệ Hà Nội chỉ bằng non nửa so với năm 1966- 1967. Nếu đủ đầy đủ tên lửa SAM 2 như trước và loại tên lửa mới SAM 3 kịp thời bổ sung thì chắc toàn bộ 200 chiếc B52 tham chiến không thể chịu đựng được quá 7 ngày!

Như cách nói đầy lo ngại của nhà báo hãng thông tấn AP: “Cứ theo tốc độ bị bắn rơi như thế này của phòng không miền Bắc thì chỉ một thời gian ngắn nữa là B52 của Mỹ sẽ tuyệt chủng” (Ngày đó trong biên chế chiến đấu của không quân Mỹ có tổng số có 400 chiếc B52 – PV).

Bên cạnh đó, do Thủ  đô Hà Nội còn nhỏ hẹp nên các máy bay hộ  tống, gây nhiễu, chế áp tên lửa không thể cùng bay vào trong đội hình với B52 ở thời điểm thả bom. Mặt khác,  máy bay B52 lại cất cánh từ 2 sân bay khác nhau nên  đội hình chiến đấu phải giữ cứng nhắc, không thay đổi tốc độ, khoảng cách để tránh va chạm.

Lúc này gây nhiễu giảm, chế áp tên lửa cũng ít nên bộ đội tên lửa dễ tập trung vào B52 theo công thức: B52 vào gần thì hiệu quả nhiễu tăng theo bình phương, nhưng tín hiệu phản xạ lại tăng theo lập phương. Vì vậy, hãy bắn gần thì mục tiêu nhất định sẽ hiện trên nền nhiễu! Đó là sự nhạy bén của bộ đội tên lửa, bộ đội Phòng không Việt Nam và không quân Mỹ đã thua toàn diện trên bầu trời Hà Nội năm 1972 chính vì quy luật này.

Hạ B52 bằng… mắt thường

Mig 21 của ta đánh vòng ngoài luôn gây áp lực vỡ đội hình nên luôn tạo sự căng thẳng cho các phi công Mỹ. Hơn nữa không quân ta cũng không thể đánh vòng trong vì dễ bị tên lửa ta bắn nhầm.

Chúng ta còn phát hiện ra quy luật khi vào đánh phá Hà Nội, máy bay B52 đều bật đèn trên lưng để giữ đội hình – phi công lái Mig 21 của ta  lợi dụng quy luật này để từ vòng ngoài vào hạ B52 bằng mắt thường

Trong khi đó, Mỹ rất chủ  quan vì nghĩ rằng đã loại  trừ được tên lửa và máy bay Mig 21 ra khỏi danh sách những  mối đe dọa B52. Cơ sở cho sự chủ quan này cũng rất khoa học khi năm 1967, trong chiến tranh Trung Đông,  Israel đã chiếm được 3 bộ tên lửa SAM 2 và Mig 21 còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu Mỹ đã sản xuất ra các thiết bị nhiễu để vô hiệu  hóa dòng tên lửa này.

Họ đã tự tin nói “Noel 1972, phi công Mỹ dạo chơi trên bầu trời Hà Nội” mà không  hay biết rằng ta đã bí mật dùng 1 loại ra đa cũ trên dải tần và nằm ngoài hệ thống nhiễu của Mỹ. Và thêm một lần nữa không quân Mỹ lại phải trả giá đắt vì điều này.

Cuối cùng, những thông tin tình báo đầy đủ, chi tiết về thời gian, số lượng cất cánh từng chuyến bay của B52 từ căn cứ Guam và Thái Lan chuẩn bị bay vào Hà Nội, đã góp phần không nhỏ vào thế chủ động trên bầu trời Hà Nội của bộ đội ta trong chiến thắng 1972.

Những bài học từ chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không năm 1972 đã trở thành kinh điển trong trong lịch sử quân sự Việt Nam, xứng đáng sánh ngang với những trận đánh nổi tiếng của ông cha như: Chiến thắng của vua Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789, chiến dịch Điện Biên Phủ do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy năm 1954.

Theo Ngọc Quang
Chinhphu.vn
dantri.com.vn

Anh hùng Phạm Tuân: “Chỉ sợ B52… chạy mất!”

(Dân trí) – “Khi gặp B52, máy bay của tôi đạt tốc độ 1.600km/h mà vẫn thấy chậm vô cùng. Đến khi phóng được quả tên lửa đi mới thở phào nhẹ nhõm…”, Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại thời khắc hạ gục B52 của Mỹ.

Ngày 10/12, Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu (nguyên Phó Chính ủy Quân chủng Phòng Không – Không quân), Trung tướng Phạm Tuân (Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Phi công đoàn Không quân Sao Đỏ), Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt (Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tên lửa 57 – Sư đoàn Phòng không Hà Nội), Đại tá Nghiêm Đình Tích (nguyên Đài trưởng đài Radar P.35, Trung đoàn 291, Binh chủng Radar) đã chia sẻ với độc giả trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” tháng 12/1972.

Trung tướng Nguyễn Xuân MậuTrung tướng Nguyễn Xuân Mậu

Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu cho biết, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã hứng chịu nhiều thất bại. Trước nguy cơ thất bại thảm hại, Mỹ chỉ còn con át chủ bài là B52, chúng dùng để đánh Hà Nội hòng ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam và uy hiếp nhân dân.

Nhớ lại những ngày đối đầu với B52 Trung tướng Phạm Tuân cho biết, đây là loại máy bay ném bom chiến lược tầm xa, cự ly bay hàng chục ngàn km, mang tới 30 tấn bom, xen kẽ bom tấn, bom tạ, bom bi, một tốp 3 chiếc B52 có thể san bằng diện tích 2km2. Vì vậy, B52 được dùng để ném bom chiến lược các mục tiêu diện rộng như sân bay, thành phố, trung tâm chính trị…

Cuối tháng 11/1972, phương án cuối cùng đánh B52 đã được Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và tập thể lãnh đạo Bộ Tổng tham mưu trực tiếp thông qua, sau đó được Đại tướng Võ Nguyên Giáp phê chuẩn. “Từ đó, chúng tôi lập kế hoạch đánh B52 và hoàn toàn chủ động”, Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu nhớ lại.

Trong 12 ngày đêm, Mỹ sử dụng 193 máy bay B52 và hơn 1.000 máy bay chiến thuật, trung bình mỗi đêm đánh vào Hà Nội 50-70 lượt B52, cao điểm lên đến 100 lượt B52. Ngoài ra, mỗi đêm trung bình 300 lượt, cao điểm 450 máy bay chiến thuật đánh phá để yểm trợ.

Trung tướng Phạm Tuân cho biết, B52 được bảo vệ bằng các máy bay chiến đấu, tiêm kích đánh chặn, đánh ngay vào mục tiêu như sân bay, trận địa tên lửa. Vì vậy, không quân phải tập bay ở những sân bay ngắn, mới làm ở các nông, lâm trường, tập bay thấp, bay cao để có thể tiếp cận nhanh được B52.

Trung tướng Phạm TuânTrung tướng Phạm Tuân

“Những thời điểm như vậy thể hiện trí tuệ, sáng tạo của dân tộc, của không quân nhân dân Việt Nam. Chúng ta phải cất cánh trong những điều kiện khó khăn, và mệnh lệnh là khi B52 vào, phải cất cánh lên được để đánh”, Trung tướng Phạm Tuân nói về ý chí quyết tâm của quân ta trong những ngày đối đầu với B52.

Theo Trung tướng Phạm Tuân, khi gặp B52, ông không chỉ hồi hộp mà còn lo lắng vì nhiều lý do. Nếu sơ hở một chút, bật ra đa sớm thì F4 (máy bay bảo vệ B52) sẽ đuổi theo và bắn, B52 chạy mất. “Khi gặp B52 xung quanh có rất nhiều F4. Nguy hiểm lúc đó tôi không sợ mà chỉ sợ B52 chạy mất. Tôi báo về sở chỉ huy là có F4 thì thông báo cho biết mình chỉ hướng vào chiếc B52 phía trước. Tôi cố gắng làm sao để đạt tốc độ nhanh nhất, dù bay với tốc độ 1.600km/h mà vẫn thấy chậm vô cùng. Đến khi phóng được quả tên lửa đi mới thở phào nhẹ nhõm và lúc ấy thì mặc kệ F4 xung quanh, không còn lo lắng gì nữa”, Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại thời khắc bắn rơi “pháo đài bay” – B52 từ 40 năm trước.

Trung tướng Nguyễn Văn PhiệtTrung tướng Nguyễn Văn Phiệt

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt cho biết, tháng 12/1972, quân dân miền Bắc bắn rơi 34 chiếc B52, trong đó Hà Nội 29 chiếc, bộ đội tên lửa bắn rơi 25 chiếc, riêng Trung đoàn của ông bắn rơi 12 chiếc (7 chiếc rơi tại chỗ), tiểu đoàn bắn rơi 4 chiếc (2 chiếc rơi tại chỗ).

Để “hạ gục” được máy bay B52, bộ đội ra đa có vai trò rất quan trọng, nguyên Đài trưởng đài Radar P.35, Trung đoàn 291, Binh chủng Radar – Đại tá Nghiêm Đình Tích cho biết, trong chiến tranh hiện đại, tập kích đường không của địch và tác chiến phòng không thực chất là một cuộc chiến tranh điện tử, ngoài yếu tố chính trị tinh thần, thì ai thắng trong cuộc chiến điện tử này sẽ chiến thắng.

Đại tá Nghiêm Đình TíchĐại tá Nghiêm Đình Tích

Theo Đại tá Nghiêm Đình Tích, trong chiến dịch 12 ngày đêm, chúng ta bị không quân Mỹ gây nhiễu ghê gớm hơn nhiều so với chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, họ gây nhiễu từ các hạm tàu, từ các loại máy bay chiến thuật. Tất cả các máy bay đều có máy nhiễu công suất lớn. Đặc biệt, mỗi B52 có 15 máy gây nhiễu, 2 máy phóng nhiễu giấy bạc. Một tốp B52 có 45 máy, như vậy tất cả nhiễu đó tạo thành nhiễu chồng chéo, dày đặc, đan xen, công suất rất lớn, phạm vi rất rộng.

Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh chủng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức các hội nghị chống nhiễu B52. Toàn thể binh chủng tập trung nghiên cứu, phát hiện, bảo đảm cho phòng không – không quân đánh B52. “Trong 12 ngày đêm năm 1972, phát hiện tín hiệu B52 lúc này là rất khó, vì nhiễu rất nặng, nếu không có quy trình thì không thể phát hiện được. Chúng tôi kết hợp nhiều biện pháp để nhiễu B52 nhẹ nhất và tín hiệu B52 rõ nhất, nói một cách hình ảnh là nổi lên 3 đầu tăm thể hiện tín hiệu của từng tốp B52”, Đại tá Nghiêm Đình Tích cho biết.

Trúc Linh
dantri.com.vn

‘Rồng lửa’ Thăng Long xung trận

Khi được báo cáo bằng điện thoại về chiến công bắn rơi tại chỗ chiếc B.52 đầu tiên ở Hà Nội, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp lập tức hỏi lại: “Có đúng B.52 không?”.

>>Chặn đứng ‘pháo đài bay’ / Lầu Năm Góc: Lẩn tránh và Giấu diếm / ‘Điện Biên Phủ trên không’: Chuyện từ phía bên kia / Tù binh và bí mật ‘Điện Biên Phủ trên không’

LTS: 40 năm, một hành trình thời gian đủ dài để các tài liệu từng được liệt vào dạng “Tuyệt mật” (Top Secret) có thể được mang ra ánh sáng, để có cái nhìn đầy đủ về 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” , từ hai phía.

Không nhằm nhắc nhớ, khơi gợi về một chương buồn trong quan hệ Việt – Mỹ, loạt bài nhằm cung cấp thêm một góc nhìn lịch sử, từ người trong cuộc. Và cũng hi vọng, sự thật lịch sử được minh định. Và đó cũng là lời nhắc nhở, rằng ”không có gì quý hơn độc lập, tự do’ và không ai có thể xâm phạm điều đó.

Đêm 18/12/1972, 3 pháo đài bay B.52 bị hạ gục trên bầu trời Hà Nội. Không lực Mỹ choáng váng.

Nguyên Phó Tư lệnh đoàn Phòng không Hà Nội, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ), Thiếu tướng Lê Huy Vinh, 40 năm sau, vẫn không thể quên trận đầu quyết chiến và hạ gục B.52 40 năm về trước.

Ông nói: “Chúng ta đã đầu tư không ít công sức và xương máu từ năm 1965 đến trước thời điểm đêm 18/12/1972 mà vẫn chưa hạ được chiếc B.52 nào rơi tại chỗ. Còn sau đêm 18/12/1972, chúng ta đã có thể khẳng định niềm tin vững chắc: Hoàn toàn có thể bắn rơi pháo đài bay B.52, vẫn được quảng bá là “con quái vật điện tử bất khả xâm phạm”.

Hạ gục B.52 tại chỗ

… 18h ngày 18/12/1972, sau một ngày hoàn toàn yên tĩnh, các đài ra-đa cảnh giới của Hà Nội bỗng đồng loạt thông báo có hiện tượng nhiễu với cường độ ngày càng tăng. Hiện tượng này cho biết sắp có một đợt hoạt động lớn của không quân Mỹ.

15′ sau, Tổng trạm ra đa nhận được thông báo vượt cấp của Đại đội 37: Có những tốp F111 xuất hiện trên vùng trời Sầm Nưa. Cũng chỉ 15′ sau, từ hai hướng Tây Bắc và Đông Bắc bắt đầu có nhiễu ngoài đội hình của máy bay EB66.

B52 Mỹ bị bắn rơi tại Hà Nội. Ảnh tư liệu.

18h50′, bộ đội PK-KQ được lệnh chuyển vào “Cấp 1” (lệnh cấp sẵn sàng chiến đấu cao nhất). Đúng 19h, Đại đội 16 ra-đa phát hiện có nhiễu B52. Kíp trắc thủ đã kịp thời thông báo những toạ độ đầu tiên của chúng. Vài phút sau, từ Sở chỉ huy Quân chủng, tín hiệu báo động B.52 cho toàn thể lực lượng PK-KQ được bàn tay các báo vụ viên phát đi trên làn sóng điện.19h15′, ở Đại đội 45 ra-đa, bằng một sự khẳng định hết sức dũng cảm, dứt khoát và đầy trách nhiệm, đài trưởng Nghiêm Đình Tích báo cáo với Đại đội trưởng phán đoán của mình: “B.52 đang bay vào Hà Nội”.

Các đơn vị chủ động vào trận đánh với một quyết tâm rất cao: Không có con đường nào khác, giống như các Hồng quân Liên Xô nhiều năm trước: “Đằng sau là Mátxcơva”. Tất cả các bệ phóng, các nòng pháo đã quay về hướng máy bay Mỹ đang vào vùng trời Hà Nội.

Ở trên độ cao trên 30.000 feet, hàng đàn pháo đài bay B.52 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã xé màn đêm bay vào Hà Nội. 19h44′, quả đạn tên lửa đầu tiên của Tiểu đoàn 78 (Trung đoàn 257) đã rời bệ phóng, mở đầu cuộc nghênh tiếp những con quái vật B.52 vẫn được xem là bất khả xâm phạm, được bảo vệ dày đặc bởi lực lượng tiêm kích hộ tống F111, F4, F105.

Tiếp đó là hàng loạt những con rồng lửa của các Tiểu đoàn 57, 59, 73, 94 bay vút lên trời. Trước đó, những chiếc MIG 21 đã rời đường băng để lao vào đội hình pháo đài bay của Mỹ.

Ngay sau đó, Sở chỉ huy bị trúng bom, 17 đồng chí hy sinh, 30 đồng chí khác bị thương. Trận địa Yên Viên cũng chìm trong khói lửa. Tại trận địa Cổ Loa, bom rơi cạnh Tiểu đoàn 59, đất đá rơi rào rào, bụi và khói bom mù mịt nhưng anh em vẫn không rời vị trí. Pháo 100mm của ta từ 4 Đại đội cũng cấp tập bắn lên tạo thành lưới lửa dày đặc vây bủa tứ bề.

40 năm sau, thượng úy Nguyễn Văn Đương (chính trị viên Tiểu đoàn 59, trung đoàn 261, Sư đoàn Phòng không Hà Nội) vẫn nhớ mãi khoảnh khắc ấy: “Hồi đó, Tiểu đoàn 59 chúng tôi đóng quân tại trận địa Tó (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội), nơi được xác định là túi bom của không quân Mỹ.

Theo dõi sát tình hình chiến sự, Bộ Tư lệnh Quân chủng đã dự báo: “Đêm 18/12, có nhiều khả năng địch sẽ tập kích bất ngờ vào Hà Nội, kể cả bằng máy bay B.52”. Theo lệnh của Trung đoàn, ngay từ 17h ngày 18/12, kíp trực đã vào vị trí sẵn sàng chiến đấu.

Từ Sở chỉ huy Quân chủng thông báo có hai tốp máy bay F-111 của Mỹ từ bên kia biên giới Việt – Lào đang bay vào phía Tây Bắc, Hà Nội. 18h30′, Quân chủng lệnh cho toàn Sư đoàn vào cấp 1; 19h44′, nhiều tốp B.52 có máy bay F.4 yểm hộ, tiếp cận không phận Hà Nội.

Dưới sự chỉ huy của Sư đoàn và Trung đoàn, toàn Tiểu đoàn 59 tăng cường bám sát; các trắc thủ Lê Xuân Linh, Ngô Đức Tứ, Nguyễn Văn Đoàn luôn căng mắt theo dõi màn hiện sóng, xác định phần tử tốp máy bay được phân công tiêu diệt, nhưng do nhiễu dày đặc trong đội hình, ngoài đội hình và nhiễu tiêu cực nên không thể bắt được mục tiêu.

Đến 20h11′, các tiểu đoàn tên lửa đã liên tiếp đánh một số trận, nhưng vẫn chưa bắn rơi được B.52. Hai máy bay MIG 21 của ta cất cánh trước đó nhưng không tiếp cận được địch phải quay trở lại sân bay.

Từ thực tế đó, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng cùng với Chính trị viên tiểu đoàn Vũ Văn Đương và anh em trong kíp trực đã họp bàn, rút kinh nghiệm và đi đến thống nhất: “Khi quan sát trên màn hình ra đa, thấy sau các dải nhiễu có những đốm sáng hơn, to hơn, rõ hơn các chấm khác, đó mới là tín hiệu của B.52”.

Vừa hội ý xong thì Sở chỉ huy Trung đoàn thông báo: một tốp B.52 bay chếch về hướng Tam Đảo đánh vào khu vực Đông Anh. Trung đoàn lệnh cho các Tiểu đoàn 94, 57 và Tiểu đoàn 59 đánh tập trung.

Nhận được lệnh, toàn kíp trực bám sát màn hiện sóng ra-đa. Đột nhiên, cả ba trắc thủ đều báo cáo: “Có nhiễu B.52!”. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng lệnh: “Các trắc thủ bám sát chấm sáng to, rõ nhất trên màn hình ra đa, khi nào chấm sáng vào đến điểm 340 là phóng”.

Trong khoảnh khắc, trắc thủ góc tà báo cáo: “mục tiêu đã đến 340”. Chiếc B.52 vừa vào đến cự ly 36km, Tiểu đoàn trưởng Thăng liếc mắt về phía Chính trị viên Đương hội ý nhanh rồi ra lệnh: “Góc tà 340, ba quả phóng!”. Sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận cùng ba trắc thủ Linh, Tứ, Đoàn đã hiệp đồng ăn ý, điều khiển quả đạn tên lửa mang số hiệu C202A vạch trời đêm lao trúng đích, hạ tại chỗ 1 chiếc B.52G.

Quả thứ nhất gặp mục tiêu ở cự ly 27km; quả thứ hai, thứ ba vượt qua dải nhiễu. Bất ngờ, Trắc thủ trên máy PA00 reo vang: “Mục tiêu cháy rồi! Cháy to lắm!”… Cả kíp trực reo lên: “B.52 cháy rồi! Rơi tại chỗ rồi!”. Toàn trận địa như vỡ òa trong niềm vui bất tận.

Chiếc B.52 đã trúng đạn bốc cháy sáng rực cả một vùng trời đêm phía Bắc Hà Nội, lúc đó là 20h13′ ngày 18/12. Đây là chiếc B.52 bị hạ tại chỗ đầu tiên trên đất nước ta, cũng là chiếc đầu tiên của chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, mà phía Mỹ gọi là chiến dịch “Linebarker 2′. Sau đó, Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257) lại hạ tiếp 1 chiếc B.52 tại xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai. Cũng trong đêm ấy, quân dân ta còn bắn rơi thêm 1 chiếc B.52 nữa khiến Nhà trắng và Lầu Năm Góc sững sờ.

Tổng tư lệnh không tin

Cán bộ, nhân viên Sở chỉ huy Sư đoàn Phòng không Hà Nội còn nhớ mãi hình ảnh Tư lệnh Trần Quang Hùng và Chính uỷ Sư đoàn Trần Văn Giang ôm nhau rưng rưng nước mắt khi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 261 Trần Hữu Tạo báo cáo: “Tiểu đoàn 59 đã bắn rơi B-52 trên cánh đồng Chuôm, thuộc xã Phù Lỗ, huyện Kim Anh, Vĩnh Phúc, cách trận địa chưa đầy 10 km. Chính tôi đang cầm trong tay mảnh xác chiếc B.52G do Phó Trung đoàn trưởng Võ Công Lạng vừa đến tận nơi máy bay rơi mang về”.

MiG-21 số hiệu 5121 do phi công Phạm Tuân lái bắn rơi “Pháo đài bay” B-52

Ngay đêm hôm đó, khi chính ủy Trần Văn Giang trực tiếp báo cáo bằng điện thoại với đồng chí Võ Nguyên Giáp – Tổng Tư lệnh- về chiến công bắn rơi tại chỗ chiếc B.52 đầu tiên ở Hà Nội của Tiểu đoàn 59, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp lập tức hỏi lại: “Có đúng B.52 không?”.

“Chỉ sau khi nghe báo cáo chắc chắn rằng mảnh xác máy bay hiệu B.52G đang nằm trong tay đồng chí Trần Hữu Tạo, Trung đoàn trưởng 261, đồng chí Tổng Tư lệnh mới yên tâm”, chính ủy Trần Văn Giang thuật lại.

Vậy là áp lực về đánh B.52 đã được mở ra, toàn trận địa không ai có thể chợp mắt.

8 năm chống chiến tranh mở rộng bằng đường không của không quân Mỹ, chưa từng có một chiếc B.52 nào bị hạ gục tại chỗ nhanh gọn như vậy.

Tuần báo Mỹ “Aviation week and Space Technology” viết sau khi B.52 bị bắn rơi tại Hà Nội: “Đây là một cuộc chiến tranh nhiễu điện tử quy mô lớn đầu tiên giữa 2 phe tấn công và phòng thủ đều mạnh. Chiến tranh điện tử đòi hỏi có chiến thuật linh hoạt, khôn khéo và trang bị hiện đại. Những trận đánh ở Hà Nội đã chứng minh điều đó…

Hà Nội theo dõi các tín hiệu nhiễu trên màn hình ra-đa do máy nhiễu B.52 phát ra, giao hội các nguồn nhiễu, tính toán đường bay rồi phóng hàng loạt tên lửa dọc theo đường bay phán đoán. Bắc Việt Nam còn chuyển tiếp số liệu theo dõi được từ ra-đa ở xa đến các trận địa tên lửa có ra-đa đang bị nhiễu. Nhiều tần số mới được đem ra dùng. Thiệt hại B.52 lên tới đỉnh cao vào các ngày thứ ba, thứ tư có tới 6 chiếc bị bắn rơi”.

Vào trại giam Hỏa Lò, William Conli, trung tá điều khiển điện tử trên máy bay B.52 khai: “Mọi sự tính toán của chúng tôi bị đảo lộn hết. Bọn kỹ sư điện tử ở Guam và Utapao toàn bọn nói khoác. Chúng nó bảo cứ yên trí, tất cả máy điện tử đủ loại này là tuyệt diệu. Không bao giờ tên lửa bất cứ loại nào của đối phương có thể đuổi theo được máy bay.

Vừa vào vùng trời Bắc Việt Nam tôi đã mở tất cả các máy điện tử, làm việc khẩn trương, đúng quy trình. Vậy mà vẫn bị trúng đạn. Tôi biết không phải riêng một chiếc mà là một loạt chiếc.

Bọn sỹ quan điện tử chúng tôi rất lo. Từ đêm 18/12 đã biết là một số chiếc bị trúng đạn. Đêm 19, đêm 20 lại cứ như vậy. Chúng tôi hiểu rằng trong vấn đề kỹ thuật, chúng tôi đã bất lực”.

Trường Minh
vietnamnet.vn

(còn tiếp)

‘Mỗi quả đạn là một B.52’

“Hồi kháng chiến chống Pháp, bộ đội ta có câu “Một viên đạn là một quân thù”. Bây giờ ta thực hiện câu nói đó: Mỗi quả đạn là một B.52″, lời hô vang của tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tên lửa 57 Nguyễn Văn Phiệt giữa bom đạn mịt mù đã xốc toàn trận địa vào cuộc “săn” B.52, dù số lượng đạn còn rất ít.

>>‘Rồng lửa’ Thăng Long xung trận / Chặn đứng ‘pháo đài bay’ / Lầu Năm Góc: Lẩn tránh và Giấu diếm / ‘Điện Biên Phủ trên không’: Chuyện từ phía bên kia

LTS: 40 năm, một hành trình thời gian đủ dài để các tài liệu từng được liệt vào dạng “Tuyệt mật” (Top Secret) có thể được mang ra ánh sáng, để có cái nhìn đầy đủ về 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” , từ hai phía.

Không nhằm nhắc nhớ, khơi gợi về một chương buồn trong quan hệ Việt – Mỹ, loạt bài nhằm cung cấp thêm một góc nhìn lịch sử, từ người trong cuộc. Và cũng hi vọng, sự thật lịch sử được minh định. Và đó cũng là lời nhắc nhở, rằng ”không có gì quý hơn độc lập, tự do’ và không ai có thể xâm phạm điều đó.

“Bóc vỏ” để SAM2 “làm bàn”

Đêm 20/12/1972, đúng như dự đoán của Bộ Tư lệnh, Mỹ huy động một lực lượng khá lớn: 90 lần chiếc B.52, 151 lần chiếc máy bay chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ, tổ chức đánh vào 3 nơi: Hà Nội – Hải Phòng – Thái Nguyên.

Tại mặt trận Hà Nội, mặc dù thời tiết xấu nhưng một biên đội MIG.21 đã được lệnh cất cánh, đánh thẳng vào đội hình B.52 vừa triển khai xong. Bị tấn công bất ngờ, đội hình bay của đối phương tán loạn, các chiến sỹ tên lửa bỗng thấy cường độ nhiễu trên màn hiện sóng giảm hẳn và mọi người đều thầm cảm ơn các chiến sĩ không quân của ta đánh “bóc vỏ” tiêm kích tạo điều kiện cho tên lửa “làm bàn”.

Lúc 20h20′, tiểu đoàn 93 bố trí ở Phú Thượng đã bắt được tốp B.52 vào đánh Gia Lâm. Chờ đến cự ly 32km, tiểu đoàn trưởng ra lệnh cách đánh 3 điểm và đón X góc ở cự ly thích hợp nên đã bắn trúng mục tiêu, chiếc B.52 còn nguyên cả bom rơi gần như thẳng đứng xuống rìa làng Yên Thượng, cạnh ga Yên Viên. Sau đó tiểu đoàn 77 cũng áp dụng phương pháp đánh trên nhưng ở cự ly gần hơn chút ít, đạn trúng mục tiêu.

Cách đánh mới càng được khẳng định sau hai trận thắng của Tiểu đoàn 93 và 77. Quân chủng kịp thời thông báo tin chiến thắng xuống các đơn vị. Vừa  động viên tinh thần và ý chí chiến đấu vừa kịp thời phổ biến kinh nghiệm để hiệu quả chiến đấu cao hơn, diệt được nhiều B.52 hơn.

Khoảng 10 phút sau, ba tiểu đoàn 78, 79, 94 lần lượt phóng đạn vào 6 chiếc B.52 đang bay vào hướng ga Yên Viên. Thấy tín hiệu mục tiêu bị xóa, tiểu đoàn 94 phóng tiếp quả đạn cuối cùng góp phần tiêu diệt một chiếc B.52. Lúc này là 20h 30′.

Phát huy truyền thống phát sóng tìm mục tiêu đánh gần, tiểu đoàn 77 liên tục bám sát dải nhiễu sau và cũng chờ đến cự ly thích hợp mới nâng cao thế phát sóng và chỉ 4 phút sau đã bắn rơi tại chỗ chiếc B.52 ở xã Vạn Thắng ( Ba Vì, Hà Tây cũ).

Như vậy, chỉ trong chưa đầy 20 phút, sự phối hợp tuyệt đẹp của không quân với bộ đội tên lửa Hà Nội đã bắn rơi 4 máy bay B.52, trong có 2 chiếc rơi tại chỗ.

Vào lúc 4h30′ rạng sáng ngày 21/1, 45 lần chiếc B.52 Mỹ lại tiếp tục nối đuôi nhau men theo sườn dãy Tam Đảo vào đánh khu vực Gia Lâm – Yên Viên. Do ta phán đoán chính xác đường bay của đối phương, lại có khí thế chiến thắng của các đợt chiến đấu trước trong đêm, các đơn vị tên lửa bảo vệ Hà Nội rất bình tĩnh tự tin bước vào trận đánh mới.

Loại B. 52H sản xuất 122 chiếc. B.52H bàn giao đợt cuối vào tháng 10/1962 cho Bộ Tư lệnh Không quân chiến lược (SAC). Ảnh tư liệu

“Có thế nào ta đánh thế đấy”

Sau ba ngày bị đánh phá, việc vận chuyển đạn bị ùn tắc, đặc biệt đường giao thông vào Hà Nội phải qua hai con sông lớn là sông Hồng và sông Đuống càng thêm khó khăn. Mặc dù đã lập bến phà, cầu phao song vẫn gây ra ùn tắc. Chính vì thế mà trong đợt đánh phá lần này có đơn vị không tiếp tục chiến đấu liên tục được do đạn chưa chở đến kịp, có đơn vị có số đạn chỉ còn ở dưới mức quy định tối thiểu.

Tuy nhiên, các chiến sỹ đều động viên nhau: có thế nào ta đánh thế ấy, đã đánh là phải thắng. Trường hợp Tiểu đoàn 57 đứng chân ở trận địa Đại Đồng là một ví dụ. Đứng trước tình thế chỉ còn hai quả đạn trên bệ phóng, Nguyễn Văn Phiệt (Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57) đã hô vang: “Hồi kháng chiến chống Pháp, bộ đội ta có câu: “Một viên đạn là một quân thù”. Bây giờ ta cũng thực hiện câu nói đó: Một quả đạn là một B.52″.

Đúng 5h9′, Tiểu đoàn 57 thực hiện ngay khẩu hiệu của mình đề ra, bắt được mục tiêu, phóng một quả vào tốp 318. Tiếp theo tiểu đoàn 77 còn lại hai quả đạn, cũng phóng một quả vào tốp 318. Hai chiếc B.52 bị hạ gục.

Hai phút sau, lúc 5h11′, Tiểu đoàn 57 phóng nốt quả đạn còn lại của mình vào tốp B.52 mang số hiệu 532. Một chiếc trong tốp này bốc cháy sáng rực cả một góc trời rồi đâm đầu xuống chợ Thá, núi Đôi (Vĩnh Phúc).

Tin chiến thắng tới tấp báo về sở chỉ huy. Tất cả Bộ Tư lệnh Quân chủng được sống lại cái không khí tưng bừng mừng vui của đêm đầu tiên bước vào chiến dịch. Có thể xem đây là một trận tiêu diệt lớn, một trận then chốt. Đêm thứ ba, với số đạn ít hơn hẳn hai đêm trước, các đơn vị tên lửa phòng không bảo vệ Hà Nội đã hạ được 7 chiếc B.52 của Mỹ. Có đến 5 chiếc rơi tại chỗ, bắt sống 12 phi công Mỹ.

Đặc biệt xuất sắc là các trận đánh xảy ra từ 5h09′ đến 5h14′ ngày 21/12: chỉ trong vòng 5 phút các Tiểu đoàn 57, 77, 79 đã liên tiếp bắn rơi 4 chiiecs B.52 trong đó có 3 chiếc rơi tại chỗ, một kỷ lục về hiệu suất chiến đấu.

Riêng Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 261), với hai quả đạn trong vòng 2 phút, liên tiếp bắn rơi 2 chiếc B.52, thực hiện đúng khẩu hiệu mình đề ra “một quả đạn tên lửa bắn rơi một B.52”. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt, sỹ quan điều khiển Nguyễn Văn Kiên, kíp trắc thủ: Thi, Lịch, Đài trở thành kíp chiến đấu nổi tiếng của bộ đội tên lửa phòng không.

Ráp sát thủ diệt B.52

Đã vào cái tuổi “xưa nay hiếm”, sức khỏe cũng đã giảm sút nhiều; thế nhưng khi nhắc về những kỷ niệm sâu sắc của một thời trận mạc, gương mặt Trung tướng Lương Hữu Sắt (nguyên Nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật – Bộ Quốc phòng) bừng sáng khi kể việc bảo đảm đạn cho tên lửa đánh máy bay Mỹ trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”.

Ngày ấy, ông được cấp trên giao nhiệm vụ cùng với đội ngũ cán bộ Cục kỹ thuật Quân chủng tổ chức bảo đảm vũ khí trang bị cho các đơn vị hỏa lực của PK- KQ đánh máy bay Mỹ, trong đó có việc bảo đảm đạn cho các đơn vị tên lửa. Đầu năm 1972, khi mở chiến dịch Trị Thiên, trên đã lệnh cho Cục Kỹ thuật chuyển 700 quả đạn vào chiến trường. Thế nhưng do đường xa hiểm trở, đối phương lại đánh phá ác liệt nên ròng rã suốt 4 tháng trời mới chỉ chuyển được 400 quả đạn.

Tháng 4/1972, Mỹ ném bom ra miền Bắc, việc vận chuyển đạn phải ngừng lại. Trung đoàn 257, 275, rồi cả các đơn vị của Sư đoàn 361, 363 cũng lần lượt di chuyển ra Bắc, nhưng không chuyển đạn ra được. Tình hình đạn đạn tên lửa ở miền Bắc lúc ấy khá khó khăn. Cục Kỹ thuật phải tính toán giải quyết khó khăn này bằng cách phục hồi 300 quả đạn hỏng đang nằm ở kho Sóc Sơn (Quảng Ninh) từ năm 1967.

Quân chủng tổ chức 2 dây chuyền sản xuất đạn; chỉ thị cho Sư đoàn 361 và 363 tổ chức tiếp 2 dây chuyền nữa. Cán bộ, chiến sỹ lăn lưng ra làm việc không quản ngày đêm mới khôi phục được 300 quả đạn để cấp phát cho các đơn vị. Tháng 8/1972, số đạn Liên Xô hỗ trợ cho ta mới đến ga Đồng Đăng. Quân chủng giao cho Cục Kỹ thuật lập trạm tiếp nhận ở Lạng Sơn.

Để số đạn tên lửa kia về được mỗi trận địa; công đầu thuộc về cán bộ, chiến sỹ các tiều đoàn kỹ thuật. Đạn tên lửa được tháo rời từng bộ phận, đóng vào các hòm khác nhau: hòm đầu đạn, hòm đuôi, hòm cánh, hòm nhiên liệu… đến ga tàu phải dùng cần cẩu cẩu xuống. Khi vận chuyển, phải sử dụng xe chuyên dụng chở những thùng đựng đạn đến nơi cất giấu an toàn cách đó vài chục cây số, mà phải di chuyển trong đêm để tránh con mắt cú vọ của kẻ thù.

Ngay cả việc vận chuyển đạn tên lửa về trận địa Hải Phòng hay Hà Nội cũng gặp muôn vàn khó khăn, đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn trọng rất cao. Chỉ cần sai sót nhỏ sẽ dẫn đến sự thiếu đồng bộ, bởi, mỗi hòm là một bộ phận của quả đạn, tài liệu lại không đi kèm. Tuy vậy, tình trạng lạc hòm hay “nhầm lý lịch” đã không xảy ra. Cứ ròng rã tuần tự như thế, đến tháng 11/1972, 1.000 quả đạn tên lửa đã được chuyển an toàn từ nước bạn về Việt Nam.

Khi bước vào chiến dịch 12 ngày đêm, các đơn vị tên lửa trên miền Bắc cũng có một số đạn dự trữ, nhưng không đáng kể. Để phục vụ cho các trận địa tên lửa của Hà Nội và thành phố Hải Phòng có hai tiểu đoàn, hai dây chuyền sản xuất đạn. Họ được bổ sung thêm quân liên tục thay nhau sản xuất cả ngày lẫn đêm để kịp có đạn cho bộ đội chiến đấu.

Tuy nhiên, mới chỉ qua hai đêm đầu tiên của chiến dịch, nguy cơ thiếu đạn tên lửa đã xảy ra. Ngay cả khi Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ chủ trương dành tên lửa chỉ đánh B.52, thì hầu như đêm nào cũng có những tiểu đoàn phải đánh đến quả đạn cuối cùng. Bởi lẽ, mỗi một mục tiêu B.52 có khi ta phải bắn vài ba quả.

Đêm 18/12, ta bắn rơi 3 chiếc B.52; đêm 19, ta bắn rơi 2 chiếc B.52; đêm 20, số B.52 bị hạ gục đã lên tới 7 chiếc. Để khắc phục tình trạng thiếu đạn tên lửa, Tư lệnh Quân chủng trực tiếp giao nhiệm vụ cho tướng Sắt phải chỉ đạo tìm phương án tháo gỡ. Lúc bấy giờ chỉ có Tiểu đoàn kỹ thuật 95 đang sản xuất đạn phía bắc sông Hồng và Tiểu đoàn 80 sản xuất đạn ở Phùng. Tướng Sắt đề nghị điều tiểu đoàn kỹ thuật của Trung đoàn 274 tăng cường cho dây chuyền sản xuất tên lửa của Tiểu đoàn 80; điều đội lắp ráp đạn của xưởng A31 xuống tăng cường tiếp cho Tiểu đoàn 80.

Với khẩu hiệu “Tất cả cho chiến đấu!”, “Tất cả cho sản xuất đạn tên lửa”, cả guồng máy lắp ráp đạn tên lửa được vận hành hết công suất. Sản lượng tăng gấp đôi. Thêm vào đó, trước đây vì bố trí các bãi lắp ráp đạn tên lửa ở xa nhau là để giảm tổn thất nếu bị Mỹ ném bom, nay tốc độ lắp ráp này không thể nào đáp ứng nổi. Qua nhiều ngày đêm cùng anh em trong đơn vị tìm tòi, Tiểu đoàn trưởng kỹ thuật Dương Quảng Châu đã đề ra sáng kiến mới: nạp nhiên liệu sẵn, lắp ráp đạn ngay trên xe kéo đạn và hợp lý hóa một số động tác kỹ thuật, vì thế mà năng suất lắp ráp đạn trong một ngày đêm tăng lên gấp đôi.

Nhờ vậy, tình trạng lắp ráp đạn không theo kịp yêu cầu chiến đấu đã cơ bản được giải quyết. Khi Mỹ đưa B.52 ồ ạt vào ném bom Hà Nội, miền Bắc đã có đủ cơ số đạn tên lửa để nghênh tiếp chúng. Điển hình là đêm 26/12, Mỹ sử dụng 105 lần chiếc B.52 đánh liên tục, tập trung vào nhiều mục tiêu quan trọng ở Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên; có 8 máy bay B.52 bị lưới lửa phòng không của miền Bắc bắn hạ.

Trường Minh
vietnamnet.vn

(còn tiếp)