Thư viện

Ký ức đau thương ở phố Khâm Thiên

Sau hồi báo động, từng đợt mưa bom rải xuống Khâm Thiên (Hà Nội). Cả phố bị san phẳng, tường sập, nhà bay, dấu vết còn lại của sự hủy diệt chỉ là những hố bom lổn nhổn gạch đất.

‘Mắt thần’ truy tìm B52Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ gục ‘pháo đài bay’Tên lửa SAM2 – ‘khắc tinh của B52’ trên bầu trời Hà Nội

Trong guồng quay của kế hoạch đưa Hà Nội về thời kỳ đồ đá, ngoài khu quân sự, Mỹ còn cho B52 trải thảm xuống các bệnh viện, khu dân cư. Khâm Thiên ngày 26/12/1972 chìm trong biển lửa và sau một đêm trở thành đống đổ nát.

Ông Nguyễn Văn Cầu (ngõ Sân Quần, Khâm Thiên) nhớ lại, được tin báo địch có thể đánh Hà Nội nên trước khi đến nhà máy in Hà Nội Mới để làm việc, ông dặn vợ con nhớ xuống hầm. 22hh45 còi báo động vang lên, ông được lệnh lên nhà số 75 Hàng Bồ, nơi có hai phân xưởng in của báo.

Một góc phố Khâm Thiên sau trận trải thảm của B52. Ảnh tư liệu.

Đến nơi, ông Cầu thấy súng bắn bốn phía sáng lòa. Dứt đợt bom rơi, đài báo an, ông xin phép về nhà xem tình hình. “Đến đầu phố, lòng tôi rối bời khi thấy nhà cửa đổ nát. Chạy vội vào ngõ nhà mình, tôi thắt ruột khi mọi thứ tiêu điều. Căn hầm tập thể bị địch ném bom, hàng trăm người chết không toàn thây”, ông Cầu nghẹn giọng.

Trong số 41 người chết khi đang trú ẩn ở căn hầm ấy, có vợ và con trai ông Cầu. Nhà chị gái ông mất hai người con, em trai ông là dân quân tự vệ cũng qua đời. Quá đau đớn vì một lúc mất đi 5 người thân, ông Cầu lao vào đống đổ nát bới tìm thi thể họ.

“Vợ tôi chỉ còn nửa người trên, con trai còn một cái chân, tôi nhận ra vì nó có cái sẹo bỏng ngày xưa, còn em trai thì không tìm thấy. Tôi chỉ biết nhặt nhạnh phần còn lại của người thân cho vào túi nylon”, ông Cầu xót xa.

Ngay sau đó thành phố cho người đem áo quan đến Khâm Thiên, hôm sau đưa người bị nạn xuống Văn Điển. Thi thể em trai Nguyễn Văn Vũ của ông Cầu đúng hai tháng sau mới được tìm thấy, đầu vẫn đội mũ cối gắn sao tự vệ.

Ông Nguyễn Văn Cầu không bao giờ quên được nỗi đau mất vợ, con trai, em trai và hai người cháu đêm 26/12. Ảnh: Hoàng Thùy.

Còn bà Nguyễn Thị Lan (Khâm Thiên) thì không thể quên giây phút trở về nhà từ nơi sơ tán. Cán bộ ĐH Y nơi chồng bà làm việc về tận quê đón bà nói là có việc gấp. Trên đường đi, họ dần cho bà hay ông qua đời vì đợt rải thảm của B52.

“Mặt phố Khâm Thiên đổ nát, có nhà bay hết tường, có nhà còn lại nham nhở. Tôi về đến ngõ Chợ nhưng không còn nhận ra đâu là nhà mình vì tất cả chỉ còn là những hố bom, lổn nhổn gạch, đất”, bà Lan kể.

Giọng nghẹn ngào, bà cho hay lúc ấy chồng bà vừa làm nghiên cứu sinh ở Tiệp Khắc về. Nếu không làm luận án tiến sĩ sớm thì thời gian về nước đúng thời hạn của ông là tháng 1/1973. Hôm Mỹ ném bom, ông ở lại Hà Nội vì cơ quan nhận một số máy móc thiết bị mới.

“Dưới những đợt mưa bom của B52, mẹ tôi, chồng và em gái đã chết vì sức ép của bom”, bà Lan đau xót nói.

Clip: Khâm Thiên hoang tàn sau loạt bom B52

Không chỉ Khâm Thiên mà Bệnh viện Bạch Mai, khu tập thể 8/3 … cũng bị B52 tàn phá. Hàng trăm người phải chịu nỗi đau mất người thân. Nữ dân quân tự vệ của nhà máy cơ khí Mai Động Phạm Thị Viễn mất mẹ, mất cha, một mình nuôi 5 đứa em khi mới 16 tuổi.

Phạm Thị Viễn đầu quấn khăn tang bắn rơi máy bay Mỹ trả thù cho bố, mẹ. Ảnh tư liệu.Phạm Thị Viễn đầu quấn khăn tang bắn rơi máy bay Mỹ trả thù cho bố, mẹ. Ảnh tư liệu.

Mẹ Phạm Thị Viễn, người đàn bà tần tảo trên đường đi chợ bán rau đã gặp trận trải thảm của địch. Bà vội chui xuống hầm Linh Ứng (Tương Mai) trú ẩn. Hầm chật, người đông, một cháu bé xuống sau khóc nấc, bà vội tránh lên miệng hầm nhường chỗ cho bé. Địch ném bom, một viên bom bi bắn vào sọ cướp đi tính mạng của bà. Viễn đi giúp đồng nghiệp làm nhà, hôm sau trở về thì mẹ đã được mai táng.

Phạm Thị Viễn khai tăng tuổi để đi làm tự vệ. Đêm 21/12 địch điên cuồng ném bom, sáng 22/12 cô vào khu tập thể nhà máy đưa những người bị nạn ra ngoài. Cũng hôm ấy, bố Viễn đưa ba em trai đi sơ tán, ông và hai người em gái ở lại làm việc tại các xí nghiệp. Đến đêm, bom rơi trúng hầm của ông, ông và hai anh họ chết, 3 ngày sau mới tìm được một phần thi thể.

Nén nỗi đau gia đình, người con gái ấy chít khăn tang trực trên mâm pháo. Chị dồn sự căm tức lên đầu ngọn súng và đã bắn rơi một máy bay Mỹ. Nhà thơ Tố Hữu khi đến thăm trận địa của đội tự vệ, thấy Phạm Thị Viễn ngồi trực trên mâm pháo, đầu quấn khăn tang đã xúc động viết 4 câu thơ về chị trong bài “Việt Nam máu và hoa”:Trắng khăn tang em chẳng khóc đâu/ Hỡi em gái mất cha mất mẹ/ Nước mắt em làm nhòa mặt quân thù/ Em phải bắn trúng đầu giặc Mỹ…

Tượng đài tưởng niệm những nạn nhân bom B52 ở phố Khâm Thiên. Ảnh: Hoàng Thùy.

40 năm trôi qua, từ những đống đổ nát, từ hố bom sâu, Khâm Thiên đã thay áo mới. Những nhà cao tầng mọc lên san sát, dấu tích tội ác của Mỹ chỉ còn lại ở đài tưởng niệm Khâm Thiên, ghi nhớ ngày giỗ chung của hàng trăm người dân nơi đây.

Ông Nguyễn Văn Cầu sau đó đã tìm được một phụ nữ hiền lành cùng ông nuôi các con. Hiện ông có 5 người con với 9 đứa cháu ngoan ngoãn. Là bí thư chi bộ khu dân cư số 3 phường Khâm Thiên, ông thường nhắc thanh niên phải biết ghi nhớ những ngày tháng chiến đấu hào hùng của quân dân Hà Nội, cố gắng học tập để dựng xây đất nước.

Còn cô gái Phạm Thị Viễn năm nào đã nuôi dậy các em khôn lớn, làm tổ trưởng Đảng, tổ phó dân phố, tổ trưởng phụ nữ… ở khu dân cư Trương Định, quận Hoàng Mai.

Vào khoảng 22h đêm 26/12/1972, 30 máy bay B52 ném bom rải thảm xuống đường phố Khâm Thiên, con phố đông đúc của trung tâm thành phố. Cả 17 khối phố bị thiệt hại, trong đó khối 44 đến 47 hầu như bị hủy diệt hoàn toàn. Nhà trẻ, mẫu giáo, cửa hàng lương thực, thực phẩm, đình Tương Thuận, di tích lịch sử, rạp hát, nhiều cơ sở sản xuất cùng hàng nghìn nhà dân bị sập đổ.

Trận bom ấy đã làm chết 278 người, trong đó có 91 phụ nữ, 40 cụ già, 55 trẻ em, làm cho 178 cháu trở thành mồ côi và 290 người bị thương. Ngôi nhà số 51 phố Khâm Thiên chi còn là một hố bom, bảy người sống trong ngôi nhà này không còn ai sống sót. Mảnh đất này trở thành một đài tưởng niệm với một tấm bia mang dòng chữ “Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ” và một bức tượng bằng đồng tạc hình một phụ nữ bế trên tay một đứa trẻ đã chết vì bom Mỹ.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Bước ngoặt trong cuộc chiến trên không với B52

Anh hùng Phạm Tuân. (Ảnh: Phạm Mai/Vietnam+)

Tại bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ở 28A Điện Biên Phủ, Hà Nội có trưng bày hai bảo vật quốc gia. Đó là chiếc xe tăng T54 số hiệu 843 tấn công vào Phủ Tổng thống Sài Gòn năm 1975 và chiếc máy bay MiG-21 số hiệu 5121, từng được Anh hùng Phạm Tuân lái, xuất kích bất ngờ từ sân bay Yên Bái trong đêm 27/12/1972 và “trùm” một chiếc B52 vào biển lửa.

Đêm 27/12/1972 không chỉ là đêm đáng nhớ với Trung tướng Phạm Tuân, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn mở ra một bước ngoặt lịch sử trong cuộc chiến trên không với B-52 để bảo vệ vùng trời Thủ đô Hà Nội, khẳng định sự đúng đắn của quyết tâm đánh con “ngáo ộp” này bằng lực lượng phòng không ba thứ quân, trong đó lực lượng chủ yếu là máy bay.

Liên tục trước đó trong vài ngày, MiG 21 đã cất cánh truy kích “pháo đài bay,” song do nhiễu điện tử nặng nên đành quay về. Mặc dù không đánh được B52 song sự xuất hiện của MiG đã thu hút được đám máy bay tiêm kích địch, phá vỡ đội hình B52 từ xa, làm cho cường độ nhiễu giảm, tạo điều kiện cho tên lửa quật ngã B52. Thế nhưng việc hỏa lực tên lửa đã hàng chục lần bắn hạ “Pháo đài bay” trong khi chưa có chiến công nào của Không quân đã khiến B52 thực sự là cái gai trong mắt Không quân Việt Nam.

Tới cái đêm lịch sử tạo bước ngoặt cho cuộc chiến trên không đó, cả bầu trời Thủ đô đen kịt. Mặt đất chốc chốc lại lóe lên những ánh sáng sau tiếng nổ inh tai nhức óc của những chùm bom rải thảm từ “pháo đài bay.” Nhận lệnh từ Bộ Tư lệnh Quân chủng, chiếc MiG-21 mang số hiệu 5121 do Phạm Tuân điều khiển xuất kích từ sân bay dã chiến ở Yên Bái. Lao vút trong màn đêm giữa các lớp mây bằng tốc độ siêu âm với sự hướng dẫn của đội ngũ sĩ quan dẫn đường bay có kinh nghiệm nhất của các sở chỉ huy như Dũng, Vóc, Lê Biên, chiếc MiG 21 xuyên qua đội hình những “con ma” F-4 có nhiệm vụ bảo vệ B52. Tiếp cận cách mục tiêu khoảng 1,5 – 2km, Phạm Tuân nhấn nút phóng 2 quả tên lửa. Trong nháy mắt, chiếc B52 bị “nướng chín.” Chiếc MiG 21 lập tức bổ nhào, xuống độ cao an toàn và hạ cánh.

Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại đêm “hoa lửa” đó, đặc biệt là lúc hạ cánh chiếc MiG 21 trên đường băng sân bay Nội Bài: Tôi cất cánh trong điều kiện sân bay đã bị F-111A đánh bom. Cháy, khói lửa khắp nơi. Sau đó, B52 lại tiếp tục đánh vào sân bay. Đài chỉ huy bị san phẳng. Tôi về hạ cánh thì sân bay Gia Lâm không liên lạc được, sân bay Kép cũng vậy, tất cả các sân bay không nơi nào nhận tín hiệu. Lúc đó, tôi xin hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, vốn cũng đang bị đánh ác liệt lắm. Tôi quyết tâm hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, xin bật đèn pha đường băng để hạ cánh. Bấy giờ, tôi không biết có hố bom nằm giữa sân bay, cách nơi hạ cánh 300m. Vừa tiếp đất thì cánh máy bay nghiêng, hai quả tên lửa bay vèo về phía trước, máy bay lật nghiêng 90 độ, chạy bằng cánh, sau đó lật ngược trở lại và quay đầu về hướng hạ cánh.

Sau chiến thắng bắn hạ B52 bằng MiG 21 do phi công Phạm Tuân lái, tất cả các chiến sỹ lái máy bay của không quân ta như được khích lệ. Một không khí ngầm thi đua tiêu diệt B52, làm rạng danh Không quân Việt Nam đã diễn ra. Trong số đó có phi công Vũ Xuân Thiều, một chàng trai người Hà Nội điềm đạm, kỹ thuật bay giỏi. Đã có lần Thiều tâm sự với đồng đội, nếu như gặp B52, bắn không rơi, Thiều sẽ làm quả đạn đâm vào “pháo đài bay.”

Rồi như định mệnh, đêm 28/12, Thiều trực chiến và được lệnh cất cánh từ sân bay dã chiến ở Thanh Hóa đến vùng trời Sơn La. Sau khi khéo léo, mưu trí lách qua được vòng vây dày đặc của các chiến đấu cơ địch, Thiều đã cho chiếc MiG 21 của mình áp sát B52 và xin lệnh phóng đạn. Hai quả tên lửa phóng đi nhưng B.52 chỉ bị thương. Thiều xin lệnh tấn công tiếp. Cả Sở chỉ huy thắt lại khi nghe tiếng Thiều: “Thăng Long, Thăng Long, tôi đã bắn 2 quả tên lửa. B52 chỉ bị thương nhẹ. Xin phép được tiêu diệt.” Vài giây sau, tín hiệu của Thiều trên bản đồ bay biến mất, kể cả dấu hiệu của chiếc B.52. Các chiến sỹ liên lạc gọi dồn dập, vừa khóc vừa gọi Thiều nhưng không một tín hiệu hồi âm. Thiều đã anh dũng hy sinh, lao thẳng vào chiếc pháo đài bay Mỹ.

Nói về thắng lợi lịch sử của bộ đội Phòng không Không quân trong chiến dịch 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội, Trung tướng Phạm Tuân phân tích: Nguyên nhân chiến thắng thì nhiều, nhưng với một người trực tiếp chiến đấu trong quân đội thì thấy có hai vế. Đầu tiên là việc “nhìn xa trông rộng” của Đảng, của Bác, đặc biệt là Bác Hồ. Những gì Bác nói đều là tiên đoán đúng. Bác bảo: B52, B57, “bê” gì đi nữa ta cũng đánh và đã đánh là phải thắng. Bác giao đánh B52 cho bộ đội Phòng không Không quân. Bác nói rất rõ: Ở Việt Nam thế nào Mỹ cũng thua, nhưng chúng chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Đó là mệnh lệnh, là kim chỉ nam xuyên suốt mà bộ đội Phòng không Không quân là nòng cốt cùng các lực lượng khác chuẩn bị lực lượng để đánh. Chúng ta đánh giá đúng kẻ thù, đánh giá đúng âm mưu thủ đoạn, rồi đánh giá kỹ chiến thuật của nó để chúng ta chuẩn bị. Thứ hai là công tác chuẩn bị lực lượng dựa trên hai nền tảng: Ý chí, quyết tâm đánh và quyết đánh thắng; phát huy trí tuệ của đội ngũ phi công và lãnh đạo chỉ huy.

Tâm sự về Thủ đô 40 năm trước đỏ khói lửa và Thăng Long – Hà Nội của thời điểm hiện nay, cũng như lớp phi công trẻ của Quân chủng Phòng không không quân hiện nay, Tướng Phạm Tuân nói: Đảng và Nhà nước rất quan tâm, đầu tư cho lực lượng bộ đội Phòng không Không quân và Hải quân. Bây giờ phi công ta có điều kiện tập luyện tốt, máy bay toàn thế hệ mới, tên lửa mới bắn được rất xa chứ không như trước đây. Với truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, truyền thống của bộ đội Phòng không Không quân mà đặc biệt trong chiến dịch 12 ngày đêm, sẽ còn lưu truyền mãi và được phổ biến đến mai sau. Chắc chắn rằng, đây là cơ sở để đội ngũ phi công hiện nay nhìn nhận, đánh giá đúng lực lượng sẵn sàng nhận nhiệm vụ./.

Anh Tùng (TTXVN)
vietnamplus.vn

Lối đánh sáng tạo hạ gục “niềm tự hào không lực Mỹ”

Máy bay của không quân Việt Nam xuất kích tiêu diệt máy bay Mỹ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đại tá Đỗ Văn Chung, nguyên Trực ban trưởng Sở Chỉ huy Quân chủng Phòng không Không quân, người đã phát lệnh đưa toàn quân chủng sẵn sàng chiến đấu trong 12 ngày đêm cho biết: Theo quyết tâm của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – không quân, thì lực lượng chủ yếu đánh B52 là tên lửa và không quân. Tên lửa là chủ yếu nhất. Không phụ sự tin tưởng ấy, bộ đội tên lửa với những cách đánh sáng tạo, độc đáo đã bắn rơi “con ngáo ộp” B52, làm sụp đổ thần tượng không lực Hoa Kỳ”. Lời nói ấy của vị Đại tá đã thôi thúc chúng tôi tìm đến những chiến sỹ tên lửa năm nào.

Không quá khó để tìm ra ngôi nhà số 22, phố Nguyễn Ngọc Nại, phường Khương Trung, quận Thanh Xuân của Đại tá Nguyễn Xuân Minh, nguyên Trợ lý Bộ tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân và cũng là sỹ quan nhấn nút phóng tên lửa bắn rơi máy bay của Peter Peterson, viên phi công sau này trở thành Đại sứ Mỹ đầu tiên tại Hà Nội. Phía trái căn phòng nhỏ của gia đình ông là bức ảnh chụp vợ chồng ông, ba người con, gồm hai gái, một trai và những đứa cháu nội, ngoại. Trong góc là chiếc tủ đứng chất ngất những chồng tài liệu cũ, mới.

Dựa lưng vào chiếc tràng kỷ, vị đại tá có vóc dáng thấp nhỏ nhưng có đôi mắt đặc biệt sáng, ánh lên sự hóm hỉnh, tinh nhanh, với tay cầm tấm bản đồ ghi Vị trí 16 chiếc B52 rơi tại chỗ (trong những đêm tháng 12 năm 1972) được cất giữ cẩn thận trong chồng tài liệu. Ông bảo: “Những kỷ niệm này theo tôi suốt cả chặng dài cuộc đời. Đặc biệt là trận đánh thắng máy bay B52 của Tiểu đoàn 93, Trung đoàn Tên lửa 261 có nhiệm vụ bảo vệ phía Bắc Hà Nội vào hồi 20 giờ ngày 20 tháng 12 năm 1972.”

Hồi đó, ông Nguyễn Xuân Minh là trợ lý của phòng Tác huấn tên lửa quân chủng, được phân công xuống Tiểu đoàn 93 theo dõi và giúp đỡ đơn vị; bởi từ ngày đầu đánh trả chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Sư đoàn 361 chưa bắn rơi tại chỗ được chiếc B52 nào. “Sau khi xuống đơn vị, tôi lập tức cho kíp chiến đấu luyện tập các bài đánh B52 theo giáo án có sẵn và luyện thêm họ bài ‘đánh bồi, đánh nhồi’, nghĩa là bắn vào dải nhiễu B52 mà khi đạn nổ, B52 chưa bị tiêu diệt, nhưng nếu lúc đó có tín hiệu mục tiêu rõ ràng xuất hiện trong dải nhiễu sẽ cho bắn tiếp. Do vậy, kíp chiến đấu đã thành thạo trong tình huống này,” ông Nguyễn Xuân Minh không nén nổi những cảm xúc từ 40 năm trước ùa về.

Ông cẩn trọng lấy ra quyển sổ dày ghi đặc những chi tiết về trận đánh đêm 20 tháng 12. Trong đó, có những dòng chữ: Trận đánh xuất sắc có ý nghĩa hết sức quan trọng, đây là trận đánh thắng đầu tiên trong đêm thứ ba của chiến dịch phòng không bảo vệ Hà Nội, làm tan biến nỗi lo âu căng thẳng của bao người trong Sở Chỉ huy Sư đoàn.

Quả vậy, trận đánh của Tiểu đoàn 93, Sư đoàn 361 vào 20 giờ ngày 20 tháng 12 năm 1972, diễn ra đúng như phương án đã được tập luyện. Hôm ấy, địch bay vào từ hướng Tam Đảo. Được lệnh của trung đoàn, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Mạnh Hùng ra lệnh ngay cho sỹ quan điều khiển Hoàng Đức Vĩnh phát sóng sục sạo tìm mục tiêu, khi kíp trắc thủ Hương – Côn – Tuấn bám sát chính giữa giải nhiễu điện tử sáng nhất của máy bay B52, anh ra lệnh: Phóng 2 quả, điều khiển bằng phương pháp T. Sỹ quan điều khiển thực hiện ngay.

Hai tiếng nổ liên tiếp ầm vang. Thành ca bin rung lên. Nhưng 2 quả đạn đã vượt qua mục tiêu, tự hủy. Giữa lúc này, kíp trắc thủ báo cáo phát hiện thấy tín hiệu mục tiêu đang bay trong giải nhiễu. Trường hợp này xảy ra đúng như phương án đã chuẩn bị trước. Lập tức, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho sĩ quan điều khiển phóng tiếp bằng phương pháp T hai quả đạn nữa vào mục tiêu mà các trắc thủ đang tập trung tinh lực dán mắt, vê tay quay nhẹ nhàng đưa nó vào đúng tim đường ngang và dọc trên màn hình. Hai quả SAM2 xé không trung hướng thẳng tới mục tiêu. Đạn nổ! B52 bốc cháy sáng rực một vùng trời Hà Nội. “Niềm tự hào của không lực Hoa Kỳ” cắm đầu lao thẳng xuống Yên Thường – Gia Lâm – Hà Nội. Nó chưa kịp cắt bom nên tiếng nổ của nó làm inh tai nhức óc cả một vùng rộng lớn. “Siêu pháo đài bay” cùng bọn giặc lái tan tành trong khói lửa.

Tiếp nối câu chuyện về những cách đánh, bí quyết hạ gục B52 của bộ đội ta, ông Minh hóm hỉnh kể: Vào những đêm tháng 12, có tiểu đoàn Tên lửa hỏa lực đã rơi vào tình trạng giữa chừng “trắng bệ,” nghĩa là trên các bệ phóng không còn đạn, trong khi máy bay địch vẫn tiếp tục kéo vào. Anh em lái xe chở đạn cực kỳ dũng cảm. Họ đợi ở các bãi lắp ráp, được quả nào là tranh thủ vượt đạn bom lao về đơn vị. “Đạn về đến nơi, lập tức được nạp vào bệ phóng, chưa ấm chỗ đã lao đi tìm diệt B52. Các tiểu đoàn hỏa lực thỉnh thoảng lại nhận được chỉ thị qua điện thoại từ trung đoàn: “Khách đến còn nhiều, chú ý tiết kiệm gạo.” Thế nhưng vượt qua khó khăn, bộ đội tên lửa đã đánh xuất sắc, bắn rơi tại chỗ B52 của địch,” Ông Minh nhớ lại.

Chia sẻ trên của đại tá Minh khiến chúng tôi nhớ đến câu chuyện lý thú về chiến công kỳ diệu “mỗi viên đạn một quân thù” của Anh hùng lực lượng vũ trang, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không Không quân về trận đánh xuất sắc bắn hạ B52 trong tình trạng “khan đạn.” Đó là vào rạng sáng 21 tháng 12, khi từng tốp B52 đang nối tiếp nhau bay vào thì trên các bệ phóng của tiểu đoàn 57 chỉ còn 2 quả đạn. Tiểu đoàn đã hạ quyết tâm đánh “quả một.” Nghĩa là mỗi lần dùng một quả. 5 giờ 9 phút, quả thứ nhất rời bệ, hạ 1 chiếc B52. 5 giờ 19 phút, quả thứ hai, quả đạn cuối cùng trên các bệ phóng, vút lên. Thêm một “Niềm tự hào của không lực Hoa Kỳ” bị tiêu diệt. Chiếc này rơi xuống gần Núi Đôi, Vĩnh Phú. Sau đó ít ngày, cũng bằng 2 quả tên lửa SAM2, Tiểu đoàn 72 quật ngã 2 chiếc máy bay ném bom hạng nặng này, mà xác một chiếc rơi ngay xuống đường Hoàng Hoa Thám và giữa làng hoa Ngọc Hà, chỉ cách Quảng trường Ba Đình không đầy 600m.

Hết cuộc đời binh nghiệp, người sỹ quan tên lửa năm nào trở về với cuộc sống bình dị cùng gia đình. Bên cạnh ký ức về một thời “máu và hoa,” những chiến công lẫy lừng của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không,” niềm tự hào và lẽ sống của cựu chiến binh Nguyễn Xuân Minh bây giờ là sự trưởng thành của ba người con và đàn cháu nội, ngoại; bởi như lời ông nói: Mùa đông khói lửa của 40 năm trước đã qua, một tương lai thanh bình, tốt đẹp, đang đón đợi./.

Anh Tùng (TTXVN)
vietnamplus.vn

Nhạc sỹ Phạm Tuyên: Âm nhạc đã xua tan bom đạn

Nhạc sỹ Phạm Tuyên (Ảnh: PV/Vietnam+)

Phố xá ngổn ngang. Bầu trời đỏ rực. Tiếng hò reo khi thấy máy bay địch bốc cháy xen lẫn với tiếng khóc ri rỉ của những đứa con mất cha, những người vợ mất chồng sau những trận bom,…

Từng ấy hình ảnh về Hà Nội 12 ngày đêm lịch sử 1972 chưa bao giờ nhạt phai trong tâm thức những người trong cuộc. Nhạc sỹ Phạm Tuyên của ngày ấy, giờ đã là ông cụ ở ngưỡng tám mươi mùa xuân nhưng vẫn nhớ như in những hình ảnh của Hà Nội một thời đạn bom.

Bốn mươi năm sau, trong không gian bình dị của một ngày đông, nhạc sỹ Phạm Tuyên bồi hồi nhớ lại khung cảnh thủ đô những ngày đêm cuối năm 1972; chậm rãi ôn lại thời khắc viết nên bản hùng ca chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không.”

Niềm hạnh phúc, tự hào và sự xót xa đan xen trong những câu chuyện, hồi ức.

Tình người trong lửa đạn

Bên khung cửa sổ, người nhạc sỹ già không giấu được niềm xúc động nghẹn ngào, dõi đôi mắt nhòa lệ như đau đáu tìm về quá khứ, khắc khoải hồi tưởng lại “Hà Nội những đêm không ngủ.” Từng dòng ký ức hiện về như thước phim quay chậm.

“Hồi ấy, Mỹ tuyên bố sẽ đưa miền Bắc của chúng ta về lại thời kỳ đồ đá. Lệnh sơ tán khẩn cấp được ban hành. Những con phố ngày thường vốn đông đúc, trong một lúc, trở nên hoang vắng lạ thường,” nhạc sỹ Phạm Tuyên nhớ lại.

Ngày đó, nhạc sỹ Phạm Tuyên công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam, phụ trách biên tập âm nhạc. Giọng run run, nhạc sỹ kể: “Ngày 19/12, chúng ném bom Mễ Trì, nơi đặt trạm phát sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam khi ấy. Sau đó, chúng tôi phải chuyển về 58 Quán Sứ.”

Những ụ pháo dã chiến, công sự cá nhân nhanh chóng mọc lên, biến cả Thủ đô thành một mâm pháo lớn.

Triền miên trong câu chuyện, người nhạc sỹ già nhớ lại cái ngày vệt bom đi trúng căn nhà của mình: “Đó là ngày 22/12/1972, Mỹ ném bom ác liệt. Nhà tôi ở Đại La cũng bị trúng bom. Chiếc đàn dương cầm bị vỡ một mảng lớn, bàn phím xộc xệch. Tủ sách, giường ngủ sập gẫy, những cuốn sách, bản nhạc cháy xém trong ngôi nhà không mái. Một cảnh tượng đổ vỡ, ngổn ngang. Chống chếnh. Tôi có cảm giác như đã mất tất cả!”

Thế nhưng, khi cố đạp xe từ Quán Sứ về để tìm kiếm những gì còn sót lại, “lòng tôi lại trào dâng một cảm giác rất lạ: vừa đau thương, xót xa nhưng lại cũng rất đỗi tự hào. Tôi không còn nghĩ đến những mất mát riêng tư,” ông kể.

Ga Hàng Cỏ, phố Khâm Thiên, khu Bệnh viện Bạch Mai,… hoang tàn dưới sức tàn phá của bom đạn, có những căn nhà bị đánh sập, chỉ còn lại một góc tường. Thế nhưng, ở Bệnh viện Bạch Mai, bệnh nhân, người nhà không hề chen lấn xô đẩy mà vẫn bình tĩnh, kiên trì xếp hàng theo thứ tự.

Phố Khâm Thiên, các gia đình đi sơ tán nhưng không nhà nào khóa cửa. Vậy mà không hề có nạn trộm cắp, hôi của. Lúc bom đạn thì khẩn trương xuống hầm. Khi còi báo yên thì đường phố lại đông đúc trở lại, mọi người đi lại làm việc.

“Xung quanh mình là bao cảnh thương tâm. Nhưng, tôi thấy lòng ấm lại khi chứng kiến cảnh bà con giúp nhau lượm đồ dùng còn sót lại sau trận bom, từng đội dân phòng khẩn trương đưa những người bị thương đi chữa chạy…,” đôi mắt ánh lên niềm tự hào, giọng xúc động, nhạc sỹ Phạm Tuyên hồi tưởng lại.

Mải miết đạp xe qua phố Bà Triệu, những lúc không có còi báo động, tiếng hát vẫn rộn rã vang lên. “Tôi đã bắt gặp những đôi mắt thâm quầng sau nhiều đêm không ngủ, nhưng mọi người vẫn cùng nhau thu dọn đống đổ nát. Nỗi đau không còn là của riêng ai! Mọi người như xích lại gần nhau hơn để cùng vượt qua những mất mát, đau thương,” giọng ông trầm lắng.

Ca khúc “Hà Nội những đêm không ngủ” đã ra đời ngay sau đó. “Hà Nội đêm nay vẫn vang bài tình ca. Hà Nội anh hùng thủ đô của chúng ta,…” người nhạc sỹ đắm chìm trong ca từ như đang sống lại những tháng ngày hào hùng ấy.

Vang mãi bản hùng ca

Say sưa với dòng hồi ức, người nghệ sỹ kể: Giáp ngày lễ Noel, 24/12, nghe thông tin người Mỹ ngừng ném bom để tổ chức kỷ niệm nên bà con kéo về nhà khá đông. Bất ngờ, ngày 26/12 năm đó, Hà Nội rung chuyển trong tiếng máy bay và đạn bom.

Máy bay quần đảo khắp bầu trời. Cả con phố Khâm Thiên rừng rực cháy. Không khí tang thương bao trùm cả một dãy phố dài vốn tấp nập trước đây.

“Sáng 27, trong cuộc họp giao ban, đồng chí Trần Lâm khẳng định quyết tâm chống chiến tranh phá hoại của địch: ‘Chúng ta sẽ dành cho địch một Điện Biên Phủ trên không.’ Tôi chưa bao giờ quên giờ khắc ấy,” nhạc sỹ Phạm Tuyên nhớ lại.

Ông kể, từ lúc đó, những chữ “Điện Biên Phủ” luôn thường trực trong tâm thức, thôi thúc mình phải làm một điều gì đó. Rồi, “cả đêm hôm đó, dưới căn hầm 58 Quán Sứ, tôi hý hoáy viết ca khúc ‘Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không. Viết bằng tất cả niềm tin, sự tự hào,” tay đặt lên ngực, người nghệ sỹ xúc động kể.

“Hà Nội đây! Đế quốc Mỹ có nghe chăng câu trả lời của Hà Nội chúng ta?… Phất cao ngọn cờ sao chính nghĩa…. Một Điện Biên sáng chói!” Nhạc sỹ Phạm Tuyên nói, ông muốn truyền tải ý chí kiên cường, mạnh mẽ của người Hà Nội chống quân thù.

Sáng hôm sau, “anh Trần Lâm nghe tôi hát thử và bảo: ‘Sự quyết liệt này đúng là của Điện Biên Phủ trên không.’ Bài hát lập tức được đăng tải trên báo Nhân dân số ra ngày 29/12/1972 và vang ngân trong chương trình phát thanh Tiếng hát về miền Nam tối hôm đó,” đôi mắt người nhạc sỹ sáng lên niềm tự hào.

Ông tâm sự, có một điều đặc biệt, khi ca khúc vừa vang lên đêm 29 thì ngày 30, Mỹ xuống thang ném bom. “Phải sống trong những giây phút như thế mới hiểu được sức mạnh của âm nhạc, thấy đó là sợi dây kết nối mọi người, tạo nên sức mạnh lớn lao. Sau này, tôi có nghe nhạc sỹ, nhà báo Thụy Kha kể lại, anh em ở Quảng Trị đã khóc vì sung sướng, xúc động khi nghe bài hát này,” nhạc sỹ chia sẻ.

40 năm lửa và hoa đã qua, âm điệu mạnh mẽ ấy vẫn vang lên thật linh thiêng, gợi nhớ về những ngày tháng hào hùng ấy của dân tộc. Một Hà Nội kiên cường giữa mưa bom, bão đạn./.

Phương Mai (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Hải Phòng kỷ niệm 40 năm Điện Biên Phủ trên không

Ảnh tư liệu.

Ngày 13/12, Thành ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng tổ chức lễ Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không (12/1972-12/2012).

Tới dự có các vị lãnh đạo thành phố, chiến sỹ các Sư đoàn, Trung đoàn phòng không không quân đóng trên địa bàn cùng các cựu chiến binh từng chiến đấu trong chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ Thủ đô.

Tại buổi lễ, ông Dương Anh Điền, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố đã ôn lại chặng đường lịch sử cùng những đóng góp to lớn của quân và dân thành phố Hải Phòng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ trên không.

Trong trận chiến đó, quân và nhân dân Hải Phòng đã vượt lên hy sinh, mất mát hoàn thành tốt nhiệm vụ chặn đứng các đường bay của không quân Mỹ từ hướng Đông Bắc, Đông Nam đánh vào Hà Nội. Đây là chiến thắng của ý chí, quyết tâm, trí tuệ và sức mạnh của cả dân tộc.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố tin tưởng trong thời gian tới, với truyền thống hào hùng, quân và nhân dân thành phố Hải Phòng sẽ vượt qua mọi khó khăn, xây dựng thành phố ngày càng vững mạnh toàn diện, xứng đáng là thành phố văn minh hiện đại trong thời kỳ đổi mới, hội nhập.

Tại buổi lễ, các cựu chiến binh đã xúc động ôn lại những kỷ niệm hào hùng làm nên chiến thắng lịch sử năm xưa. Ông Phạm Văn Chắt, Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72 thuộc Sư Trung đoàn 285 xúc động nhớ lại chiến công bắn rơi chiếc máy bay B-52 xuống hồ Hữu Tiệp (nay thuộc phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội).

Ông chia sẻ: “Lúc đó khoảng 23 giờ, rađa phát hiện có một tốp máy bay B-52 tiến về hướng Hà Nội. Khi máy bay địch vào trong cự ly có lợi cho xạ kích, tôi ra lệnh phát sóng, ba trắc thủ đã tóm gọn mục tiêu trên màn hình sóng. Cảm nhận thấy mục tiêu di chuyển vào điểm ‘chết,’ tôi đã ra lệnh cho sỹ quan điều khiển bắn. Sau khẩu lệnh, hai dòng lửa vụt sáng xé toang màn đêm, rồi một chùm lửa như bùng lớn cháy thắp sáng một góc trời. Cả trận địa lặng im một khoảnh khắc rồi vỡ òa hô vang: ‘Nó cháy rồi!’ Sau khi chiếc máy bay cháy, sáu tên giặc lái, trong đó có hai thiếu tá, hai đại úy, một trung úy và một thượng sỹ đã rơi xuống bầu trời Hà Nội, hai tên thiệt mạng còn bốn tên bị bắt sống.”

Cùng với hồi ức với nguyên Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt, Đại tá Lê Ngọc Sơn, Nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không không quân 363, Đại tá Phạm Sơn, Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 238, Đại tá Lê Hỷ, Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 84 cũng chia sẻ nhiều kỷ niệm không thể quên trong những ngày sát cánh cùng đơn vị bảo vệ Thủ đô./.

Hoàng Ngọc (TTXVN)
vietnamplus.vn

Những người “vạch nhiễu,” phát hiện B52 ngày ấy

Nhân dân khu phố Đống Đa đem lá ngụy trang đến trận địa đơn vị X. (Ảnh: Văn Bảo/TTXVN)

Tháng 12 của 40 năm trước, Thủ đô Hà Nội bị đế quốc Mỹ dùng “pháo đài bay” B52 ném bom rải thảm. Trong bom, đạn, chết chóc, Hà Nội vẫn kiên cường, quả cảm, vượt qua đau thương, đổ nát, anh dũng chiến đấu để đập tan cuộc tập kích chiến lược Linebacker II, gây chấn động địa cầu.

Những ngày tháng bi thương, hào hùng đã lùi xa. Vết tích “mưa bom” B52 đã nằm sâu dưới các tòa nhà cao tầng. Nhưng những địa danh năm nào nay đã thành lịch sử. Những người góp phần làm nên huyền thoại một thời, nay đã được khắc ghi. Và, 12 ngày, đêm khói lửa (từ 18/12/1972 đến 30/12/1972) vẫn được khắc ghi trong những ký ức.

Phóng viên TTXVN đã tìm gặp các nhân chứng lịch sử là những người lính, chỉ huy, công nhân, tri thức… và nghe họ kể về những trận chiến oai hùng.

Từ căn cứ không quân Andersen tại đảo Guam ở Thái Bình Dương, những tốp B52 của không lực Hoa Kỳ bay theo một đường bay định sẵn dài trên 4.000km hướng đến “mục tiêu” Thủ đô Hà Nội. Những ngọn đèn trên thân tốp máy bay ném bom hạng nặng lần lượt bật sáng, báo cho kíp bay biết cuộc hành trình đang được thực hiện tốt đẹp.

Thành viên các tổ bay “ung dung” nhai kẹo cao su, đọc tiểu thuyết, thỉnh thoảng, lơ đãng nhìn qua cửa kính ngắm trăng, sao. Nhiệm vụ của chúng – theo lời bọn chỉ huy là: Bay vào Hà Nội, ấn nút thả bom rồi bay ra. Đây chỉ là cuộc “dạo mát” bởi hệ thống cảnh giới của Việt Nam đã bị vô hiệu hóa. Không một vũ khí nào, kể cả tên lửa, có thể bắn rơi được “siêu pháo đài bay.” Nhưng, “giặc trời” không hay biết, radar của bộ đội Việt Nam đã sớm phát hiện ra chúng.

Đối đầu với “siêu pháo đài bay”

Một sáng đầu tháng 12, cái lạnh se sắt đặc trưng của gió mùa đông bắc kèm theo cơn mưa phùn lất phất giăng khắp Hà Nội. Phố Đội Cấn – cách không xa hồ Hữu Tiệp, nơi có “pháo đài bay” phơi xác, nay tấp nập người qua lại. Ngôi nhà cuối con ngõ số 216 là chỗ ở của Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên là Đài trưởng đài radar P35, Đại đội 45, Trung đoàn 291, Binh chủng Radar, Quân chủng Phòng không không quân. Đại tá Tích là người đã góp công lớn trong việc chống nhiễu điện tử, phát hiện và cảnh báo sớm “pháo đài bay” B52 đến Binh chủng.

Dẫn chúng tôi lên căn phòng nhỏ, nơi có chiếc áo sỹ quan ngực đỏ huân, huy chương được treo cẩn thận cạnh chiếc tủ đựng tài liệu và các cuốn sổ ghi chép những chiến công lẫy lừng của quân chủng Phòng không – Không quân xuyên suốt gần 5 thập kỷ, từ năm 1963 đến nay, nhất là những ngày mùa đông năm 1972, ông Nghiêm Đình Tích bồi hồi bảo: “Đối đầu trước tiên với B52 Mỹ trong chiến dịch 12 ngày đêm chính là bộ đội radar. Và công đầu cũng là của radar, còn công lớn nhất thuộc về tên lửa.”

Rồi giọng ông trở nên linh hoạt, sôi nổi hơn khi nhắc lại những khoảnh khắc ác liệt của 40 năm trước, nhất là ngày mở màn của trận “Điện Biên Phủ trên không”: Ngày 18 tháng 12 năm 1972, cường độ hoạt động của máy bay địch tại Quân khu 4 giảm đột ngột. Các đài radar của Trung đoàn 290 không hề phát hiện được nhiễu điện tử tích cực và B52 hoạt động. Gần trưa, radar phát hiện một chiếc máy bay không người lái vào trinh sát Hải Phòng. Đến chiều, các trắc thủ của Đại đội trinh sát nhiễu 3 Trung đoàn 290 phát hiện tín hiệu thông tin giữa các trung tâm chỉ huy của địch tăng đột ngột, rất đáng ngờ. Tin từ Bộ Tổng tham mưu nối liền đó: Sẽ có đợt hoạt động lớn của B52 ra miền Bắc. Các đơn vị khẩn trương chuẩn bị chiến đấu.

Trong tình thế khẩn cấp đó, Trung đoàn radar 290 điện về Tổng trạm radar trong sở chỉ huy Quân chủng: Cường độ nhiễu điện tử tăng nhanh. Tất cả các đài radar cảnh giới đang phát sóng đều bị nhiễu. Các dạng nhiễu cứ quét đi quét lại, đan chéo vào nhau, lồng vào nhau, rối tinh rối mù. Nhiễu trắng xóa cả màn hiện sóng, che lấp mọi tín hiệu phản xạ khiến cho mọi dải tần số của radar hoàn toàn mất mục tiêu.

Các trung đoàn radar khác, từ đoàn Sông Mã, đoàn Phù Đổng, đoàn Tô Hiệu đến đoàn Ba Bể, đều báo cáo những dải nhiễu điện tử xuất hiện trên các màn hiện sóng. Các đài radar của các tiểu đoàn tên lửa cũng thu được các giải nhiễu đậm đặc, có lúc làm trắng xóa cả màn hình. Lúc này, Đài radar 35 với cánh sóng tạt sườn của Đại đội 45 – đơn vị chốt của Trung đoàn radar 291- gồm Đài trưởng Nghiêm Đình Tích, các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích nhận lệnh từ cấp trên liền mở máy tăng cường.

“Vạch” nhiễu “săn” thù

“Thời điểm lúc ấy vô cùng nguy hiểm, ‘ngàn cân treo sợi tóc.’ Địch sử dụng các máy gây nhiễu điện tử từ Hạm đội 7 ngoài biển dội vào, rồi nhiễu từ hàng trăm máy bay tiêm kích, cường kích và nhiễu từ chính những “pháo đài bay” tấn công, hòng gây mù hệ thống định vị của ta. Vì vậy, hầu như toàn bộ hệ thống radar cảnh giới của ta đã tê liệt. Duy chỉ còn đài radar của chúng tôi, với 6 máy thu, 6 máy phát. Nhưng cả 6 máy thu cũng bị nhiễu. May là khi kiểm tra lại thì có một máy thu bị nhiễu tương đối nhẹ. Chỉ một thoáng suy nghĩ tôi đi đến quyết định chống nhiễu bằng cách tắt 5 máy thu, chỉ để lại 1 máy thu và 6 máy phát. Đây là thao tác xử trí quy trình chống nhiễu B52 bằng kinh nghiệm, sở trường và sự sáng tạo độc đáo của kíp chiến đấu,” ông Tích kể lại.

Sau thao tác thông minh này, trên màn hình của chiếc máy thu của đài radar 35 lập tức hiện lên ba chấm sáng nhỏ in hằn trên vạch độ cao 12km, lúc ẩn, lúc hiện trên dải nhiễu đang từ màu cam sẫm chuyển sang vàng nhạt. Với cặp mắt tinh tường nhìn “xuyên” màn nhiễu của mình cùng kíp trắc thủ, Đài trưởng Nghiêm Đình Tích đã xác định ngay những giải nhiễu này là của B-52. Chúng ở trong khu vực phương vị 2750, hướng Tây Nam – Đô Lương (Nghệ An). Ngay lập tức, đơn vị báo lên cấp trên: “Nhiễu của B52, có khả năng B52 đánh vào Hà Nội.” Thông tin quan trọng đài radar 35 của Đại đội 45 phát hiện B52 đã vượt vĩ tuyến 20 lập tức được báo cáo về Bộ Tổng Tham mưu. Phó Tư lệnh quân chủng Nguyễn Quang Bích trực tiếp hỏi lại Bộ Tư lệnh radar: “Có chắc chắn là B-52 không?”. Nhìn tín hiệu B-52 trên màn hiện sóng, từng tốp 3 chiếc bay trên vùng trời nước Lào hướng về Tây Bắc Việt Nam, lại phát hiện các tốp máy bay chiến thuật đang gây nhiễu tích cực trên vùng trời Hà Nội, Đài trưởng Đài radar 35 Nghiêm Đình Tích khẳng định chắc nịch: “Đúng là B-52. Có khả năng chúng đang bay vào đánh Hà Nội.”

Lập tức, Phó Tư lệnh quân chủng Nguyễn Quang Bích ra lệnh cho toàn quân chủng sẵn sàng chiến đấu. Lúc đó là 18 giờ 50 phút. Đó cũng là thời điểm bắt đầu của chiến dịch phòng không đánh trả chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B52 vào Hà Nội. Cùng lúc đó, tiếng còi báo động phòng không nhân dân khẩn cấp rú từng hồi ở Hà Nội, Hải Phòng, Yên Bái và một số tỉnh miền Bắc. Những hồi còi báo động vừa dứt đã xuất hiện tiếng gầm rú của các loại máy bay tiêm kích, cường kích và âm thanh ì ầm nặng nề của B52 trên bầu trời Hà Nội.

“Chúng ta đã không để Tổ quốc bị bất ngờ. Radar đã báo động phòng không trước khi máy bay địch xâm nhập 45 phút, sớm hơn thường lệ 35 phút để nhân dân có điều kiện phòng tránh kỹ, các đơn vị chiến đấu có thời gian chuẩn bị tốt hơn, giành thế chủ động ngay từ trận đầu. Đó là sự bất ngờ đối với không lực Hoa Kỳ. Chúng không thể nghĩ rằng radar của Việt Nam có thể vạch nhiễu phát hiện ra B52. Cái giá phải trả cho sự kiêu căng, ngạo mạn này là 3 chiếc B52 bị bắn rơi ngay đêm đó,” Người đài trưởng năm nào bồi hồi kể lại./.

Anh Tùng (TTXVN)
vietnamplus.vn

Đoàn Thăng Long tiếp bước truyền thống Rồng bay

Trung đoàn tên lửa 250 huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao. (Nguồn: TTXVN)

Chiều 12/12, Trung đoàn tên lửa 250, thuộc Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không-Không quân đã tổ chức buổi nghe nói chuyện truyền thống giữa cán bộ, chiến sỹ với Trung tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Phiệt – Nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân.

Ở tuổi bảy mươi hai, nhưng Tướng Phiệt còn rất khỏe mạnh, minh mẫn; ông say sưa kể lại những chiến công hiển hách của quân và dân ta trong chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không.” Qua đó đã khơi dậy niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn 361 anh hùng, đơn vị bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất trong chiến dịch này: 29 chiếc, trong đó có 25 chiếc Pháo đài bay B-52 của không lực Hoa Kỳ.

Đóng quân trên địa bàn miền núi, có nhiệm vụ bảo vệ bầu trời phía Tây của Thủ đô Hà Nội, tiếp nối truyền thống anh hùng của các thế hệ đi trước, trong những năm qua Trung đoàn tên lửa 250 đã làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu cao nhất.

Toàn Trung đoàn chấp hành nghiêm kỷ luật và duy trì nền nếp xây dựng đơn vị chế độ chính quy hiện đại. Kết quả huấn luyện năm 2012 ở các khoa mục, chuyên ngành có 100% chiến sỹ đạt yêu cầu, trong đó 75% khá, giỏi. Trung đoàn đạt chỉ tiêu huấn luyện giỏi và đạt danh hiệu đơn vị Quyết thắng. Từ Sở chỉ huy Trung đoàn đến các Tiểu đoàn, Phân đội duy trì nghiêm chế độ canh trực tác chiến trong quản lý vùng trời, tổ chức canh gác ngày đêm chặt chẽ, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho đơn vị.

Thượng tá Lưu Văn Đại, Chính ủy Trung đoàn cho biết, hướng tới kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên phủ trên không,” Trung đoàn đã triển khai làm mới 5 công trình kỷ niệm trị giá hàng trăm triệu đồng, thiết thực phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội; tham gia giúp dân, thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa được chính quyền và nhân dân địa phương đánh giá cao.

Tại Tiểu đoàn 152 của Trung đoàn trên khu vực đồi cao, một không khí thi đua sôi nổi hướng về ngày kỷ niệm lớn đang lan tỏa tới từng Đại đội, Phân đội. Cùng với việc trực chiến, huấn luyện, bảo dưỡng vũ khí, khí tài thuần thục, cán bộ chiến sỹ Tiểu đoàn đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự túc rau xanh, thu hơn 80 triệu đồng trong năm; cải thiện đời sống, bảo đảm sức khỏe cho bộ đội.

Thiếu úy, sỹ quan trẻ Trần Văn Nguyện tâm sự, được cấp trên điều động về công tác ở đơn vị chưa lâu, anh và các đồng đội luôn cố gắng học hỏi rèn luyện kỹ năng, làm chủ khí tài, vũ khí hiện đại đã được cải tiến; coi đó là việc làm thiết thực để phát huy truyền thống của một Sư đoàn phòng không anh hùng.

Chia tay Đoàn tên lửa Thăng Long vào lúc 100 chiến sỹ mới của đơn vị đang tập điều lệnh chuẩn bị cho Lễ tuyên thệ trước Quân kỳ, trước khi đi nhận nhiệm vụ mới, phóng viên TTXVN bắt gặp những gương mặt trẻ trung, rạng ngời niềm vui. Họ chính là những người tiếp bước khúc quân hành ca hào hùng của cha ông, của một binh chủng tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc./.

Nhan Sinh (TTXVN)
vietnamplus.vn

40 năm sau, nhìn lại một chiến công

PGS. TS Vũ Duy Thông
Mỗi lần nhắc đến trận “Điện Biên phủ trên không” hay rất nhiều chiến thắng khác, tôi vẫn cứ ngạc nhiên rằng sao những bài học nhãn tiền ấy không đủ thức tỉnh những kẻ còn ôm mộng xâm lược, bành chướng. Đâu chỉ tiền nhiều, người đông, vũ khí mạnh là thắng. Chiến thắng B.52 40 năm trước, chiến thắng Điện Biên phủ 58 năm trước, chiến tháng Ngọc Hồi – Đống Đa 223 năm trước… và rất nhiều mốc son khác trong lịch sử đã chứng minh điều đó.

Những ngày đó, cả thế giới kể cả những người Mỹ yêu chuộng hòa bình, yêu chuộng lẽ phải nín thở. Cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, con bài cuối cùng của Mỹ đã diễn ra. Tiến hành cuộc tập kích Hà Nội bằng con chủ bài B.52, chính phủ Mỹ lúc đó muốn gì? Muốn nhân dân Hà Nội và cả nhân dân Việt Nam sẽ hoảng sợ, sẽ nổi loạn, sẽ ép Chính phủ Việt Nam phải ký hiệp định Pari với những điều khoản có lợi cho Mỹ, để nước Mỹ có thể rút chân ra khỏi cuộc chiến trong danh dự.

Trong mọi dự báo chiến tranh, yếu tố đầu tiên làm căn cứ cho mọi nhận định là tiềm lực của mỗi bên. Phía Mỹ, bước vào cuộc đọ sức chiến lược, họ có gì? Trước hết Mỹ đã chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt ngoại giao, quân sự và nhiều mặt khác. Thứ hai nhưng lại quan trọng nhất là ưu thế về lực lượng không quân chiến lược với hàng loạt máy bay cường kích, tiêm kích, không người lái, tàng hình hiện đại, nhiều loại đến nay còn chưa lạc hậu. Hạt nhân của các hung thần trên không ấy là siêu pháo đài bay B.52 đã được bố trí dày đặc trên các sân bay chiến lược bao quanh Việt Nam. B.52 là loại máy bay hiện đại nhất của Mỹ, tích hợp hầu hết các thành tựu kỹ thuật quân sự của Mỹ lúc bấy giờ. Mỗi chiếc B.52 có sức chở 30 tấn bom, tương đương với 108 quả 500 pound (227kg), chỉ trong một lần dàn đội hình oanh tạc có thể tạo ra một bãi bom rộng 400 mét, dài 1.000 mét. Máy bay B.52 có thể chống được hầu hết các loại máy bay MIC 17, MIC 21 và nhiều loại vũ khí do Liên Xô sản xuất lúc ấy trong đó có tên lửa SAM-2 mà quân đội Việt Nam được trang bị. Để tiến hành chiến dịch này, Mỹ huy động một nửa số máy bay chiến lược B.52 hiện có (197/400 chiếc) và 1.077 máy bay các loại từ 3 căn cứ không quân và 6 tàu sân bay. Ngoài ra, Mỹ còn có hàng trăm tàu chiến các loại bố trí ở ngoài khơi Việt Nam. Về phía Việt Nam, họ có gì? Khoảng gần 1.000 quả đạn SAM-2 trong đó có 300 quả đạn phải phục hồi để dùng lại và hệ thống ra đa phòng không đã khá lạc hậu, nhiều giàn bị hư hỏng. Cả hai loại khí tài này, Mỹ đã biết tường tận về tính năng kỹ thuật và đã có khí tài chống lại. Với sức mạnh quân sự nghiêng hẳn về phía Mỹ như thế, Việt Nam khó lòng đứng vững, mà Việt Nam không đứng vững, hàng trăm triệu người yêu chuộng hòa bình, ủng hộ Việt Nam trên thế giới sẽ thua. Nếu họ thua, chính quyền hiếu chiến của Mỹ thắng, bản đồ chính trị thế giới sẽ khác.

Nhưng dù có tính toán chi ly đến đâu, chính phủ Mỹ lúc đó vẫn bị bất ngờ. Bất ngờ vì đánh giá quá thấp đối phương. Vì quá tự tin vào ưu thế quân sự của mình. Và sau cùng, điều này tuy không thể hiện thường xuyên trong các báo cáo quân sự tối mật nhưng lại mang ý nghĩ quyết định, vì cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ là cuộc chiến tranh phi nghĩa, bị nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới phản đối. Thua vì Mỹ đi xâm lược một đất nước xa nước Mỹ hàng vạn cây số, không ảnh hưởng gì đến nước Mỹ. Dân tộc ấy lại có truyền thống ngàn đời “Không có gì quí hơn độc lập tự do”.

Hà Nội đông dân. Hà Nội thiếu thốn, nghèo khổ trăm bề nhưng người Hà Nội có truyền thống yêu nước nồng nàn. Cần phải nói là, trước khi Tổng thống Mỹ đặt bút ký vào bản kế hoạch tấn công Hà Nội hàng tháng, một tài liệu tuyệt mật được gọi là cẩm nang đỏ “Cách đánh B.52 của bộ đội tên lửa” đã được phổ biến trong toàn quân. Trước đó hàng năm, đã có sự hợp tác khoa học tuyệt mật để cải tiến tính năng kỹ thuật của SAM-2 và nhất là hệ thống ra đa phá nhiễu giữa ta và các chuyên gia quân sự Xô viết. Khi B.52 cất cánh từ các sân bay quân sự cách ta 6 giờ bay, các chiến sĩ pháo cao xạ, tên lửa, ra đa, lái máy bay đã ngồi vào vị trí sẵn sàng chiến đấu cấp 1. Từ những tư liệu mới đây người ta mới biết chứng tỏ trận thắng B.52 trên bầu trời Hà Nội năm đó không phải là trận thắng hú họa, trận thắng ăn may. Đó là kết quả của rất nhiều năm nghiên cứu kẻ địch, nghiên cứu cách đánh, khổ luyện lập công của hàng nghìn con người, hình thành một thế trận giăng sẵn, đưa giặc vào thế chắc thua. Nhưng quan trọng không kém, đó là trước những âm mưu tàn độc của giặc xâm lược, Hà Nội và cả nước đã sẵn sàng. Chỉ trong một đêm, hơn nửa triệu người Hà Nội đã sơ tán, hàng vạn người khác lên các vị trí chiến đấu bằng tất cả những vũ khí có trong tay. Hà Nội vẫn sáng đèn. Các điểm vui chơi vẫn mở cửa. Đài phát thanh vẫn phát nhạc. Nhiều hoạt động đón Tết vẫn diễn ra, Nhưng Hà Nội từ đêm 17/12/1972 đã trở thành thiên la địa võng, thành lưới lửa của lòng căm thù, thành tượng đài “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trong thời cả nước chống Mỹ.

Và cái gì phải đến đã đến.

Trong cơn giãy giụa điên cuồng và tuyệt vọng Lầu Năm góc cay cú trút bom xuống Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai… và nhiều thành phố khác. Trong số 100.000 tấn bom ném xuống Việt Nam trong chiến dịch này, Mỹ đã rải xuống Hà Nội trên 40.000 tấn. 1,318 người Hà Nội đã chết, hơn nghìn người khác bị thương, 2.000 ngôi nhà bị tàn phá. Riêng khu phố Khâm Thiên, 278 người bị giết (40 cụ già, 55 em nhỏ, 91 phụ nữ). Ở Bệnh viện Bạch Mai, nhiều bệnh nhân và bác sĩ chết bên nhau trong phòng cấp cứu. Đau thương ngất trời, Căm thù ngất trời. Và Hà Nội cùng cả nước đã cất tiếng trả lời. Cùng với tên lửa, bộ đội phòng không và nhân dân Hà Nội, Hải Phòng đã trút vào đầu giặc 2.036 viên đạn pháo 100mm, 15.669 viên đạn pháo 57mm, 19.454 viên đạn pháo 37mm, 1.147 viên đạn 14,5mm chiếm 66% kho đạn của 2 thành phố và hàng vạn viên đạn súng bộ binh khác. Lưới lửa mặt đất này, tuy không với tới được B.52 nhưng đã khiến đội hình của địch rối loạn để máy bay, tên lửa tiếp cận, bắn rụng B.52. Trong 12 ngày đêm chiến đấu gan dạ, dũng cảm đó, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay trong đó có 34 máy bay B.52 các loại, 16 chiếc rơi tại chỗ, giết và bắt sống nhiều giặc lái. Trong những máy bay B.52 bị bắn rơi tại chỗ, có chiếc đã rơi xuống ao làng Hữu Tiệp, ngẫu nhiên làm đẹp thêm truyền thống hoa Ngọc Hà của Hà Nội.

Thoắt đấy, trận thắng lịch sử đã lùi xa 40 năm. Quan hệ Việt – Mỹ đã khác trước. Nhiều phi công B.52 bị bắn rơi và bị bắt sống trên bầu trời Hà Nội giờ đã trở thành những chính trị gia có thế lực, góp tiếng nói quan trọng nhằm thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Nhiều cựu chiến binh Mỹ đã làm những việc thiết thực, giàu tình nghĩa để hàn gắn vết thương một thời.

Nhắc đến trận “Điện Biên phủ trên không” vào dịp này, so với 40 năm trước đây, cũng có cái giống và cũng có cái khác. Giống là chỗ đó là dịp để thêm một lần khẳng định sức mạnh của dân tộc, truyền thống đánh giặc hào hùng và niềm tin vào chiến thắng. Khác là không phải để khoét sâu hơn nữa lòng thù hận mà để cùng nhau rút ra những kinh nghiệm lịch sử, tránh lặp lại những bài học đau xót trong tương lai cùng sánh bước lâu dài trên con đường hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Người Việt Nam luôn lấy tình nghĩa làm trọng, mọi căm thù đều có thể được tha thứ, được gác lại một bên, chỉ tình nghĩa, sự thông cảm, đồng cảm là bền vững. Căm thù nào bằng lòng căm thù trước những tội ác chồng chất của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ với nhân dân ta mấy chục năm qua cũng như những thế kỷ đồng hóa, diệt chủng trước đó. Nhưng nhân dân ta chưa bao giờ lẫn lộn giữa kẻ xâm lược và nhân dân những nước đó và sẵn sàng tha thứ, ngay với kẻ xâm lược, nếu chúng hối hận, từ bỏ mưu đồ cũ. Có thể thấy tinh thần ấy trong những câu nói của một số nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, những người từng đóng vai trò chủ chốt trong các cuộc chiến tranh ở Việt Nam trong thế kỷ XX. Đó là Hồ Chí Minh trong thư gửi một người mẹ Pháp năm 1946, trên chiếc tàu từ Pháp trở về sau cuộc hòa đàm vãn hồi hòa bình thất bại và trước thềm cuộc chiến tranh với chính phủ Pháp hồi đó: “Phải chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quí như nhau”. Đó là Lê Duẩn trong lá thư gửi Trung ương Cục miền Nam, viết năm 1972: “Tất cả những ai thấy được tội lỗi, đoạn tuyệt với quá khứ, quay về với đường ngay lẽ phải, đều có chỗ đứng trong lòng dân tộc. Chính sách của chúng ta là lấy nhân nghĩa để cảm hóa, lấy khoan hồng để đối xử, tuyệt đối không báo oán, trả thù”. Đó là Thủ tướng Võ Văn Kiệt: “Nếu chỉ dùng đối đầu và bạo lực để giải quyết những thù hận thì chỉ đẻ ra thù hận. Nếu dùng cách cảm hóa để giải quyết thù hận thì có thể triệt tiêu được thù hận và tạo ra được sức mạnh ngày càng dồi dào hơn. Nếu cứ còn chia rẽ do thù hận vì bại, kiêu vì thắng thì có ích gì…”. Hoặc chỉ cần xem một chương trình bóng đá có đội Pháp tham dự hay xem một chương trình thời sự trên truyền hình có hình ảnh các cựu binh Mỹ thì sẽ rõ. Tiếc rằng những tư tưởng nhân ái ấy, thái độ cư xử hòa bình ấy ngay đến hiện nay vẫn bị một số người cố tình xuyên tạc, che khuất.

Và mỗi lần nhắc đến trận “Điện Biên phủ trên không” hay rất nhiều chiến thắng khác, tôi vẫn cứ ngạc nhiên rằng sao những bài học nhãn tiền ấy không đủ thức tỉnh những kẻ còn ôm mộng xâm lược, bành chướng. Đâu chỉ tiền nhiều, người đông, vũ khí mạnh là thắng. Chiến thắng B.52 40 năm trước, chiến thắng Điện Biên phủ 58 năm trước, chiến tháng Ngọc Hồi – Đống Đa 223 năm trước… và rất nhiều mốc son khác trong lịch sử đã chứng minh điều đó

V.D.T.
cand.com.vn

“Tọa độ thép” Minh Kha, Hải Phòng ngày ấy, bây giờ

Những khẩu đội pháo cao xạ bảo vệ bầu trời Hà Nội. (Nguồn: lichsuvietnam.vn).

Trong đợt tấn công từ 18-30/12/1972, đế quốc Mỹ không chỉ dội bom tàn phá Hà Nội, mà còn muốn xóa sổ nhiều vị trí trọng yếu của Hải Phòng như Cảng, Nhà máy xi măng.

Trong 12 ngày đêm lịch sử ấy, quân và dân thành phố Cảng đã anh dũng chiến đấu, cùng với Hà Nội làm nên chiến thắng lịch sử “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”.

Góp sức vào chiến thắng vĩ đại này, không thể không nhắc tới trận địa bắn rơi nhiều máy bay địch nhất trên bầu trời Hải Phòng: trận địa Minh Kha (xã Đồng Thái, An Dương, Hải Phòng).

Mắt xích hiểm yếu

Đại tá Hoàng Mạnh Dũng, nguyên là Sư đoàn Trưởng Quân chủng Phòng không- Không quân 363 người từng tham gia chỉ huy các trận đánh trên trận địa Minh Kha cho biết “rrận địa này gần trung tâm thành phố, là nơi đón lõng máy bay địch khi chúng bay từ vùng biển vào. Nơi đây mênh mông là ruộng vườn, đảm bảo an toàn và ngụy trang tốt nhất. Vì thế, Minh Kha trở thành một trong những vị trí hiểm yếu để bảo vệ bầu trời thành phố Cảng.

Cũng chính vì những lý do đó, đế quốc Mỹ đã đưa hàng trăm lượt máy bay chiến đấu hiện đại, trong đó có máy bay B52 dội bom tàn phá trận địa”.

Trước đợt tấn công 12 ngày đêm, đế quốc Mỹ đã nhiều lần dội bom xuống Hải Phòng. Có một ngày cả quân và dân từng chiến đấu tại trận địa Minh Kha đều nhớ, đó là ngày 16/4/1972. Các chiến sĩ của Tiểu đoàn 81, Trung đoàn 238, Sư đoàn 363 bắt được mục tiêu.

Dựa vào tín hiệu nhiễu, kíp chiến đấu khẳng định đó là máy bay B52. Các trắc thủ phóng tên lửa lên không trung và tiêu diệt được chiếc B52 đầu tiên trên bầu trời Hải Phòng.

Nói về trận địa Minh Kha, từng người dân ở đây đều tự hào về mối quan hệ khăng khít giữa quân và dân.

Bác Bùi Xuân Vượng, người tham gia lực lượng dân quân tự vệ, nguyên là Chủ nhiệm Hợp tác xã Đồng Thái trong những ngày tháng chiến đấu chống máy bay địch đánh phá, kể lại: “Ngày đó, bộ đội thường ở nhà dân. Quân và dân như người một nhà, cùng chia nhau từng bữa cơm, cốc nước. Công tác phòng không nhân dân cũng được hoàn thành nhanh gọn. Mỗi gia đình đào ít nhất một hầm chữ A.

Dân quân xã thành lập các tổ cứu hỏa, tải thương, cứu sập hầm, trực chiến máy bay địch. Họ còn được huấn luyện kỹ thuật bắn máy bay địch, sử dụng pháo cao xạ để sẵn sàng thay thế pháp thủ khi cần thiết”.

Chính nhờ sự hợp tác chặt chẽ giữa quân và dân, nên từ tháng 4 đến tháng 12/1972, trận địa tên lửa Minh Kha bắn rơi 29 máy bay chiến đấu của Mỹ, trong đó có 1 máy bay B52.

Đây là trận địa bắn rơi nhiều máy bay của địch nhất trên địa bàn thành phố và được mệnh danh là “tọa độ thép”, “trận địa lòng dân”.

Từ “tọa độ thép” trở thành “làng lúa, làng hoa”

Không chỉ anh hùng trong chiến đấu, người dân thôn Minh Kha nói riêng, xã Đồng Thái nói chung, còn năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm trong thời đổi mới. Là một xã thuần nông nhưng người dân mạnh dạn chuyển sang hình thức canh tác hiệu quả hơn.

Anh Nguyễn Văn Thùy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đồng Thái cho biết từ đầu những năm 90, người dân trong xã đã chuyển những vùng đất phù hợp sang trồng hoa.

Đến bây giờ, diện tích đất trồng hoa chiếm khoảng 25% diện tích đất nông nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Mỗi năm, thu nhập từ hoa của bà con nông dân đạt từ 100- 200 triệu đồng.

Để giúp người dân trồng được những giống hoa tốt, màu sắc đẹp, Ủy ban nhân dân xã thường xuyên mời chuyên gia đầu ngành về hoa về tập huấn cho bà con.

Năm 2012, xã Đồng Thái đang trồng thử nghiệm 7 giống hoa mới nhập từ Hà Lan về để chọn giống hoa mới đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường.

Không áp dụng máy móc mà năng động tìm cách làm phù hợp – đó là đức tính của người Đồng Thái. Khu vực đất nông nghiệp trũng, sâu không phù hợp với trồng hoa, người dân thả rau muống, rau nhút, rau cải xoong. Thu nhập từ các loại rau màu này tương đương với trồng hoa và cây cảnh.

Chính nhờ sự năng động, sáng tạo của những người nông dân nên Đồng Thái luôn là xã đi đầu trong chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp của huyện An Dương suốt 15 năm qua.

Về Đồng Thái vào những ngày này, có thể cảm nhận được sự hứng khởi, tình yêu lao động, sự kiên cường của người dân nơi đây.

Đi qua những con đường đẹp mắt với những vườn hoa chuẩn bị đón Tết, là đến Tiểu đoàn 73, đơn vị đang đóng quân trên trận địa Minh Kha năm xưa.

Nơi đây vẫn còn lưu giữ những phương tiện đã bắn rơi máy bay B52 và máy bay chiến đấu khác của Mỹ trong những ngày tháng chiến đấu bảo vệ vùng trời thành phố Cảng./.

Minh Thu (TTXVN)
vietnamplus.vn

Giao lưu với đoàn làm phim “Hà Nội 12 ngày đêm”

Chiều 12/12, tại Sư đoàn 371, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã phối hợp với Quân chủng Phòng không-Không quân; Cục Điện ảnh, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức giao lưu giữa nghệ sỹ, diễn viên điện ảnh đã tham gia làm phim “Ký ức một thời” và “Hà Nội 12 ngày đêm” với cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn Không quân 371 nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không.”

Tại buổi giao lưu, cán bộ chiến sỹ Sư đoàn Không quân 371 đã được đạo diễn, biên kịch, người dẫn chuyện bộ phim tài liệu “Ký ức một thời” kể lại những câu chuyện cảm động, sự chịu đựng, mất mát hy sinh của những người dân Hà Nội trong 12 ngày đêm rực lửa, góp phần làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12 năm 1972.

Đối với bộ phim truyện nhựa “Hà Nội 12 ngày đêm,” qua giao lưu với đạo diễn, nhà biên kịch, diễn viên, quay phim cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn Không quân 371 đã hiểu thêm được sự làm việc nghiêm túc, đầy trách nhiệm của đoàn làm phim, qua đó đã khắc họa được những chiến công của quân, dân Thủ đô; của cán bộ, chiến sỹ Quân chủng Phòng Không-Không quân và Sư đoàn Không quân 371 một cách phong phú, sinh động.

Hai bộ phim “Ký ức một thời” và “Hà Nội 12 ngày đêm” được công chiếu vào dịp tuần chiếu phim kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội và một số địa phương khác./.

Ông Quốc Chính (TTXVN)
vietnamplus.vn

Thi đua chào mừng 40 năm “Điện Biên Phủ trên không”

“Rồng lửa” SAM trong chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không.” (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, các cơ quan ban ngành, các tầng lớp nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội thực hiện đợt thi đua cao điểm gắn với các hoạt động chào mừng.

Hiện các đơn vị đang triển khai đợt thi đua cao điểm như thi đua về đích trước thời hạn các nhiệm vụ, các chỉ tiêu kinh tế-xã hội–an ninh quốc phòng và các tiêu chí xây dựng nông thôn mới năm 2012; thi đua tạo chuyển biến rõ nét trong quản lý trật tự xây dựng, vệ sinh môi trường; thi đua thực hiện tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục truyền thống, tu bổ di tích lịch sử và đền ơn đáp nghĩa; thi đua thực hiện “4 nhất 1 không” trong lực lượng vũ trang Thủ đô.

Đoàn viên thanh niên quận Ba Đình tổ chức hoạt động tham quan, giáo dục truyền thống cho đoàn viên, thanh thiếu nhi tại Bảo tàng Phòng không-Không quân Việt Nam, Bảo tàng Chiến thắng B.52 và Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Hoạt động này có sự tham gia của các nhân chứng lịch sử trong sự kiện 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” giúp đoàn viên, thanh thiếu nhi quận hiểu được ý nghĩa sâu sắc của chiến thắng.

Trong tháng 12, quận Thanh Xuân tập trung cao điểm cho các hoạt động kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” như nói chuyện chuyên đề, giới thiệu sách, giao lưu, gặp mặt truyền thống các nhân chứng lịch sử trong 12 ngày đêm tháng 12/1972, thăm hỏi các gia đình, cá nhân tiêu biểu tham gia sự kiện…

Quận Hoàn Kiếm cũng tổ chức buổi giao lưu với nhân chứng lịch sử tham gia chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” với sự tham gia đông đảo các cán bộ, nhân dân và thế hệ trẻ nhằm giáo dục truyền thống, lòng tự hào dân tộc cho nhân dân trong quận…

Thông qua các hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, các cấp ngành, nhân dân Thủ đô đã khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào, tinh thần quả cảm, góp phần vào quá trình xây dựng và phát triển Thủ đô hiện nay./.

Đinh Thị Thuận (TTXVN)
vietnamplus.vn

Chương trình nghệ thuật chiến thắng Điện Biên Phủ

Tự vệ Nhà máy Y Hà Nội ngày đêm nêu cao tinh thần cảnh giác, luyện tập sẵn sàng chiến đấu, bắn rơi máy bay Mỹ gây tội ác ở Thủ đô trong 12 ngày đêm tháng 12/1972. (Ảnh: TTXVN)

Ngày 12/12, thông tin với báo giới, đại diện Ban tổ chức cho biết, Chương trình giao lưu nghệ thuật “Viết tiếp bản hùng ca” sẽ diễn ra lúc 20h ngày 15/12 tại Hà Nội.

Đây là chương trình giao lưu nghệ thuật đặc biệt do báo Quân đội nhân dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình kỹ thuật số VTC phối hợp tổ chức nhằm kết nối tinh thần tuổi trẻ và các cựu chiến binh, những nhân chứng của chiến thắng Điện Biên Phủ trên không năm 1972.

Đêm giao lưu nghệ thuật “Viết tiếp bản hùng ca” sẽ tái hiện Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” sau 40 năm qua lời kể của những người đã từng góp phần làm nên bản lĩnh, trí tuệ người Việt Nam khi chiến thắng vũ khí tối tân nhất của quân đội Mỹ là pháo đài bay B52.

Buổi giao lưu của hai thế hệ sẽ mở đầu với việc nhìn lại “Cuộc đụng đầu lịch sử” qua lời kể của nhân chứng là Trung tướng Phạm Tuân – người đầu tiên bắn hạ được máy bay B52 từ trên không và trở về an toàn vào đêm 27/12/1972…

Phần hai của chương trình “Hà Nội ơi một trái tim hồng” sẽ kể câu chuyện phối hợp chiến đấu, xây dựng thế trận phòng không nhân dân; ca ngợi khí phách, tinh thần người Hà Nội luôn vững vàng đối mặt với B52. Những câu chuyện từ thực tế lao động, công tác qua lời kể của những gương mặt trẻ sẽ khép lại với phần “Vang mãi bản hùng ca.”

Cùng với phần giao lưu với các nhân chứng lịch sử, các phóng sự, bài ca đi cùng năm tháng xen lẫn chương trình sẽ góp phần tái hiện chiến công oanh liệt trong 12 ngày đêm “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không.”

Chương trình giao lưu nghệ thuật “Viết tiếp bản hùng ca” sẽ được tường thuật trực tiếp trên kênh truyền hình VOVTV và phát thanh trực tiếp trên Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1) – Đài Tiếng nói Việt Nam, phát sóng trực tiếp trên kênh truyền hình VTC1- Đài truyền hình kĩ thuật số VTC; Truyền hình Công an Nhân dân (ANTV)./.

Quang Vũ (TTXVN)
vietnamplus.vn