Thư viện

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Đội ngũ trí thức

 

1. … Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

 

Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam bộ, ngày 25-5-1947, sđd, t.5, tr. 131.

 

2. … Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội và nhân dân. Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài.

 

Trả lời một nhà báo nước ngoài, ngày 22-6-1947, sđd, t.5, tr. 156.

 

3. … Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều.

Nhưng có đôi người trí thức vì thế mà kiêu ngạo, lên mặt. Chứng kiêu ngạo lên mặt rất có hại cho họ. Nó ngăn trở họ tiến bộ.

… Một người học xong đại học có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế.

Vì vậy, những người trí thức đó cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế.

Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận.

Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.

Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích.

Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành.

… Có nhiều đồng chí có bệnh tự tôn, tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, muốn học những ưu điểm của người khác. Biết được vài câu lý luận đã cho mình là giỏi, không xem ai ra gì, tưởng mình là hơn hết. Đó là bệnh hẹp hòi hạng nặng.

 

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t.5, tr. 235, 238.

 

…Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc. Dân ta đã đấu tranh một cách rất dũng cảm. Lẽ tất nhiên giới trí thức phải hy sinh đấu tranh, dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân.

Các bạn là viên chức của Chính phủ Dân chủ Cộng hòa mà các bạn đã giúp xây dựng nên. Chính thể dân chủ cộng hòa của ta tuy còn trẻ tuổi, nhưng đã chiến thắng nhiều cuộc thử thách, nó đã chứng tỏ rằng quả thật là đầy tương lai. Do đó, nhiệm vụ các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ.

…Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” cho nhân dân noi theo.

 

Thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc, tháng 2-1948, sđd, t.5, tr. 381, 382.

quangbinh.gov.vn

Đạo đức cách mạng là suốt đời “tận trung với nước, tận hiếu với dân”

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành nhiều thời gian và công sức quan tâm chăm lo rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Một yếu tố cốt lõi, theo Người là mỗi cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng. Người nói “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1), “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(2). Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quá trình hoạt động cách mạng phải thường xuyên rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Theo Người “có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá”(3).

Đạo đức cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là đạo đức mới, về bản chất nó khác xa đạo đức cũ trói buộc con người trong những lợi ích cá nhân ích kỷ, hẹp hòi. Đạo đức cách mạng gắn liền với chế độ mới, nó là đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người. “Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”(4), “là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”. Đạo đức cách mạng đòi hỏi phải ra sức thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của nhân dân, của tập thể, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, giữ vững kỷ luật của Đảng. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Đạo đức cách mạng là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng, hết sức trung thành phục vụ giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tuyệt đối không thể lưng chừng”(5). Người chỉ rõ: “Đảng viên là người thay mặt Đảng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, lợi ích của người đảng viên phải ở trong chứ không thể ở ngoài lợi ích của Đảng, của giai cấp. Đảng và giai cấp thắng lợi và thành công, tức là đảng viên thắng lợi và thành công”(6). “Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho CNXH và CNCS thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới”(7). Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đảng, trước hết bản thân người cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, đồng thời phải ra sức tuyên truyền, vận động cho quần chúng thực hiện. Phải là người tiên phong, dẫn đường cho quần chúng thực hiện một cách có hiệu quả, muốn vậy trong lời nói và việc làm người cán bộ, đảng viên phải luôn thống nhất và làm gương cho quần chúng noi theo, phải làm cho quần chúng tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân. Vì vậy, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân”(8). “Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng, tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng”(9).

___

(1, 3, 5, 6, 8,9) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, NXBCTQG, H.2002, tr.283, 284, 286, 288, 289, 290. (2) Sđd, tập 5, tr.252-253. (4) Sđd, tập 7, tr.480. (7) Sđd, tập 12, tr.93.

Lê Văn Tuyên
Học viện Chính trị Quân sự

xaydungdang.org.vn

Đồng chí Phạm Văn Đồng – Tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh

Nét đặc sắc nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng là luôn được tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chiếu sáng. Vì vậy, Phạm Văn Đồng sớm trở thành người học trò xuất sắc – gần gũi, người đồng chí chiến đấu của Hồ Chí Minh, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiều trọng trách: 41 năm là Uỷ viên Trung ương Đảng, 35 năm là Uỷ viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Về phần mình, Phạm Văn Đồng đã hoàn thành tốt những trọng trách đó…

1. Nửa đầu những năm 20 thế kỷ trước, Phạm Văn Đồng cũng như nhiều thanh niên trí thức trong nước bí mật tìm đọc những tài liệu của Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài truyền về. Anh đã tìm thấy trong đó nhiều điều mới, tiến bộ và mong được gặp gỡ trực tiếp. Và “cơ may” đã đến (theo từ dùng của Phạm Văn Đồng): Cuối năm 1926, Phạm Văn Đồng được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Từ đó, đến “cơ may” thứ hai là năm 1940 Phạm Văn Đồng cùng Võ Nguyên Giáp sang Côn Minh (Trung Quốc) tìm gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thì “sức hấp dẫn” của người Thầy dậy lý luận đã gắn bó trọn đời Phạm Văn Đồng với tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tiếp đó, Phạm Văn Đồng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, được Hồ Chí Minh giao cho nhiệm vụ học tập kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sau đó được cử về Cao Bằng xây dựng căn cứ địa cách mạng ở khu Cao Bắc Lạng.
Về phần mình, Hồ Chí Minh sớm thấy phẩm chất cách mạng và sự tin tưởng ở Phạm Văn Đồng. Do đó, liên tục trong gần 30 năm (1940-1969) từ sau lần gặp nhau thứ hai tại Côn Minh đến khi Hồ Chí Minh qua đời, Phạm Văn Đồng luôn luôn được sống bên cạnh Hồ Chí Minh, được sự dìu dắt, đào tạo thành nhà cách mạng chuyên nghiệp. Trong đó 15 năm cuối đời, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã cùng sống sinh hoạt và làm việc trong khu Phủ Chủ tịch. Thời kỳ đầu về tiếp quản Thủ đô, Hồ Chí Minh không ở trong Dinh Toàn quyền mà ở trong ngôi nhà của người thợ điện còn Phạm Văn Đồng ở ngôi nhà của người quản lý Dinh toàn quyền. Hai nhà chỉ cách nhau một sân nhỏ. Hàng ngày hai người thường bàn việc nước, tiếp khách, cùng sinh hoạt. Vì vậy giữa hai con người – hai nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước ta càng có nhiều quan hệ thân thiết. Giữa họ, tình thầy trò, đồng chí hoà quyện vào nhau nên nghĩa tình sâu nặng, đạo lý sống và lý tưởng cách mạng cao cả vì nước vì dân.

Nét đặc sắc nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng là luôn được tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chiếu sáng. Vì vậy, Phạm Văn Đồng sớm trở thành người học trò xuất sắc – gần gũi, người đồng chí chiến đấu của Hồ Chí Minh, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiều trọng trách: 41 năm là Uỷ viên Trung ương Đảng, 35 năm là Uỷ viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Về phần mình, Phạm Văn Đồng đã hoàn thành tốt những trọng trách đó, ngay cả khi Hồ Chí Minh đã đi xa. Đã hơn 40 năm qua, nhưng hình ảnh Phạm Văn Đồng cố kìm nén xúc động trong giờ phút truy điệu, đưa tang người Thầy, người đồng chí chiến đấu gần gũi của mình – Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hiện lên trước mắt mọi người…

2. Trọn cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng đã gắn liền với công cuộc giải phóng và xây dựng đất nước ta, là tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh. Điều này không chỉ thể hiện qua hoạt động thực tiễn của Phạm Văn Đồng như vừa phác hoạ trên đây, mà còn được thể hiện khá rõ thông qua những trang viết của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh. Vì vậy, ngay sau cách mạng Tháng Tám, nhân dịp ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19-5-1948, Phạm Văn Đồng đã có những nhận xét xác thực và khâm phục trong tác phẩm Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc: “Bình sinh Hồ Chủ tịch là người rất giản dị, lão thực. Vĩ nhân, thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị, lão thực…Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết”(1). Cũng trong tác phẩm này Phạm Văn Đồng còn rút ra 4 bài học ở người thầy của mình là: Học trung với nước, hiếu với dân, đoàn kết toàn dân, học phấn đấu …Và phải học suốt đời cũng không sao học hết được nhưng “Mọi người Việt Nam đều học được Hồ Chủ tịch”.

Đặc biệt từ sau khi Hồ Chí Minh đi xa, Phạm Văn Đồng đã dành nhiều công sức để nghiên cứu cuộc đời, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vừa để tỏ lòng biết ơn người thầy vừa để thực hành tấm gương đạo đức và góp phần tuyên truyền giáo dục tư tưởng đạo đức của Người cho toàn xã hội. Chỉ 5 năm sau khi Hồ Chí Minh đi xa, Phạm Văn Đồng cho xuất bản tác phẩm “”Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc, tinh hoa của thời đại”. Từ đầu những năm 90, sức khoẻ yếu, đôi mắt nhìn không rõ nữa, nhưng Phạm Văn Đồng vẫn miệt mài nghiên cứu Hồ Chí Minh.

Đồng chí Nguyễn Tiến Năng nguyên trợ lý cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho biết: Nhiều khách quốc tế cũng như đồng chí trong nước trong những lần thăm, làm việc đã đề nghị Thủ tướng viết Hồi ký để người đọc biết thêm về cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí qua các thời kỳ cách mạng. Câu trả lời chung là: “Viết hồi ký thường đụng chạm đến người này, người nọ và thông thường là đề cao “cái tôi” của mình hơn mọi người, hơn cả tập thể. Tôi không viết hồi ký mà chỉ tập trung viết về Bác Hồ. Nhưng viết về Bác là điều cực kỳ khó bởi người ta (cả trong nước và ngoài nước) đã viết hàng trăm cuốn sách về Bác, vậy mình viết cái gì và viết như thế nào, thật không dễ”(2). Biết vậy nhưng Phạm Văn Đồng vẫn vượt khó viết về người thầy, người đồng chí gần gũi – lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Trong khoảng thời gian chưa đầy một thập niên, Phạm Văn Đồng đã dành tâm lực nghiên cứu và cho xuất bản hàng loạt công trình về Hồ Chí Minh. Đó là “Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”(1990), “Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại, tương lai” (1991), “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh” (1993), “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh” (1998)… Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, thông qua những hoạt động lý luận và thực tiễn sinh động trong quá trình tiếp nhận sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh và trên cương vị một đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước trong nhiều năm, Phạm Văn Đồng trong các tác phẩm nêu trên đã minh chứng đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh và vai trò quan trọng tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người trong suốt tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc trước kia và trong công cuộc đổi mới hiện nay. Phạm Văn Đồng đánh giá cao sự nhạy bén về chính trị, tính cách mạng sâu sắc và giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc xây dựng và chấn hưng đất nước ngày nay. Khó có thể phân tích, đánh giá hết những luận điểm khoa học, những giá trị to lớn các công trình nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh. Vì đó là sự nghiên cứu khoa học sâu sắc, với những trải nghiệm của một nhân chứng lịch sử, một nhà lãnh đạo cao cấp, một nhà văn hoá lớn của dân tộc. Ở đây, chỉ xin được nêu ra một vài nhận xét đánh giá nhằm minh hoạ một phần giá trị của những công trình nghiên cứu ấy. Chẳng hạn, trong tác phẩm “Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”, Phạm Văn Đồng đã lý giải sâu sắc về mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người với thời đại, với công cuộc giải phóng dân tộc mình: “Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, bốn nhân tố ấy kết hợp và hoà nhập vào nhau, tạo thành sự vận động của lịch sử, bắt đầu từ một con người, thông qua một dân tộc và một thời đại, cuối cùng đưa đến một sự nghiệp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó là điều Hồ Chí Minh tìm kiếm lúc rời nước ra đi, ấp ủ lúc trở về, tâm niệm suốt cuộc đời, cho đến những lời trong Di chúc”(3). Những luận điểm chính Phạm Văn Đồng thấm nhuần sâu sắc tư tưởng và những kinh nghiệm của Hồ Chí Minh – người thày dạy lý luận của mình: “Chủ nghĩa xã hội theo đặc điểm Việt Nam là sự kết thúc thắng lợi hành trình lịch sử của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã vạch ra từ đầu thế kỷ”(4). Theo gương Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng tiếp tục khẳng định nội dung cách mạng và tính sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin: “Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là tín điều, mà là lý luận và phương pháp luận về sự phát triển có quy luật của thiên nhiên, xã hội và con người, sự phát triển ấy luôn luôn biến hoá một cách biện chứng, từ đó lý luận và phương pháp luận cũng chuyển động sáng tạo, không ngừng phong phú và giàu sức sống mới, theo những bước tiến triển của lịch sử và sự nghiệp cách mạng của con người(5)”.

Trong “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh”, Phạm Văn Đồng tập trung nghiên cứu Hồ Chí Minh về con người, đặc biệt về “con người Việt Nam trong lịch sử Việt Nam” và “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam”. Trong hầu hết các trang viết của tác phẩm này Phạm Văn Đồng quán triệt sâu sắc sự quan tâm của Hồ Chí Minh về nỗi thống khổ của người dân Việt Nam nô lệ và những biện pháp, tư tưởng của Hồ Chí Minh để giải phóng toàn diện con người Việt Nam khỏi ách áp bức dân tộc, giai cấp để con người Việt Nam được hưởng quyền dân sinh, dân trí, dân chủ (6). Hơn thế, theo Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh không chỉ tìm con đường giải phóng cho con người Việt Nam mà còn giải phóng cho con người nước khác(7). Từ đó, Phạm Văn Đồng khái quát về quá trình hình thành con người Hồ Chí Minh và nêu ra một cách tiếp cận rất khoa học và tổng quát về con người và tư tưởng Hồ Chí Minh: “Sự hình thành con người Hồ Chí Minh là một quá trình trải dài suốt đời hoạt động của Hồ Chí Minh. Về tư tưởng Hồ Chí Minh, tôi có nói đó là sự kết hợp hài hoà giữa 3 nguồn: truyền thống dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin và thành quả nhiều học thuyết xưa nay ở Đông Tây. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói gộp lại, đó là tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phẩm chất và phong cách, tất cả trở thành con người Hồ Chí Minh, biểu hiện trong mọi cử chỉ và hành động, lời nói và việc làm, ứng xử trong mọi tình huống(8). Từ đó, Phạm Văn Đồng chỉ ra mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới hiện nay: “Cơ sở lý luận và phương pháp luận của sự nghiệp đổi mới là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(9). Điều này góp phần khẳng định vai trò nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Mimh (cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin) trong các văn kiện của Đảng ta.

Những công trình nghiên cứu cuối đời của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh thực hiện với sự giúp đỡ nghe đọc và ghi chép của các đồng chí thư ký giúp việc. Tuy nhiên, những công trình ấy lại có nội dung khoa học, mang tính tổng kết sâu sắc, gắn bó chặt chẽ của sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh với cuộc sống hôm nay. Trong đó, công trình “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh” được hoàn thành và xuất bản năm 1998 có một vị trí đặc biệt trong quá trình nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người. Ngoài phần phụ lục “Hồ Chí Minh và truyền thống dân tộc”(trích từ Văn hoá và đổi mới), “Hồ Chí Minh và cuộc sống”, “Hồ Chí Minh về đạo đức” và “Hồ Chí Minh và các tầng lớp nhân dân” (trích từ: Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại, tương lai), trong tác phẩm này, Phạm Văn Đồng đã tổng kết những hiểu biết mới nhất của mình và của xã hội về: Quá trình hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, Phương pháp luận và phong cách Hồ Chí Minh và mối quan hệ của những bài học kinh nghiệm, vai trò quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta hiện nay. Điều đặc biệt trong tác phẩm này, một lần nữa Phạm Văn Đồng lại lý giải thêm nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đó là lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam mà nột dung chủ yếu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nó là sự vận dụng sáng tạo và có phát triển học thuyết Mác-Lênin trong hoàn cảnh Việt Nam, một nước thuộc địa và phong kiến từ đầu thế kỷ đến nay và mai sau.”(10). Và từ đó Phạm Văn Đồng chỉ ra cho chúng ta thấy rõ hơn sự cần thiết phải học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước: “Chính vì lẽ đó mà chúng ta phải nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, một công trình nghiên cứu không chỉ để hiểu biết và đánh giá tư tưởng Hồ Chí Minh mà điều quan trọng hơn là vận dụng một cách sáng tạo nhằm đóng góp vào quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam”(11).

Nội dung thứ hai trong tác phẩm này là Phạm Văn Đồng quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về dân tộc. Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: “Rút lại tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn xuất phát từ con người và cuối cùng trở về con người với những khả năng thiên biến vạn hoá của nó”(15) và: “Hồ Chí Minh luôn luôn bắt đầu từ con người, từ nhân dân, từ dân tộc để cuối cùng trở về con người, nhân dân và dân tộc, đó là điểm xuất phát đồng thời cũng là mục tiêu cuối cùng của cách mạng”(12).

Không chỉ nghiên cứu và viết về Hồ Chí Minh, trong những năm cuối đời Phạm Văn Đồng còn nhiều bài viết đề cập đến đời sống nhân dân, gìn giữ sự đoàn kết và thắt chặt quan hệ giữa Đảng với nhân dân, những trăn trở trước những biểu hiện suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên…Chỉ 1 năm trước khi đi xa, Phạm Văn Đồng còn viết bài báo: Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nhân ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự vui mừng, phấn khởi trước những thành tựu to lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự lo âu trước những tiêu cực đang nảy sinh trong xã hội; đặc biệt ở một bộ phận đảng viên, những người có chức quyền đang biến chất. Theo đồng chí, cần phải tiếp tục chỉnh đốn Đảng ngang tầm với nhiệm vụ và xứng đáng với Đảng của Hồ Chí Minh. Ở đây, một lần nữa xin được khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc những nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh, về Đảng Cộng sản Việt Nam và xin được khâm phục và ngợi ca cuộc đời một con người suốt đời sống và chiến đấu với lý tưởng của Đảng, trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh và là tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, không chỉ có Phạm Văn Đồng viết nhiều và học tập tốt tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Song có thể nói, Phạm Văn Đồng là người có sớm (13) và nhiều công trình nghiên cứu về Con người, Tư tưởng và Đạo đức Hồ Chí Minh. Đó là những trang viết hay, có hàm lượng khoa học cao và tính chính trị sắc bén thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi lẽ Phạm Văn Đồng là nhà nghiên cứu, nhà văn hoá và là học trò xuất sắc – người đồng chí chiến đấu trung thành của Hồ Chí Minh kính yêu. Và vì vậy, Phạm Văn Đồng còn là tấm gương tiêu biểu trong việc nghiên cứu và thực hành tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

Đồng chí Phạm Văn Đồng là bậc lão thành, trường thọ. Ông là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước ta, là học trò xuất sắc và gần gũi, người đồng chí chiến đấu rất mực trung thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, những kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh và tấm gương thực hành tư tưởng đạo đức của Đồng chí được phản ảnh trong các tác phẩm trên đây không chỉ là những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, tổng kết những trải nghiệm cuộc đời, những phát hiện mới về mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới hiện nay mà còn là lời nhắn gửi – một thông điệp đối với chúng ta trong việc đẩy mạnh việc học tập nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào các lĩnh vực của đời sống xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay./.

———————————–

(1) Điếu văn đọc tại Lễ truy điệu đồng chí Phạm Văn Đồng, ngày 6-5-2000
(2) Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Đồng chí Phạm Văn Đồng với cách mạng Việt Nam, Nxb. Lý luận chính trị, H.2006, tr.225
(3) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb. ST, H.1990, tr.39
(4) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người…Sdd. tr.85
(5) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người…Sdd. tr.81-82
(6) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh, Nxb.CTQG, H.1993,tr.50-60
(7) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.116
(8) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.117
(9) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.35
(10) , Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh,Nxb.CTQG,H.1998, tr.23
(11) Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Sdd, tr.87
(12) Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Sdd, tr.94
(13) Theo chúng tôi biết, Bài báo đầu tiên viết về Hồ Chí Minh là bài:” Kính chúc Hồ Chủ tịch sống lâu muôn tuổi” của Đồng chí Trường Chinh đăng trên báo Nhân Dân số đầu tiên

Theo PGS.TS Lê Văn Tích
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Người Cách mạng phải có đạo đực

Trong hơn nửa thế kỷ bôn ba tìm đường cứu nước, Bác Hồ từ một trí sĩ yêu nước đã trở thành một người cách mạng chân chính. Và với sự trải nghiệm của bản thân Bác đã đưa ra những quan điểm sâu sắc về đạo đức của người cách mạng mà qua sự kiểm chứng khách quan của lịch sử, những quan điểm này đến nay vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn và thực tiễn.

Vai trò và tầm quan trọng của đạo đức đối với người cách mạng đã được Bác nhấn mạnh: “người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không…” (Người cán bộ cách mạng, tháng 3-1955, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 480). Quan điểm này không chỉ đúng trong thời đại của Người mà trong thời đại của chúng ta quan điểm này vẫn là kim chỉ nam dẫn đường cho mỗi người cán bộ, Đảng viên noi theo vì ở bất kỳ hoàn cảnh nào, người cán bộ, Đảng viên cũng là những mắt xích không thể thiếu trong hệ thống chính trị, làm việc vì mục tiêu thực hiện hoá lý tưởng của Đảng và Nhà nước là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nếu một mắt xích bị han rỉ sẽ ảnh hưởng tới sự vững mạnh của cả hệ thống, mà hệ thống có vững thì mỗi mắt xích mới được duy trì vì vậy giữ gìn đạo đức của người cách mạng là yếu tố vô cùng quan trọng để ổn định chính trị, tạo nền tảng vững chắc cho kinh tế- văn hoá- xã hội của một quốc gia, dân tộc phát triển.

Trong tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc, Bác đã mở rộng quan điểm về đạo đức cách mạng: “Một người cách mạng bao giờ cũng phải trung thành, hăng hái, xem lợi ích của Đảng và dân tộc quí hơn tính mệnh của mình. Bao giờ cũng quang minh, chính trực, ham cách sinh hoạt tập thể, luôn luôn săn sóc dân chúng, giữ gìn kỷ luật, chống lại “bệnh cá nhân””. Và đạo đức cách mạng không phải bỗng dưng mà có, nó là kết quả của quá trình tự đấu tranh và rèn luyện hàng ngày của mỗi cán bộ, Đảng viên. Đạo đức ấy phải được các cán bộ, Đảng viên thực hiện một cách nghiêm túc, bền bỉ trong suốt quá trình hoạt động cách mạng như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Tuy nhiên, đạo đức cách mạng không phải là những lời nói suông mà cần những hành động cụ thể. Trong bức thư Bác gửi thanh niên năm 1947, có viết Tôi khuyên các bạn là chớ đặt những chương trình kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần đến khó, từ thấp dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi hơn là một trăm chương trình to tát mà không làm được”. Đây thực chất là lời căn dặn về việc “nói phải đi đôi với làm” vì nói có đi đôi với làm thì mới tạo ra sức mạnh thực tiễn và điều này đã được làm sáng tỏ trong tiến trình cách mạng của dân tộc. Trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ vì đạo đức cách mạng của toàn thể cán bộ, Đảng viên được thể hiện ở ý chí quyết tâm giết giặc, tinh thần quả cảm, hăng hái xông pha trên các chiến trường, sẵn sàng hy sinh xương máu vì tự do, độc lập của dân tộc nên đã động viên được toàn dân tham gia đánh giặc. Khi đất nước hoà bình, trước vô vàn khó khăn do tàn dư chiến tranh để lại, các cán bộ, Đảng viên từ Trung ương đến địa phương đã sát cánh cùng nhân dân tham gia lao động sản xuất, đưa đất nước ta từng bước thoát nghèo và trở thành  nước đang phát triển với một nền kinh tế năng động. Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, muốn phát huy cao độ sức mạnh quần chúng trong việc hiện thực hoá các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng thì trước tiên các cán bộ, Đảng viên phải thực hiện tốt hành động cách mạng “nói đi đôi với làm”.

Đạo đức của người cách mạng cũng cần phải được nêu cao ở tinh thần trách nhiệm đối với công việc được giao. Tinh thần trách nhiệm ấy phải là: “Nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ. Tách rời chính sách ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm tròn nhiệm vụ”. Người cán bộ, Đảng viên là người cầm cân nảy mực trong việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, vì vậy nếu người cán bộ, Đảng viên không có tinh thần trách nhiệm với công việc thì chính sách sẽ không được triển khai một cách đầy đủ, chính xác đến với nhân dân, từ đó quyền lợi, nghĩa vụ của nhân dân sẽ không được đảm bảo, hiệu quả quản lý của các cơ quan Nhà nước không cao, do đó người cán bộ Đảng viên cũng không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Trong bất kỳ hoàn cảnh lịch sử nào đạo đức cách mạng cũng là yếu tố quyết định đến kết quả hoạt động, công tác của người cách mạng. Tuy nhiên đạo đức ấy phải được tôi rèn trong nhân dân, trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Thời đại ngày nay là thời đại của tri thức, của những tiến bộ khoa học, công nghệ, người cán bộ, Đảng viên không thể chỉ biết chính trị mà còn phải am hiểu rộng rãi nhiều vấn đề của đời sống xã hội. Khi đề ra một chính sách liên quan đến lĩnh vực hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, người cán bộ nhất thiết phải am hiểu về lĩnh vực đó, làm sao chính sách ấy có lợi cho cả doanh nghiệp và sự phát triển KT-XH của địa. Đó mới là sự biểu hiện thực tế của đạo đức cách mạng.

Đạo đức cách mạng luôn có sự kế thừa và phát triển. Người cán bộ, Đảng viên hiện nay cần nâng cao đạo đức cách mạng gắn liền với việc không ngừng học hỏi những kiến thức mới, tiến bộ của nhân loại để giải quyết công việc một cách hiệu quả, khách quan và khoa học.

Hồng Nhung

khcncaobang.gov.vn

Vị trí, vai trò của đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ: với mình, với người và với công việc.

Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.

Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách. Người viết : “có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”.

Với yêu cầu đó, Hồ Chí Minh nêu ra năm điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

+ Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.

+ Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.

+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.

+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.

+ Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.

Đối với Đảng, tổ chức tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của V. I. Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại.

Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện. Người nêu yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả ba mối quan hệ của con người: đối với mình, đối với người, đối với việc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Trong bản Di chúc bất hủ, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

Hồng nhung (Theo haugiang.gov.vn)

khcncaobang.gov.vn

Quan điểm chung của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (Kỳ II)

3. Tinh thần trách nhiệm là gì?

Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công.

Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v… là không có tinh thần trách nhiệm.

… Tinh thần trách nhiệm là: Nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ.

… Tách rời chính sách ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm trọn nhiệm vụ.

Tinh phần trách nhiệm,
ngày 31-12-1951, sđd, t.6, tr. 345-346.

4. Tiết kiệm

Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nống”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải tiêu cực.

Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu,
tháng 5-1952, sđd, t.6, tr. 485.

5. Người cán bộ cách mạng

Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là:

Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường.

Tận trung với nước. Tận hiếu với dân.

Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không…

Người cán bộ cách mạng, tháng 3-1955, sđd, t.7, tr. 480.

6. Tự do tư tưởng

… Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người.

Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý.

Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân – tức là phục tùng chân lý.

Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học nhân dân Việt Nam, ngày 21-7-1956, sđd, t.8, tr. 216

7. Đạo đức cách mạng

Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang…

Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng. Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập.

Có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Đó cũng là biểu hiện của đạo đức cách mạng.

… Nói tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là:

Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất.

Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng.

Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.

Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.

Đạo đức cách mạng,
tháng 12-1958, sđd, t.9, tr.283- 285.

Đạo đức cách mạng là bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm công việc gì, đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đạo đức cách mạng là đạo đức tập thể, nó phải đánh thắng và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô, v.v… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng chủ nghĩa xã hội.

Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên lao động Việt Nam,
ngày 24-3-1961, sđd, t.10, tr. 306

8. Thi hành đạo đức cách mạng

… Những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân. Vì vậy, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân…

Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Nếu khi lợi ích của Đảng và lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với nhau, thì lợi ích cá nhân phải tuyệt đối phục tùng lợi ích của Đảng…

Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng, tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng…

Đạo đức cách mạng
tháng 12-1958, sđd, t.9, tr. 290.

9. … Muốn xây dựng chủ nghĩa cộng sản phải có những con người cộng sản chủ nghĩa, nghĩa là phải có những người có đạo đức cộng sản. Nước ta cũng áp dụng đúng tinh thần như thế: muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa, tức là phải có những người có đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đạo đức xã hội chủ nghĩa không phải ở đâu cũng biểu hiện giống nhau. Ở nước ta, đạo đức xã hội chủ nghĩa là cần kiệm xây dựng nước nhà. Mọi người thi đua học tập theo cách xã hội chủ nghĩa, lao động theo xã hội chủ nghĩa, có đạo đức xã hội chủ nghĩa. Các cô, các chú, các cháu ở đây thì thi đua học tập để về phục vụ việc xây dựng nước nhà.

Nói chuyện với sinh viên và cán bộ Việt Nam đang học tập và công tác ở Mátxcơva,
ngày 29-10-1961, sđd, t.10, tr. 679.

10. … Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là phải đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân. Trong đầu óc mọi người đều có sự đấu tranh giữa cái “thiện” và cái “ác”, hoặc nói theo cách mới là sự đấu tranh giữa tư tưởng cộng sản và tư tưởng cá nhân.

Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ.

Nói chuyện tại lớp chỉnh huấn khóa II của Bộ Công an,
ngày 16-5-1959, sđd, t.9, tr. 448.

11. … Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi.

… Loài người đang thức tỉnh; nhưng muốn tự giải phóng hoàn toàn, thì còn phải đấu tranh. Thế mà giờ đây người thầy đột ngột từ giã chúng ta, chưa được trông thấy kết quả cuối cùng của sự nghiệp của mình.

Những người có tâm huyết làm sao mà có thể cầm được nước mắt? Những người bị áp bức, nam và nữ, há lại không nên nhận lấy nhiệm vụ mà Lênin đã để lại là tiến lên hay sao? Tiến lên!

Lê-nin và các dân tộc Phương Đông,
tháng 7-1924, sđd, t.1, tr. 295, 297.

12. … Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.

Trả lời các nhà báo nước ngoài,
tháng 1-1946, sđd, t.4, tr. 161.

13. … Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang.

Thư gửi đồng bào Nam bộ,
tháng 6-1946, sđd, t.4, tr. 246.

14. … Tục ngữ có câu: “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời. Lại có câu: “Có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả.

Vì vậy chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi.

Vì vậy cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được.

Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói
ngày 13-6-1955, sđd, t.7, tr. 572.

quangbinh.gov.vn

Quan điểm chung của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (Kỳ I)

1. . Nhân nghĩa trí dũng

a) Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà… không e cực khổ, không sợ oai quyền.

Những người đã… không e, không sợ gì thì việc gì phải họ đều làm được.

b) Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

c) Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

d) Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

e) Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.

Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?

Sửa đổi lối làm việc,
Tháng 10-1947, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr. 251-253.

2. Cần kiệm liêm chính

Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc.

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính…

Thiếu một đức, thì không thành người.

Cần

Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai…

Tục ngữ ta có câu: nước chảy mãi, đá cũng mòn. Kiến tha lâu cũng đầy tổ.

Nghĩa là Cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được.

Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Điều đó rất dễ hiểu.

Siêng học tập thì mau biết.

Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến.

Siêng làm thì nhất định thành công. Siêng hoạt động thì sức khỏe.

Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp, như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần.

Người siêng năng thì mau tiến bộ.

Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no.

Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh.

Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu.

Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc. Nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng…

Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là Cần.

Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài.

Lười biếng là kẻ địch của chữ Cần.

Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc.

Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn hàng vạn người khác…

… Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe.

Vì vậy, người lười biếng là có tội lỗi với đồng bào, với Tổ quốc…

Kiệm

Kiệm là thế nào?

Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi.

Cần với Kiệm, phải đi đôi với nhau như hai chân của con người.

Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy hết ra chừng ấy, không lại hoàn không.

Kiệm mà không Cần, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.

… Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ.

Việc đáng làm trong 1 giờ, mà kéo dài 2, 3 giờ, là xa xỉ.

Hao phí vật liệu, là xa xỉ.

Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ…

Vì vậy xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.

Liêm

Liêm là trong sạch, không tham lam.

Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm, chữ Liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp.

Cũng như ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.

Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải Liêm. Cũng như Trung là trung với Tổ quốc; hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải làm cho mọi người đều biết thương cha mẹ.

Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần.

Có Kiệm mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam…

Chính

Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người Thiện và người Ác.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc Chính và việc Tà.

Làm việc Chính, là người Thiện.

Làm việc Tà, là người Ác.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), Chính là Thiện.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác…

Cần kiệm liêm chính, tháng 6-1949, sđd, t.5,tr.631,632-643

quangbinh.gov.vn

Hồ Chí Minh – biểu tượng toàn vẹn của đạo đức cách mạng

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng – một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Hồ Chí Minh vừa là một nhà đạo đức học vừa là biểu tượng toàn vẹn của đạo đức cách mạng. Hồ Chí Minh là hình ảnh sống của một lãnh tụ nhân dân, được nhân dân tin yêu và coi như ngọn cờ của toàn dân tộc, nhưng rất gần gũi với nhân dân, không tự cho phép mình đứng trên nhân dân và đòi hỏi cho mình bất cứ một ngoại lệ nào có tính đặc quyền, đặc lợi. Ở Người tỏa ra hào quang của một cuộc đời cao thượng, một tâm hồn trong sáng xưa nay hiếm”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức không chỉ thể hiện trong các bài nói, viết của Người về đạo đức mà còn thể hiện trong hoạt động thực tiễn. Phẩm chất đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết hợp trí thông minh, óc sáng suốt với lòng nhân đức, nghị lực kiên cường và đức tính khiêm tốn hiếm có, là hiện thân của những đức tính tốt đẹp nhất của dân tộc. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: “Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Tư cách người cách mạng” là vấn đề được Hồ Chí Minh đề cập đầu tiên khi Người viết tác phẩm “Đường kách mệnh” (1927) nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta, giáo dục, đào tạo những lớp cán bộ cách mạng đầu tiên của Đảng, của dân tộc. Trong tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng biểu hiện ở những giá trị cốt lõi: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có tinh thần quốc tế trong sáng. Với Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là là phẩm chất quan trọng nhất, là nền tảng của người chiến sĩ cách mạng; là linh hồn của một con người, một xã hội, một chế độ; là giá trị tinh thần có ý nghĩa như một sức mạnh vật chất to lớn giúp cho người cách mạng vượt qua mọi thử thách để thực hiện lý tưởng, mục tiêu của mình. Bác chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Mặt khác, đạo đức cách mạng phải nêu cao tính tiên phong gương mẫu, đấu tranh phê bình và tự phê bình, ăn ở với nhau có tình có nghĩa, phải tẩy trừ những thói xấu: tệ lãng phí, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí.

Vấn đề đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh xem xét một cách toàn diện, cụ thể và sâu sắc với mọi đối tượng, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong các mối quan hệ của con người, từ đó, Người khái quát thành những chuẩn mực giá trị chung nhất, cơ bản nhất mang tính phổ quát của nền đạo đức cách mạng Việt Nam. Những vấn đề đạo đức cách mạng mà Người đặt ra đối với cán bộ, đảng viên chính là nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng thời để ngăn chặn, khắc phục những hiện tượng tha hóa, tiêu cực như quan liêu, tham nhũng, cậy quyền, cậy thế, lợi dụng quyền lực, tham quyền cố vị… Người nhấn mạnh: Đạo đức cách mạng không phải tự nhiên mà có. Nó do rèn luyện, giáo dục hằng ngày của mỗi người, từng tổ chức mà hình thành, phát triển. Cũng như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bởi vậy, để có đạo đức cách mạng, theo tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi người, trên cương vị công tác của mình phải thể hiện trong thực tiễn phong trào cách mạng bằng nhận thức và những việc làm cụ thể. Xa rời thực tiễn, tách mình khỏi phong trào đấu tranh cách mạng của đất nước, dân tộc thì không thể có đạo đức cách mạng.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của người cách mạng, sự thống nhất  giữa đức và tài là một vấn đề có tính nguyên tắc. Người khẳng định đức là “gốc” không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài mà giữa chúng luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, thống nhất với nhau cả trong nhận thức và hành động thực tiễn. Đức phải gắn với tài và tài phải có đức đảm bảo.

Bên cạnh đó, Người luôn quan tâm đến việc “xây” phải đi đôi với “chống”, nâng cao đạo đức cách mạng phải đi đôi với quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, chủ nghĩa cá nhân là mẹ đẻ của những tư tưởng không đúng, là kẻ thù nguy hiểm nhất của người cách mạng. Muốn trở thành người cách mạng chân chính không thể không loại trừ chủ nghĩa cá nhân. “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích của tập thể. Nó là mẹ đẻ ra tất ca mọi tính hư, nét xấu như lười biếng, so bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô v.v… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”.

Một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh phải do những con người đạo đức xây dựng. Không tạo ra được một xã hội lành mạnh về đạo đức, lối sống thì xã hội sẽ mất động lực phát triển. Không xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức thực sự mẫu mực, thực sự là tấm gương sáng dẫn dắt đạo đức xã hội, để cho tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, tâm lý sùng ngoại, chạy theo lợi ích cá nhân… diễn ra, thì chúng ta không thể vững vàng hội nhập với thế giới, và đó là nguy cơ đe doạ đến sự lãnh đạo của Đảng và sự phát triển của đất nước. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng…”. Đại hội đòi hỏi chúng ta: “Trong những năm tới phải dành nhiều công sức, tạo được chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng”. Chúng ta cần thấy rõ rằng, trong tình hình hiện nay, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân vẫn giữ nguyên giá trị và tính thời sự.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm chất đạo đức và khí phách của dân tộc ta, Đảng ta. Người không chỉ để lại cho Đảng ta, nhân dân ta một sự nghiệp vĩ đại mà còn để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một di sản tinh thần vô giá, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống tốt đẹp theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh vừa là yêu cầu cấp bách hiện nay, vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài. Chính vì lẽ đó, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có ý nghĩa to lớn đối với vận mệnh của cách mạng nước ta. Việc học tập và làm theo đạo đức, tấm gương Hồ Chí Minh là trách nhiệm và tình cảm của tất cả mọi người, của mọi cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, giáo dục học tập về đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải đi đến thức tỉnh được lương tâm của mỗi con người, làm cho mỗi người tự mình hình thành được trong mình một “tòa án lương tâm” đủ sức phán xét thật nghiêm khắc về đạo đức làm người của chính mình; phải tu dưỡng suốt đời, phải nêu gương về đạo đức, trở thành tấm gương sáng để quần chúng noi theo, để quần chúng tin yêu, mến phục. Và thiết nghĩ, có làm được như vậy thì cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mới có thể đạt được hiệu quả thiết thực.

LÊ HOÀNG VIỆT LÂM

quangbinh.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện thân đạo đức – văn minh của Đảng và dân tộc ta

Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đó cũng là thắng lợi của ý chí, đạo đức, văn minh Việt Nam trước vũ khí, kỹ thuật và sự dã man, tàn bạo của kẻ thù

tranh_co_dong21_500.jpg
Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh muôn đời tỏa sáng. Ảnh: Tuấn Anh

Công lao đó trước hết thuộc về nhân dân Việt Nam kiên cường, bất khuất, thế hệ nối tiếp thế hệ, đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh chiến đấu liên tục, ròng rã 30 năm trời dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng và với sự cổ vũ kỳ diệu của tư tưởng – đạo đức Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, tạo cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng một nền văn hóa mới và một nền đạo đức mới Việt Nam. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Người đã cổ vũ, động viên các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Nam để tạo ra một xã hội nhân cách mới. Xã hội nhân cách đó được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước của dân tộc kết hợp chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, từ đó đã sản sinh ra hàng triệu, hàng triệu người con anh hùng của đất nước – những chiến sĩ cách mạng kiểu mới của thời đại Hồ Chí Minh: trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư… Những cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng ta đã gương mẫu đi tiên phong trong cuộc đấu tranh anh hùng đó và chính họ đã cùng với nhân dân làm nên hiện tượng “kỳ diệu Việt Nam” trong thế kỷ 20, tiêu biểu cho lương tâm, vinh dự và phẩm giá con người.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới, đạo đức mới trong lịch sử dân tộc. Người đã làm rạng rỡ Tổ quốc ta, nhân dân ta, truyền thống quang vinh của Đảng ta. Người nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” và chính Người là hiện thân của sự thống nhất đạo đức – văn minh” và chính Người là hiện thân của sự thống nhất đạo đức = văn minh đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những để lại cho chúng ta một sự nghiệp cách mạng vẻ vang chưa từng có trong lịch sử dân tộc, Người còn để lại cho chúng ta một di sản vĩ đại, đó là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách của dân tộc và của loài người.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân – một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đó đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo để làm một người cách mạng, một người công dân tốt hơn.

Vấn đề số một trong đạo đức của một vĩ nhân – cũng như của một người bình thường là vấn đề lý tưởng, vấn đề lẽ sống: Sống cho ai? Sống vì cái gì? “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, đó là lý tưởng, là lẽ sống mà cũng là học thuyết chính trị – đạo đức của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.

Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho Người một ý chí, một nghị lực phi thường để “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Cho đến khi phải từ biệt thế giới này, điều luyến tiếc duy nhất của Người vẫn chỉ là “không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một bậc đại trí, đại đồng, hy sinh chẳng quản, gian nguy không sờn. ở những thời điểm then chốt của lịch sử, với tầm nhìn xa trông rộng của một “phượng hoàng đại ngàn”, Hồ Chí Minh đã sáng suốt và dũng cảm đi tới những phán quyết lịch sử. Năm 1945, khi thời cơ cách mạng đã đến, Người chỉ thị: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” Vào giữa những năm 60, lợi dụng khó khăn của ta, khi phong trào cộng sản quốc tế có xung đột và chia rẽ nghiêm trọng, đế quốc Mỹ đã ồ ạt đổ hơn nửa triệu quân vào miền nam Việt Nam và tăng cường cho không quân, hải quan ném bom, bắn phá dữ dội miền băc, hòng đưa chúng ta trở lại thời kỳ đồ đá! Trước tình thế đó, Người vẫn thể hiện quyết tâm và khí phách của toàn Đảng, toàn dân ta: “Dù nó ném hóa biển cũng phải giải phóng miền nam cho kỳ được!” (xem báo Nhân Dân ngày 24-5-1970). Thật “hiếm có một nhà lãnh đạo nào, trong những giờ phút thử thách, lại tỏ ra sáng suốt, bình tĩnh, gan dạ, quên mình, kiên nghị và dũng cảm một cách phi thường như vậy”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của tinh thần: Thắng không kiêu, khó không nản. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô cùng gian khổ: hai lần ngồi tù, một lần lãnh án tử hình; có giai đoạn hoạt động rất sôi nổi, được đánh giá cao, có giai đoạn bị hiểu lầm, ngộ nhận, lâm vào cảnh “như là sống ở bên lề, ở bên ngoài của Đảng (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t.3, tr 90). Vượt qua được thử thách khổ ải, tù đày đã rất khó, nhưng vượt qua được thử thách do bị hiểu lầm, nghi kị còn day dứt hơn nhiều. Để kiên trì chân lý, giữ vững quan điểm độc lập, tự chủ, Người đã bình tĩnh, chủ động vượt qua những năm tháng khó khăn đó. Lê-nin từng nói: không sợ đói, không sợ chết, chỉ sợ không chiến thắng được phút yếu đuối của bản thân. Trong khó khăn, Người vẫn luôn luôn “tự khuyên mình”: muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao. Dù có lúc phải “hoá lệ thành thơ” thì điều đó cũng chỉ vì nhân dân, vì Tổ quốc chứ không phải vì cảnh ngộ cá nhân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một lãnh tụ hết lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân, luôn luộn tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, cho nên mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của nhân dân, luôn luôn dựa vào dân, “lấy dân làm gốc”. Người giáo dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bởi “nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”

Để làm tròn trách nhiệm là người đầy tớ trung thành của nhân dân, Người dạy cán bộ phải gần dân, hiểu tâm lý, nguyện vọng của dân, lắng nghe ý kiến của dân. của “những người không quan trọng”, không được lên mặt “quan cách mạng”, cậy quyền cậy thế, đè đầu cưỡi cổ dân. Mặc dù uy tín rất cao, có sức hấp dẫn rất lớn, được toàn dân suy tôn là “Cha già của dân tộc” nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Người coi việc phải gánh chức Chủ tịch cũng như việc “người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra mật trận”. Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn tự tay viết thư trả lời, cảm ơn một cách thân tình, chu đáo, nêu một tấm gương ứng xử rất văn hóa, đầy khiêm nhường và kính trọng đối vớii nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực. Bác Hồ là “muôn vàn tình thân yêu” đối với đồng chí, đồng bào. Trong tình yêu thương đó, có chỗ cho mọi người, không quên, không bỏ sót một ai. Trái tim mênh mông của người ôm trọn mọi nỗi đau khổ của nhân dân. Người nói một cách cảm động: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng; gộp những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Tình thương yêu đó được mở rộng đối với nhân dân lao động toàn thế giới. Đối với những người lầm lạc, ngay cả đối với những người chống đối hay kẻ thù, Người cũng thể hiện một lòng khoan dung, độ lượng hiếm có. Kẻ thù xâm lược đã gây nên bao tội ác man rợ đối với nhân dân ta, nhưng khi chúng đã thất thế, đầu hàng hay bị bắt, Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải đối xử với chúng một cách khoan hồng, phải làm “cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”.

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Cần kiệm, giản dị, ít lòng ham muốn về vật chất, đó là “tư cách của người cách mạng”. Người đề ra và tự mình gương mẫu thực hiện. Cũng như V.I.Lê-nin, Người coi khinh mọi sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng. Một cốt cách giản dị, một sự giản dị vĩ đại. Cuộc đời của Người, từ một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Công-poanh đến khi làm Chủ tịch nước, sống giữa thủ đô Hà Nội, vẫn là một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã. Khách nước ngoài vào thăm nhà sàn của Bác Hồ đã rất xúc động khi được biết Người không hề có một chút của riêng. Đó là một cuộc đời trong sạch, suốt đời thực hành cần kiệm, liêm chính.

Nét nổi bật trong đạo đức Hồ Chí Minh là sự khiêm tốn phi thường. Mặc dù có công lao rất lớn, Người không để ai sùng bái cá nhân mình, mà luôn luôn nêu cao sự nghiệp anh hùng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Người nói: Quần chúng mới là người làm nên lịch sử và lịch sử là lịch sử của chính họ chứ không phảl của một cá nhân anh hùng nào.

Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, “khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người còn là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo”.

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã viết nhiều về tấm gương đạo đức của V.I.Lê-nin. Rèn luyện theo tấm gương đó, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc và nhân loại một tấm gương trọn vẹn, mười phân vẹn mười. ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức – văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: “Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội? Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.

G.S Song Thành
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

nhoNguoicha

Đạo đức người cán bộ cách mạng trong tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh

(HNMO) – Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Bộ Chính trị có Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các ngành, các cấp “Tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh…”.

Đạo đức Hồ Chí Minh không phải cái trừu tượng, xa vời, không phải nhất thành bất biến, mà là những biểu hiện trong mỗi lời nói, mỗi việc làm của Người đều hướng tới chân, thiện, mỹ. Đạo đức Hồ Chí Minh là nói đi đôi với làm, mà làm thì phải có hiệu quả, Người cho rằng nếu làm gì cũng không có hiệu quả thì không phải là người có đạo đức. Đạo đức Hồ Chí Minh rất gần gũi, rất cụ thể và mang đầy đủ, sâu sắc giá trị truyền thống, tư tưởng tôn giáo.

Chẳng hạn, tư tưởng của Nho giáo, là tam cương ngũ thường. Tam cương là tôn trọng ba mối quan hệ (ba Đạo: Quân, Sư, Phụ). Quan hệ Quân là Vua (là quan hệ Nhà nước, cấp trên với cấp dưới), Sư là Thầy (là quan hệ nhà trường, quan hệ học trò với thầy cô giáo), Phụ là cha mẹ (là quan hệ gia đình, vợ với chồng và cha mẹ với con cái); ngũ thường là năm cái con người có phải giữ cho nó làm thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín). Nhân là lòng thương yêu, từ thiện; Nghĩa là làm những việc nên làm, có đạo lý; Lễ là sự tôn trọng, hòa nhã trong cư xử với mọi người, tuân thủ các quy tắc xã hội, pháp luật; Trí là khôn ngoan, sáng suốt, cảm giác được đúng, sai trong hoạt động; Tín là giữ đúng lời, đáng tin cậy. Đồng thời Đạo của người quân tử (cán bộ hiện nay) từng bước phải theo là: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; người quân tử luôn phải giữ đúng mực, không thái quá, không bất cập trong mọi hành động và thái độ xử thế.

Tư tưởng Phật giáo, là lòng từ, bi, hỷ, xả, thương xót đồng loại và cả chúng sinh. Từ là làm để cho người khác có niềm vui; Bi là trừ đi sự đau khổ của người khác; Hỷ là luôn vui vẻ trong công việc của mình; Xả là không chờ đợi để hưởng lợi riêng về những việc đã mang lại cho người.

Tư tưởng Lão giáo, biết bằng suy tưởng bằng tâm linh, gần gũi với quy luật thiên nhiên và hướng về con người, quên đi cái ta tầm thường nhỏ bé. Những quy luật thiên nhiên đại thể rất gần với khoa học tự nhiên, như là luật nhân quả, luật bảo tồn vật chất và chuyển hóa năng lượng. Qua đó con người không còn sợ mất mát, cũng không còn sợ chết và trở nên dũng cảm khi làm những việc ích lợi cho cộng đồng.

Tư tưởng Thiên Chúa giáo, là công bình, bác ái. Công bình trong tương giao giữa cá nhân với cá nhân; công bình trong pháp lý giữa cấp trên và cấp dưới; công bình trong xã hội là điều hòa các mối quan hệ trong xã hội. Bác ái là phân biệt được công bình để từ tâm yêu thương, giúp đỡ đồng loại.

Chủ tịch Hồ chí Minh yêu cầu đạo đức người cán bộ cách mạng phải “trung với nước, hiếu với dân, yêu thương con người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng”. Người cho rằng “Mỗi đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân…làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân”. Theo đó thì đày tớ của dân không phải cha mẹ dân, chỉ là kẻ làm công, lấy tiền thuê của nhân dân mà thôi. Có lẽ vì vậy mà sinh thời Hồ Chủ tịch thường dùng hai chữ “công bộc” để nhắc cho mỗi cán bộ hiểu được chức vụ của mình. Người rất coi trọng việc xây dựng đạo đức cách mạng, trong đó nhấn mạnh việc ngăn ngừa vi phạm đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo. Vì cán bộ lãnh đạo phạm sai lầm thì sẽ dẫn đến hậu quả rất nặng nề, những sai lầm đó là: “Trái phép… vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu làm cho dân oán thán. Cậy thế… quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân. Hủ hóa: ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ… thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Tư túng kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu của mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ, người có tài, có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài… Chia rẽ: bênh vực lớp này, chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau, hòa thuận nhau. Kiêu ngạo: lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”. Nên để rèn luyện tu dưỡng đạo đức người cán bộ, Bác rất chú trọng việc “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Người cho rằng “chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Nó là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu mệnh lệnh…”. Vì vậy Bác dạy rằng “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Hồ Chủ tịch rất coi trọng công tác xây dựng cán bộ, Người cho rằng vấn đề cán bộ là vấn đề “rất trọng yếu, rất cần thiết”, “công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém”.

Trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có những lời căn dặn, dạy bảo phù hợp với lĩnh vực công việc.

Công minh, là công bằng và sáng suốt. Biểu hiện trong thực hành công việc phải công bình với tất cả mọi người, không phân biệt thân, sơ, không tư ý, tư lợi mà luôn nghĩ đến lợi ích chung. Muốn vậy phải hiểu và tuân thủ các quy phạm pháp luật, các quy chuẩn đạo đức xã hội. Khi xét người, xét việc phải đặt mình vào hoàn cảnh của người để xét và phải có lòng khoan dung để phân biệt rõ ràng thực, hư để hành động cho sáng suốt.

Chính trực, là có tính ngay thẳng. Chính là quan trọng, đích xác, trái với tà ngụy, không thành thực. Yêu cầu của chính trực là phải thiện lương, thật thà, luôn hướng về những điều phù hợp đạo lý, lòng luôn hướng về nhân nghĩa, tuân thủ pháp luật. Trong thực hành công việc phải chân thành, chính xác, kịp thời, đồng thời phải có tính mềm dẻo không a dua, xu phụ (theo hùa), không gay gắt nghiêm ngặt quá. Nếu vì tư ý mà thành kiến, thiên lệch sự thật, che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến điều quần chúng oán ghét thì không phải là chính trực.

Khách quan, là cái tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí con người. Như vậy khi thực hành công việc phải xem xét, nhận thức sự vật, hiện tượng với tính cách là cái tồn tại ở ngoài ý thức chủ quan của con người, phải xem xét đúng như nó vốn có trong thực tế. Muốn vậy đòi hỏi phải phát huy tính năng động và sáng tạo của ý thức trong quá trình phản ánh sự vật, nỗ lực chủ quan trong việc tìm ra những phương pháp tư duy và hoạt động thực tiễn để từng bước thâm nhập vào bản chất sự vật.

Thận trọng, là đắn đo, suy tính cẩn thận trong hành động để tránh sai sót. Yêu cầu của thận trọng là sáng suốt để phân biệt phải trái, nghiêm túc trong công việc, thận trọng mà mau mắn trong hành động. Phải xem xét khách quan và nhận thức bao quát toàn diện tất cả các mặt, các yếu tố trong các mối liên hệ của người, của việc để tìm ra bản chất; phải tìm ra được những nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh của sự vật, hiện tượng, tìm những mâu thuẫn để giải quyết, không suy diễn thuần túy.

Khiêm tốn, là nhã nhặn, không khoe khoang, có thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu, không cho mình là hơn người. Khiêm tốn yêu cầu phải biết trọng phẩm giá, phân biệt rõ được sự khen, sự chê, không dùng quyền thế để khinh mạn, hách dịch, đè nén người, không dùng kiến thức để dối trá người. Luôn cầu thị và tích cực học hỏi, rèn luyện phẩm chất đạo đức bản thân và hòa đồng với mọi người.

Trong tình hình hiện nay, cán bộ, đảng viên học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mang lại giá trị rất lớn trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền và sự nghiệp đổi mới đất nước. Cán bộ có những đức tính Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn là người trong hoạt động thực tiễn thể hiện được sự phấn đấu, nghị lực tinh thần vượt khó, hết lòng phục vụ nhân dân, có lòng nhân ái, khoan dung nhân hậu với con người, là người cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Những đức tính Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn là phẩm chất, là cụ thể hóa đạo đức người cán bộ cách mạng.

Nguyễn Văn (Viện KSND Tối cao)

hanoimoi.com.vn

Năm nội dung chủ yếu theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh ban hành 5 nội dung chủ yếu theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh để đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức thuộc các đảng bộ, chi bộ cơ quan, đơn vị trong Khối quán triệt và tổ chức thực hiện như sau:

1/ Đối với quê hương, đất nước: Phát huy hơn nữa truyền thống quê hương Quảng Bình “Hai giỏi”, yêu đất nước Việt Nam anh hùng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, thực hiện các mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nói và làm đúng quan điểm, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chống suy thoái về đạo đức, dao động về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng. Chung sức xây dựng Tổ quốc Việt Nam và quê hương Quảng Bình giàu đẹp.

2/ Đới với nhân dân: Phải gần dân, hiểu dân, trọng dân, học dân, vì dân; nêu cao ý thức trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân thể hiện bằng những việc làm thiết thực hàng ngày, tự mình làm gương để quần chúng nhân dân noi theo; tập trung giải quyết dứt điểm các công việc liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân. Chống các biểu hiện quan, hách dịch, gây phiền hà cho nhân dân.

3/ Đối với đồng chí đồng nghiệp: Xây dựng tinh thần tương thân, tương ái, yêu thương, đoàn kết, hợp tác với đồng chí, đồng nghiệp. Chống chia rẽ bè phái, cục bộ địa phương, cá nhân chủ nghĩa. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, xây dựng tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị và đoàn thể trong sạch vững mạnh, xây dựng môi trường công tác tốt.

4/ Đối với công việc: Phải tận tuỵ, gương mẫu, chủ động, sáng tạo, có trách nhiệm; xây dựng đức tính cần, kiệm, coi trọng chất lượng và hiệu quả công việc, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; chống lười biếng, ỉ lại; chống phô trương hình thức, chống lãng phí thời giờ và tiền bạc của Nhà nước, của nhân dân.

5/ Đối với bản thân: Phải thường xuyên học tập, rèn luyện; không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ; xây dựng phẩm chất liêm, chính, khiêm tốn và trung thực; sống có nghĩa tình, thuỷ chung. Chống hối lộ, bê tha, mê tính dị đoan, nói không đi đôi với làm; chạy theo danh vọng, địa vị, lợi ích cá nhân thuần tuý; lạm dụng chức quyền để tham nhũng, làm điều bất chính. Làm tròn nghĩa vụ người công dân, xây dựng nếp sống văn minh, văn hoá nơi công cộng; xây dựng gia đình văn hoá, cơ quan văn hoá.

quangbinh.gov.vn

Yêu thương con người – nét đẹp vĩnh hằng trong chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh

Ngày 5/6/1911, khi xuống tầu Đô đốc La-tút-xơ Tơ-rê-vin làm phụ bếp để ra nước ngoài tìm đường cứu dân, cứu nước, ngoài chút kiến thức học được ở nhà trường và đôi bàn tay sẵn sàng làm đủ nghề “miễn là lương thiện” để sống và hoạt động, hành trang của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ là lòng yêu nước và yêu thương con người sâu sắc.

Hành trang giản dị ấy, nhưng lại là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, được bổ sung bằng mồ hôi và máu của những phu Cửa Rào, phu đồn điền cao su Lộc Ninh, của hàng loạt những sĩ phu đã bỏ mình vì nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp đầu thế kỷ; truyền thống ấy có lời hát ru của bà, có làn điệu ngọt ngào, da diết của dân ca xứ Nghệ… Tất cả sâu lắng trong lòng Anh, được chính Anh bổ sung, nâng cao và hoàn thiện suốt đời, trở thành lòng nhân ái bao la Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và đặc biệt là nhận thức từ thực tiễn đấu tranh của các dân tộc, có dịp so sánh những người Pháp ở Pháp với những tên thực dân Pháp ở Đông Dương, hoà mình vào cuộc sống của những người lao khổ ở khu Hắc Lem, thành phố Niu oóc… Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận quan trọng: Trên đời này có hai hạng người: Người thiện và người ác, hai thứ việc: việc chính và việc tà. Trải qua quá trình 10 năm tìm tòi, khảo nghiệm, năm 1920 khi bắt gặp chủ nghĩa Mác Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở đây con đường giải phóng dân tộc, tìm thấy cái cẩm nang để giải phóng triệt để con người. Đó là độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bởi theo Người, tình yêu thương con người không thể chung chung, trìu tượng, mà thiết thực, cụ thể, trước hết giành cho người mất nước, người cùng khổ, chính vì vậy, Người giành cả cuộc đời Người để lo giải phóng cho dân tộc, đấu tranh cho con người thoát khỏi áp bức, bất công. Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân; Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, là vì mục đích đó” .
Với Hồ Chí Minh, tình yêu thương con người là không biên giới. Trước hết, Người lo cho dân tộc của Người và sau đó, Người lo cho tất cả những kiếp người trên hành tinh còn bị đoạ đầy, đau khổ, bởi vì: “Họ là thân thích ruột già, công nông thế giới đều là anh em”.

Tư tưởng yêu thương con người được Hồ Chí Minh nêu lên và vận động mọi người cùng thực hiện suốt cả cuộc đời. Cho tới trước lúc đi xa, trong lời Di chúc, khi để lại: “muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”, và “gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Người vẫn ân cần nhắc nhở toàn Đảng phải tiếp tục chăm lo cho con người. Trước hết là những người đã hy sinh một phần xương máu cho công cuộc kháng chiến, là cha mẹ vợ con thương binh, liệt sĩ, là bà con nông dân, là thanh niên, phụ nữ… lo cho hiện tại, lo đào tạo cho tương lai; Ngay cả “với những nạn nhân của chế độ cũ như: trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… thì nhà nước phải vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”.

Tình yêu thương con người của Bác Hồ là rất cụ thể, từ việc to như lo giải phóng cho con người, khuyến khích: “phần tốt ở mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị mất dần đi”, đến việc chăm lo từng con người cụ thể, không chỉ: Lụa tặng cụ già, sữa tặng bà mẹ sinh ba, mà là từng bát cơm, manh áo, từ chỗ ở, việc làm để an cư, lạc nghiệp đến tương cà mắm muối hàng ngày cho nhân dân. Bác lo cho cả dân tộc và chăm lo cho từng chiến sĩ bảo vệ, phục vụ quanh Người. Theo Bác: Yêu thương con người là phải tôn trọng, quý trọng con người. Bác đánh giá cao vai trò của nhân dân: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Bác tôn trọng từ các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao công quét rác, bởi theo Bác, từ Chủ tịch nước tới người lao động bình thường, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều được coi trọng, đều vẻ vang như nhau. Theo Bác, Yêu thương con người là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Năm 1968, khi làm việc với cán bộ Ban tuyên huấn Trung ương về việc xuất bản sách “Người tốt, việc tốt”, nhằm tuyên truyền sâu rộng những gương điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất, trong ứng xử giữa những con người, Bác Hồ đã nhắc nhở: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được”.

Yêu thương con người vận dụng vào trong Đảng, trong tổ chức là phải “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại: Vào dịp tháng 5 các năm 1966, 1968, 1969, Bác đều cho mang bản Di chúc đã viết năm 1965 ra để bổ sung, sửa chữa. Năm 1966, bên cạnh câu đã đánh máy từ năm 1965: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”, Bác ghi thêm vào cùng dòng câu: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Chỉ một dòng này thôi, cho thấy sự trăn trở của Người về việc không ngừng rèn luyện đạo đức cho mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bản tự tay đánh máy năm 1965, Bác gạch chân 5 chữ: Tự phê bình và phê bình. Song dường như việc nhấn mạnh, kể cả đặt chữ tự phê bình lên trước phê bình chưa làm Người yên tâm, nên năm 1966 Người bổ sung thêm câu: phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Đây chính là đòi hỏi xác định động cơ, hay nói chính xác hơn là cái Tâm của người phê bình. Bởi khi phê bình nhau, cần đúng lúc đúng chỗ đã khó, song mục đích phê bình để giúp đỡ nhau tiến bộ mới quan trọng hơn, cái vũ khí phê bình ấy phải trở thành văn hoá phê bình, chứ không phải là cớ để sát phạt, bới móc nhau.

Yêu thương con người là một trong bốn chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh. Các nhà đạo đức học, các nhà khoa học nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thuận như vậy. Trong 4 chuẩn mực ấy (Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng) không chuẩn mực nào có thể xem nhẹ, vì cả 4 chuẩn mực ấy là tiêu chí để đánh giá con người mới, con người mang dấu ấn đạo đức Hồ Chí Minh.

Tháng 5 này nhớ về Người, ôn lại những lời Người dạy về Đạo đức, đặc biệt soi vào tấm gương đạo đức của Người, vị lãnh tụ suốt đời tôn trọng nguyên tắc: “Nói thì phải làm”, mỗi người chúng ta càng thêm nhớ Bác, càng cố gắng thiết thực làm theo lời Bác dạy. Mọi người, mọi nhà, mọi cấp, mọi ngành ai ai cũng khuyến khích cho sự nẩy nở phần thiện vốn có ở mỗi con người và chung tay đẩy lùi phần ác cũng luôn rình rập quanh ta – đó chính là thực hiện chuẩn mực yêu thương con người – nét đẹp vĩnh hằng của Đạo đức Hồ Chí Minh.

TD (theo: bthcm.com.vn)

quangbinh.gov.vn