Thư viện

Việt Nam thực hiện đầy đủ các quyền của người dân

Thứ trưởng Ngoại giao Lê Lương Minh. (Nguồn: TTXVN)

Theo phóng viên TTXVN tại Geneva (Thụy Sĩ), Thứ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Lê Lương Minh, chiều 29/2, phát biểu tại phiên họp cấp cao Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ở thành phố Geneva, đã khẳng định Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ các quyền của người dân.

Thứ trưởng Lê Lương Minh cho biết Việt Nam thực hiện cam kết này thông qua việc thực hiện các chính sách lấy con người làm trọng tâm và vì người nghèo, đầu tư vào các lĩnh vực có lợi nhất cho người dân. Ông cho biết các chính sách này đã mang lại những tiến bộ đáng kể trong việc giảm tỷ lệ nghèo, phát triển giáo dục, chăm sóc y tế và tạo việc làm, nâng cao đời sống và phúc lợi cho người dân.

Trong bối cảnh có nhiều khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu, Việt Nam đã nỗ lực duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 6%, tạo cơ sở vững chắc để đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của người dân. Chính phủ Việt Nam dành ưu tiên cao cho cải cách luật pháp, hành chính và tư pháp nhằm đảm bảo tăng cường hơn nữa quyền của người dân cả trong luật pháp và thực tiễn, bao gồm cả quyền giám sát việc thực hiện pháp luật, tiếp cận thông tin. Phát triển kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền là ba trụ cột trong chiến lược phát triển của Việt Nam.

Thực hiện chính sách hội nhập toàn diện, trong đó có việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã và đang tiến hành đối thoại và hợp tác với các đối tác quốc tế. Ở cấp độ khu vực, Việt Nam tích cực tham gia cùng các nước ASEAN thúc đẩy các hoạt động của Cơ quan liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR).

Thứ trưởng Lê Lương Minh cho rằng các mối quan hệ tương tác đó cùng với các đối thoại định kỳ với một số nước tiếp tục đóng góp tích cực nâng cao hiểu biết lẫn nhau là điều kiện cần thiết cho mọi giải pháp thích hợp đối với các vấn đề nhân quyền cùng quan tâm.

Thứ trưởng Lê Lương Minh khẳng định với tư cách là ứng cử viên của ASEAN vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, và là thành viên của tất cả các công ước chính về nhân quyền, Việt Nam sẽ hợp tác tích cực với cộng đồng quốc tế xây dựng một thế giới hòa bình, thịnh vượng và công bằng hơn cho mọi người.

Về tình hình thế giới, Thứ trưởng Lê Lương Minh cho biết khóa họp lần thứ 19 của Hội đồng Nhân quyền diễn ra trong bối cảnh có nhiều thay đổi ở nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt ở Trung Đông và Bắc Phi, tạo ra nhiều thách thức cho việc duy trì hòa bình, phát triển và bảo vệ quyền con người. Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu đã gây ra hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt đối với đời sống của nhân dân ở hầu hết các nước. Sự bất ổn về chính trị và xã hội không những không giảm đi mà có xu hướng tăng lên ở một số khu vực, dẫn đến các cuộc khủng hoảng và xung đột nội bộ. Những nhân tố này ảnh hưởng tiêu cực đến các nỗ lực nhằm đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền con người, đặc biệt là quyền sống, quyền có lương thực, nhà ở, việc làm và quyền phát triển. Tình hình không ổn định ở các nước cho thấy việc tăng cường và bảo vệ quyền con người chỉ có thể được đảm bảo dựa trên nền tảng hòa bình, ổn định và phát triển.

Thứ trưởng hài lòng nhận thấy hòa bình và ổn định đã được khôi phục ở một số nước bị ảnh hưởng, nhưng tỏ quan ngại sâu sắc với tình hình bất ổn và bạo động gia tăng tại Syria, cướp đi sinh mạng nhiều thường dân. Ông kêu gọi các bên liên quan thể hiện thiện chí, kiềm chế và đối thoại xây dựng để nhanh chóng tìm ra giải pháp chính trị phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Syria.

Ông khẳng định Việt Nam ủng hộ mọi nỗ lực quốc tế nhằm đóng góp cho hòa hợp dân tộc, khôi phục hòa bình và ổn định ở Syria dựa trên các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, đặc biệt là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không có sự áp đặt và can thiệp từ bên ngoài.

Về hoạt động của Hội đồng Nhân quyền, Thứ trưởng Lê Lương Minh nhấn mạnh Hội đồng Nhân quyền là cơ quan tối cao của Liên hợp quốc nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người phải thực sự là diễn đàn thúc đẩy hợp tác và đối thoại dựa trên các nguyên tắc minh bạch, khách quan, không thiên vị, không chính trị hóa, không chọn lọc, không áp dụng “tiêu chuẩn kép” trong việc giải quyết các vấn đề về quyền con người.

Hội đồng cần phải tránh vết xe đổ của cơ quan tiền thân là Ủy ban nhân quyền đã mất đi tính chính danh do việc chính trị hóa các vấn đề nhân quyền. Nguyên nhân gốc rễ của tình hình bất ổn vừa qua và hiện đang diễn ra ở các nước đang phát triển cho thấy Hội đồng cần đảm bảo thực hiện cân bằng các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội và các quyền chính trị.

Bên lề phiên họp cấp cao, Thứ trưởng Lê Lương Minh đã tiếp xúc với trưởng đoàn nhiều nước để trao đổi về quan hệ song phương, về phối hợp tại các diễn đàn quốc tế, đặc biệt là tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Khóa họp lần thứ 19 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc sẽ tiếp tục kéo dài đến ngày 23/3./.

Lê Thanh/Geneva (Vietnam+)
vietnamplus.vn

“Dự luật nhân quyền Việt Nam là bước đi lạc hướng”

Hạ nghị sỹ Mỹ Eni Faleomavaega. (Ảnh: Đỗ Thúy/Vietnam+)

Hạ nghị sỹ Eni Faleomavaega, thành viên cấp cao Tiểu ban châu Á – Thái Bình Dương của Hạ viện Mỹ, vừa ra thông cáo báo chí cho rằng cái gọi là dự luật nhân quyền Việt Nam năm 2011 mang mã số H.R.1410 mà Hạ viện Mỹ vội vã biểu quyết thông qua tối 11/9 vừa qua là một bước đi lạc hướng.

Thông cáo báo chí ngày 12/9 của Hạ nghị sỹ Faleomavaega bày tỏ lấy làm tiếc về việc dự luật trên lại do Tiểu ban châu Phi, Y tế toàn cầu và Quyền con người đưa ra chứ không phải Tiểu ban châu Á – Thái Bình Dương, nơi chịu trách nhiệm mọi phán quyết về chính sách của Mỹ liên quan tới Việt Nam.

Hạ nghị sỹ Faleomavaega cho rằng, bằng cách làm không theo con đường chính danh này, Tiểu ban về châu Phi đã không thu thập thêm những thông tin chính xác trước khi đưa một dự luật méo mó như vậy.

Theo nhận định của Hạ nghị sỹ Faleomavaega, dự luật H.R.1410 dựa trên những thông tin lạc hậu không phản ánh được sự tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam. Dự luật H.R.1410 cũng thiển cận trong cách đặt vấn đề và đi ngược lại các nỗ lực của các chính quyền Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama nhằm tăng cường quan hệ với Việt Nam.

Hạ nghị sỹ Faleomavaega khẳng định dự luật này sẽ không thể trở thành luật vì H.R.1410 thất bại ngay từ mục tiêu của nó.

Ông đồng thời cho biết Bộ Ngoại giao Mỹ cũng bày tỏ lo ngại dự luật H.R.1410 có thể tác động tới mối quan hệ an ninh của Mỹ với Việt Nam, làm giảm các cơ hội đối thoại về nhân quyền giữa hai nước và cũng không phục vụ tốt nhất cho lợi ích của Mỹ cũng như cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Cơ quan nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS) cũng cho rằng dự luật này có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ ngày càng nồng ấm về chính trị và an ninh giữa Mỹ và Việt Nam.

Sau khi trích dẫn những tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam từ trang mạng của Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ để bác bỏ những thông tin sai lệch trong dự luật H.R.1410, Hạ nghị sỹ Faleomavaega khuyến cáo những nghị sỹ đưa ra dự luật H.R.1410 rằng nếu họ thật lòng quan tâm tới vấn đề nhân quyền ở Việt Nam thì hãy giúp Việt Nam làm sạch hàng chục triệu lít chất độc da cam mà quân đội Mỹ đã rải xuống lãnh thổ Việt Nam từ năm 1961 đến 1971. Bởi lẽ, theo Hạ nghị sỹ Faleomavaega, việc để lại khối hóa chất độc hại này ở Việt Nam là một sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người./.

(Theo TTXVN)
cpv.org.vn

Nghịch lý về nhân quyền trong quan hệ cộng đồng quốc tế

Cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, vấn đề nhân quyền ngày càng được quan tâm và có bước tiến bộ. Song, đi liền với đó cũng nảy sinh những mâu thuẫn và nghịch lý mới bắt nguồn từ sự định kiến, áp đặt. Xóa bỏ nghịch lý, thực hiện công bằng và lẽ phải về nhân quyền là trách nhiệm chung đặt ra đối với mọi quốc gia, dân tộc trong quan hệ quốc tế hiện nay.

Không phải đến bây giờ mà từ nhiều năm trước, ý thức về nhân quyền và đấu tranh cho sự tiến bộ của nó đã trở thành vấn đề chung, là sự quan tâm của nhà nước ở mọi quốc gia, dân tộc. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, đã một lần nữa được Hồ Chí Minh đề cập trong Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (02-9-1945) – nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam. Các tuyên ngôn đó đều khẳng định rõ: quyền con người và sứ mệnh của mỗi nhà nước trong việc thực thi quyền con người đối với mọi công dân nước mình cũng như cộng đồng quốc tế.

Sự tiến bộ về nhân quyền trong quá trình phát triển của văn minh nhân loại, in đậm dấu ấn lịch sử mỗi dân tộc. Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, nhân quyền đối với hầu hết mọi người có chăng chỉ là nhu cầu tối thiểu nhất về sự sinh tồn. Ở đó, tầng lớp chủ nô và các lãnh chúa tuy chiếm tỷ lệ nhỏ, song lại độc chiếm hầu như toàn bộ quyền sinh, quyền sát đối với toàn xã hội. Các thành phần nô lệ, nông dân và người lao động chiếm số đông, nhưng thường xuyên rơi vào tình cảnh cùng cực, thậm chí phải chịu đòn roi, xiềng xích, bị đem bán đổi, nên quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc không bao giờ được bảo đảm.

Theo sự phát triển của lịch sử, người ta hy vọng những nghịch lý nhân quyền trên sẽ được xóa bỏ khi bước sang một chế độ xã hội mới – chế độ TBCN. Sự ra đời của chế độ TBCN đã đánh dấu bước phát triển lớn trong lịch sử nhân loại, bởi nó đã tạo ra được nguồn lực to lớn, bảo đảm cho việc thực thi nhân quyền, mà chưa có chế độ xã hội nào trước đó làm được. Chỉ trong vòng mấy trăm năm ra đời và phát triển, CNTB đã tạo ra một lượng vật chất lớn gấp nhiều lần so với tất cả các chế độ trước cộng lại. Những thành tựu do nó tạo ra, cả về tri thức, khoa học, công nghệ, pháp luật,… bảo đảm cho sự phát triển nói chung, về nhân quyền nói riêng là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, thực tế những gì diễn ra kể từ khi CNTB ra đời đến nay cho thấy, không phải cứ nắm giữ nguồn lực bảo đảm cho phát triển thì sự bất bình đẳng về nhân quyền sẽ tự nhiên mất đi. Cũng không phải vì thế mà tình hình nhân quyền trong lòng chế độ TBCN sẽ ngày càng hoàn thiện, trở thành mực thước cho mọi quốc gia khác noi theo, như bộ máy tuyên truyền của họ lâu nay vẫn thường xuyên cổ xúy. Tình trạng đó có nguồn gốc sâu xa từ chính bản chất chế độ kinh tế, chính trị của xã hội tư bản. Ở đó, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất đã trở thành lực cản vô hình đối với việc thực thi nhân quyền trên mọi bình diện xã hội. Điều đó sẽ không bao giờ tạo ra cơ hội để những người lao động làm thuê được ngồi chung mâm, hưởng phần đều từ “chiếc bánh” nhân quyền cùng với các đại diện của nền dân chủ tư sản là các trùm tư bản, tài phiệt. Liệu có được sự bình đẳng, dân chủ đầy đủ, thực chất hay không ngay như trong lòng nước Mỹ hiện nay, khi người giàu chỉ chiếm 1% dân số, nhưng lại chiếm tới 21% tổng thu nhập và 35% tài sản đất nước? Lỗ hổng về nhân quyền đó là nét đặc trưng chung không gì có thể san lấp nổi của hệ thống TBCN. Thực tế trên đã diễn ra đúng như nhận định từ hơn 150 năm trước của C. Mác và Ph. Ăng-ghen: “giai cấp tư sản gọi quyền lợi của mình là nhân quyền… Kỳ thực, nhân quyền của giai cấp tư sản cũng là một đặc quyền, đặc quyền được che đậy bằng nhân quyền – đặc quyền của giai cấp tư sản”1. Bản chất kinh tế, chính trị của nhà nước cầm quyền tư sản không thể xóa bỏ được gốc rễ nghịch lý nhân quyền đã tạo ra ở chế độ xã hội trước đó, mà còn làm nảy sinh những biến thái mới, tinh vi hơn. Song, dù cố tình điều chỉnh, che đậy đến mấy, bức tranh toàn cảnh về nhân quyền dưới chế độ TBCN vẫn bộc lộ những điều bất ổn, những nghịch lý mới. Điều đáng quan tâm là, trong khi kinh tế và các nguồn lực phát triển được tăng cường, thì sự gia tăng về bất bình đẳng xã hội, phân biệt, đối xử; các giá trị nhân bản lại bị coi nhẹ và suy giảm trầm trọng. Cuộc biểu tình với khẩu hiệu “Chiếm lấy phố Wall” nổ ra vào tháng 9 năm 2011 ở nước Mỹ, lan rộng trên 950 thành phố, thuộc 82 quốc gia đã bày tỏ sự bất bình của đông đảo người lao động, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, trí thức trên toàn thế giới trước tình trạng bất công, thiếu dân chủ trong hệ thống TBCN. Đại diện cho những người cùng quan tâm tới vấn đề trên, Tô-ny – một trong số người tổ chức ra chiến dịch đấu tranh đó (ở Anh), đã thẳng thắn bày tỏ: “Chúng tôi không thể tin được các nhà chính trị và giới chủ ngân hàng đang thỏa thuận và quyết định tương lai của mình”. Ben-gia-min Dic-to – một luật sư tương lai ở Mỹ, cũng cho rằng: “Chúng tôi phải đấu tranh để mang lại dân chủ cho xã hội và phân phối lại thành quả lao động. CNTB và cái mà họ gọi là nền dân chủ tự do xuất hiện hằng ngày đã đến mức không thể chịu nổi”… Rõ ràng là lòng tin của hầu hết người dân lao động về dân chủ, nhân quyền trong lòng chế độ TBCN đã trở nên suy giảm tới mức khó có thể khôi phục được. Nếu không được Bộ Nông nghiệp Mỹ công bố, thì nhiều người khó có thể tin rằng, hiện nay cứ 06 người Mỹ lại có 01 người phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực. Trong 50 triệu người thuộc số đó, có tới 17 triệu người nằm trong tình trạng báo động. Qua báo cáo hằng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền thế giới, người ta còn được biết việc phân biệt, đối xử với các nhóm tôn giáo; đối xử không công bằng với nhóm phụ nữ, trẻ em, các dân tộc thiểu số ở Anh còn nhiều điều nhức nhối. Cũng tương tự như vậy, tình trạng bắt giữ người kéo dài trước khi xét xử, bạo hành đối với phụ nữ, buôn bán người và ngược đãi người nước ngoài… vẫn diễn ra thường xuyên ở I-ta-li-a… Khó có thể kể hết tình trạng phân biệt chủng tộc, xung đột sắc tộc, kỳ thị tôn giáo, văn hóa; sự gia tăng về bạo lực, tội phạm… đang diễn ra với mức độ và biểu hiện nghiêm trọng ở hầu hết các nước trong hệ thống TBCN.

Thực tế trên cho thấy, nhân quyền dưới chế độ TBCN, nhất là ở các nước tư bản phát triển không hoàn hảo như họ tự nhận. Mặc dù thế, trong khi chưa giải quyết thấu đáo được vấn đề nhân quyền trong nước, những nhà cầm quyền tư sản, đứng đầu là Mỹ vẫn ráo riết phán xét, giám sát và áp đặt các tiêu chí về nhân quyền của mình đối với mọi quốc gia. Người ta còn nhớ, Báo cáo Nhân quyền thế giới năm 2010 của Mỹ đã chỉ trích 130 quốc gia vì hạn chế các quyền con người. Trong khi đó, họ lại quên Tổ chức Ân xá quốc tế đã cảnh báo về tình trạng vi phạm nhân quyền của chính nước Mỹ khi nêu ra “Là một quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới, Mỹ tự cho mình cái quyền đề ra tiêu chuẩn ứng xử cho các quốc gia. Nhưng Oa-sinh-tơn lại thể hiện cái xấu của mình qua hàng loạt hành động thách thức luật pháp quốc tế”! Sự phán xét mang nặng tính chủ quan, định kiến đi liền với những áp đặt võ đoán về nhân quyền, coi nhân quyền như một công cụ để can thiệp vào nội bộ nước khác chính là một nghịch lý mới trong quan hệ quốc tế hiện nay. Ngày 24-5-2012, Bộ Ngoại giao Mỹ lại công bố “Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới năm 2011”; trong đó, phê phán tình hình nhân quyền của nhiều quốc gia trên thế giới… Với tư cách và quyền hạn gì mà Mỹ lại sốt sắng làm việc này đến thế? Đó vẫn là câu hỏi đang được đặt ra với cộng đồng quốc tế. Việc làm này hoàn toàn không phải chuyện nội bộ, vì nó đã được công khai trước toàn thế giới; hơn nữa, đi liền với nó còn có các chế định chính trị, kinh tế, giám sát và khi cần thiết còn có sự hỗ trợ, can thiệp vũ trang. Dẫu cho việc làm đó chẳng khác gì “gọt chân cho vừa giày”, thế nhưng nó vẫn tồn tại và đang còn tiếp diễn. Phần nhiều các phán xét về nhân quyền của Mỹ, khi đưa ra đều không nhận được sự đồng tình của cộng đồng quốc tế. Điều đó có nhiều nguyên nhân, trước hết là từ sự tùy tiện, chủ quan áp đặt các tiêu chí nhân quyền riêng của mình để soi xét các nước khác mà bất chấp hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… cụ thể của mỗi quốc gia. Điều khác nữa, việc khai thác và xử lý các thông tin về nhân quyền thường chỉ một chiều, dựa vào ý kiến cá nhân, mang nặng định kiến, chủ quan, hoặc cực đoan, bất mãn, thù địch, chống đối chế độ và nhà nước đương quyền. Nhân quyền rất cần sự khách quan, thiện chí, nhưng khi bị thao túng bởi chủ quan, định kiến, thù nghịch,… nó sẽ bị sai lệch, méo mó. Với thái độ và cách làm nhân quyền như trên, các báo cáo về nhân quyền hằng năm của Mỹ mỗi khi đưa ra đều vấp phải sự phản bác quyết liệt của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, mà lần này cũng không phải là ngoại lệ. Phản ứng với báo cáo nhân quyền thế giới năm 2011 của Mỹ, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã cho rằng: đó là một sự phân biệt, đối xử, coi thường sự thật. Bộ Ngoại giao Cu Ba tuyên bố, bản báo cáo nhân quyền của Mỹ đối với Cu Ba là những thông tin giả dối và vu cáo, chỉ nhằm bào chữa cho chính sách bao vây, cấm vận tàn bạo của Mỹ áp đặt chống Cu Ba từ hơn nửa thế kỷ qua. Cũng với tinh thần đó, nhiều quốc gia khác đều chỉ ra sự chủ quan, sai lệch, dụng ý xấu… từ báo cáo nhân quyền thế giới của Mỹ vừa qua.

Trong hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của một đất nước vừa trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt, việc chăm lo, bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn đến quyền con người vừa là mối quan tâm hàng đầu, vừa là một thách thức lớn đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Hiện nay, chiến tranh đã lùi xa, nhưng hậu quả của nó vẫn còn hiện hữu nặng nề trong mọi mặt đời sống xã hội và trong mỗi gia đình Việt Nam. Khoảng thời gian đó đã đánh dấu sự vươn lên mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trong sự phát triển đất nước nói chung, sự khắc phục hậu quả chiến tranh và chăm lo phát triển quyền con người nói riêng. Trong khi điều kiện bảo đảm để thực hiện việc làm đó còn vô vàn khó khăn, thiếu đồng bộ, có thể vẫn còn những hạn chế, bất cập, song không thể phủ nhận những thành tựu rất quan trọng và ngày càng phát triển, tiến bộ về chăm lo quyền con người ở Việt Nam. Điều này đã được tất cả những ai có thiện chí, yêu chuộng công lý và lẽ phải trong cộng đồng quốc tế thừa nhận. Nếu nói tiêu chí tổng quát nhất về thực hiện quyền con người trong thế kỷ XXI, trước hết phải kể đến Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc tổ chức năm 2000, với sự tham gia của 189 thành viên đã nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ với 08 Mục tiêu cụ thể và đặt mốc hoàn thành các mục tiêu này vào năm 2015. Sau 10 năm nỗ lực phấn đấu thực hiện, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá hoàn thành 90% kế hoạch đặt ra và là một trong hai nước đi đầu trong việc giảm nghèo, cải thiện sức khỏe cho nhân dân. Trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam còn được ghi nhận có sự phát triển tích cực trong việc bảo đảm các quyền con người, đặc biệt là thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng dân chủ, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân.

Những năm gần đây, nhiều nước ở Trung Đông, Đông Âu, châu Phi đã liên tiếp xảy ra những biến động chính trị, xã hội sâu sắc bởi các cuộc chiến tranh, cách mạng thay thế chính quyền sở tại. Trong vòng 12 năm (1999 – 2011), đã có 4 cuộc chiến tranh do Mỹ và NATO tiến hành đối với Nam Tư (1999), Áp-ga-ni-xtan (2001), I-rắc (2003) và Li-bia (2011). Hiện nay, họ đang can thiệp vào tình hình Xy-ri, nhằm lật đổ chính quyền sở tại. Cùng với đó là sự bùng phát và lan rộng của các cuộc “cách mạng màu” và phong trào “Mùa xuân Ả-rập” ở một số nước thuộc Liên Xô cũ và châu Phi. Điểm giống nhau là các sự kiện này đều diễn ra dưới danh nghĩa “dân chủ”, “nhân quyền”, với các lý do mơ hồ, giả tạo, có sự can thiệp của Mỹ và phương Tây. Điều trớ trêu là, trong khi chưa đem lại điều gì tốt đẹp hơn cho người dân, thì các sự kiện “nhân quyền” đó đã cướp đi sinh mạng và làm thương tật hàng chục vạn thường dân vô tội; đồng thời, làm cho tình trạng rối ren, bất ổn ở các quốc gia này không ngừng tiếp diễn. Sự can thiệp thô bạo của Mỹ và phương Tây đã là một tác nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng đó. Thực tế trên không khỏi để người ta đưa ra điều nghi vấn: phải chăng hiện nay, bạo lực và chiến tranh đã trở thành bạn đường của nhân quyền? Nếu đúng như vậy thì quả là nghịch lý về nhân quyên đã lên tới đỉnh điểm và cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ nhân quyền, trước hết cần phải từ việc giải quyết nghịch lý ấy.

TRỊNH THỊ HOA

Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
tapchiqptd.vn

1 – C.Mác – Ph. Ăng-ghen – Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H.1995, tr.156.

Ảo tưởng – đáng thương và đáng giận

Công nghệ thông tin – mạng Internet là thành tựu trí tuệ của loài người. Đến nay, không ai còn nghi ngờ giá trị của internet, không chỉ ở giá trị cập nhật, giá trị tri thức, giải trí mà nó đã biến thế giới vốn dĩ đa chiều phức tạp thành một “thế giới phẳng”. Nhưng, cũng như hai mặt của một tờ giấy, bên cạnh cái lợi lại là cái hại, giống như có đêm thì có ngày, có trắng thì có đen. Tương tự, hãy cùng nhau nhìn lại những gì đang diễn ra trên mạng của hôm nay.

Có người vờ “khiêm cung” nhận mình là “dân báo”; lại có kẻ yêng hùng vỗ ngực xưng tên cho mình là “quan báo”; lại cũng có ai đó tranh thủ lúc sóng gió ngoài khơi đã lấy tên cho địa chỉ trên mạng của mình là “Biển Đông”… Họ định làm gì?

Đọc kĩ, thấy cả địa chỉ mạng “quan” lẫn “dân” và “biển” thì đều chung một mục đích chống phá sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Họ mập mờ “khoe” với người đọc rằng mình có nhiều thông tin “cung đình”, biết nhiều về thân thế, hoạt động của các vị lãnh đạo cấp cao, ngấm ngầm nói với người đọc rằng hãy tin tôi, các vị đó rất không đáng tin, tư cách và nhân phẩm có vấn đề. Nhưng, điều đáng nói là bản chất những thông tin đó là bịa đặt, suy diễn, áp đặt thái độ chủ quan của những người luôn ôm ấp ý đồ chống phá. Tất cả những thông tin họ đưa ra đều không có cơ sở kiểm chứng, cố tình tạo sự hoài nghi cho xã hội, với ý định gây mất lòng tin. Họ không muốn đất nước này bình yên, lại càng không muốn đất nước này phát triển, chỉ muốn khuấy lên để đục nước béo cò. Tự xưng là những nhà dân chủ, dựa vào tự do ngôn luận- tự do báo chí, họ áp đặt suy nghĩ chủ quan, lệch lạc với thái độ trước sau như một là hằn học, chống đối để hy vọng kiếm lời.

Cũng cần nhắc lại, trước mỗi thời điểm diễn ra những sinh hoạt chính trị lớn của đất nước, “dàn đồng ca” dân chủ giả hiệu lại tấu lên những khúc nhạc thông tin kích động. Không chỉ tung lên mạng những địa chỉ mệnh danh người Việt, mà còn có sự phối hợp với những tờ báo điện tử nước ngoài vốn cay đắng trước sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ lợi dụng những khuyết điểm trong quá trình phát triển đất nước, để rồi khoét sâu, coi đó là bản chất của chế độ, rồi kêu gọi bất tuân chính quyền, lật đổ. Đã đến lúc cần nhận diện mưu toan của những kẻ giả danh dân chủ, nhân danh tinh thần dân tộc, yêu nước để chống phá chế độ, gây rối loạn xã hội hòng trục lợi cá nhân. Mưu toan đó có sự kết hợp trong ngoài, những tưởng “trong ứng ngoài hợp” là làm nên cơ sự. Nhưng, đó chỉ là sự ảo tưởng đáng thương (về nhận thức) và đáng giận (về dã tâm).

Trong thời đại đầy ắp (và có thể nói là ngổn ngang) thông tin, việc chọn lựa thông tin là điều hệ trọng. Cũng không cần tốn thời gian với những thông tin không kiểm chứng, kích động – đó là sự lựa chọn khôn ngoan.

*

*     *

Không chỉ là mưu đồ chính trị của các phần tử kích động trên các địa chỉ mạng suốt thời gian qua, đến nay chúng ta cũng không thể thờ ơ với quá nhiều địa chỉ mạng đang từng giờ, từng ngày bơm vào xã hội những thông tin đồi trụy, bạo lực. Quá nhiều địa chỉ kích động tính dục, kích động bạo lực, tuyên truyền lối sống đi ngược thuần phong mỹ tục không chỉ của người Việt mà còn của cả nhân loại. Điều đó làm băng hoại đạo đức xã hội, tạo ra cách nghĩ, cách hành xử đầy nguy hại cho lớp trẻ- hết thế hệ này đến thế hệ khác. Khái niệm “lướt web” của không ít thanh- thiếu niên hiện giờ là vào các trang mạng sex, những địa chỉ mô tả bạo lực, thú tính, giết chóc. Mặc cho các bậc làm cha làm mẹ lo sợ, các thầy cô giáo lo lắng…, các địa chỉ mạng này vẫn ngang nhiên tồn tại mà không “bức tường lửa” nào ngăn được.

Đến đây, phải quay lại câu chuyện sự quản lý của các cơ quan chức năng. Không thể “mất bò mới lo làm chuồng”, đến khi thông tin xấu từ một số địa chỉ mạng lan truyền trong xã hội, làm rối xã hội, băng hoại đạo đức lối sống… thì mới ra tay. Muộn còn hơn không, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan hữu quan trong lĩnh vực này cần được làm ngay, nếu không, hậu quả sẽ là rất lớn và khó lường. Vì thế, việc mới đây Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng chấn chỉnh quản lý một số địa chỉ mạng là điều cần thiết, được dư luận xã hội hoan nghênh.

NAM VIỆT
daidoanket.vn

Dự luật đi ngược lại lợi ích của Việt Nam – Hoa Kỳ

QĐND – Dựa trên thể chế “Tam quyền phân lập”, nhánh Lập pháp – Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ thường ra các đạo luật nhằm hạn chế quyền của nhánh Hành pháp. “Dự luật nhân quyền Việt Nam 2012, H.R. 1410”, được Hạ viện thông qua chiều 11-9-2012, nhằm đưa ra hạn chế đối với chính phủ Hoa Kỳ dựa trên những quy định về nhân quyền trong quan hệ với Việt Nam.

Dự luật này không cho phép Chính phủ Mỹ được viện trợ trên các lĩnh vực khác – “không có mục đích nhân đạo” cho Việt Nam, “nếu Tổng thống Mỹ không xác nhận được với Quốc hội Mỹ rằng Việt Nam đã cải thiện đáng kể trong lĩnh vực nhân quyền…”. Đồng thời Dự luật còn đòi hỏi “Việt Nam phải đưa ra được những tiến bộ vượt bậc trong việc cải thiện luật pháp để ngăn chặn việc hình sự hóa các hoạt động dân chủ”. Mặt khác Ngoại trưởng Mỹ sẽ phải định kỳ báo cáo lên Hạ viện về “tiến trình cải thiện nhân quyền ở Việt Nam” v.v và v.v…

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Dự luật này phải trải qua các thủ tục cơ bản sau: Sau khi “Dự luật” được Hạ viện thông qua, Văn kiện này còn phải được được đệ trình lên Thượng viện. Nếu được Thượng viện thông qua thì bước tiếp theo phải được Tổng thống phê chuẩn Dự luật mới có hiệu lực pháp lý.

Còn nhớ ngày 8-2-2012, Tiểu ban về châu Phi, Y tế toàn cầu và Nhân quyền của Hạ viện Mỹ đã thông qua cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012” (The Vietnam Human Rights Act of 2012) do ông Crít Xmít (Chris Smith), nghị sĩ Đảng Cộng hòa, tiểu bang Niu Giơ-xi, Chủ tịch tiểu Ban bảo trợ. Trước đó vào ngày 25-1-2012, ông Crít Xmít đã có buổi điều trần về Dự luật này. Tại buổi điều trần, “nhân chứng” Vũ Phương Anh, được giới thiệu là “nạn nhân” buôn người, với chứng cứ là Phương Anh “bị (Chính phủ Việt Nam) đưa đến một công xưởng ở Gioóc-đa-ni – nơi mà theo bà ta nói, phải làm việc cả ngày lẫn đêm với tiền công ít ỏi”(!).

Trong buổi điều trần, ông Crít Xmít còn nói “Chính quyền Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm tệ hại nhân quyền. Lời khai mà người ta nghe được đã xác nhận rằng, việc truy bức tôn giáo, chính trị và sắc tộc tiếp diễn và trong nhiều trường hợp còn tăng nhiều thêm, và rằng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tiếp tục đón nhận những kẻ chuyên buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức”. Rồi ông ta răn đe: “Cần phải cho thấy, Hoa Kỳ gửi một thông điệp minh bạch tới chế độ Việt Nam rằng, họ phải ngừng vi phạm nhân quyền của các công dân của họ”(!).

Trên đây là nội dung, cái cớ, chỗ dựa của cái gọi là “Dự luật nhân quyền 2012, số hiệu H.R.1410″ mà Hạ viện Hoa Kỳ mới thông qua. Có thể nói đây là một quyết định thiếu sáng suốt, hơn nữa còn đi ngược lại lợi ích của Việt Nam – Hoa Kỳ.

Trước hết, Dự luật này đã đi ngược lại nguyên tắc tôn trọng quyền dân tộc tự quyết trong quan hệ quốc tế đương đại. Điều này đã được Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận. Hơn nữa tại Điều I của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966), đã quy định rõ: “Các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị…” của mình. Việc xây dựng và thực thi Hiến pháp, pháp luật như thế nào là quyền của mỗi quốc gia – dân tộc, mà không có bất cứ quốc gia nào, một lực lượng chính trị nào có quyền áp đặt, kể cả Liên hợp quốc.

Nhân đây phải nói thêm rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có tội danh về tôn giáo cũng như tội danh về bất đồng chính kiến, chỉ có các tội danh về lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, tội danh về lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí để chống lại Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nói cách khác ở Việt Nam không có ai bị tù vì lý do theo tôn giáo này hay tôn giáo khác, hoặc vì thực hiện các quyền tự do ngôn luận, báo chí không trái với các quy định của pháp luật.

Trở lại với Dự luật nói trên, chỉ căn cứ vào lời khai “mà người ta nghe được” để khẳng định rằng ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng “truy bức tôn giáo”, “chính trị và sắc tộc” thậm chí là còn là thủ phạm của việc “buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức”… để đánh giá về tình hình nhân quyền của một quốc gia… là một nhận xét hồ đồ, là những định kiến lỗi thời của một cá nhân nào đó. Thế nhưng, đáng tiếc với sự dẫn dắt của ông Crít Xmít, Hạ viện Hoa Kỳ dường như đã xác nhận những điều trên.

Thứ hai, trong quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ, Dự luật này đang đi ngược lại lợi ích của cả hai quốc gia. Như các phương tiện truyền thông đã đăng tải, ngày 10-11-2011, tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 19, tổ chức tại Ha-oai (Mỹ), Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Trương Tấn Sang đã có cuộc trao đổi với Ngoại trưởng Mỹ H. Clin-tơn (H. Clinton). Tại cuộc trao đổi trên, bà Ngoại trưởng nói rằng: “Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, trong đó có việc nâng tầm quan hệ, hướng tới đối tác chiến lược”. Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng khẳng định “Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược”.

Gần đây, Oa-sinh-tơn triển khai mạnh mẽ chiến lược châu Á – Thái Bình Dương. Điều đó có nghĩa việc tìm kiếm, phát triển các quan hệ thân thiện với các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam, đồng thời giảm thiểu những mâu thuẫn, khác biệt giữa Hoa Kỳ với các quốc gia trong khu vực về chính trị nói chung, về nhân quyền nói riêng là lợi ích của các bên và của chính Hoa Kỳ. Dự luật nhân quyền 2012, H.R.1410 đang đi ngược lại những yêu cầu đó.

Như vậy, có thể nói “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012- H.R. 1410” đã không vì lợi ích của hai quốc gia, không đóng góp gì cho sự phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, trái lại đó là vật cản trở, phá hoại sự phát triển quan hệ giữa hai quốc gia, hơn nữa nó đi ngược lại những nỗ lực của Hoa Kỳ trong xây dựng lòng tin với các nước tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Phương Nhi
qdnd.vn

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

(ĐCSVN) – Ngày 13/9/2012, trả lời câu hỏi của phóng viên trước việc ngày 11/9/2012, Hạ viện Mỹ đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2012 H.R.1410 và Nghị quyết H.Res.484 “kêu gọi Chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân quyền”, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nói:

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.Quyền con người được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã có những tiến triển tích cực trong thời gian qua. Hai nước thường xuyên trao đổi về các vấn đề cùng quan tâm, trong đó có vấn đề quyền con người, trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng và tôn trọng lẫn nhau. Đây là cách tốt nhất để tăng hiểu biết lẫn nhau, thu hẹp khác biệt, góp phần thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục phát triển vì lợi ích của cả hai nước.

Dự luật H.R.1410 và Nghị quyết H.Res.484 đã dựa trên những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người tại Việt Nam. Việc thông qua dự luật và nghị quyết nói trên là sai trái, không phù hợp với xu hướng phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ”.

Các từ khóa theo tin: Mạnh Hùng
cpv.org.vn

Kêu gọi công lý cho nạn nhân chất độc da cam Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền LHQ

QĐND Online – Ngày 25 và 26-6 tại trụ sở Liên hợp quốc ở Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ, đã diễn ra phiên họp lần thứ 20 Hội đồng Nhân quyền LHQ. Theo lời mời của bà Gin-ni Mơ-ren (Jeanne Miren), Chủ tịch Hội luật gia Dân chủ quốc tế, Hội nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam (VAVA) do Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh, Chủ tịch VAVA, làm trưởng đoàn đã tham dự phiên họp.

Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh (bên trái) và bà Mơ-ren tham dự phiên họp

Trong bài phát biểu, với tư cách là người đại diện cho hơn 3 triệu nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh đã nêu bật nỗi đau của những con người đang mang trong mình di chứng tàn khốc của chiến tranh, nói lên nguyện vọng và mưu cầu công lý của họ. Ông cũng  kêu gọi các tổ chức quốc tế, các quốc gia hãy quan tâm và có hành động thiết thực hơn nữa để góp phần làm dịu bớt nỗi đau của họ. Bên cạnh đó, Hội nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam cũng đóng góp một số ý kiến về chủ đề Nhân quyền ở diễn đàn quan trọng và có ý nghĩa này.

“Điều đau xót là không phải chỉ những người tham gia trực tiếp chiến đấu bảo vệ quê hương trong cuộc chiến tranh Việt Nam mới bị nhiễm chất độc, mà cả con cháu của họ, những người dân vô tội cũng phải gánh chịu hậu quả khủng khiếp đó. Thậm chí, ngay cả khi chiến tranh đã lùi xa thì những người sống trong vùng bị nhiễm chất độc da cam cũng bị ảnh hưởng. Hậu quả là có những người được sinh ra không toàn vẹn hoặc phải mang trong mình những căn bệnh nan y. Họ sinh ra đã không có quyền sống bình thường của một con người. Họ và thân nhân của họ đang phải sống với nỗi đau quằn quại về thể xác trong khi đói nghèo và sự mặc cảm về tinh thần vẫn đè nặng lên cuộc sống hàng ngày”, Chủ tịch VAVA nói.

Theo ông, điều đáng buồn và đáng lên án là thế hệ thứ hai, thứ ba và không biết còn bao nhiêu thế hệ tiếp theo nữa sẽ phải chết dần chết mòn vì thứ chất độc này. “Đã nhiều thập kỷ qua, với đạo lý, lương tâm và trách nhiệm, đất nước chúng tôi và rất nhiều người có lương tâm và trách nhiệm trên toàn thế giới đã chung tay giúp họ cả về vật chất lẫn tinh thần, vì một nghĩa cử cao đẹp “lá lành đùm lá rách” để làm dịu bớt một phần nỗi đau của họ. Đến đây với thiện chí hợp tác, chúng tôi mưu cầu công lý, không phải chỉ cho nhân dân Việt Nam mà cho cả những ai đang mang trong mình nỗi đau da cam”, Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh nhấn mạnh.

Chủ tịch VAVA cũng khẳng định rằng: “Chỉ khi nào vấn đề này được giải quyết thì Việt Nam và Mỹ mới thực sự để nỗi ám ảnh khủng khiếp của chiến tranh lại phía sau và cùng nhau lật qua một trang lịch sử mới tốt đẹp hơn”. Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh cũng kêu gọi tất cả các quốc gia, tổ chức quốc tế và đặc biệt là Chính phủ và nhân dân Mỹ hãy cùng Việt Nam làm giảm nhẹ nỗi đau của các nạn nhân da cam, đảm bảo cho họ quyền Sống và được hưởng Công lý.

Bài phát biểu của Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh đã gây sự chú ý, quan tâm của hầu hết các đại biểu đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Những người tham dự phiên họp đã đặc biệt xúc động sau khi xem một số hình ảnh và những số liệu thống kê chính xác về những người đang từng ngày sống chung với hậu quả của chất độc da cam dù chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm. Cũng trong phiên họp, VAVA cũng đề xuất về một cuộc vận động quốc tế lớn đòi công lý và bồi thường cho nạn nhân chất da cam Việt Nam cũng như cho tất cả các nạn nhân da cam khác trên thế giới.

Bài, ảnh: Dương Đức Tính (gửi từ Giơ-ne-vơ)
qdnd.vn

Mở rộng dân chủ để chính quyền thực sự là của dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh với bà con dân tộc thiểu số

Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là cuộc đời vì nước, vì dân, đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì quyền làm chủ của nhân dân. Quan điểm Hồ Chí Minh về nhân dân là sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa những tinh hoa của thế giới và dân tộc. Nhân dân mà đại bộ phận là nhân dân lao động trong đó công-nông là cơ bản, đứng lên đấu tranh để tự giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong của giai cấp công nhân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm khoa học về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, quân sự… là sản phẩm của sự kết hợp tư duy độc lập, sáng tạo của Hồ Chí Minh với tri thức tinh hoa của dân tộc Việt Nam và của nhân loại. Trong hệ tư tưởng của Người, tư tưởng dân làm chủ được coi là cốt lõi. Việc Hội nghị Trung ương 12 (Khóa X) nhất trí với Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) trình Đại hội Đảng lần thứ XI, trong đó xác định: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…” chính là minh chứng cho điều đó. Bởi lý luận và thực tiễn đều khẳng định, có dân chủ thì mới có công bằng, văn minh; bản chất xã hội ta là dân chủ và dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là cuộc đời vì nước, vì dân, đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì quyền làm chủ của nhân dân. Quan điểm Hồ Chí Minh về nhân dân là sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa những tinh hoa của thế giới và dân tộc. Nhân dân mà đại bộ phận là nhân dân lao động trong đó công-nông là cơ bản, đứng lên đấu tranh để tự giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong của giai cấp công nhân.

Ai cũng biết, mọi hoạt động của con người đều hướng vào lợi ích. Lợi ích là một phạm trù rộng, bao gồm mọi loại lợi ích vật chất và tinh thần, lợi ích chung (nhân loại, dân tộc, giai cấp, tầng lớp) và lợi ích riêng từng cá nhân con người. Lợi ích chung và chân chính kích thích, thúc đẩy cả một dân tộc, toàn thể nhân dân của một quốc gia thuộc địa, bị áp bức, bóc lột vào cuộc đấu tranh quyết liệt, sống còn với bộ máy thống trị của thực dân, đế quốc. Mục đích chính nghĩa của chiến tranh đã cho phép Nhà nước, Đảng cách mạng có thể phát động nhân dân phát huy đầy đủ sức mạnh của cả một dân tộc trong cuộc chiến tranh chính nghĩa, vì lợi ích của chính những người cầm súng chiến đấu. Trong điều kiện đó, nhân dân đã tìm ra mọi loại vũ khí, phương tiện cũng như sáng tạo ra mọi phương thức đấu tranh thích hợp để giành chiến thắng.

Khi cuộc chiến tranh giành độc lập tự do của dân tộc đã giành toàn thắng, đất nước trong hòa bình, xây dựng thì tình hình có sự thay đổi lớn, có thể nói là cơ bản. Mối quan hệ giữa nhân dân và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đã có nội dung mới. Lúc này, lợi ích cấp thiết của dân tộc, giai cấp, tầng lớp, cá nhân là phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, xây dựng đất nước giàu mạnh. Vì thế, Hồ Chí Minh khẳng định và nói rõ nội dung cốt lõi của dân chủ là, Nhà nước phải : “Giải quyết vấn đề kinh tế, tài chính thế nào cho hợp lý, cho lợi dân” (Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb ST, H.1986, Tập 6, tr.41). Lâu nay, chúng ta nói nhiều đến quyền làm chủ của nhân dân nhưng chưa thật sự gắn có hiệu quả với lợi ích thiết thực của nhân dân như trong quy hoạch đất đai, giải phóng mặt bằng xây dựng hay như trong triển khai các dự án… Người dân không được hoặc được thông tin rất ít nên quyền dân chủ được bàn và kiểm tra còn rất hạn chế. Thắc mắc, kiện tụng xảy ra là điều không tránh khỏi vì quyền làm chủ của nhân dân có nơi, có lúc  vẫn chỉ là hình thức. Muốn khắc phục, Đảng, Nhà nước, các đoàn thể quần chúng phải gắn bó máu thịt với nhân dân; cán bộ các cấp phải thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân. Cần đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính, khắc phục bệnh quan liêu trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể và xây dựng phong cách cách mạng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong các tổ chức ấy. Để tạo điều kiện cho nhân dân làm chủ thực sự và có hiệu quả, phải thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mọi người dân thông qua hai kênh: đại diện và trực tiếp. Đảng và Nhà nước hết sức chú ý đến tổ chức và thực hiện tốt các chế độ khác nhau như: chế độ cán bộ cơ quan Đảng, Nhà nước tiếp xúc với dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, tiếp thu ý kiến phê bình của nhân dân; chế độ xem xét và giải quyết những khiếu tố của nhân dân; chế độ thanh tra nhân dân…

Một hình thức hết sức hiệu quả để nhân dân phát huy quyền làm chủ là thực hiện đúng đắn việc thông tin và quyền tự do ngôn luận trên báo chí theo các quy định hiện hành. Cần tổ chức thật tốt để nhân dân phát biểu ý kiến trên báo, đài góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước. Các đoàn thể quần chúng dùng báo chí để phổ biến và tuyên truyền dân chủ trong nhân dân.

Việc tiếp theo là xây dựng đồng bộ các chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh… phát huy khả năng sáng tạo của nhân dân. Bởi vì, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay nảy nở, phát triển được nhiều hay ít tùy thuộc vào rất nhiều vào chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh… của Đảng và Nhà nước ta.  Do sự phát triển của thời đại, của yêu cầu mới, một số chính sách đã ban hành chưa đồng bộ, chưa đủ khuôn khổ pháp lý cần thiết để triển khai vào thực tiễn. Không ít luật, chính sách đã được ban hành nhưng chưa được thực thi nghiêm chỉnh do kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo. Vì thế, cần bổ sung, hoàn thiện hàng loạt chính sách trên  các lĩnh vực, đặt trọng tâm vào việc chăm lo, bồi dưỡng, phát huy cao độ nhân tố con người, xem con người vừa là mục tiêu vừa là động lực lớn nhất của sự nghiệp xây dựng CNXH; đồng thời coi ấm no, tự do, hạnh phúc của con người là mục tiêu cao nhất của chế độ mới theo như lời dạy của Bác Hồ: “ Mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường chuyên chính để làm cho chính quyền ta ngày càng thực sự là chính quyền của nhân dân, phục vụ nhân dân, chống lại kẻ thù của nhân dân (Hồ Chí Minh, Sdd, Tập 7, tr. 559).

Phạm Quang Khánh
daidoanket.vn

VN đạt nhiều thành tựu bảo đảm quyền con người

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị.
(Ảnh: Thể thao Văn hóa)

Theo Vụ Thông tin Báo chí, Bộ Ngoại giao, ngày 8/3, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ đã thông qua “Dự luật Nhân quyền Việt Nam,” Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị nói, dự luật này đã đưa ra những thông tin sai trái, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam.

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Ông Lương Thanh Nghị nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng mọi khác biệt về vấn đề quyền con người cần được trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tăng cường hiểu biết và góp phần thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã tiến hành đối thoại với Hoa Kỳ về vấn đề quyền con người.”/.

(Vietnam+)
vietnamplus.vn

Bình đẳng giới – điểm sáng về nhân quyền ở Việt Nam

Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI diễn ra ở Hà Nội (tháng 3 – 2012) đã nêu: Việt Nam là một trong những quốc gia đạt thành tựu cao về thực hiện bình đẳng giới, được Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Kết quả đó là thực tiễn sinh động minh chứng sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với phụ nữ, cao hơn là trong việc bảo đảm nhân quyền.

altTrong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu nhiệm kỳ 2007 – 2011 là 25,76%, xếp thứ 31 trên thế giới; nhiệm kỳ 2011 – 2016 là 24,4%.

Vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam có sự chi phối từ những nguyên nhân của lịch sử và ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau, cũng có những biểu hiện khác nhau. Đáng chú ý là, trong nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc; nhất là khi đạo Khổng được truyền bá vào Việt Nam, thì vai trò của người phụ nữ trong xã hội trở nên hết sức thấp kém. Theo đó, sự bất bình đẳng giới cũng diễn ra phổ biến; các quyền cơ bản của phụ nữ không được bảo đảm, thậm chí bị tước đoạt một cách vô lý.

Nhận rõ tầm quan trọng và thể hiện trọng trách trước nhân dân và cộng đồng quốc tế, ngay trong Cương lĩnh 1930 của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: nam, nữ bình quyền là một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam. Điều đó cũng được ghi nhận trong Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và được khẳng định rõ ở Điều 63, Hiến pháp sửa đổi (năm 1992) của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Cho tới nay, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế, trong đó có: Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW, năm 1981), Công ước Quyền trẻ em (CRC, năm 1990) và tích cực thực hiện Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh (năm 1995) vì bình đẳng, hòa bình và phát triển. Bên cạnh đó, nhiều luật pháp, chính sách đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung, tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện bình đẳng giới và bảo vệ quyền phụ nữ. Nổi bật là: Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống (cả về vật chất và tinh thần) của phụ nữ, cũng như tạo điều kiện cần thiết để phụ nữ được hưởng quyền cơ bản của mình, tham gia và hưởng thụ một cách bình đẳng, đầy đủ trong mọi khía cạnh của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Bộ luật Lao động (năm 2002) đã sửa đổi, bổ sung những nội dung liên quan đến chính sách đối với lao động nữ, bao gồm: bảo hiểm xã hội, tiền lương, bảo hộ lao động, đào tạo nghề. Ngoài ra, Việt Nam đã ký các hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý với 12 nước, trong đó có Lào, Trung Quốc và Cam-pu-chia; đã tham gia các thoả thuận và tuyên bố quốc tế về phòng, chống mua bán người, đồng thời là thành viên tích cực của các diễn đàn đa phương, như: Tiến trình Tư vấn khu vực châu Á – Thái Bình Dương; Tiến trình Ba-li về phòng, chống mua bán người và tội phạm xuyên quốc gia; Tuyên bố chung ASEAN về phòng, chống mua bán người;… Cùng với những chủ trương, chính sách về các lĩnh vực cơ bản nhất, Nhà nước ta cũng quan tâm tới các lĩnh vực đặc thù, như: ban hành Pháp lệnh về phòng, chống mại dâm (năm 2003); Chương trình hành động, phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em; đồng thời, xử lý nghiêm tội phạm và có những biện pháp hỗ trợ các nạn nhân. Nhà nước ta cũng đã ban hành Luật Bình đẳng giới (2006), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2007); đặc biệt là, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá X) đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước (2007); Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (2011 – 2020),… Quốc hội thường xuyên thực hiện tốt công tác giám sát về bình đẳng giới. Hằng năm, Chính phủ đều có báo cáo kết quả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới,… Những nỗ lực trong việc hoạch định chủ trương, chính sách mang tính chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tạo bước chuyển mạnh mẽ trong thực hiện bình đẳng giới, bảo đảm tốt các quyền bình đẳng giữa nam và nữ; quyền được làm việc, được hưởng lương như nhau; quyền sở hữu, thừa kế và quyền lựa chọn bạn đời khi kết hôn hoặc ly hôn,… đều được pháp luật bảo vệ.

Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam luôn tỏ rõ vai trò nòng cốt, tiên phong trong các hoạt động bình đẳng giới. Hội đã tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam, thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; đồng thời, bám sát tình hình thực tiễn và yêu cầu công tác phụ nữ trong từng thời kỳ để không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Với phương châm “ở đâu có phụ nữ, ở đó có tổ chức Hội”, các cấp hội đã chú trọng gắn kết chặt chẽ công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, năng lực hoạt động cho phụ nữ với việc đẩy mạnh các chương trình hành động vì sự phát triển, tiến bộ của phụ nữ; tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, khu vực. Qua đó, xây dựng mối quan hệ tình cảm gắn bó mật thiết giữa phụ nữ Việt Nam với phụ nữ các nước trên thế giới, vì mục tiêu hoà bình, hữu nghị, bình đẳng và phát triển. Hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, góp phần xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc cũng được các cấp hội hết sức quan tâm; trong đó, chương trình xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên ổn định cuộc sống,… đã thu hút được sự quan tâm, ủng hộ của các tổ chức chính trị – xã hội, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước; động viên được tinh thần hợp tác, tương thân, tương ái của đông đảo chị em phụ nữ trong cả nước. Đến nay, Hội đã tín chấp và nhận ủy thác được hơn 48 nghìn tỷ đồng, giúp trên 17 triệu lượt phụ nữ vay vốn để sản xuất, kinh doanh; tạo việc làm, ổn định cuộc sống, xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc… góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ Việt Nam trên trường quốc tế.

Cùng với những nỗ lực trên, Hội luôn chú trọng thực hiện tốt chức năng tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước trong xây dựng, ban hành pháp luật và các chủ trương, chính sách về những vấn đề có ý nghĩa chiến lược thực hiện bình đẳng giới, như: Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình,… Hội cũng đã tích cực nghiên cứu, xây dựng và tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bình đẳng giới cho các đối tượng; chia sẻ kinh nghiệm xây dựng Luật Bình đẳng giới trong và ngoài nước;… Sự tham gia tích cực của Hội đã góp phần tạo cơ sở pháp lý quan trọng để phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong đấu tranh, ngăn chặn các hành vi phân biệt đối xử về giới, tạo bước chuyển mạnh mẽ trong việc bảo đảm nam, nữ bình quyền và dân tộc bình đẳng ở Việt Nam.

Trong lĩnh vực kinh tế, mục tiêu bình đẳng giới đã đạt những kết quả thiết thực và bền vững. Hiện nay, phụ nữ chiếm 50% lực lượng lao động; tỷ lệ nam giới và nữ giới tham gia hoạt động kinh tế ở mức gần bằng nhau (nữ: 83%, nam: 85%). Lực lượng phụ nữ có vai trò tương đương với nam giới trong việc tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất. Hầu hết các ngành nghề đều có sự tham gia của phụ nữ; nhiều ngành, phụ nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới1. Vị thế của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội đã không ngừng được nâng cao. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế và là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh nhất về xóa bỏ khoảng cách giới ở khu vực Đông Á (mục tiêu thứ 3 trong 8 Mục tiêu Thiên niên kỷ).

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tỷ lệ phụ nữ biết đọc, biết viết tăng từ 82,3% (năm 1993) lên 90,5% (năm 2011). Tỷ lệ biết chữ của nam từ 10 tuổi trở lên chỉ cao hơn nữ 6%. Khoảng cách nhập học của học sinh nam, nữ ở các cấp học, bậc học trong những năm gần đây đã được thu hẹp gần như tương đương. Hiện tượng bỏ học sớm của trẻ em gái được cải thiện đáng kể. Tính trung bình trong các năm học, tỷ lệ tốt nghiệp của học sinh nữ cao hơn nam. 100% trẻ em gái từ 11 tuổi đến 14 tuổi tốt nghiệp chương trình tiểu học và được vào lớp 6. Kết quả đó đã tăng tỷ lệ đi học chung của nữ ở cấp trung học cơ sở lên trên 90%, trung học phổ thông lên trên 50%.

Trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ, Việt Nam đã tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách khám, chữa bệnh cho các đối tượng; huy động mạnh mẽ các nguồn lực trong xã hội, góp phần đưa tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận với các dịch vụ y tế lên hơn 90%; đưa tuổi thọ bình quân của người Việt Nam đạt 72,8 tuổi, trong đó phụ nữ đạt 75,6 tuổi và nam giới đạt 70,2 tuổi (nữ tăng 5,5 tuổi, nam tăng 3,7 tuổi so với năm 1999). Tỷ lệ phụ nữ khám thai và được chăm sóc y tế khi mang thai hằng năm đều tăng. Riêng năm 2007, tỷ lệ phụ nữ được khám thai từ 03 lần trở lên, tăng 2% so với năm 2005.

Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ tham gia công tác trong hệ thống Đảng, cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và các cơ quan dân cử ngày càng tăng, nhất là ở những vị trí cấp cao, như: ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, bộ trưởng, thứ trưởng và trong các uỷ ban nhân dân, hội đồng nhân dân các cấp,… Trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu nhiệm kỳ 2007 – 2011 là 25,76%, xếp thứ 31 trên thế giới. Riêng nhiệm kỳ 2011 – 2016 là 24,4%; tuy có giảm so với nhiệm kỳ trước, nhưng Việt Nam vẫn là một trong những nước của khu vực châu Á – Thái Bình Dương có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao. 

Trong gia đình, tiếng nói của phụ nữ khi quyết định các vấn đề lớn, quan niệm về con trai, con gái đã có nhiều thay đổi tích cực. Mức độ sở hữu và kiểm soát các tài sản quan trọng của phụ nữ Việt Nam hiện nay đã được pháp luật bảo vệ…

Những kết quả đạt được trong các lĩnh vực trên đây đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng cuộc sống và chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời là minh chứng thuyết phục nhất khi cho rằng: Việt Nam là một quốc gia tiên phong trong đấu tranh vì bình đẳng giới và bảo vệ nhân quyền. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách để phủ nhận những thành tựu đó, nhằm phục vụ cho mưu đồ chống phá CNXH của chúng. Song, những thủ đoạn đó cũng không thể đánh lừa được ai, bởi thực tiễn công cuộc đổi mới nói chung, cũng như những thành tựu đã đạt được trên lĩnh vực bình đẳng giới của Việt Nam nói riêng, là một thực tế mà nhân dân ta và nhiều tổ chức trên thế giới thừa nhận, không một thế lực nào có thể phủ nhận được.v.v.

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng sự nghiệp phấn đấu vì mục tiêu bình đẳng giới và phát triển của phụ nữ ở Việt Nam hiện vẫn còn nhiều thách thức. Bởi, xuất phát điểm của Việt Nam là một nước nông nghiệp, trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, chịu ảnh hưởng của định kiến giới nặng nề, nên tư tưởng trọng nam, khinh nữ vẫn còn tồn tại khá phổ biến trong các đối tượng. Ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán lạc hậu; tỷ lệ phụ nữ nghèo, mù chữ còn cao; bạo lực gia đình, tệ nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, lấy chồng người nước ngoài còn diễn biến phức tạp.v.v.

Để khắc phục có hiệu quả tình trạng trên và triển khai thực hiện tốt vấn đề bình đẳng giới, nhằm phát huy quyền con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục thực hiện những chủ trương, chính sách, với sự tham gia của cả cộng đồng; trong đó, tập trung đẩy mạnh và đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về giới, bình đẳng giới. Trong thời gian tới, cần coi trọng mở rộng đối tượng tuyên truyền, từ nam giới đến nữ giới; tăng cường mở các lớp tập huấn về kỹ năng lồng ghép giới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và đại diện người sử dụng lao động; đưa vấn đề giới vào kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ; nâng cao chất lượng xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật theo hướng nâng tỷ lệ nữ tham gia trong các tổ chức, bộ máy của cơ quan, đơn vị nói chung, nâng tỷ lệ nam trong các hoạt động về giới nói riêng. Các bộ, ban, ngành liên quan, cần có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới và các chính sách liên quan đến lao động nữ; đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế để tăng cường việc học tập, trao đổi kinh nghiệm với bạn bè quốc tế về các hoạt động bình đẳng giới… Thực hiện có hiệu quả những nội dung này, sẽ làm cho vấn đề bình đẳng giới và bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam ngày càng tốt hơn.

ThS. PHẠM HẠNH SÂM

Trưởng ban Tuyên giáo,

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
tapchiqptd.vn

                  

1 – Giáo dục: 60,9%; Y tế: 57,52%; Công nghiệp: 50,32%; Thương nghiệp dịch vụ: 65,5%; Tài chính, tín dụng: 51,75%.

Bác Hồ với vấn đề dân chủ nội bộ

Bác Hồ rất chú trọng làm cho sinh hoạt của các cơ quan phải tuân thủ một chế độ chặt chẽ mà Bác là người gương mẫu thực hiện. Trong những năm cuối đời, sức khỏe Bác yếu dần, tuy nhiên, Bác rất cố gắng tham gia đều đặn các sinh hoạt ấy.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước thường xuyên thuyết phục Bác là sẽ có cách làm việc chu đáo với Bác để Bác góp ý kiến về các vấn đề phải thảo luận ở cơ quan lãnh đạo, chủ yếu thuyết phục Bác không phải dự đều các kỳ họp. Nhưng Bác không chấp nhận và luôn luôn giữ đúng chế độ sinh hoạt.

Trong các kỳ họp của cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Bác luôn luôn chăm lo phát huy đến mức cao dân chủ nội bộ, để mọi người đều góp được ý kiến. Đối với những đồng chí hay nói nhiều, nói dài thì Bác nhẹ nhàng nhắc: “Chú để cho các đồng chí khác có cơ hội nói”.

Đồng chí Phạm Văn Đồng kể lại: “Trong các kỳ họp Bộ Chính trị, nhiều khi Bác có những gợi ý để chúng tôi thảo luận. Song cũng có trường hợp sau khi nêu ra, Bác thấy chúng tôi do dự, có ý không tán thành, thì Bác nói ngay: “Mình có ý kiến như vậy, nếu các chú thấy không được, thì mình rút”. Bác nói những lời này một cách rất hồn nhiên không gợi một chút khó chịu nào và chúng tôi cũng quen với phong cách cực kỳ cao quý của vị lãnh tụ tối cao và người thầy của tất cả chúng tôi. Tôi nghĩ đây là bài học lớn về tinh thần dân chủ nội bộ, ý thức tập thể và sinh hoạt lành mạnh của các tổ chức từ trên xuống dưới”.

Trong Di chúc Bác căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Tư tưởng và phong cách dân chủ của Bác là những bài học quý soi sáng cho công cuộc đổi mới hiện nay, nhất là trong việc khắc phục khuyết điểm, sai lầm nhằm tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, nêu cao và thực hiện từng bước quyền làm chủ của nhân dân lao động.

Đỗ Ngọc Uẩn
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

baobacninh.com.vn

Bầu cử ở Việt Nam: “Dân chủ hình thức” hay dân chủ thực chất

Thực hiện nghĩa vụ công dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II (ngày 8/5/1960) tại tiểu khu Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội - Ảnh: tư liệu

Bản chất của luận điệu chống đối này là lợi dụng những quan điểm của Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam trong quá trình phát triển đường lối đổi mới, nhất là trên phương diện chính trị, để loại bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, đưa Việt Nam sang mô hình chính trị phương Tây, lệ thuộc vào nước ngoài. Theo những kẻ chống đối lại Nhà nước Việt Nam hiện này thì: “Việt Nam phải thực hiện ngay tam quyền phân lập”, và muốn vậy phải “trưng cầu dân ý có sự giám sát của Liên hợp quốc về Điều 4, Hiến pháp 1992” – về vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Và rằng, ở Việt Nam làm gì có dân chủ trong bầu cử, ứng cử – đó là cơ chế “Đảng cử – dân bầu”, là “dân chủ trình diễn”…; phải sửa đổi hệ thống bầu cử, tạo điều kiện cho tất cả mọi người được ứng cử tự do…

Vậy nội dung, bản chất của hệ thống bầu cử Việt Nam như thế nào – xét về mặt lý luận, pháp lý và thực tiễn? Hệ thống bầu cử ở nước ngoài ra sao, phải chăng Việt Nam nhất thiết phải thay đổi mô hình dân chủ theo phương Tây?

Trước hết phải nhắc lại lịch sử để những kẻ đang cố tình bôi nhọ ĐCS Việt Nam và những người nhẹ dạ, cả tin hiểu rằng, chế độ cộng hòa, Hiến pháp dân chủ, nhà nước pháp quyền, quyền công dân và quyền con người ra đời ở Việt Nam là thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do ĐCS Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trên 80 năm thống trị của thực dân Pháp, 30 năm chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, trong vùng chúng chiếm đóng trên đất nước này, làm gì có bầu cử, ứng cử thật sự, làm gì có Hiến pháp, có quyền công dân và quyền con người, làm gì có tự do ngôn luận, báo chí. . . Lúc đó sao không thấy các “đại gia” phương Tây chia sẻ các giá trị dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Đến nay, họ và những kẻ tay sai lại lên giọng dạy bảo dân chủ, nhân quyền cho các quốc gia, thậm chí còn can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Những động thái chính trị của phương Tây ở Ai Cập, Bắc Phi và nhiều quốc gia Trung Đông khác trong những ngày qua cho thấy, “diễn biến hòa bình” không phải là “con ngáo ộp” của những người làm chính trị ở Việt Nam, mà là một thực tế đang diễn ra sôi động trên chính trường quốc tế. Nói cách khác, những gì phương Tây đã và đang làm không phải vì dân chủ, nhân quyền đích thực cho nước khác, dân tộc khác, mà vì những lợi ích chính trị – kinh tế mà họ đang theo đuổi.

Hệ thống chính trị nói chung, hệ thống bầu cử nói riêng trên thế giới hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào chế độ chính trị được hình thành trong lịch sử và ý chí của nhân dân các nước. Hệ thống bầu cử ở những nước theo thể chế liên bang (như: Hoa Kỳ, Ố-xtrây-li-a…) khác với các quốc gia theo thể chế hệ thống hành chính tập trung, thống nhất. Về kỹ thuật cũng có nhiều mô hình khác nhau: mô hình bầu cử ở các quốc gia theo chế độ đa đảng (lấy việc bầu cho đại diện của mỗi đảng làm tiêu chí khác với các quốc gia bầu cử theo tỷ lệ cử tri và theo địa bàn hành chính; mô hình bầu cử trực tiếp khác với mô hình bầu cử gián tiếp – thông qua đại cử tri… Hệ thống bầu cử được các nhà nghiên cứu xem là có nhiều ưu điểm là hệ thống bầu cử theo nguyên tắc đa số, trực tiếp. Nguyên lý của hệ thống này đơn giản, đó là ứng cử viên (hoặc đảng phái chính trị) nào thu được nhiều phiếu hơn sẽ trúng cử.

Khi nói đến bầu cử, ứng cử ở một quốc gia có dân chủ, công bằng hay không? người ta phải xem xét toàn bộ hệ thống bầu cử, ứng cử và nhất là kết quả của hệ thống đó được áp dụng vào bối cảnh đặc thù về lịch sử và văn hóa chính trị của một quốc gia – dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại như thế nào, chứ không thể chỉ nhìn vào một yếu tố nào đó để khái quát đánh giá. Hệ thống bầu cử của Việt Nam ra đời từ khi ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: cử tri bầu đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Phù hợp với nguyên tắc “phổ thông”, số lượng đại biểu của mỗi địa phương tỷ lệ với số cử tri của địa phương đó. Các cử tri được bầu cử trực tiếp các đại diện của mình ở các cơ quan dân cử từ cấp cơ sở đến Quốc hội.

Là một quốc gia có nhiều dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến điều này. Điều 10 Luật Bầu cử Việt Nam quy định: “Số đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến theo đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, bảo đảm để các thành phần dân tộc thiểu số có số đại biểu thích đáng”. Thực hiện quy định này trong nhiều nhiệm kỳ qua, tỷ lệ đại biểu thuộc dân tộc thiểu số luôn luôn cao hơn tỷ lệ dân số. Nhiệm kỳ khóa XI, số đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 17,2%; nhiệm kỳ khóa XII, chiếm 17,6%; trong khi đó, tỷ lệ 53 dân tộc thiểu số chỉ chiếm 13% dân số Việt Nam.

Phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội, nâng cao vai trò của Phụ nữ, Điều 10a, Luật Bầu cử Việt Nam quy định: “Số đại biểu Quốc hội là Phụ nữ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm để Phụ nữ có số đại biểu thích đáng“. Theo Báo cáo của Quỹ phát triển Phụ nữ Liên hợp quốc (UNIFEM), tỷ lệ đại biểu Quốc hội nữ của Việt Nam (Khóa XII) cao hơn nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á. Trong khi tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội ở Việt Nam là: 25,8%, thì tỷ lệ đó ở Thái Lan là 11,7%, Ma-lai-xi-a là 23,7%, In-đô-nê-xi-a là 11,6%, Xinh-ga-po là 24,8%, Lào là 25,2%, Cam-pu-chia là 19,5%…

Còn việc người ta nói rằng ở Việt Nam “đảng cử dân bầu”, bầu cử ở Việt Nam chỉ là “dân chủ hình thức, dân chủ trình diễn”, “hầu hết đại biểu dân cử đều là đảng viên ĐCS Việt Nam thì sao có dân chủ được?”.Quả thật đây là một cách lập luận điển hình cho tư duy dân chủ, nhân quyền nhập ngoại. Thử hỏi ở quốc gia nào mà không có vận động bầu cử của các đảng phái chính trị, không có “đảng cử, dân bầu” ? Lấy hệ thống bầu cử ở Mỹ làm một ví dụ. Ở quốc gia này, cuộc bầu cử Tổng thống có tới hai chiến dịch bầu cử: Chiến dịch vận động bầu của hai đảng Dân chủ và Cộng Hòa, kéo dài tới 6 tháng để lựa chọn đại biểu của mỗi đảng. Chiến dịch thứ hai mới là vận động tranh cử của các ứng cử viên Tổng thống. Hai chiến dịch vận động rầm rộ, tốn kém này thu hút sự quan tâm của nhân dân tới cả năm. Đương nhiên đảng nào, ứng cử viên nào có nguồn lực dồi dào, nhất là được giới truyền thông ủng hộ nhiều thì có lợi thế hơn và ngược lại. Còn về sự quan tâm của cử tri, ở Mỹ, có nhiều người dân không đi bỏ phiếu. Theo Duoglas K. Stevenson trong chuyên khảo: “Cuộc sống và các thể chế ở Mỹ”: Cuộc bầu cử năm 1988 chỉ có 57,4% người đăng ký tham gia bầu cử. Trong số đó chỉ có 86,1% người đi bỏ phiếu. Như vậy. trên thực tế chưa đến 50% số người có quyền công dân đi bỏ phiếu. Lại nói về tính ưu việt và khiếm khuyết của hệ thống bầu cử. Thử hỏi những ai đang vận động cho thể chế bầu cử của Hoa Kỳ, họ nghĩ như thế nào về hệ lụy của thể chế đại cử tri? Đó là trường hợp xảy ra vào cuộc bầu cử năm 2000: trong cuộc bầu cử này, đại diện của đảng Dân chủ – ông Al Gore giành được 48,38% số phiếu phổ thông toàn quốc, cao hơn đối thủ là ông George Bush – đại diện của đảng Cộng hòa chỉ giành được 47,87% số phiếu bầu. Mặc dù vậy, theo thể chế bầu cử của quốc gia này, ông Bush vẫn trúng cử Tổng thống vì ông có số phiếu đại cử tri cao hơn ông Gore. Một vấn đề khác liên quan đến sự công bằng của bầu cử ở đây là thể chế liên bang. Sở dĩ ông Bush thắng cuộc là vì ông đã giành chiến thắng trước ông Gore ở bang Florida. Chúng ta không chỉ trích hệ thống bầu cử ở Hoa Kỳ, mà chỉ muốn nói rằng, không có bất cứ một hệ thống bầu cử nào là hoàn hảo. Tuy vậy, như nhà triết học Heghen đã nói: “cái tồn tại là cái hợp lý”, hệ thống bầu cử của Hoa Kỳ được hình thành trên ba trăm năm, gắn liền với văn hóa chính trị của dân tộc Mỹ, nó được nhân dân Mỹ chấp nhận. Tương tự như vậy, ở nhiều quốc gia phát triển, như: Anh, các nước Bắc Âu…, bên cạnh quyền uy của Nhà nước, Nghị viện, Chính phủ, Thủ tướng, Tòa án…, còn có vai trò của Nhà vua, Hoàng tộc, cho dù vai trò đó là nhỏ bé, thậm chí chỉ là hình thức. Ở Việt Nam, hệ thống chính trị, thể chế bầu cử, ứng cử, pháp luật…, của quốc gia ra đời sau thắng lợi của cuộc cách mạng do ĐCS Việt Nam lãnh đạo, nó không thể không để lại dấu ấn của ĐCS Việt Nam, không thể không phản ánh văn hóa chính trị được hình thành trên một nửa thế kỷ qua, trong đó có hệ thống bầu cử, ứng cử – vai trò của chính quyền các cấp, Mặt trận Tổ quốc – trong hiệp thương, dự kiến – định hướng cơ cấu đại biểu thuộc các nhóm xã hội yếu thế như phụ nữ, dân tộc thiểu số, hình thức tiếp xúc cử tri…

Tin rằng những người cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, thông minh để hiểu rằng, họ phải làm gì để giữ vững niềm tin của nhân dân đối với mình, nhưng chắc chắn đó không phải là biện pháp du nhập mô hình dân chủ, nhân quyền của phương Tây, mà các thế lực thù địch đang cố tình gieo rắc, áp đặt./.

(Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân)

cpv.org.vn