Thư viện

Quan điểm sai trái về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

(ĐCSVN) Vấn đề nhân quyền đã trở thành tiêu điểm trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay, ngoại trừ những người có thiện ý muốn bảo vệ nhân quyền cho các dân tộc, còn có những kẻ ác ý muốn lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào nội bộ các quốc gia. Họ vu cáo, dựng lên những câu chuyện hoang đường về đàn áp tôn giáo, dân tộc thiểu số để gây chia rẽ nội bộ, kích động nổi loạn ở các quốc gia khác. Trong nhiều năm nay, Hạ Nghị sĩ Smith, Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ liên tục đưa ra cái gọi là dự thảo “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” và năm nào cũng bị thất bại.

Ngày 14/7/2004, Hạ viện Mỹ đã tổ chức điều trần để thông qua “Dự luận Nhân quyền Việt Nam 2004 ” – có số hiệu HR.1587 do Hạ nghị sĩ Xmít – Phó Chủ tịch UB Đối ngoại Hạ viện đệ trình.

Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2004 nhấn mạnh, trong năm qua “không có tiến bộ nào trong việc giải quyết thoả đáng đối với các trường hợp được coi là tù nhân chính trị và hoạt động tôn giáo tại Việt Nam; còn đàn áp tự do tôn giáo, với những vụ ngược đãi tín đồ Phật giáo, Công giáo…”; “Đàn áp người Thượng biểu tình ở Tây Nguyên”; Phá rối sóng đài châu á tự do”.

Dự luật HR.1587 yêu cầu: hàng năm, Tổng thống phải chứng nhận tiến bộ hoặc thiếu sót của Việt Nam trong những vấn đề nêu trên. Và đặt các điều kiện cho việc nhận khoản viện trợ không phải nhân đạo, Việt Nam phải:

+ Đạt được tiến bộ quan trọng trong việc trả tự do cho các tù nhân chính trị và tôn giáo đang bị giam giữ.

+ Đạt tiến bộ trong tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tham gia các hoạt động tôn giáo mà không bị chính quyền cản trở, trả lại các tài sản nhà thờ mà Chính phủ chiếm giữ. Cho phép người dân Việt Nam tham gia các hoạt động giành cho người tỵ nạn của Mỹ.

+ Phải đạt được tiến bộ trong việc tôn trọng nhân quyền đối với dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và Tây Bắc.

Khác với trước đây, trong cuộc tranh luận năm nay có một số Hạ nghị sĩ Mỹ đã có thay đổi thái độ theo hướng tích cực hơn đối với Việt Nam. Và đây cũng là lần đầu tiên tại Hạ viện Mỹ đã có những ý kiến ủng hộ Việt Nam khá mạnh mẽ, cho thấy kết quả vận động, đấu tranh của ta có ý nghĩa và hiệu quả thiết thực. Một số Hạ nghị sĩ như Ivơn, Si-mon, Côn bê… cho rằng, việc thông qua “Dự luật nhân quyền 2004” không phải là một giải pháp tích cực mà làm tổn hại đến quan hệ 2 nước.

Ngày 15/9 trong báo cáo về nhân quyền toàn cầu, Bộ Ngoại giao Mỹ lại xếp Việt Nam là nước thuộc các quốc gia đặc biệt quan tâm theo đạo luật đặc biệt tự do tôn giáo quốc tế

Thực ra, từ lâu, các thế lực thù địch đã có âm mưu sử dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp, thực hiện ý đồ phá hoại cách mạng nước ta. Họ tổ chức nhiều hội nghị, đưa ra nhiều bản phúc trình. Họ vu cáo Việt Nam là “điển hình của đàn áp tôn giáo và người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên”. Họ đòi Việt Nam phải thả hết “tù nhân lương tâm”. Các báo cáo hàng năm của Bộ ngoại giao Mỹ về vấn đề nhân quyền đều tăng trang để vu cáo và bôi nhọ vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.
Ai cũng biết rằng, đế quốc Mỹ đã từng gây chết chóc cho nhân dân Việt Nam bằng cuộc chiến tranh tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại. Xa hơn nữa, họ cũng đã từng gây ra các cuộc chiến tranh thế giới làm hàng chục triệu người. Họ đã từng áp bức các dân tộc thuộc địa, áp bức các người da màu, họ cũng đã từng đàn áp bóc lột ngay công dân trên đất nước họ. Khi xâm lược các nước làm thuộc địa, chủ nghĩa đế quốc đã gây ra biết bao đau khổ tang tóc cho các dân tộc. Chỉ riêng cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc chủ nghĩa quân phiệt đã giết chết 21 triệu người Trung Quốc. Chỉ một kế hoạch của kẻ thù, 2,5 triệu người Việt Nam chết đói. Chính những thế lực đã đem trên 3 triệu lượt lính, hàng triệu tấn bom đạn, hàng triệu lít chất độc để giết hại dân thường và môi trường sống của Việt Nam trong những năm 1954 – 1975, thì ngày nay lại lớn tiếng hơn ai hết về cái gọi là bảo vệ quyền con người ở Việt Nam. Thực tế đã chứng minh nước vi phạm nhân quyền nhất thế giới, xâm lược, diệt chủng tàn bạo nhất thế giới, lại được coi là “xuất khẩu nhân quyền”.

Mỹ là quốc gia điển hình về phân biệt chủng tộc. Người Mỹ da đen chiếm 13% dân số, nhưng chiếm có 5% trong số các quan chức. Tỷ lệ thất nghiệp người da đen gấp 2 lần người da trắng. Số người da đen bị kết án tử hình gấp 4 lần người da trắng.

Nước Mỹ xâm phạm thô bạo quyền của các nước khác trên thế giới. Chỉ trong 10 năm cuối của thế kỷ XX, Mỹ đã gây ra 40 cuộc chiến tranh để trừng phạt những quốc gia không phục tùng Mỹ. Chính vì vậy, mà năm 2001, Mỹ đã bị gạt ra khỏi Uỷ ban nhân quyền của Liên hợp quốc. Ngày 22/9/2004, Tổ chức Ân xá quốc tế đã ra tuyên bố trong đó có đoạn: “Mỹ không đủ tư cách để nhận xét nhân quyền các nước”.

Nhìn lại chặng đường lịch sử hơn 70 năm qua của dân tộc Việt Nam, chúng ta có thể tự hào hẳng định rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhân dân Việt Nam đã lập nên những chiến công vĩ đại mang ý nghĩa lịch sử và thời đại; góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ nhân quyền trên thế giới.
Cuộc Cách mạng Tháng tám thành công, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam á, đưa dân tộc ta từ kiếp nô lệ thành người làm chủ, góp phần xoá bỏ chủ nghĩa thực dân trên toàn cầu.

Đánh thắng các cuộc chiến tranh tàn bạo của những tên đế quốc, phản động hung bạo nhất bảo vệ hoà bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, góp phần quan trọng làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên toàn thế giới.

Chúng ta nhận thức rằng, hiện nay các quyền cơ bản của con người như quyền được sống, quyền bình đẳng, mưu cầu hạnh phúc được ghi trong các bản Tuyên ngôn dân quyền của nước Mỹ (1776), Tuyên ngôn nhân quyền của nước Pháp (1789), các quyền chống áp bức, độc lập dân tộc, bảo vệ môi trường được ghi trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc (1948), các công ước quốc tế 1960 về quyền chính trị – dân sự – kinh tế xã hội văn hoá vv… là thành quả đấu tranh trong nhiều thế kỷ của nhân dân lao động. Những quan niệm mới nhất về nhân quyền thể hiện trong Báo cáo về phát triển con người toàn cầu thì tự do văn hoá là một quyền cơ bản của con người… Xét trên bình diện đó thì Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn vào sự nghiệp bảo vệ quyền con người. Chúng ta không những đã thực hiện mà còn góp phần vào việc phát triển các quan điểm về nhân quyền, Liên hợp quốc đã công nhận sự đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ nhân quyền của Hồ Chí Minh khi phát triển quyền tự do cá nhân thành quyền độc lập dân tộc được nêu trong bản Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945. Hồ Chí Minh viết: “Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Việt Nam đã đóng góp vào thành quả bằng cuộc chiến đấu gian khổ vì độc lập dân tộc. Chúng ta cũng đã ký và phê chuẩn nhiều công ước quốc tế về nhân quyền. Ta là nước thứ 2 trên thế giới ký vào Công ước về quyền trẻ em 1989, ta cũng là nước thực hiện chính sách nhân đạo sau chiến tranh. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp tử hình 5.000 người cộng tác với đối phương. Chúng ta đã không tử hình một người nào trong số 98.000 người trong lực lượng của kẻ thù chống lại nhân dân, trong đó có rất nhiều tên có nợ máu.

– Tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những thành tựu vĩ đại này là những cống hiến quan trọng của dân tộc ta vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển quyền con người. Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao trên thế giới (bình quân trên 7%/năm). Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã có mức thu nhập bình quân 480 USD (2003), cả nước có 23 triệu người đi học, đã phổ cập tiểu học và trên 1/3 số tỉnh phổ cập trung học cơ sở, tuổi thọ bình quân 69,1. Vị trí HDI của Việt Nam đã đứng thứ 122 trên 177 quốcgia. Việt Nam được Liên hợp quốc thừa nhận đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc xoá đói, giảm nghèo, mỗi năm tạo được 1,5 triệu chỗ làm, tỷ lệ hộ nghèo từ 18% năm 2000 giảm xuống còn 9,5% năm 2003, tôn trọng quyền của các dân tộc thiểu số, tôn trọng tự do tín ngưỡng.

Các nghị quyết Trung ương lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của nhân dân, đạo đức của tôn giáo phù hợp với chủ nghĩa xã hội. Do đó việc tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Các nghị quyết nói trên cũng đã nêu rõ chính sách đại đoàn kết dân tộc của Việt Nam. “Hiện nay, trên đất nước Việt Nam sinh hoạt tôn giáo đang diễn ra tốt đẹp”1. Tự do tôn giáo: Hiện nay, cả nước có 20 triệu người theo các tôn giáo. Có sáu tôn giáo chính và 60 loại tín ngưỡng, tôn giáo Kinh, chính thống đang tự do hoạt động. Nhà nước Việt Nam đã giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, chỉ riêng năm 2000 đã chi 20 tỷ đồng để nghiên cứu phục hồi văn hoá Cồng chiêng ở Tây Nguyên. Hiện nay, hàng năm Chính phủ cấp ngân sách cho các tỉnh ở Tây Nguyên trên 5.000 tỷ đồng để đầu tư phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng.

– Thực hiện tự do báo chí. Cả nước có hơn 650 tờ báo, năm 2001, chúng ta đã in 600 triệu bản báo, 270 triệu bản sách, 155 triệu bản sách giáo khoa. Đang phấn đấu mỗi người dân đạt bình quân 4 cuốn sách/đầu người.

– Về đối ngoại Việt Nam đã có quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, đã hy sinh để cứu nhân dân Campuchia khỏi hoạ diệt chủng.

Có thể nói, một trong những thành tựu của Việt Nam là đã đem lại nhân quyền cho Mỹ. Theo nhóm nghị sĩ vì quan hệ Mỹ – Việt thì Việt Nam và Mỹ đã xây dựng được mối quan hệ mới trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Tính đến tháng 5 – 2004 Việt Nam và Mỹ đã tiến hành 93 đợt tìm kiếm chung và đã tìm được 822 di vật của các binh sĩ Mỹ còn bị mất tích trong chiến tranh (MIA), xác định được thi hài của hơn 500 binh sĩ Mỹ và trao trả cho gia đình họ. Việt Nam đã cho phép Mỹ tiếp cận hồ sơ lưu trữ liên quan đến vấn đề MIA. Việc làm nhân đạo đó, phải chăng đã làm dịu bớt nỗi đau cho nhân dân Mỹ. Đó là một thành tựu nhân nhân quyền lớn của Việt Nam.

Đó là những thành tựu về nhân quyền ở Việt Nam mà không ai có thể bác bỏ được. Việt Nam đang được giới thiệu vào vị trí uỷ viên uỷ ban Nhân quyền thế giới.

Vậy thì tại sao, những kẻ vi phạm nhân quyền lại lớn tiếng đòi nhân quyền ở những người đang bảo vệ nhân quyền? Thực ra, từ lâu họ đã vẫn theo đuổi mục tiêu thống trị toàn thế giới. Một trong những biện pháp giành quyền đó là sử dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào nội bộ các nước.

Dày công nghiên cứu, các thế lực thù địch nhận ra rằng, chính những người cộng sản là những người triệt để bảo vệ nhân quyền, song vì nền dân chủ XHCN mới ra đời, trong những điều kiện kinh tế xã hội còn phức tạp cho nên về cơ chế cũng như luật pháp bảo đảm cho nền dân chủ còn chưa hoàn chỉnh, ở nơi này, nơi khác còn có những thiếu sót. Chính họ tìm mọi cách khoét sâu những thiếu sót đó, xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ để tạo ra, tạo dựng những lực lượng chính trị đối lập nhằm xoá bỏ XHCN từ bên trong. Còn đối với các nước khác, kể cả đối với các chính quyền do họ dựng lên, nhưng khi có biểu hiện không phục tùng, họ cũng bị Mỹ lật đổ bằng các thế lực đối lập.

Thủ đoạn của chúng là tách riêng một số yếu tố của quyền con người, khuếch đại yếu tố đó lên. Ví dụ họ chỉ ra rằng nhân quyền mang tính nhân loại, tính toàn cầu. Tự do chính trị là cốt lõi của nhân quyền, còn kinh tế là thứ yếu. Họ làm cho người ta hiểu nhầm rằng: quyền con người chỉ có thế, rồi tác động vào các tầng lớp nhân dân nhằm tạo ra những lực lượng chống đối, thù địch với chính quyền.

Đối với nước ta, họ tâng bốc người này hay người kia như là những chiến sĩ bảo vệ nhân quyền, họ đòi thả người này, người nọ đã bị bắt vì vi phạm pháp quyền, họ đấu tranh cho các thế lực ly tâm. Trong bản “Đạo luật về nhân quyền ở Việt Nam” năm 2001 đã ghi rõ: Những nạn nhân gần đây của tình trạng ngược đãi này, thể hiện sự vi phạm quyền tự do biểu đạt và tự do lập hội được Tuyên ngôn toàn cầu về nhân quyền công nhận. Hiện nay, các thế lực phản động đang kích động một số người Thượng ở Tây Nguyên vượt biên trái phép sang Campuchia để chuẩn bị lâu dài chống phá ta, đồng thời vu cáo Việt Nam đàn áp người thiểu số ở Tây Nguyên. Chúng cố tình gây chia rẽ trong nội bộ, dùng sức ép kinh tế đổi lấy tự do cho dân chủ không giới hạn cũng chỉ là nhằm mục tiêu tạo dựng những lực lượng đối lập, những ngọn cờ nhằm dẫn tới đa nguyên chính trị, tiến tới chia cắt đất nước, hòng thành lập Nhà nước Đề-ga độc lập, nhà nước Khơ me tự do, Nhà nước Mông Đông Dương…Họ lợi dụng mạng Internet để vu cáo, bịa đặt bôi nhọ Đảng và Nhà nước ta, bịa đặt ra vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Tinh thần cảnh giác của nhân dân ta, những thành tự về nhân quyền của Việt Nam đã làm thất bại âm mưu thâm độc đó.

Những điều về cái gọi là vấn đề nhân quyền Việt Nam đã bị chính những người Mỹ có lương tri phản bác. Ông Andoe Sauvageot thành viên Ban Cố vấn thương mại Mỹ – Việt Nam đã khẳng định vào tháng 12-2003 “Tình hình nhân quyền ở Việt Nam tương đối tốt trong 192 quốc gia trên thế giới, Việt Nam về cơ bản là một đất nước vị tha đối với mỗi công dân của mình, cho dù họ thuộc sắc tộc nào, hay tôn giáo nào. Phụ nữ người dân tộc thiểu số đang chiếm tỷ lệ cao trong đại biểu Quốc hội”. Ông viết tiếp: “Người Việt Nam đang được hưởng 100% quyền tự do tôn giáo của mình. Đạo Phật, đạo Cơ đốc, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Hoà Hảo và đạo Cao Đài, tất cả đều đang được quyền tự do hoạt động. Không có áp lực nào đối với bất cứ hoạt động tôn giáo nào”./.

Minh Thư
cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Hai 2, 2012, in Chính luận.

Sự sai trái của quan điểm “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”

“Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, ”Nhân quyền không biên giới”, ”Chủ quyền hạn chế”, ”Can thiệp nhân đạo”… là những cách diễn đạt khác nhau của cùng một tư tưởng lý luận và ý đồ chính trị của các thế lực cực hữu phương Tây dùng dân chủ, nhân quyền làm công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước XHCN và các quốc gia đi theo con đường độc lập dân tộc.

Để bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, chúng ta cần phân tích luận điểm này một cách có hệ thống trên cả hai bình diện: tư tưởng chính trị và pháp lý quốc tế.

Xét về tư tưởng chính trị, quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Tất cả các quốc gia dân tộc đều có những đóng góp vào giá trị đó. Quyền con người là thành quả của các cuộc đấu tranh: đấu tranh giai cấp, chống áp bức, bóc lột; đấu tranh giành độc lập dân tộc và đấu tranh chống lại sự suy thoái về đạo đức, lối sống, hướng đến sự hoàn thiện phẩm giá con người. Với chúng ta, bảo đảm quyền con người chân chính thuộc bản chất của chế độ xã hội XHCN của Đảng và của Nhà nước ta.

Nói đến ”quyền” là nói đến pháp luật. Nói đến pháp luật không thể không nói tới vai trò của Nhà nước.

Là một dân tộc có bề dày lịch sử và một nền văn hiến rực rỡ, có truyền thống nhân đạo, bảo vệ con người, vào thế kỷ XI, dưới thời nhà Lý, chúng ta đã có “Bộ luật hình”. Trong đó đã có nhiều điều bảo vệ quyền con người – tất nhiên còn nhiều hạn chế bởi các điều kiện kinh tế và quan điểm giai cấp. Vào thời nhà Lê, thế kỷ XV, chúng ta có bộ luật ”Quốc triều hình luật”, còn gọi là bộ luật “Hồng Đức”. Bộ luật có tới 712 điều, trong đó không chỉ chứa đựng những quy phạm xã hội tiến bộ mà còn thể hiện những tư tưởng nhân đạo, nhân quyền sâu sắc như bảo vệ quyền của bị can, bị cáo, tư tưởng về bình đẳng trước pháp luật, về quyền của phụ nữ, về sự khoan dung đối với người già và người chưa thành niên…

Như vậy, có thể nói, trong xã hội nô lệ, phong kiến tuy chưa có chế định quyền con người, nhưng đã có những chế định pháp luật có nội dung bảo vệ con người.

Chủ nghĩa Mác- Lênin đã đặt quyền con người vào trong tiến trình lịch sử, rằng, những quyền đó gắn liền với Nhà nước và pháp luật. Quyền con người, do đó không thể không in dấu ấn giai cấp, nhất là khi vận dụng nó trong cuộc đấu tranh giai cấp cũng như đấu tranh giành độc lập dân tộc. Quyền con người đã từng là vũ khí đấu tranh của giai cấp tư sản nhằm lật đổ sự thống trị bởi vương quyền, thần quyền và dùng để củng cố địa vị thống trị của mình.

Xét trên phương diện pháp lý quốc tế trước khi tổ chức Liên hợp quốc ra đời, quyền con người chỉ tồn tại trong Luật Hiến pháp, có nghĩa chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong phạm vi nội bộ của mỗi quốc gia. Từ khi Liên hợp quốc thành lập (1945) cùng với Hiến chương Liên hợp quốc và các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người ra đời, quyền con người đã trở thành một chế định trong Luật quốc tế. Từ đây, quyền con người được bảo đảm bởi cả hai cơ chế, cơ chế quốc gia và cơ chế quốc tế. Đây chính là cơ sở lịch sử – chính trị của luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền”.

Cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người gồm những yếu tố sau:

– Hệ thống các cơ quan bảo vệ quyền con người của Liên hợp quốc bao gồm: Đại hội Đồng Liên hợp quốc; Hội đồng kinh tế – xã hội, Ủy ban nhân quyền, Cao ủy nhân quyền, các ủy ban nhân quyền của một số công ước… Hội đồng Bảo an cũng có vai trò quan trọng, là tổ chức ra quyết định có can thiệp bằng quân sự khi xuất hiện tình trạng vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, phổ biến ở một quốc gia nào đó không?

– Cùng với sự ra đời hệ thống các cơ quan nhân quyền là hệ thống các văn kiện pháp lý về quyền con người, đó là Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, các công ước quốc tế về quyền con người, đặc biệt là hai công ước – Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966). Ngày nay, giới lý luận xem Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và hai công ước trên là ”Bộ luật quốc tế về quyền con người”.

Bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” cần phân tích mối quan hệ giữa độc lập dân tộc, quyền dân tộc tự quyết với cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người.

V.I.Lênin đã đề cập tới quyền dân tộc tự quyết trên tinh thần cách mạng và khoa học. Người nói:

”Quyền dân tộc tự quyết có nghĩa là sự phân lập của các dân tộc đó, với tư cách là quốc gia, ra khỏi tập thể các dân tộc khác, có nghĩa là sự thành lập một quốc gia dân tộc độc lập”. Người còn nhấn mạnh, quan điểm của chủ nghĩa xã hội đối với các dân tộc bị áp bức là: ”Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải lập nên chế độ dân chủ hoàn toàn và do đó, không những làm cho các dân tộc hoàn toàn bình đẳng với nhau, mà còn thực hành quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức”. Thực tiễn lịch sử ghi nhận, nhà nước Xô-viết đã giành quyền dân tộc tự quyết cho các dân tộc chung sống trong Liên bang cộng hòa XHCN Xô-viết bao gồm cả quyền tách khỏi Liên bang như trưởng hợp Phần Lan.

Tiếp nối và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin về quyền dân tộc tự quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong “Tuyên ngôn độc lập”, không chỉ nói đến ”quyền phân lập” với ”mẫu quốc” mà nhấn mạnh đến quyền đấu tranh giành độc lập dân tộc, đồng thời khẳng định dân tộc Việt Nam có đủ điều kiện và quyết tâm bảo vệ nền độc lập đó. Điều đó có nghĩa, Việt Nam không cần đến cái gọi là ”chế độ quản thác” của bất cứ ai, kể cả Liên hợp quốc.

Sau “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam 15 năm, vào những năm 60 của thế kỷ XX, cộng đồng quốc tế mới chính thức thừa nhận quyền dân tộc tự quyết trong “Văn kiện Tuyên ngôn về trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa”. Điều này còn được khẳng định lại trong hai công ước: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966.

Với hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966, Tuyên bố Viên và Chương trình hành động, 1993, quyền dân tộc tự quyết chẳng những được khẳng định trong Luật quốc tế nói chung mà còn là quyền tập thể trong hệ thống quyền con người. Các văn kiện nói trên còn lưu ý rằng, việc bảo đảm các quyền con người trước hết thuộc trách nhiệm của các quốc gia.

Như vậy là luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” trên phương diện Luật quốc tế, không có căn cứ bởi vì chủ thể của Luật quốc tế là các quốc gia, chứ không phải là các cá nhân. Không phủ nhận rằng, trong Luật quốc tế về quyền con người, tư cách pháp lý của cá nhân cũng có thể được xác lập với điều kiện có sự cam kết của các chính phủ tham gia Nghị định thư không bắt buộc thứ nhất. Song, cho đến nay, Việt Nam và nhiều quốc gia chưa thừa nhận Nghị định thư này. Xét về nội dung việc bảo đảm các quyền con người ở mỗi quốc gia theo Công ước quốc tế còn phải căn cứ vào các điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi nước. Pháp luật quốc tế không cho phép bất cứ quốc gia nào hay tổ chức quốc tế nào được phép can thiệp vào vấn đề nhân quyền của mỗi nước. Những mâu thuẫn hoặc khác biệt nào đó giữa các quốc gia trên lĩnh vực này chỉ có thể được giải quyết trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và đối thoại xây dựng.

Nhằm ngăn chặn ý đồ thông qua vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia cũng như việc áp đặt hệ tư tưởng tư sản, đại diện của Liên Xô đã bác bỏ những đề xuất ban đầu của Tiểu ban soạn thảo Tuyên ngôn ở một số điểm sau:

Thứ nhất, bác bỏ khái niệm ”Công ước” quốc tế về quyền con người mà thực chất là Bộ luật quốc tế về quyền con người Nói cách khác là bác bỏ tính ràng buộc về mặt pháp lý của Văn kiện này. Cuối cùng các thành viên đã nhất trí tính chất của văn bản là ”Tuyên ngôn”, một văn kiện không ràng buộc về mặt pháp lý.

Thứ hai, bác bỏ tư cách cá nhân của các thành viên tham gia Tiểu ban soạn thảo, thay vào đó là tư cách đại diện của mỗi quốc gia.

Thứ ba, mặc dù không đưa ra nguyên tắc đa số hay đồng thuận, song trên thực tế, nguyên tắc đồng thuận là nguyên tắc làm việc của Tiểu ban (vì lúc đó trong Tiểu ban chỉ có một đại diện của Nhà nước XHCN – đó là Liên Xô).

Thứ tư, về nội dung các quyền, đại diện Nhà nước Xô-viết bác bỏ quan điểm tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và quyền tự do cá nhân… thay vào đó là sự bảo đảm hài hòa giữa các quyền dân sự, chính trị với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa… Tuy nhiên, văn kiện này đã để ”ngỏ” vấn đề chủ quyền quốc gia.

Mặc dù còn một số hạn chế, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người vẫn là một Văn kiện chứa đựng những tư tưởng lớn, tiến bộ, có giá trị bền vững trên lĩnh vực quyền con người. Hiện nay, cùng với Hiến chương Liên hợp quốc, Văn kiện này được tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, mặc nhiên thừa nhận và xem đó như một Văn kiện mang tính đạo lý và có tính pháp lý mà các quốc gia cần phải tôn trọng.

Vào thập kỷ 60, thế kỷ XX do phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã thu được những thành tựu to lớn, chủ nghĩa đế quốc không thể phát động chiến tranh xâm lược, Hoa Kỳ đã đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình đối với các nước XHCN. Ngoại giao nhân quyền được xem là phương thức quan trọng của chiến lược đó.

Luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” là một trong những nội dung cơ bản của cuốn sách “Ngoại giao nhân quyền” do D.Niu sơn viết và xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1966. Các lực lượng cầm quyền Hoa Kỳ cho rằng, hệ tư tưởng tư sản với tự do, dân chủ nhân quyền là thế mạnh của họ. Hoa Kỳ có thể giành được ưu thế chính trị nếu biết dựa trên quan niệm dân chủ, nhân quyền trong hoạt động đối ngoại.

Chính sách ngoại giao nhân quyền của Hoa Kỳ lấy quan niệm dân chủ, nhân quyền của họ ”làm nền tảng”. Tùy theo tương quan lực lượng và điều kiện khách quan, chủ quan mà họ đề cập tới vấn đề nhân quyền với quốc gia nào và ở mức độ nào. Đôi khi Hoa Kỳ đặt vấn đề nhân quyền là điều kiện tiên quyết để thiết lập và duy trì quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, bản chất ngoại giao nhân quyền là dùng khái niệm dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Trên lĩnh vực tư tưởng, ngoại giao nhân quyền hướng vào phê phán, bài bác các quan điểm nhân quyền mác-xít, truyền bá quan điểm nhân quyền tư sản nhằm làm biến đổi ý thức hệ Mác-Lênin từ đó làm thay đổi tận gốc chế độ xã hội XHCN ở các quốc gia, áp đặt một xã hội theo ”hình ảnh” của họ.

Trong chiến lược ”diễn biến hòa bình”, ngoại giao nhân quyền là một vũ khí lợi hại của chủ nghĩa đế quốc. Vào những năm 1918 – 1922, khi nước Nga Xô-viết vừa ra đời, đứng giữa vòng vây và cuộc can thiệp quân sự của nhiều nước đế quốc nhưng nước Nga Xô-viết vẫn tồn tại và phát triển. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồng quân Liên Xô là lực lượng chủ yếu đánh bại chủ nghĩa phát xít, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, đồng thời còn góp phần giải phóng cho nhiều dân tộc khác. Thế nhưng, với chiến lược truyền bá tư tưởng ”dân chủ”, ”công khai”, ”đa nguyên, đa đảng”, ”nhân quyền”… các thế lực đế quốc đã làm sụp đổ ý thức hệ Mác-Lênin ở Liên Xô, Đông Âu. Đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ một bộ phận quan trọng của hệ thống XHCN vào những năm 1989 – 1991.

Sau khi Liên Xô tan rã, các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, đế quốc Mỹ thúc đẩy chiến lược ”diễn biến hòa bình” và ngoại giao nhân quyền, sử dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Năm 1991, Hoa Kỳ dùng quân sự can thiệp vào cuộc chiến tranh Irắc – Côoét. Năm 1999, Hoa Kỳ và NATO kiếm cớ bảo vệ nhân quyền của người An-ba-ni xâm lược Nam Tư. Năm 2001 , họ xâm lược Áp-ga-ni-xtan và năm 2003 họ xâm lược I-rắc cùng với những lý do dân chủ, nhân quyền.

Đối với Việt Nam, sau khi buộc phải rút quân, Hoa Kỳ đã áp dụng nhiều chiến lược phá hoại, từ các ”kế hoạch hậu chiến”, nuôi dưỡng những phần tử có hận thù với cách mạng, xây dựng lực lượng chính trị, quân sự trong nước và ngoài nước… đến việc đưa biệt kích xâm nhập nội địa, mưu toan gây bạo động chính trị, vực dậy lực lượng phản động trong nước… nhưng họ đã bị thất bại. Trong mục tiêu chiến lược đánh đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kịch bản ”diễn biến hòa bình”, dựa trên lợi dụng dân chủ, nhân quyền như đã từng diễn ra ở Liên Xô, Đông Âu (1989 – 1991) được xem là phương thức chủ yếu, là điều mong muốn nhất của họ.

Khác với các giai đoạn trước đây, điểm mới trong chiến lược ”diễn biến hòa bình” cũng là điểm mới trong việc sử dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” của Hoa Kỳ là song song với việc truyền bá hệ tư tưởng tư sản, lối sống, văn hóa là áp đặt pháp lý đơn phương nhằm gây khó khăn, từng bước làm biến đổi chế độ xã hội ta.

Liên tiếp từ năm 2001 đến nay, không kể Báo cáo nhân quyền hàng năm, lực lượng cực hữu Hoa Kỳ đã áp đặt nhiều Dự luật đối với Việt Nam, mở đầu là ”Đạo luật nhân quyền Việt Nam”, HR2368, tiếp đó là Hạ viện bang Viếc-gi-ni-a thông qua đạo luật cho phép công sở treo cờ ba sọc của ngụy quyền Sài Gòn, rồi đến ”Dự luật thúc đẩy tự do thông tin 1019”, ”Dự luật nhân quyền Việt Nam 2003”, HR1587 và ”Một số khoản bổ sung Dự luật chi đối ngoại của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ năm 2004 – 2005”, HRI950 – trong đó, họ đòi Việt Nam phải phóng thích tất cả tù nhân ”chính trị và tôn giáo” và yêu cầu Chính phủ Mỹ cung cấp tài chính cho đài phát thanh châu Á tự do, cho lực lượng ”đấu tranh” dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam…

Có thể nói về chiến lược của chủ nghĩa đế quốc hiện nay là lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, lợi dụng luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” để can thiệp vào vấn đề dân tộc, tôn giáo, phá hoại đại đoàn kết toàn dân tộc làm trọng tâm; lấy việc xây dựng tổ chức, tạo dựng ngọn cờ và gây bạo loạn chính trị, tạo cớ móc nối với các thế lực bên ngoài làm khâu đột phá.

Ảo tưởng thành lập ”Nhà nước Đêga độc lập” ở Tây Nguyên, ”Nhà nước Khmer Rôm” ở Tây Nam Bộ; ”Vương quốc H’mông tự trị” ở Tây Bắc; ”Vương quốc Chăm” ở Nam Trung Bộ cùng với mưu đồ xây dựng các tổ chức chính trị đội lốt tôn giáo phi pháp như ”Tin Lành Đêga”, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, ”Ủy ban liên tôn đấu tranh vì tự do tôn giáo”… là những kịch bản đầy tham vọng của họ.

Bác bỏ luận điểm ”Nhân quyền cao hơn chủ quyền” trong bối cảnh chính trị quốc tế hiện nay, chúng ta cần nhận thức đầy đủ, toàn diện về mục tiêu, chiến lược cách mạng của Đảng, về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời chúng ta cần nắm chắc đặc điểm của tình hình quốc tế liên quan đến cuộc đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người.

Như trên đã trình bày, đặc điểm của tình hình quốc tế liên quan tới quyền con người hiện nay đó là sự hình thành cơ chế quốc tế bảo vệ quyền con người với hệ thống các cơ quan nhân quyền rộng lớn có sự tham gia (ở những mức độ khác nhau) của các thành viên Liên hợp quốc. Hiện nay, Việt Nam đang là một thành viên tích cực. Chúng ta đã tham gia Ủy ban nhân quyền và đang tiếp tục ứng cử làm thành viên ủy ban này trong nhiệm kỳ tới. Các chuẩn mực cơ bản về quyền con người, được xem như Bộ luật quốc tế đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

Ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ đã hình thành tổ chức nhân quyền khu vực bao gồm cả Tòa án Nhân quyền. Nhân quyền đang trở thành mối quan tâm chung của cả cộng đồng quốc tế.

Trong điều kiện cơ chế quốc tế đã hình thành, hiện nay, giải quyết những vấn đề nhân quyền chúng ta cần phải tính đến các nhân tố quốc tế. Cuộc đấu tranh chống ”diễn biến hòa bình” nói chung, đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ nhân quyền là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Cuộc đấu tranh này cần phải phục vụ cho mục tiêu nhiệm vụ của chiến lược cách mạng hiện nay: xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế, văn hóa đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế, bảo vệ quốc gia và an ninh xã hội.

Trong khi kiên quyết và kiên trì cuộc đấu tranh chống ”diễn biến hòa bình”, bảo vệ vững chắc hệ tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh bảo vệ vững chắc chế độ chính trị, an ninh quốc gia, chúng ta cần phải chống lại âm mưu và thủ đoạn bôi nhọ, hạ thấp hình tượng cao đẹp của Việt Nam đã hình thành trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc. Chúng ta có thể và cần phải đấu tranh chống lại âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền cô lập Việt Nam, cản trở và ngăn chặn Việt Nam hội nhập với cộng đồng quốc tế.

Để giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, chúng ta phải chủ động; hợp tác trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, đối thoại bình đẳng. . . Đồng thời, giải quyết ngày càng tốt hơn các quyền công dân và quyền con người cho người đần; xử lý kiên quyết đối với những phần tử cơ hội, phản động trong nước và đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thể lực thù địch nước ngoài./.

Theo Cao Nguyên, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận tháng 5/2005
cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Hai 2, 2012, in Chính luận.

Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh suy nghĩ về vấn đề dân chủ

Để có một nền dân chủ thật sự, trước hết phải thực hành dân chủ, một trong những khía cạnh quan trọng của thực hành dân chủ là để mọi người được tham gia thảo luận, tranh luận một cách bình đẳng. Cho nên, tổ chức các cuộc họp, các cuộc Hội nghị ở cơ quan, đơn vị thực chất là để thực hiện sự lãnh đạo tập thể và nguyên tắc sinh hoạt dân chủ trong cơ quan cũng như trong tổ chức Đảng. Thế nhưng trong thực tế ở nơi này, nơi khác đã tổ chức nhiều cuộc họp, Hội nghị để bàn bạc những nội dung, những nhiệm vụ quan trọng của cơ quan, của tổ chức cơ sở đảng nhưng thực tế vẫn thiếu dân chủ, vẫn là dân chủ hình thức.

Bởi vì, mặc dù vấn đề được đưa ra bàn trong các cuộc họp, các cuộc Hội nghị, nhưng có những đồng chí lãnh đạo lại nghĩ rằng, cán bộ cấp dưới  là người chịu sự lãnh đạo của mình. Do đó, bàn thì cứ bàn cho phải phép, cho có vẻ dân chủ, để trên khỏi chê, dưới khỏi trách, thậm chí có những việc hệ trọng nhưng không cần bàn bạc trong ban lãnh đạo, cứ theo ý mình mà kết luận và quyết định. Mặt khác, trong điều hành đôi khi có nhiều vấn đề bị hợp thức hóa bằng tập thể lãnh đạo. Đây là vấn đề cần phải được chấn chỉnh.

Thực tế đã chỉ rõ, thực hành dân chủ là chìa khóa giải quyết mọi khó khăn và tìm ra nhiều giải pháp hay để phát triển xã hội, “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”(1), đồng thời, chỉ có tin tưởng gắn bó với nhân dân, với đồng nghiệp thì mới thấy ở đó những sáng kiến vĩ đại, những con đường, biện pháp, lực lượng để đổi mới, đem lại hiệu quả cao trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Chỉ có thực hành dân chủ, coi việc nước là việc chung, mọi người cùng lo toan thì sẽ tìm thấy sáng kiến hay và lòng hăng hái của mọi ngưới sẽ được nhân lên gấp bội.

Theo Bác, “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”(2) Vì thế, trong họp, Hội nghị có những ý kiến khác nhau là chuyện bình thường, bởi đoàn kết của chúng ta là đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh Chính trị và Điều lệ Đảng, do đó, không nên tìm lý do để gạt đi những ý kiến đối lập, càng không nên giữ thành kiến dai dẳng đối với những người đưa ra ý kiến đó, vì như vậy sẽ làm cho cái dân chủ trên thực tế bị hạn chế, từ đó trong những cuộc họp, Hội nghị ý kiến thảo luận, tranh luận sẽ trở thành tẻ nhạt, xuôi chiều, những suy nghĩ sáng tạo, có căn cứ khoa học và thực tiễn sẽ không được ủng hộ. Như thế, nội dung của các cuộc họp, Hội nghị mang tính một chiều, Nghị quyết chung chung thiếu tính cách mạng tiến công.

Thực tế cho thấy, đối với những cán bộ, đảng viên có bề dầy kinh nghiệm trong thực tiễn nếu biết khai thác, biết phát huy và được tập hợp lại chắc chắn sẽ là nguồn sức mạnh vô tận, tạo nên trí tuệ, sức sáng tạo chung của cơ quan, đơn vị. Là người lãnh đạo một cơ quan, đơn vị đòi hỏi phải có tâm, có tầm, phải nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và những quy định có tính nguyên tắc có liên quan đến lĩnh vực mà mình phụ trách; Phải nghiên cứu thật kỹ, phải xem xét và giải quyết đúng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn với mỗi giai đoạn phát triển cụ thể của từng sự vật và hiện tượng, từng con người cụ thể với những biện pháp hết sức cụ thể; Phải chịu khó lắng nghe ý kiến của mọi người chung quanh, nhất là những người kế cận; phải bàn bạc, cân nhắc thận trọng để đưa ra quyết định đúng đắn. Chúng ta đều biết trong thảo luận, tranh luận sẽ có những ý kiến không hoàn toàn giống nhau, và đó là cơ sở giúp cho lãnh đạo nhìn nhận sự vật, hiện tượng khách quan hơn, trên cơ sở đó đề ra kết luận chính xác hơn. Là cán bộ, đảng viên thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, đấu tranh là để đi đến sự thống nhất cao hơn trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, và đó là quy luật phát triển của Đảng.

Tuy nhiên, nội dung của thực hành dân chủ phải xuất phát từ động cơ trong sáng, công tâm, khách quan, có tình, có lý. Vì đây là lợi ích chung chứ không phải tìm cách soi mói. Cho nên, chúng ta cũng phê phán những ý kiến thiếu tinh thần xây dựng, những ý kiến lợi dụng phê bình để đả kích cá nhân, nói xấu lẫn nhau, những tranh luận không tôn trọng nguyên tắc, thiếu tình thương yêu đồng chí, đồng nghiệp, vì như vậy là trái với bản chất của vấn đề dân chủ, là vi phạm Điều lệ Đảng, là dân chủ quá trớn dân chủ cực đoan, dẫn đến tự do tùy tiện, xem thường tập thể. Vì thế, dân chủ trong Đảng là dân chủ có lãnh đạo, có tính nguyên tắc. Nói cách khác, dân chủ của ta là dân chủ có định hướng.

Do đó, trong mỗi tập thể dù nhỏ, muốn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất thật sự, phải thực hành tốt dân chủ, nếu lãnh đạo cơ quan, đơn vị thiếu tôn trọng Nghị quyết của Cấp ủy, coi thường kết luận của tập thể, điều hành  như thế thì bao công sức, trí tuệ của cán bộ, đảng viên đã góp ý trong cuộc họp trở thành vô nghĩa và như vậy cũng có nghĩa Nghị quyết, kế hoạch chỉ dừng lại trên trang giấy, không thực hiện hoặc thực hiện nhưng nội dung bị méo mó không còn nguyên vẹn. Như thế, cho dù có tổ chức nhiều cuộc họp nhưng vẫn cứ thiếu dân chủ.

Thực tiễn chứng minh, nơi nào không thực hiện tốt vấn đề dân chủ đều dẫn đến bất lợi cho tổ chức, đều cản trở bước tiến của cách mạng, nếu không dám nhìn thẳng vào sự thật để tìm cách khắc phục, dần dần nó sẽ triệt tiêu sức sáng tạo và tinh thần đấu tranh xây dựng của tập thể, tạo nên một lối sống an phận, nắng bề nào che bề nấy, đây là mảnh đất tốt để cho chủ nghĩa cá nhân phát triển và thực tế nơi nào thực hiện tốt phát huy dân chủ thật sự thì nơi đó sẽ động viên được tất cả mọi người tham gia đưa cách mạng đi đến thắng lợi. Do đó, cán bộ đảng viên phải chăm lo nhiều đến lề lối làm việc dân chủ, tác phong quan sát, sâu sát thực tế. Cho nên khi đã tổ chức cuộc họp, Hội nghị thì phải bàn cho ra lẽ, bàn xong phải có kết luận dứt khoát, phân định rõ đúng, sai. Trên cơ sở kết luận thông qua được tập thể đồng tình thì hình thành Nghị quyết. Khi chỉ đạo thực hiện, phải nói và làm theo đúng tinh thần của Nghị quyết. Nếu làm trái với Nghị quyết thì các cuộc hội, họp dẫu có bàn sâu đến đâu, kéo dài bao lâu đi chăng nữa cũng chỉ là dân chủ hình thức, dân chủ giả hiệu.

Chú thích:

(1): Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, Tập 6, tr 174

(2): Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd… t10, tr118).

Theo Phan Thị Hữu Hạnh
Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị
T
am trang (st)

bqllang.gov.vn

“Dân chủ, nhân quyền” – chiêu bài đã lỗi thời của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam

Chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” đã được các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam sử dụng từ lâu, dù “nhai đi, nhai lại” họ vẫn không thể lừa bịp được nhân dân Việt Nam.

Trong lúc nhân dân Việt Nam đang phấn khởi, tự hào với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 20 năm đổi mới toàn diện đất nước, hăng hái thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì các thế lực thù địch tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Một trong những thủ đoạn của chúng là dùng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”.

Cái gọi là “dân chủ, nhân quyền” mà các thế lực thù địch thường rêu rao, đâu phải dân chủ, nhân quyền theo đúng nội hàm của khái niệm này. Đây là một mưu toan, một chiêu bài mà các lực lượng thù địch tuyên truyền, xuyên tạc, bôi nhọ Việt Nam trên trường quốc tế, gây rối, chia rẽ, tạo ra tình trạng mất đoàn kết trong nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, con bài “dân chủ, nhân quyền” còn được họ sử dụng như một công cụ trong chính sách đối ngoại, thông qua đó lấy cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Không ai có thể phủ nhận một thực tế: quyền con người là một giá trị phổ biến, có tính toàn cầu. Song, quyền con người còn là một giá trị lịch sử, gắn với điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi dân tộc, quốc gia, mỗi khu vực trên thế giới. Quan niệm của phương Tây về lợi ích cá nhân và quan niệm của phương Đông về lợi ích của dân tộc, của cộng đồng là những quan niệm rất khác nhau và do vậy, không thể áp đặt cho nhau.

Một số nước phương Tây đã và đang dùng chiêu bài quyền con người để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Họ tự cho mình có quyền “can thiệp nhân đạo” và quảng bá quan niệm “quyền con người không có biên giới”, “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để phủ nhận quyền của các dân tộc, nhất là quyền tự quyết định vận mệnh hay tự lựa chọn con đường phát triển của các dân tộc. Một điều đã trở thành chân lý: các quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền, và công việc nội bộ của mỗi quốc gia phải do quốc gia ấy tự quyết định, không thể có quốc gia nào đó tự coi mô hình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của mình là khuôn mẫu, rồi đem áp đặt “khuôn mẫu” này cho các quốc gia khác.

Chủ quyền là quyền thiêng liêng của mỗi quốc gia dân tộc. Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, người Việt Nam hiểu rất rõ giá trị đích thực của chủ quyền dân tộc, độc lập dân tộc và quyền tự do dân tộc. Công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam không ngoài mục đích đem lại độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho cộng đồng và đương nhiên là cho mỗi con người với giá trị cao nhất là quyền con người.

Trong “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Lời bất hủ ấy ở trong Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Thật vậy, con người không thể có quyền tự do, sung sướng, không thể được bảo đảm nhân quyền theo nghĩa đích thực của từ này, nếu như họ sống trong một đất nước chưa giành được độc lập, tự do. Nước không được độc lập, tất yếu dân không thể có tự do. Một dân tộc còn nằm dưới ách thống trị của ngoại bang thì tự do, hạnh phúc đối với dân tộc ấy chỉ là một ước mơ. Độc lập dân tộc là điều kiện, cơ sở cho việc bảo đảm quyền con người. Rõ ràng, quan niệm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là chiêu bài mà các thế lực thù địch thường dùng làm cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước có chủ quyền.

Nhân dân Việt Nam đã trải qua bao năm chiến tranh ròng rã, đã tốn biết bao xương máu để giành lại độc lập, tự do, dân chủ cho chính mình từ tay những kẻ xâm lược cùng bọn tay sai của chúng, không lẽ ngày nay lại dại dột trao lại quyền tự do, dân chủ cho chính những kẻ chiến bại và vẫn còn đang ôm hận thất bại ấy, để chúng quay trở lại tước quyền sống, quyền tự do, dân chủ của mình một lần nữa? Còn nhân quyền ư? Những kẻ đã trắng trợn, ngạo mạn chà đạp lên nhân quyền của nhân dân Việt Nam và nhân dân nhiều quốc gia khác đâu có đủ tư cách để phán xét về nhân quyền! Họ nói rằng mình là người tôn trọng độc lập, tự do, dân chủ, nhân quyền ư? Thực tế, đâu phải thế. Chính họ đã và đang nhúng tay vào việc lật đổ những chính quyền được nhân dân trực tiếp bầu ra một cách hợp hiến; chính họ đã và đang dùng vũ lực để tấn công vào các quốc gia độc lập, có chủ quyền, tàn sát những người dân vô tội chỉ vì chính quyền của các quốc gia ấy tỏ ra không phù hợp với “khẩu vị” của họ. Tất cả những điều đó đang phơi bày trước nhân dân toàn thế giới. Vì vậy, những luận điệu của họ không lừa bịp nổi ai, trừ một số kẻ vì tâm địa, mưu đồ đen tối mà không dám nhìn thẳng vào sự thật, không muốn thấy đúng sự thật mà thôi! Chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” mà những thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam cố bám lấy để chống phá cách mạng Việt Nam giờ đây đã trở nên quá lỗi thời.

Nhân dân Việt Nam đang được sống trong độc lập, tự do, dân chủ với tất cả quyền con người của mình. Nền dân chủ của Việt Nam đang được thực hiện thông qua Hiến pháp và pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nhà nước Việt Nam luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và dân là người quyết định thành quả lao động của mình. Người dân Việt Nam đã và đang tích cực triển khai thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển mọi tiềm lực của nhân dân để phát triển đất nước, phấn đấu “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại.

Bộ máy, cơ chế hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, đang được đổi mới gắn liền với cải cách hành chính, nhằm khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Tuy còn có những mặt hạn chế, còn nhiều thách thức mà nhân dân Việt Nam đang phải đối mặt và phấn đấu để vượt qua, nhưng tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, mặt thành tựu vẫn là cơ bản. Thế nhưng, các thế lực thù địch tiếp tục dấy lên chiến dịch “nhân quyền” với âm mưu xuyên tạc, bôi nhọ, phá hoại cách mạng Việt Nam. Thực chất, đó là hành động kích động, lừa phỉnh một số người nhẹ dạ, cả tin, tạo ra cớ để phê phán Việt Nam về dân chủ, nhân quyền.

Gần đây, dư luận xã hội Việt Nam đã phê phán những lời bình luận mang tính kích động về tình hình thực hiện dân chủ ở Việt Nam của Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ Lo-rét-ta Xan-chét và Nghị quyết liên quan đến một số đối tượng chống lại Nhà nước Việt Nam của Hạ viện Mỹ (ngày 2-5-2007). Dư luận cho rằng, những hành vi không phù hợp của bà L. Xan-chét trong thời gian ở thăm Việt Nam và nội dung của Nghị quyết nói trên là không có lợi cho sự phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.

Tiếp tục chính sách hận thù, các thế lực thù địch đã lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” để kích động một số phần tử cơ hội, biến chất trong nước gây rối, tạo cơ hội gây bạo loạn, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Đó là sự can thiệp thô bạo, trắng trợn và nghiêm trọng vào công việc nội bộ của Việt Nam – một quốc gia độc lập, có chủ quyền.

Từ quan niệm sai trái “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, các thế lực thù địch đã sử dụng chiêu bài “nhân quyền” để thực hiện mưu đồ thống trị, bá chủ thế giới. Tự cho mình là “quan tòa”, “cảnh sát quốc tế” đi dạy người khác về nhân quyền, song sự thực, họ đang sử dụng “nhân quyền” làm cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác.

Các quốc gia dân tộc đều có đặc điểm riêng về lịch sử, văn hóa, xã hội, truyền thống và bản sắc, trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau nên đều có quan niệm và tiêu chí về dân chủ, nhân quyền riêng của mình. Dân tộc Việt Nam từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thu được những thành tựu có ý nghĩa thời đại: từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; từ một nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, nay đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là những thành tựu vĩ đại, có tầm quan trọng chiến lược, mở ra thời kỳ phát triển mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó cũng chính là những thành tựu dân chủ, nhân quyền cơ bản nhất mà nhân dân Việt Nam đã giành được, không ai có thể phủ nhận.

Chúng ta luôn luôn khẳng định, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của cách mạng nước ta; mục tiêu ấy phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và nguyện vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam. Chúng ta hoàn toàn hy vọng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam sẽ bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Chúng ta tin tưởng chắc chắn vào thành tựu dân chủ, nhân quyền do chính mình xây dựng. Chúng ta coi trọng và biết ơn sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, đồng thời cũng cho rằng, đã qua lâu rồi thời kỳ những nước đang phát triển cần các nước phát triển đến “khai sáng”. Ai đó cũng như các lực lượng thù địch của cách mạng Việt Nam muốn “chọc gậy bánh xe”, muốn đi ngược dòng lịch sử, nhất định sẽ thất bại, nhất định sẽ bị lịch sử đào thải và lên án.

Theo Tapchicongsan dien tu
cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Một 22, 2012, in Chính luận.

Sự can thiệp thô bạo khoác áo nhân quyền

Nhân quyền (quyền con người) là giá trị của nền văn minh nhân loại, là thành quả của quá trình đấu tranh gian khổ và lâu dài vì tự do, công bằng, hoà bình và phát triển. 

Tuy nhiên, lĩnh vực quyền con người hiện đang bị một số lực lượng chính trị bá quyền lợi dụng như là một ngọn cờ tập hợp lực lượng hòng can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia độc lập, có chủ quyền. Bởi vậy, quyền con người đang trở thành vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp trong đời sống chính trị quốc tế hiện nay.

Mỹ và một số nước phương Tây lớn tiếng rêu rao ”nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, ”nhân quyền không biên giới”.

Vậy thực chất cái gọi là ”nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, ”nhân quyền không biên giới”… ở đây là gì ?

Đó chính là chiêu bài mà Mỹ và một số nước phương Tây đừng làm cái cớ để ”can thiệp nhân đạo” vào công việc nội bộ các nước có chủ quyền. Dưới ngọn cờ ”nhân quyền”, Mỹ và các nước phương Tây muốn áp đặt ”nhân quyền” mang màu sắc siêu cường của họ lên các nước khác. Nếu không chấp nhận quan niệm giá trị đó họ sẽ tìm mọi cách gây sức ép bằng kinh tế, chính trị, công nghệ… uy hiếp vũ trang, thậm chí, lật đổ hoặc áp đặt bằng vũ lực. Có thể nói, thực chất đó là những hành động của chủ nghĩa thực dân mới ngày nay, núp dưới danh nghĩa bảo vệ ”nhân quyền” của Mỹ và phương Tây.

Trên thực tế, từ năm 1990 đến nay, núp dưới ngọn cờ ”nhân quyền”, Mỹ đã hơn 40 lần sử dụng vũ lực đối với một nước. Đặc biệt, cuối tháng 3 năm 1999, NATO do Mỹ cầm đầu đã phớt lờ luật pháp quốc tế, ngang nhiên bỏ qua Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, oanh tạc Nam Tư – một quốc gia có chủ quyền suốt 78 ngày. Bốn năm sau, (3/2003) một lần nữa, Mỹ- Anh lại bất chấp Liên hợp quốc, tiến công Irắc với cái cớ ”I-rắc có vũ khí huỷ diệt hàng loạt”.

Nếu quả thật nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia, thì phải chăng vì nhân quyền có thể không cần đến chủ quyền ? Và không có chủ quyền quốc gia thì căn cứ vào đâu họ nhân danh quốc gia có ”nhân quyền” can thiệp vào quốc gia ”vi phạm nhân quyền”, căn cứ vào đâu để xác định sự tồn tại của một quốc gia độc lập? Và khi chủ quyền của một quốc gia – dân tộc bị xâm phạm và chà đạp thì nhân quyền của quốc gia dân tộc đó có còn được bảo đảm hay không ? Và thử hỏi, liệu có thể có những vụ ném bom mang tính nhân đạo hay không, nhất là khi nhiều vụ ném bom ”nhầm” vào khu dân cư, phá huỷ bệnh viện, trường học, những công trình dân sinh… giết chết hàng trăm người dân vô tội, khiến bao gia đình tan nát hoặc lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Thử hỏi, những giá trị nhân quyền của Mỹ và các nước phương Tây ở đây là gì ?

Là một dân tộc từng bị chủ nghĩa thực dân cũ và mới xâm lược, áp bức, hơn ai hết chúng ta hiểu sâu sắc rằng khi 1à ”vong quốc nô” thì không thể có nhân quyền, và chỉ khi nào giành được độc lập dân tộc thì mới có được những quyền cơ bản của con người. Một quốc gia không có hoặc chưa có chủ quyền thì không thể nói đến nhân quyền, đến ”quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc”. Ngược lại, nước độc lập mà nhân dân không đủ cơm ăn, áo mặc, không được học hành thì độc lập, tự do cũng chẳng nghĩa lý gì, nền độc lập đó không thể bền vững.

Như vậy, chủ quyền quốc gia và nhân quyền có mối quan hệ biện chứng, làm tiền đề tồn tại và phát triển cho nhau. Chủ quyền quốc gia 1à điều kiện tiên quyết, cơ bản để thực hiện đầy đủ nhân quyền và một khi nhân quyền được thừa nhận và phát triển thì đó là nền tảng của tự do, công bằng và hoà bình. Vì lẽ đó, không thể có cái gọi là ”nhân quyền cao hơn chủ quyền”.

Đã từ lâu, Mỹ đã theo đuổi và sử dụng ngoại giao nhân quyền như là một chính sách cơ bản trong chiến lược ”diễn biến hoà bình” nhằm chống phá các nước XHCN, trong đó có Việt Nam. Sau thất bại ở Việt Nam, Mỹ càng đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện chính sách ngoại giao nhân quyền để chống phá nước ta. Ngày 19/10/1982, Bộ Ngoại giao Mỹ tổ chức Hội nghị ”Lên án sự vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam”. Tháng 12/1983, Bộ Ngoại giao Mỹ trình Quốc hội Mỹ rằng, Việt Nam là một nước không có nhân quyền. Ngày 8/12/1991, Quốc hội Mỹ lên tiếng phản đối Việt Nam vi phạm nhân quyền. Ngày 6/9/2001, Hạ viện Mỹ thông qua Dự luật nhân quyền Việt Nam (VHRA), nhưng không được Thượng viện Mỹ thông qua. Đặc biệt, ngày 15/7/2003,Hạ viện Mỹ đã thông qua điều khoản bổ sung cho Dự luật chi tiêu đối ngoại của Bộ ngoại giao Mỹ trong năm tài chính 2004-2005 (HR. 1950), gắn các điều kiện về nhân quyền với viện trợ không liên quan đến mục đích nhân đạo cho Việt Nam.

Sau gần một tuần thảo luận từ 14/7 đến 19/7/2004, Hạ Nghị viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu với 232 phiếu thuận, 45 phiếu chống, 65 không bỏ phiếu, thông qua cái gọi là luật Nhân quyền Việt Nam năm 2004 mang số hiệu H.R.1587.
Cái gọi là ”Luật Nhân quyền Việt Nam” năm 2004 hay còn gọi là hồ sơ H.R.1587 gồm 3 chương, trong đó liệt kê 10 điều xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, áp đạt điều kiện vô lý cho việc cải thiện quan hệ hữu nghị và hợp tác đang trên đà phát triển theo chiều hướng thuận giữaViệt Nam và Hoa Kỳ. Tệ hại hơn, dự luật này còn đề nghị dành một quỹ đặc biệt để khuyến khích việc gây ra tình hình bất ổn về chính trị ở Việt Nam.

Mỹ tự cho mình cái quyền phán xét tình hình nhân quyền của các nước khác, trong khi chính Mỹ đang bị dư luận chỉ trích vì vi phạm nhân quyền và bị các nước đồng loạt gạt khỏi Ủy ban nhân quyền của Liên hiệp quốc trong cuộc bỏ phiếu tại Hội đồng kinh tế-xã hội (ECOSOC) (3/5/2001). Điều mỉa mai là nước luôn đòi ”can thiệp nhân đạo” vào công việc nội bộ của các nước khác để giải quyết vấn đề nhân quyền, thì chính họ lại vi phạm nhân quyền nhiều nhất. Ngày 1/3/2004, Văn phòng Quốc Vụ viện Trung Quốc đã công bố báo cáo “Về quyền con người ở Mỹ năm 2003”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh, sau sự kiện ngày 11/9, dưới chiêu bài chống khủng bố, chính phủ Mỹ đã ra hàng loạt đạo luật vi phạm quyền và sự tự do của công dân.

Ở Mỹ hiện có không ít người không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản của con người và quyền sống của con người bị đe dọa bởi chính sách bóc lột, đàn áp, bởi tệ phân biệt chủng tộc, bởi bạo lực tràn lan và các tệ nạn xã hội. Các số liệu thống kê cho thấy, năm 2002 số người không có chỗ ở của Mỹ đã vượt quá con số 3 triệu, những người giàu chỉ chiếm 1% dân số lại nắm trong tay tổng số tài sản vượt quá tổng tài sản của 40% dân số, có đến 21.500 nhóm mafia với 731.000 thành viên, có khoảng 200 triệu cây súng đang lưu hành trong dân, 11,9 triệu vụ án giết người, hiếp dâm, cướp bóc. Gần đây, nhiều vụ việc cảnh sát hành hung người da đen ngay trên đường phố mà không bị xét xử nghiêm minh, cho thấy sự phân biệt chủng tộc vẫn còn nặng nề. Trong tháng 4,5 vừa qua, trên phương tiện thông tin đại chúng đang rộ lên hình ảnh lính Mỹ ngược đãi tù binh I-rắc đang làm hoen ố hình ảnh nước Mỹ và đương kim Tổng thống Buts. Về điều này, ông uỷ viên Hội đồng thành phố New York – Wenden Photxto, đã phải thừa nhận rằng, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là đặc trưng của nền pháp lý Mỹ. Nó là bệnh ung thư đang tàn phá chúng ta. Hãy dẹp bỏ câu chuyện hoang đường rằng nước Mỹ là xứ sở của nhân quyền và tự do.

Ở Việt Nam, đảm bảo và phát triển quyền con người đã là một mục tiêu chính trị chủ đạo và nhất quán trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Đường lối nhất quán và xuyên suốt từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến sự nghiệp đổi mới đất nước và tất cả vì sự nghiệp giải phóng con người, vì quyền con người đích thực. Đường lối này là kết tinh những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quyền con người. Không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận như là một tuyên ngôn chính trị, quyền con người đã và đang được thể chế hoá và hiện thực hóa trong đời sống thực tiễn ở Việt Nam, nhất là trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.

Cho đến nay, chúng ta đã có được một hệ thống văn bản pháp luật tương đối toàn diện về bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Cùng với việc khẳng định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2, Hiếnpháp năm 1992 đã được sửa đổi năm 2001), Hiến pháp còn xác định cách thức thực hiện quyền làm chủ trên thực tế. ”Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân” (Điều 53). Hiến pháp còn quy định những quyền công dân hết sức cụ thể: quyền bầu cử và ứng cử, quyền miễn nhiệm đối với đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, quyền khiếu nại, tố cáo, các quyền tự do về báo chí, ngôn luận, hội họp, lập hội…

Bên cạnh đó, công tác thông tin cho cử tri về hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là truyền hình trực tiếp (hoặc truyền thanh) về các phiên họp của cơ quan dân cử; công tác tiếp xúc cử tri; việc tổ chức các đợt góp ý kiến của nhân dân về các dự án luật; việc ban hành và đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở… là những tiền đề hết sức quan trọng trong việc đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, trong việc xây dựng nền dân chủ XHCN.

Đảm bảo và phát huy quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân sẽ làm tăng khả năng hiện thực của việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, trình độ phát triển kinh tế, những điều kiện sinh hoạt vật chất luôn là nền tảng và mang tính quyết định đối với việc hiện thực hoá và mở rộng các quyền con người, quyền công dân. Thực tế hơn 17 năm đổi mới vừa qua cho thấy, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến phát triển kinh tế và xem đây là nhiệm vụ trung tâm. Việc thừa nhận và thể chế hoá trong Hiến pháp 6 thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay chính là sự tôn trọng và khuyến khích những người có năng lực và điều kiện tham gia phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng.

Bên cạnh chú trọng nâng cao đời sống vật chất, Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm chăm lo đời sống tinh thần của nhân dân, đặc biệt là trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Những năm qua, nhiều lễ hội và ngày lễ lớn của các tôn giáo, các kỳ đại hội và hoạt động lớn của các tôn giáo được tổ chức trọng thể ở mọi miền của Tổ quốc trong không khí trang nghiêm, an toàn, thu hút hàng vạn tín đồ tham gia.

Thống kê cho thấy: ở Việt Nam hiện có khoảng 10 trường đại học tôn với hàng ngàn tăng ni sinh, chủng sinh, sinh viên đang theo học.

Hầu hết các cơ sở thờ tự của tôn giáo đều được xây dựng, duy tu, bảo dưỡng…

Nhìn tổng quát, những nỗ lực và thành tựu cơ bản trên đây có tính chất nền tảng và bao trùm trên tất cả những lĩnh vực chủ yếu về quyền con người như: chính trị, dân sự, kinh tế-xã hội, văn hoá ở Việt Nam hiện nay.

Điều đó, một mặt, chứng minh sự quan tâm đặc biệt và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo các quyền con người, quyền công dân, nhưng mặt khác, khẳng định tính tôn trọng và tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế về quyền người mà Nhà nước Việt Nam đã tham gia ký kết, phê chuẩn. Đồng thời, chính thực tiễn đầy sức thuyết phục đó đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt vu cáo trong vấn đề nhân quyền của các thế lực thù địch.

(Theo Võ Công Khôi
Phân viện Đà Nẵng
Tạp chí Tư tưởng-Văn hóa, tháng 8/2004)

cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Một 18, 2012, in Chính luận.

Thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN

Tuyên bố khẳng định các nước ASEAN cần tăng cường hợp tác và hữu nghị để thúc đẩy hòa bình, ổn định và hòa hợp ở khu vực.

Ngày 18/11, tại Thủ đô Phnom Penh, Campuchia, Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố Phnom Penh thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (AHRD).

Tuyên bố Nhân quyền ASEAN là văn kiện chính trị đầu tiên của ASEAN nhằm tạo khuôn khổ chung cho tăng cường hợp tác ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền ở khu vực, với những ý nghĩa quan trọng.

Tuyên bố thể hiện nguyện vọng, quyết tâm và nỗ lực của người dân và Chính phủ các nước thành viên xây dựng một Cộng đồng ASEAN hướng tới người dân; khẳng định cam kết của ASEAN tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ  các quyền cơ bản của con người cũng như phấn  đấu nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân khu vực như đã nêu trong Hiến chương ASEAN.

Tuyên bố thể hiện cam kết của ASEAN trong thúc đẩy thực hiện Tuyên bố Nhân quyền ASEAN phù hợp với các nguyên tắc đề ra trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế, Tuyên bố và Chương trình Hành động Viên và các văn kiện quốc tế về nhân quyền khác mà các quốc gia thành viên ASEAN đã tham gia.

Tuyên bố khẳng định lại  các giá trị nhân quyền chung, đi đôi với coi trọng các giá trị và đặc thù của ASEAN và các quốc gia trong khu vực, quyền đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm trước cộng đồng, qua đó đóng góp vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người.

AHRD bao gồm các phần: i) Phần mở đầu, ii) Các nguyên tắc chung, iii) Các quyền dân sự và chính trị, iv) Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, v) Quyền phát triển, vi) Quyền hưởng hòa bình, và vii) Hợp tác thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền; với 40 Điều.

Phần mở đầu khẳng định lại các mục đích, nguyên tắc trong Hiến chương ASEAN; nhấn mạnh cam kết đối với Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền (UDHR), Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên bố và Chương trình hành động Viên…; khẳng định AHRD sẽ góp phần xây dựng khuôn khổ hợp tác nhân quyền ở khu vực và đóng góp vào tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN.

Phần các nguyên tắc chung nêu các nguyên tắc như bình đẳng, không phân biệt đối xử, quyền được công nhận, bảo vệ trước pháp luật, đối xử cân bằng giữa các quyền, cân bằng giữa quyền và trách nhiệm; tôn trọng đặc thù khu vực và sự đa dạng về thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, lịch sử… của mỗi nước cũng như pháp luật và trật tự xã hội trong thực thi nhân quyền; bảo đảm các nguyên tắc không thiên vị, khách quan, không chính trị hóa vấn đề nhân quyền…

Các quyền dân sự và chính trị bao gồm các quyền được sống; quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân, quyền không bị nô dịch và buôn bán; quyền không bị tra tấn; quyền tự do đi lại, cư trú, tị nạn; quyền sở hữu tài sản; quyền có quốc tịch; quyền hôn nhân và gia đình, quyền được xét xử công bằng và bảo vệ trước pháp luật; quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân; quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do hội họp; quyền ứng cử, bầu cử trên cơ sở nội luật của mỗi nước.

Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, bao gồm các quyền về việc làm, lập và tham gia công đoàn; hạn chế sử dụng lao động trẻ em; quyền đối với các dịch vụ xã hội cơ bản (lương thực, y tế, vệ sinh…); quyền nâng cao thể chất và chăm sóc sức khỏe; giúp đỡ và chống kỳ thị với người mắc bệnh truyền nhiễm; quyền hưởng an sinh xã hội và giáo dục; chăm sóc, bảo vệ bà mẹ và trẻ em; quyền văn hóa; nhấn mạnh việc thực hiện các quyền kinh tế-xã hội-văn hóa cần phù hợp với khả năng và điều kiện của các quốc gia thành viên.

Phần về quyền phát triển khẳng định quyền phát triển là  thành tố quan trọng của nhân quyền, trong đó mỗi người có quyền tham gia, đóng góp và thụ hưởng công bằng các thành quả và lợi ích của phát triển; nêu các biện pháp thu hẹp khoảng cách phát triển, thúc đẩy phát triển bền vững và đồng đều ở khu vực nhằm phục vụ và nâng cao cuộc sống của người dân khu vực.

Tuyên bố khẳng định mỗi cá nhân và các dân tộc ở khu vực đều có quyền hưởng hòa bình; các nước ASEAN cần tăng cường hợp tác và hữu nghị để thúc đẩy hòa bình, ổn định và hòa hợp ở khu vực.

Phần hợp tác thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền khẳng định mong muốn, cam kết của các nước thành viên trong tăng cường hợp tác về nhân quyền./.

Theo Chính phủ
vov.vn

Phía sau sự bịa đặt Nhân quyền ở Việt Nam – 1

… Những năm gần đây, một bộ phận trong chính giới Mỹ đang tận dụng tối đa sự “lấn lướt” để áp đặt những “giá trị Mỹ” trên phạm vi toàn cầu, trong đó, Việt Nam là một trọng điểm. Cái lý của họ là nước Mỹ có nền kinh tế phát triển, khoa học công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới, lại là nơi có “Nữ thần tự do” nên họ cho rằng, cần thiết hơn bao giờ hết, chứng tỏ cho thế giới biết phải tuân thủ những giá trị Mỹ mà người Mỹ đã tạo dựng.

Đối với Việt Nam, họ tự cho mình cái quyền ban hành một số bộ luật, dự luật trừng phạt đối với các hành vi gọi là “vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo” ở Việt Nam. Những năm qua, chính quyền Mỹ ban bố nhiều bộ luật với chế tài mang tính áp đặt vô lý, tự cho mình quyền “trừng phạt đối với các nước vi phạm” như Dự luật chống đàn áp tôn giáo (1995), Luật HR.2431- Quyền tự do tôn giáo quốc tế (1998), Luật HR.3194 – Ngân sách tổng hợp (1999), Dự luật HR.2833 – Nhân quyền Việt Nam 2001, Dự luật HR.1587 – Nhân quyền Việt Nam 2003, Dự luật HR.1950 – Chi tiêu đối ngoại (2003), Dự luật HR.1019 – Tự do thông tin tại Việt Nam 2003, Dự luật HR.1587 – Nhân quyền Việt Nam (7/2004). Điều đáng chú ý là trong các luật hoặc dự luật này đều chứa đựng điều khoản liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Thực chất việc cho ra đời các “bộ luật” trên là nhằm tính toán, lợi dụng vấn đề của nhân quyền như: dân chủ, tôn giáo, dân tộc, tự do thông tin… để gây áp lực chính trị đối với các nước nói chung và Việt Nam nói riêng bằng thủ đoạn “luật hoá nhân quyền”, chứ không phải là đấu tranh cho nhân quyền đích thực như họ quảng bá.

Năm 2000, Uỷ ban Tự do Tôn giáo quốc gia Hoa Kỳ đưa ra một báo cáo đề nghị Bộ Ngoại giao quản lý “các nước đặc biệt lo ngại” theo Luật Tự do tôn giáo quốc tế và cho rằng: “Việt Nam là một trong số các nước cần phải giám sát chặt chẽ vì chính quyền có nhiều vi phạm về tự do tôn giáo…”. Hạ viện Mỹ thông qua Hiệp định thương mại kèm theo Đạo luật Nhân quyền Việt Nam (2001); Chính phủ Mỹ vẫn đều đặn đưa ra các báo cáo thường niên gọi là Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế. Bộ Ngoại giao Mỹ công bố bản Báo cáo về tình hình nhân quyền năm 2002 của gần 200 quốc gia, tuy Việt Nam không nằm trong số các nước cần đặc biệt quan tâm, nhưng vẫn bị chỉ trích rằng: “Thành tích về nhân quyền của Chính phủ Việt Nam năm 2002 vẫn ít ỏi và tiếp tục có những vi phạm nghiêm trọng”.

Từ đầu năm 2001 đến nay, Uỷ ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã ba lần tổ chức điều trần ở cơ quan lập pháp về vấn đề “tự do tôn giáo”. Họ mời một số phần tử phản động, cực đoan người Việt Nam tham dự. Từ diễn đàn này, những thông tin xuyên tạc vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam và một số nước được đưa ra bàn thảo. Những cuộc điều trần trở thành nơi vu cáo nhân quyền và đi đến kết luận của kịch bản là: yêu cầu Chính phủ thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam, kêu gọi các nước chống Việt Nam. Uỷ ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ nhiều lần tổ chức họp báo để vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, vi phạm “nhân quyền”; đề nghị Mỹ đưa Việt Nam vào “danh sách các nước đặc biệt quan tâm”…

Cùng với việc ban bố các luật, thông qua nhiều nghị quyết, báo cáo, tuyên bố, tổ chức điều trần, họp báo… các thế lực thù địch còn lập ra những tổ chức để theo dõi tình trạng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo ở các nước, trong đó có Việt Nam. Họ khuyến khích vật chất cho những ai cung cấp tài liệu về “đàn áp tôn giáo”, đồng thời, tìm cách hỗ trợ các nhóm phản động, cực đoan phát triển lực lượng để thực hiện ý đồ chống phá lâu dài. Khi xảy ra các “điểm nóng”, họ thường tìm mọi cách để có thể đến hiện trường, nắm tình hình và thu thập thông tin chuẩn bị cho đợt vu cáo mới về cái gọi là “Việt Nam vi phạm nhân quyền”.

Các thế lực thù địch tiếp tay cho các phần tử chống đối người Việt ở nước ngoài tổ chức nhiều cuộc biểu tình, hội họp để đòi cái mà cho là “nhân quyền” ở Việt Nam.

Thời gian gần đây bọn phản động và cơ hội chính trị trong nước tích cực viết và tán phát tài liệu xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, vu cáo ta vi phạm nhân quyền; tìm cách tụ tập lực lượng người dân tộc thiểu số, kích động chia rẽ đoàn kết dân tộc, kích động ly khai, di cư tự do của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, gây khó khăn phức tạp và tạo cớ để các thế lực thù địch bên ngoài can thiệp. Điều 2.385, cuốn Mỹ quốc pháp điển ghi rõ: “Bất kỳ ai hô hào kích động, khuyến khích lật đổ hay phá rối Chính phủ Mỹ hay các tổ chức chính quyền cấp dưới đều bị tuyên phạt cao nhất tới 20.000 USD hoặc phải ngồi tù 20 năm. Sau khi mãn hạn 5 năm tù cũng không được Chính phủ và các tổ chức khác tin dùng”. Ở Việt Nam, Bộ luật Hình sự quy định khung hình phạt rõ ràng cho tội danh chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều dễ hiểu và bình thường nhất của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng làm như vậy.

Sự thật về chiêu bài “nhân quyền vùng Tây Nguyên Việt Nam” mà các thế lực phản động tung ra là sau khi hỗ trợ nhóm Ksor Kơk kích động đồng bào dân tộc thiểu số gây ra vụ bạo loạn tháng, họ tìm cách tạo ra dòng người vượt biên trái phép sang Campuchia nhằm kéo dài sự bất ổn ở Tây Nguyên. Họ còn sử dụng các tổ chức như Quan sát Nhân quyền thế giới (HRW) vu cáo Việt Nam “đàn áp người thiểu số Tây Nguyên”.

Sự thật về cái gọi là “tự do tôn giáo ở Việt Nam” là một số tín đồ cực đoan tìm cách khôi phục giáo phái “Phật giáo Việt Nam thống nhất” đã bị đào thải trong lịch sử Phật giáo, vu cáo Nhà nước Việt Nam “độc quyền, âm mưu triệt tiêu tôn giáo”, đòi được phục hồi hoạt động của các tổ chức phản động trá hình tôn giáo ở Việt Nam. Hệ quả là: những mâu thuẫn mới nảy sinh trong tôn giáo ở Việt Nam, hòng gây bất ổn chính trị xã hội.

Như vậy thực chất của vấn đề nhân quyền mà các thế lực thù địch đang khuyếch trương, là sự phủ nhận học thuyết Mác Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp, sự vi phạm luật pháp và những điều ước quốc tế về tôn trọng độc lập chủ quyền của các dân tộc. Người ta tìm cách áp đặt giá trị Mỹ vào Việt Nam dưới tấm biển quảng cáo “nhân quyền” chỉ vì lợi ích của họ, chứ hoàn toàn không phải là vì nhân quyền đích thực.

Thực hư của vấn đề nhân quyền ở Việt Nam đã rõ, cuộc đấu tranh chống lại âm mưu cáo buộc “Việt Nam vi phạm nhân quyền” vẫn chưa dừng lại, bởi các thế lực thù địch chưa từ bỏ mà còn gia tăng sức nặng cho lá bài “nhân quyền” trên bàn cờ chính trị quốc tế, nhằm thao túng nhân loại theo hướng có lợi cho họ.

Các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội tiếp tục sử dụng chiêu bài “tự do tôn giáo”, kết hợp lợi dụng vấn đề tôn giáo và vấn đề dân tộc trên các địa bàn nhạy cảm để vừa kích động, vừa hỗ trợ và chỉ đạo lực lượng này tổ chức đấu tranh lâu dài với mưu toan tổ chức đấu tranh chính trị kết hợp với hoạt động vũ trang để vô hiệu hoá chính quyền địa phương, chia sẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Lập trường của Nhà nước và nhân dân Việt Nam là kiên quyết chống lại mọi sự vu khống, đồng thời làm mọi việc để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế vì một thế giới hoà bình, ổn định và phát triển./.

(Trích từ sách Lẽ phải của chúng ta)
cpv.org.vn

Nhân quyền không phải là công cụ phục vụ lợi ích cá nhân hẹp hòi

Sau một loạt các động thái phê phán vô căn cứ và hầu như không quan tâm tới các nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia trong thế giới hiện đại, ngày 19-7-2007, hạ nghị sĩ Hoa Kỳ Chris Smith cùng các dân biểu Ros Lehtinen, Loretta Sanchez, Sali, Rohrabacher, Zoe Lofgren, Wolf, Royce (California), Al Green (Texas), Tom Davis (Virginia) đã đệ trình và được Ủy ban Ðối ngoại Hạ nghị viện Hoa Kỳ thông qua cái gọi là Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2007 (H.R. 3096).

Cho dù để có hiệu lực thực hiện, văn bản này còn phải được thông qua tại các cơ quan lập pháp cao hơn ở Hoa Kỳ, thì sự ra đời của nó lại cho thấy hiện tại ông ta và một vài cá nhân trong chính giới Hoa Kỳ vẫn hành xử theo lối bất chấp sự thật, bất chấp vai trò của luật pháp trong các chế độ chính trị – xã hội khác nhau… và tự cho mình quyền được can thiệp thô bạo, vô lối vào các quốc gia khác trong một thế giới mà tư duy theo kiểu “chiến tranh lạnh” đã trở nên lỗi thời.

Xét đến cùng thì sự ra đời của những văn bản như Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2007 vốn không có gì lạ lẫm, cũng không có gì mới mẻ, đó chỉ là sự nối dài các hành động mà một vài vị dân biểu Hoa Kỳ, vì những động cơ cá nhân đã tiến hành trong các năm gần đây. Nói cách khác, vì số phiếu bầu của một bộ phận cử tri là người Mỹ gốc Việt (không ngẫu nhiên, trong số 9 dân biểu cùng ông hậu thuẫn cho Dự luật nói trên lại có tới 7 vị ở bang California – nơi tập trung phần lớn người Mỹ gốc Việt) họ đã tiến hành những công việc không phù hợp với lương tri, không phù hợp với xu thế hợp tác để phát triển.

Lại nhớ cuối năm 2005, ông Smith đã tới Việt Nam với mục đích: Tìm hiểu tình hình và thúc đẩy việc cải thiện nhân quyền và tự do tôn giáo tại đây”. Về chuyến đi này, ông Ngô Yên Thi, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam khi đó, đã đánh giá khá chân xác trên BBC như sau: “Dường như ông (Chris Smith) tiếp xúc với những người lâu nay thiếu thiện chí và có thành kiến là nhiều hơn. Chúng tôi cũng đã nhận xét rằng, đã nghe thì phải nghe nhiều phía và phải thấy cái toàn thể của Việt Nam”.

Có lẽ với ông Smith, lời khuyên về việc “phải nghe nhiều phía” đã không có tác dụng, do vậy sau cuộc thảo luận tại Ủy ban Ðối ngoại Hạ nghị viện Hoa Kỳ vừa qua, ông ngạo mạn tuyên bố: “Sau khi Nhà nước Việt Nam đã ăn mừng việc chuyển vào một hướng đi mới, thì họ lập tức lục lọi để tìm ra một số trong những người tốt nhất, thông minh nhất và dũng cảm nhất của dân tộc Việt Nam, những người đã lên tiếng thay mặt cho nhân quyền, và ném những người này vào tù. Chiến dịch đàn áp này thật là vô lương tâm. Nghị quyết này cảnh báo cho Nhà nước Việt Nam biết rằng cái đường lối xúc phạm nhân quyền (của họ) sẽ ít nhất bị một vài sự trừng phạt”.

Ðến Việt Nam “để tìm hiểu tình hình và thúc đẩy việc cải thiện nhân quyền và tự do tôn giáo”, ông Smith không đến với số đông dân chúng, mà chỉ cố tiếp xúc với các nhân vật vốn “nổi tiếng” thù nghịch với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, để rồi ca ngợi họ là: “Những người tốt nhất, thông minh nhất và dũng cảm nhất của dân tộc Việt Nam, những người đã lên tiếng thay mặt cho nhân quyền”.
Vậy là chẳng gì khác lắm so với những người có chung luận điệu, ông đã lập lờ sử dụng các khái niệm “nhân quyền” và “bất đồng chính kiến” để che lấp bản chất đích thực của những phần tử đã có hành vi, vi phạm pháp luật chống đối nhà nước, phá hoại ổn định và trật tự xã hội. Là công dân của một nước lớn, lẽ ra ông dân biểu Smith nên dành thời gian tìm hiểu những con người mà ông ca ngợi xem họ là ai, họ đã lợi dụng tinh thần dân chủ của xã hội Việt Nam như thế nào, họ đã khuếch trương thanh thế qua đặc tính “ảo” của internet nhằm gây ra sự ngộ nhận ra sao…

Nhưng ông Smith đã không làm như vậy. Vì mục đích gì, chắc ông Smith rõ hơn ai hết. Ðể nhận diện những con người này, không cần phân tích và chứng minh dài dòng, chỉ xin dẫn lại một số nhận xét đã đăng trên thongluan.org – một diễn đàn “chống cộng” thật sự của người Việt ở nước ngoài, để ông Smith tham khảo:

– Nguyễn Gia Kiểng: “Nguyễn Văn Lý, và Nguyễn Văn Ðài ở Hà Nội, đã là những nạn nhân của các hoạt động đối lập tại hải ngoại: Không chuẩn bị lực lượng rồi đến khi thấy tình thế có vẻ thuận lợi thì cố gắng nắm lấy cơ hội một cách vội vã và vận dụng quá sức anh em trong nước trong một cuộc thi đua xô bồ xem ai làm trước, ai lên tiếng trước, ai thông báo đầu tiên những “tin khẩn”, ai gây được tiếng vang nhiều nhất”.

– Như Hà: “Khi mà người ta cứ vống mãi lên, cứ huyễn hoặc mơ tưởng có một cuộc đổi đời, một cuộc cách mạng sắp xảy ra đến nơi để mà vội khua chiêng gõ mõ, để vội vàng thành lập đảng này hội nọ và dự tính cho một tương lai gần khi mà họ tưởng tượng ra với khuôn mặt mình đang rạng rỡ và oai hùng trên kỳ đài chiến thắng. Trong mơ! Họ huyễn hoặc mơ đến một cuộc cách mạng nhung, cách mạng mầu trong ảo tưởng, họ huyễn hoặc cho một phong trào mang tính tự phát, xô bồ… Họ huyễn hoặc mơ tưởng đến việc cố tình dựng lên một tổ chức “ruột” coi đó là tài sản riêng của mình, nhằm tham gia một vai trong vở diễn Dân Chủ, làm cho vở diễn mang đậm tính bi hài mua vui cho thiên hạ, không biết được mấy trống canh đây! Chuyện lục đục đánh phá lẫn nhau giữa các “lão thành dân chủ” đã làm cho bên ngoài thì khinh thường các “lão thành dân chủ” trong nước; các anh em dân chủ trẻ trong nước thì không còn biết tin ai, nghe ai nên đành nghe và làm theo sự chỉ đạo trực tiếp từ bên ngoài. Từ đấy phong trào không hướng vào bề sâu mà thúc giục nhau diệu võ giương oai, khiêu khích công an, thách đố chính quyền…”.

Các nhận xét trên đây cho thấy những con người “thay mặt cho nhân quyền” mà ông Chris Smith ca ngợi chỉ là một nhóm xô bồ những phần tử cơ hội chính trị. Họ không đấu tranh cho ai, họ chỉ “đấu tranh” cho lợi ích cá nhân của mình mà thôi. Cho nên, trên một website của người Việt ở Ôtrâylia, tác giả Quảng Thiện đã cho rằng: “Yêu nước vốn là bổn phận thiêng liêng của bất cứ người dân của một dân tộc nào. Vì yêu nước nên giả sử có một cách nhìn, một chính kiến, một chính sách khác đối lập với Nhà nước cũng là chuyện bình thường. Tuy nhiên yêu nước kiểu Trần Ích Tắc yêu cầu ngoại bang can thiệp vào nước mình là một hành động không yêu nước chút nào, nếu không nói đó là hành động phản quốc”(6). Cũng ở diễn đàn này, đề cập các “nhà nhân quyền giả hiệu” mà ông Smith đề cao, tác giả Hà Giang có ý kiến khá sòng phẳng: “Không ai muốn trao quyền điều hành quốc gia cho những kẻ mang trong đầu cái tư tưởng làm nô lệ ngoại bang được các thế lực chống Việt Nam tấn phong làm “nhà đấu tranh”; không ai công nhận những kẻ hành xử như là những tên côn đồ chính trị mang mặt nạ “đấu tranh”; không ai chấp nhận những kẻ bất tài, chuyên nói bậy, hay những hạng diễn viên phường tuồng ồn ào bát nháo đội lốt “trí thức”; không ai nhìn nhận những tên phản quốc muốn bay lá cờ ba sọc nhưng đội lốt “đấu tranh cho dân chủ”; và không ai cần đến những kẻ mắc bệnh hoang tưởng đeo nhãn hiệu “nhà dân chủ” lải nhải lảm nhảm xuyên tạc Việt Nam”.

Sau hơn 20 năm đổi mới, nước Việt Nam đã có những bước đi vững chắc hướng về tương lai để đạt tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Vượt qua hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh khốc liệt do người Mỹ gây ra, vượt qua các khó khăn do chính sách “cấm vận”, vượt qua các hạn chế trong tư duy về phát triển…, toàn thể nhân dân Việt Nam sát cánh cùng Ðảng và Nhà nước Việt Nam để xây dựng một cuộc sống mới với nhiều thành tựu mà thế giới đã thừa nhận. Trong bối cảnh ấy, nếu thật sự là người “thay mặt cho nhân quyền”, đáng lẽ các cá nhân được ông Smith nhắc tới trong Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2007 (H.R. 3096) phải tự hào về điều đó – vì dù thế nào thì chính họ cũng đã và đang thụ hưởng những thành tựu do Ðổi mới đem lại, song ngược lại, họ chưa bao giờ có bản lĩnh và sự trung thực để nhắc tới thành quả lao động của nhân dân. Họ chỉ chú mục bới móc và thổi phồng các hiện tượng tiêu cực (điều rất khó tránh khỏi trong quá trình xây dựng và hoàn thiện một xã hội mà trong thực tế vẫn còn tồn tại nhiều di hại của lối tư duy cũ, của những mặt trái nảy sinh trong quá trình hội nhập…), rồi bằng mọi cách dựng đứng, vu cáo, bôi đen các giá trị, các chính sách ưu việt của Nhà nước Việt Nam,… nghĩa là họ chưa bao giờ quan tâm đến quyền lợi của nhân dân, và “nhân quyền” chỉ là công cụ phục vụ cho tham vọng được nổi tiếng, hòng kiếm chác được một phần nào đó từ “miếng bánh USD” mà trong Dự luật… ông Smith đã gán cho mục đích mỹ miều là để “thúc đẩy cho nhân quyền tại Việt Nam”. Có lẽ vì thế, ông Smith và họ đã dễ dàng tìm thấy một “tiếng nói chung”?

Với mọi con người có ý thức và với mọi xã hội văn minh, “nhân quyền” được xem là quyền tối thượng của con người trong sinh tồn xã hội. Tuy nhiên, việc hiểu và thực thi nhân quyền như thế nào lại phụ thuộc sự lựa chọn cách thức tổ chức xã hội, cũng như sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi quốc gia, phụ thuộc truyền thống văn hóa của mỗi cộng đồng… Nếu ông dân biểu thật sự quan tâm tới vấn đề “nhân quyền” thì thiết nghĩ cũng nên tham vấn một số điểm trong bản Giao ước Quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị và Giao ước quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được Ðại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào ngày 6-12-1966 để thấy rằng quyền “tự do tư tưởng, lương tri và tôn giáo”, quyền “tự do phát biểu ý kiến”, quyền “hội họp trong hòa bình”… luôn được nhấn mạnh phải “chịu những hạn chế quy định của luật pháp”, “chịu một số hạn chế, nhưng những hạn chế này chỉ có thể do luật pháp đặt ra”, “không hạn chế nào được đặt trên sự thực thi… ngoài những hạn chế được áp đặt để tuân theo luật pháp”.

Cũng xin bổ sung thêm quan niệm của các nước châu Á tại hội nghị về nhân quyền tổ chức tại Bangkok cách đây hơn mười năm rằng nhân quyền phải được xét đến: “Trong bối cảnh của những cá biệt quốc gia và địa phương, và những nền tảng lịch sử văn hóa tôn giáo khác nhau… Theo dõi vấn đề nhân quyền là vi phạm chủ quyền quốc gia… Viện trợ kinh tế với điều kiện, dựa trên tiêu chuẩn nhân quyền là đối ngược với quyền phát triển…”. Nếu tham vấn từ đó, ông dân biểu hẳn sẽ rút ra kết luận: Khi mà việc thực thi vấn đề “nhân quyền” phụ thuộc luật pháp và các giá trị riêng mà mỗi quốc gia theo đuổi thì điều đó cũng đồng nghĩa với một thực tế là trên thế giới này không có một quan niệm “nhân quyền” chung chung, phổ quát cho mọi quốc gia.

Mặt khác, cũng muốn nói với ông rằng đã đến lúc cần phân biệt sự khác nhau giữa hiện tượng “bất đồng chính kiến” với hành vi “chống đối”. Bởi không thể coi “bất đồng chính kiến” đồng nghĩa với hành vi kích động và hô hào dân chúng lật đổ chính quyền, tổ chức các hội đoàn nằm ngoài khuôn khổ luật pháp, kêu gọi nước ngoài cắt viện trợ, đưa ra những tuyên ngôn đầy những ngôn từ bạo lực như “trận quyết đấu cuối cùng… đánh thẳng… đánh đòn chí tử”… Chẳng lẽ ở nước Mỹ, các hành vi này lại được coi là “bất đồng chính kiến” hay sao, thưa ông Smith?

Cuối cùng, để kết thúc, xin được trích ý kiến của một số bạn đọc thảo luận quanh bài Vận động Dự luật nhân quyền Việt Nam 2007 đăng ngày 2-8-2007 trên BBC và hy vọng qua đây, ông dân biểu Smith sẽ nghiêm túc xem xét lại quan điểm của mình:

– Hạnh (Ðà Nẵng): “Tôi thấy ông Smith luôn phá hoại về tình hình nhân quyền của Việt Nam, trong khi đất nước Việt Nam là nước có chủ quyền…” .

– Ẩn danh: “Những người tốt nhất, sáng láng nhất và dũng cảm nhất Việt Nam, những người đã lên tiếng bảo vệ nhân quyền”. Nghe tức cười quá! Ông Mỹ này cũng rảnh rang thật. Hết chuyện làm rồi lại đi thổi bong bóng”.

– Nguyễn Xuân: “Nhân quyền là nguyện vọng tự nhiên của tất cả mọi dân tộc, cần được góp ý một cách chân thành, không nên vin vào nhóm này, nhóm khác để đánh lạc hướng dư luận, làm dân trí mê muội, mất niềm tin ở nhân quyền”.

– Mai (Hà Nội): “…Không điều gì là hoàn hảo cả, Việt Nam vẫn còn những hạn chế trong nhiều mặt, nhưng để xây dựng một đất nước tốt đẹp hơn thì người Việt Nam không cần đến những dự luật phá hoại kiểu này”.

– Khách quan (Việt Nam): “Dám hỏi các ngài đã ai đến Việt Nam bao giờ chưa hay chỉ thông qua báo chí và những lời “kêu cứu” của một số phần tử chống đối, bất mãn mà các ngài gọi là “các nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam”? Tôi thấy rằng sống ở Việt Nam vô cùng an toàn và dân chủ, tôi có thể đi bất cứ đâu mà không lo bị bắt cóc, bị khủng bố, bị đánh hội đồng”.

– Lê Cương Chính: “Xin được góp ý một lần cho rõ trắng đen với các ông đại biểu dân ở Mỹ, các ông Việt Nam chạy trốn, sống bám ở nước ngoài, là truyền thống văn hóa Việt Nam chúng tôi từ ngày chủ quyền về tay người Việt Nam rõ ràng là dứt khoát phản đối những luận điệu giải thích về dân chủ, về nhân quyền của Mỹ, của Tây, vì nó đi ngược lại hoàn toàn chủ trương, và luật pháp của Nhà nước Việt Nam.

Tôi chỉ là một người dân thường, sống từng trải dưới thời Mỹ ngụy, và cũng có nhiều bạn bè là Việt kiều, con cháu chưa có ai giữ chức vụ cộng sản gì, và tôi biết còn nhiều khó khăn, tiêu cực không thể nào giải quyết, nhưng vẫn mạnh dạn phản đối những ngoại bang nhòm ngó vào đất nước tôi để bêu xấu về nhân quyền, cho dù các người có đòi hỏi nâng cao mức lương, mức sống cho người dân, chúng tôi cũng dứt khoát phản đối, không cần đến những lời nhân nghĩa, tội nghiệp của các người…”.

Theo báo Nhân dân
cpv.org.vn

Báo cáo nhân quyền của Hoa Kỳ chỉ nhằm hủy hoại xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời đại

Đã nhiều năm nay, cứ vào dịp đầu năm, Hoa Kỳ lại tự cho phép quyền phán quyết nhân loại bằng cái gọi là “báo cáo tình hình nhân quyền ở các nước” do Bộ Ngoại giao công bố, cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật về những tiến bộ trong cải thiện vấn đề dân chủ, nhân quyền trên thế giới. Tự cho mình quyền “ăn không nói có”, vu cáo và ngang nhiên nhúng mũi vào công việc nội bộ của người khác. Mục tiêu của Mỹ không nhằm gì khác là đẩy mạnh một trong ba mục tiêu của chiến lược an ninh quốc gia sau “chiến tranh lạnh” – cái gọi là “thúc đẩy dân chủ” trên phạm vi toàn thế giới, từng bước thiết lập trật tự thế giới đơn cực Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, báo cáo nhân quyền của Hoa Kỳ đang vấp phải sự phản đối của cộng đồng quốc tế do tính bất hợp pháp, phi lý và vô nhân đạo của nó. Công luận quốc tế cho rằng, báo cáo nhân quyền thường niên của Mỹ chỉ nhằm huỷ hoại xu thế chủ yếu của thời đại, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển.

Bất hợp pháp, phi lý và vô nhân đạo

Cái gọi là “Báo cáo về tình hình nhân quyền ở các nước” của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ được trình lên quốc hội Mỹ hằng năm theo Đạo luật Viện trợ nước ngoài (FAA) là hoàn toàn bất hợp pháp, vi phạm thô bạo Hiến chương Liên hợp quốc và nguyên tắc bình đẳng quốc gia trong ứng xử quốc tế. Theo đạo luật này, cứ vào ngày 25 tháng 2 hằng năm, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ phải trình lên Chủ tịch Hạ viện và Ủy ban Quan hệ đối ngoại của Thượng viện một bản “báo cáo đầy đủ và chi tiết về tình hình nhân quyền của các nước nhận viện trợ, ở các nước thành viên Liên hợp quốc và không là đối tượng của báo cáo nhân quyền theo quy định của đạo luật”. Các bản báo cáo này là cơ sở để quốc hội Mỹ phê chuẩn các chính sách đối với các quốc gia nhận viện trợ và các quốc gia khác được coi là có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia của Mỹ.

Nếu chỉ dừng lại là việc riêng của nước Mỹ thì không có chuyện gì đáng bàn, vì lẽ thông thường, để quyết định các chính sách đối ngoại, chính phủ nào cũng phải đánh giá tình hình của các bên đối tác. Tuy nhiên, trường hợp của Mỹ không phải như vậy. Người ta có thể nhận thấy mục đích chính của các báo cáo này là sự áp đặt cái gọi là “giá trị Mỹ” trên phạm vi toàn cầu, dọn đường cho sự can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, thúc đẩy chiến lược “diễn biến hoà bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, đem quân xâm lược các nước được Mỹ liệt vào “các quốc gia khủng bố”, “tài trợ khủng bố “, “trục ma quỷ”, hay “các quốc gia thất bại”.

Sau khi Liên Xô và khối các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã vào thập niên 90 của thế kỷ trước, mất đối thủ tiềm tàng, còn lại siêu cường duy nhất, Mỹ cho rằng đây là thời cơ giành bá chủ thế giới, vì vậy đã triển khai chiến lược an ninh quốc gia mới với tham vọng thiết lập trật tự thế giới một cực do Mỹ độc tôn lãnh đạo. Oa-sinh-tơn không ít lần ngạo mạn tuyên bố: “…đã đến lúc người Mỹ phải đảm nhận lấy vai trò lãnh đạo thế giới ” hay “một thế giới không do Mỹ lãnh đạo sẽ là một thế giới bất ổn”. Sa-mu-en R.Béc-gơ, một trong những chiến lược gia hàng đầu của Mỹ khẳng định: “…chưa bao giờ sự lãnh đạo của chúng ta (nước Mỹ) lại cần thiết và cấp bách đến thế…”. Mục tiêu chính của “chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ mới” của Mỹ là lập lại trật tự thế giới, đó là trật tự đơn cực do Mỹ làm hạt nhân, ngăn chặn sự trỗi dậy của các đối thủ chiến lược tiềm tàng. Nhà Trắng không giấu diếm, rằng “chúng ta phải ngăn chặn mọi đối thủ chiếm lĩnh các vùng có nguồn lực giúp cho họ trở thành đại cường quốc…phải làm nản lòng các nước công nghiệp phát triển về mọi ý đồ nhằm thách thức sự lãnh đạo của Mỹ” và “phải ngăn chặn trong tương lai mọi đối thủ cạnh tranh toàn cầu”.

Nhiều năm nay, Mỹ đã vi phạm những nguyên tắc cơ bản Hiến chương Liên hợp quốc, những giá trị cơ bản của quyền con người được quốc tế thừa nhận rộng rãi khắp hành tinh. Tiến hành các hoạt động can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia bằng việc dựng lên các báo cáo giả mạo về nhân quyền là việc làm vô nhân đạo. Theo thống kê, Mỹ đã không dưới 68 lần can thiệp quân sự, gây chiến tranh xâm lược, dưới danh nghĩa “bảo vệ nhân quyền, tự do tôn giáo, thúc đẩy dân chủ”. Lịch sử đã ghi nhận “chiến tích” của “những chiến sỹ xung kích” bảo vệ nhân quyền của Hoa Kỳ bằng việc vô cớ chiếm đóng và bắn giết hàng triệu người dân vô tội ở Đông Dương, Triều Tiên, Li-bi, Nam Tư… và đang thả sức thảm sát nhân dân các nước I-rắc, Áp-ga-ni-xtan…Không lẽ những người dân vô tội này là những kẻ vi phạm nhân quyền? Phải chăng những hành động bắt cóc, ám sát, lật đổ, gây rối an ninh xã hội các quốc gia có chủ quyền ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ-La tinh, Đông Âu và nhiều điểm nóng của thế giới được các cơ quan đặc biệt Hoa Kỳ thực hiện từ trước đến nay là những hành động trượng nghĩa, bảo vệ nhân quyền? Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ sẽ không bao giờ quên tội ác của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Những vụ thảm sát đẫm máu dân thường ở Sơn Mỹ (Quảng Ngãi), Khâm Thiên (Hà Nội) và các nạn nhân chất độc da cam do quân Mỹ gây ra trong chiến tranh Việt Nam mãi mãi là bằng chứng không thể chối cãi, minh chứng cho tính vô nhân đạo của cái gọi là “giá trị Mỹ”. Liệu Oa-sinh-tơn có thể chứng minh cho sự trong sạch, ngay thẳng của mình khi đem bom tàn phá Li-bi, Bê-ô-grát (Xéc-bi-a), đem quân vào xâm lược Áp-ga-ni-xtan, I-rắc? Phải chăng những hành động bắt bớ, giam cầm, tra tấn, hãm hiếp, giết hại dân thường của quân nhân Mỹ đang diễn ra ở I-rắc, Áp-ga-ni-xtan là hành “động thúc đẩy dân chủ”?

Sự thật, đó là những hành động “khủng bố nhà nước” không hơn không kém. Nó còn nguy hiểm gấp bội lần hành động của chủ nghĩa khủng bố quốc tế hiện đại. Nhiều nhà nghiên cứu quốc tế đánh giá một cách thỏa đáng rằng, hòa bình thế giới hiện nay đang bị đe dọa bởi hai kẻ khủng bố lớn nhất hành tinh, chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan và chủ nghĩa khủng bố nhà nước Hoa Kỳ. Có thể nói, lưỡi gươm khủng bố Hồi giáo cực đoan và lưỡi gươm khủng bố nhà nước Hoa Kỳ (được núp dưới danh nghĩa cuộc chiến chống khủng bố) đang treo lơ lửng trên đầu nhân loại.

Trong khi lớn tiếng rao giảng “dân chủ” và truyền bá cái gọi là “giá trị của thế giới tự do” khắp hành tinh thì trong lòng xã hội Mỹ còn đầy rẫy bất công và bạo lực. Đó là tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng trầm trọng. Ở Mỹ vẫn có 25% số gia đình sống trong tình trạng nghèo đói, 25% trẻ em bị đe doạ chết đói, trong khi đó 1% số gia đình giầu nhất nước lại sở hữu 19% tổng số tài sản quốc gia, một bộ phận dân chúng lao động, nhất là người da màu, dân nhập cư sống trong tình trạng nghèo đói, thất nghiệp, không được chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và bị bóc lột. Đó là tệ phân biệt chủng tộc và bạo lực tràn lan. Không ở đâu như ở Mỹ, súng đạn được bán và trang bị cho mọi người như một thứ đồ sinh hoạt thông thường. Hiến pháp và pháp luật Mỹ cho phép “quyền được mang và sử dụng vũ khí” được coi là quyền tự do cá nhân và bất khả xâm phạm. Đó là nền “văn hóa súng đạn”, như cách gọi của cựu thủ tướng Ốt-xtrây-li-a Giôn Hô-uốt đánh giá về nền văn hóa này của Mỹ sau vụ thảm sát 32 giáo viên, sinh viên ngày 16 tháng 4 năm 2007 tại trường đại học công nghệ Vơ-gi-ni-a. Ở Mỹ đang có khoảng 250 triệu khẩu súng được dân chúng sở hữu và sử dụng, tức là trung bình mỗi người dân Mỹ có một khẩu súng. Nền văn hoá súng đạn của Mỹ đã gây ra hậu quả xã hội hết sức nghiêm trọng, những vụ thảm sát tập thể dã man xảy ra như cơm bữa. Xã hội Mỹ là một xã hội kém an toàn nhất thế giới.

Phản bác lại “Báo cáo nhân quyền ở các nước năm 2007” được Bộ Ngoại giao Mỹ công bố ngày 11 tháng 3 năm 2008, Bộ Ngoại giao Nga khẳng định rằng, đánh giá của Mỹ về nhân quyền không đáng tin cậy và là hành động “bẩn thỉu”. Theo Nga, báo cáo nhân quyền của Mỹ thể hiện chính sách hai mặt của chính quyền Oa-sinh-tơn sử dụng nhân quyền làm công cụ can thiệp vào công việc của người khác trong khi lại không giám đối mặt với những vi phạm nhân quyền ngay trong lòng nước Mỹ.

Chính phủ Trung Quốc cho rằng, Mỹ sử dụng nhân quyền cho mưu đồ chính trị. Báo cáo của Bộ Ngoại giao Trung quốc khẳng định, Mỹ quá kiêu ngạo tự cho mình quyền phán xét nhân quyền của nước khác trong khi còn rất nhiều vấn đề liên quan đến nhân quyền ngay trên đất Mỹ. Báo cáo kết luận, khi trên đất nước mình còn đầy rẫy sự sai trái thì người Mỹ chẳng có lý do và chẳng có quyền hạn gì để nhận xét những gì đang diễn ra tại các nước khác.

Rõ ràng rằng, báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới của Mỹ là bất hợp pháp và hoàn toàn phi lý, hành động sử dụng vấn đề nhân quyền như một phương tiện chính trị can thiệp, gây rối, chia rẽ các quốc gia, dân tộc là hành động vô nhân đạo.

Hủy hoại xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời đại. 

Cộng đồng quốc tế đang thừa nhận một thực tế rằng, mặc dù thế giới còn tồn tại những xung đột cục bộ chưa được giải quyết, nhưng xu thế chủ yếu của thời đại ngày nay là xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển. Cộng đồng quốc tế trong thời đại ngày nay phải dựa vào nhau nhiều hơn, chung tay giải quyết các vấn đề toàn cầu và cùng phát triển. Mỹ cũng không ngoại lệ, nếu không dựa vào cộng đồng quốc tế, mình nước Mỹ không thể giải quyết được. Bờ-dê-din-xki thống kê có không dưới 20 vấn đề mà tự Mỹ không thể giải quyết nổi. Còn B. Clin-tơn khi còn làm tổng thống cũng đã thừa nhận bước sang thế kỷ XXI, Mỹ phải đối phó với một thế giới đầy bất trắc và hiểm hoạ, thế giới ngày nay vẫn là nơi nguy hiểm và không rõ ràng. Đáng tiếc rằng, những việc làm ngang ngược của Mỹ, trong đó có vấn đề nhân quyền đang đi ngược lại và hủy hoại xu thế chủ yếu này của nhân loại.

Lịch sử và hiện thực đang chứng minh rằng, chính sách lợi dụng những đặc điểm không giống nhau về văn hóa, quan điểm về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc có chủ quyền của Mỹ đã gây ra những mâu thuẫn trầm trọng ảnh hưởng đến an ninh quốc tế. Đó là tình trạng mất ổn định xã hội ở các nước Đông và Trung Âu dẫn đến các cuộc cách mạng màu sắc trong mấy năm gần đây, phá vỡ sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, đoàn kết dân tộc ở Nam Tư, Tiệp Khắc (hai quốc gia này đã không còn tên trên bản đồ thế giới), Liên Bang Nga…Và đang khuyến khích chủ nghĩa ly khai ở Tây Tạng, Tân Cương (Trung Quốc), Chéc-xni-a (Nga), Cô-xô-vô (Xéc-bi-a)… nhằm làm giảm đi đáng kể sức mạnh của các quốc gia được Mỹ coi là “đối thủ tiểm tàng”. Đặc biệt hơn, chính sách hai mặt trong ứng xử quốc tế của Mỹ đã làm cho các mâu thuẫn chủ yếu của thế giới đương đại có mặt trầm trọng hơn, đẩy nhân loại đứng trước thảm họa xung đột vũ trang cục bộ. Đó là xung đột tôn giáo, sắc tộc, nạn khủng bố quốc tế ở Trung Đông, châu Phi và châu Á. Chính sách bao vây, cấm vận và chính sách “cây gậy và củ cà rốt” của Mỹ đã làm cho nhiều quốc gia, dân tộc điêu đứng trước nạn nội chiến, đói nghèo, bệnh tật như ở vùng Sừng châu Phi, Cu-ba, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Pa-ki-xtan, Sri-lan-ca…

Các báo cáo về tình hình nhân quyền của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, cũng như các đạo luật về nhân quyền dành cho các nước của Quốc hội Mỹ trong nhiều năm qua đã bị dư luận trong nước và quốc tế lên án là hành động hủy hoại hòa bình, hợp tác và phát triển. Năm 2004, ngay sau khi Hạ viện Mỹ thông qua nghị quyết H.R 1587 (Dự luật nhân quyền Việt Nam năm 2004, dự luật này đã bị 45 nghị sỹ bỏ phiếu chống và 65 nghị sỹ không bỏ phiếu), nhiều nghị sỹ có danh tiếng đã lên tiếng phản đối. Hạ nghị sỹ L. Ê-van cho rằng “dự luật này sẽ hủy hoại mối quan hệ Mỹ-Việt Nam”. Còn Hạ nghị sĩ Gim Kô-bê thì cho rằng, việc thông qua và thực hiện H.R 1587 có thể tổn hại đến quan hệ giữa hai nước, những nỗ lực trong giải quyết một loạt các vấn đề quan trọng đối với Mỹ, như chống khủng bố, vấn đề MIA, ngăn chặn HIV/AIDS và chống ma túy. Nhiều chính khách Mỹ nhắc nhở nhà cầm quyền Oa-sinh- tơn rằng, đừng quên Mỹ đã từng tàn phá đất nước và gây tội ác đối với nhân dân Việt nam. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Nga, ngày 15 tháng 3 năm 2008 khẳng định rằng, việc chính trị hóa vấn đề bảo vệ nhân quyền và bóp méo tình hình nhân quyền không giúp được gì cho việc giải quyết các vấn đề hiện nay mà chỉ phá hoại giá trị của các nguyên tắc và mục tiêu của hợp tác quốc tế.

Nhân quyền là thành quả phát triển của lịch sử lâu dài của cả nhân loại. Vấn đề nhân quyền ở mỗi quốc gia, không kể hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị- xã hội, kinh tế và văn hoá đều có những giá trị chung giống nhau, không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau, đồng thời mang tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về chính trị, lịch sử, văn hoá và tôn giáo. Liên hợp quốc tuyên bố:“Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau. Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hoá và tôn giáo”. Đáng tiếc rằng, trong khi cộng đồng quốc tế thừa nhận cả hai đặc tính của quyền con người, thì Mỹ và đồng minh lại phủ nhận tính đặc thù của quyền con người, đề cao tự do cá nhân, rêu rao học thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. Họ tự vỗ ngực là người bảo vệ nhân quyền, lợi dụng các vấn đề về “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, “dân tộc” xuyên tạc, vu cáo các nước khác vi phạm nhân quyền, ngang nhiên can thiệp và công việc nội bộ, đe doạ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ các quốc gia có chủ quyền. Hành động ngạo mạn của Mỹ tự cho mình quyền phán quyết vấn đề nhân quyền ở các nước và lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phần thế giới còn lại không giải quyết được vấn đề gì mà chỉ làm phức tạp thêm các vấn đề quốc tế. Nó đang đi ngược lại xu thế và huỷ hoại môi trường hoà bình, hợp tác và phát triển của thế giới đương đại.

Quan hệ Mỹ – Việt đã có bước phát triển theo hướng tích cực có lợi cho hoà bình, an ninh khu vực và lợi ích của nhân dân mỗi nước. Trên lĩnh vực nhân quyền, Việt Nam đã có những thành tựu nổi bật được quốc tế thừa nhận đặc biệt trong các lĩnh vực cải cách dân chủ, tôn giáo, dân tộc, tự do báo chí, tự do thông tin và các thành tựu văn hoá, y tế, giáo dục và các vấn đề xã hội khác. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng hai đặc tính cơ bản của vấn đề quyền con người và sẵn sàng đóng góp vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì phẩm giá con người, nhưng kiên quyết không chấp nhận việc lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việt Nam chủ trương gia tăng các cuộc tiếp xúc, đối thoại với các quốc gia, các tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau và không can thiệp vào công việc của nhau để giải quyết các bất đồng xung quanh vấn đề nhân quyền. Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ rõ:“Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam”.

Xem ra, cuộc đấu tranh vì quyền con người gắn với bảo vệ quyền dân tộc tự quyết vẫn là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt. Quyền con người vẫn là khát vọng cháy bỏng của nhân loại.

Theo Trần Minh Tơn, Tạp chí Cộng sản
cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Một 9, 2012, in Chính luận.

Giương cao ngọn cờ tự do, dân chủ của chủ nghĩa xã hội bác bỏ đa nguyên, đa đảng tư sản

(ĐCSVN) – Trong diễn văn đọc tại buổi lễ nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ hai, Tổng thống Mỹ G.Bu-sơ đã giương ngọn cờ tự do, công bố ý định xuất khẩu tự do kiểu Mỹ ra toàn thế giới: “Sự tồn tại của tự do trên mảnh đất của chúng ta ngày càng phụ thuộc vào sự thành công của tự do trên những mảnh đất khác”. Nhân danh tự do, ông ta tuyên bố mục tiêu cuối cùng của Mỹ là chấm dứt mọi chế độ chuyên chế trên thế giới: “Chính sách của Mỹ là tìm cách ủng hộ các phong trào và thể chế dân chủ ở mọi quốc gia và mọi nền văn hoá, với mục tiêu cuối cùng là chấm dứt chế độ chuyên chế trong thế giới này”.

Trong quan niệm của ông Bu-sơ và ê kíp của ông ta thì cái mũ “chế độ chuyên chế” là khá rộng; nó có thể úp vào bất cứ quốc gia nào không hợp khẩu vị của chủ nghĩa bá quyền Mỹ. Người ta tự hỏi rằng, sau lần điều chỉnh chiến lược toàn cầu, tuyên bố tập trung vào chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế, phải chăng đây lại là một lần điều chỉnh mở rộng hơn nữa diện các kẻ thù của Mỹ? Cùng với chủ nghĩa đơn phương, quyền “đánh đòn phủ đầu”, sự phân chia một cách áp đặt “chế độ chuyên chế”, “chế độ tự do” và quyền trừng trị các “chế độ chuyên chế”, chính sách đối ngoại của nước Mỹ ngày càng phiêu lưu và nguy hiểm hơn, đẩy thế giới vào một trạng thái càng bất an hơn trước. Đương nhiên, khi mở rộng diện các chế độ chuyên chế, đế quốc Mỹ vẫn không bao giờ quên các nhà nước xã hội chủ nghĩa mà Mỹ gọi là “chế độ độc tài toàn trị”. Không những chủ nghĩa đế quốc không quên mà rút cục vẫn sẽ đặt các nhà nước xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu trong các chế độ chuyên chế cần phải “giải phóng”. Phải chăng sau một thời gian choáng váng vì thắng lợi khi Liên Xô và hệ thống XHCN sụp đổ, bản năng giai cấp của chủ nghĩa đế quốc đã hồi phục lại và nó hiểu rằng, cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội chưa phải đã kết thúc.

Được lời bảo đảm của ông chủ ở bên kia đại dương là “tìm cách ủng hộ các phong trào và thể chế dân chủ ở mọi quốc gia và mọi nền văn hoá”; trong các cách ủng hộ không chỉ có ủng hộ về tinh thần mà cả về tài chính và về vật chất, về mưu kế thâm hiểm, các thế lực thù địch trong nước (kể cả bọn người Việt thù địch lưu vong ở nước ngoài) sẽ càng mở những đợt tiến công mới chống Đảng Cộng sản Việt Nam, chống chế độ một Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo chính quyền, đưa ra yêu sách đòi đa nguyên đa đảng. Có những người đòi Đảng rút lui, nhường chính quyền cho đảng khác thích hợp hơn với công cuộc xây dựng đất nước. Bây giờ người ta kín võ hơn, đưa ra yêu sách tuy có mềm hơn nhưng về thực chất vẫn là gạt bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đối với bọn thù địch về chính trị trong nước, tôi muốn dùng chữ thù địch thay cho chữ cơ hội về chính trị, chúng muốn khuyên Đảng ta nên từ bỏ cương lĩnh xã hội chủ nghĩa, chuyển thành đảng xã hội – dân chủ mà chúng nói là phù hợp với trào lưu chính trị hiện đại của thế giới. Đảng đó sẽ cùng tồn tại với các đảng chính trị khác và cùng tranh cử. Nếu thắng cử thì cầm quyền, nếu thất cử thì trở thành đảng đối lập với chính quyền đóng vai trò phê phán. Thế là nước ta sẽ trở thành nước dân chủ thực sự như ở phương Tây, sẽ không còn độc tài chuyên chế, sẽ được phương Tây ủng hộ nhiều, sẽ xây dựng đất nước nhanh hơn !

Ta sẽ phân tích ảo tưởng này ở bên dưới, nhưng trước hết ta hãy phân tích những vấn đề dân chủ và tự do đi từ những vấn đề nguyên tắc, làm rõ bản chất của vấn đề, chứ không thể chỉ dừng lại ở các biểu hiện bên ngoài. Hiện nay, việc phê phán dân chủ tư sản ở nước ta đang còn dừng lại ở những mặt cụ thể nào đó; thường là cái gì kẻ thù lên án ta về dân chủ nhân quyền thì ta mới phản bác lại. Cần phải trở lại truyền thống giáo dục một cách cơ bản, sâu sắc và những vấn đề về dân chủ tư sản và dân chủ XHCN cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta hiểu rõ bản chất.

Trước hết, chúng ta hãy nói đến các khái niệm “tự do” và “chuyên chế” của ông Bu-sơ. Ông ta coi tự do dân chủ là những giá trị cao quý và vĩnh hằng của phương Tây mà Mỹ là đại diện, coi những chế độ chính trị không theo khuôn mẫu đó của phương Tây là chế độ chuyên chế cần phải bị đánh đổ. Giương như ông Bu-sơ đã có một bổ sung mới cho “học thuyết” của mình trong nhiệm kỳ thứ hai của ông. Bằng tuyên bố như vậy, ông tổng thống đang phát động một cuộc thánh chiến hiện đại, một cuộc thánh chiến chính trị mà nước Mỹ muốn đóng vai trò hiệp sĩ của tự do.

Thế nhưng, nếu chúng ta lật ngược vấn đề, hỏi rằng có phải tự do dân chủ là một giá trị độc quyền chỉ phương Tây mới có và liệu trên thế giới có còn những quan niệm khác, không giống với phương Tây về tự do dân chủ hay không; rằng chế độ tự do dân chủ của phương Tây xét đến cùng liệu có phải vẫn là một chế độ chuyên chế không hơn không kém hay không ? Trả lời các vấn đề trên đây, chúng ta sẽ phải về với Mác, với Lê nin. Nhưng chúng ta không trở về một cách giản đơn mà phải từ những vấn đề lý luận Mác-Lênin về dân chủ và tự do, vận dụng khái quát vào những điều kiện mới của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trên thế giới và ở nước ta hiện nay.

Trong quyền lực chính trị, không có tự do tuyệt đối cũng như không có chuyên chế tuyệt đối. Là người theo chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh bao giờ cũng trung thành với lý luận về bản chất giai cấp của nhà nước. Hồ Chí Minh viết: “Chế độ nào cũng có chuyên chính. Vấn đề là ai chuyên chính với ai ? Dưới chế độ phong kiến, tư sản, chuyên chính là số ít người chuyên chính với đại đa số nhân dân. Dưới chế độ dân chủ nhân dân, chuyên chính là đại đa số nhân dân chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhân dân, chống lại chế độ dân chủ của nhân dân”1.

Dưới chế độ tư bản, dù là tư bản hiện đại mà tự do dân chủ được phô trương ầm ỹ như là những giá trị vĩnh hằng của con người, thì trong thực chất vẫn là một nền tự do hạn chế, thậm chí hạn chế nhất bởi vì đó là một nền tự do của một số càng ít người hơn nữa, một nền tự do của tầng lớp đại tư sản. Một nền tự do như vậy, tất yếu cũng phải là một nền chuyên chế, một nền chuyên chế của số ít người đối với càng đông đảo người hơn nữa. Ở trong mỗi nước mà đại tư sản thống trị, ách chuyên chế không chỉ đè lên giai cấp công nhân, nhân dân lao động chân tay và trí óc, mà cả lên toàn bộ xã hội công dân tư sản. Cùng với việc chủ nghĩa tư bản trở thành chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá, sự chuyên chế tư sản cũng đè nặng lên các quốc gia kém phát triển dưới hình thức này hay hình thức khác, mức độ này hay mức độ khác.

Trong việc phê phán các nhà nước xã hội chủ nghĩa, các nhà tư tưởng tư sản thường quảng cáo cho quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, dường như ở các nước tư bản, ai cũng có quyền phát biểu chính kiến về chính trị, muốn nói gì thì nói, phê phán tuốt mo cho đến tận tổng thống… Có đúng vậy không ? Cần phải trả lời câu hỏi này một cách thật khách quan.

Trong lịch sử, sự chuyên chế tư sản có cứng, có mềm. Nhà nước tư sản kết hợp một cách nhuần nhuyễn cái gậy và củ cà rốt không chỉ trong lãnh vực đối ngoại mà cả trong lãnh vực đối nội. Trong khi ở lãnh vực đối ngoại, những lời lẽ và hành vi hiếu chiến “đánh đòn phủ đầu để ra oai với thiên hạ có vẻ được sử dụng nhiều hơn, thì trong lĩnh vực đối nội, giai cấp tư sản thời hiện đại hết sức chú trọng đến chính sách củ cà rốt, thực hiện sự “chuyên chế mềm”, sử dụng biện pháp rắn chỉ khi thật cần thiết, cốt tạo ra một sự ổn định chính trị trong lòng chế độ của chúng. Nhìn lại cả thế kỷ XX, chúng ta thấy, giai cấp tư sản đế quốc đã nhiều lần sử dụng nhiều biện pháp cực rắn để trấn áp giai cấp công nhân, nhân dân lao động trong nước và các dân tộc bị áp bức, dìm các phong trào cách mạng trong bể máu: chế độ phát xít, các đạo luật chống cộng sản và công nhân, chủ nghĩa thực dân kể cả cũ và mới … Nhưng nửa sau thế kỷ XX trở đi, cùng với việc chủ nghĩa tư bản trở thành chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá với những thành tựu về kinh tế và khoa học, công nghệ, giai cấp tư sản thực hiện ách chuyên chế của mình thiên về dùng các biện pháp tinh vi, che dấu, chuyên chế trong thực chất nhưng lại biểu hiện ra như là bình đẳng và tự do. Giống như con chim bị buộc dây vào chân nhưng sợi dây khá dài đủ để chim vẫn không cảm thấy bị trói chân. Ách chuyên chế mềm nhưng lại cũng rất chặt đó nói lên chỗ còn mạnh tương đối của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Trong nửa sau của thế kỷ XX, cùng với những tiến bộ về phát triển kinh tế, một sự giải tha hoá nào đó trong lao động, một sự nới lỏng nào đó trong sự phân phối phúc lợi cho người lao động; những biện pháp chuyên chế che dấu của giai cấp tư sản đã tỏ ra có lợi cho sự thống trị của tư sản, cho phép nó đưa ra những học thuyết lừa bịp về “xã hội phúc lợi chung”, về “chủ nghĩa tư bản nhân dân hoá”…

Đúng là trong nền dân chủ tư sản, có một sự “tự do ngôn luận” nào đó rất đặc trưng cho chế độ tư bản. Sự tồn tại của các tầng lớp, phe phái tư sản với những lợi ích khác nhau tạo ra các đảng tư sản đối lập nhau. Các đảng này đua tranh nhau trong thị trường chính trị, tự quảng cáo tâng bốc mình và phê phán công kích đảng có xu hướng khác mình. Điều đó xẩy ra thường nhật nhưng cao trào là vào các dịp tranh cử. Vào những dịp đó người ta tìm mọi cách hạ bệ nhau kể cả thủ đoạn bới lông tìm vết trong đời tư, tạo ra những vụ bê bối chính trị gắn với bê bối cá nhân. Đó là sự cạnh tranh chính trị trong nền dân chủ tư sản. Nhân dân có thể thu được một số lợi ích nào đấy do các đảng tư sản thắng thế phải mị dân, phải thực hiện một mức độ nhất định các lời hứa khi tranh cử nhưng về cơ bản nhân dân vẫn là những người thụ động, đứng ngoài lề cuộc đấu tranh giữa các phái tư sản nhiều hơn là tham gia chính trị với tư cách người trong cuộc.

Trong nền dân chủ và pháp quyền tư sản, người dân có nhiều chỗ để nói lên ý kiến của mình nhất là về những vấn đề đụng đến quyền lợi của mình, nhiều cửa để mà kiện cáo. Thế nhưng, có những vấn đề mà giai cấp tư sản không cho phép ai phát biểu tự do. Những vấn đề đụng chạm đến chế độ sở hữu tư nhân và tự do kinh doanh là những vấn đề không thể bị đụng chạm. Quyền sở hữu tư nhân vẫn là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Ngày nay, có thể nhà nước tư sản không giam cầm, bỏ tù những người có tư tưởng chính trị khác với đường lối của nhà nước nhưng nó lại có nhiều phương tiện và biện pháp để làm cho các tư tưởng đó không thể xuất hiện được hoặc nếu xuất hiện thì sẽ rơi vào một sự “im lặng hiện đại” đáng sợ hơn sự im lặng cổ điển. Trước đây, khi tư tưởng của Mác xuất hiện trên văn đàn chính trị, giai cấp tư sản lúc đó đã dùng sách lược phớt lờ, không bình luận. Ngày nay với những phương tiện báo chí và truyền thông hiện đại, với một đội ngũ những người làm truyền thông đông đảo và có tài, các tập đoàn đế quốc truyền thông đã nhào nặn dư luận xã hội theo ý muốn của giai cấp tư sản, chỉ cho nhân dân nghĩ theo hướng này mà không thể nghĩ theo hướng khác. Trong nền ngôn luận tư sản vẫn có ngôn luận của cánh tả, trong đó có Đảng Cộng sản, đại diện một phần cho ý chí chân chính của nhân dân nhưng do nhiều lý do, trong đó có khó khăn về tài chính, báo chí của Đảng Cộng sản chỉ với số lượng nhỏ nhoi, hạn chế trên thị trường tư tưởng, thực tế là bị bóp nghẹt trước sức nặng của báo chí tư sản. Về thực chất đó cũng là sự im lặng, một sự bịt mồm bịt miệng hiện đại. Giai cấp tư sản không chỉ thực hiện áp chế về tư tưởng, một sự “tẩy não” tinh vi kiểu tư sản mà còn có những biện pháp khác, những biện pháp đã có tính quá độ, kết hợp tính mềm và tính rắn trong thực hiện chuyên chế tư sản. Đối với những người vẫn kiên quyết bầy tỏ lập trường chống chế độ tư bản, giai cấp tư sản dùng sức ép về lợi ích vật chất, về công ăn việc làm, về điều kiện hành nghề để trấn áp, răn đe buộc người ta phải thay đổi lập trường hoặc im lặng không dám phát biểu. Những tay sai của giai cấp tư sản dùng cả biện pháp buộc tội những người có ý kiến chống lại chế độ tư bản là những người có tư tưởng không bình thường cần phải được đưa vào nhà thương điên để chữa trị. Trong chế độ tư bản, các bệnh viện tâm thần là nhà tù trá hình của những con người trung thực, là chốn đầy ải mới mà ở đó người không điên cũng sẽ trở thành điên.

Giai cấp tư sản vỗ ngực tự cho mình là đại diện duy nhất của những giá trị tự do trên hành tinh này. Đó là một thái độ biệt phái hết sức chủ quan. Họ quên mất rằng còn những giá trị tự do khác, những giá trị tự do của một hệ tư tưởng khác, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là chủ nghĩa Mác-Lênin.

Cho đến nay, thực tiễn đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trên vũ đài thế giới cũng như nước ta chứng tỏ rằng, giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức phải xây dựng lý luận về tự do kiểu mới của mình, phải giương cao ngọn cờ tự do để thu hẹp và đánh bại từng bước những ảnh hưởng của ngọn cờ tự do tư sản.

Trước đây, khi đấu tranh với ngọn cờ tự do tư sản, phê phán tính chất lừa bịp và giả dối của nó, các nhà kinh điển Mác và Lê nin đã đưa ra quan điểm của giai cấp công nhân đối lập với quan điểm tư sản về tự do: “Tự do là tất yếu được nhận thức”. Đó đúng là một quan điểm đúng đắn về tự do nẩy sinh từ hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, cái hệ tư tưởng muốn tìm cơ sở khoa học cho mọi hành động cách mạng của mình, muốn tìm đến cùng bản chất của mọi sự vật và hiện tượng, tính tất yếu của quy luật khách quan trong các sự vật và hiện tượng đó. Ngày nay, nghĩ lại, chúng ta có thể mạnh dạn nghĩ rằng, quan niệm đó về tự do đúng nhưng không đủ, cần phải được bổ sung. Quan niệm đó nhiều tính chất nhận thức luận triết học và có phần còn trừu tượng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa tự do tư sản. Cuộc đấu tranh chính trị thực tiễn dường như đòi hỏi chúng ta phải đưa những quan điểm về tự do gắn với những phạm trù dân quyền và nhân quyền hơn. Có thể là trong tư duy của các nhà kinh điển dường như cuộc cách mạng cộng sản đang đến gần, tuy có chia ra hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản nhưng với sự phát triển của Châu Âu thì bước tiến của loài người lên chế độ mới không còn xa. Trong lý luận của các ông về CNXH, vấn đề nhà nước tiêu vong đã được đặt ra, được giải thích về bản chất của sự tiêu vong. Thực tiễn sau này chứng tỏ rằng, để đi lên chế độ xã hội mới cần phải có một thời đại quá độ trên toàn thế giới, trong thời kỳ quá độ đó, đấu tranh giữa hai lý luận và thực tiễn nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa trên vấn đề tự do chính trị còn diễn ra gay gắt vô cùng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nẩy sinh từ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam gắn liền với cách mạng thế giới đã có một sự khái quát mới về cuộc đấu tranh cho quyền tự do của con người, gần với cuộc đấu tranh cho dân quyền và nhân quyền hơn. Đó là cuộc đấu tranh cho sự giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức bóc lột; trước hết là ách áp bức bóc lột dân tộc của ngoại bang, sau đó là ách áp bức bóc lột của chế độ người bóc lột người và cuối cùng là giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức của xã hội và cả thiên nhiên, mọi thiên kiến lạc hậu và ngu muội có từ hàng ngàn đời. Đầu tiên là phải tập trung giải phóng dân tộc theo khẩu hiệu “Không gì quý hơn độc lập tự do”, nhưng không độc lập tự do suông mà phải đấu tranh cho ấm no hạnh phúc của nhân dân đông đảo, phải kết hợp ba sự nghiệp giải phóng làm một: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Ba sự nghiệp đó sau khi đất nước giành được độc lập phải được tiến hành đồng thời ngay một lúc và kết hợp chặt chẽ với nhau. Con đường đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng là con đường xây dựng nhà nước và nền dân chủ kiểu mới đối lập với nền dân chủ tư sản. Tư duy về sự nghiệp ba giải phóng có thể là cơ sở lý luận để xây dựng lý luận về tự do của chủ nghĩa Mác-lênin, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin có thể giành lấy quyền chủ động trong việc giương cao chủ nghĩa nhân văn mới, thoát khỏi tình trạng bị động đối phó trước các đòn công kích của quan điểm tự do tư sản.

Như vậy là còn có một ngọn cờ tự do khác với ngọn cờ tự do tư sản và những người cộng sản cũng là những chiến sĩ đấu tranh cho tự do, một nền tự do đối lập với nền tự do mà giai cấp tư sản quan niệm. Đó là một nền tự do kiểu mới và để có tự do, những người cộng sản phải giành lấy chính quyền, phải xây dựng một nhà nước kiểu mới đồng thời cũng là một nền dân chủ kiểu mới. Đó là nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước và nền dân chủ của số đông, nền dân chủ của đông đảo nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của một mình Đảng Cộng sản; một nhà nước và nền dân chủ như là một công cụ chính trị quan trọng có thể nói là quan trọng nhất để giai cấp công nhân và nhân dân lao động xây dựng xã hội mới.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự phủ định dân chủ tư sản nhưng không phải là một sự phủ định hư vô chủ nghĩa. Nền dân chủ XHCN đánh giá cao những thành tựu của dân chủ tư sản, coi đó không chỉ là những thành tựu tiến bộ của giai cấp tư sản mà còn là của nhân dân, của loài người; do đó khẳng định sự cần thiết học hỏi, tiếp thu, kế thừa những thành tựu tiến bộ của nền dân chủ tư sản. Thế nhưng không bao giờ để cho sự tiếp thu và kế thừa đó làm thay đổi bản chất giai cấp nhà nước và dân chủ của mình, không bao giờ tự diễn biến thành dân chủ tư sản, không bao giờ chấp nhận yêu sách của giai cấp tư sản đòi nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thực hiện đa nguyên đa đảng đối lập.

Những người cộng sản đấu tranh giành và giữ chính quyền, hoạt động chính trị trên tinh thần trung thực, không dối trá, vì mục đích của họ là chính nghĩa, trong sáng. Có thể đấu tranh chính trị cần sự khôn khéo nên những người cộng sản cũng phải biết cái gì có thể công khai hoá, cái gì phải giữ kín, có lúc phải biết ngụy trang, che dấu ý định thật của mình nhưng không bao giờ che dấu lý tưởng chiến đấu của mình, không bao giờ che dấu bản chất giai cấp nền dân chủ của mình như giai cấp tư sản đã làm. Nền tự do kiểu mới của số đông đồng thời phải là sự chuyên chính của số đông đối với số ít là những thế lực thù địch với nhân dân như Bác Hồ đã dạy. Trong hoàn cảnh lịch sử Việt Nam nơi mà yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc gắn bó hữu cơ với nhau trong mọi giai đoạn cách mạng, nơi mà chuyên chính của giai cấp công nhân cũng đồng thời là chuyên chính của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân thì những người cộng sản Việt Nam chẳng có lý do gì để mà che dấu bản chất giai cấp nền dân chủ của mình; thừa nhận một cách công khai rằng, nền tự do ấy cũng là một sự chuyên chính, chuyên chính với các thế lực thù địch với nhân dân, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Không như giai cấp tư sản che đậy chế độ chuyên chế của nó bằng những luận điệu về những giá trị tự do vĩnh hằng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam công khai thừa nhận nền chuyên chính của mình. Cho đến nền dân chủ XHCN cũng sẽ không có tự do cho mọi người, có tự do cho đa số người nhưng vẫn có sự hạn chế tự do đối với một số ít người. Trong tương lai, khi mà người ta đã có thể nói đến và thực hiện tự do cho mọi người thì nội dung của khái niệm tự do đã thay đổi, từ một khái niệm chính trị – xã hội nẩy sinh từ cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc đã trở thành một khái niệm triết học, nói lên mối quan hệ giữa con người với thế giới quanh mình.

Việc chúng ta trung thực thừa nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của chúng ta vẫn có bản chất giai cấp xác định, vẫn là sự thống trị giai cấp nhất định, tuy là sự thống trị của tuyệt đại đa số đối với số ít nhưng vẫn là một sự thống trị giai cấp, cho phép chúng ta bảo vệ một cách đàng hoàng có căn cứ khoa học nhất một số biện pháp mà giai cấp tư sản thường phê phán chế độ XHCN chúng ta là không dân chủ. Cần phải nói lên một sự thật là cái mới khi mới ra đời thường là yếu ớt so với cái cũ. Chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ XHCN cũng vậy, là những cái mới. Không tính đến những sai lầm chủ quan chết người thì chế độ đó bên cạnh tính ưu việt cũng đã có nhiều điểm yếu rồi. Do đó, trong những thời gian đầu, chế độ buộc phải có những biện pháp mạnh để bảo vệ nhà nước còn non trẻ có thể ra đời và phát triển thuận lợi. Trong tương lai không xa, khi so sánh lực lượng giữa CNXH và CNTB đã thay đổi, nhất là trên mặt trận chính trị, khi tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã là tư tưởng ăn sâu vào đông đảo các tầng lớp nhân dân thì lúc đó nền dân chủ mới sẽ có thể nơi lỏng các biện pháp cấm đoán, phòng ngừa và trấn áp.

Đó là bài học mà chúng ta học được từ chính các điều chỉnh giữa rắn và mềm của chuyên chính tư sản trong thế kỷ trước.

Với một quan điểm phương pháp luận như vậy, chúng ta sẽ bàn đến yêu sách đa nguyên, đa đảng. Các thế lực thù địch với độc lập dân tộc và CNXH đòi hỏi chúng ta phải xoá bỏ chế độ một Đảng Cộng sản lãnh đạo, đòi thực hiện chế độ đa nguyên đa đảng cạnh tranh nhau về chính trị theo hình mẫu của chế độ đa nguyên phương Tây. Có vẻ như các nhà lý luận của nền dân chủ tư sản chủ quan kiêu ngạo, muốn rao giảng cho toàn thế giới về tự do, coi mô hình dân chủ phương Tây là mô hình duy nhất của tự do, lấy đó làm hệ quy chiếu để xét mọi nhà nước trên thế giới, coi các nhà nước không giống như vậy, đặc biệt coi nhà nước XHCN do giai cấp công nhân lãnh đạo là chế độ chuyên chế. Thế nhưng trong thâm tâm, các thế lực đó hiểu rất rõ rằng, con đường đa nguyên, đa đảng là con đường nhanh và gọn nhất để lật đổ chính quyền của Đảng Cộng sản, của nhân dân lao động. Đó là con đường thực hiện bạo lực phản cách mạng phi vũ trang? Ở các nước dân chủ phương Tây, việc thực hiện đa nguyên đa đảng, đảng này thay thế cho đảng kia cầm quyền thì việc đó trong ý thức của giai cấp tư sản không bao giờ được coi là sự mất chính quyền của giai cấp tư sản.

Trái lại, ở các nước XHCN, yêu sách đòi đa nguyên đa đảng thường gắn với những cuộc biểu tình đường phố của một bộ phận quần chúng tạm thời lầm lạc bị bọn thù địch xúi dục, gắn với sự trợ giúp của giai cấp tư sản thế giới về tinh thần và cả vật chất tài chính như là một sự xuất khẩu phản cách mạng. Dưới sức ép của tình thế phản cách mạng, Đảng Cộng sản không còn ở vị trí lãnh đạo nữa và bị một đảng khác, một lực lượng chính trị khác thay thế.

Việc đó ngay lập tức được cả địch và ta hiểu rằng, đó là sự mất chính quyền của Đảng Cộng sản, là sự khởi đầu của việc chuyển đổi chế độ XHCN sang chế độ tư bản dù cho các thế lực thù địch vẫn lừa bịp, trấn an dư luận, coi việc thay đổi chính trị đó vẫn là một phong trào cách mạng của nhân dân tìm con đường dân chủ chống chế độ độc tài cộng sản. Một diễn biến như vậy tất yếu dẫn đến sự phản kháng của các lực lượng chân chính bảo vệ cách mạng, nội chiến giai cấp dưới mức độ này hay mức độ khác tất yếu diễn ra. Sự phản kháng nếu không diễn ra, hoặc diễn ra không đáng kể thì chỉ chứng tỏ sự yếu ớt của Đảng Cộng sản và quần chúng nhân dân. Sau khi lật đổ được Đảng Cộng sản, nhà nước sẽ tư sản hoá, trở thành công cụ chính trị để huỷ bỏ những thành tựu của chủ nghĩa xã hội và chuyển đổi xã hội thành xã hội tư bản. Vì hiểu thực chất của đa nguyên đa đảng như vậy cho nên thái độ Đảng và nhân dân ta là kiên quyết bác bỏ đa nguyên đa đảng, chủ động tấn công mọi mưu đồ đa nguyên đa đảng từ lúc mới nhen nhóm.

Như vậy, cùng những biện pháp đa nguyên đa đảng nhưng trong chế độ này thì chúng củng cố chế độ còn trong chế độ khác thì chúng lại đóng vai trò phá huỷ chế độ như một chất a xít cực mạnh. Chỉ có thể cắt nghĩa điều đó bằng việc phân tích sự khác nhau về bản chất giữa hai nền dân chủ. Đó là hai nền dân chủ có bản chất giai cấp đối lập nhau, phản ánh những quan hệ kinh tế và chính trị – giai cấp không giống nhau nên phương thức và cơ chế vận hành nền dân chủ không thể giống nhau. Chúng ta bác bỏ đa nguyên đa đảng nhưng chúng ta cần phải tìm tòi một phương thức và cơ chế dân chủ đặc trưng cho dân chủ XHCN và hữu hiệu hơn dân chủ tư sản. Việc phê phán, bác bỏ phải đi cùng với việc xây dựng và chừng nào chúng ta xây dựng được trên thực tế nền dân chủ XHCN thì chúng ta mới đánh bại được yêu sách đa nguyên đa đảng.

Theo một ý nghĩa nào đấy thì đa nguyên đa đảng là một hiện tượng tất yếu của nền dân chủ tư sản. Giai cấp tư sản bao giờ cũng có nhiều tầng lớp, phe phái có lợi ích khác nhau. Tuy cùng dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa nhưng với tính chất cạnh tranh tư bản chủ nghĩa vì mục tiêu lợi nhuận hết sức khốc liệt, ít nhiều cũng mang tính chất đối kháng trong nội bộ giai cấp tư sản, cho nên nẩy sinh nhu cầu mỗi tầng lớp, phe phái tư sản cần có đảng chính trị đại diện cho lợi ích của mình.

Sự đa nguyên đa đảng tư sản cũng có nhiều hình thức khác nhau. Ở một số nước đó là chế độ lưỡng đảng; tuy chế độ không cấm bất cứ các đảng nhỏ nào ra tranh cử nhưng trên thực tế chỉ có hai đảng lớn thay nhau giành quyền kiểm soát chính quyền mà thôi. Ở những nước khác như ở châu Âu, số lượng đảng chính trị mà so sánh lực lượng không chênh lệch nhau lắm, tranh cử sẽ có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn nhưng rút cục vẫn tồn tại hai xu hướng chính trị lớn đóng vai trò chi phối là các đảng chính trị cánh hữu và cánh tả; do có nhiều đảng hơn hai đảng, xuất hiện những hình thức liên minh chính trị giữa các đảng chính trị cánh hữu và cánh tả.

Với thể chế đa nguyên đa đảng, hoạt động chính trị ở các nước tư bản, nhất là vào dịp tranh cử có vẻ xôm trò và náo nhiệt nhưng thực tế vẫn chỉ là sự náo nhiệt giữa các đảng tư sản với nhau. Dù có sự khác nhau nào đấy trong cương lĩnh của các đảng nhưng các đảng đó vẫn thống nhất trên lập trường cơ bản là bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Chế độ đa nguyên tư sản vẫn nói lên tính chất hình thức và giả dối của nền dân chủ tư sản. Nó là đa nguyên trên hình thức, ở biểu hiện bề ngoài, còn trong thực chất vẫn là chế độ “nhất nguyên tư sản”, vẫn đảm bảo cho giai cấp tư sản sự thống trị tuyệt đối với nhà nước và xã hội.

Trong nền dân chủ tư sản, chỉ có trên hình thức thể chế đa nguyên cho các đảng tư sản mà không có đa đảng đối lập của các đảng chính trị chống lại giai cấp tư sản. Các đảng xã hội – dân chủ ra tranh cử và đã từng thắng cử trong nhiều nước châu Âu, đã từng lên cầm quyền, tạo ra huyền thoại về “nhà nước phúc lợi chung”. Liệu Đảng Xã hội dân chủ có phải là đảng đối lập chống lại giai cấp tư sản không ? Đúng là các đảng xã hội – dân chủ có cương lĩnh đấu tranh và thực tế có đem lại cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động những lợi ích kinh tế, cải thiện đời sống của họ. Thế nhưng, cương lĩnh chính trị của các đảng đó không bao giờ đụng đến nền tảng kinh tế của chế độ tư bản. Việc cơ chế lưỡng đảng, lưỡng cực trong tranh cử tư sản đóng vai trò như một cái van sú-páp để thay đổi khẩu vị của quần chúng đối với nền dân chủ tư sản. Sau 4 đến 5 năm cầm quyền khi đảng cầm quyền đã làm quần chúng chán ngấy đến tận cổ thì nền dân chủ đó lại đưa ra một bộ mặt chính trị mới, tiếp tục tạo ra những ảo tưởng mới cho quần chúng. Các đảng xã hội dân chủ là con bài cực kỳ hữu hiệu đối với giai cấp tư sản trong việc gây ảo tưởng cho quần chúng lao động. Tự xưng là đảng của giai cấp công nhân nhưng trong thực chất, các đảng xã hội – dân chủ không đại diện cho lợi ích cơ bản của công nhân mà lại đại diện cho lại ích cơ bản của giai cấp tư sản.

Về thực chất, các đảng đó là cánh tả của hàng ngũ các đảng tư sản thì đúng hơn và giai cấp tư sản coi việc các đảng đó thắng cử chẳng đe doạ gì xã hội tư bản, giai cấp tư sản chỉ phải thay đổi sự phân phối lợi nhuận chịu đóng thuế cao để mua lấy một “xã hội phúc lợi chung” mà thôi. Thế rồi chỉ được một thời gian, khi giai cấp tư sản xót của vì phải đóng thuế cao thì đến kỳ tranh cử sau, chính quyền xã hội – dân chủ lại đổ để cho một đảng chính trị tư sản khác lên thay.

Đối với những đảng thực sự đối lập với chế độ tư bản, những đảng cộng sản thực sự có cương lĩnh vượt qua chủ nghĩa tư bản để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, giai cấp tư sản có một đối sách khác để ngăn cản sự thắng cử của các đảng đó. Về mặt pháp lý, trừ những thời gian có những hoạt động cấm các đảng cộng sản ra còn thông lệ hiện nay là các đảng cộng sản vẫn có quyền tranh cử ngay cả tranh cử bầu tổng thống. Thế nhưng trên thực tế, trong so sánh lực lượng hiện nay, không có khả năng cho Đảng Cộng sản lên nắm chính quyền bởi vì giai cấp tư sản không muốn thế và nó đã bao vây thu hẹp được thế lực của Đảng Cộng sản, cho phép các đảng đó có thể có một số ghế trong nghị viện để tô vẽ cho nền dân chủ đa nguyên đa đảng nhưng bao giờ cũng là một thế lực nhỏ nhoi chẳng có thể ảnh hưởng đến đường hướng cơ bản của nền dân chủ tư sản. Để bao vây các thế lực thực sự đối lập, giai cấp tư sản dùng nhiều biện pháp từ đấu tranh chính trị, tư tưởng, văn hoá đến cả những biện pháp kinh tế và tài chính để chống cộng sản. Để hoạt động tranh cử cần phải có tiền. Trong khi các đảng tư sản lớn được các tập đoàn tư bản hùng mạnh tài trợ hậu hĩnh thì những người cộng sản chỉ có thể gây quỹ tranh cử bằng tiền đóng góp của những người lao động vốn không sẵn tiền.

Như vậy là nền dân chủ tư sản không phải thực sự là đa nguyên đa đảng mà là một nền dân chủ nhất nguyên tư sản, không có đa đảng đối lập. Cho nên với yêu cầu các nhà nước XHCN phải thực hiện đa nguyên đa đảng như trong chế độ tư bản thì giai cấp tư sản lại lừa bịp một lần nữa nhân dân các nước XHCN. Họ yêu cầu các nước XHCN làm những việc mà chính giai cấp của họ không làm. Vậy thì đúng lẽ đời hơn là tại sao giai cấp công nhân và nhân dân lao động không được quyền thực hiện sự nhất nguyên xã hội chủ nghĩa như giai cấp tư sản đã làm nhất nguyên tư sản. Chỉ có điều giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện sự nhất nguyên một cách công khai đàng hoàng chứ không cần che đậy như giai cấp tư sản.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không cần thể chế đa nguyên đa đảng, không cần chế độ nhiều đảng, nhất là không có đảng tư sản đối lập. Điều đó đã được pháp chế hoá, được ghi vào Hiến pháp của các nước XHCN. Đó là bởi vì trong buổi bình minh của chế độ XHCN, nền chuyên chính của giai cấp công nhân và nhân dân lao động còn phải dùng các biện pháp rắn để bảo vệ cho chế độ mới ra đời thuận lợi. Trong một thời gian còn dài, không cho đảng chính trị tư sản được phép tồn tại đóng vai trò phá hoại nền chuyên chính đó ? Về thực chất, giai cấp tư sản cũng đã làm như vậy trong việc củng cố nhà nước tư sản. Khi nó còn yếu, nó cũng đưa vào pháp chế những đạo luật chống cộng, đàn áp cộng sản, không cho phép Đảng Cộng sản tồn tại. Chỉ đến khi chúng mạnh lên đồng thời cũng do đấu tranh của những người bị áp bức thì chúng mới chuyển sang thực hiện chuyên chính mềm. Đó chính là lý lẽ cơ bản để bác bỏ yêu sách đa nguyên đa đảng.

Nền dân chủ XHCN Việt Nam không cần đa nguyên đa đảng nhưng sẽ được xây dựng mạnh mẽ hơn dân chủ tư sản, sẽ có một phương thức và cơ chế dân chủ khác làm cho nhân dân thực sự làm chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho nền dân chủ diễn ra trong thực chất, chứ không phải diễn ra một cách hình thức, làm cho nền dân chủ diễn ra phổ biến mọi lúc mọi nơi, không chỉ trên phạm vi vĩ mô cả nước mà cả trong từng địa phương, từng cơ sở, bằng cách kết hợp thể chế dân chủ đại diện với dân chủ trực tiếp nhất là dân chủ trực tiếp ở cơ sở.

Lâu nay, khi đưa ra lý lẽ bảo vệ cho việc bác bỏ đa nguyên đa đảng, chúng ta thường nói rằng, giai cấp công nhân là một giai cấp thống nhất, không có lợi ích phe phái nên không cần nhiều đảng đại diện cho mình như giai cấp tư sản. Thực tiễn xây dựng nền dân chủ ở nước ta chứng tỏ rằng, nhận định đó có mặt hợp lý nhưng không đầy đủ, rằng giai cấp công nhân nếu cộng cả khối nhân dân đông đảo thì cũng chia thành những cộng đồng phân biệt theo nghề nghiệp, giới tính, theo địa phương… Tuy có lợi ích cơ bản chung là độc lập dân tộc và CNXH nhưng các cộng đồng trong nhân dân ta cũng có những nhu cầu và lợi ích khác nhau, có khi đối lập nhau và cần một sự đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, tất cả các sự khác nhau đó không có tính chất đối kháng và xã hội ta không đòi hỏi phải tổ chức ra các đảng chính trị theo từng cộng đồng để làm rối loạn sự ổn định chính trị trong xã hội. Không cần nhiều đảng mà chỉ cần một Đảng Cộng sản là đủ vì đảng đó đã đại diện cho những lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân. Nhân dân ta không cần đến nhiều đảng nhưng rất cần nhiều diễn đàn tranh luận. Điều đó sẽ được thoả mãn bằng các hội đoàn thể chính trị – xã hội và xã hội – nghề nghiệp, bằng tổ chức Mặt trận Tổ quốc, các diễn đàn của sự hiệp thương và giải quyết sự khác nhau về lợi ích trong phạm vi nội bộ nhân dân.

Với một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì sẽ tất yếu nẩy sinh và phát triển cộng đồng những nhà doanh nghiệp tư nhân tư bản chủ nghĩa. Có thể người ta còn tranh luận xem đó có phải là một giai cấp không, nhưng là một cộng đồng có những lợi ích riêng thì là điều hiển nhiên rồi. Có thể tạm gọi đó là những tầng lớp tư sản ! Các tầng lớp đó có cần đảng chính trị của mình để đối lập với Đảng Cộng sản không ! Các tầng lớp đó không cần đảng chính trị riêng của mình bởi vì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đại diện cho các lợi ích và nguyện vọng cơ bản của họ, họ cũng sẽ đấu tranh dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH trong đội ngũ khối đại đoàn kết toàn dân mà không cần một ngọn cờ chính trị khác. Họ có thể có diễn dàn riêng hoặc diễn đàn của Mặt trận Tổ quốc để hiệp thương, thảo luận các yêu cầu lợi ích của mình trong trật tự của nền dân chủ XHCN.

Vậy là giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, kể cả các tầng lớp tư sản trong thời kỳ đổi mới không cần đến đa nguyên đa đảng. Vậy thì ai là người Việt Nam cần đến đa nguyên đa đảng ? Chỉ còn một dúm người thù địch với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta và nhân dân ta là yêu sách một cách tự giác Đảng Cộng sản Việt Nam phải xã hội dân chủ hoá và thực hiện đa nguyên đa đảng, mong lật đổ Đảng Cộng sản để giành lấy chính quyền bằng bất cứ giá nào để kiếm lợi. Hy vọng rằng, trước mắt nhân dân Việt Nam, chúng chẳng thể là các chiến sĩ của tự do như phương Tây tâng bốc mà chỉ là phái phản động, tay sai của của chủ nghĩa đế quốc mà thôi.

Tuy nhiên, tư tưởng dân chủ tư sản với mô hình đa nguyên đa đảng không phải là không có ảnh hưởng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên chúng ta. Tư tưởng đó đã thâm nhập vào môi trường chính trị của chúng ta.

Có người nói ra và có người không nói ra nhưng một số người có một ý nghĩ mơ mơ màng màng là nếu chúng ta đi theo mô hình của phương Tây, chúng ta sẽ được phương Tây giúp đỡ nhiều hơn, sẽ làm cho đất nước phát triển nhanh hơn khi còn cứ bám lấy ngọn cờ xã hội chủ nghĩa.

Theo tư tưởng phương Tây, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, đó là một ảo tưởng cực kỳ sai lầm! Nền dân chủ của chúng ta hiện nay còn có những khuyết tật cần phải được khắc phục một cách cơ bản, những khuyết tật nhiều khi còn do những tàn dư của quá khứ vẫn còn đè nặng lên chúng ta. Thế nhưng, chúng ta sẽ sửa chữa các khuyết tật đó, hoàn thiện nền dân chủ mới của chúng ta bằng con đường XHCN, theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân chứ không phải chuyển sang nền dân chủ tư sản. Nếu xẩy ra việc thực hiện đa nguyên đa đảng, Đảng Cộng sản mất chính quyền thì không phải là một xã hội phát triển ổn định kiểu phương Tây sẽ ra đời ở nước ta mà sẽ xuất hiện một xã hội của chủ nghĩa tư bản hoang dã. Trong quá trình chuyển đổi sang chủ nghĩa tư bản, theo kinh nghiệm của các nước XHCN mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã mất chính quyền thì chủ nghĩa tư bản hoang dã cơ bản là đóng vai trò phá hoại các lực lượng sản xuất mà chế độ XHCN đã tạo nên. Bọn ăn cướp của công theo đúng nghĩa của từ này, bọn lưu manh chính trị sẽ làm tan hoang nền kinh tế, diễn ra một sự bần cùng hoá mới đối với nhân dân. Cũng có thể là sau một thời kỳ hỗn độn, tình hình ổn định lại dần dần trên cơ sở một kết cấu kinh tế và giai cấp kiểu tư bản chủ nghĩa. Có thể xuất hiện phái chính trị tư sản muốn giương cao ngọn cờ dân tộc. Sự xuất hiện đó không làm hài lòng phương Tây, nhất là chủ nghĩa bá quyền Mỹ và chúng lập tức đánh chặn ngay con đường phát triển độc lập của chủ nghĩa tư bản bản xứ như diễn biến tình hình ở Gru-zia và U-crai-na đã chứng tỏ.

Vậy thì ngày nay, chúng ta đang đi con đường XHCN quang minh chính đại, con đường chắc chắn và nhanh nhất đưa đất nước đến phồn vinh, đem lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân, đất nước đang ổn định và phát triển thì tại sao chúng ta lại dại dột, nghe những lại dụ dỗ của các thế lực phản động về chính trị, từ bỏ con đường đó để đi vào một con đường bế tắc, đầy chông gai, chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp cho đất nước, cho dân tộc./.

GS.Trần Xuân Trường
cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Một 8, 2012, in Chính luận.

Không thể chụp mũ “tự do ngôn luận”

Việc mượn cớ các tổ chức xưng danh nhân quyền hay bất kỳ danh xưng nào khác để viết thư kêu gọi hay thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào nhằm gây sức ép lên cơ quan tiến hành tố tụng của một quốc gia trong xét xử vụ án là hoàn toàn phi lý.

Ít ngày nữa, TAND TP Hồ Chí Minh sẽ mở phiên tòa sơ thẩm xét xử ba bị cáo phạm tội “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo khoản 2, Điều 88, BLHS. Ba bị cáo bị đưa ra xét xử gồm: Nguyễn Văn Hải (60 tuổi, còn gọi là Hoàng Hải, Hải Điếu Cày), Tạ Phong Tần (44 tuổi, quê Bạc Liêu) và Phan Thanh Hải (43 tuổi, ngụ quận Thủ Đức – TP Hồ Chí Minh).

Việc xét xử các bị cáo phạm một tội được quy định trong BLHS là công việc bình thường của tòa án. Thế nhưng, trong mấy ngày qua, một số cá nhân, tổ chức nước ngoài đã nhân sự việc này vu cáo chính quyền “vi phạm nhân quyền” mà chiêu bài vẫn chỉ xoay quanh cái gọi là “tự do dân chủ, tự do báo chí”, từ đó có các hành động như viết bài xuyên tạc sự thật trên mạng internet, viết thư gửi các cơ quan quốc tế và tại Việt Nam để gây sức ép.

Hôm 31/7, ba tổ chức của cái gọi là Ủy ban Bảo vệ quyền làm người Việt Nam (Vietnam Committee on Human Rights), Liên Đoàn Quốc tế nhân quyền (FIDH, International Federation for Human Rights) và Tổ chức quan sát nhằm bảo vệ người đấu tranh cho nhân quyền (The Observatory for the Protection of Human Rights Defenders) viết thư chung gửi đến một số đại sứ về phiên tòa xử ba bị cáo với lời lẽ thiếu thiện chí, can thiệp vô lý vào công việc nội bộ của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam khi trắng trợn đòi “rút bỏ mọi cáo trạng” đối với ba bị cáo và “tức khắc trả tự do vô điều kiện”.

Xét xử là công việc của tòa án và tòa chỉ quyết định trên cơ sở pháp luật. Không có bất cứ cá nhân, tổ chức nào khác ngoài HĐXX của tòa án được giao trực tiếp xét xử vụ án có quyền can thiệp đến bản án. Đó là nguyên tắc không chỉ đối với luật pháp Việt Nam mà các quốc gia trên thế giới cũng đều tuân thủ nguyên tắc này khi giao quyền độc lập xét xử cho tòa án. Việc mượn cớ các tổ chức xưng danh nhân quyền hay bất kỳ danh xưng nào khác để viết thư kêu gọi hay thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào nhằm gây sức ép lên cơ quan tiến hành tố tụng của một quốc gia trong xét xử vụ án là hoàn toàn phi lý. Vì vậy, thay cho việc tác động như trên, những thế lực vốn lâu nay mượn áo dân chủ, nhân quyền, chụp mũ “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” cần phải nhận thức và tuân thủ những nguyên tắc sơ đẳng nhất.

Thực tế, việc các bị cáo bị tòa án đưa ra xét xử lần này đã có các hành vi phạm vào Điều 88 – BLHS, các hành vi này thể hiện rõ trong cáo trạng của VKS. Chỉ trong thời gian từ tháng 9/2007 đến tháng 10/2010, đã có 421 bài đăng trên CLB nhà báo tự do, trong đó có 94 bài do thành viên câu lạc bộ viết và 327 bài lấy lại từ các blog, trang web của các tổ chức hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Trong số này, 26 bài được giám định, kết luận: “hầu hết những bài viết đều chứa nội dung, giá trị của sự phê phán trong tinh thần không phải để xây dựng, hoặc cao hơn là lên án, kết án nhằm hướng tới sự cổ động, kích động công luận tham gia đấu tranh thay đổi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, thay đổi chế độ chính trị, Nhà nước hiện tại nhằm xây dựng một chế độ khác, nhà nước khác… Xác lập và công bố hệ thống quan điểm về thông tin báo chí, ngôn luận của một nhóm nhà báo mệnh danh tự do cố thể hiện mình như là thế lực mới đang được hình thành và từng bước trưởng thành trong lòng Chế độ Cộng sản ở Việt Nam hiện tại nhằm mục đích xây dựng, tập hợp lực lượng chính trị chống đối phục vụ cho âm mưu diễn biến, lật đổ trước mắt và lâu dài”.

Việc viết bài trên các blog, mạng xã hội… với nội dung xuyên tạc, vu cáo, chống chính quyền nhân dân là vi phạm các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam. Ngay tại nước Mỹ, nơi được cho là “thiên đường tự do ngôn luận”, thì luật pháp các bang ở Mỹ cũng quy định rất rõ vấn đề này và không ít cá nhân vi phạm đã bị bắt, xử lý.

Chẳng hạn, ông James Buss, giáo viên Trường Trung học Milwaukee, bị bắt vì đã vào blog của các nhà chính trị bang Wisconsin với lời bình mang biệt danh “Người quan sát” (Observer) cho rằng, giáo viên Mỹ được trả lương cao nhưng lười biếng và khen vụ một thiếu niên xả súng ở Trường Trung học Columbine làm 12 học sinh và một giáo viên thiệt mạng hồi tháng 4/1999. Cảnh sát cho rằng, hành động của Buss có tính kích động bạo lực trong trường học, tương đương việc nói “có bom trên máy bay”, đồng thời hạ thấp nhân phẩm giáo viên

Đăng Trường
cand.com.vn


26 năm tù cho 3 đối tượng tạo dựng blog “Câu lạc bộ Nhà báo tự do”

Sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc: Động lực của sự phát triển

GS Đinh Xuân Thảo – Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp của Quốc hội (Đại biểu Quốc hội TP. Hà Nội) đã nhấn mạnh như vậy khi trao đổi với phóng viên báo Đại Đoàn Kết về bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Có hai vấn đề quan trọng trong bản Hiến pháp mới là sở hữu đất đai và khẳng định vị thế của MTTQ Việt Nam về vai trò giám sát và phản biện.

Ông Đinh Xuân Thảo

PV: Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã được trình xin ý kiến nhân dân và được thảo luận tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIII này. Xin ông cho biết những điểm mới được sửa đổi trong bản Hiến pháp này là gì?

Ông Đinh Xuân Thảo: Việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã được tích cực chuẩn bị hơn 1 năm. Bước đầu việc tổng kết 20 năm thi hành trên cơ sở đó rút ra những vấn đề, những quy định vẫn còn phù hợp, hợp lý thì tiếp tục giữ lại. Còn những vấn đề thấy không còn phù hợp thì phải chỉnh sửa. Qua tổng kết 20 năm thi hành Hiến pháp có rút ra 9 vấn đề lớn. Trong 9 vấn đề lớn này, có 3 vấn đề tập trung nhất. Thứ nhất, liên quan đến chủ quyền nhân dân thể hiện vai trò của nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Nhân dân là chủ thể quyền lực tối cao, thực hiện quyền đó bằng cách nào. Cụ thể trong các bản Hiến pháp trước đây và hiện hành quy định nhân dân sử dụng quyền lực của mình chủ yếu thông qua đại diện, có nghĩa là thông qua đại biểu Quốc hội và HĐND do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Trước đây là thế, nhưng sự đòi hỏi của hiện nay là làm sao để thực sự thể hiện vai trò người chủ của đất nước. Việc thể hiện quyền làm chủ thông qua người đại diện vẫn tiếp tục được duy trì nhưng phải đặt vấn đề, phải coi trọng việc thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, làm chủ trực tiếp của người dân. Điều đó có nghĩa là thông qua bản Hiến pháp, đạo luật cao nhất của quốc gia trong đó phải xác định là người dân trao cho cơ quan nhà nước, bộ máy nhà nước những quyền gì, còn giữ lại cho mình quyền gì và bằng cách nào để thực hiện. Đây là vấn đề cốt lõi của lần sửa Hiến pháp này. Điều này được thể hiện rõ ở chương I (Về chế độ chính trị) đồng thời nó được xuyên suốt, quán triệt suốt trong các chương khác, nội dung khác của Hiến pháp. Đặc biệt, nó thể hiện rõ nét nhất ở chương thứ II (Về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân). Trước đây chương này là chương 5 của Hiến pháp hiện hành với tên Quyền và nghĩa vụ công dân, lần này mang tên Quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân được đặt ngay trên vị trí thứ 2 của Hiến pháp mới. Đây là một điểm trọng tâm phải thể hiện, như Hiến pháp hiện hành điều 2 quy định ở nước CHXHCN VN tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhưng đến điều 6 lại quy định nhân dân sử dụng quyền lực thông qua người đại diện là Đại biểu Quốc hội và HĐND. Lần sửa đổi này sẽ không thể như vậy được. Vì ngoài Quốc hội và HĐND do đại biểu trực tiếp bầu ra thì còn các cơ quan Nhà nước khác như Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát, Mặt trận và các cơ quan trong hệ thống chính trị và người dân họ phải có quyền sử dụng nó như một hình thức, phương thức của quyền làm chủ. Đặc biệt là quyền dân chủ trực tiếp, quyền trưng cầu ý dân, biểu quyết, bỏ phiếu trực tiếp thể hiện ý chí của người dân đối với những vấn đề quan trọng của đất nước. Đây là cái mà trước đây quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân nằm rải rác ở các chương thì lần này được tập trung thể hiện cho rõ trong một chương.

Thứ hai là vấn đề người được nhận cái đó chính là Bộ máy Nhà nước. Bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương lần này phải sửa đổi cho phù hợp. Nó phải thể hiện rõ ràng mặc dù nước ta không theo đa nguyên về chính trị và chúng ta cũng không theo tam quyền phân lập như các nước tư bản, nhưng quyền lực phải có sự phân công rạch ròi, có sự kiểm soát. Vấn đề mới lần này chính là nội dung kiểm soát quyền lực. Hiến pháp hiện hành không nói rõ cơ quan hành pháp là ai, cơ quan tư pháp là ai, chỉ nói Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp thôi. Lần này cùng với việc xác định rõ Quốc hội là cơ quan lập pháp, Chính phủ là cơ quan thực hiện, thực hành quyền hành pháp, Tòa án là cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp. Trên cơ sở có sự phân công theo chiều ngang ở Trung ương rạch ròi như thế để có sự kiểm soát lẫn nhau. Còn giữa bộ máy ở Trung ương và địa phương có sự phân cấp và phân quyền. Nội dung trước đây chỉ có phân cấp chứ không có phân quyền, trước đây chỉ là ủy quyền thì nay có sự phân quyền, có nghĩa tách bạch ra rõ là Trung ương làm gì, địa phương làm gì, cái gì chỉ có Trung ương được làm mà địa phương không được làm. Có cái địa phương được làm mà Trung ương không được làm. Đây là những vấn đề nằm trong nội dung phân cấp, phân quyền phải rõ ràng. Quy định như thế để tạo ra cơ chế để đảm bảo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương. Mặc dù chúng ta không thực hiện tự quản tuyệt đối như các nước nhưng vai trò tự chủ của địa phương cũng rất quan trọng và lần này cũng được thể hiện.

Nội dung thứ 3 là tập trung về vấn đề kinh tế, văn hóa-xã hội, khoa học-công nghệ và môi trường. Trước đây có 2 chương lần này nhập chúng lại thành một chương. Bởi lẽ chúng ta thấy muốn phát triển văn hóa, giáo dục, công nghệ, môi trường thì phải có kinh tế và ngược lại. Chúng gắn chặt với nhau nên ghép lại thành 1 chương và trong đó những nội dung này không đi sâu vào quá chi tiết như trước đây. Chúng ta biết lĩnh vực kinh tế, xã hội thay đổi liên tục, phát triển hằng ngày nếu đưa vào Hiến pháp quá cụ thể, quá rõ ràng thì dễ lạc hậu mà đòi hỏi Hiến pháp phải sửa liên tục thì không được. Hiến pháp không thể như luật phải đảm bảo tính ổn định của nó. Điều này cũng liên quan đến kỹ thuật lập hiến mà chúng ta phải học tập các nước phát triển trên thế giới, Hiến pháp của người ta tồn tại hàng trăm năm. Việc gắn kết này đảm bảo sự hài hòa, duy trì sự tồn tại ổn định đi lên, những nội dung trên gắn kết và xoay quanh một nội dung trọng tâm là kinh tế. Kinh tế ở đây là trọng tâm như Cương lĩnh đại hội Đảng đã khẳng định: chúng ta xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đã nói đến kinh tế thị trường là một nền kinh tế nhiều thành phần ngày càng phát triển với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế cùng với các thành phần kinh tế tư nhân là động lực của nền kinh tế. Đây là một nền kinh tế đa thành phần chứ không liệt kê ra hết 5, hay 6, 7 để đảm bảo tính linh hoạt, chuyển đổi của nền kinh tế trong từng thời kỳ cho phù hợp.

Như vậy, chúng ta sẽ có một chương mới nói về trọng tâm kinh tế. Vậy còn vấn đề sở hữu được đề cập như thế nào, thưa ông?

– Vấn đề quan trọng của chương này nói về trọng tâm kinh tế là nói đến vấn đề sở hữu. Chúng ta vẫn xác định là sở hữu toàn dân và đa sở hữu. Đối với những loại tư liệu sản xuất, tài sản của quốc gia được khẳng định là sở hữu toàn dân nhưng cái mới là người đại diện cho dân, cho chủ sở hữu đích thực để quản lý đấy là vai trò nhà nước. Nhưng nhà nước phải xác định rõ nhà nước là có địa chỉ, chứ không phải nhà nước chung chung, bởi vì anh nào cũng nói mình là nhà nước thì không được. Nhà nước phải có trách nhiệm, trước hết là Quốc hội, cơ quan quyền lực đại diện cho dân, do dân bầu ra. Đây là cơ quan cao nhất, thống nhất về quản lý toàn bộ tài sản quốc gia nhưng quản lý phải có quy hoạch, kế hoạch quản lý bằng quy định của pháp luật. Người trực tiếp quản lý thứ 2 đó là Chính phủ, thứ 3 là HĐND, UBND các địa phương.

Thưa ông, trong bản Hiến pháp mới, quyền của người dân thể hiện trong vai trò giám sát của MTTQ sẽ như thế nào?

Điều 9 Hiến pháp nói về Mặt trận với tinh thần giữ nguyên. Xác định rõ vai trò của Mặt trận, lần này có một nội dung quan trọng là vấn đề chủ quyền nhân dân thể hiện thông qua các tổ chức của mình. Mặt trận là một tổ chức cần xác định rõ là động lực cho sự phát triển của đất nước. Nếu như trước đây những năm 59, năm 80, lúc đó nói đến chuyên chính vô sản, nói đến động lực phát triển, đó là giai cấp công nhân, để thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Hiện nay trong điều kiện hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới, động lực ở đây là sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nền tảng và Điều 9 này khẳng định rõ, nhất là điều mà lâu nay nhiều người quan tâm là vai trò giám sát và phản biện của MTTQ Việt Nam. Những cái mới này đã đưa vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp mới.

Xin cảm ơn ông!

Nhóm PV (thực hiện)
daidoanket.vn