Thư viện

Ký ức về Bác Hồ trên những chuyến chuyên cơ

Cuộc đời lính gắn bó với những người cựu binh này ngót gần nửa thế kỷ. Đôi phần ký ức đã lãng quên theo thời gian, nhưng những ký ức về năm tháng được gắn bó với Bác trên những chuyến chuyên cơ mãi không bao giờ phai mờ.

Người kể chuyện Bác Hồ

Với Đại tá Trần Văn Bích, mỗi dịp trò chuyện với những thanh niên thôn Vạn Phúc Đông (xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh), những ký ức về những năm tháng sống trong quân ngũ và phục vụ đất nước như sống lại. 15 năm công tác tại Trung đoàn bay 919, có đến 9 năm ông vinh dự được gắn bó bên Bác Hồ trên những chuyến chuyên cơ phục vụ lãnh tụ. Ở thôn này, ai cũng biết đến ông với cái tên gần gũi “Người kể chuyện Bác Hồ”.

ky-uc-bach-ho-aBàn thờ Bác được đặt vị trí trang nghiêm trong nhà Đại tá Trần Văn Bích

Năm 1945, người chiến sĩ trẻ Trần Văn Bích tròn 20 tuổi, theo đoàn quân tiến về Hà Nội tiếp quản Thủ đô. Đến tháng 2/1956, ông được tuyển chọn sang tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc học lái máy bay. Tháng 4/1958, ông tốt nghiệp lớp máy bay ném bom TU2, ở Trường số 2, Quân giải phóng Trung Quốc. Vào thời điểm đó, tình hình trong nước có một số biến động, ông Bích phải chuyển sang học lớp máy bay vận tải AN2. Sau khi hoàn thành khóa học tháng 2/1960, ông về nước tham gia vào Đoàn bay 919, thuộc Quân chủng Phòng không Không quân. Người bạn gắn bó với ông trong năm tháng cống hiến ở  Đoàn bay 919 chính là Thiếu tướng Nguyễn Đình Khoa, nguyên Phó Tổng Giám đốc Công ty bay dịch vụ.

Nhớ về  người đồng đội, Thiếu tướng Nguyễn Đình Khoa xúc động: “Đại tá Trần Văn Bích là linh hồn, anh cả của đội bay. Tính anh phóng khoáng, thẳng thắn và rất vui vẻ. Nhưng trong công việc anh rất nghiêm túc, nhiệt tình. Nhiều thế hệ lính phi công đã trưởng thành dưới bàn tay huấn luyện của người anh cả này”.

15 năm công tác tại Đoàn bay 919, phi công Trần Ngọc Bích có rất nhiều chuyến bay chuyên chở Bác Hồ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Lào, tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực tiếp viện cho chiến trường. Những lần được gặp Bác đều để lại ấn tượng sâu sắc với người lính không quân ấy. Ký ức về những ngày được cùng ăn, cùng trò chuyện, được chứng kiến nếp sống giản dị, gần gũi của Bác Hồ mãi khắc sâu trong tâm trí ông. Học tập và noi gương Bác, Đại tá Trần Văn Bích luôn giữ vững phẩm chất kiên trung, cao đẹp của một người lính. Dù là lính trực thăng của Đoàn bay 919, hay sau này là Trung đoàn trưởng Trung đoàn trực thăng 916 rồi Chánh Thanh tra Quân chủng, Hiệu phó Trường Sĩ quan chỉ huy không quân, Cục phó Cục Quân huấn… ông Bích đều hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, tự nhắc nhở mình và nhắc đồng đội sống xứng đáng với Bác, xứng đáng với tên gọi người lính Cụ Hồ.

ky-uc-bach-ho-bĐại tá Trần Văn Bích (người thứ hai hàng đầu, từ trái sang) chụp ảnh với đồng đội cũ
trong một dịp gặp mặt

Nghỉ hưu năm 1990, ông Bích lại về sống bên dòng sông La hiền hòa, gắn bó với công tác tuyên truyền, vận động thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở địa phương. Ở vùng quê này, ông trở thành người lưu giữ và truyền khẩu nhiều nhất những câu chuyện về Bác Hồ. Ông Chu Lương Tâm, Phó Chủ tịch xã Trường Sơn cho biết: “Nhiều năm qua, bác Bích là người cựu chiến binh có nhiều đóng góp cho thôn xóm. Đặc biệt, trong các dịp Tết thiếu nhi, Trung thu, bác vừa là người quyên góp nhiều đồng thời vận động mọi người cùng tham gia”.

Dạy con cháu, ông Bích luôn đề cao truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, ơn Đảng, ơn Bác… 4 người con đều noi gương ông, sắp đặt trang trọng ảnh Bác Hồ ở một gian bàn thờ, thắp hương vào mỗi dịp rằm, lễ, Tết. Hiện nay, người cháu nội của ông cũng đang tiếp bước ông làm phi công cho Hãng Hàng không Vietnam Airline. Nhiều thế hệ học sinh tiểu học, trung học cơ sở ở xã Trường Sơn từng được trò chuyện với Đại tá Trần Văn Bích trong giờ học ngoại khóa vẫn nhớ đến ông, người say mê kể chuyện Bác Hồ.

Nhớ cái ôm nhắc nhở của Bác

Rời làng Vạn Phúc Đông, chúng tôi tìm đến ngôi nhà của một người lính cũng đã có nhiều năm vinh dự được tham gia trên những chuyến bay với Bác, tên ông là Nguyễn Đăng Thường. Có một điều thú vị người lính già này cho chúng tôi biết, Đại tá Trần Văn Bích chính là người anh, người thầy đã dìu dắt ông trong những ngày làm lính phi công.

ky-uc-bach-ho-cThượng tá Nguyễn Đăng Thường bên những kỷ vật cũ

Những năm tháng rèn luyện trong quân ngũ khiến ông vẫn còn rất phong độ ở độ tuổi ngoài 80. Mái tóc trắng như cước, màu da đỏ au, và ấn tượng trong chúng tôi về ông chính là cách nói chuyện đậm chất người lính Cụ Hồ.

Cuộc đời lính gắn bó với ông hơn 30 năm nhưng với ông những năm tháng được tham gia lái máy bay cho Bác Hồ là những kỷ niệm thiêng liêng và rất đỗi khó quên. Từng câu nói, cử chỉ của người mãi in sâu trong trí nhớ của người cựu binh năm xưa.

ky-uc-bach-ho-dVợ chồng Thượng tá Nguyễn Đăng Thường

Ông kể: “Chuyến bay đầu tiên cũng là chuyến bay tôi nhớ nhất. Tôi không tham gia lái chính chỉ ngồi ở ghế phụ lái. Hôm đó và khoảng ngày 24 rạng ngày 25/12/1967. Đây là thời điểm Noel, Mỹ tuyên bố ngừng ném bom. Chúng tôi được nhiệm vụ chở Người sang Trung Quốc, nhưng do thời tiết xấu phải hạ cánh ở sân bay Nội Bài. Vừa xem xét để nắm tình hình của địch, đồng thời các đồng chí tranh thủ kiểm tra lại máy móc thiết bị. Lúc này, Bác cũng bước ra ngoài và ngồi xuống bên cạnh tôi nói chuyện với tất cả mọi người rất vui vẻ. Bác hỏi thăm, rồi dặn dò mọi người giữ gìn sức khỏe. Khi chuẩn bị có lệnh cất cánh, Bác bỗng quay sang ôm ngang người tôi thật chặt, giọng xúc động: “Phi công ta cũng không to cao bằng phi công của các nước khác, không biết các cháu ăn có đủ no không?”. Lúc này, một đồng chí trong Đoàn đứng dậy khẳng khái: “Thưa bác, tuy phi công chúng ta ăn chưa no, vóc người không to nhưng gan thì to lắm ạ. Dám đánh cả giặc Mỹ”. Bác đứng dậy, nhìn chúng tôi trìu mến, Người nói “Bác rất tin””.

Sau chuyến bay này, ông Thường còn tham gia trong Tổ lái máy bay cho Bác thêm ba lần nữa.

Phượng Vũ – Văn Dũng
Theo http://dantri.com.vn

Thu Hiền (st)

Bác của chúng ta thật giản dị

123th Anniversary of Uncle Ho

Mỗi năm, tháng Năm về lòng mỗi người dân Việt Nam ta lại bâng khuâng nhớ về ngày 19/5 kỷ niệm Ngày sinh Bác Hồ kính yêu. Sinh thời, cứ đến dịp 19/5, Bác thường dặn các địa phương, cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình, vì Bác lo ngại tốn thời gian, tiền bạc của nhân dân trong lúc đời sống nhân dân còn khó khăn. Đúng ngày 19/5, Bác thường đi công tác để tránh những nghi lễ tốn kém vì ngày sinh của Người. Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ tổ chức đánh bắt cá tại ao cá mà Người vẫn hàng ngày chăm sóc để biếu các cụ già, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cho anh em cơ quan phục vụ Bác để cải thiện bữa ăn.

Vào những dịp đó, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan, đoàn thể trong nước và bầu bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết nhân kỷ niệm ngày sinh của mình. Năm 1959, nhân dịp kỷ niệm Ngày sinh 19/5 và kỷ niệm 5 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Bác Hồ đã lên thăm đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Nói chuyện với đồng bào và cán bộ dự mít tinh ở Châu Thuận, Bác khen ngợi tinh thần đoàn kết kháng chiến cũng như tinh thần đoàn kết sản xuất của tất cả đồng bào, bộ đội, cán bộ Tây Bắc. Bác có thơ chúc và trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Đoàn kết – Thi đua – Thắng lợi”. Bác nhắc nhở bà con dân tộc phải bảo vệ rừng vì rừng là vàng, là bạc, là máy móc cả. Bác đến thăm nông trường Mộc Châu, Bác tặng nông trường mấy câu: Luôn luôn cố gắng/Khắc phục khó khăn/Tiến lên thật hăng/Làm tròn nhiệm vụ”.

Dịp tháng 5/1963, ông Nguyễn Sinh Quế, Bí thư Đảng ủy xã Kim Liên, huyện Đàn (Nghệ An) có dịp ra Hà Nội đến mừng thọ Bác nhân dịp 19/5. Trước khi ông Quế ra về, Bác hỏi thăm về những xã, làng Mậu Tài, Hoàng Trù, Nguyệt Quả rồi Bác trao cho ông Quế và những người cùng đi một gói hạt phượng và Bác dặn “Các chú về chia cho mỗi nơi một ít và nhớ là phải trồng cây nào sống cây ấy”. Ngày nay, về Kim Liên, các trường học, trạm xá, các con đường có những cây phượng tháng 5 về đỏ rực một màu xen lẫn với những cây xà cừ lá xanh mượt mà.

Ngày 19/5/1965, Bác Hồ thọ 75 tuổi, đúng 18h, Trung ương “đột kích” vào chúc thọ Bác. Mọi người đông đủ, một bó hoa tươi trang trọng giữa bàn. Bác đứng dậy vui vẻ hỏi: “Bác muốn biết ai đứng ra chúc thọ hôm nay”? Đồng chí Lê Duẩn tủm tỉm cười, đồng chí Phạm Văn Đồng liếc mắt nhìn sang đồng chí Trường Chinh. Đồng chí Trường Chinh đứng dậy hướng về phía Bác:

– Thưa Bác, nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày sinh của Bác, thay mặt Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, mặt trận và nhân dân cả nước kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu.

Bác đứng lên xúc động: “Bác cám ơn các chú nhưng trong lúc toàn dân đang kháng chiến gian khổ, mọi công việc hết sức khẩn trương mà lại tổ chức chúc thọ một cá nhân như thế này là không nên”.

Bánh kẹo được bày ra, Bác mời mọi người đến dự, mừng thọ Bác tuổi 75, lễ mừng thọ vị Chủ tịch nước đã diễn ra trong bầu không khí ấm cúng, giản dị như thế đó.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày sinh của Người, bà Luy Stơroong – một nữ nhà văn nước Mỹ được vinh dự gặp Bác đã có những lời ca ngợi Bác của chúng ta: “Bác Hồ – hai tiếng mà người dân Việt Nam thường gọi, đó là một vị lãnh tụ giản dị nhất thế giới. Đó là nhà hiền triết đôn hậu hiểu rộng, biết sâu như thánh nhân. Đó là một người thừa trí tuệ che chở hết thảy cho mọi người khi gặp việc bất trắc xảy ra. Đó là người khi hỏi ai thì rất thân mật, cởi mở nhưng khi trả lời ai thì rất mau lẹ và bất ngờ”.

Kỷ niệm Ngày sinh của Bác chúng ta lại càng nhớ Bác, nguyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, cuộc đời Bác mà như nhà thơ Tố Hữu đã ca ngợi:

“… Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng soi những lối mòn…”.

Văn Song
Theo Báo Hòa Bình

Tâm Trang(st)

“Bác có phải là vua đâu?”

Trong sâu thẳm tận đáy lòng của mỗi người Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, dù ở trong nước hay ngoài nước đều rất mực kính trọng, khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh – Vị lãnh tụ uyên bác, có trái tim nồng nàn yêu nước, thương dân vô bờ bến; Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất. Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho tự do và hạnh phúc của nhân dân, cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta.

Đã 44 năm trôi qua, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chi Minh về với thế giới người hiền, nhưng đối với mỗi người Việt Nam chúng ta, trong đó có chúng tôi, thế hệ được sinh ra khi Người không còn nữa, vẫn trào dâng một niềm xúc động khôn nguôi khi nhớ về Người. Tôi cảm thấy từ trong sâu thẳm lòng mình, Người vẫn hiện lên trong cuộc đời và trong trái tim của mỗi chúng ta – Một tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp về lối sống giản dị, lòng nhân ái bao dung, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không xa hoa lãng phí, không phô trương hình thức, suốt đời sống trong sạch vì dân, vì nước, vì con người, không gợn chút riêng tư. Toàn tâm, toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Bấy nhiêu đức tính cao cả ấy chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên cao thượng tuyệt vời. Nhưng cũng chính từ sự kết hợp của những đức tính đó, Người là tấm gương cụ thể, gần gũi mà mọi người đều có thể noi theo.

Suốt đời Bác luôn tâm niệm là người công bộc của nhân dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Bác Hồ kính yêu của chúng ta luôn luôn hoà mình vào cuộc sống chung của đồng bào, đồng chí, không nhận bất cứ một sự ưu tiên nào người khác dành cho mình.

Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nhiều nhân sĩ, trí thức cao tuổi theo Bác lên Việt Bắc, đi kháng chiến, đèo cao, suối sâu, đường bùn lầy, nhiều vị phải nằm cáng. Anh em phục vụ lo Bác mệt cũng đề nghị Bác lên cáng, Bác gạt đi: Bác còn khoẻ, còn đi được, các chú có nhiệm vụ đưa Bác đi như thế này là tốt rồi.

Năm 1950, Bác Hồ đi chiến dịch biên giới. Chuyến đi dài ngày, gian khổ. Vì lo cho sức khoẻ của Bác, nên anh em cảnh vệ kiếm được một con ngựa, mời Bác lên. Bác cười: Chúng ta có 7 người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện?

Anh em vừa khẩn khoản: Chúng cháu còn trẻ, Bác đã cao tuổi, đường xa, việc nhiều,….Không nỡ từ chối, Bác trả lời:

– Thôi được, các chú cứ mang ngựa theo để nó đỡ hộ ba lô, gạo nước và thức ăn. Trên đường đi, ai mệt thì cưỡi. Bác mệt, Bác cũng sẽ cưỡi.

bac-co-phai-vua-dau-a
Bác đi thị sát chiến trường ở mặt trận Đông Khê trong chiến dịch Biên giới 1950.
(Ảnh được chụp bởi nhiếp ảnh gia Vũ Năng An)

Cuối năm 1961, Bác về thăm xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, một xã có phong trào trồng cây tốt. Tại một ngọn đồi thấp, Bác đứng nói chuyện với nhân dân trong xã. Trời đã gần trưa, tuy đã sang đông mà nắng còn gay gắt. Nhìn Bác đứng giữa nắng trưa, ai cũng băn khoăn. Đồng chí Chủ tịch huyện cho tìm mượn được một chiếc ô, định giương lên che nắng cho Bác, thì Bác quay lại hỏi:

– Thế chú có đủ ô che cho tất cả đồng bào không? Thôi, cất đi, Bác có phải là vua đâu?

Một lần, trong bữa ăn, đồng chí phục vụ dọn lên cho Bác một đĩa cá anh vũ, một loại cá sông quý hiếm thường chỉ có ở khúc sông thuộc Bạch Hạc – Việt Trì. Nhìn đĩa cá biết ngay là của hiếm, Bác khen và bảo:

– Cá ngon quá, thế mà chú Tô (tức đồng chí Phạm Văn Đồng) lại đi vắng. Thôi, các chú để đến chiều đồng chí Tô về cùng thưởng thức.

Miếng ngon không bao giờ Bác chịu ăn một mình. Chia sẻ ngọt bùi là thế, tưởng chuyện cũng sẽ qua đi. Nhưng đến bữa sau, trong mâm cơm lại có món cá hôm trước. Nhìn đĩa cá, Bác hiểu ngay và tỏ ra không bằng lòng.

– Bác có phải là vua đâu mà phải cung với tiến!

Rồi Người kiên quyết bắt mang đi không ăn nữa. Như Bác đã từng nói, ở đời ai chẳng thích ăn ngon, mặc đẹp, nhưng nếu miếng ngon đó lại đánh đổi bằng sự mệt nhọc, phiền hà của người khác thì Bác đâu có chấp nhận.

Những anh em công tác trong Phủ Chủ tịch hàng ngày vẫn thường đi lại bằng xe đạp, thỉnh thoảng có gặp Bác đi bộ. Nhìn thấy Bác, mọi người đều xuống dắt xe cho Bác đi qua rồi mới lên xe đi tiếp. Thấy vậy, Bác thường khoát tay ra hiệu bảo anh em cứ đi tiếp, không cần xuống xe. Nhưng ai có thể cho phép mình ngồi trên xe khi Bác đi bộ. Một lần, Bác gọi đồng chí vừa xuống dắt xe lại gần và bảo:

– Các chú có công việc của mình nên cứ tiếp tục đạp xe mà đi. Bác đâu có phải là cái đền có biển “hạ mã” ở trước để ai đi qua cũng phải xuống xe, xuống ngựa?

Lão Tử có nói: “Trời đất sở dĩ có thể dài và lâu vì không sống cho mình nên mới được trường sinh. Thánh nhân đặt thân mình ở sau mà lại lên trước, đặt thân mình ở ngoài mà lại còn”. Bác Hồ sống quên mình, không nghĩ đến mình mà lại trở thành sống mãi. Lời Lão Tử thật sâu sắc lắm thay!

Bác Hồ kính yêu của chúng ta là như vậy đó. Trái tim mênh mông của Người thuộc về dân tộc, thuộc về nhân dân “Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”. Người đã trở thành niềm tin và hy vọng, trở thành trung tâm hội tụ những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Qua câu chuyện này, chúng ta vô cùng kính trọng và khâm phục tấm gương đạo đức cao đẹp của Bác.

Là một Chủ tịch nước, một vị lãnh tụ tối cao nhưng Bác Hồ kính yêu của chúng ta sống một cuộc đời thật giản dị, thanh đạm như những người dân Việt Nam bình thường khác. Bác không bao giờ nhận bất cứ một sự ưu tiên đặc biệt nào người khác dành cho mình, không một chút riêng tư, suốt đời tận tụy vì dân, vì nước, vì con người. Sự hy sinh cao đẹp đó của Bác làm cho mỗi chúng ta không khỏi xúc động.

“Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta

Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa

Chỉ biết quên mình cho hết thảy

Như dòng sông chảy nặng phù sa”.

Sinh thời, Hồ Chủ tịch đã đau xót trước cảnh đồng bào sống dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân và phong kiến. Tận mắt nhìn thấy cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân lầm than, đói rét, Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Hồ Chủ tịch luôn tự cho mình là Người lính vâng mệnh của quốc dân ra trước mặt trận”, là “Người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Ở Người, lòng yêu mến nhân dân đã trở thành một sự say mê mãnh liệt. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”

Cả đời Bác chỉ có mục đích đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh. Người nói: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”.

bac-co-phai-vua-dau-b

          Ngày 2/9/1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập trên Quảng trường Ba Đình lịch sử

Tôi còn nhớ khi được nghe các ông các bà rưng rưng xúc động kể chuyện của Ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập. Giọng nói ấm áp của Bác Hồ kính yêu không chỉ vang vọng khắp Quảng trường Ba Đình khi đó mà nó còn vang vào tận sâu thẳm mỗi con người Việt Nam. Thế hệ trẻ chúng tôi không được tận mắt chứng kiến giây phút lịch sử đó nhưng những điều đó đã ăn sâu vào tâm hồn. Bác Hồ – con người rất mực giản dị nhưng vô cùng cao quý, Bác ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn cho dân tộc. Những bài học Bác để lại là những điều vô cùng quý giá cho sự nghiệp xây dựng đất nước còn nhiều gian nan của đất nước ta.

Ngày nay, đất nước ta đang trên con đường đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với nền kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu và đang từng bước phát triển đi lên về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và đặc biệt năm 2006 nước ta đã trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới – WTO. Bên cạnh những thành tựu to lớn đó, vẫn còn không ít những khó khăn, thách thức, những vấn đề xã hội nổi cộm. Đó là sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên lợi dụng chức quyền để tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính, lãng phí của công, quan liêu, xa rời quần chúng nhân dân, sống xa hoa trụy lạc, coi đồng tiền là trên hết, những người đã từng rất anh dũng chiến đấu trước bom đạn của địch, không chịu khuất phục, vậy mà nay họ đã bị “trúng viên đạn bọc đường” gây ra những tác hại nghiêm trọng, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước. Đó đều là nỗi đau của xã hội, là nỗi xót xa của mỗi cán bộ, đảng viên. Trước thực trạng đó, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm hết sức cần thiết. Mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, ra sức bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cách mạng, đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Nhân loại sẽ còn phải trải qua nhiều thăng trầm, thế giới sẽ còn nhiều đổi thay, nhưng tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ sống mãi với con người, non sông, đất nước Việt Nam. Tư tưởng vĩ đại và đạo đức cao cả của Người là lý tưởng, là lẽ sống của mỗi người dân Việt. Tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi soi đường chỉ lối cho con đường xây dựng đất nước đi tới thắng lợi cuối cùng. Những con người thuộc thế hệ trẻ như chúng tôi càng ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Những tư tưởng của Người chính là tiền đề quan trọng, định hướng cho chúng ta sống và làm việc vì đất nước!

Lệ Minh
bqllang.gov.vn

CẢM XÚC THÁNG 5!

“…Vui sao một sáng tháng Năm

Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ…”

                                                  (Tố Hữu)

sang-thang-nam
Ảnh: Tư liệu

Những lời thơ ấy như không hẹn mà cứ ngân lên trong tôi mỗi dịp tháng Năm về. Tháng Năm trở lại trong muôn vàn thanh âm mới của đất trời đang chuyển mình vào hạ với sen hồng thơm ngát và lòng người cũng trào lên nhiều cảm xúc khi cả nước long trọng kỷ niệm nhiều ngày lễ lớn trong tháng Năm. Trong đó, kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2013) một lần nữa là dịp để cả nước tỏ lòng kính yêu vị cha già dân tộc.

Thấm thoắt cũng đã quá nửa thập niên đi qua kể từ khi Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được phát động (2007). Từ miền ngược tới miền xuôi, từ biên giới đến hải đảo, từ miền núi xuống đồng bằng, nơi đâu cũng tưng bừng khí thế của cuộc “ra quân” thực hiện đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Tháng 5 năm 2011, Bộ Chính trị tiếp tục ra Chỉ thị 03 – CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng ta tiếp tục củng cố phương hướng đưa việc học tập và làm theo trở thành việc làm thường xuyên, liên tục của cán bộ, đảng viên, nhân dân. Cấp ủy Đảng các cấp đã bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ chuyên đề học tập, làm theo gương Bác trong công tác xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước, lồng gắn nội dung các chuyên đề học tập, làm theo gương Bác trong các đợt sinh hoạt chi bộ, cơ quan, thi đua lập thành tích chào mừng 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua yêu nước (11/6/1948 – 11/6/2013) và gắn với triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Tháng Năm, báo công lên Bác sẽ là rất nhiều gương người tốt việc tốt, những việc “làm theo” của nhiều điển hình tiên tiến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.

Trong quá trình phát động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cả nước đã gặt hái được nhiều kết quả phấn khởi. Từ những tấm gương cựu chiến binh làm kinh tế giỏi, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động; cựu chiến binh già hàng năm đi tìm phần mộ đồng đội nằm lại chiến trường Quảng Bình, Quảng Trị bằng số tiền lương dành dụm được; phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, phụ nữ tích cực học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; … cho đến những người sĩ quan trẻ trong hàng ngũ quân đội nhân dân không ngừng có những sáng chế trong bảo quản, sử dụng vũ khí… tất cả đều nhộn nhịp không khí hăng hái thi đua lập thành tích, báo công lên Người. Việc tổ chức học tập các chuyên đề về tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác được xem là khâu then chốt nhằm tạo ra những chuyển biến về mặt nhận thức và tạo sự chuyển biến trong việc làm theo của các tầng lớp nhân dân. Khắp nơi từ thành phố đến vùng sâu vùng xa; các cấp, các ngành đến cơ sở, nơi đâu cũng thấm nhuần cuộc sinh hoạt chính trị này bằng rất nhiều những việc làm thiết thực, cụ thể như: Phong trào “Mỗi đảng viên là một tấm gương sáng, là một tuyên truyền viên giỏi về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của thị xã Nghĩa Lộ – Yên Bái cũng là một cách làm sáng tạo để Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị ngày càng đi vào cuộc sống;  “Tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế – xã hội, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” như lời Bác dặn đem lại cho nền kinh tế của huyện Mù Cang Chải có mức tăng trưởng khá.… Ngành Giáo dục gắn với Cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; ngành Y tế với Cuộc vận động “12 điều y đức”, Mỗi người tốt, việc tốt đều là một bông hoa đẹp tỏa ngát hương thơm để kính dâng lên Bác mỗi độ tháng Năm về!

Giữa những nhịp điệu xô bồ, hối hả của thời kỳ hội nhập, Đảng ta vẫn ra sức chèo lái con thuyền cách mạng theo định hướng xã hội chủ nghĩa cho đến ngày cập bến vinh quang. Vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu ở “thế giới người hiền” dường như vẫn luôn từng ngày dõi theo công cuộc xây dựng đất nước. Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên sống động đối với mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân hơn bao giờ hết bởi đó là linh hồn thanh khiết, hiện thân cho một tác phong giản dị, một trái tim bác ái yêu thương và một trí tuệ thiên tài. Bởi một lẽ thường tình rằng“cách cư xử của Bác với tiền tài, với cái ăn, cái mặc, với cơ sở vật chất nói chung đâu có phải là cao quá mà chúng ta không học tập được, đâu có phải là một tòa thánh cấm uy nghiêm mà chúng ta không đặt chân lên được thềm bậc, dù là bậc thềm thứ nhất?” (Trích“Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” – Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011).

Tháng Năm lại về giữa sắc nắng vàng tươi, nghe đâu đây giữa quảng trường Ba Đình lịch sử hay giữa gió ngàn Thủ đô kháng chiến năm nào, lời Người ngân vang…!

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Tháng 5 nhớ Bác

“Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,

Vẫn vững hai vai việc nước nhà.

Kháng chiến dân ta đang thắng lớn

Tiến bước! Ta cùng con em ta”

Những vần thơ trên được Bác Hồ đọc nhân dịp khi sinh nhật Bác tròn 78 tuổi. Trước khi đọc bài thơ này, Bác nói: “Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thế thì tôi thấy già đi”. Khi những vần thơ này vang lên, sức khỏe của Bác Hồ đang giảm sút. Nhưng qua những câu thơ đó, ta thấy được tình yêu đất nước sâu đậm, chất chứa trong trái tim Bác.

sn-bac-a
Hình ảnh Bác Hồ kính yêu luôn là ngọn lửa ấm áp sưởi ấm trái tim cho những người con Việt Nam

Tháng 5 đã đến, thêm một lần nữa, ngày 19 tháng 5 đang đến rất gần. Cứ mỗi dịp này, những người con của dân tộc Việt Nam lại bồi hồi, xao xuyến nhớ về sinh nhật Bác, về hình ảnh của Bác, về những công lao to lớn mà Bác đã cống hiến cho dân tộc Việt Nam.

Những người con Việt Nam từ khắp mọi miền trên Tổ quốc này đều hướng về Thủ đô, hướng về Lăng Bác – trái tim của đất nước, với lòng thành kính nhất. Nhớ lần đầu tiên nhân dân ta kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ là vào ngày 19/5/1946. Khi đó, đất nước ta còn khó khăn, gian khổ. Là người lãnh đạo con đường cách mạng của đất nước, hơn ai hết Bác hiểu sự khó khăn trên con đường giải phóng  dân tộc của dân tộc ta. Chính vì lẽ đó, mỗi dịp sinh nhật, Bác đều dặn dò các cơ quan, địa phương trong cả nước là không được tổ chức linh đình, tránh lãng phí. Bởi tất cả sức người sức của đều phải ưu tiên dành cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

sn-bac-b
Lăng Bác là nơi linh thiêng trong tiềm thức của mỗi người dân Việt

Thực hiện theo đúng lời dặn của Người, mỗi dịp sinh nhật Bác, cả nước lại cùng nhau tổ chức kỷ niệm một cách tiết kiệm và hào hứng với các phong trào thi đua trong lao động, sản xuất, học tập. Những kết quả đó chính là món quà ý nghĩa nhất dâng lên Bác Hồ kính yêu.

Khi Bác Hồ còn sống, để tránh mọi người tổ chức sinh nhật linh đình, tặng quà nên Bác thường chọn đi công tác vào đúng ngày sinh nhật. Một lần, Bác sang Trung Quốc công tác cũng đúng vào dịp 19/5, Bác đã thư gửi cho bà Ðặng Dĩnh Siêu – Cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng sản Trung Quốc. Trong thư, Bác nhấn mạnh: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn giản, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, “tránh tặng quà”.

Tuy vậy, mỗi dịp sinh nhật, Bác đều nhận được rất nhiều lời chúc mừng cũng như quà tặng đến từ nhân dân cả nước cũng như bạn bè trên khắp thế giới. Mỗi dịp ấy, Bác đều gửi thư, gửi điện cảm ơn các đồng chí, đồng bào trên khắp cả nước cũng như bạn bè ở các nước bạn. Có khi Bác chuyển lời cảm ơn thành những vần thơ đầy ý nghĩa. Bởi Bác luôn khéo léo vừa gửi lời cảm ơn vừa nhắn nhủ mọi người cùng nhau cố gắng vì mục đích là sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính vì thế, mỗi người dân Việt Nam lại càng ý thức hơn vai trò, vị trí của mình để cùng cố gắng đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng.

sn-bac-d
Hàng người nối dài để được vào Lăng viếng Bác

Trước cửa nhà sàn Bác có ao cá khá lớn. Hàng ngày, Bác đều chăm sóc, cho cá ăn cẩn thận. Những con cá trong ao cá Bác Hồ lớn nhanh, ai nhìn cũng phải trầm trồ. Hiểu được sự khó khăn trong đời sống của mọi người, có năm vào đúng sinh nhật Người, Người không có mặt ở nhà, Người đã giao cho các đồng chí phục vụ bắt cá làm thịt để cải thiện bữa ăn cho các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, và các anh chị em trong cơ quan. Một bữa ăn cải thiện như thế cũng đủ làm ấm lòng những con người đã gắn bó trực tiếp với Bác.

Là lãnh tụ của đất nước, công lao vô cùng to lớn nhưng Người từ chối những nghi lễ phức tạp trong mỗi dịp sinh nhật mình. Bởi hơn ai hết, Người hiểu tấm lòng mà mỗi người dân Việt Nam dành cho mình. Và nhất là nghi  lễ tổ chức sẽ rất tốn kém. Trong khi đó, bao nhiêu chiến sĩ, bao nhiêu đồng bào ở xa xôi còn khó khăn, cơm không có để ăn, mọi sinh hoạt còn rất hạn chế. Càng yêu đất nước, yêu đồng bào, Người càng không cho phép mình lãng phí tiền của của đất nước. Chính vì lẽ đó, Người luôn giữ cho mình sự khiêm tốn, giản dị hết mực. Người đã trở thành tấm gương cho mỗi người con Việt Nam soi vào đó để cố gắng , phấn đấu lao động và học tập.

sn-bac-c
Lăng Bác Hồ và Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh là địa điểm không thể bỏ qua của du khách khi đến với Việt Nam

19/5/1980 – 19/5/2013, 123 năm đã trôi qua từ ngày người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam được sinh ra. Bác đã ra đi nhưng hình ảnh của Bác Hồ kính yêu vẫn luôn ở trong trái tim của mỗi người con của dân tộc Việt Nam. Bác là niềm tin, là lẽ sống, là những gì cao quý nhất của dân tộc. Chính vì lẽ đó, trong những năm kháng chiến, nhà thơ Bảo Định Giang đã viết nên những vần thơ tuyệt vời về Bác:

“ Tháp Mười đẹp nhất hoa sen

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Hình ảnh Bác là hình ảnh của sự vĩ đại nhưng rất mực gần gũi, của sự cao quý nhưng lại rất mực giản dị… Tình yêu thương bao la Người dành cho từng kiếp người lầm than. Từ tình yêu đó, Bác đã tìm kiếm được con đường giải phóng dân tộc, vượt qua vô vàn khó khăn thử thách để có được một đất nước Việt Nam như ngày hôm nay.

Một sinh nhật nữa của Bác Hồ kính yêu đang đến gần. Cả nước ta đang hào hứng thi đua mừng sinh nhật Bác. Khắp nơi trong cả nước trào dâng không khí thi đua lao động sản xuất và học tập. Rất nhiều các hoạt động mừng sinh nhật Bác được tổ chức. Mỗi hoạt động thi đua đó chính là những bông hoa lung linh sắc màu, tỏa ngát hương thơm để dâng lên Bác./.

Thanh Huyền
bqllang.gov.vn

“Chỉ sợ lòng mình không rộng”

Đã đến ngày mồng 2-9. Tôi được Trung ương triệu tập lên dự Hội nghị Bí thư và Chủ tịch các tỉnh miền Bắc từ hôm trước. Chiều hôm sau cùng các đại biểu đi dự mít tinh ở Quảng trường Ba Đình để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập và giới thiệu danh sách Chính phủ lâm thời. Sau đấy lại cùng về Bắc Bộ Phủ, nay là Nhà khách Chính phủ ở phố Ngô Quyền, để họp với đồng chí Trường Chinh. Đang họp thì Bác vào (từ lúc ở Ba Đình về Bác vẫn ngồi nghỉ trên chiếc ghế bành mây ở hành lang phía sau nhà, nhìn ra Hồ Gươm). Tôi nhìn Bác không chớp mắt. Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, đã có lần ở Báo “Tin tức” của Đảng, khi biên tập hồi ký “Ba năm ở Nga Xô-viết” của đồng chí Trần Đình Long để đăng từng kỳ trên Báo, trong đoạn nói về việc gặp Bác ở Đức, tôi có hư cấu thêm một câu để tả chân dung Bác: “Dưới vầng trán cao ánh lên một cặp mắt sáng quắc và nhân từ”. Lúc này ngồi ngắm Bác tôi lại nhớ đến câu ấy, ngạc nhiên thấy mình tưởng tượng rất đúng. Chỉ có cách ăn mặc và cách nói giản dị của Bác thì không tưởng tượng được. Tôi liếc sang cuốn sổ tay nhỏ để trước mặt Bác thấy hai chữ “Phân công” ghi bằng chữ Hán. Tôi nghĩ bụng chắc Bác giỏi chữ Hán lắm… Bác ghi thêm mấy chữ nữa, rồi không cần mào đầu Bác nói ngay:

– Bây giờ cách mạng đã thành công, nhưng khó khăn còn nhiều. Đừng có đồng chí nào nghĩ rằng đã đến lúc cần được nghỉ ngơi, hưởng thụ. Các đồng chí đều đã hoạt động bí mật, đã kinh qua nhiều gian khổ, bây giờ ra ánh sáng nếu không cẩn thận thì sẽ bị lóa mắt về những vật chất. Ở một vài nơi nhân dân đã kêu: Các ông ủy ban đi đâu một bước là ô tô. Ông chủ tịch đi ô tô, ông ủy viên đi ô tô, rồi cả bà ủy viên, cô cậu ủy viên cũng đi ô tô. Làm cách mạng là để phục vụ nhân dân chứ không phải để thăng quan phát tài, chỉ có người cách mạng, chứ không có quan cách mạng. Nếu không giữ mình liêm chính thì sẽ tham ô, thụt két, rồi bị kỷ luật…

Chi so long minhLực lượng vũ trang cách mạng trong Ngày Quốc khánh 2-9-1945.
( Ảnh tư liệu)

Bác chỉ nói ngắn gọn có thế thôi, nhưng mọi người đều cảm thấy như Bác đã nhìn thấu ruột gan mình. Cái gì chứ cái dùng ô tô bừa bãi thì hầu như không nơi nào không có. Không ngờ Bác bận trăm công ngàn việc trong buổi đầu dựng nước, mà Bác vẫn không bỏ sót một việc nhỏ nào. Một điều nữa làm tôi ngạc nhiên là đã mấy chục năm bôn ba ở nước ngoài, mà lời nói và cách nói của Bác không hề bị pha tạp một tý gì của nước ngoài, vẫn hoàn toàn Việt Nam.

*

*      *

Một hôm, vào gần giữa tháng chín, tôi nhận được điện của Bộ Nội vụ ra lệnh tha cho một viên quan lại mà chúng tôi bắt giam về tội chống Cộng. Viên quan này là Nguyễn Văn Ích, quê ở Hưng Yên, làm Tuần phủ Tuyên Quang. Khi còn là một tên Thống phán tòa sứ, ông ta cũng có viết văn. Cuốn tiểu thuyết “Kim Anh lệ sử” của ông ta đã gây được tiếng vang rộng rãi trong giới trí thức và quan lại hồi ấy, vì nó đề cập đến một vấn đề thời sự: Một viên Tri huyện hiến vợ lẽ của mình là Kim Anh cho tên Công sứ Tây để được thăng quan tiến chức. Nhưng đến năm 1931, khi phong trào cộng sản lên cao thì ông lại dịch cuốn “Mặt nạ cộng sản” để nói xấu cộng sản và xuyên tạc Liên Xô. Cuốn sách đã được bọn Thống trị Pháp cho phát không về các làng và ông ta thì được thăng Tri châu, rồi Tuần phủ. Cách mạng lên, ông “từ quan” về ngôi biệt thự lộng lẫy bên hồ Bán nguyệt.

Việc bắt viên Tuần phủ Ích cả tỉnh đều biết, bây giờ phải tha cho ông ta thì biết ăn nói thế nào với bà con Hưng Yên? Sau khi trao đổi với các đồng chí trong Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh, tôi phóng xe lên Bắc Bộ Phủ xin gặp anh Võ Nguyên Giáp lúc ấy là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Anh Giáp cho anh Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) xuống tiếp. Nghe tôi trình bày sự việc xong, anh Bôi nói:

– Việc này nằm trong chính sách chung của Đảng với những người có sai lầm cũ, không thể thay đổi được. Đến cả Vi Văn Định mà “ông cụ” cũng sắp cho mời về làm việc kia.

Tôi đề nghị anh Bôi báo cáo với Hồ Chủ tịch xét lại việc này cho, chứ tha viên Tuần phủ ấy bây giờ thì chúng tôi sẽ mất hết uy tín với nhân dân trong tỉnh. Anh Bôi lắc đầu:

– Không được đâu! “Ông cụ” rigide (cứng rắn) về nguyên tắc lắm.

Tôi vẫn nằn nì. Cuối cùng anh Bôi bảo tôi hãy chờ một lát, anh phải lên làm việc với Bác, để anh thử xin ý kiến Bác xem (anh vẫn gọi Bác là “Ông cụ”). Một lúc sau anh xuống gọi tôi lên gặp Bác. Bác chỉ ghế cho tôi ngồi rồi hỏi ngay:

– Đồng chí bắt người ta có lợi gì không?

Lần đầu tiên được gặp riêng Bác, tôi rất lúng túng trong việc xưng hô. Tôi ấp úng:

– Thưa… Thưa Chủ tịch, vì nó đã viết sách chửi cộng sản.

– Biết rồi. Nhưng việc đã lâu ngày, bắt người ta bây giờ có lợi gì không?

– Thưa Chủ tịch, để nó phải sợ…

Tôi biết lỡ lời, định chữa lại, thì Bác đã nói tiếp:

– Thế đồng chí có biết làm cho người ta sợ hơn, hay làm cho người ta yêu hơn? Đồng chí có học chữ nho không?

– Thưa, có học ít thôi ạ.

– Thế đồng chí có nhớ câu các cụ thường nói “xử nhân úy bất như xử nhân ái” không? Đồng chí nên nhớ rằng không sợ người không theo mình, mà chỉ sợ lòng mình không rộng. Thôi, đồng chí về bàn với anh em giải thích cho người ta hiểu chính sách khoan hồng của Chính phủ, rồi tha cho người ta…

*

*     *

Không sợ người không theo mình, mà chỉ sợ lòng mình không rộng. Đã hơn 60 năm rồi mà đến nay tôi vẫn còn nhớ như in lời dạy của Bác. Tôi cũng không bao giờ quên được những lời khuyên răn của Bác hôm được gặp Bác ở Bắc Bộ Phủ, nhất là câu: “Chỉ có người cách mạng, chứ không có quan cách mạng”.

Nhà văn Học Phi

Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Ký ức về Bác Hồ trỗi dậy trong tôi

Lời của Bác - Lời của non sông(ĐCSVN) – Cựu Trung tá Lương Văn Tùng (80 tuổi), nguyên Chính ủy Trung đoàn 320, Sư đoàn 8 (Quân khu 9, Bộ Quốc phòng) nay đã nghỉ hưu, hiện là Cựu Chiến binh của xã Trung An, TP. Mỹ Tho (Tiền Giang). Khi hỏi chuyện về những lần ông được vinh dự gặp Bác Hồ, tuy đã cao tuổi, nhưng ông bỗng sôi nổi hẳn lên khi ký ức về Bác trỗi dậy.

Ông Tùng sinh ra ở xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước (Tiền Giang), khi 22 tuổi (năm 1950) tham gia bộ đội địa phương ở huyện Châu Thành, sau đó tập kết ra miền Bắc (năm 1954), đóng quân ở thị xã Sầm Sơn (Thanh Hóa) và ông vinh dự được cùng đồng dội đón Bác Hồ đến thăm đơn vị. Bác hỏi thăm đồng bào miền Nam và căn dặn: “Các cháu phải đoàn kết, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Đảng và Chính phủ sẽ ưu tiên, tạo mọi điều kiện cho các cháu tập tốt”. Ông Tùng lặng yên nghe như nuốt từng lời. Sau những tiếng reo mừng, giờ đây ông bỗng thấy không khí trở nên trang nghiêm lạ thường. Lần gặp Bác đã để lại trong ông rất nhiều ấn tượng khó phai. Trong thời gian ở trên đất Bắc, ông còn được gặp Bác nhiều lần nữa và lần gặp nào cũng để lại trong ông nhiều ấn tượng sâu đậm về Bác Hồ kính yêu.

Ông nhớ, có lần Bác cải trang bí mật đến kiểm tra đơn vị của ông. Lúc đó, ông Tùng là học viên của Trường Sĩ quan Lục quân đóng ở Bạch Mai. Buổi trưa hè nóng bức, nhà ăn ngột ngạt và chật kín người, bỗng thấy một lương y mặc áo màu trắng và bịt khẩu trang bước vào nhà bếp rồi lên nhà ăn. Ông cứ ngỡ quân y tới kiểm tra vệ sinh ăn uống nên không ai để ý. Đến khi vị “lương y” ấy bước ra, một học viên nhìn theo rồi bất chợt hét lên: “Bác Hồ! Bác Hồ!”. Ông nhìn theo tay anh chỉ, thấy vị “lương y” đang vẫy tay chào. Đúng là Bác Hồ, cả nhóm học viên tiếc ngẩn ngơ và giận mình sao không nhận ra Bác sớm hơn. Ông Tùng kể tiếp: Một lần khác, khi anh em ra thao trường, ông trực nhật nên phải ở doanh trại. Đang lúc quét dọn, bỗng thấy một người giống bác sĩ trong bệnh viện bước vào. Ông nhác thấy đôi dép cao su của Bác, đúng là Bác Hồ rồi. Ông reo lên: “Bác Hồ!”. Bác ra hiệu cho ông im lặng, rồi khoát tay chào. Bác Hồ tiếp tục đi thăm các tiểu đoàn khác. Sau đó, ông còn được gặp Bác Hồ tới 3 lần nữa. Lần sau cùng thật ấn tượng, vì ông được ngồi cạnh Bác Hồ, nhìn Bác thỏa thích, không bị chen lấn. Đó là năm 1961, khi ông ra trường, về nhận công tác ở Sư đoàn 316.

Ông Tùng còn nhớ như in trong đầu, khi đó, ông được thông báo đến nhà khách Bộ Quốc phòng để nghe lãnh đạo nói chuyện. Trước khi đi, các anh trong Ban chỉ huy Sư đoàn dặn “khi vào phòng, nhớ đừng ngồi sát nhau; phải bỏ ghế trống để các vị lãnh đạo ngồi chung với anh em”. Ban Tổ chức buổi lễ thông báo Bác Hồ và Bác Tôn đến thăm anh em. Tin ấy làm xôn xao cả phòng, khiến ông đứng ngồi không yên. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía cửa. Đúng như kế hoạch, Bác Hồ và Bác Tôn dẫn đầu đoàn cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước lên cầu thang. Tất cả vỗ tay reo mừng: “Bác Hồ! Bác Hồ muôn năm !”. Bác khoát tay ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống. Bác Hồ và Bác Tôn cùng các vị ở Bộ Chính trị và Bộ Quốc phòng cùng bước vào, ngồi xen kẽ với tất cả anh em chúng tôi. May mắn thay, Bác Hồ đã ngồi cạnh cái ghế trống sát bên cạnh ông. Vừa yên vị, Bác nói, đại ý: “Các chú học chính trị, đường lối và chủ trương đã vững rồi. Bác không nói nữa. Những nhiệm vụ cụ thể thì Bộ Quốc phòng sẽ giao. Bác chỉ dặn các chú mấy điều, trước hết phải đảm bảo sức khỏe. Chặng đường sắp đến sẽ rất nhiều gian khổ. Không có sức khỏe tốt thì không vượt qua được. Khi về đến miền Nam phải đoàn kết với cán bộ địa phương, cán bộ phong trào để xây dựng lực lượng, tạo thời cơ giành chiến thắng. Các chú cố gắng đi thật nhanh để nhanh chóng giải phóng miền Nam, để Bác Hồ có điều kiện vào thăm đồng bào mình trong ấy”. Bác dừng lại để nén xúc động, rồi Người trầm giọng nói: “Các chú cho Bác gửi lời thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thiếu nhi và tất cả đồng bào miền Nam”. Bác nhìn chúng tôi với ánh mắt tràn ngập yêu thương. Chúng tôi nhìn Bác với tất cả sự ngưỡng mộ, lòng yêu thương và tôn kính.
Những kỷ niệm về Bác được ông Tùng gìn giữ, đã tiếp sức cho ông trong những ngày vượt Trường Sơn đầy gian lao, thử thách khắc nghiệt, thậm chí, phải trải qua những trận đánh ác liệt, nhưng ông Tùng vẫn không bao giờ chùn bước. Trong hành trang của ông có cả ước mơ của Bác Hồ. Ông không ngờ đó là lần cuối cùng được gặp Bác.

Đến nay, mỗi khi nhớ lại những lần được vinh dự gặp Bác, lòng ông vẫn bồi hồi. Trong tâm hồn ông còn đọng mãi hình ảnh Bác giản dị trong đôi dép cao su huyền thoại và thân thương, bình dị với bộ kaki bạc màu…./.

Nguồn: TTXVN
Vkyno (st)

Một lần được gặp và nghe Anh hùng lực lượng vũ trang Hồ Vai kể chuyện về bốn lần gặp Bác Hồ

(ĐCSVN) – Anh hùng Lực lượng vũ trang Hồ Vai, người con ưu tú của núi rừng A Lưới (tỉnh Thừa Thiên – Huế)  vinh dự được bốn lần gặp Bác Hồ. Trong mỗi lần gặp gỡ đó, Ông được Bác Hồ hỏi chuyện và căn dặn nhiều điều.

Mặc dù đã hơn 40 năm trôi qua, lời Bác dặn và những kỷ niệm về Bác vẫn luôn cháy bỏng trong Ông, tạo động lực thôi thúc để Ông chiến đấu, giành lại độc lập và đóng góp công sức vào xây dựng quê hương A Lưới ngày thêm văn minh, giàu đẹp.

Tôi chỉ biết Anh hùng lực lượng vũ trang Hồ Vai qua sách báo và tấm hình chụp Ông cùng Đoàn Anh hùng chiến sỹ thi đua toàn miền Nam ra thăm miền Bắc chụp chung với Bác Hồ năm 1956. Vì thế, khi được Ban Tổ chức cuộc giao lưu các điển hình làm theo Bác các tỉnh, thành khu vực miền Trung và Tây Nguyên (diễn ra tại Tp Đà Nẵng vào tối 22/9 vừa qua) phân công đón tiếp đại biểu về dự, tôi biết trong số 17 cá nhân điển hình về giao lưu lần này có Anh hùng lực lượng vũ trang Hồ Vai nên rất phấn khởi.

Tuy nhiên, dù đã mườn tượng rất nhiều về hình ảnh của vị Anh hùng lực lượng vũ trang đến từ vùng rừng núi A Lưới- người con ưu tú của đồng bào dân tộc PaCô nhưng tôi vẫn bất ngờ, bất ngờ đến ngạc nhiên khi biết Ông (Hồ Vai), người đang đứng trước mặt tôi lại là một cụ già đã 70 tuổi, nước gia nâu đen săn chắt, khuôn mặt hiền từ đầy phúc hậu. Cụ vừa bước vào đại sảnh của Nhà khách Trung ương Đảng tại Đà Nẵng (số 8 đường Bạch Đằng), tôi liền bước ra chào cụ và cầm đỡ chiếc va-ly. Tôi hỏi:

– Bác có mệt lắm không ?

Ông cụ cười hiền và đáp với giọng Huế nhỏ nhẹ: “Có chi mô mà mệt. Từ sáng sớm các anh trên Huyện đã đánh ô tô đến tận nhà rước mình xuống thành phố Huế, rồi các anh lại đưa mình về đây- chỉ hơn hai tiếng đồng hồ ngồi xe thôi”.

– Thưa Bác ! Bác tên là gì để cháu lấy danh sách và bố trí phòng nghỉ à ?

Cụ bảo: “Mình là A Vai, đến từ A Lưới”.

Tôi giật mình vì không tin đây là Anh hùng lực lượng vũ trang người dân tộc PaCô bốn lần được gặp Bác Hồ khi Người còn sống.

Buổi chiều trước đêm giao lưu, bác Hồ Vai đã kể cho tôi nghe kỷ niệm của mình về những lần được gặp Bác Hồ. Bác Hồ Vai nói: “Dù đã hơn 40 năm nhưng mình vẫn không thể nào quên hình ảnh thân mật, giản dị của Bác Hồ. Bác Hồ như người ông, người cha khi nói chuyện, hỏi thăm về đồng bào miền Nam, về đồng bào PaCô quê mình và dặn dò mình ra Bắc phải cố gắng học tập để khi về miền Nam giúp đồng bào đánh giặ, làm kinh tế để phát triển”. Theo lời bác Hồ Vai, trong ba năm (từ 1965 đến 1967), Ông đã được gặp Bác Hồ 4 lần. Lần thứ nhất là vào tháng 10 năm 1965, khi Ông cùng Đoàn anh hùng chiến sỹ thi đua toàn miền Nam ra thăm miền Bắc và đã được gặp Bác, nghe Bác nói chuyện tại ao cá trong vườn nhà Bác. Hồi đó, ấn tượng của Ông đôi với Bác là sự bất ngờ khi lần đầu tiên được gặp Bác; Bác ăn mặt giản dị với bộ đồ kaki bạt màu, chân đi dép cao su, tay chống gậy. “Thấy Bác đi tới, cả Đoàn chạy đến ôm chầm lấy Bác (chị Tạ Thị Kiều nhanh nhất và kế đến là tôi), mọi người vừa cười, vừa khóc vì hạnh phúc. Bác bảo: Các cháu được gặp Bác, Bác cũng đã được gặp các cháu rồi, Bác cháu ta phải vui lên chứ. Rồi Bác hỏi thăm từng người trong Đoàn. Đầu tiên Bác hỏi chị Tạ Thị Kiều; Bác hỏi nhiều về đồng bào Bến Tre, đồng bào miền Nam. Đến lược tôi Bác Hồ hỏi: Quê cháu có cái ăn, cái mặt chưa ? các cháu học sinh có đi học nhiều không ? thanh niên khoẻ mạnh, đi thoát ly, tham gia bộ đội là bao nhiêu ?….. Bác hỏi rất nhiều về đồng bào miền Nam, về quê hương và đồng bào A Lưới vì Bác nhớ miền Nam, nhớ đồng bào A Lưới. Bác hỏi gì, tôi trả lời câu đó. Câu cuối cùng Bác dặn tôi: Cháu ra ngoài này là quý lắm, nên cố gắng học tập; học văn hoá, học chính trị, học làm kinh tế để sau này về miền Nam giúp đồng bào đánh Mỹ, làm kinh tế, xây dựng Xã hội chủ nghĩa”- Bác Hồ Vai kể.

Lần thứ hai là vào ngày 22 tháng 12 năm 1966, nhân dịp Bộ Quốc phòng tổ chức kỷ miệm ngày thành lập Quân đội nhân dân, đã mở tiệc chiêu đãi các vị thượng khách quốc tế, các đại sứ quán nước ngoài đến dự lễ. Bác đến dự và Bác cũng mời Hồ Vai cùng dự. Sau khi chào hỏi các vị thượng khách, Bác nói là mệt nên xin cáo về. Thực ra Bác không về mà ra phòng bên ngoài uống nước. Khi Hồ Vai dự tiệc xong ra phòng ngoài uống nước thì được gặp lại Bác. Bác hỏi “Cháu Vai học tập đến đâu rồi ?”. Hồ Vai trả lời là “Cháu học lung tung. Thấy gì cũng thích học, cũng muốn học cả !”.

Lần thứ ba là vào khoảng giữa năm 1967. Đó là vào dịp đoàn Văn công Tổng cục chính trị sau khi đi biểu diễn tại các nước xã hội chủ nghĩa về và Bác yêu cầu diễn lại cho cán bộ ta xem. Dịp này Bác đã mời Hồ Vai đến xem.

Lần thứ tư là vào cuối năm 1967, khi ấy lớp đào tạo chính trị viên tiểu đoàn của Hồ Vai tại Trường Sơn Tây vừa kết thúc. Bác Hồ mời Hồ Vai đến căn dặn trước khi Hồ Vai trở về miền Nam. Trong lần gặp gỡ này, Bác Hồ căn dặn Hồ Vai hai điều mà ông nhớ mãi. Hồ Vai nhớ lại: Điều thứ nhất mà Bác Hồ căn dặn tôi là “Cháu vào miền Nam phải lưu ý vì chiến trường đang ác liệt, đồng bào và chiến sỹ ta còn phải hy sinh, gian khổ. Vì thế, cháu đã trở thành người cán bộ rồi, phải biết làm gương cho mọi người, phải biết yêu thương, giúp đỡ mọi người để mọi người học tập theo”. Điều thứ hai Bác dặn là “Cháu làm việc khi tiếp xúc, gần gũi với nhân dân, điều gì dù nhỏ nhất mà trái với dân, làm ảnh hưởng đến nhân dân thì phải tránh; còn điều gì dù khó khăn nhất mà phải với nhân dân, đem lại lợi ích cho dân thì cháu phải làm cho bằng được”.

Nghe lời Bác Hồ dạy, năm 1968 Hồ Vai trở lại quê hương sau hơn ba năm ra Bắc học tập. Đây cũng là thời điểm mà chiến trường miền Nam đang rất ác liệt như dự đoán của Bác Hồ. Bác Hồ Vai kể: khi đó bộ đội chính quy của ta phải rút sang Lào, ở lại bám làng chỉ còn bộ đội địa phương. Nhiều người đã động viên để ông tạm sang Lào nhưng ông không đi. Hồ Vai ở lại cùng đồng đội tiếp tục bám đất, bám làng đánh Mỹ và đã lập nên nhiều chiến công lớn, góp phần cùng nhân dân miền Nam đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa xuân năm 1975.

Bác Hồ Vai kể: Chiến tranh đi qua, tôi vẫn không quên lời dạy của Bác là phải giúp đồng bào làm kinh tế để phát triển. Mình là cán bộ Cụ Hồ thì phải biết làm gương để bà con làm theo. Thế là mình động viên vợ con nuôi gà, vịt, trồng cây để phát triển kinh tế. Bây giời sức khoẻ yếu, trong nhà chỉ nuôi hơn 50 con gà đẻ để lấy trứng, hơn 20 con vị. Ngoài ra hai vợ chồng tích luỹ từ lương hưu và tiền hỗ trợ thương binh để mở một cửa hàng tạp hoá. Từ các nguồn thu này vừa để đảm bảo cuộc sống, vừa đóng góp vào Quỹ hỗ trợ người già tàn tật và trẻ em nghèo của huyện A Lưới (Hiện nay Hồ Vai là Chủ tịch Hội người tàn tật và trẻ em nghèo của Huyện).

Không chỉ làm gương cho mọi người noi theo, trong câu chuyện kể của mình, Hồ Vai còn băn khoăn trước sự khó khăn còn nhiều trên quê hương mình. Bác Hồ Vai nói, mình đã hứa với Bác Hồ là sẽ giúp đồng bào phát triển kinh tế, làm cho quê hương giàu đẹp, nhưng đến nay A Lưới vẫn còn nghèo, đồng bào còn khó. Vì thế mình phải tiếp tục động viên, giúp con cháu học tập, học làm kinh tế, phát triển đời sống văn hoá….Mình bảo bà con dân tộc và cán bộ ở địa phương phải học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ, sống xứng đáng với truyền thống của mảnh đất mà các tộc họ được mang tên Bác Hồ, một lòng nghe theo Đảng.

Câu chuyện của bác Hồ Vai kể cho tôi nghe phải dừng lại do thời gian của cuộc giao lưu, toạ đàm sắp đến. Bác Hồ Vai còn phải lên sân khấu giao lưu, nói về những việc Bác và đồng bào các dân tộc A Lưới đã làm được khi thực hiện theo lời Bác Hồ dạy. Thấy tôi còn luyến tiếc muốn hỏi thêm nhiều điều, Hồ Vai hẹn tôi có dịp lên A Lưới, sẽ kể nhiều hơn. Tôi rất vui vì qua câu chuyện kể hôm nay, tôi lại thêm một lần nữa hiểu hơn về tình cảm của Hồ Vai nói riêng và đồng bào các dân tộc A Lưới nói chung vẫn đậm đà, dành cho Bác Hồ, cho Đảng sự son sắc, thuỷ chung. Cũng qua câu chuyển kể của bác Hồ Vai, tôi càng hiểu rõ hơn tình cảm của Bác Hồ đối với miền Nam ruột thịt và càng thấm sâu hơn những lời dạy của Người về tư cách, đạo đức và trách nhiệm của một người cán bộ mà  Bác đã dặn Hồ Vai cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng./.

Đình Tăng- PV Thường trú tại Đà Nẵng
dangcongsan.vn

Bác Hồ – Những kỷ niệm không quên

Mặc dầu mới đi về, đang đói ngủ, nhưng sau khi gặp Bác nghe những lời dạy của Bác, suốt đêm đó, tôi cứ thao thức không sao nhắm mắt được. Tôi đi đi lại lại trong phòng, trong đầu cứ vang lên lời nói của Bác:

“Sớm muộn đế quốc Mĩ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nói mới chịu thua”, “Ở Việt Nam, Mĩ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua ở đây (Hà Nội)”.

C

Tôi trải rộng tấm bản đồ Hà Nội trước mặt, chong mắt nhìn vào đường bay của B.52 mà Quân chủng Phòng không – Không quân sơ bộ dự kiến sẽ đột nhập vào Hà Nội. Bỗng nhiên, tôi đưa bàn tay lên tấm bản đồ như muốn bóp chết nhưng chiếc B.52 tưởng tượng kia. Bọn Mĩ thật là một lũ hung ác cực độ. Cả một thủ đô dân cư đông đúc, nhà cửa san sát như thế này mà chúng dám nhẫn tâm định đưa B.52 vào hủy diệt. Chỉ mới có ý định thôi thì cũng đã là một tội lỗi không thể tha thứ. Nhưg Bác đã nói rồi: Thằng Mĩ chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Thế thì nhất định nó sẽ dùng B.52 đánh Hà Nội rồi… Không chịu được với ý nghĩ đó, mặc dầu đã quá nửa đêm, tôi vẫn quay điện thoại cho đồng chí Đặng Tính. Vừa mới nghe tôi kể sơ qua vè buổi gặp Bác hồi tối, giọng anh tính đã tỉnh như sáo:

– Bác nói thế nào? Cậu nhắc lại cho tớ nghe xem nào?

Tôi nhắc lại trong máy. Nhắc đến đâu, anh Tính nhắc lại đến đấy, và hình như anh còn mở sổ ra ghi chép. Tôi nghĩ thầm: “Đúng là cung cách làm ăn của một ông chính ủy”.

Anh Tính căn dặn tôi:

– Từ nay mỗi lần gặp Bác, Bác nói câu gì cậu phải ghi chép lại ngay đấy nhé. Cứ giữ mãi cái tác phong không sổ tay, không ghi chép như cậu là không được đâu”.

Tôi không nói gì. Suốt mấy chục năm nay, tôi có sổ tay, có ghi chép gì đâu. Nếu ai nói, tôi tự bảo: “Mỗi người có một cách làm việc riêng”.

Lần này không để anh Tính mời xuống, phải hứa hẹn “RTC”, tôi nói với anh Tính là ngày mai tôi sẽ xuống Quân chủng làm việc, tập trung vào phương án đánh B.52 bảo vệ Hà Nội. Tôi nói với anh Tính là động viên cơ quan hoàn thành sớm cái này, vì đây là vấn đề mà Bác đang quan tâm.

Đầu năm 1968, bản phương án đầu tiên về đánh trả cuộc tập kích bằng B.52 của đế quốc Mĩ vào Hà Nội, Hải Phòng được ra đời trong bối cảnh như thế.

Tôi còn nhớ bản phương án mở đầu bằng câu: “Trước thất bại nặng nề của địch trên cả hai miền, với bản chất ngoan cố, chúng sẽ không từ một thủ đoạn dã man tàn bạo nào để uy hiếp đánh phá ta, hòng cứu vãn thế thua của chúng. Địch sẽ có bước leo thang mới, tiếp tục đánh mạnh vào Hà Nội, Hải Phòng. Trong thế bị động này địch sẽ dùng B.52 để tạo thế bất ngờ về chiến lược”.

Tiếp đó, bản phương án viết: “Ta đã bắn rơi B.52 của địch. Với lực lượng sẵn có của ta, với khả năng của các binh chủng, ta hoàn toàn có đầy đủ điều kiện thực tế để tiêu diệt B.52 của địch, bắn rơi chúng tại chỗ, đánh bại bước leo thang liều lĩnh bằng B.52 của chúng”.

Về dự kiến, đường đột nhập của B.52 đánh vào Hà Nội, bản phương án đã vạch ra 5 đường, trong đó có đường bay cơ bản, gọi là đường bay A, được dự kiến là đường bay từ Tây Bắc xuống. Thực tế, trong cuộc tập kích chiến lược cuối năm 1972, 70% số B.52 của địch đã từ hướng nay đột nhập vào. Còn 30% số B.52 còn lại cũng đều đi vào hướng những đường bay dự kiến trong bản phương án đầu tiên cách đó 4 năm.

Còn đối với Hải Phòng thì độ chính xác như một trăm phần trăm. Bản phương án đầu tiên dự kiến 2 đường bay cơ bản. Từ đông bắc xuống theo cửa Nam Triệu và từ đông nam lên theo cửa Văn Úc thì năm sau, B.52 vào đúng như thế.

Sở dĩ tôi muốn nhấn mạnh điều này là để bạn đọc thấy một điều hết sức rõ ràng là chúng ta đã chuẩn bị cho trận “Điện Biên Phủ trên không” từ rất lâu như thế đó.

Tính từ năm 1966, khi những đơn vị đầu tiên của trung đoàn tên lửa 238 đặt chân đến chiến trường Vĩnh Linh, tìm cách “vào hang để bắt cọp” cho đến những ngày đầu 1968, bản phương án đánh B.52 tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng ra đời… là cả một quá trình vượt qua muôn vàn gian khổ, hi sinh, là một sự tập trung trí tuệ sáng tạo của cán bộ chiến sĩ từ đơn vị đến cơ quan, từ người lính ở chiến trường đến vị tư lệnh.

Có thể nói, đó là những viên gạch đầu tiên, cùng với những viên gạch khác, góp phần quan trọng xây nên đài chiến thắng vinh quang cho trận “Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy của dân tộc ta sau này.

Và bao trùm lên tất cả là sự quan tâm, là những lời dạy quý báu thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh, vị tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang nhân dân ta.


THAY LỜI KẾT

Thế là sau suốt 5 năm trời suy nghĩ và nhớ lại, tôi đã hoàn thành cuốn hồi ức “Bác Hồ – Những kỷ niệm không quên”.

Đúng là không thể nào quên, vì một lẽ rất đơn giản là kể từ những ngày dầu tiên được gặp Bác, tháng 2 năm 1940 cho đến khi Bác đi xa, cả cuộc đời tôi luôn luôn gắn liền với sự thương yêu chăm sóc của Bác.

Bác đã từng bước dẫn dắt tôi, từ một đứa trẻ lang thang, thất học, tính tình ngổ ngáo, trở thành một sĩ quan cấp tướng của cách mạng, có đóng góp ít nhiều vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đây thực sự là một điều kì diệu mà đôi khi tôi cứ nghĩ có nằm mơ cũng không thể tưởng tượng nổi.

Những điều kì diệu này sẽ rất dễ hiểu nếu chúng ta đặt nó trong sự kì diệu Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người đem chủ nghĩa Mác – Lê-nin về làm đổi thay cả một dân tộc, đổi thay cuộc đời trong đó có cuộc đời tôi.

Chỉ trong vòng 5 năm trời, từ thằng Thụ nhóc con, đêm đêm với cái bụng lép kẹp nằm còng queo trên chiếc ghế đá công viên Hạ Lầu, ở Côn Minh, trở thành một trong những trung đoàn trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam vào cuối năm 1946, lúc đó tôi vừa tròn 25 tuổi.

Có lẽ hơn ai hết, Bác Hồ là người hiểu tôi sâu sắc nhất, hiểu cả những thiếu sót, khuyết điểm (thói hư tật xấu) và hiểu cả những ưu điểm của tôi. Chính vì vậy mà Bác cũng rất tin tôi.

Trong cuộc hành trình gian nan, vất vả chứa đầy hiểm nguy trên con đường thiên lí từ Pác Bó đi Côn Minh đầu năm 1945, Bác đã chọn tôi làm người cận vệ. Bây giờ nghĩ lại đôi khi vẫn cảm thấy rùng mình. Vận mệnh của cả một dân tộc, của cách mạng trong thời điểm quan trọng của lịch sử được phó thác cho vị lãnh tụ kiệt xuất: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh… và chính tôi là người được giao trọng trách bảo vệ vị lãnh tụ đó, người mà mấy tháng sau trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Cha già của dân tộc.

Dọc đường đi Bác bị sốt cao, có lúc mê man, tôi đã đánh liều tiêm kí ninh vào ven cho Bác. Khi đưa mũi kim vào ven Bác tôi chỉ nghĩ một điều: Bác phải sống để kịp trở vè nước lãnh đạo cách mạng… và lòng tin của tôi đã thắng.

Khi giao cho tôi chức vụ trung đoàn trưởng, Bác chỉ phân vân: “Tính chú nóng và liều quá. Người làm tướng mà nóng và liều thường hỏng việc”. Nhưng Bác vẫn tin và giao nhiệm vụ cho tôi. Và tôi đã không phụ lòng tin của Bác.

Cứ như thế, Bác từng bước dạy bảo, dìu dắt tôi trưởng thành đi lên trên con đường cách mạng.

Cuốn hồi ức này được hoàn thành trước nhằm bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tôi đối với Đảng, đối với Bác. Có thể khẳng định rằng nếu không có Đảng, không có Bác, sẽ không có cuộc đời tôi hôm nay: Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Cuốn sách ra đời đúng vào dịp sinh nhật thứ 106 của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhằm ý nghĩa đó. Riêng tôi, năm nay bước vào tuổi 75, tôi xin kính dâng toàn bộ cuộc đời tôi lên Đảng và Bác kính yêu.

Điều cuối cùng tôi muối gửi gắm đến bạn đọc xa gần là trong lúc các lực lượng thù địch đang tìm cách xóa bỏ những thành của cách mạng ở Việt Nam với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, thậm chí phủ nhận cả Hồ Chí Minh, chúng ta hãy kiên định, vững vàng giữ vững lòng tin theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Đó là con đường sẽ đưa dân tộc ta đế hạnh phúc ấm no và giàu mạnh, xã hội công bằng và văn minh.

Thượng tướng Phùng Thế Tài
Vknyo (st)

Bác Hồ ở Cam Ranh năm ấy…

QĐND – Sau Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường về nước. Cùng về với Người trên chuyến tàu còn có 4 kỹ sư vừa tốt nghiệp xuất sắc tại Pháp, theo Người trở về phục vụ Tổ quốc. Đó là bác sĩ Trần Hữu Tước và các kỹ sư: Võ Quí Huân, Võ Đình Huỳnh và Phạm Quang Lễ. Ngày 18-10-1946, tàu đưa Bác Hồ tiến vào vịnh Cam Ranh. Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ đã đón Chủ tịch Hồ Chí Minh theo nghi lễ chính thức trên biển.

Tượng Bác Hồ ở Cam Ranh.

Gần đây, Giáo sư Hàm Châu sưu tầm được hồi ký của Giáo sư Trần Hữu Tước, người duy nhất được tháp tùng Bác Hồ sang chiến hạm gặp Cao ủy Pháp. Đọc những dòng hồi ký ấy, chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động về vận mệnh của Tổ quốc và tài ứng xử trước nguy nan của Bác Hồ:

“… Nước nhà độc lập rồi, mà giữa vịnh Cam Ranh, chiếc tuần dương hạm cỡ lớn, còn lại duy nhất trong Hạm đội Thái Bình Dương của Pháp, nằm ngạo nghễ ở đó, với cờ ba sọc bay phần phật trong gió Trường Sơn thổi ra như xua đuổi. Lại hai chiếc thủy phi cơ đang vè vè bay lượn chung quanh bảo vệ. Chúng chuẩn bị tiếp đón Bác rất trọng thể, đúng nghi thức để diễu võ dương oai…

Nghi lễ “đại kỳ”, khắp trên chiến hạm, tất cả các loại cờ đều treo; tất cả các đại bác, thần công, cao xạ, phóng lôi… đều giương cao nòng tua tủa. Và hai nghìn rưỡi thủy quân đồng phục trắng tinh, đứng nghiêm như những pho tượng đá, xếp trên bảy tầng tàu.

Đại Thủy sư Đô đốc, Đặc Cao ủy Pháp Đác-giăng-li-ơ, là con người hiếu cổ đang phục hồi tất cả những nghi thức thời oanh liệt của thủy quân Pháp xâm lược, dọc ngang trên các sông biển nước người.

Điện tín hiệu ước hẹn giờ sang mời Chủ tịch “phó hội”. Bác mượn ống nhòm, nhìn qua tình thế, rồi bình thản nói:

– Chỉ một mình chú Tước đi với Bác!

Vài giây hơi lạ, tôi giương hai mắt kính cận nhìn Bác. Bác nhắc lại:

– Phải, chỉ một mình chú thôi!

Xuồng máy tăng tốc, rẽ sóng lao về phía soái hạm. Đây là chiếc xuồng dùng để duyệt thủy quân, không mui, có chỗ tựa tay để đứng. Cách độ vài chục mét, loa phóng thanh gầm lên một khẩu hiệu, rồi vang lên ba lần: “Híp, híp, híp”. Tiếp theo sau là hai nghìn rưỡi cổ họng cùng hô to lên bảy lần: “Houra! Houra!”…

Đó là đại lễ đón Quốc trưởng…

Hồ Chủ tịch ung dung lẹ bước, trèo lên thang, tiến vào phía “viên môn” của soái hạm. Quả ông Đại Đô đốc này thích nghi lễ thật!

Lại một tiếng hô. Hai nghìn thủy quân to lớn, răm rắp đều bước nhanh dãn ra hai bên thảm đỏ. Đặc Cao ủy Pháp, người loắt choắt, tướng ngũ đoản, nụ cười cáo già trên môi, miệng toe toét với những vết nhăn nheo, bước ra niềm nở đón Hồ Chủ tịch. Hai bàn tay nhỏ, ngắn, xoe tròn lấy nhau, ông ta nói:

– Thưa Chủ tịch, thật tình đến tuổi tôi, mới được học một kinh nghiệm quý báu là tốt nhất đi đâu vẫn cần người thầy thuốc bên cạnh. Có phải không, thưa ông bác sĩ?

Bác trả lời gọn gàng:

– Sang thăm Đặc Cao ủy, nên đi với thầy thuốc!

… Viên Đặc Cao ủy lõi đời, sành sỏi đã nhận rằng, mình tiếp thu ngay bài học Bác vừa dạy cho. Trước nghi lễ rầm rộ, uy nghi đó, Bác chẳng coi ra gì, một mình “phó hội”, chỉ với người thầy thuốc, với mũ, gậy hằng ngày, như thể đi thăm người quen trong làng ngoài xóm, thế thôi!

Tiệc rất thịnh soạn, Chủ tịch ngồi đối diện với Đặc Cao ủy. Hai bên Bác là một vị tướng Tổng chỉ huy Lục quân Đông Dương và một vị Đô đốc Hải quân Pháp ở Thái Bình Dương. Lại cái tay ngắn củn, lại nụ cười muốn ra vẻ duyên dáng, viên Đại Đô đốc ngọt xớt:

– Kìa, thế là Chủ tịch được đóng khung giữa Lục quân và Hải quân rồi đấy.

Nhẹ nhàng cười, Bác đáp ngay:

– Đặc Cao ủy biết đấy, chính bức họa mới làm cho cái khung có giá trị.

Khắp bàn tiệc đều tán thưởng câu trả lời rất chí lý, chơi chữ Pháp tài tình của Bác: Đóng khung và cái khung.

Sau cuộc hội đàm, lúc bắt tay từ biệt, Bác chợt ôm hôn viên Đặc Cao ủy Pháp. Hắn ngạc nhiên chưa đầy nửa giây, rồi trấn tĩnh được ngay và cũng ôm Hồ Chủ tịch. Tất cả chung quanh đều sửng sốt, trơ mắt nhìn. Các nhà báo Pháp, chỉ toàn nhà báo Pháp thôi, chụp ảnh lia lịa, ghi ghi chép chép…

Lúc ra về, như để giải đáp một thắc mắc thầm kín của tuổi trẻ trong tôi, Bác nhẹ nhàng nói:

– Ôm hôn hắn cũng chẳng sao. Xã giao mà!

Xuồng nhỏ lướt trên làn sóng dập dềnh. Đứng ngay sau lưng Bác, nên có lúc như không thấy những người chung quanh. Trước mắt là núi non, biển cả. Quê hương bao la, hùng vĩ, phần phật gió Trường Sơn đã nổi, như cả dân tộc đang đứng lên, quật cường trong trận chiến cuối cùng; rồi chớp mắt nhìn lại, thấy Bác mảnh khảnh trong bộ quần áo bạc màu, tóc phong sương bao năm đang bay trong gió, đôi mắt sáng rực niềm tin tưởng và quyết tâm. Người đứng như pho tượng trước mặt xuồng, để chèo chống trong cơn sóng gió chưa từng có của đất nước…

Nhớ lại câu của Đặc Cao ủy trong bữa tiệc: “Chủ tịch thật quen với biển cả, có lẽ xin tặng Người danh hiệu “Người thủy thủ nhỏ” như quân đội Pháp đã quý mến tặng Napoléon cái tên “Người đội trưởng nhỏ”. Bác trả lời ngay: “Phải, người thủy thủ nhỏ của Hải quân Việt Nam”…”.

Cuộc gặp gỡ ấy đã đi vào lịch sử. Dù những hiệp định và tạm ước bị phản bội, nhưng “người thủy thủ nhỏ” đã trở thành người cầm lái vĩ đại đưa con thuyền dân tộc Việt Nam vượt qua sóng gió thác ghềnh, chiến thắng kẻ thù hung bạo. Năm 2008, tượng đài Bác Hồ thăm Cam Ranh được xây dựng.

NGUYÊN MINH
qdnd.vn

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó

Việt Nam - Hồ Chí MinhHơn 40 năm làm công tác dân vận – Mặt trận, với trách nhiệm được giao, tôi có hạnh phúc lớn là được tiếp xúc với nhiều chính khách, nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các vị tiêu biểu của các dân tộc, các tôn giáo, trong đó không ít người đã được Bác Hồ cảm hóa, trở thành cộng sự thân thiết của Bác, tiếp thu tư tưởng của Người và đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần anh chị em làm công tác Mặt trận chúng tôi có dịp được nghe chính những người trong cuộc kể lại những câu chuyện đầy xúc động về tầm nhìn xa, trông rộng, lòng bao dung, độ lượng, sức hút kỳ diệu và tài cảm hóa lạ thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những câu chuyện đó được anh em chúng tôi ghi chép đầy đủ. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi trích đăng chuyện kể của Luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa III, tại buổi họp mặt của Mặt trận ngày 10-5-1990 kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ. Không ai nghĩ rằng đây là buổi nói chuyện cuối cùng của Luật sư tại cơ quan Mặt trận vì chỉ sau đó hơn một tháng, ngày 28-6-1990 luật sư Phan Anh đã vĩnh biệt chúng ta. Tiêu đề bài viết này chính là câu kết bài nói của Luật sư.

Ông kể: Theo tôi nhớ, từ trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8-1945, những cuộc thương lượng giữa Chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh diễn ra dồn dập tại Hà Nội. Mở đầu là việc ông Lê Trọng Nghĩa với vai giáo sư Lê Ngọc đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Khâm sai đại thần Phan Kế Toại ngay tại Phủ khâm sai trong giờ hành chính. Tiếp đó là cuối tháng 7, Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc Bộ để thị sát thực địa và điều đình với Nhật cũng đã được ông Phan Kế Toại bố trí tiếp xúc với đại diện Việt Minh ở Hà Nội.

Trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 18-8 Khâm sai Phan Kế Toại lại gặp các ông Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long tại Phủ khâm sai, chính thức mời Việt Minh cộng tác với Chính phủ Trần Trọng Kim và sẵn sàng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Cùng ngày, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn cũng xin gặp Việt Minh, mời Việt Minh tham gia Chính phủ mở rộng và đề nghị trong tình hình quân Đồng minh đang trên đường vào Việt Nam mong cuộc thương lượng tiếp tục, Việt Minh nên nắm vùng nông thôn, Chính phủ lâm thời quản lý các thành phố để có danh nghĩa nói chuyện với Đồng minh.

Tất cả các cuộc thương lượng đều không có kết quả. Ông Trần Trọng Kim giao tôi làm thuyết khách cuối cùng với hy vọng: Với “tài hùng biện của Phan Anh” may ra còn cứu vãn được tình thế.

Nể lời Thủ tướng Trần Trọng Kim, tôi nhận lời và chuẩn bị kỹ cho cuộc gặp.

Tôi còn nhớ, ngày 25-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội. Ngày 26, Người chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 28, báo chí Hà Nội công bố danh sách 15 thành viên của Chính phủ cách mạng do Bác làm Chủ tịch. Cũng ngày đó, tôi đến gặp lại giáo sư Hoàng Minh Giám – một trí thức tiêu biểu của nước ta, thầy Hiệu trưởng Trường Thăng Long xưa mà tôi đã một thời dạy học ở đó. Ông lúc này là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ và được Giáo sư cho biết Cụ sẽ tiếp tôi vào 9 giờ sáng hôm sau. Hay tin tôi ra “đấu tranh” với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú Phan Mỹ – em tôi, một cán bộ cách mạng, vội gặp tôi can ngăn:

– Từ trước đến nay, tôi vẫn phục anh, coi anh là thần tượng. Nhưng với việc anh định “đấu tranh” với Cụ thì anh mê muội quá chừng. Anh muốn “đội đá, vá trời” chăng? – Tôi chỉ mỉm cười, chẳng phản đối, cũng chẳng thanh minh.

Đúng giờ, tôi đến địa điểm hẹn. Tôi quá bất ngờ và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đón tôi là một ông Tiên thực thụ. Cụ vận bộ kaki bạc màu, đi đôi bata của đồng bào dân tộc Tày. Cụ không chờ tôi lên mà dáng nhanh nhẹn, Cụ vội bước xuống ngang chỗ tôi đứng bắt tay:

– Tôi đã chờ chú từ lâu. Người nói – Trước khi ra Bắc, chú đã về quê choa chưa?

Tôi bối rối và thực sự xúc động. Những điều lâu nay tôi chuẩn bị công phu nay tan biến cả trước một con người cao sang nhưng không xa cách, một vĩ nhân xa quê hương, đất nước hơn một phần ba thế kỷ nhưng vẫn không quên thổ ngữ thân thương. Tôi ấp úng trả lời:

– Thưa Cụ, con chưa kịp về quê nhà.

Cụ ôm eo tôi cùng bước lên, đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Đàm Quang Trung lúc đó là Đội trưởng Đội bảo vệ Bác vào định rót nước mời khách.

Cụ ngăn:

– Chú Phan Anh là khách của Bác, để Bác tiếp. Chú cứ lo việc của chú. Chính tay Bác rót nước mời tôi, thân mật như cha con lâu ngày gặp lại.

Vừa uống nước, Cụ vừa giải thích cho tôi hiểu tình hình thời cuộc và đời sống cùng cực của dân ta hiện nay. Cụ nói ý:

– Dân ta bao năm một cổ đôi tròng, sống dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến và phát xít Nhật. Nay ta đã giành được độc lập, phải mau chóng tái thiết quốc gia để dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Chú là người tài cao, học rộng, tôi đề nghị chú ra gánh vác việc nước và trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban Kiến thiết quốc gia.

Tôi ngỡ ngàng trước một sự việc mà mình chưa bao giờ nghĩ tới, liền thưa:

– Thưa Cụ, con chỉ được đào tạo về luật chứ chưa được đào tạo về kiến thiết xây dựng.

– Thế tôi có được ai đào tạo để làm Chủ tịch nước đâu? Dân giao thì mình phải làm, phải vừa làm, vừa học và làm cho tốt, cho thật tốt.

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó. Ngày 29-8-1945 là ngày mà Bác Hồ đổi đời cho tôi, cho gia đình tôi.

45 năm đã trôi qua, tôi lớn lên theo cách mạng, lớn lên theo sự dìu dắt, bảo ban của Người, của Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Con đường mà Luật sư đi theo cách mạng là như vậy. Luật sư Phan Anh là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kiến thiết quốc gia của nước ta.

Ngày 2-3-1946 Chính phủ liên hiệp quốc gia được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 7-1946 ông được Chính phủ giao trọng trách Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự Hội nghị Fontainbleau đàm phán với Chính phủ Pháp.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954). Tháng 7-1954, ông là phái viên Phái đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

Luật sư Phan Anh là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VIII, là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông cùng luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập Hội Luật gia Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội và là Ủy viên Thường vụ của Hội Luật gia dân chủ thế giới.

Đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất, luật sư Phan Anh là thành viên của Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ngày 29-5-1946 khi Hội chính thức được thành lập, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ.

Ngày 10-9-1955 MTTQ Việt Nam ra đời, ông tiếp tục được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam cho đến khi Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong phạm vi cả nước vào tháng 2-1977.

Tại Đại hội I và Đại hội II MTTQ Việt Nam, luật sư Phan Anh được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Và tại Đại hội III ông được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Luật sư Phan Anh là một trí thức tiêu biểu, tài năng và đức độ, một nhà hùng biện nổi tiếng, một trong những nhân vật đã từng được cộng tác mật thiết bên cạnh Bác Hồ trong nhiều năm và đã có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Nguyễn Túc

(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)

  1. (1)Sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

Theo daidoanket.vn

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Xuân về nhớ Bác Hồ

Lời của Bác - Lời của non sông(NTO) Mùa xuân là khoảng thời gian khởi đầu của một năm, thiên nhiên giao hòa sinh sôi nảy nở trong không gian ngọt ngào, ấm áp và lòng người cũng rạo rực những niềm vui, chứa chan bao ước mơ, hy vọng. Đối với dân tộc Việt Nam ta, mùa xuân về lại càng thiêng liêng, ý nghĩa hơn bởi chúng ta có Bác. Bác đã mang về những mùa xuân ấm no, hạnh phúc cho Đảng, cho dân và chính Người cũng là mùa xuân trường tồn tươi đẹp nhất trong trái tim dân tộc.

Mùa xuân năm 1930, ngày 3 tháng 2 (tức ngày mùng 5 tết Canh Ngọ), hoa Mộc Miên đua nhau khoe sắc, đỏ rực cả thành phố Cửu Long – Hương Cảng- Trung Quốc. Trong ngôi nhà cũ nhỏ bé của một đồng chí công nhân, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước ta để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chiều ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của Người. Khi các đại biểu đã ngồi chung quanh bàn, Bác xúc động nói: “Các đồng chí, hôm nay, ngày lịch sử của chúng ta! Lê-nin vĩ đại đã nói, chỉ có đảng nào có được một lý luận tiên phong mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một đảng như thế rồi. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống đấu tranh anh dũng nhưng suốt những năm ấy, nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Mùa xuân năm 1930, đối với Bác là “mùa xuân sung sướng nhất của cuộc đời”, riêng với dân tộc ta, còn một mùa xuân kỳ diệu nữa đó ngày Người trở về Tổ quốc sau ba mươi năm xa cách mang theo sắc xuân bất diệt cho đất nước Việt Nam:

“Ôi, sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về. Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”

                                                 (Tố Hữu)

Mùng 2 Tết Tân Tỵ ( ngày 28 tháng 1 năm 1941), sau ba mươi năm đón xuân nơi “đất khách, quê người”, Bác Hồ đã về đến Tổ quốc thân yêu. Sáng hôm đó, sau khi đi thăm, tặng quà và chúc tết bà con hai thôn Nậm Quang, Nậm Tẩy (Trung Quốc), Người lên đường về nước. Đến cột mốc biên giới 108, Bác dừng lại cúi đọc những dòng chữ khắc sâu trên đá rồi đứng lặng hồi lâu hướng tầm mắt nhìn về phía dải đất Tổ quốc điệp trùng. Đất trời đang vào xuân, hoa nở thắm núi rừng. Đất nước trải qua bao đau thương mà vẫn đẹp một cách kỳ lạ, vẫn hồng hào sức sống bất diệt của hàng ngàn năm lịch sử.

Và cũng chính mùa xuân đầu tiên ấy, từ nơi đầu nguồn thiêng liêng, Người đã cho ra đời bài thơ xuân tuyệt tác:

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê-nin kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Đúng như lời khẳng định của Người, chỉ hơn bốn năm sau, giang sơn Tổ quốc đã thu về một mối. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và Người chính là vị Chủ tịch nước đầu tiên. Mùa xuân năm 1946- xuân Bính Tuất là mùa xuân độc lập đầu tiên của toàn dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước được hưởng một mùa xuân mới mẻ, trọn vẹn và ý nghĩa. Khắp mọi nơi người dân đều nghĩ đến Tết sớm hơn mọi năm. Đối với Bác, mặc dù bận trăm công nghìn việc của Chính phủ mới, nhưng Người vẫn không quên lo Tết cho đồng bào, chiến sĩ.

Sáng 20-1-1946, Bác viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp Tết sắp đến. “ Dân ta là một dân tộc giàu tình bác ái. Trong lúc này, toàn Tổ quốc, đồng bào ta, từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn tết mừng xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận, những gia quyến các chiến sĩ, những đồng bào nghèo nàn, sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”.

Chiều hôm đó, Bác lại viết thư gửi các thanh niên và nhi đồng toàn quốc- những mầm non của Đảng, chủ nhân tương lai của đất nước. Bức thư ngắn gọn nhưng phơi phới sắc xuân, căng tràn sức trẻ :”Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội… Năm mới, chúng ta thực hành đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Đêm 30 Tết, ngày 1-2-1946, khi đồng bào thủ đô quây quần đoàn tụ bên gia đình chuẩn bị đón giao thừa thì Bác kính yêu của chúng ta cũng “bí mật” đi đón tết với nhân dân. Người đã cùng các đồng chí cán bộ đến từng con phố, ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, Hàng Lọng, Hàng Vải… để thăm và chúc tết đồng bào. Cũng chính trong đêm ba mươi đó Bác đã tận mắt chứng kiến cảnh một người đạp xích lô ngoại tỉnh không có tiền về quê ăn tết, trên bàn thờ chỉ có duy nhất một nén nhang đang cháy dở còn chủ nhà thì đắp chiếu nằm rên vì sốt cao mê mệt. Người lặng lẽ kéo chăn đắp cho anh, lau nước mắt và khẽ đóng cửa bước ra. Trên đường đi, Bác khẽ nói “Ba mươi Tết mà không có tết” như để tự nhắc nhở mình về trách nhiệm chăm lo tết cho những người nghèo. Người còn dặn đồng chí Vũ Kỳ nhớ ghi địa chỉ để ngày mai mang thuốc và quà tết đến thăm hỏi người bệnh.

Cũng chính trong thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới của Tết Độc lập đầu tiên ấy, có ai ngờ rằng khi Đài tiếng nói Việt Nam trang trọng truyền đi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.

Kể từ năm 1946 cho đến khi qua đời, trong suốt 24 năm giữ cương vị là người đứng đầu Đảng và Chính phủ, không một phút nào Người không nghĩ đến dân tộc, đến nhân dân. Người suốt ngày làm việc, suốt đời làm việc vì độc lập của dân tộc và hạnh phúc của đồng bào. Kể cả trong những ngày Tết, Bác cũng không ngơi nghỉ. Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc nhở các cơ quan, ban, ngành chuẩn bị Tết cho nhân dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc: tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới; nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc mừng năm mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo và cán bộ công tác ở nước ngoài, và cuối cùng là một chương trình đi thăm hỏi, chúc tết nhân dân, các cơ quan, đơn vị, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Đối với Bác, việc đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sĩ là một lẽ tự nhiên bởi Người luôn quan niệm nước Việt Nam là đại gia đình của Người. Người về với nhân dân cũng là về với gia đình ruột thịt của mình. Không chỉ có vậy, Bác còn luôn xác định việc đón tết cùng với đồng bào sẽ là cơ hội tốt để Người tận mắt chứng kiến những niềm vui, nỗi buồn cũng như trực tiếp lắng nghe những tâm tư, tình cảm, ước mơ, khát vọng của nhân dân trước thềm năm mới. Đó là một niềm vui, niềm hạnh phúc lớn của Người.

Có rất nhiều những câu chuyện cảm động kể việc niềm vui bất ngờ của những gia đình nghèo khổ khi được đón Bác đến vui xuân. Trong đó có câu chuyện của gia đình chị Tín, một người gánh nước thuê ở ngõ 16 phố Lý Thái Tổ, Hà Nội. Năm đó là tết Nhâm Dần (1962). Chồng chị mất sớm, một mình chị Tín gánh nước thuê lấy tiền nuôi bốn con còn nhỏ. Chính vì thế dù trong đêm 30 mưa phùn gió rét chị vẫn chưa được nghỉ. Với đôi thùng trên vai, chị vừa ra đến ngõ thì gặp Bác. Quá bất ngờ trước sự xuất hiện của Người, đôi thùng trên vai chị rơi xuống đất. Tay chị run run trong bàn tay ấm áp của Bác, chị nói trong tiếng nấc nghẹn ngào:“Có bao giờ Chủ tịch nước lại đến thăm mẹ con cháu!”.Bác cười hiền từ an ủi chị:“Bác không đến thăm những người như mẹ con cô thì còn thăm ai”.

Không chỉ đón tết cùng với các gia đình, Bác còn đến với các cơ quan, đơn vị vừa là để thăm hỏi, động viên, đồng thời Người cũng chỉ ra phương hướng, kế hoạch hành động, tiếp thêm sức mạnh, niềm tin cho một năm mới phát triển và thắng lợi. Những chuyến viếng thăm của Bác thường là không báo trước, có khi Người ghé thăm công nhân nhà máy điện Yên Phụ, nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt kim Đông Xuân; có lúc lại về vui tết cùng nông dân các Hợp tác xã Nông nghiệp vùng ngoại thành Hà Nội, Văn Phú (Hà Tây), hay vịnh thơ xuân cùng cán bộ và chiến sỹ bộ đội phòng không và không quân ở sân bay Bạch Mai…

Tết Kỷ Dậu (1969), có lẽ linh cảm đây là cái Tết cuối cùng của mình nên dù sức khỏe giảm sút nhiều, Bác Hồ vẫn đặt chương trình đi thăm, chúc Tết nhiều nơi và đi trồng cây. Để không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của Bác, các đồng chí ở văn phòng phục vụ Bác đã khéo sắp xếp theo mong muốn của Người. Sáng ngày 16-2-1969 (tức ngày mùng 1 Tết Kỷ Dậu), Bác đi thăm bộ đội Quân chủng Phòng không – Không quân ở Bạch Mai. Tiếp đó, Người về thăm và trồng một cây đa ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Tây. Những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ có kể lại rằng, hôm ấy, trồng cây xong đã gần trưa, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã đã xin mời bác ăn bữa cơm Tết cùng địa phương. Nhưng Bác bảo, Bác cảm ơn, vì những người giúp việc đã chuẩn bị cơm cho Bác rồi. Và Bác mời đồng chí Bí thư, Chủ tịch, chị Phó Chủ tịch xã sang ăn cơm cùng Bác. Đây cũng là lần cuối cùng và là cây cuối cùng Bác trồng để gieo mầm cho sự sống đời sau.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, cũng đã hơn 40 cái tết, đồng bào và chiến sĩ cả nước không được nghe thơ xuân của Bác, không được đón Bác đến thăm và chúc Tết. Nhưng trong trái tim và khối óc của triệu triệu người dân Việt Nam, lời nói trầm lắng, ánh mắt dịu hiền, nụ cười nhân hậu và những việc làm đầy ý nghĩa của Người từ những mùa xuân lịch sử vẫn sáng mãi, ấm mãi đến hôm nay và mãi mãi mai sau, tiếp thêm sức mạnh, nghị lực, niềm tin để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trên con đường xây dựng đất nước văn minh, giàu mạnh.

Bùi Thị Thủy
laodong.com.vn