Thư viện

Ngày xuân, đọc thơ xuân của Bác

(Dân trí) – Tính đến mùa xuân này là tròn 44 mùa xuân Bác Hồ mãi mãi ra đi. Và cũng có nghĩa là 44 giao thừa không còn có được sự hồi hộp chờ đợi giây phút thiêng liêng: Bác Hồ đọc thơ chúc Tết trên Đài tiếng nói Việt Nam.

(Niềm vui ngày Bắc - Nam sum họp)(Niềm vui ngày Bắc – Nam sum họp)

Ngày xuân, đọc thơ xuân của Bác

“Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc- Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”.

                                                  Chủ tịch Hồ Chí Minh

BLOG Người yêu thơ:

Nhớ ngày Bác chưa đi xa, cứ đúng thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới, tất cả đất trời đang rộn rã tiếng pháo bỗng dưng im bặt. Trong mỗi căn nhà, mọi người như nín thở chờ đợi từ chiếc đài đường dây sau một hồi rẹt rẹt chợt lặng đi rồi bỗng cất lên tiếng cô phát thanh viên: Nhân dịp năm mới, mời đồng bào, chiến sĩ trong cả nước và kiều bào ở nước ngoài lắng nghe thơ chúc Tết của Hồ Chủ tịch. Sau đó là lời đầm ấm của Bác vang lên: Đồng bào, chiến sĩ và kiều bào ở nước ngoài thân mến! Các cháu thanh thiếu niên yêu quý…

Trong suốt cuộc đời mình, Bác đã làm tất cả 22 bài thơ chúc Tết. Có năm Bác đọc thơ sau lời chúc Tết nhưng cũng có năm Bác chúc Tết bằng thơ. Bài thơ đầu tiên là Thơ chúc Tết Xuân Nhâm Ngọ (1942), Bác đã viết: “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau/Chúc Việt Minh ta càng tấn tới/Chúc toàn quốc ta trong năm này/Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!”.

Bài thơ cuối cùng Bác viết vào năm Kỷ Dậu (1969), trước lúc Người đi xa.

Nhà thơ Bùi Hoàng Tám tuyển chọn và giới thiệu.
dantri.com.vn

Nhớ người cha thân yêu

Nho nguoi cha

Tiếp quản Thủ đô ngày 10 tháng 10 năm 1954, ngày 11-10-1954 anh em chúng tôi trong trang phục gọn gàng, súng đạn sẵn sàng tiến quân vào Hà Nội nhận nhiệm vụ cao quí mới. Những ngày đầu, cơ quan Trung ương đóng tại nhà thương Đồn Thủy (nay là Quân y viện 108), về sau chuyển về khu Ba Đình.

Năm đó Bác rất khỏe và đi đứng nhanh nhẹn, ánh mắt Bác thật ấm áp trìu mến. Thường ngày Bác hay mặc bộ bà ba màu nâu và đi dép cao su. Lúc rảnh rỗi, Bác tập trung anh em cảnh vệ lại, bằng giọng nói rõ ràng và ấm áp, Bác chỉ bảo cho chúng tôi biết phong tục tập quán riêng của đồng bào Hà Nội, cách đi đứng và những việc thông thường rất cần thiết như vào nhà tắm, nhà vệ sinh, uốn nắn chúng tôi từng lời ăn tiếng nói…Với tấm lòng yêu mến lãnh tụ, nhân dân trong nước và kiều bào nước ngoài thường hay tặng Bác những món quà đặc biệt quí hiếm. Một lần, có người dân chài lặn lội từ miền biển lên, biếu Bác mấy cân bong bóng cá. Bác giao cho đồng chí Cẩn mang đến tặng đơn vị chúng tôi. Bác còn cẩn thận nhờ đồng chí Cẩn, là người lo cơm nước cho Bác chế biến để anh em chúng tôi được thưởng thức đặc sản. Một lần khác, có tiền nhuận bút từ Liên Xô (cũ) gởi về, Bác đem đến tặng đại đội chúng tôi trước lễ Quốc Khánh 2-9 khoảng hai, ba tháng. Bác dặn: “Nhiều no ít đủ, Bác không có nhiều tiền cho các chú. Số tiền này, các chú mua con giống tăng gia thêm để đến ngày Quốc Khánh các chú có đủ thịt, cá, rau mà liên hoan cùng nhau”.

Ngày lễ lớn những năm đầu tiếp quản Thủ đô, nhân dân Hà Nội và các cơ quan đoàn thể tham dự mit tinh thả bồ câu trắng tung bay rợp trời, tượng trưng cho khát vọng hòa bình. Hàng đàn bồ câu trắng ở lại quanh lễ đài, quanh nhà khách Chủ tịch và quanh nhà Bác ở. Đất lành chim đậu, Bác rất vui. Những lúc rảnh rỗi, Bác thường cho bồ câu ăn. Vậy mà có một vài đồng chí bộ đội vô ý thức bắt bồ câu làm thịt. Bác không vui, phê bình thật nhẹ nhàng, thấm thía: “Nhân dân thả bồ câu để cầu nguyện hòa bình, sao các chú nỡ giết thịt?”.

Nhớ một ngày hè, Bác dạo quanh vườn bắt gặp tổ 3 người chúng tôi là anh Hạnh, anh Thái và tôi đang trèo cây hái nhãn. Sợ quá, tưởng Bác sẽ quở trách, ai ngờ Bác vui vẻ dặn dò: “Hái nhãn ăn cũng được nhưng phải hết sức cẩn thận, kẻo ngã thì khốn”. Những việc làm của Bác, những lời của Bác dạy bảo chúng tôi chỉ là những chuyện thông thường, rất giản dị nhưng đã làm chúng tôi nhớ mãi như những điều thiêng liêng, bởi những điều đó xuất phát từ tình thương bao la của Bác, thắm đượm tình cảm của Bác – như tình cảm một người cha dành cho những đứa con thân yêu của mình.

Những lần đại tiệc, tiếp khách nước ngoài, Bác đều dặn dò bộ phân giao tế nhớ để phần cho bộ đội bảo vệ. Những hôm có đoàn ca kịch hoặc chiếu phim, ngoài những người đang làm nhiệm vụ còn tất cả chúng tôi đều được quây quần quanh Bác cùng xem. Một lần đoàn kinh kịch của Trung Quốc biểu diễn tích xưa có vai các tướng đấu kiếm với nhau, buổi biểu diễn kết thúc, các đại sứ nước ngoài đua nhau tặng hoa cho vị tướng đóng vai thắng trận. Riêng Bác, Bác tặng hoa cho viên tướng đóng vai thua trận. Bác cười vui: “Ăn cho đều, kêu cho khắp, phải động viên họ để lần sau đánh thắng chứ”. Có lần Đoàn tuồng Ái Liên biểu diễn phục vụ cơ quan Chính phủ vở Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, diễn viên trình diễn xuất sắc làm rung động lòng người, khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Xong buổi diễn Bác có vẻ không được vui, Người bước lên sân khấu và đọc mấy vần thơ:

“Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài
Chữ tình nên trọng, chữ tài nên thương
Lão già dở dở ương ương.
Làm đôi anh chị dở duyên không thành
Đánh cho phong kiến tan tành,
Cho trăm ngàn Sơn Bá – Anh Đài thành đôi”.

Bác dạy chúng tôi những bài học thật tế nhị, trong lúc chờ phim, chúng tôi quây quần bên Bác vui văn nghệ, một cô gái xung phong hát bằng tiếng nước ngoài, Bác đề nghị: “Người mình nên hát tiếng mình thì Bác và các chú ở đây mới hiểu, mới hay chứ”. Lại một đồng chí bộ đội xung phong: “Tôi ra đây hát mừng Cụ Hồ sống lâu muôn tuổi”, Bác bảo: “Chú hát bài khác, bài này cũ lắm rồi!”. Có một đêm chiếu phim ở Liên Xô (cũ) không có người thuyết minh chính, một cán bộ học ở Nga về có lẽ chưa quen nên dịch nghe không được rõ. Bác cười bảo để Bác thuyết minh cho. Chúng tôi lắng nghe từng đoạn, từng ý, Bác dịch thật mạch lạc, gãy gọn, dễ hiểu… Ở Bác, điều gì cũng thật giản dị, và hình như điều gì Bác cũng có thể làm được!…

Theo Hoàng Văn Hiển/ Báo Tuổi trẻ online
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nỗi nhớ Bác Hồ và tiếng hát mùa xuân

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânNhững ca khúc viết về Bác đều đạt đến độ chín mùi của tấm lòng và thăng hoa bởi tài năng của người nghệ sĩ, nhanh chóng đi vào lòng người và trở thành một phần máu thịt của tâm hồn Việt Nam. Một xuân nữa chúng ta không được nghe thơ chúc Tết của Người, nhưng hình bóng và tình yêu mà Người dành cho toàn dân là điều không thể phai nhòa.

Một trong những ca khúc viết về Bác thường được nhắc đến là “Trồng cây lại nhớ đến Người” của Đỗ Nhuận. Nhiều ca sĩ, người dẫn chương trình đã giới thiệu ca khúc này là dân ca Nghệ An một cách vô tư. Sự nhầm lẫn này là một minh chứng hết sức tuyệt vời về sự phổ biến của nó. Trên nền dân ca được chỉnh lí, chất thô mộc, đầm ấm của ca từ dường như đã hòa lẫn vào chất giọng đậm, ngọt của người xứ Nghệ : “Trồng cây tôi lại nhớ đến Người. À ơi… (chừ) rừng bao nhiêu cây mọc tôi lại ơn Người bấy nhiêu…” Cũng những rung động tương tự nhưng nhạc sĩ An Thuyên lại đưa dân ca Nghệ An reo trên cung bậc khác. “Một khúc dân ca sâu lắng quê nhà, đêm sông Lam dạt dào sóng nước. Vọng câu đò đưa tình người mộc mạc bát ngát nhớ thương mà thoảng hương giữa đời”. Nếu ai đã từng nghe NSƯT Thanh Hoa trình bày ca khúc này hẳn sẽ đồng ý: Dường như An Thuyên đã cộng hưởng với dân ca xứ Nghệ, chan hòa máu thịt mình vào để hình dung ra tâm tư Bác thời niên thiếu một cách đằm thắm nhất, sâu lắng nhất .

Hầu hết những ca khúc mang chủ đề Bác đều có sự thành công lớn khi sử dụng lợi thế phổ biến của những làn điệu dân ca. Dân ca Nghệ An có “Trồng cây lại nhớ đến Người” của Đỗ Nhuận, “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác của An Thuyên’. Dân ca Trung bộ có “Miền Trung nhớ Bác’ của Thuận Yến. Dân ca Nam bộ có “Miền Nam nhớ mãi ơn Người” của Nguyễn Đồng Nai, Vào Lăng viếng Bác của Hoàng Hiệp… Đặc biệt là tiếng reo vui của những người con Tây Nguyên: “Mùa xuân đến rồi bản làng ơi, thư Bác Hồ gởi tới non sông đem chiến công vang dội khắp hai miền. Bác Hồ ơi đây là mùa chiến thắng…”

Dân ca là tiếng nói tâm hồn của một miền đất. Gần nửa thế kỷ qua đã có nhiều ca khúc mới sử dụng làn điệu, âm hưởng dân ca để nói về sự kiện hiện đại. Nhưng viết về một người thì không chủ đề nào lại tập trung và thành công như viết về Bác. Câu trả lời cho hiện tượng này không quá khó – ấy là do dân ta mang nặng lòng kính yêu người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Người miền Trung tỏ bày chân thành không một chút màu mè: “Chúng con sinh ra khi nước còn chia cắt, nỗi nhớ Bác Hồ dằn dặt đến miền Trung. Để sớm nay con đi giữa đoàn quân, trong gió biển chan hòa đi theo dấu chân Bác. Đường miền Trung non xanh nước biếc, xin hỏi đường nào Bác đã qua đây khi Bác tìm đường cứu nước ai hay (Miền Trung nhớ Bác – Thuận Yến). Nếu Chế Lan Viên từng bộc bạch qua những vần thơ : “Lũ chúng ta sống trong giường chiếu hẹp, giấc mơ con đè nát cuộc đời con. Hiểu sao hết những tấm lòng lãnh tụ, vạch đường đi cho dân tộc đi theo” thì Thuận Yến lại bày tỏ bằng dân ca. Hầu như tất cả các nhạc sĩ khi hòa âm cho ca khúc này đều phối cho những giọt đàn bầu rải đều và xuyên suốt bài ca. Chính nét nhạc chủ đạo này đã mang lại ấn tượng tấm lòng sâu nặng của người miền Trung với Bác. Người miền Trung nhớ Bác như thế thì dân Nam bộ lại gọi tên Người như tìm đến một niềm tin tất thắng. “Trên cánh đồng miền Nam mây đen bao phủ chân trời khi ca lên Hồ Chí Minh nghe lòng phơi phới niềm vui (Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người –Trần Kiết Tường). Chất ngọt ngào của dân ca Nam bộ đã làm ca khúc như rộng hẳn ra, bàng bạc khắp không gian và mênh mông như lúa đồng Nam bộ. Có nhiều chuyện kể về tấm lòng người dân Nam bộ với Bác: chuyện người Đồng Tháp dựng đình thờ Bác, Mỹ – Ngụy phá hoài không được, chuyện người dân miệt rừng đước Cà Mau lấy ảnh Bác làm tín vật biểu lộ lòng thủy chung với cách mạng … Những câu chuyện ấy không hề cá biệt mà khắp miền Nam đâu đâu cũng có (chẳng phải thế mà ngay cả sách vở nhiều lúc cũng nhầm thơ của Bảo Định Giang là ca dao đấy thôi – Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ. Rồi một chiều ghé qua bến Nhà Rồng, nhạc sĩ Trần Hoàn đã xúc động mà viết nên ca khúc thật sự thấm đượm chất Nam Bộ: “Ai về Thủ Thiêm ai qua Bến Nghé. Ai xuôi ai ngược nhớ ghé bến Nhà Rồng. Chiều về khói tỏa trên sông, lẳng nghe câu hát mà chạnh lòng nước non (Thăm bến Nhà Rồng – Trần Hoàn ). Nhạc sĩ trong ca khúc chỉ hỏi một câu, chỉ băn khoăn một điều mà đã phả được cái hồn người Nam Bộ dân dã, chất phác vào trong ca khúc. Lúc cập thuyền ai tiễn Người đi hay chỉ một mình khăn gói biệt ly vì nước vì dân. Cũng bằng những chi tiết rất nhỏ như vậy nhưng với sự khai thác độc đáo nhiều ca khúc lớn đã ra đời, điển hình là Đôi dép Bác Hồ của Văn An – “Đôi dép đơn sơ đôi dép Bác Hồ, Bác đi từ ở chiến khu Bác về. Phố phường trận địa nhà máy đồng quê đều in dấu dép Bác về Bác ơi …” Ra đời sau ngày Bác mất, cho đến nay mỗi khi nghe lại ca khúc nhiều người vẫn thấy lòng mình rưng rưng tưởng như Người vẫn còn đâu đây.

Bác của chúng ta vĩ đại vì nhiều lẽ nhưng lẽ đầu tiên đó là sự vĩ đại của cái bình thường. Sẽ không ai quên cuộc đời bình dị, hết lòng vì dân vì nước của Người, và vì thế khi viết về những điều giản đơn như vậy các nhạc sĩ đã khơi dòng suy tưởng về Bác trong trái tim ta. Những ca khúc viết về Bác sẽ còn xuyên suốt nhiều thời đại bởi lẽ chỉ riêng tên Người đã là cả một bài ca.

Bá Phùng
Theo http://www.baobinhdinh.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch trả lời chất vấn qua lời kể Tướng Giáp

Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về phần trả lời chất vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I cách đây gần 65 năm.

Ho Chu tich tra loi chat van qua loi ke cua Tuong Giao
Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm
Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1962

… Quốc hội khóa I, kỳ 2 khai mạc trọng thể vào sáng ngày 28 tháng 10 tại Nhà hát Lớn thành phố. Quốc hội nghe báo cáo của Chính phủ về những công việc đã làm từ ngày thành lập, trong đó có cuộc đàm phán của Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Pháp tại Fontainebleau và việc ký Tạm ước ngày 14 tháng 9.

Ngày 31 tháng 10, các đại biểu chất vấn Chính phủ. Có 88 câu hỏi nêu lên thuộc các vấn đề quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, tài chính, tư pháp, nội vụ. Những câu hỏi được chuyển tới các Bộ hữu quan, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ trả lời về chính sách ngoại giao của Chính phủ, việc ký Tạm ước ngày 14 tháng 9, việc Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh tự ý bỏ đi.

Người nói: Về chính sách ngoại giao của Chính phủ và việc ký bản Tạm ước ngày 14 tháng 9 trong các báo cáo trước đã nói nhiều. Tóm lại đối với các nước dân chủ, hết sức gây thiện cảm. Các nước ấy tuy chưa công khai thừa nhận ta, nhưng ít nhiều thiện cảm với ta. Còn về ngoại giao với Pháp thì từ khi ký Hiệp định ngày 6 tháng 3, qua các Hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau đến Tạm ước ngày 14 tháng 9, Chính phủ quyết tâm giữ vững nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, đồng thời hợp tác thật thà và thân thiện với Pháp. Cố nhiên, người Pháp cũng phải cộng tác với ta trên nguyên tắc bình đẳng…

Người nói tiếp: Tạm ước này có ảnh hưởng tới các Hiệp ước ký sau không? Trong xã hội loài người, có cái gì mà không ảnh hướng tới cái khác. Tuy vậy, những sự điều đình sau đây không thể vì bản tạm ước này mà bị ràng bó. Bản Tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ tạo điều kiện đẩy cho những cuộc điều đình sau mau chóng đạt kết quả.

Người chuyển qua vấn đề khác: Về ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, ông Phó Chủ tịch Quân ủy hội Vũ Hồng Khanh, các ông ấy không có mặt ở đây. Lúc Nhà nước đương gặp bước khó khăn, quốc dân tin ở người nào trao người ấy làm công việc lớn mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải hỏi lương tâm thế nào? Những người đã bỏ việc đi kia, họ không muốn gánh vác việc nước nhà hoặc họ cũng không đủ năng lực gánh vác, nay chúng ta không có họ ở đây chúng ta cũng cứ gánh vác được như thường. (Tiếng vỗ tay nổi lên). Nhưng nếu các anh em đấy biết nghĩ lại, dối không nổi lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về, thì chúng ta vẫn hoan nghênh,

Trước khi bước xuống, Người nói: Nếu trong Chính phủ có các người khác lầm lỡ, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

Buổi chiều và buổi tối, các bộ trả lời những điều đại biểu đã hỏi. Nhưng khi các bộ giải đáp xong, nhiều đại biểu vẫn tiếp tục chất vấn. Chờ mọi người nêu hết những câu hỏi, một lần nữa, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ để trả lời. Vẫn bằng những lời lẽ giản dị, ôn tồn, Người nói:

Vấn đề Quốc kỳ, Chính phủ không bao giờ dám đòi thay đổi Quốc kỳ. Có một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy nên Chính phủ phải đệ qua Thường trực Quốc hội xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ Sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu các chiến sỹ Việt Nam ở Nam bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Đôi mắt sáng rực, bằng giọng nói nhấn mạnh, Người tiếp: Bây giờ trừ 25 triệu đồng bào ra còn không ai có quyền gì mà đòi thay đổi Quốc kỳ. Cả Hội trường vang lên tiếng vỗ tay, Bác nói tiếp:

Vấn đề liêm khiết của Chính phủ thì Chính phủ hiện thời đang cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở ủy ban làng đông lắm. Dù sao Chính phủ cũng đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong sẽ dùng pháp luật trừng trị những kẻ ăn hối lộ, đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết. (Tiếng vỗ tay hoan nghênh lại nổi lên).

Còn có đại biểu nói rằng bản Tạm ước ngày 14 tháng 9 là bất bình đẳng thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản Tạm ước ấy, mỗi bên đều nhân nhượng ít nhiều, ta bảo đảm cho Pháp một phần những quyền lợi văn hóa ở đây thì Pháp cũng phải bảo đảm thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị bắt bớ. Còn nói Pháp thành thật thi hành bản Tạm ước hay không thì ta hiểu rằng Pháp cũng có người tốt, có người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng đa số nhân dân Pháp bây giờ tán thành chúng ta độc lập và thống nhất lãnh thổ…

Bằng những lời nói thật giản dị nhưng cũng thật sáng rõ, khúc chiết chặt chẽ, Bác tiếp tục trả lời tất cả những vấn đề mà các đại biểu đã nêu ra. Người nói xong, không ai hỏi gì thêm. Cuộc chất vấn Chính phủ kết thúc đúng vào nửa đêm…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp
(Theo sách Hồi ký đại biểu Khóa I)

Theo Khampha.vn
Huyền Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm, những bài học không quên từ Người

“Tôi có diễm phúc nhiều lần được gặp Bác, thậm chí có những lần được trực tiếp phục vụ Bác trong một số hoạt động đối ngoại. Mỗi lần như vậy đều để lại trong tôi những kỷ niệm và những bài học nhớ mãi không quên”.

Đồng chí Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm thiêng liêng về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

44Bác Hồ với thiếu nhi quốc tế

Tấm lòng chân thành từ những món quà nhỏ

Lúc nào Bác cũng sống giản dị, chắt chiu từng đồng của nhân dân, của đất nước. Ngoài vài lần dẫn đầu các đoàn đại biểu đi thăm chính thức nước ngoài, còn hầu hết các chuyến thăm và làm việc khác của Người, không bao giờ Bác dùng chuyên cơ. Bác chỉ đi máy bay dân hàng.

Đi theo người cũng chỉ có vài ba người, anh Vũ Kỳ là thư ký của Bác kiêm luôn cần vụ. Trong va li của Bác chỉ có độc một bộ quần áo dạ, còn hàng ngày Bác vẫn mặc quần áo ka ki bạc mầu như chúng ta thường thấy.

Thường thường, trong mỗi chuyến thăm, Bác chuẩn bị quà biếu lãnh đạo nước bạn là hoa quả trồng trong vườn Bác như cam, nhãn, bưởi.

Tôi nhớ có lần trước khi rời nhà khách của bạn, Bác bảo tôi biếu các cô phục vụ những hộp thuốc lá Bác đã hút hết bằng bìa cứng rất đẹp để các cô đựng kim chỉ.

Tôi buột miệng thưa với Bác, ở nước bạn thiếu gì hộp kim chỉ, Bác ôn tồn rằng, Bác cũng biết vậy nhưng đây là tấm lòng của Bác, giá trị của những hộp thuốc lá là ở chỗ đó.

Điều đặc biệt trong những chuyến làm việc tại nước ngoài là quà của các địa phương nước sở tại biếu Bác nhưng khi rời sân bay biên giới, Bác nhờ chuyển lại cho lãnh đạo nước bạn chứ không mang về.

Bác thường bao giờ cũng nghĩ tới người khác trước mà ít khi lo cho mình. Khi ở nhà khách chúng tôi cứ thấy Bác tự giặt quần áo lót, khăn mùi xoa. Anh em đi cùng xin với Bác để họ giặt hoặc gửi lại phục vụ nhà khách nhưng Bác không chịu.

Có một chuyện in dấu ấn trong tôi tới tận bây giờ. Ở nhà khách của bạn, tới bữa ăn họ bày la liệt đồ ăn, thức uống trên bàn. Vốn còn trẻ, ăn khỏe, tôi gắp hết món này đến món kia để ăn.

Bác liền khẽ nhắc: “Cháu ăn món nào thì ăn hết món ấy, đừng để thừa cho người khác”. Từ đó tôi cứ chọn những món mình ưa thích, ăn hết rồi mới chuyển sang món khác.

Trong những bữa tiệc đứng, không bao giờ Bác để cho nhân viên nhà khách phục vụ đồ nóng mà yêu cầu để trên mặt bàn, ai ăn tự ra lấy và khi ăn xong tự mang bát đĩa xuống bếp.

Cách hành xử của Bác rất tự nhiên, thấy vậy, ngay các nhà lãnh đạo cấp cao của nước bạn cũng vui vẻ làm theo.

Không được dạy đời

Bác luôn luôn rất chu đáo từ việc nhỏ trở đi. Một lần đi theo Bác tiếp khách ở Phủ Chủ tịch, đang đi chúng tôi ngạc nhiên khi thấy Bác lấy ngón tay quệt vào bậu cửa sổ xem còn bụi bẩn không!

Là một nhà lãnh đạo tầm cỡ quốc tế, một chiến sĩ lão thành trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhưng Bác luôn khiêm tốn.

Một lần chuẩn bị đón đoàn đại biểu cấp cao của nước bạn sang thăm, trong đề cương hội đàm do anh em chuẩn bị có những câu, những đoạn hơi cao giọng, Bác bèn ghi bên cạnh: “Không được dạy đời!” và tự tay sửa lại câu từ cho khiêm tốn, dễ nghe.

Trong giao tiếp Bác luôn ứng xử vừa có lý, vừa có tình –  đó cũng là một phương châm Bác để lại trong Di chúc khi Bác đi xa. Tôi nhớ mãi lần Đoàn đại biểu cấp cao của một nước bạn sang thăm nước ta.

Trên đường đưa đoàn đại biểu về thăm địa phương, anh em đoàn phục vụ đã có hành vi sơ suất làm cho vị Trưởng đoàn phật ý. Sáng sớm hôm sau, tôi trực ở Nhà khách 12 Ngô Quyền bỗng thấy Bác đi tới.

Bác bảo tôi báo cho ông bà Trưởng đoàn biết. Do Bác tới sớm quá nên vị khách chưa kịp thay quần áo, ông Trưởng đoàn chỉ kịp quấn khăn tắm quanh người, còn bà vợ vẫn mặc áo ngủ.

Bác kéo ghế ra sân thượng ngồi chờ. Ông Trưởng đoàn tỏ ý ái ngại vì từ lúc đặt chân tới Việt Nam chưa kịp lên chào Bác lại để Bác phải tới thăm. Bác ôn tồn mở đầu câu chuyện:

“Phương Đông có câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (dạy một chữ hay nửa chữ cũng là thầy), đồng chí đã từng giảng dạy tại trường Đại học Cộng sản Matxcơva, nơi tôi có nghe giảng, vậy đồng chí là thầy, tôi là trò. Trò phải thăm thầy trước là lẽ đương nhiên.

Còn cô ấy (Bác chỉ phu nhân của Trưởng đoàn) là em gái nuôi của tôi khi sống và hoạt động trong Quốc tế cộng sản ở Mátxcơva, lẽ nào tôi không thăm em mình?”.

Thế là mọi sự phiền muộn của ông bà Trưởng đoàn biến mất, thay vào đó là sự chân tình và khâm phục với Bác.

Những mẩu chuyện trên nói lên cách đối nhân xử thế rất nhân ái, khiêm nhường, thu phục lòng người của Bác. Chúng ta hãy cố làm theo Bác từ những việc cụ thể, thiết thực.

Noi theo gương Bác Hồ không thể chỉ trên lý thuyết và trong các cuộc vận động mà phải học, nhất là phải làm suốt đời. Rất mong các bạn trẻ ghi nhớ điều này.

Theo Tiền Phong

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm lần đầu Bác Hồ về thăm biển

Ngày 30-3-1959, lần đầu tiên Bác về thăm Hải quân.

Ngày đó, tôi là Hiệu trưởng Trường Huấn luyện bờ bể (sau đổi tên Trường Sĩ quan chỉ huy Kỹ thuật Hải quân, nay là Học viện Hải quân). Giữa tháng 3 năm 1959, tôi được triệu tập lên Bộ Tổng Tham mưu để nhận một nhiệm vụ đặc biệt: “Chuẩn bị kế hoạch đưa Bác Hồ đi thăm biển, đảo tại Hải Phòng và Quảng Ninh”. Nhiệm vụ này yêu cầu phải được giữ bí mật. Trên đường về, lòng tôi vô cùng bồi hồi chờ đến ngày đón Bác.

Trời hôm đó thật đẹp. Nắng ấm. Đúng tám giờ sáng, đoàn xe của Bác dừng tại cổng trường. Cán bộ, chiến sĩ đều bất ngờ khi nhìn thấy Bác Hồ bước ra. Bác đội mũ cát trắng, mặc bộ quần áo bà ba màu gụ, chân đi dép cao su giản dị. Những tiếng reo hò vang dậy. “Bác Hồ! Bác Hồ! Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Cờ hoa rực rỡ phấp phới bay trên các tàu.

Tôi chấn chỉnh lại hàng ngũ, đi nghiêm, định đến báo cáo với Bác mọi việc đã sẵn sàng cho chuyến đi, kính chúc Bác và đoàn mạnh khỏe. Bác vẫy tôi lại gần, nhẹ nhàng: “Đi công tác với Bác lần này, Bác miễn cho các chú mọi thủ tục và nghi lễ chính quy nhé!”.

ky niemBác Hồ chụp ảnh kỷ niệm với cán bộ, chiến sĩ Trường Huấn luyện bờ bể (đồng chí Nguyễn Thế Trinh thứ 2 từ phải sang-hàng ngồi). Ảnh tư liệu

Nhiều đồng chí xúc động, rưng rưng nước mắt, lần đầu được gặp Bác, được nghe Bác nói chuyện, dạy bảo. Như Người cha lâu ngày về gặp gỡ đàn con, Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe mọi người. Ở mỗi nơi đến thăm, Người luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Bác nhắc nhở: “Cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên phải coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ huy, phục vụ tốt chăm lo cải thiện đời sống tinh thần, vật chất của đơn vị; giáo viên, học viên của trường thực hiện dạy tốt, học tốt, nâng cao chất lượng trong tiếp thu kỹ thuật tàu thuyền”. Bác còn căn dặn mọi người dù ở cương vị nào cũng phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu không ngừng để bản thân tiến bộ và xây dựng Hải quân mau chóng trưởng thành. Thăm nơi ở, bếp ăn, Bác nhắc nhở: “Nuôi quân là quan trọng lắm, quân có khỏe thì mới học tập được”.

Tàu 154 thuộc Đại đội 3 được giao nhiệm vụ đưa Bác và các đồng chí cán bộ cao cấp đi thăm và kiểm tra một số đơn vị trên vùng biển Hạ Long. Bác đã truyền lại kinh nghiệm đi biển cho các cán bộ, chiến sĩ trên tàu, từ cách chống sào, cuộn dây mồi sao cho đẹp, cho chặt mới ném đi được xa và cả những động tác của người thủy thủ khi tàu rời bến, cập bến. Ai cũng biết rằng, Bác Hồ của chúng ta đã từng là một thủy thủ trên con tàu ra đi tìm đường cứu nước năm xưa nên đã truyền lại kinh nghiệm đi biển cho các chiến sĩ.

Ngày 31 tháng 3, tàu đưa Bác đến thăm trận địa pháo trên đảo Hòn Rồng. Đây là một trận địa pháo của Đại đội 34, thời gian này thuộc Quân khu Tả Ngạn, làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển Hạ Long. Tàu vừa tới đảo buông neo, Bác nhanh nhẹn bước xuống chiếc xuồng nhỏ vào sát bờ rồi lội lên bãi cát. Bác tươi cười rảo bước nhanh về phía các chiến sĩ đang hò reo chạy xuống đón Bác. Với giọng ân cần Bác nói: “Bác và anh Cả (đồng chí Nguyễn Lương Bằng) thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra thăm các chú”. Không chờ đơn vị báo cáo tình hình, Bác hỏi ngay: “Các chú thiếu nước ngọt và sách báo lắm phải không?”. Các chiến sĩ trả lời: “Thưa bác, vâng ạ!”. Bác quay lại bảo đồng chí cán bộ Tổng cục Hậu cần về nghiên cứu bảo đảm sao cho mỗi tuần anh em có thể tắm hai lần nước ngọt. Bác dặn dò anh em phải biết tiết kiệm điện, nước: “Vì những thứ này trên tàu quý lắm”. Sau đó, đi xem nơi ăn ở sinh hoạt, nấu nướng, Bác vui vẻ hỏi: “Củi đun các chú lấy ở đâu?”. Một chiến sĩ trả lời: “Thưa Bác, chúng cháu tăng gia đấy ạ!”. Bác nói vui: “Không phải, trời tăng gia đấy, các chú chỉ chặt về đun thôi”. Mọi người cười vang. Các chiến sĩ đã biếu Bác trứng gà và su su của đơn vị tăng gia được.

Khi đơn vị đã ngồi quây quần xung quanh Bác ở sân doanh trại, Bác bắt đầu hỏi chuyện về đảo. Chuyện học tập, công tác, chuyện hậu phương, Bác khuyên nhủ cán bộ, chiến sĩ cố gắng khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, tích cực học tập chính trị, quân sự, văn hóa: “Không được chủ quan, thỏa mãn; phải đoàn kết nội bộ; đoàn kết quân dân; giữ gìn vũ khí trang bị máy móc…”. Trong việc xây dựng lực lượng, Người nhấn mạnh: “Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng không quên những truyền thống đánh giặc xưa kia của tổ tiên. Các chú phải nhớ xây dựng Hải quân của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam chứ không phải Hải quân của thế giới”. Bác hỏi: “Các chú chưa có đài phải không? Bác sẽ gửi tặng các chú một chiếc!”. Mọi người reo lên sung sướng, khi đồng chí phóng viên đề nghị Bác chụp ảnh lưu niệm, toàn đơn vị tập trung ngồi bên Bác, ai cũng muốn ngồi thật gần Bác và muốn giữ mãi giây phút thiêng liêng, tự hào đó. Nghe các chiến sĩ thì thầm với đồng chí phóng viên, Bác hiểu ý và nói với đồng chí phóng viên: “Chú gửi tặng mỗi người một tấm”.

Khi Bác quay về, các học viên Trường chúng tôi tặng Bác bông hoa đá, Bác nhắc nhở nhẹ nhàng: “Hoa đá đẹp mà không ăn được. Giá các chú biếu Bác quả bầu, quả bí trồng được để Bác mang về nấu canh, rồi mời các đồng chí trong Trung ương cùng ăn thì Bác càng vui hơn”. Lời nhắc nhở của Bác thật tinh tế, nhẹ nhàng, là một bài học sâu sắc về tính thực tế cho đơn vị.

Theo Báo Quân đội nhân dân 
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Sống trong muôn vàn tình thương của Bác Hồ

Thoát khỏi cảnh ngục tù tăm tối, dã man của bọn xâm lược Mỹ, tôi được đưa ra miền Bắc chữa bệnh. Từ những ngày đầu tháng 11 năm 1958, tôi nằm điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô. Đã mấy lần Bác vào Bệnh viện thăm mà tôi cứ mê man không hay biết gì cả! Lúc tỉnh dậy, có chị thương tôi quá không giấu được nỗi vui mừng, luyến tiếc ấy, bèn kể lại là Bác đến thăm tôi. Tôi khóc òa lên như một đứa trẻ thơ xa mẹ. Một hôm, tôi vừa mở mắt ra, thì thấy một bác sĩ già khoác chiếc áo bờ-lu trắng đứng cạnh giường đang nhìn tôi âu yếm, với nụ cười hiền hậu. Sau giây phút ngỡ ngàng tôi nhận ra Bác, tôi nắm chặt bàn tay Bác và khóc nấc lên. Đúng Bác Hồ rồi, người mà các cô chú trong nhà tù và bà con ở miền Nam hằng ước mơ được gặp. Bác cúi hôn trán tôi. Tôi khóc to hơn và gọi: “Bác ơi, các cô chú trong nhà tù và đồng bào miền Nam mong nhớ Bác lắm!”. Tôi ngất lịm đi. Lúc tỉnh dậy, các chị kể lại là nhìn thấy tôi trong cơn mê sảng Bác không cầm được nước mắt. Đó là buổi tối ngày 14-11-1958, cái ngày không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi. Tình thương bao la của Bác luôn luôn sưởi ấm lòng tôi. Tôi thấy như thêm sức mạnh để chiến đấu với bệnh tật.

songThủ tướng Phạm Văn Đồng (bên trái), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Anh hùng lực lượng vũ trang Trần Thị Lý, năm 1975.

Thế là ước mơ được gặp Bác của tôi đã thành sự thật. Ước mơ đó, tôi ấp ủ từ ngày má tôi thường gọi là “bé Nhâm”. Hồi ấy, tôi ở trong hàng ngũ thiếu nhi cứu quốc. Tôi ước mơ được gặp Bác Hồ, như bạn tôi là Kim Phú được dâng hoa lên Bác ngày 2-9-1945, tại Thủ đô Hà Nội. Bạn Phú về kể lại cho tôi nghe chuyện Bác Hồ, người ông yêu quý của các cháu thiếu niên, nhi đồng. Từ đó, tôi có cảm giác Bác Hồ là người ông trong nhà.

Được sự quan tâm, săn sóc rất mực tận tình của Bác, của Đảng, được sống trong tình thương yêu ruột thịt không bờ bến của đồng bào miền Bắc, và cả sự chia sẻ đau thương của nhân dân thế giới, thân thể tôi lần lượt lành khỏi 42 vết thương do giặc gây ra, sức khỏe tôi dần dần hồi phục. Tôi được đưa về nghỉ dưỡng sức ở một nơi yên tĩnh. Thỉnh thoảng tôi được Bác gọi vào nơi Bác ở.

Bác hỏi về quê quán và bệnh tình của tôi. Bác hỏi thăm sức khỏe các cô chú, anh chị cùng ở nơi an dưỡng với tôi. Tôi kể Bác nghe tình hình đời sống và đấu tranh của chị em phụ nữ miền Nam. Bác cầm tay tôi và nhẹ nhàng xoa bóp các vết sẹo. Bàn tay Bác rung rung. Tôi nhìn Bác, định không kể lại sự tra tấn dã man của giặc, sợ Bác xúc động. Đột nhiên Bác hỏi:

– Chúng nó xâu tay cháu với bao nhiêu người khác?

Tôi giật mình. Sao Bác biết? Rồi tôi dè dặt thưa:

– Dạ, hơn bốn mươi chú…

Thấy tôi ngập ngừng, Bác lại nhắc:

– Cháu kể tiếp đi. Tôi thầm nghĩ, không thể giấu Bác được, tôi thưa:

– Sau những trận đòn tra tấn dữ dội, các chú chân bị cùm, tay bị xâu dây thép cùng với cháu, độ vài ngày sau lên cơn giật rồi chết dần, chết mòn… Chỉ còn lại một mình cháu. Cháu cũng không hiểu tại sao cháu lại không chết.

– Tại sao cháu bị chúng tra tấn dã man mà cháu cũng không khai?

– Cháu nghĩ là nếu cháu khai thì sẽ mất hết tình thương của cách mạng, của Bác và của các chú, các cô đã đùm bọc, dạy dỗ cháu lúc cháu ở trong tù. Cháu khai thì cháu có tội với đồng bào. Lúc nào cháu cũng thấy hình ảnh Bác ở trước mặt cháu. Có lúc cháu nằm mơ thấy Bác đứng hai tay chống nạnh trước quân thù, bọn chúng nhìn Bác hoảng sợ chạy hết và cháu được tự do, sung sướng… Có lúc cháu mơ thấy Bác lấy khăn chặm nước mắt khi Bác nhìn cảnh tra tấn cực kỳ tàn ác của giặc Mỹ và lũ tay sai đối với chúng cháu…

Nói đến đây, tôi úp mặt trong lòng bàn tay Bác, tôi khóc như một em bé. Bác nâng nhẹ đầu tôi lên. Bác rơm rớm nước mắt nói:

– Nghĩ đến cháu, mọi người đều căm thù sâu sắc chế độ Mỹ – Diệm ở miền Nam.

Mỗi lời nói, mỗi ánh mắt, mỗi cử chỉ nhỏ nhất của Bác khắc sâu vào tâm trí tôi. Trong giờ phút thiêng liêng này, tôi không thể không nhớ lại những lúc ở tù, gian khổ, đấu tranh với kẻ thù, chúng tôi chiến thắng được là nhờ có hình ảnh Bác trong trái tim. Bây giờ được thật sự ngồi bên Bác, càng nhìn Bác tôi càng nhớ đến các đồng chí ở trong Nam luôn luôn hướng về Bác để có thêm sức mạnh chiến đấu và chiến thắng. Biết bao nhiêu đồng chí bị tù đày, tra tấn, biết bao nhiêu cán bộ hoạt động trên khắp miền Nam chưa một lần được gặp Bác. Tôi có vinh dự lớn hôm nay là do bao xương máu của đồng bào miền Nam đã đổ xuống trên mảnh đất Thành đồng. Bác kể cho tôi nghe những mẩu chuyện lúc Bác hoạt động ở nước ngoài, những mẩu chuyện trong thời kỳ kháng chiến để động viên, cổ vũ tôi cũng như phụ nữ, thanh niên miền Nam dù hy sinh gian khổ đến mấy cũng luôn luôn phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc ta, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Bác căn dặn tôi phải luôn luôn vui vẻ, lạc quan để chiến thắng bệnh tật.

Tôi thường được các chú dặn: Hễ gặp Bác thì nhớ kể cho Bác nghe những chuyện vui, đừng kể những chuyện đau thương làm Bác xúc động. Nhưng tôi không tài nào giấu Bác được điều gì. Bác hỏi tỉ mỉ về tình hình gia đình, quê hương tôi. Bác biết tôi ra miền Bắc chữa bệnh xa mẹ hiền, người mẹ đã chịu nhiều đau khổ, đang khát khao được có ngày gặp lại con gái thân yêu, và xa bà con ruột thịt, xóm làng. Có lúc Bác thấy tôi ngồi thờ thẫn, dường như suy nghĩ điều gì. Bác liền hỏi:

– Sao cháu lại buồn? Cháu nhớ mẹ à?

Bác hỏi chuyện về chị Trần Thị Vân, một người vừa là chị vừa là bạn chiến đấu thân thiết của tôi. Trước đây, có nhiều tin là chị Vân đã hy sinh, sau khi bị địch tra tấn dữ dội. Nhưng thật ra, chị đã vượt qua mọi thử thách ác liệt, bám chắc lấy cuộc sống cho đến ngày trở về với phong trào. Tôi kể cho Bác biết chị Vân đã bị giặc bắt cùng với đứa cháu gái. Bọn chúng chưa nhận được ai là Trần Thị Vân trong hai người. Thế là cô cháu gái liền nhận mình là Vân. Địch giết người cháu gái và chị Vân đã thoát khỏi bàn tay đẫm máu của chúng. Nghe tôi kể, Bác xúc động nói:

– Hành động của các cháu thật anh hùng. Phụ nữ miền Nam rất anh hùng.

Sau này, chị Vân được ra thăm miền Bắc và ở lại chữa bệnh. Chị đã được gặp Bác Hồ.

Bác biết tôi cố gắng học văn hóa, nhưng còn kém về văn. Nhiều lần tôi vào thăm Bác, Bác dặn:

– Cháu kém về văn thì phải chăm xem sách, đọc báo, đọc xã luận, nghe các chú nói chuyện. Đọc báo có đoạn nào hay thì đánh dấu vòng lại. Lúc khác cần, đọc lại. Đó là một cách học. Học từ từ, kiên nhẫn.

Bác bảo tôi tập viết thư, viết cho Bác. Một lần đi điều trị ở nước ngoài, tôi nhận lá thư đầy tình nghĩa của Bác và tôi trân trọng viết thư về thăm Bác. Tôi chỉ viết được mấy dòng cụt ngủn: “Thưa Bác, hiện nay cháu đang điều trị. Sức khỏe cháu tốt. Các bác sĩ chuẩn bị mổ vết thương cho cháu. Nghe lời Bác dặn, cháu yên tâm chữa bệnh. Bác đừng lo cho cháu”… Tôi moi óc không biết viết thêm gì nữa cho Bác vui. Các chú cười: “Sao viết ngắn thế!”

Khi về nước, tôi đến thăm Bác, được Bác khen:

– Cháu viết, văn không lòng thòng, ngắn gọn, thế là tốt. Bác nghe các chú bảo là từ lớp hai tôi đã cố gắng khắc phục khó khăn về bệnh tật, học bổ túc văn hóa hết lớp 8. Bác mừng lắm. Nhưng Bác khuyên tôi là không nên học nhiều trong lúc sức khỏe chưa vững vàng. Bác bảo: Phải nghe lời bác sĩ, chữa lành bệnh rồi hãy học. Cháu không sợ lạc hậu đâu. Miễn là ta sẵn có tinh thần.

Mỗi lần tôi vào thăm Bác, Bác thường cho tôi ăn cháo đậu xanh vì tôi không ăn được cơm. Lần nào, Bác cũng thấy tôi ăn ít quá, nhìn tôi, Bác lo lắng, thương xót, và nói:

– Cháu ăn ít lắm, phải gắng ăn nhiều hơn. Cháu còn xanh quá, cháu cố gắng ăn nhiều cho chóng khỏe! Những bữa cơm của Bác thật thanh đạm, giản dị như bữa cơm của bao gia đình chúng ta. Nhiều lúc, Bác dắt tôi đi dạo chơi trong vườn Phủ Chủ tịch. Bác không đưa tôi đi trên những con đường sỏi vì Bác biết chân tôi dẫm trên sỏi thì ảnh hưởng đến vết thương trên đầu. Bác chỉ cho tôi những cây dừa, cây bưởi, cây cam Bác trồng.

Tôi thường đeo một sợi dây chuyền giấu kín trong cổ áo. Sợi dây chuyền không làm tăng vẻ đẹp, không che được những vết sẹo do địch gây nên trên cổ, trên vai tôi, nhưng đó là sợi dây gắn bó hai đứa chúng tôi trong cuộc chiến đấu chung, một mất một còn với quân thù xâm lược. Tôi thưa với Bác, tôi đã viết thư về nhắn với người yêu nhiều lần rằng: Anh hãy quên Lý đi vì thân thể Lý bị tàn phế rồi. Anh nên xây dựng gia đình với người khác để bảo đảm hạnh phúc…”. Nhưng anh không chịu. Anh vẫn đợi chờ! Bác dạy tôi rằng: – Ăn ở phải có tình, tình nhà, nghĩa nước, tình yêu thương giai cấp. Phải có tấm lòng chung thủy. Bác rất vui khi nói đến các mối tình chung thủy. Một hôm, Bác nghe tin người yêu của tôi đã ra miền Bắc, Bác tặng cho tôi hai trái táo để mang về cho người yêu một trái.

Có lần bác sĩ thấy bệnh tình của tôi kéo dài do vết thương ở bụng vẫn thường rỉ máu và cho biết nếu mổ dạ con thì đỡ ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi muốn mổ cho đỡ khổ nhưng nghe vậy Bác không đồng ý. Bác nghĩ đến tương lai hạnh phúc của đời tôi. Tình thương của Bác đối với tôi thật không bờ bến. Tôi hiểu rằng Bác dành tình thương đó không chỉ riêng cho tôi mà cho toàn thể phụ nữ, thanh niên và đồng bào miền Nam gian khổ đi trước về sau.
Tôi còn nhớ một chiều xuân 1968, tôi lại được vào thăm Bác. Các chú cho tôi đến trước giờ hẹn. Bác đang làm việc trên chiếc nhà sàn đơn sơ. Tôi rón rén vào đứng sau lưng Bác. Bác đã biết, nhưng không quay lại, Bác bảo:

– Lý đó à. Cháu chờ Bác làm việc xong, một tí thôi!

Tôi thưa với Bác: Thưa Bác! Bác làm việc nhiều quá. Tuổi Bác ngày càng cao. Bác giữ gìn sức khỏe để vào thăm đồng bào miền Nam… Bác xúc động nói:

– Bác phải làm việc nhiều thì miền Nam mau thống nhất, Bác sẽ vui nhiều, khỏe nhiều.

Tôi ứa hai hàng nước mắt và thẫn thờ ngồi nhìn Bác làm việc, lòng nghẹn ngào, không dám nói thêm với Bác một lời nào. Ôi, suốt cuộc đời của Bác, Bác đã đặt hết tâm lực vào cuộc đấu tranh giải phóng đất nước. Từng giờ, từng phút, Bác lo cho miền Nam. Bác đã hy sinh hạnh phúc cá nhân vì nghĩa cả dân tộc.

Theo Trần Thị Nhâm
(Tức Trần Thị Lý, Anh hùng LLVTND, trích từ sách Bác Hồ với đất Quảng, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2000, tr.170-178).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về Bác Hồ của nhạc sĩ Trần Hoàn

tran hoanBác Hồ và cán bộ công nhân viên Văn phòng Phủ Chủ tịch nghe nghệ sĩ Trần Thị Tuyết
ngâm thơ nhân dịp Tết Nguyên đán năm 1963. Ảnh: Tư liệu

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, ông Trần Hoàn không có hạnh phúc được sống và làm việc gần gũi với Hồ Chủ tịch, nhưng trong sáng tác âm nhạc, ông lại có những nhạc phẩm để đời viết về Bác: “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm”, “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, “Kể chuyện cây xanh bốn mùa”, “Thăm bến Nhà Rồng”…

Theo tài liệu mà hiện nay bà Nguyễn Thị Thanh Hồng, người vợ của ông, còn giữ lại thì lần đầu tiên ông được gặp Bác là lần Bác đến thăm lớp cán bộ chuẩn bị cho việc tiếp quản thành phố Hải Phòng tại Hà Nội vào đầu năm 1955. Ông nói vui: Bác đến “bất chợt” và đi cũng “bất ngờ”, làm những kẻ “ranh ma” như ông cũng không đoán trước được. Bác đi rồi mới ngẩn ngơ luyến tiếc.

Lần thứ hai, Bác đến thăm thành phố cảng sau khi tiếp quản, khoảng giữa năm 1955. Lần này, ông được ngắm nhìn Người gần hơn, kỹ hơn và vinh dự được Người hỏi thăm về công tác được giao phụ trách, được Người ân cần chỉ bảo. Đó là lần ông có dịp ngồi gần Bác nhất, có dịp ngắm nhìn Bác lâu nhất.

Hình ảnh của Bác lúc nào cũng vẹn nguyên trong trái tim ông, người cha già giản dị, nhanh nhẹn cả trong bước đi, trong lời nói, đặc biệt là đôi mắt của Bác rất sáng, nhưng lại hiền từ. Ông còn vinh dự được gặp Bác một lần nữa tại Hội nghị văn hóa toàn quốc. Nhưng lần này, Người đến thăm và phát biểu ý kiến cũng nhanh gọn, chợt đến, chợt đi như lần trước.

Trong số những tài liệu mà ông để lại, có tài liệu ông viết “về hình tượng Bác Hồ trong sáng tác của tôi”, ông có tâm sự: Là nhạc sĩ, ai cũng muốn viết về Bác và viết hay, nhưng ai cũng lo lắng, vì thân thế, sự nghiệp, đức hạnh, tài năng của Bác quá lớn, mà sức suy tư của mình quá nhỏ… Ông viết bài hát về Bác từ năm 1965, bài hát “Lời Bác là lời nước non”, nhưng bài hát không có sức sống lâu bền.

Năm 1970, khi ra miền Bắc chữa bệnh, được nghe các bài hát “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” của Trần Kiết Tường, “Trông cây lại nhớ đến Người” của Đỗ Nhuận, “Người là niềm tin tất thắng” của Chu Minh, ông rất khâm phục. Ông nghiệm thấy mình chưa có ngôn ngữ thích hợp, và chưa có cảm xúc thực. Ông nhận ra rằng, mình phải nói được ngôn ngữ của nhân dân, vì Bác là nhân dân, Bác bình dị như một công dân bình thường…

Khi trở lại chiến trường, ông viết bài: “Em thương người trong Huế đấu tranh”. Tác phẩm đã “ló” ra được ngôn ngữ thể hiện phù hợp, nhưng vẫn chưa đọng lại lâu bền trong lòng người nghe.

Phải đến khi nước nhà thống nhất, được ra Hà Nội làm việc (1983), có điều kiện vào Lăng viếng Bác, thăm nhà sàn, thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh, được thăm các di tích về Bác ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, về Nam Đàn (Nghệ An)…, được gặp gỡ và nghe các ông Vũ Kỳ, Cù Văn Chước – là những người trực tiếp phục vụ Bác – kể chuyện về Người cùng các ông đi trên con đường cây xanh bốn mùa ở Khu Di tích, đi lại những nơi đã từng in dấu chân Người, mang hơi ấm của Người, được ông Bùi Đình Hạc cho xem các thước phim về cảnh sinh hoạt của Người ở chiến khu, Bác thích đánh bóng chuyền, Bác tắm giặt ở suối, tắm xong Bác tiếp tục đi, vừa đi vừa giơ cao cây gậy mắc chiếc áo mới giặt để phơi nắng, đón gió cho chóng khô… Những hình ảnh cực kỳ chân thật và gây xúc động nhiều cho ông.

Thế rồi từ những thực tế sinh động đó, từ cảm xúc và tình cảm được hun đúc từ thực tế đó, ông lần lượt cho ra đời các bài “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”, “Thăm bến Nhà Rồng”. Ông sử dụng lời kể để viết những bài hát về Bác Hồ. Theo môtíp những người ca sĩ đường phố trong phim thần thoại của Liên Xô cầm đàn đi hát rong kể chuyện về đất nước, về những người anh hùng của dân tộc mình…

Những câu chuyện mà ông kể về Bác Hồ không phải là lãnh tụ, người anh hùng, nhà văn hóa lớn, mà là một người công dân Việt Nam bình thường, một người cha, người anh gần gũi dung dị, một trái tim yêu nước và thương dân nồng nàn.

Ông dùng âm hưởng âm nhạc dân gian xứ Nghệ để kể lại câu chuyện bình dị, gần gũi đời thường của Người, nên những bài hát này đã đọng lại trong lòng người nghe và có lẽ sẽ trường tồn cùng năm tháng.

Theo Laodong.com.vn
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Tình Bác nâng những cánh bay

Đã qua hơn nửa thế kỷ nhưng ông Nguyễn Sỹ Hưng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty Hàng không Việt Nam vẫn không quên những ngày ở Trường mẫu giáo nội trú đầu tiên của quân đội, đặc biệt là kỷ niệm các lần được gặp Bác Hồ kính yêu khi Người đến thăm nhà trường. Tình yêu thương và lời dạy ân cần của Bác luôn hiện hữu và đồng hành trong suốt cuộc đời người phi công, người cán bộ chủ chốt ngành hàng không Việt Nam này…

Cháu nào ho thế?

Thật tình cờ mà cũng là một may mắn khi chúng tôi được chứng kiến cuộc gặp mặt cảm động giữa hai cô trò của Trường mẫu giáo đầu tiên của quân đội. Cô Phan Thanh Hòa năm nay đã 80 tuổi, tóc bạc da mồi nhưng còn khá nhanh nhẹn và sôi nổi. Trò Nguyễn Sỹ Hưng tuổi cũng đã ngoài 60, nói chuyện vẫn thưa cô, xưng con một cách lễ phép, kính trọng. Câu chuyện của họ ngược thời gian trở về những ngày ở chiến khu Việt Bắc…

Trường mẫu giáo nội trú đầu tiên của quân đội ra đời từ cuối năm 1951 theo gợi ý của Bác Hồ. Trường có 100 cháu hầu hết mới 4-5 tuổi là con cán bộ cao cấp trong quân đội lúc bấy giờ. Do điều kiện chiến tranh, bố mẹ các cháu giao hẳn con cho các cô, có cháu vài năm sau mới gặp lại gia đình, có cháu không bao giờ gặp lại người thân. Trường được xây dựng với những căn nhà lá xinh xắn, núp kín đáo dưới rừng cọ ở thôn Tỉn Hóa, bản Piềng, xã Thanh Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Trường cách nơi ở và làm việc của Bác Hồ khoảng hơn một cây số. Người đã nhiều lần đến thăm và dành cho trường sự quan tâm đặc biệt. Cô giáo Phan Thanh Hòa và người học trò Nguyễn Sỹ Hưng nhớ nhất lần đầu tiên Bác đến vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 63 của Người.

Ngày 19-5-1953, Bác Hồ thăm Trường mẫu giáo nội trú đầu tiên của quân đội (cô giáo Phan Thanh Hòa phía sau bên trái Bác Hồ, Nguyễn Sỹ Hưng hàng ngồi đầu tiên ngoài cùng bên phải). Ảnh tư liệu

Buổi sáng hôm ấy cô Hòa đang cặm cụi dán những bài báo lên tường nhân ngày 19-5 theo chủ đề mừng thọ Bác thì nghe thấy tiếng nói: “Cô giáo đang dán báo tường?”. Cô quay lại và sững người khi Bác đã đứng trước mặt. Được tin Bác đến, các cháu cũng ùa ra để đón Bác và vui sướng được Bác chia kẹo, chụp ảnh, rồi cùng Bác dự buổi sinh hoạt, kể chuyện. Tiết học đó, cô Hòa xúc động được vị Chủ tịch nước “dự giờ”. Cô kể chuyện: “Những ngày còn ở Pháp, Bác Hồ rất nghèo, phải đi làm thuê lấy tiền sinh sống và hoạt động cách mạng. Mùa đông nước Pháp rất lạnh, đêm ngủ không có chăn đắp, Bác Hồ phải nướng viên gạch cho nóng rồi bọc trong giấy báo, ôm vào người cho ấm”. Nghe đến đây, Bác Hồ giơ tay rồi đứng dậy nói: “Cô Hòa cho Bác ý kiến. Cô kể như vậy là chưa đúng lắm đâu. Mùa đông nước Pháp đúng là rất lạnh, lúc ấy Bác cũng có chăn nhưng không đủ ấm nên phải nướng thêm viên gạch nóng ủ cho ấm người”.

Trước lúc ra về, Bác có nghe thấy một cháu bé ho. Người hỏi: “Cháu nào ho thế?”. Cô giáo trả lời: “Thưa Bác, cháu Bích Nga ạ!”. Hôm sau, Bác gửi sang cho trường một chai mật ong vàng óng để các cháu chữa ho.

Tình Bác nâng những cánh bay

Tháng 11-1954, Trường mẫu giáo nội trú quân đội chuyển về Hà Nội. Cũng như các bạn khác, Nguyễn Sỹ Hưng tiếp tục theo học phổ thông ở các lớp của Thủ đô. Ông kể: “Về Hà Nội tôi và nhiều bạn học cùng trường thỉnh thoảng vẫn còn được vinh dự gặp Bác Hồ. Được Người gọi vào Phủ Chủ tịch cho kẹo, xem phim… Khi chụp ảnh, chúng tôi ào đến quanh Bác, ai cũng muốn được gần Bác. Lúc ra về, Bác còn căn dặn: “Các cháu phải ngoan, học thật giỏi để lần sau Bác lại gọi đến chơi và chụp ảnh”. Trong suy nghĩ thơ bé lúc ấy, tôi đã quyết tâm học thật giỏi để còn được vào gặp Bác…”.

Thực hiện lời Bác dạy: “Phải học thật giỏi”, Nguyễn Sỹ Hưng đã liên tục phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn để trưởng thành. Có thể nói cuộc đời của anh là quá trình liên tục học và học. Năm 16 tuổi anh khám tuyển và trúng phi công, sau đó đi học ở Trung Quốc và Liên Xô 6 năm. Sau đó, anh làm giáo viên ở Trung đoàn không quân 951, Sư đoàn 371. Từ năm 1976 đến 1981 anh học ở Học viện Lê-nin. Thời gian này anh học cùng với 5.000 học viên là các cán bộ của Liên Xô và các nước XHCN. Anh tốt nghiệp thủ khoa của khóa, là một trong hai người (một của Liên Xô) nhận huy chương và được khắc tên lên bức tường danh dự của trường. Về nước, anh làm giảng viên Học viện Không quân được 4 năm thì lại tiếp tục đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Năm 1990, Nguyễn Sỹ Hưng chuyển ngành sang Tổng Công ty Hàng không Việt Nam và gắn bó với môi trường này từ đó đến nay.

Ở lĩnh vực mới, Nguyễn Sỹ Hưng và đồng nghiệp đã vượt qua nhiều trở ngại để khẳng định thương hiệu Việt Nam Airlines. Thời điểm 1991-1994, hàng không Việt Nam đứng trước nhiều thách thức. Máy bay ta đang dùng chủ yếu là của Nga so với phương Tây khá lạc hậu, vừa ồn, lại tốn nhiên liệu. Nhờ sự năng động, quyết liệt của thế hệ lãnh đạo lúc ấy và sự ủng hộ của Chính phủ, chúng ta đã tiến hành chuyển giao công nghệ thành công.

Trong hơn 10 năm làm Chủ tịch Hội đồng quản trị thì hai năm vừa qua cũng là thời điểm rất khó khăn với Nguyễn Sỹ Hưng và Việt Nam Airlines. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng lớn tới ngành hàng không các nước. Nhiều hãng hàng không lớn của các nước lao đao, thậm chí bên bờ của sự phá sản. Vậy nhưng Việt Nam Airlines vẫn đứng vững và phát triển. “Một trong những biện pháp mà chúng tôi quan tâm nhất là vấn đề tiết kiệm. Nói đến tiết kiệm là tôi nghĩ đến Bác Hồ. Hồi còn ở Việt Bắc, Bác dặn chúng tôi: “Các cháu ăn cơm phải hết, không nên để thừa trên bát. Còn hạt nào là lãng phí…”. Học Bác và vận dụng vào thực tiễn, chúng tôi đã triệt để thực hành tiết kiệm. Từ những việc cụ thể như tổ chức nắn lại các đường bay để mỗi chuyến bay tiết kiệm thời gian được vài ba phút. Ngắn ngủi vậy thôi nhưng một năm với hàng trăm ngàn chuyến bay, chúng tôi đã tiết kiệm được tới hơn chục triệu đô-la rồi”.

Theo anh Hưng, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam hiện nay đang tiếp tục được hiện đại hóa với 70 máy bay loại mới, tiên tiến, bảo đảm chất lượng và an toàn. Đến năm 2020 phấn đấu có 160 chiếc máy bay, trở thành một trong những hãng hàng không đứng ở tốp đầu khu vực và có uy tín trên thế giới.

Trong câu chuyện với chúng tôi, Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Sỹ Hưng nói nhiều về cô Phan Thanh Hòa và các bạn thuở cùng mái trường nội trú quân đội ở Việt Bắc ngày trước. Anh tâm sự:

– Trong bước đường đi lên của cuộc đời, chúng tôi luôn tự hào vì có một thời ở “vườn ươm” này, được Bác Hồ, các cô giáo quan tâm, dạy dỗ. Mọi người đều có ý thức tự lập. Nhiều người trưởng thành trở thành lãnh đạo cấp cao, tướng lĩnh trong quân đội.

Hoàng Trung
qdnd.vn

Trung thu nhớ Bác

“Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh

Tính các cháu ngoan ngoan. Mặt các cháu xinh xinh”.

(Thư gửi các cháu nhi đồng, 25/9/1952
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, trang 571-572)

bh voi thieu nhi
Ảnh Tư liệu

Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc, gánh vác vận mệnh của non sông xã tắc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm, yêu thương thế hệ măng non của đất nước. Người luôn dành cho các em thiếu niên nhi đồng tình cảm nồng hậu và sự dạy bảo tận tình. Mỗi dịp Tết Thiếu nhi, khai giảng năm học mới và Tết Trung thu Bác luôn gửi thư cho thiếu niên nhi đồng để chia sẻ niềm vui với các em và cũng không quên dạy dỗ bảo ban các em học tập, rèn luyện để sau này thành người có tài, có đức phục vụ non sông đất nước.

Nhân dịp Tết Trung thu độc lập đầu tiên của đất nước, Bác Hồ đã viết bài báo: “Tết Trung thu với nền độc lập” in trên báo Cứu Quốc số 45 ngày 17 tháng 9 năm 1945. Chia sẻ với các em niềm vui, hạnh phúc trong Tết Trung thu độc lập đầu tiên của đất nước sau khi giành được độc lập. Bác viết:

“Cùng các trẻ em yêu quý!

Hôm nay là Tết Trung thu

Mẹ đã sắm cho các em nào đèn, nào trống, nào hoa nào nhiều đồ chơi khác.

Các em vui vẻ nhỉ!

Cái cảnh trăng tròn gió mát, hồ lặng trời xanh của Trung thu lại làm các em vui cười hớn hở.

Các em vui cười hớn hở, già Hồ cũng vui cười, hớn hở với các em. Đố các em biết vì sao? Một là vì già Hồ rất yêu mến các em. Hai là vì Trung thu năm ngoái, nước ta còn bị áp bức, các em còn là bầy nô lệ trẻ em. Trung thu năm nay nước ta đã được tự do và các em đã thành những người tiểu quốc dân của một nước độc lập.

Hôm nay, tha hồ các em vui chơi cho thỏa chí, ngày mai mong các em ra sức học tập, tất cả các em đã biết chữ quốc ngữ chưa? Em nào chưa biết thì phải học cho biết. Phải siêng tập thể thao cho mình mẩy được nở nang. Và ra sức giúp việc cho Nhi đồng cứu vong hội.

Đến Trung thu năm sau, chúng ta sẽ tổ chức một cuộc vui cả già lẫn trẻ. Các em nghĩ thế nào?

Trung thu này, già Hồ không có gì gửi tặng các em. Chỉ gửi tặng các em 100 cái hôn thân ái!”.

(Thư Trung thu gửi các cháu nhi đồng 12/9/1951
Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập6, tr299-301)

Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc còn nhiều gian khó vất vả, Bác cũng không quên gửi thư động viên, an ủi các em nhân ngày Tết Trung thu. Bởi vì nhẽ ra những ngày này các em phải được vui chơi, được sống trong sự yêu thương chăm sóc của người thân. Vì thực dân cướp nước, vì tương lai của đất nước mà các em cũng phải theo gia đình đi kháng chiến. Có nhiều em nhỏ còn tham gia giúp đỡ bộ đội, không quản ngại khó khăn, vất vả nơi rừng thiêng nước độc. Thư Trung thu gửi các cháu nhi đồng năm 1948, Người viết: “Nhiều cháu phải xa cha mẹ đến núi đỏ rừng xanh. Nhiều cháu chịu khó nhọc, hăng hái giúp các anh bộ đội. Nhiều cháu ở hậu phương thấy đồng bào hi sinh cực khổ, không nỡ ăn Tết Trung thu vui sướng một mình”, và Người đã thay mặt toàn thể đồng bào hứa với các cháu: “Sớm đuổi bọn thực dân phản động để trường kỳ kháng chiến sớm thắng lợi”. Cuối thư, Người khuyên các cháu “ra sức học hành” và không quên “gửi lời hôn các cháu”.

Trong những năm kháng chiến đầy cam go và khó khăn tuy thiếu thốn đủ bề nhưng với sự quan tâm và động viên của Bác đã khiến cho thiếu niên nhi đồng càng cố gắng học tập, rèn luyện và giúp đỡ người lớn những công việc phù hợp với sức vóc của mình.

Trung thu năm 1949, Bác viết: “Trung thu năm nay, Bác cũng chưa có quà gì cho các cháu, nhưng Bác chắc chắn rằng sau này các cháu sẽ có Tết Trung thu linh đình là Tết Trung thu kháng chiến hoàn toàn thắng lợi. Bây giờ các cháu hãy nhận cái hôn Bác Hồ”.

Trung thu năm 1951, Người mở đầu thư gửi cho thiếu niên nhi đồng bằng bốn câu thơ:

Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng

Sau đây Bác viết mấy dòng

Gửi thăm các cháu tỏ lòng nhớ nhung.

Trung thu năm 1952, Bác gửi cho các em thiếu nhi những lời nhắn nhủ dạy bảo ân cần:

“Mong các cháu cố gắng

Thi đua học và hành

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Tùy theo sức của mình…

Các cháu hãy xứng đáng

Cháu Bác Hồ Chí Minh.”

Đây là giai đoạn đất nước đang bước vào thời kỳ kháng chiến cam go nhất nhưng Bác vẫn không quên bày tỏ niềm thương nhớ tới các em thiếu nhi ở mọi miền của đất nước. Trong thư của Người gửi có ẩn chứa nỗi buồn lo cho các em và cũng biểu dương tinh thần dũng cảm của thiếu nhi.

Trung thu năm 1953, Người gửi thư cho các em với mong muốn: “Thu sau so với thu này vui hơn”. Trung thu năm 1954, sau chín năm trường kỳ kháng chiến đã giành được thắng lợi, lúc này các cháu thiếu nhi miền Bắc đã được sống trong cảnh hòa bình. Người không quên gửi thư chúc thiếu nhi: “Vui vẻ, mạnh khỏe, ngoan ngoãn và cố gắng thi đua học hành”. Nhưng niềm vui của Bác dường như vẫn chưa được trọn vẹn, vì Người còn một nỗi niềm trăn trở về các cháu miền Nam còn đang phải sống trong cảnh chưa có hòa bình, chưa có tự do. Điều đó được thể hiện ở hai câu thơ cuối:

“Đến ngày Nam Bắc vui chung

Các cháu xúm xít thì lòng ta vui”.

BH2
Ảnh Tư liệu

Đã 43 năm trôi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng và 37 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, những ngày Tết Trung thu của các cháu thiếu niên nhi đồng ngày càng đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn trong tình yêu thương của gia đình và sự quan tâm của xã hội. Nhưng trong trái tim của mỗi người con đất Việt, nhất là của các cháu thiếu niên nhi đồng hôm nay cứ đến ngày này lại thổn thức nhớ về Người. Nhớ về tình yêu thương bao la, tấm lòng nhân hậu của Bác.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong ký ức ngư dân xứ Thanh

Đó là vào một đêm giữa tháng 7 năm 1960, Bác cùng đồng chí cận vệ của mình là Nguyễn Tùng, quê ở Nghệ An bí mật ra Thanh Hóa thăm đồng bào và nghỉ dưỡng tại Sầm Sơn. Khi đặt chân đến Sầm Sơn, Bác không nghỉ ở nhà khách Công Đoàn mà lên thẳng núi Trường Lệ, nơi có đền Cô Tiên để nghỉ tại đây. Những ngày ở đây, Bác giản dị trong bộ quần áo nâu, đến thăm những gia đình chài ven biển, nói chuyện và kéo lưới cùng ngư dân, vì thế một số người không biết rằng họ đang được vinh dự gặp gỡ vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

thanh hoa 1
Bác Hồ nói chuyện với các đơn vị bộ đội bảo vệ Sầm Sơn (Ảnh Tư liệu).

Theo các cụ cao niên kể lại thì tối hôm đó, có một ông cụ râu tóc bạc phơ, ăn mặc giản dị lên núi Trường Lệ, sau đó ông cụ vào thăm đền Cô Tiên. Sáng hôm sau ông cụ dậy sớm, trong bộ quần áo cộc như một ngư dân rồi đi men xuống núi ngắm cảnh, gần trưa ông cụ đến thăm các gia đình ở chân núi thuộc thôn Vinh Sơn, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Xương (nay là phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn) nhưng hầu hết các gia đình vẫn ra khơi chưa trở về, chỉ có duy nhất một gia đình vừa về tới nhà còn đang ngồi hóng mát ở chiếc chõng tre. Gia đình ngư dân mời ông cụ lên chiếc chõng tre ngồi nhưng ông cụ từ chối và ngồi ngay lên tảng đá bên cây khế.

Thấy một cháu bé đang nằm trên chõng tre khóc ngặt, ông cụ lại gần bế lên cưng nựng, rồi hỏi thăm gia đình ngư dân về đời sống của ngư dân, của xã viên ở đây ra sao? Gia đình ngư dân trả lời ngay: “Cảm ơn cụ. Nhờ ơn Đảng, ơn Bác Hồ, đời sống xã viên chúng tôi sung sướng lắm ạ!”. Gia đình ngư dân vinh dự trò chuyện với Bác đó là gia đình ông Lê Viết Lược. Ông Lược giờ đã qua đời, còn buổi trò chuyện đó mãi sau này ông mới biết người đã trò chuyện với mình chính là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, người mà ông ao ước được một lần gặp mặt.

Rời gia đình ông Lược, Bác cùng mọi người đi xuống bãi biển. Một không khí lao động tấp nập diễn ra. Thấy mấy cụ già đang khom lưng kéo lưới vất vả, Bác vào cùng, đứng trước một cụ già cũng cật lực kéo sợi dây. Cụ già thấy một ông cụ lạ và mấy người cùng kéo lưới giúp thì mừng vui, vừa làm vừa trò chuyện rôm rả. Mồ hôi nhễ nhại, Bác bỏ mũ, cởi cả áo, cả khăn lộ hết bộ râu, vẫn không ai nhận ra người cùng kéo lưới là Bác Hồ.

Thanh hóa a2
Bác Hồ đến thăm một gia đình ngư dân.

thanh hoa 3
Bác Hồ hỏi thăm những ngư dân vừa ra khơi trở về.

Sau nửa ngày đi thăm hỏi một số gia đình và ngư dân nơi đây, Bác Hồ quay về thị trấn Sầm Sơn hỏi thăm các đồng chí lãnh đạo thị trấn, động viên các cán bộ công nhân viên nhà nghỉ Công Đoàn, nghe các đồng chí lãnh đạo báo cáo tình hình địa phương và căn dặn các lãnh đạo, nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn trong phong trào thi đua yêu nước. Không những thế, trong những ngày nghỉ dưỡng ở đây, Bác nhận ra rằng nếu Sầm Sơn có một dịch vụ khách sạn và có phương tiện đưa đón khách tới Hòn Mê thì sẽ thu được nhiều của cải từ đây. Sau khi căn dặn xong lãnh đạo và cán bộ địa phương, tối đó Người lên đường rời Sầm Sơn.

Theo chân ông Cao Văn Hùng, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc phường Trường Sơn trong một chiều cuối tháng 8, chúng tôi trở về nơi in dấu chân của Người đã từng kéo lưới cùng ngư dân trên biển Sầm Sơn năm ấy. Những người được vinh dự gặp vị Chủ tịch kính yêu hầu hết đã không còn, nhưng cậu bé năm xưa khi đang nằm trên chiếc chõng tre khóc ngặt được Bác Hồ bế dỗ dành cưng nựng đó là ông Lê Viết Quý, sinh năm 1961, là con trai của cụ Lê Viết Lược, người đã được trò chuyện cùng Bác tại nhà năm xưa. Khi ấy, cậu bé Qúy mới chưa đầy 2 tuổi. Mặc dù không biết gì, chỉ được mọi người kể lại nhưng mỗi khi được nhắc về điều này, đôi mắt ông long lanh, rực sáng. Niềm vinh dự và tự hào lấp lánh trong đáy mắt.

Chẳng phải thế mà cái chõng tre ngày đó được gia đình ông coi như một báu vật, nâng niu cất giữ cẩn thận, cách đây vài năm mới bị mối mọt đục phá. Căn nhà kè ngày ấy được Bác Hồ đặt chân vào, gia đình ông cũng coi như là kỷ niệm gắn với Người, bởi thế cái nếp nhà, kèo cột vẫn được ông giữ nguyên, chỉ có điều mái kè ngày ấy không thể giữ được vì mưa nắng nên đã phải thay bằng mái ngói.

Thanh hoa 4
Cậu bé Nguyễn Viết Quý năm xưa vinh hạnh được Bác Hồ bế.

Thanh hoa 5
Ông Qúy bên cây khế và bậc đá bác Hồ ngồi.

Ông Qúy tâm sự: “Ngày ấy tôi còn nhỏ nên không biết gì, sau này lớn lên mới nghe các cụ kể lại. Sau khi biết ông cụ ngày hôm đó chính là Bác Hồ, gia đình tôi quyết định gìn giữ lại từ cái chõng tre cho đến cây khế, bờ đá và cả cái nhà cũ vì coi đó như một kỷ niệm thiêng liêng về Bác mà không phải nhà nào cũng có được”.

Vị trí Đền Cô Tiên, nơi Bác Hồ nghỉ dưỡng năm ấy, giờ đây được trùng tu khang trang cổ kính và là điểm du lịch nổi tiếng của Sầm Sơn. Phía trong ngôi đền, bệ lát xi măng, nơi Người ngả lưng cũng vẫn còn đó, bên trên bức tường được treo nhiều hình ảnh lưu niệm Bác với Sầm Sơn.

Khắc ghi lời căn dặn của Bác, những năm qua, Sầm Sơn không ngừng đổi mới. Cho đến bây giờ mảnh đất với tiềm năng du lịch như Bác nói, con người nơi đây đã biến Sầm Sơn “thay da đổi thịt” trở thành một điểm du lịch nổi tiếng trong cả nước.

Ông Lưu Đình Sơn, Bí thư phường Trường Sơn chia sẻ: “Đảng bộ và nhân dân phường Trường Sơn, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia luôn khắc ghi lời căn dặn của Bác Hồ năm xưa đã về đây, vì thế những năm qua địa phương luôn cố gắng phấn đấu phát triển kinh tế – xã hội, góp phần cùng với thị xã Sầm Sơn ngày càng phát triển trên con đường hội nhập, xứng đáng với những gì mà Người đã kỳ vọng ở con người Sầm Sơn”.

Thanh hoa 6
Một góc Sầm Sơn hôm nay.

Thanh hoa 7
Nơi bác Hồ nghỉ ngơi ở đền Cô Tiên.

Nguyễn Thùy – Duy Tuyên
Theo http://dantri.com.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong tâm thức người Việt ở Pakse – Lào

Đã lâu nghe có đền thờ Bác Hồ tại Pakse – Lào nên khi đến đây tôi quyết tâm đến thăm ngay. Một bác Việt kiều nói: Chú cứ đến đầu xóm Tân Phước hỏi đền thờ Thánh Trần và Cụ Hồ, ai cũng biết. Quả thật tôi dễ dàng tìm đến nơi này. Đền thờ nằm trong một con hẻm nhỏ thuần người Việt, nhiều nhất là người gốc Hà Nội.

1
Chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thờ
tại chùa Kim Sơn bên cạnh các vị vua yêu nước, bồ tát, cao tăng. Ảnh: N.T.D

Theo lời các cụ cao niên ở đây kể lại: Sau khi Bác mất hầu như nhà người Việt nào cũng thờ Bác. Song mọi người lại muốn có một nơi trang trọng hơn nên đã lập bàn thờ Bác ngay đền thờ Đức Thánh Trần. Bà con cho rằng Bác Hồ và Đức Thánh Trần là những bậc anh hùng lỗi lạc của dân tộc xứng đáng được tôn thờ.

Trong đền, gian thờ giữa dành thờ Đức Thánh Trần. Gian bên trong thờ tượng, chân dung Hưng Đạo Đại Vương, hai bên tả hữu thờ bà Liễu Hạnh.

Bàn thờ Bác Hồ đặt ở gian ngoài, song song với bàn thờ Đức Thánh Trần, ở giữa đặt tượng bán thân của Bác bằng thạch cao. Bức tượng này được bà con rước về thờ nhân kỷ niệm sinh nhật Bác lần thứ 115. Dưới chân tượng, đặt 5 bức ảnh về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác được lồng trong khung rất cung kính. Bên trên bàn thờ đề 2 dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. Nhìn trên bàn thờ Bác, chúng tôi thấy nhang đèn, hoa tươi bày trang trọng, ấm cúng. Anh Nguyễn Văn Dũng- người giữ đền giải thích: Vào những ngày rằm, mùng một hàng tháng và các ngày lễ lớn trong năm, bà con Việt kiều đến viếng rất đông và tổ chức lễ cúng rất trang trọng.

2Anh Nguyễn Văn Dũng – người giữ đền Bác Hồ tại Pakse hiện nay. Ảnh: N.T.D

Đến thăm chùa Kim Sơn ở bản Khúa Ta Phan – Pakse, chúng tôi lại một lần nữa ngạc nhiên khi thấy chân dung của Bác Hồ được thờ trang trọng trong gian hậu tổ, nơi thờ những bậc bồ tát, cao tăng, vị khai sơn của chùa. Chân dung Bác Hồ được phóng to treo ngang hàng với chân dung của vua Thành Thái, một vị vua yêu nước, chống Pháp và cũng là thân phụ của vị khai sơn chùa Kim Sơn- Thích Minh Lý.

Một bức chân dung khác: Một người mặc áo cà sa màu vàng, cầm bình bát đang đi khất thực, dưới ảnh chú thích: “Chân dung Hồ Chí Minh năm 1919 (29 tuổi) là một nhà sư hành đạo (hoạt động cách mạng) tại Xiêm (Thái Lan) có tên THẦU CHÍN” đặt giữa bàn thờ bên cạnh chân dung các cao tăng như Tổ sư Minh Đăng Quang, Bồ tát Thích Quảng Đức, Ni cô Diệu Tĩnh, người ở chùa Kim Sơn cho biết: Gian thờ Cụ Hồ đã có lâu lắm rồi, khi mới về đây ni cô đã thấy (người viết bài này xin miễn bình luận về xuất xứ bức ảnh và thời gian được chú thích vì năm 1919 Bác Hồ ở Pháp, năm 1928 Bác đến Thái Lan và năm 1929 Bác rời Thái Lan).

Thăm hai nơi thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pakse làm tôi xúc động, bồi hồi: Nhân dân ta thật sáng suốt và công bằng, tâm thức của họ luôn hướng vào những bậc anh linh hào kiệt của dân tộc với một niềm tin hết sức tự nhiên và có sức sống bền bỉ, sâu sắc. Trong đó hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh được xem như một bậc hiền nhân mà nhân dân Pakse nói riêng luôn tôn kính trong tâm thức của mình.

 Nguyễn Tiến Dũng
Theo http://baogialai.com.vn
Tâm Trang (st)